Vị Đại sứ Liên Xô và quyết định điều chỉnh SAM 2 tại Việt Nam

QĐND – Có một quyết định rất đặc biệt đã giúp tháo gỡ những bế tắc tưởng chừng không có lối ra của quân và dân ta, góp phần vào chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972. Người đưa ra quyết định táo bạo ấy là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Hà Nội nhiệm kỳ 1964-1974 I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp (Ilia S.Shcherbakov).

Tháng 9-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán không quân Mỹ sẽ sử dụng B-52 để quyết định chiến tranh tại Việt Nam. Việc nghiên cứu đánh B-52 đã được Bác Hồ giao cho đồng chí Tư lệnh không quân tập trung nghiên cứu cách đánh B -52. Nhờ sự chuẩn bị chu đáo với nhiều cách đánh sáng tạo, riêng có của bộ đội phòng không Việt Nam bằng cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” thì ngay từ ngày 18-12-1972 (ngày đầu tiên bắt đầu bước vào Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972), lực lượng tên lửa Việt Nam đã quật ngã tại chỗ máy bay B-52 của không quân Hoa Kỳ mặc dù B -52 có hệ thống gây nhiễu hiện đại nhất thời bấy giờ. Pháo đài bay B-52 bị bất ngờ và bị quy phục trên bầu trời Việt Nam, khi mà các đơn vị kỹ thuật của quân đội Hoa Kỳ đã khẳng định vô hiệu hóa SAM 2 thông qua tần số.

Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trao cho Trung tướng B.V. Nhi-cô-la-e-vích bức tranh bằng đồng để gửi tới gia đình đồng chí I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp.

Một trong những người góp phần quan trọng vào chiến thắng “Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không” là Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Hà Nội nhiệm kỳ 1964-1974 I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp. Thấu hiểu tình hình thực tế ở Việt Nam, với tinh thần quốc tế cộng sản cao cả, bằng tất cả tinh thần trách nhiệm của một vị Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam, ông đã thay mặt Chính phủ Liên Xô ra quyết định cho phép các chuyên gia Liên Xô đang có mặt ở Việt Nam được can thiệp trực tiếp vào hệ thống của tên lửa SAM 2 theo hướng tăng công suất ra-đa lớn hơn công suất hệ thống gây nhiễu của B -52.

Thời kỳ đó, Chính phủ và Quân đội Liên Xô đã quy định: Việc can thiệp vào SAM 2 bằng bất cứ hình thức gì cũng không được phép thực hiện ở đâu trên thế giới mà chỉ được phép thực hiện khi SAM 2 ở trong lãnh thổ Xô-viết. Vì vậy, quyết định táo bạo của vị Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam đã góp phần giải mã hoàn toàn việc quy phục pháo đài bay B-52 trong năm 1972.

Kết quả này đã thu được kết quả vô cùng bất ngờ, khi liên tục hạ gục pháo đài bay B-52. Riêng 12 ngày đêm trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã có 34 chiếc B-52 phải đền tội (chiếm 16,2% tổng số B-52 tham chiến tại Việt Nam) góp phần quyết định vào thắng lợi vang dội năm 1972.

Chiều 28-12-2012, tại Trụ sở Chính phủ, Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã tiếp thân mật Trung tướng Bôn-đa-rép Vích-to Nhi-cô-la-e-vích (Bondarev Viktor Nhikolaevich), Tổng tư lệnh Không quân -Lực lượng vũ trang LB Nga dẫn đầu Đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng LB Nga sang dự Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không”. Bằng tất cả tình cảm chân thành, qua Trung tướng B.V. Nhi-cô-la-e-vích, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã gửi tới gia đình đồng chí I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp bức thư bằng tiếng Nga cùng bức tranh bằng đồng để tỏ lòng tri ân của nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam. Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân mong muốn các thành viên của gia đình Đại sứ I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp luôn hạnh phúc, gặp nhiều may mắn và sẽ tới thăm Việt Nam trong thời gian sớm nhất.

Bài và ảnh: TỪ LƯƠNG
qdnd.vn

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: Mãi sáng ngời biểu tượng hào hùng (*)

(NLĐO) – Ngày 29-12, tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Hà Nội, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có bài phát biểu quan trọng trong Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12/1972-12/2012). Người Lao Động Online trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Chủ tịch nước (đầu đề do Báo NLĐO đặt):

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu tại lễ kỷ niệm 40 năm
 Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” . Ảnh: TTXVN

Kính thưa các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng; các Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, các vị khách quý,

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước,

Hôm nay, trong niềm phấn khởi và tự hào của đồng bào và chiến sỹ cả nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, sự kiện lịch sử trọng đại và kỳ tích có một không hai – biểu tượng chiến thắng của bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đây là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc, góp phần rất quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Thay mặt Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi thân ái gửi tới các vị đại biểu, khách quý, cùng toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm hỏi các đại biểu tại lễ kỷ niệm 40 năm
Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” . Ảnh: TTXVN

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước,

Tháng 12 năm 1972, sau khi đơn phương tuyên bố hoãn không thời hạn Hội nghị Pari về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, đế quốc Mỹ đã mở cuộc tập kích chiến lược bằng đường không vào miền Bắc nước ta với tên gọi Chiến dịch “Lai-nơ-bếch-cơ II” nhằm đánh phá, huỷ diệt tiềm lực kinh tế, quốc phòng miền Bắc, gây sức ép buộc ta phải chấp nhận ký Hiệp định Pari theo các điều khoản có lợi cho Mỹ; hạn chế sự chi viện cho cách mạng miền Nam; làm tê liệt ý chí chiến đấu, giảm thế và lực của ta so với địch trên chiến trường; đe doạ phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đây là cuộc tập kích bằng đường không huy động lực lượng lớn nhất của Mỹ kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, với hàng trăm máy bay ném bom chiến lược B.52, được mệnh danh là “Siêu pháo đài bay” – “thần tượng bất khả chiến bại” của không lực Hòa Kỳ cùng hàng ngàn máy bay chiến thuật và nhiều tàu sân bay, tàu chiến tối tân, hiện đại.

Ngay từ những năm đầu của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc, sớm nhận rõ và dự báo chính xác tình hình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định quyết tâm chiến lược, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, động viên quân và dân ta chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt để quyết đánh, quyết thắng cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 của Mỹ. Từ cuối năm 1967, đầu năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quân uỷ Trung ương, Quân chủng Phòng không – Không quân đã sớm có kế hoạch tác chiến đánh trả cuộc tập kích bằng B.52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng. Với sự chủ động, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi cách đánh máy bay B.52, các lực lượng vũ trang ta với nòng cốt là quân chủng Phòng không – Không quân và nhân dân miền Bắc, nhất là quân dân Thủ đô Hà Nội đã tổ chức, phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân vững chắc, hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng, quyết đánh, biết đánh và quyết thắng.

Ngay từ trận đầu ra quân, đêm 18 tháng 12 năm 1972, ta đã bắn rơi tại chỗ “siêu pháo đài bay B.52”, mở màn cho những thắng lợi vang dội trong những trận đánh tiếp theo. Trong 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có, chủ yếu bằng B.52 của Mỹ, làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lẫy lừng, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 chiếc B.52, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm giặc lái Mỹ. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử, “siêu pháo đài bay B.52” thảm bại và không quân Mỹ phải chịu thiệt hại nặng nề nhất. Sau thất bại này, nhà cầm quyền Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận quay trở lại bàn đàm phán. Ngày 27/01/1973, Hiệp định Pari về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam” được ký kết. Cuối tháng 3/1973, quân đội Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Sau chiến công của phi công Phạm Tuân đêm 27-12-1972, đêm sau đó,

phi công Vũ Xuân Thiều tiếp tục tiêu diệt thêm 1 chiếc B-51. Ảnh tư liệu

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một trong những chiến thắng mang tầm vóc lịch sử ở thế kỷ XX, viết tiếp những trang sử vàng chiến công chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm, giữ nước của dân tộc ta. Chiến thắng đó đã góp phần bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giữ vững thành quả cách mạng; tạo ra cục diện mới để quân và dân ta thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ kính yêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”; giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã chứng minh hùng hồn chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, một nước đất không rộng, người không đông nhưng biết đoàn kết đấu tranh cho độc lập dân tộc, hoà bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của một đảng mácxít chân chính với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới thì có thể chiến thắng mọi kẻ thù, dù chúng có các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại nhất.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã góp phần làm tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của phong trào cách mạng thế giới; củng cố niềm tin chiến thắng cho các lực lượng tiến bộ đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện; chiến thắng của nghệ thuật quân sự Việt Nam: mưu trí, sáng tạo, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, dựa trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc; chiến thắng của nghệ thuật xây dựng thế trận phòng không nhân dân vững chắc, phát huy cao nhất vai trò của lực lượng phòng không ba thứ quân; là chiến thắng của tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo; của ý chí quyết đánh và quyết thắng; đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, có sự đóng góp hy sinh to lớn của lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương miền Bắc, trực tiếp là Thủ đô Hà Nội. Trong 12 ngày đêm, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc đã phải hứng chịu hơn tám mươi ngàn tấn bom đạn tàn phá, hủy diệt, nhưng quân và dân ta, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Thủ đô văn hiến, anh hùng đã biến đau thương thành hành động cách mạng, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến; vượt qua mọi hy sinh gian khổ, anh dũng, ngoan cường, quyết chiến đấu với tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Đó là một trong những điển hình về sức mạnh chính trị tinh thần trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Trong những ngày chiến đấu đó, cả nước hướng về Thủ đô, bảo vệ Thủ đô. Quân và dân ta ở miền Nam ruột thịt đã “chia lửa” cùng đồng bào và chiến sĩ miền Bắc, đẩy mạnh tiến công trên khắp các chiến trường, làm cho kẻ địch phải phân tán lực lượng, bị động đối phó trên nhiều hướng, nhiều mặt trận, hoang mang, nhụt chí chiến đấu.

Đêm 26-12-1972, bộ đội tên lửa tiếp tục bắn rơi 6 chiếc B-52, trong tổng số 8 chiếc bị tiêu diệt. Ảnh tư liệu

Năm tháng sẽ qua đi, Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là biểu tượng của ý chí kiên cường, bất khuất, thông minh, sáng tạo; là niềm tự hào của dân tộc ta, nhân dân ta, quân đội ta, là một trong những chiến công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam anh hùng; ghi đậm dấu ấn của cuộc đấu tranh cách mạng hào hùng của nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh.

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước,

Ngày nay, đất nước ta hòa bình, thống nhất, đang thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011- 2020 được thông qua tại Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn tiếp theo.

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đó, đòi hỏi sự quyết tâm, nỗ lực phấn đấu rất cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Chiến công oanh liệt của trí tuệ, lòng dũng cảm và ý chí quật cường của dân tộc ta, quân đội ta, của cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân, của quân dân Thủ đô và các tỉnh, thành phố miền Bắc trong 12 ngày đêm chống cuộc tập kích chiến lược bằng đường không của đế quốc Mỹ cổ vũ, khích lệ chúng ta vững bước đi lên.

Lòng dũng cảm, trí thông minh, sáng tạo đánh thắng máy bay chiến lược B.52 và những phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta trong những năm tháng kháng chiến gian khổ, sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cần được giữ gìn, truyền lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Những bài học về dự báo tình hình, chuẩn bị và tổ chức lực lượng; nghệ thuật xây dựng thế trận phòng không nhân dân; tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp để kháng chiến thắng lợi, cần được vận dụng sáng tạo và phát triển trong điều kiện mới. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục lý tưởng, tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc trong toàn dân, nhất là thế hệ trẻ. Tiếp tục củng cố, tăng cường tiềm lực mọi mặt của đất nước. Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại; tăng cường đoàn kết gắn bó giữa quân và dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Phát huy truyền thống 68 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam và thành tựu 23 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, tập trung nâng cao chất lượng xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng Quân chủng Phòng không – Không quân hiện đại, xứng đáng là lực lượng chính trị, chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ và biết ơn sự ủng hộ, giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ, đã giành cho nhân dân ta trong những năm tháng chiến tranh gian khổ ác liệt. Trải qua những tàn phá nặng nề và hy sinh to lớn trong chiến tranh, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam thiết tha, quý trọng hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước. Kế thừa và phát huy truyền thống hòa hiếu của dân tộc Việt Nam, “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, nhân dân ta luôn mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác cùng phát triển với các nước trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, theo tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của đất nước; xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước!

