Kiểm tra như ngọn đèn pha

Hồ Chủ tịchBác Hồ chỉ rõ: “Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười gấp trăm”

Ngày 30-11-1948, trên Báo Sự thật số 103, với bút danh X.Y.Z, Bác Hồ đăng bài “Một việc mà các cơ quan lãnh đạo cần thực hành ngay”. Người chỉ rõ: “Chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”. Và “Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười gấp trăm”.

Trong bài viết, Bác cho rằng: Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi. Khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích.

Theo Người, mục đích sự tổ chức công tác là: Động viên toàn thể nhân dân hăng hái thi hành chính sách đã định. Mục đích lựa chọn cán bộ là dùng nhân tài phải hợp lý, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn” và cho họ hiểu rõ mọi mặt các công việc họ phải phụ trách. Mà muốn biết sự động viên ấy và sự thực hành ấy đã đến mức nào thì phải có kiểm tra. Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời.

Bác nêu rõ, hiện nay, nhiều nơi cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị, sau đó thì họ không biết gì đến những nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, dân chúng có ra sức tham gia hay không. Họ quên mất kiểm tra. Đó là một sai lầm rất to. Vì thế mà “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy.

Về cách kiểm tra, theo Bác, phải có hệ thống nghĩa là khi đã có nghị quyết thì phải lập tức đốc thúc sự thực hành nghị quyết ấy, phải biết rõ sự sinh hoạt và cách làm việc của cán bộ và nhân dân địa phương ấy. Kiểm tra không nên chỉ bằng cứ vào các tờ báo cáo mà phải đi đến tận nơi. Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra và cần có một nhóm cán bộ nhiều kinh nghiệm, năng lực để giúp mình đi kiểm tra. Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn pha. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ.

Công tác kiểm tra là công cụ phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Qua công tác kiểm tra đã phát huy những ưu điểm, khắc phục kịp thời những hạn chế, yếu kém trong thực thi chủ trương, chính sách; lấy đó làm cơ sở kiến nghị với các cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách chung của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Cán bộ phải biết so sánh

Lời của Bác - Lời của non sôngTrong Tiết 3, Chương V của sách “Cách lãnh đạo” được Bác đặt tên “Học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng”.

Trong bài có đoạn Bác nhấn mạnh rằng “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được”. “Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”. “Mà muốn hiểu biết, học hỏi dân chúng, thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm, phải khiêm tốn, phải chịu khó. Nếu không vậy, thì dân chúng sẽ không tin chúng ta. Biết, họ cũng không nói. Nói, họ cũng không nói hết lời”.

Đề cập đến đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay “so sánh”, Bác viết rất cụ thể: “Họ so sánh bây giờ và họ so sánh thời kỳ đã qua. Họ so sánh từng việc và họ so sánh toàn bộ phận. Do sự so sánh, họ thấy chỗ khác nhau, họ thấy mối mâu thẫu. Rồi lại do đó, họ kết luận, họ đề ra cách giải quyết.

Dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng, là vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy. Vì sự so sánh kỹ càng đó, mà cách giải quyết của dân chúng bao giờ cũng gọn gàng, hợp lý, công bình”. “Dân chủ cũng do cách so sánh mà họ biết rõ ràng (cán bộ)…”.

Bác còn dặn: “Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau”, “cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”.

Và Bác Hồ dạy cán bộ cũng phải biết so sánh. “So đi sánh lại, sẽ lòi ra một ý kiến mà mọi người đều tán thành, hoặc số đông người tán thành”, “thành một ý kiến đầy đủ, ý kiến đó tức là cái kích thước nó tỏ rõ sự phát triển trình độ của dân chúng trong nơi đó, trong lúc đó. Theo ý kiến đó mà làm, nhất định thành công”.

“So đi sánh lại, phân tích rõ ràng là cách làm việc có khoa học”. Cuối cùng Bác Hồ căn dặn và mong muốn: “Làm như thế mới tránh khỏi cái độc đoán, mới tránh khỏi sai lầm”.

Bác kết luận: Cán bộ là “Trung tâm của vấn đề”, rường cột của tổ chức, “cán bộ quyết định tất cả”. Cần phải “so sánh lại” để chọn đúng cán bộ cần cho Đảng, cho quân đội. “Làm như thế, chính sách, cán bộ và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng”.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: 40 năm – nhớ lại…

LTS: 40 năm trước, vào thời khắc 12 ngày đêm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, nhà báo Trần Thanh Phương – nguyên Phó Tổng Biên tập báo Đại Đoàn Kết, đang là phóng viên báo Nhân Dân. Bài viết dưới đây là những ký ức vô cùng xúc động và không thể nào quên về những ngày Hà Nội đau thương, anh hùng và kiêu hãnh mà ông được trực tiếp chứng kiến với tư cách một phóng viên “mặt trận”. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Tượng Khâm Thiên ghi dấu tội ác của đế quốc Mỹ
với nhân dân Hà Nội năm 1972

Ảnh Hoàng Long

Đó là 12 giờ trưa ngày 21-12-1972, hệ thống loa phóng thanh công cộng Hà Nội đang truyền đi bản nhạc du dương, bỗng ngừng đột ngột. Một hồi còi báo động vang lên, kéo dài. Tiếng cô phát thanh viên dõng dạc: “Máy bay địch cách Hà Nội… Máy bay địch cách Hà Nội… Những người tại khu tập thể báo Nhân Dân (gồm 15 hộ, ở ngõ Lý Thường Kiệt, sau Đại sứ quán CuBa) lần lượt xuống hầm. Hầm được xây khá kiên cố trong một căn phòng khoảng 20m2 ở tầng trệt của gia đình nhà báo Đức Thi. Trong căn hầm thiếu ánh sáng, không trông rõ mặt người, nhưng qua tiếng cười, tiếng nói chộn rộn, mọi người đều biết có những ai.

Mặt đất đang yên lặng bỗng có tiếng máy bay rít ầm ầm xẹt qua, rồi lại yên lặng bao trùm. Mọi người ngồi lâu thấy mỏi định ra khỏi hầm thì tiếng cô phát thanh viên dồn dập: “Máy bay địch đang bay trở lại Hà Nội…”. Tất cả yên lặng. Bỗng một loạt tiếng nổ ầm! ầm! ầm! căn hầm rung chuyển mù mịt cát bụi. Mọi người nín thở rồi như đồng thanh thét lên: “Khu tập thể ta bị bom rồi!”. Im lặng bao trùm. Rồi còi báo yên. Tiếng cô phát thanh viên thong thả: “Máy bay địch đã bay xa!..”.

Chui ra khỏi hầm. Mọi người thảng thốt trước cảnh đổ nát ngổn ngang của hai dãy nhà từ đầu đến cuối ngõ. Phía sau là khu nhà của Bộ Giao thông Vận tải cũng bị bom. Ga Hàng Cỏ cách đó gần một cây số bị đánh sập phần ga chính. Sau đó mươi phút, anh chị em trong đội tự vệ báo Nhân Dân từ 71 phố Hàng Trồng, tay mang cuốc xẻng… chạy sang. Lúc này, chúng tôi mới nhận ra sự tàn phá khủng khiếp của bom Mỹ. Nhà của nhà báo Quang Đạm có tủ sách quý bị hất bay sang phố Dã Tượng, sau đó chỉ tìm được vài cuốn. Giá sách và “kho” tư liệu của vợ chồng tôi bị gạch ngói vùi lấp. Nhà báo Lê Điền (sau này là Tổng Biên tập báo Đại Đoàn Kết), đêm hôm trước trực ở cơ quan báo Nhân Dân, sáng hôm sau vẫn tiếp tục làm việc, trưa tranh thủ về nhà nghỉ ngơi. Lúc báo động ông chỉ kịp xuống hầm cá nhân ở gầm cầu thang nhà ông. Cái hầm kiên cố đã cứu nhà báo Lê Điền – người có cái đầu bạc trắng như cước. Đối diện là nhà ông Nguyễn Thành Lê – nguyên Tổng Biên tập báo Giải Phóng (một nhánh của Đại Đoàn Kết ngày nay), Người phát ngôn của Đoàn đại biểu Chính phủ ta tại hội nghị Paris, hư hại nặng. Các căn nhà của nhà báo Hà Đăng, Hà Hoa, Hùng Lý… bị phá hủy hoàn toàn. Từ đầu ngõ, nhà nghệ sĩ cải lương Lệ Thanh và đạo diễn Đức Dư, nhà ông Minh Đạo – phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam và nhiều nhà kiên cố khác đều bị bom đánh sập hoặc hư hại nặng. Nhưng tất cả mọi người điều an toàn.

