Dâng Người tiếng hát mùa Xuân

Những ngày đầu năm 2013, tiếp nối thành công Chương trình “Vang câu Quan họ bên Lăng Bác Hồ” của Đoàn Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội biểu diễn Chương trình “Dâng Người tiếng hát mùa Xuân” đã đọng lại những tình cảm sâu đậm về Đảng, Bác Hồ, về mùa Xuân đất nước và hình ảnh người nghệ sỹ – chiến sỹ “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng đồng bào và bầu bạn quốc tế đến tham quan khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ hơn 12 giờ, gần 3 tiếng nữa mới đến giờ biểu diễn, mà hơn 70 cán bộ, giảng viên, học viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội đã có mặt ở khu vực vườn tre phía Nam Lăng Bác. Dù những buổi hợp luyện trước tại Trường đã thuần thục, nhưng đến đây, bên Lăng Bác Hồ ai nấy đều bồi hồi xúc động. Thiếu tá Hồ Hoàng Hà, Giảng viên của Nhà trường, người dẫn chương trình, bày tỏ: “Được biểu diễn trước hàng tre bên Lăng Bác Hồ làm chúng tôi cảm xúc trào dâng. Dường như mình hát cho Bác nghe. Dường như hát ở nơi đây mỗi nghệ sỹ mới bộc lộ được những điều sâu kín, thiêng liêng để dâng lên Bác, mà bình thường mình không thể nói lên lời. Chỉ thông qua nghệ thuật, chúng tôi mới diễn tả được. Bởi Bác là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, nhưng thân thiết như người cha trong mỗi chúng tôi”.

Dang nguoi tieng hat mua xuan1Các nghệ sỹ, ca sỹ chụp ảnh lưu niệm cùng các đại biểu tới tham dự buổi biểu diễn 

Chương trình được tổ chức vào chiều thứ Bảy, ngày 02/02/2013, nhưng dưới hàng ghế đại biểu có sự hiện diện của các đồng chí: Thiếu tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thủ trưởng Cục Tuyên huấn; Lãnh đạo Ban Quản lý Lăng, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp đối với các hoạt động văn hoá nghệ thuật ở Lăng Bác và đông đảo khán giả là các cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ bên Lăng Bác Hồ, cùng đồng bào, khách quốc tế tham quan khu vực Lăng.

Mở đầu chương trình, dàn Quân nhạc đã vang lên các ca khúc “Chào mừng Đảng Cộng Sản Việt Nam”; “Việt Nam ơi mùa xuân đến rồi”; “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người”; “Việt Nam trên đường chúng ta đi” và “Việt Nam quê hương tôi”, của các nhạc sỹ: Đỗ Minh; Huy Du; Trần Kiết Tường và Đỗ Nhuận. Tiếng kèn trầm bổng, hào hùng vang lên những giai điệu ca ngợi Đảng, Bác Hồ, ca ngợi quê hương đất nước, đã bừng lên sức Xuân và gieo vào lòng người niềm tin về mùa Xuân tươi đẹp của dân tộc.

Những tràng pháo tay rộn vang cổ vũ, nhưng chưa san lấp được khoảng cách không gian giữa các nghệ sỹ với khán giả. Bởi đây mới là buổi biểu diễn thứ hai của các nghệ sỹ, ca sỹ ở các đoàn nghệ thuật, nên đồng bào và du khách quốc tế còn phần nào e ngại. Sau khi Thiếu tướng, Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đức Trịnh, Hiệu trưởng Nhà trường phát biểu: “Năm tới Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội sẽ phối hợp với Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tiếp tục tổ chức các chương trình văn hóa văn nghệ ở Lăng Bác Hồ. Đây là hoạt động văn nghệ quần chúng, nên mọi người hãy tiến lại gần và có thể giao lưu, múa cùng nghệ sỹ”, mọi người đều cảm nhận thật gần gũi, cùng xích lại gần hơn, để cảm nhận rõ hơn những tiết mục biểu diễn của các nghệ sỹ, ca sỹ.