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chúng ta tự hào về những chiến công oanh liệt, truyền thống yêu nước, đoàn kết, ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc; tự hào về Đảng ta, một Đảng mácxít kiên trung, có đường lối đúng đắn, sáng tạo, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; tự hào với truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, một Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; tự hào về dân tộc ta, một dân tộc giàu lòng yêu nước, yêu chuộng hòa bình và công lý, không bao giờ chịu cúi đầu, khuất phục trước bất kỳ thế lực xâm lược hung bạo nào; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm giữ gìn và phát huy cao độ truyền thống vẻ vang đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Các đại biểu dự lễ kỷ niệm, ôn lại chiến thắng hào hùng của dân tộc

Hào khí Việt Nam, vận hội mới của đất nước thôi thúc chúng ta tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, nỗ lực phấn đấu xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xứng đáng với công lao to lớn, khát vọng cháy bỏng và sự hy sinh cao cả của các thế hệ đi trước, viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Tinh thần Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” bất diệt!

Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

Xin cảm ơn toàn thể đồng bào, đồng chí và các vị đại biểu!

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

Theo nld.com.vn

Món quà hậu phương

QĐND – Tìm đến nhà Đại tá Hoàng Bình bây giờ không còn vất vả như những năm trước kia nữa, cho dù chỗ ở của ông không hề thay đổi suốt mấy chục năm qua. Vẫn ở khu tập thể Nam Đồng, Hà Nội nhưng nhờ quy hoạch của thành phố mà tự nhiên cái tòa nhà ông nằm tít tận cuối khu tập thể ẩm thấp nay lại ngoi ra mặt phố Hồ Đắc Di, nhìn thẳng xuống hồ Xã Đàn nước trong xanh dìu dịu. Căn hộ của ông được cấp ở tầng 1, ngày xưa chưa mưa đã lụt nhưng nay hóa may, bước vài bước là xuống tới đường.

Lâu lâu tôi không đến thăm nên hôm nay ông hỏi đủ thứ chuyện, nào là tình hình quân đội hiện nay ra sao, ta có thêm được những vũ khí hiện đại gì, anh em mình hiện nay có ra nước ngoài học tập nhiều không? Lựa lúc ông đang hào hứng sau câu chuyện vui, tôi đặt vấn đề:

– Bác ạ, hôm nay đến thăm bác nhưng cũng có việc cháu muốn hỏi bác kỹ hơn về lá thư Hoàng Hà gửi cho bác và những món quà bác nhận được trong thời gian chiến đấu ở chiến trường miền Trung 40 năm trước đây.

– Chuyện đó thì mọi người đều rõ cả rồi, mà đó cũng là việc làm bình thường thôi. Hà làm việc đó khi còn là học sinh, bây giờ đã là anh sĩ quan cấp tá, có hơn ba chục năm phục vụ trong quân ngũ rồi còn gì?

– Gần hai chục năm qua, kể từ khi Bảo tàng Quân chủng Phòng không – Không quân trưng bày những kỷ vật bác tặng có rất nhiều khách đến tham quan quan tâm tìm hiểu về việc này. Năm nay, nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, anh em chúng cháu muốn nhấn mạnh thêm về mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến mà câu chuyện của gia đình ta là một trong những câu chuyện rất có ý nghĩa đối với sự kiện lịch sử quan trọng này.

– Ừ! Mà nói cho đúng thì miền Bắc lúc đó cũng là mặt trận chứ! Không những thế còn là mặt trận, là chiến trường vô cùng ác liệt và nóng bỏng nữa.

Rồi ông kể.

Hồi đó ông đang chiến đấu ở mặt trận Quảng Đà, Quân khu 5 với cương vị là Tham mưu trưởng Sư đoàn 711, sau là Sư đoàn 2. Giữa lúc đơn vị ông đang phải đối phó quyết liệt với âm mưu “Mỹ hóa” trở lại thì được thông báo Mỹ đang ráo riết chuẩn bị dùng B-52 đánh phá Hà Nội. Nghe tin mà lo đến nao lòng. Cái gì chứ B-52 thì cánh lính chiến trong chiến trường miền Trung, miền Nam chẳng ai lạ lẫm gì. Bom B-52 như cơm bữa, bom ném bất cứ lúc nào, có trận kéo dài hàng giờ. Sau mỗi đợt bom B-52, mặt bằng chiến trường như thay đổi, sự tan hoang đổ nát đã làm biến dạng cả địa hình, thậm chí san phẳng cả một khu vực gò, đồi hoặc biến cả đoạn đường dài thành một chuỗi ao chuôm xếp gối nhau như dòng sông nham nhở, nhiều trận bị địch đánh bất ngờ đã gây cho ta tổn thất không nhỏ về người và vũ khí trang bị. Nhưng dù sao ngoài chiến trường, không gian còn rộng lớn, còn có núi, rừng, sông, suối chứ Hà Nội, một thành phố nhà cửa san sát, người chen chúc như nêm, khi phải hứng chịu những loạt bom rải thảm của B-52 thì hậu quả sẽ khủng khiếp thế nào? Hà Nội là nơi Trung ương và các cơ quan trọng yếu của cả nước đang lãnh đạo, điều hành cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc, khi kẻ thù liều lĩnh dùng B-52 đánh hủy diệt thì tình hình sẽ ra sao? Không hiểu ta có thể đánh thắng được loại máy bay ném bom khổng lồ B-52 này hay không? Chỉ nghĩ tới đó đã rùng mình, càng lo cho Thủ đô trước trận cuồng phong của bom, đạn…

Ông kể tiếp, ngày ấy ở chiến trường, thường thì khi B-52 chuẩn bị đánh, cấp trên đều thông báo sớm để sơ tán, phòng tránh nên cũng hạn chế được thương vong, thế nhưng mỗi lần nhìn thấy chúng ngang nhiên hoành hành mà uất ức đến tận cổ. Chúng biết ta chưa có hỏa lực gì chống trả được nên bay tương đối thấp, những ngày trời quang mây nhìn thấy rõ mồn một. Những lúc như thế chỉ mong có thứ vũ khí gì bắn tan thây chúng nó cho hả giận. Hy sinh, mất mát thì nhiều nhưng ông không bao giờ quên được cái trận bom B-52 đã cướp đi sinh mạng những đồng đội của mình mà vừa mới vài chục phút trước đó họ còn trò chuyện vui vẻ với ông.

Hôm ấy, ông và ông Củng, Phó chủ nhiệm Chính trị sư đoàn cùng một số anh em đang làm nhiệm vụ ở chân núi Chôm, lợi dụng công sự cũ để tổ chức chiến đấu. Tang tảng sáng, ông Củng tới mời ông đến chỗ anh em cơ quan chính trị uống trà do mấy anh em tuyên huấn của sư đoàn mang xuống. Ông hẹn một lúc nữa sẽ qua nhưng đúng lúc đó thì ba chiếc B-52 từ phía nam bay rất thấp về phía trận địa, tất cả anh em xuống hầm ẩn nấp. Bỗng một loạt tiếng nổ dài, vang lên dữ dội. Biết địch ném bom ở khu vực của mình, ông đã lao khỏi hầm chạy lại nơi khói bụi đang mịt mù.

Trước mắt ông là cảnh tan hoang không còn nhận ra hầm hào gì nữa. Phán đoán vị trí cái hầm trú ẩn của anh em cơ quan chính trị, ông đã dùng tay ra sức moi đất đá hy vọng sẽ cứu được anh em. Nhưng khi moi tới hầm thì cả bốn đồng chí đã hy sinh, trong đó có Phó chủ nhiệm Chính trị và Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn. Thời điểm này đã chuẩn bị ký kết Hiệp định Pa-ri, Tâm – Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn xuống Sở chỉ huy phía trước để phổ biến tình hình cho bộ đội nhưng chưa kịp làm thì đã bị hy sinh vì bom B-52. Đơn vị ông phải di chuyển trận địa. Vừa đến trận địa mới, ông lại nhận được tin có thư và quà từ miền Bắc gửi vào. Ông không biết quà của vợ con hay cơ quan nào hoặc ai đó gửi cho mình. Ông chợt lo lắng không biết liệu có chuyện gì đã xảy ra với gia đình vì đã rất lâu kể từ khi nhận được cuốn băng ghi âm, ông không hề nhận được tin tức gì ở nhà. Vừa qua Hà Nội lại bị ném bom dữ dội như vậy… Tự nhiên ông phát run lên. Sống trong bom B-52 đã bao năm nay, nhiều trận cái chết đã cận kề gang tấc mà không có cảm giác sợ, nhưng không hiểu sao cứ khi nào nghĩ đến cảnh hậu phương bị “con quái vật” ấy mò ra gây tội ác, ông lại thấy lo lắng, bồn chồn không yên.

Cậu chiến sĩ thông tin rất mau mồm mau miệng, chưa về đến nơi đã oang oang thông báo rằng thủ trưởng Hoàng Bình có thư và quà của con trai gửi vào, lúc đó ông mới thở phào nhẹ nhõm. Bỗng mặt ông biến sắc, tim đập thình thịch khi thoáng nghĩ bà ấy đâu mà lại để con trai ông gửi thư cho bố? Cả ba đứa con của ông đều còn nhỏ, đứa lớn mới vào tuổi mười lăm. Từ trước tới giờ thư vẫn do bà ấy viết, mấy đứa có viết thư cho bố thì cũng để chung trong phong bì của mẹ. Nghĩ vậy ông đã giật ngay gói quà từ tay cậu chiến sĩ thông tin rồi vội vã xé toạc tờ giấy bọc, lấy lá thư. Thấy ông đọc đến đâu mặt giãn ra đến đấy, có lúc bất chợt còn thốt lên: “Thế chứ! Cho đáng đời chúng mày. Giỏi lắm, con trai của bố giỏi lắm!”, anh em đứng xung quanh mới thở phào. Thì ra lá thư là của Hoàng Hà – cậu con trai thứ hai. Khi ông vào Nam thì Hà chưa đi học, mấy năm sau ông ra Bắc lại không gặp vì Hà được sang Quế Lâm, Trung Quốc học cấp I. Hà báo tin đợt B-52 đánh vào Hà Nội, ba anh em đều đi sơ tán, chỉ có mẹ ở lại nhà máy, cả nhà đều an toàn. Phần lớn bức thư Hà dành để kể cho bố nghe chuyện các chú bộ đội chiến đấu bắn rơi máy bay B-52 ở Hà Nội. Thấy ông đang bị hút hồn vào lá thư và dường như lá thư đã thôi miên, làm cho ông ngây ngất nên anh em cứ đứng xung quanh chờ đợi, không ai nỡ làm gián đoạn cái giây phút sung sướng hiếm hoi của ông…

Đợi ông bớt xúc động, anh em mới đưa món quà đặc biệt mà do vui quá ông quên không đả động gì đến. Đó chính là một mảnh nhỏ xác máy bay B-52, Hà đã gửi vào cùng với lá thư. Ông sực tỉnh, trong thư Hà đã nói qua về “xuất xứ” những “chiến lợi phẩm” này. Hà kể, mảnh xác B-52 và mấy mảnh tài liệu tiếng Anh cháy nham nhở do chính Hà nhặt từ đống xác chiếc B-52 rơi ở nơi ba anh em sơ tán, (xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Tây cũ) rạng sáng ngày 19-12. Đã biết tin quân và dân Hà Nội chiến đấu rất kiên cường, bắn rơi hàng chục “pháo đài bay” B-52 nhưng không ngờ ở tận trong này ông và anh em lại được cầm trên tay cái mảnh xác của “con quái vật” B-52 mới bị đền tội. Những năm tháng ở chiến trường chứng kiến B-52 tung hoành gieo rắc tội ác, gây cho ta biết bao tổn thất, hy sinh, giờ cầm mảnh xác nó trên tay mới thấy hả lòng, hả dạ… Ông Bình nhớ ra là chưa đọc thư cho anh em nghe như những lần trước. Mà cũng lạ, lần này không thấy đứa nào đòi xem thư mà đều dán mắt vào mảnh xác máy bay B-52…

– Thế sau chiến thắng của quân và dân miền Bắc, ở trong đó các bác có còn bị B-52 gây khó dễ nữa không? Tôi hỏi Đại tá Hoàng Bình.