Ngày hôm sau, cơ quan báo Nhân Dân “bắt” tôi tạm đi sơ tán vài ngày tại huyện Thạch Thất (Hà Tây cũ). Mấy hôm sau tôi nhận được thư của vợ tôi, thư có đoạn: “Anh ơi, em báo anh việc này nhé: Sáng hôm qua, em đi dạy về nhìn cái nền nhà đầy gạch vụn mà thắt ruột thắt gan. Em bới tìm được quyển sổ ghi địa chỉ của người thân, bạn bè mình. Cái thau cũ cùng với cái áo của em nó nằm đúng dưới gầm bàn mà chúng ta thường ngồi làm việc, còn mặc được. Đến chiều em bới tiếp bắt đầu từ cửa vào thì được cả hai đôi guốc. Bới tiếp nữa, được hai cái xoong (mấy ngày nay, em tưởng nó đã bay đi). Cả hai cái vẫn còn nguyên. Em mừng quá! Chỉ cái nắp xoong con bị bẹp dúm lại, nhưng nó mềm nên em sửa qua, dùng được. Em tiếp tục bới tìm được cái nắp ca, cái nắp ấm đun nước, cái đèn dầu hỏa còn nguyên, chỉ vỡ bóng. Bới tiếp em nhặt được cái cắt móng tay. Tiếp nữa, em tìm được chiếc gương soi, chân xếp lại và vẫn lành lặn. Nhưng cảm động nhất là em bới được chiếc đồng hồ báo thức hiệu Slavơ của Liên Xô. Chiếc đồng hồ chỉ vỡ mặt kính. Anh biết không, khi em chạm vào không hiểu sao nó “reo” một hồi dài. Trời ơi, giữa đống gạch đổ nát, hầu như không có bóng người ở chung quanh, vậy mà có một hồi chuông của chiếc đồng hồ quen thuộc của vợ chồng mình, em không cầm được nước mắt…”.

5 ngày sau, ngày 26-12-1972, từ nơi sơ tán, tôi về báo Nhân Dân làm việc bình thường. Chúng tôi đang dùng bữa tối có tính “dã chiến” tại cơ quan thì điện cúp. Tòa soạn nổi đèn dầu, tiếp tục lo bài vở cho số báo ngày mai. Đêm hôm ấy, Hà Nội rét căm căm. Mặt hồ Hoàn Kiếm lờ mờ hơi nước, hơi sương. Bỗng các loa phóng thanh thông báo: Máy bay địch cách Hà Nội 100 cây số, 80 cây số, rồi 60 cây số… loa phóng thanh lại truyền đi mệnh lệnh: “Địch có âm mưu đánh phá ác liệt Thủ đô Hà Nội. Các lực lượng vũ trang hãy sẵn sàng chiến đấu, tiêu diệt địch. Các đồng chí công an, dân quân, tự vệ hãy kiên quyết làm nhiệm vụ! Tất cả mọi người phải xuống hầm. Không ai được đi lại ngoài phố…”. Rồi tiếng còi báo động vang lên. Tất cả cán bộ, phóng viên, công nhân viên báo Nhân Dân làm việc đêm hôm ấy đều xuống hầm. Hầm nơi tôi trú, nghe nói là một hầm rượu của tướng Pháp Cônhi. Chính tại nơi đây, Cônhi đã điện cho Đờ Cát ở Điện Biên Phủ “tùy nghi di tản”. Sau khi Pháp rút quân, báo Nhân Dân về Hà Nội, chọn nơi đây làm trụ sở của Bộ Biên tập. Những năm Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, hầm rượu được xây thành hầm trú ẩn khá kiên cố. Hầm nằm bên đường Lê Thái Tổ, chỉ cách mép nước Hồ Gươm chừng vài bước chân. Bên cạnh cây đa cổ thụ còn có một căn hầm đào sâu trong lòng đất dành cho Tổng Biên tập, Phó Tổng biên tập và các cán bộ biên tập làm việc, trình bày báo nếu chiến sự xảy ra ác liệt. Chính tại căn hầm này, nhà báo Thép Mới đã viết một bài xã luận nổi tiếng đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 26-12-1972 với nhan đề “Hà Nội, thủ đô của phẩm giá con người”.

Một góc phố Khâm Thiên bị bom Mỹ tàn phá
(Ảnh tư liệu do Hoàng Long chụp lại)

Cả phố Khâm Thiên chạy dài từ ngã tư đường Nam Bộ (nay là đường Lê Duẩn) – Nguyễn Thượng Hiền đến Ô Chợ Dừa, bỗng rung lên bởi hàng loạt quả bom tạ từ máy bay B52 phóng xuống, ánh chớp lóe lên, tiếng nổ kéo dài, những gì trên mặt đất đều có thể bốc lên, đổ sụp, tan nát. Chúng ta có thể hình dung, những tấn bom B52 rải xuống dọc một dãy phố đông dân vào đêm tối thì cảnh tượng ấy bị nhào lộn, hoang tàn đến nhường nào? Và tất nhiên cho đến hôm nay, ai cũng hiểu rằng ở phố Khâm Thiên không hề có một căn cứ quân sự nào.

Ngay sau trận bom, phóng viên báo Nhân Dân và nhiều báo, đài khác đến Khâm Thiên ngay lập tức. Tôi xin đi, các anh không cho, vì có tin, sau đó chúng có thể đánh tiếp dãy phố Hàng Đào, Hàng Ngang, chợ Đồng Xuân, cầu Long Biên… Hãy dành lực lượng cho các “mặt trận” khác.

Quãng đường rộng trước cửa Nhà thờ Lớn ở phố Nhà Chung tự dưng không biết cơ man nào xe tải, xe ôtô lớn nhỏ và người tập trung về nơi ấy. Người ta đứng giữa trời lạnh, bàn chuyện chiến sự trong đêm và những ngày sắp tới. Không mấy ai tỏ ra sợ hãi. Họ chỉ căm giận giặc Mỹ và mừng reo chiến thắng vì ta liên tiếp hạ được nhiều pháo đài bay B52 của không lực Hoa Kỳ.

Vụ B52 ở Khâm Thiên có một câu chuyện thương tâm mà báo chí lúc bấy giờ có nói tới, làm xúc động lòng người. Đêm ấy, những quả bom dội xuống khối phố 41, đánh sập một ngôi nhà, gạch ngói đè lên căn hầm có bé Hà. Cháu không ra được, ở trong đó cứ gọi: “Mẹ ơi, bế con ra với! Mẹ ơi!”. Chị Liên – mẹ cháu Hà lao tới không làm sao lật được cái khối gạch nặng lớn ấy ra. Bên trong, cháu vẫn gọi: “Mẹ ơi, bế con ra với!”. Những người chung quanh nghe tiếng kêu của bé liền chạy lại. Tất cả lao vào cứu cháu. “Mẹ ơi, cứu con ra với!”. Tiếng cháu Hà đuối dần, đuối dần. Người đào bới mang hết sức mình để bật bằng được những khối gạch ngổn ngang kia. Khi moi được lên thì cháu Hà đã tắt thở. Người mẹ đỡ xác con trên tay và òa khóc. Những người chung quanh cắn chặt răng chịu đựng… Cho đến buổi chiều, tại ngõ Tô Tiền vẫn còn những xác người được đào bới lên. Ôtô tải chở quan tài đến. Những dải khăn sô trên đầu nhiều người đây đó bên đống gạch, bên mảng tường sụp đổ.