Tiếp nối phần nhạc dân tộc với các tiết mục: Hòa tấu: “Nhã nhạc cung đình Huế”; đọc tấu sáo: “Cánh chim tự do” và đọc tấu đàn bầu “Cung đàn đất nước” do dàn nhạc dân tộc, cùng các nghệ sỹ Vàng Minh Dương và Thu Thủy  thể hiện. Vẫn ca khúc ấy, rất đỗi quen thuộc, mà hôm nay, giữa không gian Quảng trường Ba Đình lịch sử, lòng người bỗng thấy dạt dào, xao xuyến, rưng rưng. Trong niềm vui đó, chị Phạm Thanh Hằng, ở Ba Đình Hà Nội đã chia sẻ : “Lời ca, tiếng hát của các ca sỹ đã giúp tôi hiểu thêm về Đảng, về Bác Hồ, về con người và đất nước. Tôi thật sự tự hào mình là người Việt Nam. Và thông qua những chương trình như thế này, tôi cảm nhận mọi người càng thêm tin yêu đất nước chúng ta”. Ông Nguyễn Bá Tống, đến từ Phú Thọ mong muốn: “Văn hoá văn nghệ giúp tôi tinh thần thoải mái hơn, sức khoẻ tốt hơn. Tôi mong muốn mỗi tháng ít nhất được xem một chương trình văn nghệ bổ ích như thế này”. Không chỉ đồng bào trong nước, mà nhiều du khách nước ngoài chưa hiểu rõ tiếng tiếng Việt, chưa hiểu hết những nét đẹp truyền thống văn hoá của Việt Nam, nhưng qua giai điệu các bài hát và ngôn ngữ của âm nhạc, họ đều chăm chú dõi theo và trầm trồ khen ngợi.

Sôi động với những bài ca: “Chúng con canh giấc ngủ cho người”; “Anh hùng Núp”; “Tình ca Tây Nguyên”; “Bài ca người lính”; “Vệt nắng”; “Chuyện đời lính”; “Nắng thao trường”, do các ca sỹ trẻ : Minh Thế; Thúy Hà ; Mai Trang; Đông Hùng và dàn nhạc dân tộc thể hiện, đã tạo nên một âm hưởng mới, âm hưởng khát vọng của tuổi trẻ về mùa Xuân, về cuộc sống và nhiệm vụ của những người chiến sỹ. Vừa được hát cho Bác và mọi người nghe, nghệ sỹ Mai Trang – Giảng viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội bồi hồi xúc động: “Đây là một vinh dự đặc biệt, đối với bất cứ ca sỹ, nghệ sỹ nào cũng mong muốn được hát cho Bác nghe và được đem nét đẹp truyền thống văn hoá của đất nước mình phục vụ đồng bào, khách quốc tế”. Nghệ sỹ Mai Trang còn mong muốn có nhiều chương trình giao lưu văn nghệ giữa các chiến sỹ làm nhiệm vụ bên Lăng Bác và học viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội.

Tiết mục song ca “Mừng Xuân mới” do Mai Trang cùng Đông Hùng và dàn nhạc thể hiện đã khép lại chương trình nghệ thuật “Dâng Người tiếng hát mùa Xuân”. Hơn một giờ đồng hồ, các đại biểu và khán giả được đắm mình trong không gian nghệ thuật tràn ngập âm hưởng của mùa Xuân, lay động lòng người của dàn quân nhạc, nhạc cụ dân tộc và những lời ca, tiếng hát của các giảng viên, sinh viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội. Chương trình nghệ thuật“Dâng Người tiếng hát mùa Xuân” thực sự là món quà tinh thần giàu ý nghĩa, một chương trình nghệ thuật đích thực cả về âm nhạc lẫn thị giác dành cho khán giả, nhân dịp “Mừng Đảng, mừng Xuân” của đất nước. Thay cho lời kết, đồng chí Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảm ơn Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, các đại biểu, các ca sỹ, nghệ sỹ cùng đồng bào, khách quốc tế và chúc : “Cán bộ, giảng viên, học viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội tiếp tục thành công trên con đường hoạt động nghệ thuật và nhiệm vụ “trồng người”, ươm nhiều tài năng nghệ thuật phục vụ Quân đội, phục vụ đất nước và thường xuyên đến biểu diễn tại khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh”./.