– Đỡ nhiều chứ, cũng chỉ một thời gian ngắn là chấm dứt ngay, nó còn hơi sức đâu nữa mà đánh với đấm. Với lại B-52 là của Mỹ, Mỹ buộc phải rút thì “con ngáo ộp” cũng phải “cuốn gói” theo. Thế mới biết trận thắng B-52 ở Hà Nội quan trọng thật, quật cổ được lũ B-52 là cục diện chiến trường cả nước thay đổi ngay… Sau chiến thắng của ta ở miền Bắc, đơn vị tôi tiếp tục chiến đấu đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, nhiều đồng chí được thấy món quà quý báu của tôi ngày đó đã ngã xuống trên đường tiến về Sài Gòn, một số sau khi trở về hậu phương già yếu và đã qua đời khá nhiều…

Nói xong ông rút khăn chấm chấm vào đôi mắt đã đỏ hoe từ lúc nào. Nhìn về xa xăm, giọng ông khẽ khàng như nói với đồng đội cũ của mình:

– Đã mấy chục năm xa nhau, nay người còn người mất nhưng với người lính chúng ta cái còn lại vẫn là nghĩa tình đồng đội. Thỉnh thoảng gặp nhau ôn lại những kỷ niệm một thời trận mạc càng thấm thía sự chia ngọt sẻ bùi có giá trị thế nào. Bây giờ người ta có thể tặng nhau những món quà đắt tiền nhưng nó không thể thiêng liêng như những lá thư, gói quà nhỏ bé của hậu phương gửi vào tiền tuyến hồi chiến tranh. Những thứ đó bình thường nó là của riêng, chỉ có chủ nhân mới được sở hữu, nhưng trong chiến tranh, nó là của chung. Chính sự sẻ chia ấy đã gắn kết người lính lại thành một khối vững chắc để vượt qua gian khổ, hy sinh.

– Có phải vì vậy mà bác đã quyết định tặng lại bảo tàng toàn bộ những kỷ vật mà bác đã nâng niu, giữ gìn trong suốt hơn hai mươi năm?

– Món quà của tôi đã là của anh em đồng đội từ khi tôi nhận nó rồi. Năm 1995, khi gặp lại đồng đội cũ, anh em khuyên tôi nên tặng lại bảo tàng để mọi người biết được phần nào nghĩa tình của hậu phương với tiền tuyến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc nên tôi đã quyết định tặng cho Bảo tàng Quân chủng Phòng không – Không quân.

Ông tỏ ra mãn nguyện. Tôi hiểu tâm trạng của ông. Đã 40 năm trôi qua, kể từ khi cậu bé mười ba tuổi Hoàng Hà đến tận nơi máy bay rơi, lửa khói còn đang ngùn ngụt, chờ cho lửa tắt rồi nhanh tay lượm một mảnh xác nhỏ và mấy miếng tài liệu cháy dở gửi cho bố nơi chiến trường ác liệt chỉ với suy nghĩ giản đơn là báo tin cho bố: Hà Nội đã bắn rơi máy bay B-52. Hẳn lúc đó cậu chưa đủ khôn để hiểu rằng món quà nhỏ bé đó đã có một ý nghĩa lớn lao, nó đã tiếp sức cho bố mình và đồng đội trong những trận đánh cuối cùng. Cậu bé Hoàng Hà ngày nào, nay đã mang trên vai quân hàm Đại tá. Tiếp bước cha anh, Hà đã toại nguyện ước mơ là vào bộ đội tên lửa và công tác liên tục trong Quân chủng Phòng không – Không quân cho đến nay, trải qua nhiều cương vị khác nhau, trong đó có vị trí từ khi còn nhỏ, anh đã từng mơ ước là chỉ huy một đơn vị hỏa lực tên lửa. Chỉ có khác với bố là Hoàng Hà không phải ra trận. Ông Bình nói đó là điều ông mong ước không chỉ cho Hà mà cho cả con cháu của Hà. Ông kể, năm 1975, ông được sang Cộng hòa dân chủ Đức chữa bệnh, đón ông tại sân bay, một nữ cán bộ của bạn đã làm cho ông ngạc nhiên. Bà ta nói: “Chào Đại tá thất nghiệp Hoàng Bình”, rồi giải thích: “Ông đã đánh thắng Mỹ thì còn ai dám đến nữa mà đánh nên ông là Đại tá thất nghiệp”…

Trải lòng xong, ông cười sảng khoái, cái cười của vị Đại tá già cứ văng vẳng mãi bên tai làm cho tôi hào hứng viết ra những dòng gan ruột này.

NGUYỄN PHƯƠNG DIỆN
qdnd.vn

Mở đường thống nhất đất nước

Huyền thoại “Điện Biên Phủ trên không” của các chiến sĩ không quân miền Bắc đã thôi thúc lòng quyết chiến, quả cảm của phi công trẻ Nguyễn Thành Trung thả bom Dinh Độc Lập, mở đường thống nhất đất nước.

Năm 1972, khi không quân Mỹ mang “pháo đài bay” đánh phá miền Bắc thì ở miền Nam, một người con cách mạng được cài cắm vào không quân ngụy đau thắt từng ngày bởi hơn ai hết, ông hiểu rất rõ sự hủy diệt mang tên B52. Từ đó, một điều mãnh liệt luôn thôi thúc ông là mang bom ném vào dinh thự đầu não của chế độ Sài Gòn như lời đáp trả cho những mất mát, đau thương mà nhân dân thủ đô Hà Nội gánh chịu trong 12 ngày đêm. Ông là đại tá – Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Nguyễn Thành Trung.

Đại tá Nguyễn Thành Trung (giữa) nhận hoa chúc mừng từ đồng đội

5 giây quyết định

Ông Trung còn nhớ rất rõ việc Mỹ ném bom đã tác động rất lớn đến thanh niên lúc bấy giờ. “Sinh ra trong chiến tranh, sống trong chiến tranh nên chúng tôi mơ biết bao ngày hòa bình! Vì vậy, sự kiện 12 ngày đêm ở Hà Nội một lần nữa thúc đẩy chúng tôi làm nhanh, làm cho bằng được để chấm dứt cuộc chiến, để đồng bào ta không chịu thêm cảnh chết chóc” – ông thổ lộ.

Khi được tổ chức phân công ném bom Dinh Độc Lập, ông Trung vô cùng sung sướng. Ông hồi tưởng: Hôm ấy, ngày 8-4-1975, không quân ngụy có nhiệm vụ đi ném bom ở Phan Rang. Đây là một cơ hội tốt cho ông nhưng cũng là việc cực kỳ khó khăn vì khi đã bay thì không thể tách khỏi phi đội, càng không thể lấy máy bay trong căn cứ. “Nghĩ đến chuyện “pháo đài bay” bất khả xâm phạm của Mỹ còn bị các chiến sĩ không quân miền Bắc bắn rơi, tôi quyết tâm thực hiện cho được nhiệm vụ này” – ông cho biết.

Theo quy định của đài chỉ huy, khi phi đội cùng bay, mỗi chiếc sẽ bay cách nhau 5 giây. Nếu máy bay nào đó bị trễ, họ cho thêm 5 giây, tổng cộng là 10 giây. Nếu quá 10 giây, sang giây thứ 11 mà không thể cất cánh, phi công sẽ không được bay nữa, trở về nơi đỗ an toàn. Lợi dụng điểm này, ông Trung đã quyết định táo bạo: Đánh lạc hướng, làm cho phi đội trưởng và đài kiểm soát không lưu nhầm lẫn trong việc chỉ huy bay.

“Phi đội bay ra Phan Rang lần ấy có 3 chiếc, tôi ở vị trí số 2. Khi viên chỉ huy quay lại nhìn, tôi giơ 2 ngón út và áp út để báo bị trục trặc về điện. Ông ấy ra hiệu cho tôi ở lại, còn số 1 và 3 cất cánh bình thường. Tôi vừa mừng vừa hồi hộp, thầm nhủ thời cơ đến rồi” – ông Trung nhớ lại. Sau khi 2 máy bay cất cánh, ông Trung đếm 5 giây, cộng thêm 5 giây nữa và cũng cất cánh. Phi đội nghĩ là ông ở lại, còn đài chỉ huy cho rằng ông chỉ bị trễ một chút và đã tiếp tục cất cánh chứ không có gì trục trặc. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi 5 giây cuối đó, ông đã bay thẳng về hướng Sài Gòn.

Chỉ sau 5 phút, ông đã đến mục tiêu và ném bom xuống Dinh Độc Lập. Hoàn thành nhiệm vụ, ông hạ cánh an toàn trên đường băng dã chiến ở sân bay Phước Long (nay thuộc Bình Phước) trong sự vui mừng khôn xiết của các cán bộ, chiến sĩ. Hai tuần sau, ngày 21-4, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và chạy ra nước ngoài.

Điều không tưởng với người Mỹ

Đại tá Nguyễn Thành Trung còn làm nên một kỳ tích khi chỉ trong 4 ngày đã huấn luyện Phi đội Quyết thắng lái được máy bay A37 để thực hiện nhiệm vụ ném bom sân bay Tân Sơn Nhất vào ngày 28-4-1975.

Năm 1985, một đoàn khách Mỹ 5 người đến Việt Nam muốn gặp đại tá Trung để nói chuyện về chiến tranh. Sau khi gặp, Bộ Ngoại giao cũng như ông hoàn toàn bất ngờ vì biết trong đoàn có 2 nhân viên CIA. Trong buổi gặp, họ hỏi: “Tôi biết ông lấy được máy bay chúng tôi ở Đà Nẵng rồi đem về huấn luyện đồng đội nhưng không thể nào hiểu được vì sao chỉ trong thời gian rất ngắn, ông có thể làm được?”. Ông Trung khẳng khái: “Người Mỹ các ông sẽ không bao giờ hiểu được. Khi mất nước, chúng tôi có thể làm bất cứ điều gì để mang lại kết quả cao nhất”.

Đại tá Trung cho biết ngày 22-4-1975, ông mới đến Đà Nẵng nhưng ngày 28-4 phải ném bom. Thời gian 6 ngày nhưng chuyển quân hết 2 ngày, ông chỉ còn 4 ngày để huấn luyện. Khó nhất là lúc bấy giờ, phi công của ta chưa từng lái máy bay Mỹ, chỉ quen Mig của Liên Xô và chủ yếu sử dụng máy bay tiêm kích. Lần này, nhiệm vụ của họ là phải sử dụng thành thạo những “con chim sắt” A37. “Bằng ý chí, trí tuệ và nghị lực, chúng tôi đã làm được. Đó là điều không tưởng với người Mỹ bởi họ huấn luyện một phi công phải mất 3 tháng” – ông Trung tự hào.

Cũng tại cuộc gặp này, một nhân viên CIA đã tiếp lộ rằng khi đó, Mỹ biết chắc chắn Việt cộng sẽ tấn công Sài Gòn. “Mỹ nghĩ trận chiến đó sẽ xảy ra ở Sài Gòn nên để 3.000 cố vấn ở lại chỉ với mục đích duy nhất là xem đánh nhau” – ông Trung kể. Thế nhưng, người Mỹ đâu ngờ được ngày 28-4-1975, ta ném bom Tân Sơn Nhất, họ buộc phải thay đổi kế hoạch và lập tức đưa ngay 3.000 cố vấn rời Sài Gòn bằng trực thăng. Chính sự rút đi đột ngột của Mỹ đã khiến cuộc chiến rối loạn. Một lực lượng quân ngụy đã buông súng đầu hàng và 2 ngày sau, Chiến dịch Hồ Chí Minh thắng lợi vẻ vang, đất nước hoàn toàn thống nhất.