Tin Khâm Thiên bị máy bay B52 hủy diệt được truyền đi rất nhanh chóng trong thành phố. Cả Hà Nội đêm đông ấy không ai ngủ. Hai giờ đêm, Đài Phát thanh Hà Nội truyền đi tin chiến thắng: Ta hạ máy bay B52, bắt sống giặc lái. Bài hát “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi vang lên trong đêm khuya. Ai cũng thức, cũng nghe, cũng tự hào. Chưa bao giờ Hà Nội được thức, được sống một đêm bi tráng như thế. Trước đây Hà Nội chỉ có mútcơtông, có bom ba càng, có lựu đạn chai. Hôm nay, Hà Nội đã đánh thắng quân xâm lược bằng tên lửa, bằng pháo tầm cao và bằng máy bay MIG cánh én hiện đại. Hà Nội đã tỏ ra rất xứng đáng với niềm tin yêu của Sài Gòn và Huế. Hà Nội đã không hoảng loạn, không thành thành phố chết như bọn xâm lược tưởng. Hà Nội vẫn nguyên thế đứng “rất Hà Nội” của mình. Hà Nội lại trở thành tọa độ lửa giặc lái Mỹ. Chúng nó bay vào, Hà Nội đã chia ô bắn, đã chia vùng trời cho các cỡ súng.

Năm 1973, nhà thơ Thu Bồn từ chiến trường miền Nam được đi nhận giải thưởng quốc tế của Hội Nhà văn Á-Phi, giải thưởng Lotus (giải Bông Sen) tặng cho trường ca “Bài ca chim Chơrao”. Trong đêm trao giải, bà Imdira Gandi – Thủ tướng, Ấn Độ gửi Thu Bồn một số máu khô của nhân dân Ấn Độ tặng các chiến sĩ và đồng bào miền Nam. Còn nhà thơ Thu Bồn – tác giả trường ca “Bài ca chim Chơrao” nổi tiếng đã nhờ nhà văn Tô Hoài mang 2.000 USD tiền thưởng của mình tặng cho đồng bào phố Khâm Thiên bị bom B52 tàn phá đêm 26-12-1972.

Trần Thanh Phương
daidoanket.vn

Hồi ức về Hà Nội những ngày đêm bi tráng

Nằm trong số nhiều hoạt động kỷ niệm sự kiện 40 năm Hà Nội – Điện Biên phủ trên không 1972, tối 8-10, Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội đã tổ chức tọa đàm “Năm 1972 – Tư liệu và ký ức của người Hà Nội về chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ”. Trước đó, tại Trung tâm Văn hóa Pháp, một triển lãm ảnh với chủ đề “Hà Nội – Những ngày đêm năm 1972” đã thực sự khiến người xem xúc động.

Cuốn sách Đối mặt với B52 – Hồi ức Hà Nội

1. Cùng với triển lãm ảnh “Hà Nội – Những ngày đêm năm 1972”, cuộc tọa đàm “Năm 1972 – Tư liệu và ký ức của người Hà Nội về chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ” đã tái hiện những khoảnh khắc đáng nhớ nhất về Thủ đô cách đây 40 năm về trước. Qua những tư liệu lịch sử, những ký ức của các nhân chứng sống, công chúng có dịp nhìn lại Hà Nội những ngày đêm bi tráng năm 1972.

Theo nhân chứng Phùng Tiểu Bôi (Cán bộ Lâm nghiệp Hà Nội), thời đó ông vẫn làm việc ở Hà Nội trong khi gia đình sơ tán ở xa. Đi sơ tán thì ai cũng phải đi, nhưng hằng ngày vẫn về Hà Nội thăm nhà, thăm bạn bè, người thân. Hình ảnh chiếc xe đạp gắn bó với cuộc sống, sinh hoạt của mỗi gia đình, chiếc xe đạp phải chở đến 3 – 4 người, 2 chiếc xe đạp giáp vào với nhau có thể chở được một người bị thương… Sơ tán xa Hà Nội nhưng trong lòng mỗi người nỗi nhớ Hà Nội luôn túc trực. Và khi ấy, tình cảm con người thật ấm áp.

Ông Nguyễn Xuân Mai (nguyên Trưởng Ban Biên tập báo Phòng không không quân) – người trực tiếp đưa tin về cuộc chiến 12 ngày đêm, là đồng tác giả của cuốn sách “Đối mặt với B52 – Hồi ức Hà Nội” chia sẻ: Chúng tôi phản ánh cuộc chiến đấu và kết quả của nó chứ không có thời gian để phản ánh cuộc sống của người dân. Sở dĩ ví Hà Nội 12 ngày đêm năm 1972 là trận Điện Biên Phủ trên không cũng là xuất phát từ bài hát Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Từ đó nó trở thành câu nói quen thuộc của những người tham gia chiến đấu. Trận chiến này là chiến thắng rất lớn. Ta đương đầu với một lực lượng mạnh nhất về không quân lúc đó. Dù còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng chúng ta vẫn chiến thắng.

2. Cũng trong cuộc tọa đàm, nhóm tác giả Huyền Mermet, Đặng Đức Tuệ, Nguyễn Xuân Mai và nhiếp ảnh gia Phạm Hoài Thanh đã giới thiệu cuốn sách “Đối mặt với B-52 – Hồi ức Hà Nội” dự kiến phát hành ngày 4-12 tới. Cuốn sách đặt ra một cách nhìn mới về 12 ngày đêm năm 1972 tại Hà Nội.

Tác giả Huyền Mermet chia sẻ: Khi bắt tay vào cuộc điều tra để thực hiện cuốn sách, chúng tôi nghĩ rằng: liệu có một điều gì đó có thể làm khác đi với những hình ảnh mà chúng ta đã chứng kiến, đã nhìn thấy sự đổ nát, về nạn nhân, và một bên là sự chiến thắng. Và một câu hỏi, 12 ngày đêm chỉ gói gọn trong những thứ đó thôi sao?… Bên cạnh đó, vẫn có những người dân Hà Nội trụ lại ở Hà Nội hằng ngày, có những người tiếp tục tham gia sản xuất và tham gia chiến đấu. Và tôi còn nghe kể, thời sơ tán, nhà văn Nguyễn Tuân thi thoảng lại đạp xe về Hà Nội chỉ là để… uống cốc bia cho vơi nỗi nhớ Hà Nội. Rồi Noel năm 1972, lúc tình hình chiến sự đang căng thẳng tới cao điểm thì người Hà Nội vẫn từ nơi sơ tán đổ về Nhà thờ Lớn, nhà thờ Hàm Long… hưởng một lễ Noel tại Hà Nội… Hay mặc chiến tranh cày xới, những làng hoa Ngọc Hà, Nhật Tân, Quảng Bá vẫn đua nhau khoe sắc, những dòng tranh dân gian vẫn được bày bán ở những phố nghề.

Theo nhà báo Đặng Đức Tuệ, cuốn sách mang tên “Đối mặt với B-52 – Hồi ức Hà Nội (18-12-1972 – 29-12-1972)” có thể sẽ mang tới cho công chúng những góc nhìn mới mẻ về thời khắc lịch sử của dân tộc cách đây hơn 40 năm. Đây là cuốn sách tư liệu lịch sử pha lẫn với những lời nhân chứng trực tiếp đầu tiên về Điện Biên Phủ trên không. Nhóm tác giả đã bỏ ra 2 năm để đi tìm những nhân chứng, những hồi ức và kỷ vật cách đây 40 năm để kết nối và làm thành cuốn sách.

3.Khi được hỏi cuốn sách ra có làm thay đổi cách nhìn của giới trẻ về chiến tranh, tác giả Huyền Mermet cho rằng: “Chúng ta nên có cái nhìn chân thực hơn, sâu sắc hơn về trận chiến 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không. Đó không còn là một trận chiến với những con số thống kê, với sự mất mát, đau thương, với sự kiên cường của dân tộc. Đó còn là những cảm nhận sâu sắc, những phát biểu bình dị, những hồi ức cá nhân của những người đã đi qua cuộc chiến”. Nhóm tác giả muốn tiếp cận lịch sử từ một khía cạnh khác, gần gũi hơn, nhân văn hơn qua chính lời kể của các nhân chứng. Qua đó, họ hi vọng, độc giả có thể có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc chiến đã đi qua.

Tuấn Kiệt
daidoanket.vn

Nhìn lại chứng tích “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

Cho đến nay, khi đứng trước những xác pháo đài bay B52 nằm ngổn ngang trong khuôn viên các bảo tàng, hay xác máy bay rơi vẫn nằm trong lòng hồ Hữu Tiệp, quận Ba Đình, rất nhiều du khách nước ngoài vẫn chưa hết kinh ngạc về sức chịu đựng của một thành phố nhỏ bé mang tên Hà Nội.