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

Bức huyết thư gửi tới Bác Hồ của người tử tù chỉ huy biệt động Sài Gòn

Việt Nam - Hồ Chí MinhĐó là liệt sỹ anh hùng Nguyễn Đình Chính – người chỉ huy mưu trí can trường của Ban Công tác Một – tiền thân lực lượng biệt động Sài Gòn ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Một người tử tù với 2 bản án tử hình trong hầm tối đã viết huyết thư gửi lên Bác Hồ và trên pháp trường đã ra cho kẻ địch ba điều kiện: Không cần trói, không cần bịt mắt và được hát Quốc ca. 15 năm sau cũng tại trường bắn này đã xuất hiện liệt sỹ anh hùng Nguyễn Văn Trỗi với tư thế hiên ngang bất tử như thế. Liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi thì cả nước đã biết, còn liệt sỹ anh hùng Nguyễn Đình Chính – người lãnh đạo tiền thân của biệt động Sài Gòn nức tiếng thì bao điều vẫn còn bỏ ngỏ…

Tung hoành giữa Sài Gòn

Liệt sỹ anh hùng Nguyễn Đình Chính sinh ra ở làng Nguyễn, huyện Đông Hưng, Thái Bình, sau lên sinh nhai ở Thị trấn Đáp Cầu, Bắc Ninh. Tháng 4 năm 1944, anh vào Sài Gòn làm tại Xưởng Sửa chữa tàu Ba Son của Hải quân Pháp. Chỉ mấy tháng làm lính, Chính đã nhận ra cái “vỏ” bình đẳng trong Hải quân Pháp và anh đã cùng thầy đội Thăng – người thường đứng về lính thợ Việt Nam thực hiện kế hoạch đánh chìm chiến hạm Su – ren của Pháp. Tiếc rằng kế hoạch đang tiến hành thì bị lộ, thầy đội Thăng bị bắt còn Nguyễn Đình Chính bị địch truy nã.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Nguyễn Đình Chính được cách mạng giao nhiệm vụ huấn luyện 2 Tiểu đoàn dân quân địa phương để lùng bắt những ổ cướp trong vùng Lộc Ninh, Dầu Tiếng. Khi tiếng súng kháng chiến chống thực dân Pháp bắt đầu, anh trở về mặt trận Lái Thiêu là Trưởng ban Ban Võ khí, rồi làm Trưởng ban Ban Công tác Một – đơn vị tiền thân của biệt động giữa sào huyệt giặc Pháp ở Sài Gòn. Ban Công tác Một do Nguyễn Đình Chính chỉ huy chiến đấu trong hoàn cảnh vũ khí cực kỳ thiếu thốn. Có súng lại không đạn, lựu đạn làm ra nhiều nhưng nổ ít, có khi ném trúng địch rồi, lựu đạn không nổ, địch quay ra tấn công lại. Nhưng dưới sự chỉ huy tài trí, dũng cảm của anh, tinh thần chiến đấu kiên cường của toàn Ban, đơn vị đã chiến đấu nhiều trận và lập nhiều chiến công làm nức lòng nhân dân Sài Gòn, làm cho kẻ thù khiếp sợ, báo hiệu cuộc kháng chiến chống Pháp quyết liệt đã bắt đầu ngay tại sào huyệt của chúng.