Không còn đứng 2 đầu chiến tuyến

Chiến dịch ném bom xuống Hà Nội của Mỹ 40 năm trước gặp sự phản đối mạnh mẽ trên khắp thế giới. Làn sóng phản đối càng gay gắt hơn trong lòng nước Mỹ. Trong những ngày B52 đánh phá ác liệt ấy, cựu binh Robert Mulholland đã tổ chức cuộc vận động sâu rộng trên toàn nước Mỹ để chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, chống ném bom bằng B52 xuống Hà Nội. “Tôi là lính nhảy dù của Mỹ ở chiến trường miền Nam những năm 1967-1968. Sau khi tìm hiểu và đọc Hiệp định Geneve năm 1954, tôi hiểu tổng thống Lyndon Baines Johnson và Richard Milhous Nixon đã nói dối người dân Mỹ” – ông Robert Mulholland cho biết. Còn cựu binh Mỹ David Anderson Everett, phi công lái máy bay F4, tâm sự: “Vì mệnh lệnh, chúng tôi đã ném bom xuống mảnh đất xinh đẹp của các bạn. Tôi rất lấy làm tiếc. Sau 40 năm, trở lại Việt Nam, tôi rất vui khi chúng ta không đứng ở 2 đầu chiến tuyến nữa”.

Bài và ảnh: PHAN ANH
nld.com.vn

Kỳ trước: Huyền thoại “Điện Biên Phủ trên không”

Bài 2: “Con rắn Hydra” mang cái đầu “thông tin bẩn”

Làm thất bại “Chiến lược diễn biến hòa bình”: “Thông tin ảo” và “hiểm họa thật”

QĐND – Trong thần thoại Hy Lạp, rắn Hydra là một con vật nguy hiểm sống trong đầm lầy, nó có rất nhiều đầu. Máu của nó rất độc, hơi thở hôi thối đến mức có thể làm chết người. Chàng dũng sĩ Héc-quyn đã vô cùng gian nan khi tiêu diệt nó vì cứ chặt xong cái đầu này, nó lại mọc ngay cái đầu khác. Việc xử lý, ngăn chặn và loại trừ loại web, blog sai trái, phản động, “tự diễn biến” hiện nay cũng vậy…

“Lách luật” để “thoát hiểm”

Cách đây gần hai năm, một trang web xưng danh “đại diện cho giới trí thức và phản biện xã hội” ra đời đã chớp lấy làn sóng phản đối một số dự án kinh tế chưa được sự đồng thuận trong xã hội để kích động chính trị, cổ xúy cho những thành phần bất mãn. Sau một thời gian dài theo dõi, cơ quan chức năng đã nhận thấy nhiều dấu hiệu sai trái, “phức tạp về chính trị” của trang web này và kiến nghị lên các cơ quan chức năng liên quan, đề nghị xử lý, cần thiết phải đóng cửa nó. Thế nhưng, mọi việc lại không hề dễ dàng, bộ chủ quản liên quan đến vụ việc khi kiểm tra đã cho rằng, chưa đủ căn cứ, cơ sở và chưa có chế tài xử lý trang web này. Lý do rất đơn giản: Chủ nhân trang nói trên giải trình trang của ông ta chỉ là một blog, là một trang cá nhân và lỗi duy nhất của trang này là đang sử dụng máy chủ ở nước ngoài.

Câu chuyện mà phóng viên Báo Quân đội nhân dân ghi nhận như nêu ở trên đây đã cho thấy một thực trạng đáng suy nghĩ trong xử lý web, blog có dấu hiệu sai trái, phản động. Thực tế hiện nay, hệ thống pháp luật quản lý thông tin điện tử ở nước ta còn chưa hoàn thiện, nên đã dẫn đến tình trạng cơ quan quản lý và cả cơ quan pháp luật “lúng túng” khi xử lý những “con rắn Hydra” web, blog. “Nhiều trang web, blog đã đăng tải bài viết xuyên tạc sự thật, vi phạm Nghị định số 97/2008/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet. Điều 4 của Thông tư số 14 hướng dẫn thực hiện Nghị định này nêu rõ một trong những hành vi bị nghiêm cấm đối với trang web, blog là: “Tạo trang thông tin điện tử giả mạo cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp khác; thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân”. Thế nhưng, có rất nhiều trường hợp người bị xuyên tạc, bôi nhọ, vu khống lại không có đơn thư tố cáo với cơ quan pháp luật, nên cả Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Công an đều không thể vào cuộc xử lý” – một cán bộ công an có kinh nghiệm theo dõi nhiều vụ việc cho biết. Mặt khác, tâm lý chung của nhiều người Việt là không muốn đôi co, dây dưa vào những phần tử bất mãn, như gần đây gia đình một cán bộ của quân đội cũng bị vài blog đăng tải nội dung bịa đặt, bôi xấu nhưng đồng chí này cũng không kiến nghị cơ quan chức năng xử lý vì không muốn gây phiền toái. Phải chăng vì thế mà không ít chủ trang web có dấu hiệu sai trái, phản động vẫn ngang nhiên lộng hành, dương dương tự đắc vì đã “lách luật”, “thoát hiểm” một cách ngoạn mục để thực hiện các mưu đồ đen tối.

Hành lang pháp lý chưa hoàn thiện

Khi trao đổi với một số cơ quan liên quan của Bộ Thông tin và Truyền thông, chúng tôi được biết, Nghị định 97 sau 4 năm ra đời đã bộc lộ rất nhiều hạn chế, bất cập so với sự phát triển bùng nổ của internet, web, blog. Ngoài nghị định này, mặc dù còn có cả các văn bản pháp luật về quản lý blog, quản lý tin rác song cũng chưa bao quát, chế tài được những hành vi mà chủ nhân nhiều web, blog thời gian qua thực hiện. Chính vì thế, hiện nay Bộ Thông tin và Truyền thông đang xây dựng dự thảo Nghị định 97 sửa đổi, bổ sung theo hướng quản lý chặt chẽ hơn hoạt động thông tin điện tử, tạo hành lang pháp lý để xử lý nghiêm minh những hành vi sai phạm.

Tại một hội thảo do Bộ Công an tổ chức gần đây đã nêu lên thực trạng, việc áp dụng các quy định của Nhà nước đối với các nhà cung cấp dịch vụ internet trong thực hiện ngăn chặn thông tin xấu còn hạn chế. Ở Trung Quốc, có quy định các nhà cung cấp dịch vụ phải đặt máy chủ tại nội địa nên việc quản lý thông tin tốt hơn, còn ở ta, không ít nhà cung cấp đặt máy chủ ở nước ngoài hoặc không có cơ quan đại diện ở Việt Nam, tạo ra “lỗ hổng” quản lý… Theo cơ quan chức năng, hiện nay, việc lập blog rất đơn giản, nếu đối tượng dùng sim 3G loại sim rác thì gần như không kiểm soát được. Trong khi đó, lực lượng hoạt động nghiệp vụ quản lý trên internet của một số bộ, ngành liên quan còn “vừa thiếu, vừa yếu”, hoạt động chồng chéo, bất cập, có tình trạng “không biết ai là chính, ai là phụ, mạnh ai nấy làm”. Một việc đơn giản hơn là rà soát, thống kê, đánh giá toàn bộ thực trạng các web, blog, diễn đàn có nội dung xấu, đánh giá, phân loại, xác minh đối tượng liên quan… một cách tổng thể để có biện pháp đấu tranh ngăn chặn đến nay cũng chưa được triển khai thấu đáo. Vừa qua, khi phóng viên Báo Quân đội nhân dân nắm số liệu ở hai bộ liên quan đến việc này, cơ quan chức năng đều cho biết “chưa đủ thông tin”. “Nếu cần công bố một danh sách web, blog có nội dung xấu, chúng tôi có thể làm được ngay, nhưng theo Nghị định 97 hiện hành thì chưa rõ việc này là của cơ quan nào” – một cán bộ quản lý cho biết.

Quét “thông tin bẩn”

Ông Vũ Hoàng Liên, Chủ tịch Hiệp hội internet Việt Nam, một trong những người có công lớn đưa internet vào Việt Nam trong một lần trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã ví von internet là một cái “chợ trời thông tin”, có “hàng” tốt, “hàng” xấu, thậm chí cả hàng… ăn cắp. Tư duy “quản lý được đến đâu mở ra đến đấy” đã lỗi thời so với nhu cầu phát triển của xã hội. Tuy nhiên, ông Liên cũng cho rằng không vì thế mà thả nổi nó thành một cái “chợ trời” bát nháo thực sự mà phải có quy củ. Chung quan điểm trên, một cán bộ ngành tuyên giáo có kinh nghiệm theo dõi, chỉ đạo xử lý các hoạt động liên quan đến vấn đề này cho rằng: “Việc quản lý, xử lý loại web, blog này là vô cùng khó khăn. Về mặt kỹ thuật không phải cứ muốn là có thể làm được. Về pháp luật, chúng ta chưa có hệ thống quy phạm đầy đủ và chặt chẽ để xử lý những sai phạm này. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận một thực tế là những hiện tượng như tham nhũng là hiện thực, chạy chức chạy quyền, sai sót, khuyết điểm trong giải phóng mặt bằng, quản lý kinh tế là có. Trong khi đó, hệ thống báo chí, truyền thông còn một số hạn chế, chậm trễ trong phản ánh, định hướng dư luận, thông tin một chiều ở nhiều vụ việc “nóng” nên đã tạo ra mảnh đất màu mỡ cho những trang web, blog kia kích thích vào sự hiếu kỳ, cơn khát thông tin hậu trường… Song đây cũng là một hiện tượng xảy ra ở nhiều nước trên thế giới, khó kiểm soát, điều quan trọng là thái độ và trình độ nhận thức, xử lý thông tin của công chúng; không nên cường điệu hóa về sự nguy hiểm của loại web, blog này. Về lâu dài, cái gốc để hạn chế thông tin xuyên tạc vẫn là nâng cao năng lực quản lý, điều hành, hạn chế tiêu cực xã hội, tăng cường dân chủ và kỷ luật, tạo sự đồng thuận, phát triển”.

Chiều 15-9, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã tìm gặp Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, một người khá nổi tiếng với nhiều phản biện được nhiều web, blog đăng tải. Tuy nhiên, ông cho biết có nhiều thông tin ông không phát biểu, không tham gia “nhóm nọ”, “nhóm kia” song đã bị kẻ xấu đơm đặt, xuyên tạc trắng trợn. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước gọi đó là những “thông tin bẩn”. “Tôi thấy có nhiều người tốt nhưng vì khía cạnh nào đó họ chưa được giải tỏa dẫn đến họ bức xúc và phát tán gửi thông tin đi nhiều nơi là không có lợi. Bản thân tôi cũng có nhiều ý kiến, nhiều góp ý và từng rất bức xúc khi không được phản hồi. Gần đây, tôi rất phấn khởi sau khi được gặp gỡ, đối thoại với đồng chí Thường trực Ban Bí thư, đồng chí Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương và được phát biểu hết các bức xúc, không hạn chế thời gian. Đồng chí Tổng bí thư cũng đã tiếp xúc với tôi, sau đó cho cán bộ cấp dưới đến nhà riêng, nắm thêm nhiều vấn đề tôi chưa phát biểu hết. Trước đó, bụng tôi “sôi sùng sục” nhưng sau đó thấy rất thanh thản. Chính vì thiếu sự đối thoại, phản hồi nên dẫn đến nhiều bức xúc, bị kẻ xấu lợi dụng để cho có người bị lợi dụng, lôi kéo, sinh ra nhiều trang “thông tin rác, thông tin bẩn” – Trung tướng Nguyễn Quốc Thước nói. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý cần phân biệt rõ người góp ý phê bình vì dân, vì nước, để xây dựng Đảng với kẻ lu loa để “phá Đảng”. Ông cho biết, ông cũng rất thận trọng, nhiều nội dung không đi đánh máy, phô-tô mà trực tiếp viết tay để tránh bị kẻ xấu sao chép, xuyên tạc. “Gần đây, có người bạn thân hỏi đùa ông có “tham gia” cho mấy trang mạng đang được đồn thổi đình đám kia không, ông nói thẳng: “Cái gì cần góp ý tôi viết cho báo chính thống chứ cái bọn nhân danh web nọ, blog kia, phản biện này nọ nhưng động cơ xấu xa, không vì nước, vì dân mà chỉ đả kích để phá hoại thì là có tội. Phản biện, đấu tranh gì nếu làm cho Đảng mạnh lên, cho dân được nhờ thì mới đáng đọc, đáng xem, còn đăng tải để kích động dẫn đến mâu thuẫn, phá Đảng, hại dân, cõng rắn cắn gà nhà, gây ly tán, chiến tranh như ở Li-bi, I-rắc thì phải coi đó là rác, là bẩn, đều phải quét nó đi, không để nó làm hại” – Trung tướng Nguyễn Quốc Thước nói.