Xác máy bay B52 tại Bảo tàng Chiến thắng B52 (Hà Nội )

1. Có thể thấy những con số thống kê, tưởng chừng rất khô khan, nhưng đã tố cáo sự ác liệt của cuộc chiến Hà Nội trong những ngày đêm của năm 1972. Chỉ tính riêng trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, Mỹ đã sử dụng 726 lần B52, 3.120 lần máy bay chiến thuật và trút hàng chục nghìn tấn bom đạn xuống miền Bắc. Trong đó, tại Hà Nội, Mỹ đã sử dụng 444 lần B52 (chiếm 61% tổng số lần B52 tham gia cuộc tập kích), hơn 1.000 lần máy bay chiến thuật, ném hơn 1 vạn tấn bom đạn, giết hại 2.380 người và làm bị thương 1.355 người… Giờ đây, tại Bảo tàng Chiến thắng B52, nơi lưu lại những kỷ vật, chứng tích của cuộc chiến, người ta thấy vẫn còn đó hình ảnh về những chia sẻ cộng đồng trước những mất mát đau thương cùng những hình ảnh, hiện vật sinh động về cuộc chiến chấn động địa cầu của quân dân Thủ đô đánh trả quyết liệt các cuộc không kích tàn bạo của Mỹ. Quân và dân Hà Nội đã bắn rơi 358 máy bay (trong đó có 25 chiếc B52). Khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng gây ấn tượng mạnh với hàng loạt vũ khí, khí tài mà quân, dân Thủ đô đã sử dụng và một số mảnh xác máy bay Mỹ, một xác máy bay B52 có thân dài 48,07m, sải cánh 56,42m – bằng chứng thất bại thảm hại của đế quốc Mỹ trong cuộc đánh phá Hà Nội.

Bảo tàng Phòng không – Không quân cũng là nơi lưu giữ những kỷ vật của cuộc chiến đấu “Điện Biên Phủ trên không”. Hiện Bảo tàng đang giữ Bộ sưu tập hiện vật Ra đa phát sóng quản lý bầu trời bằng sóng điện từ, trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, bắt được tín hiệu máy bay chiến lược B.52 vào Hà Nội sớm 35 phút để thông báo cho quân và dân Thủ đô chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu; Bệ phóng tên lửa lập công bắn rơi máy bay B.52 đầu tiên trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12- 1972; Máy bay Mig.21 bắn rơi máy bay B.52 đêm 27-12-1972…từng trang sử hào hùng của Hà Nội vẫn được lật giở sau 40 năm với bao đổi thay.

2. Sau 40 năm, một thế hệ người Hà Nội vẫn chưa hết bàng hoàng bởi trận oanh tạc của đế quốc Mỹ trong cuộc đánh phá miền Bắc Việt Nam và Thủ đô Hà Nội. Và 12 ngày đêm tháng 12 -1972 là một dấu mốc thật đáng nhớ. Quá khứ về chiến tranh, dù đau thương nhưng vẫn phải nhắc lại, bởi bên cạnh những nỗi đau, sự mất mát còn là lòng tự hào, sự quật cường vươn lên của những thế hệ người Việt Nam tiếp nối. Với cuộc chiến 12 ngày đêm cách đây 40 năm ở Hà Nội là như vậy, đến với Bảo tàng Chiến thắng B52 như một sự trở về với quá khứ.

Không phải giản đơn mà có rất nhiều ý kiến của bạn bè quốc tế được lưu lại tại Bảo tàng Chiến thắng B52 ở Hà Nội. Họ cho rằng Bảo tàng là một trong những nơi lưu giữ lịch sử độc đáo nhất trên thế giới. Ở đó, dấu vết của một cuộc chiến từng cày xới mảnh đất Thăng Long qua 12 ngày đêm tháng 12- 1972 dường như vẫn còn nguyên vẹn. Xác pháo đài bay B52 nằm ngổn ngang, hình ảnh cảnh hoang tàn ở Hà Nội sau các đợt oanh tạc khủng khiếp tại các địa danh: Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai, Ga Hà Nội… Và qua những tài liệu, hình ảnh, hiện vật còn lại, sẽ thấy rõ âm mưu thâm độc và dã man của đế quốc Mỹ đối với nhân dân Việt Nam. Theo các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự, thời điểm năm 1972 máy bay B52 chính là con át chủ bài của không quân chiến lược Mỹ và được chính quyền Mỹ coi là sự bất khả chiến bại khi gây chiến với các nước. Lúc đó, Mỹ muốn miền Bắc Việt Nam “trở lại thời kỳ đồ đá”, ngăn sự chi viện của miền Bắc với miền Nam, đã tiến hành cuộc đánh phá ồ ạt bằng không quân chiến lược vào Hà Nội và một số nơi ở miền Bắc. Dư luận quốc tế khi biết Hà Nội trở thành “túi bom” hứng chịu các đợt rải thảm bằng B52 đã không khỏi lo ngại kết cục bi thảm của thành phố nhỏ bé, nên hết sức kinh ngạc khi biết nhiều “pháo đài bay” đã bị bắn rơi tại Hà Nội.

3. Giờ đây, chứng tích của cuộc chiến năm 1972 vẫn còn in dấu trên mảnh đất Hà Nội. Và Bảo tàng Chiến thắng B52 là nơi lưu giữ đậm đặc nhất những kỷ vật, những tài liệu liên quan tới sự kiện này. Tại Bảo tàng còn có một nơi rất thu hút khách tham quan, đó là sa bàn tổng hợp diễn biến trận “Điện Biên Phủ trên không”. Với diện tích 200m², có không gian ba chiều (thể hiện địa hình khu vực gồm khu dân cư, các trận địa phòng không, điểm B52 rơi…) và khi sa bàn này hoạt động, hệ thống ánh sáng, âm thanh, tạo khói và phim video chiếu màn ảnh lớn đã tái hiện rất ấn tượng những khoảnh khắc lịch sử bi thương nhưng cũng rất hào hùng của Hà Nội. Xem lại những kỷ vật, những hình ảnh, tư liệu và cùng “sống” trong 200m2 tái hiện lại cuộc chiến, người ta mới thấy được sự hi sinh to lớn đến nhường nào để có một Hà Nội- thành phố vì hòa bình hôm nay.

Theo kế hoạch, trong tháng 12 tới, chuyên đề trưng bày “Kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không” sẽ diễn ra tại Bảo tàng Chiến thắng B-52; Bảo tàng Phòng không – Không quân; Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam. Sau 40 năm, hàng ngàn kỷ vật về cuộc chiến chấn động địa cầu tháng 12 -1972 tại Hà Nội vẫn còn được lưu giữ trong hệ thống bảo tàng tại Hà Nội.

Minh Duy
daidoanket.vn

40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không: Hào hùng sau đau thương, đổ nát

Ngày 28-11, Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương và Thành ủy, UBND TP. Hà Nội cùng phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học cấp Nhà nước về “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam”. Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội Tưởng Phi Chiến và nhiều tướng lĩnh, lãnh đạo Bộ quốc phòng và TP. Hà Nội tham dự.

Cách đây 40 năm, vào những ngày cuối tháng 12-1972, đế quốc Mỹ mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố lớn ở miền Bắc, hòng xoay chuyển tình thế trên bàn đàm phán Paris. Tuy nhiên, với ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, trong 12 ngày đêm, quân và dân miền Bắc đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích. Động thái quân sự này của Mỹ bắt đầu từ sau khi Tổng thống Mỹ Nichxơn tái đắc cử nhiệm kỳ 2. Với mưu đồ đã tính toán trước, chính quyền Nichxơn huy động gần 200 máy bay B52, 30 máy bay F111 và hơn 1.000 máy bay tiêm kích, 6 liên đội tàu sân bay và 50 máy bay tiếp dầu KC.135 mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân với quy mô lớn vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu khác với mật danh”Lainơ Bếchcơ II”. Riêng tại Hà Nội, trong 12 ngày đêm, không quân Mỹ đã tập trung trên 1.000 lượt máy bay, trong đó có khoảng một nửa là B52, trút 40.000 tấn bom xuống nhiều khu dân cư: Khâm Thiên, An Dương, Uy Nỗ, Bệnh viện Bạch Mai, Yên Viên, Gia Lâm, Đông Anh, Văn Điển, Giáp Bát, Đài Phát thanh Mễ Trì… làm cho gần 2.400 người chết và 1.355 người khác bị thương. Với hào khí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, sau 12 ngày đêm  anh dũng chiến đấu (18-12 – 29-12-1972), quân và dân Thủ đô cùng các địa phương miền Bắc đã đập tan cuộc tập kích đường không của Mỹ, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52, trong đó Hà Nội bắn rơi 25 B52. Chiến công này mang tầm vóc thời đại, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari ngày 27-1-1973, chấp nhận rút hết quân viễn chinh và chư hầu về nước.