Xin trích một số đoạn nhật ký được chép lại từ sổ tay ghi lại những trận đánh mà đơn vị Nguyễn Đình Chính trực tiếp thực hiện: “… Tên Cố vấn Hội đồng Nam Kỳ Bê-đi-a bị ám sát bằng lựu đạn ở góc đường Ta-be Véc-đoong. Lựu đạn nổ, tên này bị thương. Vụ ám sát tên Đông Phương Sóc, cảnh sát đặc biệt miền Đông “P.S.E” ở đường Nô-rô-đôm làm tên này bị thương. Một ổ phản động do tên Nguyễn Trọng Hiền cầm đầu bị giết trọn 5 mạng bằng dao găm ở 218 đường La-gơ-răng-đi-rơ. Tên Nguyễn Văn Khoa – nhân viên sưu tầm đặc vụ ở Ca-ti-na bị giết bằng dao găm ở đường Gác-sơ-ri. Tên Ba-lư – một tên khát máu ở Sở Liêm phóng Ca-ti-na bị quân ta vô tận nhà tước khí giới và đâm ba nhát dao. 30.000 lít xăng của địch bị tiêu hủy ở Nhà Bè. Hai Việt gian nghênh ngang qua cầu chữ Y làm tiền bị thủ tiêu… Đặc biệt trận đánh cách đây đúng 60 năm đêm 30 Tết  Đinh Hợi 1947, sau Ban Công tác nội thành Sài Gòn mà nòng cốt là Ban Một đã đồng loạt tiến công nhiều bốt Đồn cảnh sát địch. Ban công tác Một đã bất ngờ tập kích vào các bốt cảnh sát địch ở cầu Mac-ma-hông, cầu Kiệu, cầu Bông, cầu Thị Nghè… gây sự khủng khiếp trong hàng ngũ giặc…”

Theo bản cáo trạng của Toà án Pháp thì chưa đầy hai năm, Nguyễn Đình Chính đã chỉ huy và cùng Ban Công tác Một tham gia chiến đấu 57 trận lớn nhỏ giữa Sài Gòn, làm cho kẻ thù mất ăn mất ngủ, từng được giao trọng trách bảo vệ Khu trưởng Nguyễn Bình (Trung tướng Nguyễn Bình) giữa sào huyệt giặc.

Trưa 16 – 2 – 1947, Nguyễn Đình Chính cùng đồng chí Bát Tròn đã bị Mật thám Pháp bắt khi đến một cơ sở ở quận Phú Nhuận lấy tiền mua thuốc chạy chữa cho một trinh sát trẻ bị thương.

Được tin bắt được Nguyễn Đình Chính, cả bọn mật thám đến xem mặt anh. Tên Ba Danh – Chánh mật thám liên bang trực tiếp chỉ huy tra khảo. Hắn giở trò mua chuộc Chính hòng moi danh sách cán bộ chiến sỹ trong Ban Công tác Một, các ngoại kiều, trí thức, tư sản Việt Nam mà Trung tướng Nguyễn Bình đã gặp. Ba ngày đầu chúng bắt Chính ngồi xem chúng tra tấn Bát Tròn. Ngày thứ tư, hàng chục đứa dùng gậy, dùng búa thi nhau đánh, đánh để Chính khai và cũng để trả thù những cuộc tấn công do anh chỉ huy đánh thẳng vào lực lượng mật thám và cảnh sát địch. Chính đau quá chết ngất, tỉnh lại, chúng lại đánh tiếp. Chúng cùm tay, cùm chân, đóng hàm thiếc vào mồm để anh không chửi chúng được. Bọn Hải quân Pháp cũng đến kết hợp tra tấn. Song tất cả mọi kỹ thuật tra tấn hiện đại của người Pháp đều bất lực trước ý chí kiên cường, lòng trung thành tuyệt đối của Nguyễn Đình Chính. Trong lúc bị tra tấn, có cơ hội là Nguyễn Đình Chính lên án thực dân Pháp. Một lần, anh đã dùng cả hai tay bị còng đập vỡ mặt một tên mật thám. Suốt 3 tháng ròng tra tấn dã man không moi được gì, đầu tháng 5 năm 1947, địch buộc phải đưa Nguyễn Đình Chính vào Khám lớn Chí Hoà. Tại đây, anh đã cùng lực lượng xung kích dẹp nạn “đầu gấu” trong tù, làm cho không khí trong tù đỡ ngột ngạt hơn.