NGUYÊN MINH, NGUYỄN HÒA, NGỌC HƯNG
qdnd.vn

(Còn nữa)

Bài 1: Cơn bão “vi rút độc” từ web, blog “đen”

Bác Hồ với cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên

Hàn vạn người dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ngày 5-1-1946 Ảnh tư liệu
Hàng vạn người dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh 
và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ngày 5-1-1946

Cách mạng Tháng Tám thành công, đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, đưa nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do làm chủ nước nhà. Tuy nhiên, do tình hình lịch sử lúc bấy giờ: Tài chính đất nước thì kiệt quệ, dân trí thì lạc hậu (90% mù chữ), nạn đói hoành hành, thù trong giặc ngoài đang nhăm nhe lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ… Có thể nói vận mệnh của Tổ quốc như “ngàn cân treo sợi tóc”.

Để giữ vững được chính quyền cách mạng, để xây dựng được chính quyền vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cần phải tìm người hiền tài để giúp dân, giúp nước. Do đó, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Sắc lệnh số 14/SL/8-9-1945 về cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên để bầu Quốc hội. Bản Sắc lệnh đã khẳng định yêu cầu bức thiết của Tổng tuyển cử, đồng thời khẳng định chúng ta có đủ cơ sở pháp lý, điều kiện khách quan và chủ quan để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử đó. Bản Sắc lệnh gồm 7 điều, quy định: “Trong một thời hạn hai tháng kể từ ngày ký Sắc lệnh này sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu quốc dân đại hội” (Điều 1); “Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường” (Điều 2); “Một Uỷ ban để dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được thành lập” (Điều 5); “Để dự thảo một bản Hiến pháp đệ trình Quốc hội, một Uỷ ban khởi thảo Hiến pháp 7 người sẽ thành lập” (Điều 6).

Ngày 16/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh ấn định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử. Tuy còn một số cán bộ tỏ ra lo lắng vì trình độ nhân dân ta còn thấp, năng lực tổ chức yếu, kinh nghiệm chưa có, hơn nữa ở miền Bắc bè lũ phản động đang hè nhau phá phách; ở miền Nam tình hình chiến sự đang lan rộng, nhưng với lòng tin tuyệt đối vào nhân dân, Bác vẫn quyết định: “Phải bầu ngay Quốc hội càng sớm, càng tốt. Bên trong thì nhân dân tin tưởng thêm vào chế độ của mình. Trước thế giới, Quốc hội do dân bầu sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận”.

Tiếp đó, Chính phủ lâm thời đã ban hành các Sắc lệnh để xúc tiến công việc chuẩn bị cụ thể cho việc Tổng tuyển cử như: Sắc lệnh số 34/SL ngày 20-9-1945, thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm có: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu; Sắc lệnh số 39/SL ngày 26-9-1945 về thành lập Uỷ ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử gồm 9 người, trong đó có đại diện của các ngành, các giới.

Ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 51/SL quy định thể lệ Tổng tuyển cử gồm 12 khoản, 70 điều. Trong đó, quy định cuộc Tổng tuyển cử phải được tiến hành theo lối phổ thông đầu phiếu bầu cử trực tiếp và bí mật, đồng thời ấn định thời gian Tổng tuyển cử vào ngày 23/12/1945; Sắc lệnh số 71 và Sắc lệnh số 72 để sửa đổi, bổ sung Sắc lệnh 51 về thủ tục ứng cử; bổ sung số đại biểu được bầu cho một số tỉnh để nâng tổng số đại biểu Quốc hội lên 330 đại biểu. Để tạo điều kiện cho những người có quyền ứng cử và có nguyện vọng ứng cử có đủ thời gian ứng cử và vận động tuyển cử.

Với niềm tin vào Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã một lòng ủng hộ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của dân tộc. Nhiều người có tài, có đức xung phong ra ứng cử hoặc được quần chúng giới thiệu ra ứng cử. Danh sách các cử tri và ứng cử viên được hoàn thành và niêm yết công khai. Quần chúng sôi nổi trao đổi, tranh luận, chất vấn nhằm lựa chọn được những người xứng đáng nhất làm đại diện của mình, hạn chế tới mức cao nhất những phần tử cơ hội lợi dụng dịp Tổng tuyển cử để tranh giành quyền chức. Tại các địa phương, nhân dân ta nô nức kéo về trụ sở chính quyền các tỉnh thành, huyện lỵ mít tinh hoan nghênh Tổng tuyển cử và ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh. Không chỉ ở các tỉnh thành mà ở cả các bản làng xa xôi hẻo lánh cũng nô nức rộn ràng tiếng cồng chiêng cổ động cho Tổng tuyển cử. Hay ở các đất nước như Pháp, Thái Lan, Lào… đồng bào xa xứ của ta cùng mít tinh, hội họp, gửi điện tín, ủng hộ Tổng tuyển cử. Có thể nói cả dân tộc như hừng hực sức sống trước ngày hội của non sông.

Ngày 5/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Toàn văn như sau:

“Ngày mai mồng 6 tháng giêng năm 1946.

Ngày mai là một ngày sẽ đưa Quốc dân ta lên con đường mới mẻ.

Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một là phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

Ngày mai, Quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam ta đã:

Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ,

Kiên quyết chống bọn thực dân,

Kiên quyết tranh quyền độc lập.

Ngày mai dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước.

Ngày mai, người ra ứng cử thì đông, nhưng số đại biểu thì ít, lẽ tất nhiên, có người được cử, có người không được cử.

Những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà. Vì lợi chung, quên lợi riêng.

Phải làm cho xứng đáng với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc.

Người không trúng cử cũng không nên ngã lòng. Mình đã tỏ lòng hăng hái với nước, với dân, thì luôn luôn phải giữ lòng hăng hái đó. Ở trong Quốc hội hay ở ngoài Quốc hội, mình cũng cứ ra sức giúp ích nước nhà. Lần này không được cử, ta cứ gắng làm cho quốc dân nhận rõ tài đức của ta, thì lần sau quốc dân nhất định cử ta.

Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.

CT HCM thực hiện quyền bầu cử
Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện quyền bầu cử

Ngày 6-1-1946, ngay từ 6 giờ sáng, Hồ Chủ tịch đã xuất hành làm nhiệm vụ công dân của mình ở thùng phiếu số 10 phố Hàng Vôi. Người trình thẻ cử tri, nhận phiếu bầu, ra bàn ngồi ghi rồi gấp phiếu lại ngay ngắn, cẩn thận bỏ vào thùng phiếu. Sau đó, Người đến thăm một số phòng bỏ phiếu ở phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thụy Khuê, làng Hồ Khẩu, Ô Đông Mác. Buổi trưa, Người ghé thăm các cháu thiếu nhi đang đi cổ động cho Tổng tuyển cử ở phố Lò Đúc. Quốc hội khóa I đã bầu ra được tổng số đại biểu là 403, gồm 333 đại biểu được bầu chính thức. Bắc bộ có 152 đại biểu, Trung bộ có 108 đại biểu, Nam bộ có 73 đại biểu và đặc thù có 70 đại biểu không thông qua bầu cử. Chủ tịch Hồ Chí Minh được 98,4% số phiếu bầu. Kết quả này là một bằng chứng về khát vọng độc lập, tự chủ của dân tộc ta và uy tín tuyệt đối của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn thể nhân dân Việt Nam. Về thành phần xã hội có trí thức, nông dân, công kỹ nghệ gia, thợ thuyền, buôn bán. Về tuổi tác, từ 18 – 70 tuổi. Thời gian Quốc hội khóa I hoạt động kéo dài đến ngày 15/4/1960. Qua hơn 14 năm đầy thử thách, cam go, Quốc hội đã giành được nhiều thắng lợi to lớn.

Thắng lợi của Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khẳng định sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tinh thần yêu nước của nhân dân ta, là dấu mốc phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam, mở ra triển vọng của một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Đã 67 năm trôi qua kể từ mùa xuân năm ấy của ngày hội non sông nhưng giá trị lịch sử và ý nghĩa của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vẫn còn nguyên vẹn như thủa nào, điều ấy đã và đang được các thế hệ kế thừa và phát huy những thành quả mà Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã gây dựng lên.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Hào khí Điện Biên Phủ trên không

12 NGÀY ĐÊM CẢM TỬ (***)

Những người lính phòng không – không quân hôm nay luôn nêu cao khẩu hiệu: Không để Tổ quốc bị bất ngờ từ những tình huống trên không. Với họ, truyền thống của đơn vị anh hùng trong 12 ngày đêm là tài sản tinh thần vô giá.

Sư đoàn Phòng không Hà Nội và Sư đoàn Không quân Thăng Long những ngày này rộn ràng với những phong trào thi đua chào mừng 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không. Đây là 2 đơn vị sở hữu “bảng vàng thành tích” đáng tự hào trong 12 ngày đêm cảm tử.

Bài học vô giá

Trung tá Trương Bảo Anh, Trung đoàn phó Trung đoàn 257, đang làm luận văn thạc sĩ về đề tài “Xây dựng thế trận phòng không Hà Nội trong chiến thắng Điện Biên Phủ trên không”. Trung đoàn 257 chính là đơn vị bắn rơi nhiều máy bay B52 nhất trong chiến dịch 12 ngày đêm. “Tôi say mê những câu chuyện về trận đánh trên không 40 năm trước từ thời còn là học sinh. Sau này, tôi quyết tâm thi vào trường quân đội và trở thành sĩ quan lực lượng phòng không để tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu nhiều hơn về chiến thắng hào hùng của thế hệ cha anh” – ông tâm sự.

Lớp phi công trẻ từng bước làm chủ chiến đấu cơ hiện đại

Tổ hợp tên lửa C300 đời mới của lực lượng phòng không.Ảnh: QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG – KHÔNG QUÂN

Trung tá Bảo Anh cho rằng hào khí Điện Biên Phủ trên không cũng như những bài học của thế hệ cha anh để lại là vô giá. “Đường lối chiến tranh nhân dân, thế trận phòng không nhân dân vẫn là bài học lớn nhất rút ra được từ chiến thắng Điện Biên Phủ trên không” – ông nhìn nhận.

Trong luận văn của mình, trung tá Bảo Anh ghi rõ: “Một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến thành công của chiến dịch 12 ngày đêm là quân và dân ta đã xây dựng được một thế trận phòng không hết sức sáng tạo, độc đáo, trở thành yếu tố cấu thành nghệ thuật tác chiến phòng không, góp phần làm nên trường phái của học thuyết quân sự Việt Nam”.

Vị chỉ huy trung đoàn tên lửa anh hùng đúc kết: “Ta đã xây dựng được một thế trận phòng không 3 thứ quân vững chắc và duy trì được sự hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng. Bên cạnh lực lượng phòng không chủ lực, tại Hà Nội, ta đã tổ chức được gần 100 trận địa pháo phòng không tầm thấp và 4 đại đội cao xạ tầm trung, nhiều trận địa được bố trí trên các tòa nhà cao tầng, gần những mục tiêu trọng điểm, đón lõng các đường bay của địch…”.

Hiện đại hóa khí tài, vũ khí

Đại tá Nguyễn Việt Hùng, Phó Chính ủy Sư đoàn Không quân Thăng Long, cho biết: “Vừa qua, Quân chủng Phòng không – Không quân đã tiến hành tổng kết một số trận đánh mà không quân của ta bắn rơi nhiều máy bay Mỹ để đưa vào chương trình giáo dục, giảng dạy cho lớp phi công mới”.

Trong quá trình xây dựng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, riêng Sư đoàn Không quân Thăng Long có tới 33 người được tuyên dương anh hùng. Đó là những người đã tô thắm trang sử của sư đoàn được coi là “anh cả” của không quân Việt Nam này. Theo đại tá Hùng, yêu cầu đặt ra trong tình hình hiện nay là phải đổi mới và nâng cao khả năng chiến đấu của đơn vị. Những Mig 17, Mig 19, Mig 21 từng là niềm tự hào của không quân miền Bắc giúp ta lập nhiều chiến công đang dần được thay thế bằng các loại máy bay chiến đấu hiện đại hơn như Su 22, Su 22M4, Su 30MK2 và trực thăng vũ trang. “Với trang bị như hiện nay, chúng tôi đủ khả năng sẵn sàng chiến đấu, cùng với các lực lượng quản lý vững chắc vùng trời, vùng biển đảo và thềm lục địa của Tổ quốc, không để đất nước bị bất ngờ từ những tình huống trên không” – ông Hùng tự tin.