Tại Hội thảo, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Trân cho biết, vào thời điểm đó, chỉ trong vòng vài ba ngày đã tổ chức sơ tán gần 55 vạn dân nội thành ra khỏi thành phố… Các trường học sơ tán đều có thầy và trò đi theo để tổ chức học tập. Tại thành phố, vẫn đảm bảo cho được cho mỗi người đều có ba nơi trú ẩn: gia đình, nơi làm việc và nơi công cộng. Ba đội cứu thương, cứu hỏa và cứu sập sẵn sàng cứu trợ. Theo ông Nguyễn Văn Trân, một trong những nhiệm vụ quan trọng của Hà Nội thời bấy giờ là làm thế nào vừa chiến đấu vừa sản xuất. Và, kỳ diệu thay, sau khi kết thúc cuộc chiến, Hà Nội không những không giảm đi số nhà máy, xí nghiệp mà lại tăng lên do chủ trương chia nhỏ các nhà máy lớn để dễ dàng ứng phó trong chiến tranh. 12 ngày đêm của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, theo ông Trân, tuy ngắn ngủi nhưng ta thu được thắng lợi rất to lớn. “Điện Biên Phủ  dưới đất – Pháp thua, Điện Biên Phủ trên trời – Mỹ thua”- ông Trân kết thúc bài phát biểu.

Ôn lại thời kỳ lịch sử này, các tham luận đều nêu rõ bí quyết thành công của trận đánh là ta không để bị bất ngờ. Từ cuối năm 1967, đến thăm Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua… Phải dự kiến trước mọi tình huống càng sớm càng tốt, để có thời gian suy nghĩ, chuẩn bị. Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B57, B52, hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh” – Người chỉ thị. Thực hiện chỉ thị của Người, Bộ đội Phòng không đã bí mật đưa lực lượng tên lửa và rađa vào chiến trường Vĩnh Linh, trực tiếp tìm hiểu, nghiên cứu qui luật hoạt động, cách đánh phá của B52, từ đó tìm ra cách đánh B52 thích hợp. Cùng với sự phối hợp của nhiều nhà khoa học, nhiều binh chủng khác, chúng ta đã tìm cách đánh phù hợp nhất.

Đã qua những năm tháng đầy đau thương mà hào hùng của dân tộc. 40 năm nay nhìn lại, mỗi chúng ta vẫn nguyên vẹn niềm tự hào và lòng biết ơn lớp cha anh ngày trước. Đến dự hội thảo hôm nay còn có cả những nhân chứng sống, những mảnh đời mà vết thương chưa khép lại. Nhưng tất cả đã bừng lên sức sống mới, rạng rỡ niềm vui trên từng gương mặt…

Trung tướng Phạm Tuân: “Qua nhiều đêm mất ngủ, cùng anh em bàn bạc chúng tôi mới đưa ra được cách đánh hay nhất. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật ý chí và lòng quyết tâm cao độ”.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu: “7 năm ở Quân chủng Phòng không mà chưa lúc nào tôi căng thẳng như hôm đó. Trời mùa đông rét như cắt thế mà mồ hôi cứ túa ra. Là vì Trung ương Đảng và Bác Hồ đang hết sức mong đợi phải thắng B52 Mỹ ngay từ trận đầu trong chiến dịch này. Thế rồi, đúng 20giờ20 ngày 18-12-1972, có điện thoại của anh em quan sát từ bên Cột cờ báo về có B52 rơi thành một đám cháy to lắm từ phía Đông Anh… Tôi cùng các anh Phùng Thế Tài, Lê Hiến Mai, Vũ Lăng ôm nhau vô cùng sung sướng.

Trần Ngọc Kha
daidoanket.vn

Bảo tàng Phòng không – Không quân: Sáng ngời chủ nghĩa Anh hùng cách mạng

Tọa lạc trên đường Trường Chinh, Hà Nội, Bảo tàng Phòng không – Không quân (PKKQ) là điểm đến quen thuộc của nhiều du khách Việt Nam và các đoàn khách quốc tế, đặc biệt là các vị nguyên thủ quốc gia, các tướng lĩnh của quân đội các nước… Tới đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng các bộ sưu tập hiện vật vũ khí độc đáo về 4 lực lượng của Bộ đội PKKQ, đó là: Tên lửa, Không quân, Pháo Cao xạ và Ra đa.

Bảo tàng Phòng không – Không quân Ảnh: TH

Được thành lập ngày 22-10-1963, Bảo tàng PKKQ (tiền thân là Phòng Truyền thống Phòng không thành lập năm 1958) được biết đến là nơi lưu giữ những hình ảnh, tư liệu, hiện vật minh chứng cho quá trình ra đời, xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng của Bộ đội PKKQ Việt Nam. Ngay tại khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng, khách tham quan có thể bắt gặp những vũ khí đã “gây tiếng vang” như: khẩu pháo 37mm của khẩu đội Tô Vĩnh Diện tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ; Ra đa phát sóng quản lý bầu trời bằng sóng điện từ, trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, bắt được tín hiệu máy bay chiến lược B.52 sớm 35 phút thông báo cho quân và dân Hà Nội chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu; Bệ phóng tên lửa lập công bắn rơi máy bay B.52 đầu tiên trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12- 1972…
Khu trưng bày trong nhà, với hơn 3.000 hiện vật, hình ảnh trưng bày đã tái tạo lại những trang sử kiêu hùng, những chiến công xuất sắc của Bộ đội PKKQ trong quá khứ cũng như giai đoạn hiện nay. Một trong số hiện vật quý hiếm của Bảo tàng phải kể đến chiếc ghế đặt trên máy bay Mi-4 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng khi đi công tác; hay bộ sưu tập hiện vật về Ban Nghiên cứu không quân, về Trung đoàn Pháo cao xạ 367 đã lập những chiến công xuất sắc tại mặt trận Điện Biên Phủ.

Nhân kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống Bộ đội tên lửa, hiện nay, tại Bảo tàng PKKQ đang diễn ra triển lãm chuyên đề với nhiều hiện vật, hình ảnh phong phú.

Là một công trình lịch sử, văn hóa, khoa học ở Thủ đô Hà Nội, Bảo tàng PKKQ không chỉ góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho Bộ đội PKKQ, mà còn là địa chỉ văn hóa hấp dẫn thu hút đông đảo nhân dân trong nước và khách nước ngoài. Điểm nổi bật của Bảo tàng là mở cửa tất cả các ngày trong tuần kể cả ngày lễ (riêng thứ Sáu chỉ phục vụ khách đoàn).

Phan Thanh
daidoanket.vn

Xuất bản bộ sách về đề tài Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

Sau 30 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân và dân Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang. Trong cuộc chiến tranh thần thánh đó, thắng lợi của chiến tranh nhân dân chống lại chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ trên miền Bắc có ý nghĩa hết sức to lớn. Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng B52 – trận “Điện Biên Phủ trên không”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ( NXB QĐND) đã ấn hành một bộ sách mới viết về đề tài này.

Bộ sách Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

“Rồng lửa Việt Nam” là tập hồi ức của các cựu chiến binh – Bộ đội tên lửa phòng không thể hiện. Đây là những nhân chứng lịch sử đã gắn bó với binh chủng từ những ngày đầu thành lập, trực tiếp tham gia nhiều trận chiến đấu mà đỉnh cao là trận “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972. Với cách thể hiện chân thực nhưng sinh động và giàu cảm xúc, cuốn sách đem đến cho bạn đọc những tư liệu có giá trị về một thời hào hùng của thế hệ cha anh, tô đậm thêm lịch sử vẻ vang của Bộ đội tên lửa và Quân chủng Phòng không – Không quân Việt Nam anh hùng.

Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Đình Kiên trăn trở nhớ lại những sự kiện đã diễn ra trong đời mình để thể hiện trong tập hồi ức: “Người lính với bầu trời Hà Nội”. Đây là những trang viết xúc động xen kẽ rất nhiều dòng nhật ký đứt đoạn, thậm chí có chỗ câu chữ, ngôn từ chưa thật chuẩn mực. Người đọc sẽ rơi nước mắt ngay từ những trang đầu tiên bởi yếu tố chân thực, không màu mè của tác phẩm, NXB QĐND gần như không chỉnh sửa nhiều để đảm bảo tính chân thực. Hy vọng bạn đọc sẽ tìm thấy ở đó ý chí, nghị lực của những người lính mà từng phút, từng giây luôn kề cận bên sự sống và cái chết.

Ký sự “Thành phố nở hoa” cũng là một tác phẩm có giá trị về nội dung, tư tưởng. Cuốn sách đã tập hợp nhiều bài viết về Hà Nội những ngày tháng Chạp năm 1972, ghi lại khí thế anh dũng chiến đấu, hăng hái lập công đánh giặc như thêm một lần cùng bạn đọc ôn lại những chiến công quật khởi của Hà Nội, để Hà Nội hiện lên thật hào hùng kiêu hãnh, xứng đáng là “Thủ đô của phẩm giá con người”.

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng B52, NXB QĐND đang tiếp tục hoàn chỉnh in ấn một số tên sách mới khác để hoàn thiện bộ sách về đề tài này. Hy vọng bộ sách mới của NXB QĐND sẽ đáp ứng được phần nào nhu cầu tìm hiểu lịch sử, truyền thống vẻ vang của quân và dân Thủ đô trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

Lâm Hoàn
daidoanket.vn

Tấm lòng người dân Hà Nừng với Bác Hồ

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội không chỉ là công trình văn hóa, mà còn mang yếu tố tâm linh, là nơi hội tụ và thể hiện tình cảm và tấm lòng của nhân dân cả nước đối với vị Cha già của dân tộc. Ít ai biết rằng, trong vô vàn tình cảm và tấm lòng ấy có sự đóng góp bằng cả mồ hôi, công sức và tình cảm của đồng bào Ba Na xa xôi thuộc làng Hà Nừng, xã Sơn Lang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai ngày nay.

tam long Một góc làng Hà Nừng của người Ba Na hôm nay.

Được biết đến qua sách báo và các tài liệu lịch sử ghi lại, nhưng mãi đến những ngày cuối tháng 8 năm 2012 vừa qua, chúng tôi mới có dịp về Kbang và được các anh ở huyện đưa về làng Hà Nừng để gặp lại một số người từng trực tiếp chỉ huy và tham gia công việc đưa gỗ về xây Lăng Bác. Những người của ngày xưa ấy bây giờ không còn nhiều, có người đã mất, người tuổi đã cao… vậy mà khi được gợi lại ký ức của những việc làm ý nghĩa này, dù đã cách đây gần 40 năm nhưng có lẽ vì tình cảm và lòng kính yêu đối với Bác không hề phai nhạt, ai cũng phấn khởi và tự hào khi kể về công việc của mình đã làm.

Ông Đinh Văn Đoàn, dân tộc Ba Na lúc đó là Bí thư xã đoàn nhớ lại: Vào đầu năm 1974, đồng chí H’Nhan, cán bộ của Tỉnh uỷ Gia Lai Kon Tum và đồng chí Đinh A, Bí thư Tỉnh đoàn được cử về làng Hà Nừng thông báo chủ trương của Đảng về việc đưa gỗ về xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội ai cũng phấn khích, mặc dù biết đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Lúc đó, trong rừng gỗ thì rất nhiều song khai thác và vận chuyển là điều không phải dễ, bởi không có máy cưa mà chỉ có dao với rựa; không có phương tiện vận chuyển bằng xe cơ giới mà chỉ làm bằng thủ công. Đã vậy, vì Kbang nói chung, Hà Nừng nói riêng là nơi đóng quân của các cơ quan đầu não của Tỉnh ủy Gia Lai nên cũng đồng thời là vùng trọng điểm đánh phá của địch… Gỗ là loại quí, tốt, dao, rựa đưa vào dội ngược ra nhưng vì biết việc làm của mình có ý nghĩa lớn lao nên dân làng chúng tôi động viên nhau phải làm cho tốt, phải bảo đảm đúng thời gian Trung ương quy định. Ngày làm đêm nghỉ, và đúng một tháng lẻ hai ngày, dân làng Hà Nừng đã hoàn thành khối lượng công việc được giao.

Ông Đinh Văn Đoàn cùng với các trai làng lúc đó là Đinh A Nhô, Đinh Kriêng, Đinh Thị Pẻ… trực tiếp tuyên truyền, vận động dân làng thực hiện chủ trương này của Đảng và Chính phủ và đã huy động hơn 100 người tự nguyện tham gia. Mỗi người một việc và được phân công nhau cụ thể phù hợp với thực tế từng khâu công việc: Người già, người lớn tuổi vào rừng chặt gỗ, thanh niên trẻ khoẻ kéo gỗ, còn phụ nữ lo cơm ăn nước uống hàng ngày. Những người tham gia chiến dịch đều được tổ chức ăn ở tại rừng. Cung đường kéo gỗ từ rừng đến điểm tập kết giao cho các đơn vị bộ đội xa đến hơn 12 km, đường rừng chủ yếu nên dân làng phải dùng tời và kéo bằng sức người là chính. Bà Đinh Thị Pẻ, người phụ trách lo cơm nước hàng ngày cho mọi người tham gia công việc ngày ấy tâm sự trong niềm vui sướng và tự hào: Tổ hậu cần lúc đó chỉ có mười chị em nhưng phải lo cho hơn 100 người ăn, tuy công việc không vất vả bằng các trai làng, song việc lo toan hàng ngày cũng quan trọng không kém. Hồi đó, chiến tranh khổ lắm, gạo ít nên phải độn, thức ăn chủ yếu chỉ có rau rừng với muối. Lâu lâu, Tổ Hậu cần cắt cử người về làng mang hàng hoá về xuôi đổi lấy cá khô, nước mắm mang về mới có điều kiện cải thiện bữa ăn. Mình thường nói với chị em rằng, thương Bác Hồ là phải làm theo Đảng; việc đưa gỗ ra Hà Nội xây dựng Lăng Bác là trách nhiệm cao cả của cả dân làng mình.

Đến nay, nhiều người tham gia công việc ngày ấy giờ đã không còn; số còn sống cũng đã lên niên lão, sức khỏe đã yếu nhưng tình cảm và tấm lòng của họ và người dân làng Hà Nừng với Bác thì không bao giờ cạn. Ông Đinh A Nhô có lẽ là người may mắn nhất trong số những người hiện còn sống vì vinh dự được ra Hà Nội và vào Lăng viếng Bác hai lần vào năm 1985 và năm 1987, trong đó có một lần đi theo Đoàn do huyện Kbang tổ chức và một lần ông tự bỏ tiền đưa cả vợ con cùng đi.

Ông Đinh A Nhô phấn khởi: Lần đầu, mình được ra Hà Nội rồi được vào thăm Lăng Bác trong lòng luôn bồi hồi và xúc động, bởi ngoài việc được tận mắt nhìn thấy Bác Hồ, mình còn được nhìn thấy Lăng Bác, muốn được tận mắt nhìn thấy những tấm gỗ mà chính mồ hôi và công sức của người dân Hà Nừng mình gửi ra để đóng góp cùng với nhân dân cả nước xây Lăng Bác.