Tháng 10 năm 1947, Toà án binh thủy quân Pháp đã tuyên án tử hình Nguyễn Đình chính vì hai tội: “Âm mưu đánh đắm chiến hạm Su-ren của Pháp và tội đảo ngũ”. Tuyên án xong lập tức Nguyễn Đình Chính bị chúng đưa xuống hầm tử hình 18A – Khám lớn Chí Hoà. Ít lâu sau, thực dân Pháp còn mở tiếp một phiên toà để xử Nguyễn Đình Chính về tội “chống lại nhà cầm quyền Pháp, làm tan rã quân đội Pháp… phương hại đến an ninh quốc gia (!)” và tuyên tiếp bản án tử hình thứ hai. Tại phiên toà này, Nguyễn Đình Chính đã đanh thép đọc bản tự bào chữa bằng tiếng Pháp. Lời văn sâu sắc, giọng nói hùng hồn, Nguyễn Đình Chính đã biến pháp trường thành nơi tố cáo tội ác của thực dân Pháp và tay sai, chỉ ra tương lai tươi sáng của cuộc kháng chiến do Hồ Chủ tịch lãnh đạo. Sau này, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã viết: “Hồi tôi và anh Bình (Trung tướng Nguyễn Bình) ở căn cứ Vườn Thơm, đôi lần Nguyễn Đình Chính từ Sài Gòn ra báo cáo. Lực lượng võ trang của ta một hai năm đầu kháng chiến còn non trẻ, nhất là Thành phố đã bị chiếm như Sài Gòn, địch hơn hẳn ta về quân số và vũ khí, nhưng Chính nổi tiếng là một chỉ huy gan góc. Bị địch bắt, Chính chịu đựng mọi cực hình tra tấn. Các đồng chí cùng ở tù với Chính đều ca ngợi, kính phục. Anh ấy lạc quan cho tới khi ra pháp trường…”.

Trong những ngày đợi chờ lên đoạn đầu đài, Nguyễn Đình Chính đã chạy đua với thời gian: Tìm cách vượt ngục, viết huyết thư gửi lên Bác Hồ, hồi ký, nhật ký, viết báo, viết thư cho mẹ đẻ, cho người má nuôi, cho người yêu của mình là Nguyễn Thị Phẩm. Nguyễn Thị Phẩm cũng là một nữ biệt động Ban Công tác Một – người con quê hương Thái Bình. Trong cuộc chiến đấu ác liệt, tình yêu của họ đã nảy nở. Hai người yêu nhau, rất gần nhau mà không dám công khai báo cáo tổ chức, không dám làm đám cưới. Bởi như vậy, họ không được ở nội thành trực tiếp chiến đấu. Trong hai cuộc kháng chiến có những mối tình cao cả và thiêng liêng như thế!

Bức huyết thư từ hầm tối gửi tới Bác Hồ

Trong những ngày ở hầm tối Khám lớn Chí Hoà. Nguyễn Đình Chính đã nhờ người má nuôi tìm cách chuyển ảnh Bác Hồ vào trong hầm tối và nhờ má tìm cách chụp được bức hình của anh dưới địa ngục trần gian để gửi tới Bác. Tấm ảnh Bác Hồ đã vượt qua bao vọng gác nghiêm ngặt của nhà tù xuống hầm tối nơi giam giữ người tử tù Nguyễn Đình Chính. Đặc biệt ngay sau khi lĩnh tấm thẻ bài tử hình thứ hai, về đến hầm tối, trước tấm hình người Bác kính yêu, Nguyễn Đình Chính đã lấy máu viết liền 4 trang huyết thư gửi tới Bác Hồ, trong đó có đoạn : “Thưa Cha, con sung sướng vì Người Cha bất diệt sẽ nhận được vài hàng vĩnh biệt của đứa con yêu… Gần hai năm trời đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc, con, một chiến sỹ ly hương chỉ biết đem xương máu ra phụng sự Tổ Quốc. Con đã thi hành hết nhiệm vụ và bổn phận để xứng đáng là trai thời loạn, là con của Cha… Ngày chết của con lặng lẽ tới lúc nào? Con chưa hề thấy nao lòng với cái chết. Con thiết nghĩ đã là chiến sỹ thì chết ở cảnh nào cũng vì Tổ Quốc. Bao cái chết anh dũng của các chiến sỹ Việt Nam vẫn sáng tỏ và in sâu trong tâm trí con… Sau khi dừng bút con trịnh trọng đặt bức thư này trên bàn thờ Tổ Quốc, bày biện đơn sơ, quay mặt về hướng Bắc, gửi tới Cha tất cả lòng kính trọng của đứa con yêu sắp trả xong nợ nước..”