Dù vậy, vị phó chính ủy sư đoàn không quân anh hùng vẫn ưu tư: “Cái thiếu hiện nay là nhân lực, đội ngũ phi công giỏi. Đội ngũ phi công các loại máy bay cũ của chúng tôi từ nay đến năm 2016 sẽ được chuyển loại toàn bộ để có thể vận hành những chiến đấu cơ hiện đại”.

Vũ khí, khí tài phục vụ thế trận phòng không của ta hiện nay cũng đang từng bước được hiện đại hóa. Trung tá Trương Bảo Anh nhìn nhận: “Quan trọng là phải khai thác hết các tính năng, làm chủ khí tài, vũ khí”. Vị chỉ huy trung đoàn 40 năm trước từng lập nên kỳ tích bắn rơi 25 “pháo đài bay” liệt kê các loại tên lửa, tổ hợp tên lửa mà Quân chủng Phòng không – Không quân đang có trong tay và khẳng định: “Chúng ta đủ sức đánh trả bất kỳ âm mưu tập kích đường không nào”.

Tổn thất chưa từng có của Mỹ

Một phi công Mỹ may mắn thoát chết trong chiến dịch Linebacker II (12 ngày đêm) kể lại ác mộng kinh hoàng: “Khi những chiếc B52 đầu tiên tới vùng trời Hà Nội, tên lửa đất đối không bắn như pháo hoa lên máy bay chúng tôi. Từ khi vào mục tiêu, anh bạn xạ thủ đã đếm được 32 tên lửa SAM bắn vào hoặc ít ra cũng bay sát máy bay chúng tôi”.

Qua 12 ngày đêm, từ ngày 18 đến 29-12-1972, có 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó gồm 34 “pháo đài bay”. Trong hồi ký của mình, Tổng thống Mỹ Nixon thừa nhận: “Nỗi lo của tôi trong những ngày ấy không phải là những làn sóng phản đối, phê phán nghiêm khắc ở trong nước và trên thế giới, mà chính là mức độ tổn thất về máy bay B52 quá nặng nề”.

Trong các cuộc chiến tranh, ở những trận tập kích đường không lớn, tỉ lệ tổn thất máy bay của phe tấn công khoảng 1%-2%. Tuy nhiên, trong chiến dịch Linebacker II, tỉ lệ tổn thất máy bay của Mỹ (chỉ tính riêng B52) đã lên tới 17%, một con số chưa từng có.

MẠNH DUY
nld.com.vn

————————-

12 NGÀY ĐÊM CẢM TỬ
Phi đội bay quyết tử
Tuổi trẻ can trường

Xây dựng thế trận phòng không nhân dân vững mạnh

“Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” không chỉ là niềm tự hào mà còn là tài sản vô giá.

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, ngày 19-12, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến thăm cán bộ chiến sĩ thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân.

Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân, Chủ tịch nước nêu rõ trong cuộc đối đầu lịch sử với không quân Mỹ 12 ngày đêm, bộ đội Phòng không – Không quân đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cùng toàn quân, toàn dân ta đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của chúng vào Hà Nội, Hải Phòng và một số TP khác.

Trong những năm tới, Chủ tịch nước đề nghị cán bộ chiến sĩ quân chủng làm tốt vai trò tham mưu cho Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng xây dựng các lực lượng phòng không, tạo thành thế trận phòng không nhân dân vững mạnh, rộng khắp, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc bầu trời Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

l Theo TTXVN, cùng ngày, gặp mặt các đại biểu cựu chiến binh Trung đoàn Thủ đô nhân kỷ niệm 66 năm ngày Toàn quốc kháng chiến (19.12.1946 – 19.12.2012), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khẳng định những chiến sĩ quyết tử bảo vệ thủ đô năm xưa mãi mãi là tấm gương sáng để các thế hệ mai sau tiếp bước, noi theo.

Tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” không chỉ là niềm tự hào mà còn là tài sản vô giá của Tổ quốc, cổ vũ động viên quân và dân ta trong bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước hôm nay và mai sau.

B.T.D
nld.com.vn

Tuổi trẻ can trường

12 NGÀY ĐÊM CẢM TỬ (**)

Trắc thủ Nghiêm Xuân Danh và phi công Vũ Xuân Thiều là hai anh hùng tiêu biểu trong chiến dịch 12 ngày đêm được Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tạc tượng đồng. Cả hai người đều đã hy sinh trước khi chiến dịch kết thúc.

Trong quá trình lần tìm những câu chuyện lịch sử của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không 40 năm trước, chúng tôi không khỏi ngưỡng mộ nhiều biểu tượng tuổi trẻ can trường và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Liệt sĩ Nghiêm Xuân Danh và liệt sĩ Vũ Xuân Thiều là những con người như thế.

Trận địa tên lửa Tiểu đoàn 77, nơi trắc thủ Nghiêm Xuân Danh hy sinh

“Mắt thần” quả cảm

Tốt nghiệp Khoa Sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Nghiêm Xuân Danh tiêu biểu cho lớp trí thức trẻ sống mãi với Hà Nội – thủ đô của phẩm giá và lương tri con người như thế giới ca ngợi thời ấy. Tên tuổi của anh trở thành một phần lịch sử Tiểu đoàn 77 – Trung đoàn 257 anh hùng. Khi trận địa tên lửa của ta bị trúng tên lửa, bom bi rải thảm dày đặc, Nghiêm Xuân Danh vẫn bám trụ chiến đấu kiên cường và anh dũng hy sinh ngay trên vị trí quan sát.

Đại tá Nghiêm Đình Tích, nguyên phó Ban Tổng kết lịch sử Quân chủng Phòng không – Không quân (PK-KQ), đánh giá rất cao vai trò của bộ đội ra-đa trong trận chiến sinh tử 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội. “Không có bộ đội ra-đa thì không nhìn thấy mục tiêu mà bắn. Thế nên, công đầu trong chiến thắng vĩ đại này là của bộ đội ra-đa” – đại tá Tích khẳng định.

Ông Phạm Hồng Hà, nguyên trắc thủ cự ly của Tiểu đoàn 77, giải thích: “Tìm diệt B52 trong dải nhiễu cần óc phán đoán và sự tinh nhạy tuyệt vời. Thời ấy, chính các chuyên gia Liên Xô cũng phải ngỡ ngàng với sự sáng tạo của bộ đội Việt Nam”. Theo ông Hà, các trạm ra-đa đặt xung quanh Hà Nội đã kiên trì tìm ra cách bắt đúng dải nhiễu của B52 giữa biển nhiễu trên màn hình, định hướng cho tên lửa hạ tới 34 “pháo đài bay”.

Tìm ra được B52 đã khó nhưng dám phát sóng để định hướng tên lửa tiêu diệt chúng còn khó gấp bội, bởi nếu phát hiện sóng ra-đa, lập tức máy bay địch sẽ phóng tên lửa hành trình tiêu diệt trận địa. Ông Hà cùng các đồng đội: Nghiêm Xuân Danh – trắc thủ kính ngắm quang học TZK, Nguyễn Văn Đức – sĩ quan điều khiển, Đỗ Đình Tân – trắc thủ phương vị, Lưu Văn Mộc – trắc thủ góc tà đã quyết mở máy phát sóng để “bắt” bằng được B52, cũng có nghĩa là họ sẵn sàng chấp nhận hy sinh.

Thời ấy, chàng trai trẻ mới 19 tuổi Nghiêm Xuân Danh được ví như con “mắt thần” quả cảm của đơn vị. Nhờ Danh mà trong nửa đầu chiến dịch, trận địa tên lửa đặt tại Chèm (Từ Liêm – Hà Nội) đã bắn rơi 4 chiếc B52. Khi đó, máy bay F111 của địch liên tục tăng dải nhiễu để bịt mắt ra-đa, các loại máy bay khác thì rú rít trên bầu trời để tìm diệt trận địa tên lửa của ta.

“Danh thường đứng ngay trên “chuồng cu”, mắt hướng thẳng lên trời bằng kính TZK. Danh không rời trạm ra-đa và vị trí chiến đấu nửa bước trong suốt 12 ngày đêm” – ông Hà cảm phục. Trưa 21-12-1972, trận địa tên lửa tại Chèm ven sông Hồng bị địch đánh phá ác liệt. Chòi quan sát TZK của Danh bị trúng bom, người trắc thủ trẻ tuổi anh dũng hy sinh khi cặp mắt vẫn hướng lên bầu trời để quan sát máy bay địch.

Biến mình thành tên lửa

Nghiêm Xuân Danh cùng với phi công Vũ Xuân Thiều là hai liệt sĩ anh hùng tiêu biểu trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972 được Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tạc tượng đồng. Cả hai đều đã hy sinh trước khi chiến dịch kết thúc nhưng tên tuổi của họ còn mãi lưu danh.

Đại tá Trần Cung, lúc ấy là thượng úy – tiểu đội phó tiểu đội bay đêm, bồi hồi cảm xúc khi nhắc đến người đồng đội quá cố Vũ Xuân Thiều: “Thời đó, chúng tôi xác định nếu tiếp cận được máy bay B52, kể cả có hết tên lửa và hỏa lực thì vẫn sẵn sàng biến mình và máy bay trở thành tên lửa diệt cho được “pháo đài bay”. Thiều đã có cơ hội làm điều đó và cậu ấy đã làm đúng như những gì tất cả chúng tôi nghĩ”.

Phi công Vũ Xuân Thiều đã hy sinh sau khi tiêu diệt một máy bay B52. Ảnh: TƯ LIỆU

Trong cuốn sách lịch sử Sư đoàn Không quân Thăng Long, thời khắc phi công Vũ Xuân Thiều hy sinh được ghi lại giống như một bản anh hùng ca: “Đêm 28-12-1972, Vũ Xuân Thiều được lệnh cất cánh từ sân bay Cẩm Thủy. Sở Chỉ huy Thọ Xuân dẫn anh bí mật bay vòng đằng sau đội hình B52. Đến vùng trời Sơn La, Vũ Xuân Thiều gặp địch. Khoảng cách giữa anh và chiếc B52 quá gần nên khi mục tiêu bốc cháy thì máy bay của anh cũng lao vào đám cháy. Anh đã anh dũng hy sinh”.

Tinh thần “Thép đã tôi thế đấy”

Ông Đỗ Đình Tân, nguyên trắc thủ phương vị của Tiểu đoàn 77, người có thời gian dài gần gũi với Nghiêm Xuân Danh từ khi anh nhập ngũ, nhớ lại: “Danh mê văn học Xô viết và có tâm hồn lãng mạn như một nhà thơ. Thỉnh thoảng, cậu ấy còn gửi những bài thơ viết vội ngoài mặt trận về nhà cho người thân”. Cảm phục anh, ông Tân đã giữ gìn kỷ vật là cuốn nhật ký của người đồng đội đến nay. Đưa cho chúng tôi xem một bài thơ của Nghiêm Xuân Danh, ông giải thích: “Tôi cứ nghĩ Danh làm bài thơ này cho người yêu nhưng thực ra, cậu ấy viết cho em trai: Anh tạm xa đất Bắc thân yêu/ Nhận tin anh chớ buồn nhiều em nhé/ Tuổi hai mươi đời còn non trẻ/ Anh vào trận lần này sức khỏe đang lên/ Lòng rộn vui khi vững gan bền/ Như cậu học trò thuộc bài lên bảng”… Danh vẫn chưa một lần biết yêu cho đến tận lúc hy sinh”.

Ông Tân cho biết sách gối đầu giường của Nghiêm Xuân Danh chính là cuốn Thép đã tôi thế đấy của Ostrovsky. “Những câu nói như tuyên ngôn của chàng trai trẻ Paven về lẽ sống luôn được Danh gạch chân. Từ khi vào quân ngũ, Danh luôn sống bằng những lời thề với bản thân: Nguyện chiến đấu và hy sinh để đất nước sớm có ngày hòa bình, im tiếng đạn bom”.