Công lao của người dân làng Hà Nừng trong những năm chiến tranh chống giặc ngoại xâm đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận và tôn vinh. Đồng chí Đinh Văn Tư, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Lang, cho biết: Làng Hà Nừng là vùng căn cứ địa cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau ngày thống nhất đất nước, nhờ thường xuyên nhận được sự quan tâm chăm lo của Đảng và Nhà nước, người dân xã Sơn Lang nói chung và bà con Ba Na làng Hà Nừng nói riêng đã từng bước tạo lập cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc. Làng hiện có hơn 100 hộ với khoảng 700 nhân khẩu đang có cuộc sống yên bình và ngày càng đầy đủ hơn về các mặt sinh hoạt; hệ thống điện thắp sáng đã được kéo đến tận hộ dân, đường sá đi lại thuận lợi, 100% con em trong độ tuổi đều đến trường lớp học, đau ốm có cơ sở y tế điều trị miễn phí. Cả làng hiện chỉ còn khoảng 20% hộ nghèo theo tiêu chí mới, số hộ vươn lên khá và giàu ngày càng nhiều bằng phát triển các loại cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hoá như cà phê, bời lời, nuôi bò lai…

Luôn phát huy truyền thống là quê hương cách mạng, người Ba Na ở đây một lòng, một dạ theo Đảng và Bác Hồ và việc góp gỗ xây Lăng Bác ở Hà Nội cho đến bây giờ vẫn là niềm tự hào của người dân Hà Nừng.

Phan Hòa
Theo http://www.nhandan.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Ký ức 12 ngày hoa – lửa

Những ngày này cách đây 40 năm, người dân thủ đô Hà Nội đã sống trong không khí hào hùng của trận Điện Biên Phủ trên không. Ký ức về những ngày ấy vẫn sống động trong nhiều người.

Chiến dịch rải thảm bom bằng máy bay B52 của không lực Mỹ vào cuối tháng 12-1972 đã khiến Hà Nội từ vị trí hậu phương trở thành tiền tuyến. Một nơi thanh bình như Ngọc Hà, làng hoa nổi tiếng nhất ở Hà Nội, cũng trở thành mục tiêu bắn phá. 38 năm sau, chúng tôi đã tìm gặp vợ chồng ông Nguyễn Chí Hiền và bà Phạm Thị Quy, những nhân chứng của sự kiện Điện Biên Phủ trên không.

Vợ chồng ông Nguyễn Chí Hiền và bà Phạm Thị Quy, những nhân chứng của sự kiện Điện Biên Phủ trên không

Làng hoa thành lũy thép

Đến Ngọc Hà, chúng tôi vẫn được nghe những câu chuyện về trận chiến kéo dài 12 ngày đêm này. Hàng trăm người thiệt mạng trong những ngày máy bay Mỹ trút bom xuống Hà Nội. Bà Phạm Thị Quy nhớ lại: “Sáng 27-12-1972, một chiếc B52 rơi xuống hồ Hữu Tiệp, bom cũng rơi vãi khắp làng. May mắn là không quả nào nổ, chỉ có một quả rơi trúng hầm trú ẩn làm 2 người dân thiệt mạng. Sáng hôm sau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp về làng thăm hỏi chúng tôi và ca ngợi chiến công của bộ đội ta. Lúc ấy, Mỹ đã sắp thua trận Điện Biên Phủ trên không”.

Ngày ấy, bà Quy chưa đầy 30 tuổi, tham gia lực lượng dân quân của làng Ngọc Hà bảo vệ Hà Nội. Bà Quy bồi hồi: “Có hơn 90 quả bom từ xác chiếc máy bay này rơi vãi khắp làng, quả cắm sâu xuống lòng đất, quả nằm ngay trên đường làng… Hôm đó, bộ đội công binh được cử đến giúp dân tháo gỡ bom mìn, phải đến một tuần sau mới dọn sạch”. Tháng 12-1972, làng hoa giữa lòng thủ đô cũng trở thành lũy thép và mỗi người dân đều là một chiến sĩ.

Trong bản anh hùng ca của người Hà Nội, có nhiều câu chuyện xúc động đã được viết thành tiểu thuyết, dựng thành phim. Bà cụ gần 70 tuổi vừa kể cho chúng tôi câu chuyện về ngôi làng của bà cũng có một chuyện tình gắn chặt với trận đánh trên bầu trời thủ đô năm nào.

Vợ chồng cùng trận địa

Với dân làng Ngọc Hà, bà Quy là một nhân chứng lịch sử không thể không nhắc đến của trận Điện Biên Phủ trên không. Bà cũng chính là người tặng hoa Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ông về thăm làng một năm sau trận đánh ấy. “Khi Đại tướng về thăm lại làng Ngọc Hà, mọi người đều tin rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc đã sắp đến ngày thắng lợi. Hôm ấy, tôi thưa với Đại tướng: “Người dân Ngọc Hà mong Đại tướng và quân đội ta sớm thực hiện ước nguyện của Bác Hồ, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào để đất nước sạch bóng quân thù” – bà Quy hồi tưởng.

Chồng bà Quy, ông Nguyễn Chí Hiền, từng tham gia trận Điện Biên Phủ trên không, hiện là đại tá nghỉ hưu. Ông cũng là một “pho sử” về sự kiện 12 ngày đêm người Hà Nội bảo vệ bầu trời thủ đô. Hằng năm, cứ đến dịp kỷ niệm chiến thắng này, ông vẫn thường được mời đến các trường học ở Hà Nội để kể cho học sinh về trận chiến ấy.

Cuối những năm 1960, ông Hiền được điều động tới nhiều mặt trận nóng bỏng như Quảng Trị, Campuchia. Khi đó, vợ chồng ông đã có với nhau hai mặt con. “Tôi đang làm nhiệm vụ bảo vệ Hải Phòng, được Quân chủng Phòng không – Không quân điều về Hà Nội để tăng cường” – ông Hiền kể. Nhiều năm xa nhà, lúc ấy về Hà Nội, ông Hiền cứ nghĩ thế là có cơ hội được gặp vợ con nhưng khi đóng quân ở một huyện ngoại thành Hà Nội, chỉ cách nhà hơn chục cây số, mọi thứ ác liệt hơn ông nghĩ.

“Suốt năm 1972, tôi đóng quân ở Hà Nội nhưng không được rời trận địa nửa bước, thế nên ở rất gần nhưng cũng không được về gặp vợ con”- ông Hiền cho biết. Bà Quy gia nhập đội dân quân của làng Ngọc Hà năm đó. “Thế là cả hai vợ chồng tôi đều không sơ tán hay rời Hà Nội trong những ngày ấy”- bà Quy nhớ lại. Bà muốn ở lại để chiến đấu và hy vọng sẽ được gặp chồng. Ngọc Hà những ngày ấy phải gồng mình trong những cơn mưa bom của địch. Ông Hiền ở trận địa pháo cứ thấp thỏm lo cho vợ con, không biết ở nhà có được yên bình. Bà Quy vừa nuôi hai con vừa canh cánh trong lòng mỗi khi nghe thông báo máy bay Mỹ lại mở rộng chiến dịch phá hoại hay đánh phá thêm một căn cứ nào đó của ta…

Vì tình yêu chung mà vợ chồng ông Hiền đã hy sinh tình yêu riêng để rồi sau đó, họ được đền đáp xứng đáng bằng thời khắc hội ngộ. Hà Nội sạch bóng máy bay địch, cuộc chiến tranh cứu nước đạt được một thắng lợi quan trọng buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán Hiệp định Paris.

Tự hào

Ông Hiền nay đã cao tuổi nhưng vẫn thuộc từng con số về chiến công của lực lượng bộ đội tên lửa mà ông tham gia ngày nào: “Trong suốt 12 ngày đêm của trận Điện Biên Phủ trên không, miền Bắc bắn rơi 34 máy bay B52, trong đó có 16 chiếc rơi tại chỗ. Riêng các lực lượng bảo vệ Hà Nội bắn rơi 30 máy bay, trong đó có 23 chiếc B52”.

Chiếc B52 của không quân Mỹ đầu tiên rơi trên bầu trời Hà Nội cũng là “pháo đài bay” đầu tiên bị bắn hạ trên thế giới. Người lính tên lửa năm nào hào hứng: “Cái khó nhất là phải bắt được mục tiêu và chống được dải nhiễu do máy bay B52 tạo ra. Đêm 18-12-1972, hôm đầu tiên của trận Điện Biên Phủ trên không, Tiểu đoàn 59 – Trung đoàn 263 bắn rơi một máy bay Mỹ ở cánh đồng Chuông, huyện Đông Anh. Trên đài quan sát, bằng kính quang học, chiến sĩ của ta reo lên: “Cháy rồi! Đúng B52 rồi!”.