Sáng 9/2/1949, Giặc Pháp đã đem xử tử hình Nguyễn Đình Chính tại trường bắn Chí Hòa. Nguyễn Đình Chính lúc này mới 24 tuổi. Luật sư Nguyễn Chí Vịnh người đã có mặt trong trường bắn kể lại: “Nguyễn Đình Chính rất bình tĩnh ra ba điều kiện: Không cần bịt mắt, không cần trói và được hát Quốc ca”. Nguyễn Đình Chính đã ngã xuống và lặng lẽ hóa thân vào đất mẹ. 45 năm sau Đảng, Nhà nước mới truy tặng danh hiệu Anh hùng liệt sỹ cho anh. Tại thành phố mang tên Bác có một mái trường và một con đường mang tên Nguyễn Đình Chính và ở Thành phố Thái Bình quê hương cũng có một con đường mang tên anh.

Thật không ngờ 15 năm sau cũng tại trường bắn này lại xuất hiện người anh hùng với những hành động, lời nói hiên ngang bất khuất, một tình yêu lứa đôi sâu nặng, một tình yêu đất nước nồng nàn, một tấm lòng kính yêu Bác vô hạn. Đó chính là liệt sỹ Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi! Bất chấp mọi ngón đòn tra tấn dã man của kẻ thù Mỹ – Ngụy, Nguyễn Văn Trỗi vẫn giữ lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Trên pháp trường anh Trỗi đã bình thản nhìn thẳng vào mười họng súng của kẻ thù và trước khi hy sinh anh đã gọi Bác kính yêu: “Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”. Liệt sỹ Anh hùng Nguyễn Đình Chính, liệt sỹ anh hùng Nguyễn Văn Trỗi  – những liệt sỹ biệt động quả cảm anh hùng, sự tiếp nối tuyệt vời lòng kính yêu và ngưỡng vọng Bác Hồ .

Lã Quý Hưng
Theo Thaibinh.gov.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện nhỏ về Bác Hồ với Tết trồng cây

Những năm 60 của thế kỷ trước, tôi là cán bộ phòng tuyên truyền của Tổng cục Lâm nghiệp. Cứ mỗi độ Tết đến Xuân về, cán bộ tuyên truyền ngành lâm nghiệp chúng tôi lại bận rộn vô cùng. Đó là việc chuẩn bị cho “Tết trồng cây” do Bác Hồ khởi xướng.

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

Năm 1969, không ai ngờ đó là năm cuối cùng Bác Hồ đi trồng cây ở xã Vật Lại (Hà Tây cũ). Tôi là người được bác Nguyễn Tạo – Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp – cử đi đưa công văn lên Văn phòng Phủ Chủ tịch. Công văn báo cáo việc trồng cây của các tỉnh và kế hoạch phát động “Tết trồng cây”, đồng thời đề xuất, bố trí địa điểm để Bác chọn và đến trồng cây.

Năm ấy,  đọc xong  báo cáo của các tỉnh, Bác đề nghị ông Nguyễn Tạo mời Bí thư tỉnh Nghệ An cùng đến Phủ Chủ tịch để báo cáo  thêm những vấn đề xung quanh về “Tết trồng cây”. Thấy Bí thư Nghệ An xách chiếc cặp to, Bác hỏi luôn: “Cặp của chú đựng gì mà to thế?”. Đồng chí bí thư bị hỏi bất ngờ nên hơi lúng túng: “Dạ thưa Bác, cháu mang đủ tài liệu của tỉnh để báo cáo Bác”. Bác bảo: “Hôm nay Bác không hỏi chú  nhiều, mà chỉ hỏi một việc về Tết trồng cây của tỉnh chuẩn bị và đã thực hiện như thế nào”.