Kỳ tới: Hào khí Điện Biên Phủ trên không

MẠNH DUY
nld.com.vn

Lời thú tội của những kẻ gây chiến

Đúng như tiên đoán của Bác Hồ từ đầu năm 1968, Mỹ đã thất bại và phải cuốn cờ về nước vào cuối tháng 3-1973 sau khi không lực Mỹ thua trên bầu trời Hà Nội bởi một Điện Biên Phủ trên không của quân và dân thủ đô vào cuối tháng 12-1972.

Với những trận đánh của các lực lượng phòng không – không quân ta, pháo đài bay B52 Mỹ trên bầu trời Hà Nội 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972 đã bị thiêu xác, chiến dịch Linebacker II bị thảm bại hoàn toàn. Sau đây là những lời thú nhận chính của người cầm đầu Nhà Trắng và những lời kể về nỗi khiếp sợ của những phi công Mỹ sừng sỏ đã tham gia các phi vụ trong chiến dịch Linebacker II này.

Sử dụng B52 là rất sai lầm

Tổng thống R.Nixon thừa nhận: “Ngày 12-12-1972, Mỹ đã hoãn cuộc thương lượng. Tôi đã quyết định như vậy vì Hà Nội buộc chúng ta phải có một bước đi làm thay đổi suy nghĩ của họ. Bằng hành động để chúng ta thuyết phục Bắc VN rằng tốt hơn hết họ nên ký một hiệp định theo các điều kiện của chúng ta hơn là tiếp tục cuộc chiến đấu. Ngày 14-12-1972, tôi đã ra lệnh rải thủy lôi cảng Hải Phòng và cho máy bay trinh sát toàn miền Bắc VN để chuẩn bị ném bom B52 Hà Nội, Hải Phòng. Đó là một quyết định khó khăn nhất mà tôi thực hiện trong thời gian làm tổng thống. Ngày 17-12-1972, tôi ra lệnh bắt đầu chiến dịch thả thủy lôi trên biển và 24 giờ sau, 129 máy bay B52 tiến hành ném bom miền Bắc VN. Trong 12 ngày đêm, chúng tôi ra lệnh cho không quân xuất kích 729 lần bằng B52 và khoảng gần 4.000 lần bằng chiếc tiêm kích bom, ném tất cả 20.000 tấn vào mục tiêu định sẵn”.

Trong quyển Giải phẫu cuộc chiến tranh, TS Grabriel Conco đã vạch rõ sự tuyệt vọng của Tổng thống Nixon: “Mọi người, kể cả không quân Mỹ, đều thừa nhận rằng sử dụng B52 là rất sai lầm. Không quân gây thương vong đáng sợ cho các mục tiêu dân sự, nhưng đồng thời Mỹ phải trả giá chưa từng có”.

Đại úy phi công R.Scott: “Thật đáng kinh hãi…”

Vậy chiến dịch Linebacker II của Mỹ đã diễn ra như thế nào? Đại úy phi công Robert E.Wonfer, lái B52 từ căn cứ Guam – Thái Bình Dương đến Hà Nội, sau này đã kể lại: “Chúng tôi bay trên đường bay quen thuộc của các phi công tiêm kích bom và luôn bị pháo phòng không Bắc Việt theo dõi, 67 chiếc B52 bay dọc theo sông Hồng lên phía Bắc rồi xuống Hà Nội thành một đội hình dài 70 dặm. Tên lửa SAM của Bắc VN phóng dữ dội vào dòng thác B52. Từ lúc bắt đầu cắt bom đến khi vội thoát khỏi mục tiêu, tôi đếm được 36 quả tên lửa SAM phóng vào đường bay của chúng tôi. Bằng cách khéo léo nào đấy, những người điều khiển SAM đã làm các máy bay gây nhiễu điện tử của chúng tôi cho mục tiêu B52 đã bị thất bại. Từng mỗi trận địa phòng không, Bắc VN phóng hàng loạt 6 tên lửa SAM và cho nổ bất cứ đoạn nào trong đội hình của B52”. Còn theo đại úy R.Scott bay trong tốp B52 sau trong đội hình này, “tên lửa SAM bay từng đôi một, đôi sau cách đôi trước chỉ vài giây và đã nổ khá gần khi tôi bay qua. Tôi thấy rõ một quả cầu lửa bùng lên ở phía trước máy bay của tôi rồi lao nhanh xuống như một ngọn đuốc khổng lồ. Tôi đoán đó là một chiếc B52 bị trúng trực tiếp tên lửa SAM. Về sau tôi mới biết đó là chiếc B52G bị bốc cháy. Thật đáng kinh hãi, 4 phi công nhảy dù ra và đều bị bắt”.

Trong đêm đầu của chiến dịch ném bom chiến lược, đã có 7 chiếc máy bay tan xác, trong đó có 3 B52, một số phi công bị thiệt mạng, một số bị bắt, có tên bị mất tích do tan xác theo máy bay. Ngay chiều hôm sau, 19-12-1972, tại câu lạc bộ quốc tế trên đường Lê Hồng Phong (nay là Trung tâm Hội nghị quốc tế), Tổng cục Chính trị – Bộ Quốc phòng VN đã có cuộc họp báo tố cáo tội ác của Mỹ dùng B52 đánh vào thủ đô Hà Nội với sự trình diện của nhiều phi công Mỹ vừa bị ta bắt làm tù binh đêm 18-12.

Đó chỉ mới là 1-2 ngày đầu, càng về sau, cường suất B52 càng tăng và không lực Mỹ càng bị thảm hại. Số máy bay B52 cũng như tiêm kích bom còn rơi rụng ngày càng tăng và dẫn tới chiến dịch Linebacker II hoàn toàn sụp đổ sau 12 ngày đêm. May mắn sống sót trong chiến dịch Linebacker II, mãi đến 5 năm sau, đại úy phi công lái B52 Daren Kawsky đã viết lại trên tạp chí quân lực Mỹ, số tháng 7-1977: “Ôi! Thật hãi hùng, tôi cứ nơm nớp lo sợ mỗi lần lên máy bay để bay đến Hà Nội. Cứ nghĩ đến hình ảnh đồng đội tôi ngồi gục đầu kinh hoàng trước cuộc họp báo ở Hà Nội ngày 19-12-1972 thật khủng khiếp. Tôi may mắn sống sót, nhưng nhiều bạn đã tan xác cùng với máy bay trúng tên lửa Bắc Việt”.

VN được ca ngợi

Với thất bại nặng nề sau 6 ngày khởi sự chiến dịch “rải thảm” B52, ngày 25-12-1972, hãng AP (Mỹ) đã phát tin và cảnh báo: “Đây là ngày thứ sáu liên tiếp của cuộc tấn công chớp nhoáng lớn nhất trong cuộc chiến tranh chống VN. Mỹ đã phải trả giá đắt nhất kể từ khi bắt đầu tấn công bằng không quân ra miền Bắc VN tháng 9-1964. Thiệt hại của Mỹ là nặng nề nhất trong cuộc chiến tranh này”. Với thất bại nối tiếp sau lễ Giáng sinh của không quân Mỹ, chiến dịch này buộc phải kết thúc không kèn, không trống. Ngày 29-12, tổng thống Nixon đã phải hạ lệnh dừng cuộc ném bom này.

Sau này, trong tác phẩm Mỹ ở VN, giáo sư Mỹ Guenter Levy khẳng định: “Chiến dịch Linebacker II là sự thất bại cả về chính trị, quân sự của Mỹ, vì nó không buộc được đối phương đầu hàng. Bắc VN thực tế đã kết thúc cuộc chiến tranh với một hiệp định có lợi cho họ. Sự có mặt của lực lượng vũ trang Bắc VN tại Nam VN được hợp pháp hóa. Chỉ hơn hai năm sau, Bắc VN đã hoàn thành mục tiêu của họ là giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước”.

Thấy ở VN tương lai của loài người

Ca ngợi chiến thắng 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972 của quân và dân ta, ông Romet Sandra, nguyên chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới, đã nói: “VN đồng nghĩa với sự vinh quang, lòng dũng cảm và tinh thần quyết thắng. Mỗi lần đứng bên hố bom do đế quốc Mỹ rải xuống VN, chúng tôi nhận ra rằng nhân dân VN không phải hy sinh chỉ vì VN, mà vì cả chúng tôi. Những người anh hùng ngã xuống trên mảnh đất VN là những liệt sĩ của thế giới, vì họ đấu tranh cho cả thế giới, cho cả nhân dân Mỹ. Chúng tôi thấy ở VN tương lai của cả loài người”.

Bùi Đình Nguyên
nld.com.vn

Phi đội bay quyết tử

12 NGÀY ĐÊM CẢM TỬ (*)

Quân chủng Phòng không – Không quân đã bí mật xây dựng phi đội bay đêm gồm những phi công thiện chiến, dũng cảm để đọ sức với không lực Mỹ trên bầu trời Hà Nội trong chiến dịch 12 ngày đêm.

Các cuộc tập kích của “pháo đài bay” B52 đều là những trận tấn công ban đêm. Vì thế, từ cuối những năm 1960, Quân chủng Phòng không – Không quân  (PK-KQ) đã ý thức  rõ: Nếu ta có được lực lượng bay đêm giỏi, máy bay Mỹ sẽ không thể làm mưa làm gió.

Người xuất kích

Năm 1968, 30 phi công tốt nghiệp Trường Không quân Krasnoda – Liên Xô đã được bổ sung biên chế của Trung đoàn Không quân Sao Đỏ. Lúc này, trung đoàn chỉ có 3 đại đội phi công, số máy bay cũng ít ỏi nhưng các chuyên gia bay đêm đã bất ngờ xuất hiện làm máy bay Mỹ nhiều phen khiếp vía.

Chúng tôi tìm đến nhà đại tá Trần Cung trong một ngõ nhỏ trên đường Trường Chinh – Hà Nội. Thời 12 ngày đêm năm 1972, ông Cung là thượng úy, tiểu đội phó tiểu đội bay đêm, nằm trong nhóm những phi công tiêu biểu và có nhiều kinh nghiệm đối đầu “pháo đài bay”.

Với đại tá Cung, đêm mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ trên không đã để lại những ký ức không thể quên được. “19 giờ ngày 18-12-1972, tôi nhận lệnh xuất kích. Ngay sau đó, phi công Phạm Tuân cũng được lệnh sẵn sàng chiến đấu với B52 trên bầu trời Hà Nội. Trước khi vào buồng lái, chúng tôi đều xác định nếu gặp máy bay B52 sẽ quyết hạ bằng được dù phải hy sinh” – ông nhớ lại.

Đại tá Trần Cung kể lại cuộc giáp mặt B52 trên bầu trời Hà Nội đêm 18-12-1972

Trước trận chiến này, ông Cung chưa từng giáp mặt “pháo đài bay”. “Tất cả những gì chúng tôi học được đều chỉ là lý thuyết. Chúng tôi biết B52 không quá đáng sợ nhưng nó được hộ tống bởi rất nhiều máy bay chiến đấu F4. Ngoài ra, nếu gặp B52 thì phải phóng tên lửa ở khoảng cách dưới 15 km và phải bắn ít nhất 2 quả mới tiêu diệt được vì nó có tới 8 động cơ” – ông phân tích.

Ngay trong đêm đầu tiên xuất kích mở màn chiến dịch, phi công Trần Cung đã có cơ hội tiếp cận B52. Ông hồi tưởng: “Tôi đang tìm đánh những tốp B52 thả bom, phá hoại các sân bay xung quanh Hà Nội thì nhận được lệnh từ đài chỉ huy thông báo “pháo đài bay” đang tiến vào trung tâm thủ đô với vận tốc khủng khiếp 1.200-1.400 km/giờ. Khi đó, mục tiêu chỉ còn cách tôi 25 km. Tôi liền mở ra-đa để tên lửa tìm diệt B52. Tuy nhiên, mở ra-đa cũng có nghĩa là tôi tự biến mình thành miếng mồi của dàn máy bay F4 đi xung quanh hộ vệ cho B52”.