Ông Hiền không nén nổi những cảm xúc từ 38 năm trước ùa về: “Bộ đội tên lửa của ta báo cáo với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông liền hỏi: “Có đúng B52 không?”. Lúc ấy, chúng tôi liên tưởng ngay câu nói của Đại tướng tại chiến dịch Điện Biên Phủ đánh tan cứ điểm quân sự Pháp năm 1954 – khi nghe tin bắt được tướng De Castries, ông cũng hỏi ngay: “Có đúng De Castries không?”.

Nếu như chiếc B52 đầu tiên rơi trên bầu trời Hà Nội khiến những chiến sĩ bộ đội tên lửa như ông Hiền phấn khích tột độ thì chiếc B52 cuối cùng rơi trúng làng Ngọc Hà lại khiến ông hết sức âu lo về sự an nguy của gia đình. Ông Hiền xúc động: “Lo lắm  nhưng tôi không thể về được. May mắn là trong một lần hành quân qua bến Chèm sang bên kia sông Hồng, tôi tranh thủ xin đơn vị về thăm nhà vài giờ. Về nhà không gặp vợ con, tôi hoang mang lắm nhưng bà con cho biết vợ tôi đang là chính trị viên trung đội dân quân của làng, phải tham gia gỡ bom mìn… Tôi yên tâm trở về đơn vị, tiếp tục hành quân”.

Nhắc lại những ngày hoa – lửa năm xưa, bà Quy không giấu được niềm tự hào:  “B52 rơi xuống cháy rực đỏ mặt hồ Hữu Tiệp, đến tận sáng hôm sau khói vẫn còn bốc lên. Mọi người nô nức đổ ra hồ xem xác  máy bay Mỹ. Khi ấy, tôi cảm thấy rất tự hào vì chồng mình là một chiến sĩ bộ đội tên lửa góp phần giữ gìn bình yên cho thủ đô”.

Dấu tích không phai

Hàng chục năm đã trôi qua, nhiều vết thương đã lành nhưng ký ức của những người sống trong thời khắc mà ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh ấy vẫn rõ mồn một.

Những dấu tích của bom B52 ở Hà Nội năm 1972 cũng đã phai mờ, đây đó chỉ còn vài đài tưởng niệm. Thế nhưng, nếu có dịp đi qua Ngọc Hà, người ta vẫn cứ phải ngoái nhìn xác chiếc máy bay B52 nằm ngay trên hồ Hữu Tiệp giữa làng.

Bà Phạm Thị Quy chỉ chiếc B52 cuối cùng bị bộ đội ta bắn rơi xuống hồ Hữu Tiệp giữa làng Ngọc Hà sáng 27-12-1972

Bài và ảnh: MẠNH DUY
nld.com.vn

————————-

Tin bài liên quan:

Ký ức 12 ngày hoa – lửa 1: Phi đội bay quyết tử
Ký ức 12 ngày hoa – lửa 2: Tuổi trẻ can trường
Ký ức 12 ngày hoa – lửa 3: Hào khí Điện Biên Phủ trên không

Một đêm bắt sống 5 phi công Mỹ

QĐND – Như thường lệ, từ trước hôm đế quốc Mỹ tập kích đường không chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng, tối 21-12-1972, chúng tôi – dân quân của thôn Nghĩa Dũng, xã Đại Đồng (Tứ Kỳ, Hải Hưng, nay là Hải Dương) tập trung tại sân kho đầu làng, chờ lệnh của xã đội. Bầu trời phía Hà Nội rực lửa, kẻ thù đã bị trừng trị, cuộc chiến đấu kéo dài tới lúc rạng đông…

Buổi trưa, loa truyền thanh loan tin: Thêm 10 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có 3 chiếc B-52 rơi tại chỗ, 7 máy bay chiến thuật bị bắn hạ ở Hà Nội và Hải Phòng. Ấn tượng nhất là được nghe thông tin: “Quân dân Hải Hưng, đêm qua bắt sống 5 phi công Mỹ”.

Bắt giặc lái B52. Ảnh: TTXVN.

Trước khi vào buổi trực chiến đêm 22-12, ông Phạm Đức Dục, cán bộ dân quân xã vừa đi nghe quán triệt nhiệm vụ ở huyện về, kể: Dưới những làn lửa đạn rạch chéo trời đêm, khi dân quân xã Tráng Liệt, huyện Bình Giang nhìn thấy hai chiếc dù đang rơi trên cánh đồng, tiếng reo hò gọi nhau đi bắt giặc lái nổi lên khắp các thôn xóm. Hai tên phi công Mỹ khi vừa chạm đất đã vội giơ tay xin hàng. Các chiến sĩ dân quân tóm luôn và “tống giam” chúng trong trụ sở hợp tác xã, đợi bàn giao lên cấp trên. Các nữ dân quân xã Tráng Liệt từng bắn rơi máy bay AD6 Mỹ ngày 31-3-1968, nay chính họ lại xung kích lập công bắt sống 2 giặc lái B-52 vào những ngày đầu của chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Ông Dục tiếp lời: “Chính sách đối với tù hàng binh đã được quán triệt! Tôi nhắc lại, nếu tóm được phi công Mỹ, phải báo cáo chỉ huy để trình lên huyện, không được tùy tiện xử lý nó. Đó là chính sách, là kỷ luật chiến trường…”.

Bà con đồng thanh: Nhớ rồi, nhưng còn ba tên phi công nữa đâu?

– Ba tên kia nhảy dù bên Mỹ Hào. Cùng lúc xã Tráng Liệt bắt phi công thì nhân dân xã Dương Quang, huyện Mỹ Hào theo dõi trận chiến trên không phía Hà Nội, phát hiện 3 chiếc dù rơi xuống địa phận xã. Nhiều người dân và bộ đội, dân quân bủa vây, bắt ngay ba tên giặc lái khi dù của chúng vừa tiếp đất. Cả ba tên đều là phi công lái máy bay B-52…

Câu chuyện đó là một trong những điều gây ấn tượng sâu sắc và niềm tự hào về quê hương trong suốt cuộc đời quân ngũ của tôi. Những ngày lịch sử này, kỷ niệm đó lại trỗi dậy trong tôi như một lời nhắn nhủ về truyền thống “Đường 5 anh dũng – Bãi Sậy kiên cường” của vùng đồng bằng phía đông thủ đô Hà Nội.

PHẠM XƯỞNG
qdnd.vn

Điện Biên Phủ trên không là nguồn lực tinh thần lớn lao

Trong không khí cả nước hướng về kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, ngày 28-12, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã gặp mặt thân mật đoàn cựu chiến binh dân quân tự vệ Phòng không – Không quân trực tiếp tham gia chiến dịch.

Biểu dương chiến công ngàn đời không quên của các anh hùng, chiến sĩ, dân quân tự vệ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh: “40 năm nhìn lại, chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi là nguồn lực tinh thần lớn lao, sâu sắc, khích lệ thế hệ trẻ hôm nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Đại diện Bộ Tư lệnh TPHCM trao giấy khen cho các tập thể, cá nhân dũng cảm truy bắt cướp. Ảnh: PHAN ANH

Chủ tịch nước đề nghị cán bộ, chiến sĩ Phòng không – Không quân tiếp tục quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu; xây dựng quân chủng “cách mạng – chính quy – tinh nhuệ – hiện đại”, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

– Sáng cùng ngày, Bộ Tư lệnh TPHCM đã sơ kết thi đua cao điểm “Âm vang Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Diễn ra từ ngày 19 đến 28-12, đợt thi đua đã tạo khí thế sôi nổi trong toàn đơn vị với 450 cán bộ, chiến sĩ tham gia hành trình “Tuổi trẻ lực lượng vũ trang TP – Hành trình về với bảo tàng”; 1.200 chiến sĩ tham gia hội trại “Tuổi trẻ giữ nước”. Bên cạnh đó, Bộ Tư lệnh TP còn phối hợp với các tổ chức, đoàn thể tặng 200 phần quà cho gia đình chính sách; khám bệnh và phát thuốc cho 200 lượt người; tặng 6 căn nhà tình nghĩa, tình thương, tình bạn cho gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn và 30 suất học bổng cho trẻ em nghèo hiếu học…

Dịp này, Bộ Tư lệnh TP đã tuyên dương 2 tập thể và 29 dân quân dũng cảm truy bắt cướp.

Ph.Anh – T.Bình
nld.com.vn