Nghe đến đây, Bí thư Nghệ An thở phào nhẹ nhõm, liền báo cáo Bác: “Thưa Bác, năm nay Nghệ An đã phát động “Tết trồng cây” sớm, hiện đã trồng được một triệu bảy nghìn sáu trăm tám mươi cây, và sau cấy,  chúng cháu sẽ trồng tiếp mười lăm nghìn cây nữa ạ!”. Nghe xong Bác khen: Tỉnh Nghệ An quê Bác trồng cây như thế là tốt. Nhưng Bác muốn hỏi, Nghệ An trồng hàng triệu cây, vậy có bao nhiêu cây chết, chú có cho đếm được không?

Đồng chí bí thư không trả lời được, Bác nói tiếp: Nghệ An cũng là quê Bác, các chú làm không tốt thì Bác vui sao được, các chú chỉ nghĩ đến thành tích mà không nghĩ đến hậu quả, thế cũng là chưa thật thà với nhân dân. Trồng cây nào phải sống tốt cây ấy, phải biết chăm sóc cây, không để lãng phí công sức và của cải vật chất. Vậy “Tết trồng cây” năm nay Nghệ An phải làm tốt hơn nữa để bác vui.

Đồng chí bí thư xin hứa thực hiện thật tốt lời dặn dò vừa thân tình vừa như phê bình nhẹ nhàng của Bác. Quay về phía đồng chí Nguyễn Tạo, Bác nói: Chú Tạo phát động báo chí viết bài chú ý đến việc trồng cây nào sống tốt cây ấy.

Mấy ngày sau, trên báo Nhân Dân đã có bài  “Trồng cây nào sống tốt cây ấy” của Bác. Xúc tiến những chỉ thị của Bác, một tuần sau, các báo đều đồng loạt có bài viết về “Tết trồng cây”, phát động phong trào “Ông trồng cháu chăm”, rồi hàng loạt tranh cổ động in ra với câu ca: “Mùa xuân là Tết trồng cây/ Vâng lời bác dạy ta gây nên rừng…”. Lúc đầu “Tết trồng cây” còn là phong trào quần chúng,  chưa có quy hoạch cụ thể, vì thế chất lượng cây trồng chưa cao, từng vùng chưa chọn giống cây phù hợp. Sau này khi đi kiểm tra, đồng chí Võ Nguyên Giáp thấy nhiều đồi cây ít được chăm sóc, vì thế đã đề xuất: Thà có một cánh rừng của nhân dân còn hơn để đồi trọc của Nhà nước. Và cũng chính vì ý kiến ấy mà một số chính sách của Nhà nước đã dần dần phù hợp với đời sống, nguyện vọng của nhân dân. Việc giao đất, giao rừng cho gia đình và tập thể hoặc cá nhân đã được thực hiện.

Tết này của năm Quý Tỵ – 2013, đã hơn nửa thế kỷ, lời kêu gọi của Bác Hồ và chính Bác phát động “Tết trồng cây” vẫn mãi còn giá trị và đã đi vào nếp sống thường nhật của nhân dân. Đó là nếp sống văn hóa đầy tính nhân văn, song rất hiệu quả về kinh tế. Tầm nhìn của Bác như đã thấy trước những nguy hại của hiệu ứng nhà kính, của nền công nghiệp hiện đại đang hủy hoại môi trường, và cũng vì thế mà Bác nói: Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ và chăm sóc.