Đại tá Cung cho biết vào thời điểm sinh tử ấy, ông chỉ nghĩ đến việc làm thế nào để tiếp cận gần hơn nữa và phóng tên lửa trúng mục tiêu B52. Chỉ 5 giây sau khi phát hiện “pháo đài bay”, chiếc Mig 21 do ông Cung điều khiển đã bám sát phía sau. Ngay lập tức, B52 phát nhiễu dày đặc, đồng thời máy bay F4 phía dưới lao lên quần nhau với chiếc Mig 21 của ông.

Trong cuộc chiến đấu giáp lá cà với F4, ông Cung tránh được nhiều quả đạn và tiếp tục truy đuổi B52 nhưng lại để lỡ thời cơ tiêu diệt “pháo đài bay”. Bởi lúc ấy, chỉ mình ông đơn thương độc mã trong khi tốp B52 lại có hàng chục chiếc máy bay chiến đấu F4 hỗ trợ. “Tôi tiếc đứt ruột vì không hạ được B52 ngay đêm đó. Dù vậy, việc “pháo đài bay” bị Mig 21 truy kích cũng khiến giặc lái Mỹ bị một đòn tâm lý khá mạnh” – ông Cung luyến tiếc.

Không màng trở về

Những người trong phi đội bay đêm quyết tử bí mật ngày ấy sau này đều trở thành phi công giỏi, là lực lượng chiến đấu tinh nhuệ nhất của không quân miền Bắc. Những tên tuổi: Phạm Ngọc Lan, Bùi Doãn Độ, Trần Cung, Phạm Tuân, Vũ Đình Rạng, Hoàng Biểu, Đặng Vân Đình… đều là niềm tự hào của Không quân Nhân dân Việt Nam.

Theo đại tá Trần Cung, thời điểm đầu của chiến dịch 12 ngày đêm, không quân của ta gặp rất nhiều khó khăn vì cho tới tận ngày 23-12-1972, dù đã nhiều lần xuất kích nhưng Mig 21 vẫn chưa thể tiếp cận được B52. Nhiều phi công của ta không khỏi hoang mang vì cho rằng Mig 21 khó thể tiếp cận và không bắn rơi được “pháo đài bay”. “Những ngày cuối của chiến dịch mới là lúc không quân ta lập công. Ngày 29-12-1972, phi công Bùi Doãn Độ hạ thêm một chiếc F4 – máy bay cuối cùng mà không quân Việt Nam bắn rơi từ ngày mở đầu chiến dịch – khiến Mỹ phải ngừng ném bom hoàn toàn miền Bắc” – ông Cung cho biết.

Với phi đội bay đêm, một khi đã nhận lệnh cất cánh, tất cả đều xác định không màng có thời khắc trở về. Thế nên, những trận chiến trên không của phi đội này cho đến nay đã trở thành huyền thoại được nhắc mãi.

Trước chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, không quân miền Bắc đã có những cuộc thử sức không khoan nhượng với không lực Mỹ. Trong đó, tiêu biểu phải kể đến là trận chiến ngày 8-5-1972, khi Trung đoàn 925 tổ chức xuất kích trận đầu chủ động tấn công địch. Hai biên đội với 4 chiếc Mig 19 đã đánh địch ngay trên bầu trời Yên Bái trong 8 phút, hạ 2/12 chiếc F4 và trở về căn cứ an toàn.

Người đầu tiên hạ “pháo đài bay”

Trước Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều, đã có một phi công khác hạ được B52, dù “pháo đài bay” này không bị rơi tại trận. Đó là ông Vũ Đình Rạng, người mà lịch sử quân sự Mỹ ghi nhận là phi công duy nhất của Bắc Việt đã làm hư hỏng nặng một chiếc B52 khiến nó không thể sử dụng được nữa. Đây cũng là lần đầu tiên, không quân của một nước bắn bị thương được “pháo đài bay”.

Ông Rạng hào hứng: “Ngày 20-11-1971, một tốp B52 xuất hiện trên tuyến lửa Vĩnh Linh, tôi được giao nhiệm vụ truy kích bằng chiếc Mig 21. Chiếc “én bạc” của tôi bay dọc dãy Trường Sơn truy đuổi cùng lúc 3 chiếc B52 đang chuẩn bị rải bom Bình Trị Thiên. Khi còn cách tốp B52 khoảng 15 km, tôi mở ra-đa và reo lên: “Xin cho công kích!”.

Trung tá Trần Hanh, Phó Tư lệnh Không quân, hạ lệnh cho phép công kích. Tôi bèn tăng tốc độ cho chiếc Mig 21 tiếp cận tốp B52. Một chiếc B52 được đưa vào vòng ngắm, vùng phóng đã xuất hiện, tôi nhẩm đếm 1, 2, 3… Đến khi chỉ còn cách dưới 2,5 km, đường ngắm ổn định, tôi bấm nút phóng, một quả tên lửa lao thẳng trúng đích chiếc B52”.

Kỳ tới: Tuổi trẻ can trường

MẠNH DUY
cand.com.vn

Huyền thoại “Điện Biên Phủ trên không”

Khi nói về chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không”, Đại tướng Liên Xô Khiupenen Anatoli Ivanovitr cho rằng người Mỹ có thể hủy diệt đất nước Việt Nam nhưng không bao giờ thống trị được con người Việt Nam

40 năm trước, cuộc chiến 12 ngày đêm rực lửa ở Hà Nội (từ  ngày 18 đến 29-12-1972) với chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” của quân dân ta đã đánh bại tham vọng xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải trở lại bàn đàm phán và ký kết Hiệp định Paris. 40 năm sau, những nhân chứng sống của trận chiến thần kỳ đó có dịp tề tựu với nhau trong buổi giao lưu “Hà Nội 12 ngày đêm, chuyện bây giờ mới kể” do Đài Truyền hình TPHCM và Quân chủng Phòng không – Không quân tổ chức sáng 22-11 để ôn lại một thời đạn bom oanh liệt, hào hùng.

Chủ động bước vào trận chiến

Trong đêm 27-12-1972, phi công trẻ Phạm Tuân đã trở thành người đầu tiên bắn rơi B52 trên không và trở về an toàn. Sự kiện đó đã trở thành niềm tự hào về lòng quả cảm, trí tuệ của lực lượng không quân Việt Nam trong cuộc đối đầu không cân sức với Mỹ. Trung tướng – Anh hùng Lực lượng Vũ trang Phạm Tuân xúc động kể: “Tôi không thể nào quên ngày 19-7-1965, khi đến thăm Trung đoàn 324 bộ đội phòng không – không quân, Bác Hồ nói: “Dù đế quốc Mỹ lắm súng, nhiều tiền; dù chúng có B57, B52 hay “bê” gì đi nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa, ta cũng đánh. Mà đã đánh là nhất định thắng”. Những lời nói của Bác là điều tôi đã mang theo khi bay trên bầu trời Hà Nội trong trận Điện Biên Phủ trên không”.

Anh hùng Phạm Tuân (bìa phải) trả lời các bạn trẻ trong buổi giao lưu

Anh hùng Phạm Tuân cho biết: Năm 1966, máy bay B52 của Mỹ ném bom đánh phá Quảng Bình, Vĩnh Linh ngày càng dữ dội, Bác Hồ đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho ông Đặng Tính, Chính ủy Quân chủng Phòng không – Không quân, phải tìm cách đánh cho được B52. Vào một tối mùa xuân năm 1968, khi gọi Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam Phùng Thế Tài lên gặp, Bác đã đưa ra một lời tiên đoán tài tình: “Sớm muộn gì đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định chịu thua nhưng chỉ sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Gần 5 năm sau, lời tiên đoán của Bác thành sự thật khi quân Mỹ ồ ạt mang B52 đánh phá Hà Nội. “Với tầm nhìn xa trông rộng của Bác Hồ, chúng ta đã bước vào cuộc chiến 12 ngày đêm một cách chủ động, đàng hoàng và giành thắng lợi vẻ vang” – Trung tướng Phạm Tuân khẳng định.

Bắt pháo đài bay B52 phải cúi đầu

Một nhân vật khác cũng từng làm cho B52 Mỹ khiếp sợ là ông Đinh Thế Văn, nguyên tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 tên lửa – người chỉ huy bắn rơi 4 máy bay B52. Quay về câu chuyện 40 năm về trước, ông Đinh Thế Văn cho biết B52 được Mỹ cho là một quyền lực bất khả chiến bại và có thể trong vòng 3 ngày đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá. Chúng tuyên bố đánh vào Hà Nội như… đi du lịch, không một thứ vũ khí nào của Việt Nam có thể bắn rơi B52.

Ghi nhớ lời dạy của các bậc tiền bối “biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”, ông Văn cùng đồng đội đã dày công nghiên cứu và nắm được tất cả những đặc điểm, tính năng của B52. Chính sự chuẩn bị kỹ lưỡng đó và ý chí, quyết tâm, cách đánh linh hoạt, khéo léo, thông minh mà chúng ta đã biến điều không thể thành có thể: Bắt pháo đài bay B52 của Mỹ rơi lả tả trên bầu trời thủ đô.

Sau 12 ngày đêm chiến đấu ngoan cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay của Mỹ, trong đó có 34 máy bay B52, 5 chiếc F-111 và 42 máy bay chiến thuật các loại. Trong số 34 máy bay B52 bị tiêu diệt, bộ đội tên lửa bắn rơi 29 chiếc; bộ đội không quân bắn rơi 2 chiếc; bộ đội pháo phòng không 100 mm bắn rơi 3 chiếc. Đặc biệt, trong đêm 26-12-1972, đêm thứ 9 của chiến dịch, quân dân ta đã xuất sắc hạ gục 8 chiếc B52.

Quốc tế khâm phục

Có mặt trong 12 ngày đêm ác liệt ấy còn có nhiều chuyên gia Liên Xô. 40 năm trôi qua, Đại tướng Khiupenen Anatoli Ivanovitr vẫn tràn đầy cảm xúc khi nói về cuộc chiến này: “Hà Nội đổ nát, bầu trời rực lửa. Tôi hết sức kinh ngạc trước cảnh tượng trên và cứ nghĩ Việt Nam không sao chống đỡ nổi”.

Ông Khiupenen Anatoli Ivanovitr hiểu rằng dù được Liên Xô giúp đỡ nhưng hỏa lực của Việt Nam lúc bấy giờ so với Mỹ còn rất khiêm nhường. Bản thân ông cũng không dám tin Việt Nam có thể đánh thắng một trong những lực lượng không quân mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, trong đó B52 chính là biểu tượng của sự hủy diệt.

Đây chính là điều mà ông Khiupenen Anatoli Ivanovitr giữ trong lòng từ ấy đến nay. “Sau khi biết các bạn bắn rơi B52, tôi khâm phục vô cùng ý chí cũng như cách đánh khôn khéo của các bạn. Người Mỹ đã không lường được ý chí và sự thông minh của người Việt Nam. Người Mỹ có thể hủy diệt đất nước các bạn nhưng không bao giờ thống trị được các bạn” – Đại tướng Khiupenen Anatoli Ivanovitr khẳng định. Ông cũng cho rằng “Điện Biên Phủ trên không” đã trở thành huyền thoại, thành biểu trưng cho sức mạnh tinh thần và đoàn kết dân tộc của Việt Nam.

Lời kể của tù binh – phi công

Trung tướng Phạm Tuân đã kể câu chuyện gặp lại viên phi công lái B52 tại nhà tù Hỏa Lò khiến ông nhớ mãi. Lúc đó ông hỏi viên phi công: “Ông suy nghĩ gì khi bay vào Hà Nội?”. Vị sĩ quan trả lời: “Vũ khí của không quân Bắc Việt chúng tôi biết hết, gồm có Mig, Sam và nhiều loại khác. Thậm chí chúng tôi còn diễn tập bằng các loại khí tài này và chúng tôi nghĩ rằng bay vào đánh Hà Nội như là bay luyện tập thôi, vào ném bom thì bay ra”. Trung tướng Phạm Tuân hỏi tiếp: “Vậy giờ ngồi ở đây, ông cảm thấy như thế nào?”. “Đó là vấn đề chúng tôi chưa nghĩ hết và nghĩ cũng không thông. Chúng tôi chưa hiểu hết con người Việt Nam nên giờ chúng tôi mới ngồi ở đây”.

Kỳ tới: Mở đường thống nhất đất nước

Bài và ảnh: PHAN ANH
nld.com.vn