Ấy thế mà nhiều cánh rừng của chúng ta hôm nay đang bị xâm hại, lâm tặc đang hoành hành, sự quản lý lỏng lẻo, thậm chí một vài nơi kiểm lâm còn tiếp tay cho lâm tặc phá rừng, đấy là tội ác! Giờ đây, mỗi lần Tết đến, chúng tôi lại càng nhớ những ngày đầu xuân được đi theo Bác trồng cây. Bác làm thơ, viết báo, lại còn  trực tiếp đi trồng cây, nói chuyện với nhân dân, vận động mọi người tham gia thiết thực “Tết trồng cây”. Tôi cũng được biết, câu thơ “ Mùa xuân là Tết trồng cây / Làm cho đất nước mỗi ngày một xuân”, sau Bác sửa thành “càng ngày càng xuân”. Nhớ lời Bác, chúng ta hãy giữ vững và phát huy nét đẹp ấy trở thành một mỹ tục làm cho “Tết trồng cây” như một ngày hội lớn và đó chính là chúng ta  đã biết “Học tập tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh” không trở thành hình thức.

TRẦN TRƯƠNG
baodanang.vn

Bác Hồ với báo Tết của thiếu nhi Hải Dương


Bác Hồ với thiếu nhi miền Nam Tết 1969.

Mùa Xuân này các bạn và các em có thể xem hàng trăm loại báo tết, trình bầy đẹp đẽ về hình thức, phong phú về nội dung, thể tài với nhiều khuôn khổ khác nhau theo tôn chỉ mục đích của mỗi tờ báo. Nhưng các bạn và các em khó tìm thấy một tờ báo ra đời cách đây hơn 60 năm của các em thiếu niên nhi đồng ở một tỉnh đồng bằng Bắc bộ. Tờ báo ấy bản in gốc nay chỉ còn ở Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam (Hà Nội). Đó là tờ báo “Xung phong” cơ quan ngôn luận của thiếu nhi yêu nước tỉnh Hải Dương – số tết Mậu Tý, khổ 20*16 dày 16 trang, do anh Quản Tập chủ biên.

Báo “Xung phong” được in hai mầu đỏ và đen, ngoài bìa 1 có vẽ hình hai em bé, một nam, một nữ đứng bên nhau, bụ bẫm, xinh xắn tươi cười hướng về tương lai. Giữa bìa là cảnh một cây nêu bằng ngọn mác xuyên thủng tên thực dân Pháp mũi lõ. Phía xung quanh chân cây “nêu” là bầy các em nhỏ đang quây quần ríu rít. Phía xa nữa là cảnh làng quê lũy tre xanh, lô nhô cờ đỏ sao vàng.

Ngay tết năm ấy, báo vừa xuất bản xong hãy còn thơm mùi mực, các em bàn nhau gửi lên chiến khu Việt Bắc kính biếu Bác Hồ. Bác nhận được báo “Xung phong” đúng vào dịp Tết Nguyên đán năm đó. Đọc xong, Bác tự tay đánh máy vào tấm danh thiếp một bức thư trả lời bằng 8 câu thơ lục bát:

“Bác nhận được báo “Xung phong”
Cảm ơn các cháu có lòng gửi cho
Các cháu nghe bác dặn dò
Phải biết yêu nước, phải lo học hành.
Siêng làm việc, siêng tập tành
Phải giữ kỷ luật mới thành cháu ngoan.
Bác yêu các cháu muôn vàn
Bác gửi các cháu một ngàn cái hôn”.

Vậy là trong làng báo chí cách mạng Việt Nam nói chung và Lịch sử, danh mục báo chí ở Việt Nam, có thêm tư liệu về tờ báo“Xung phong”. Càng vinh dự đó là tờ báo yêu nước đầu tiên của trẻ em cấp tỉnh lại được Bác Hồ gửi thư khen, động viên các cháu. Xuân Mậu Tý (1948) các cháu kính biếu báo tết Bác, Bác tặng thơ các cháu, cả hai món quà đều ý nghĩa. Già yêu trẻ, trẻ kính già.

LÊ HỒNG THIỆN
baohaiduong.vn

Bác Hồ ở Cam Ranh năm ấy…

QĐND – Sau Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường về nước. Cùng về với Người trên chuyến tàu còn có 4 kỹ sư vừa tốt nghiệp xuất sắc tại Pháp, theo Người trở về phục vụ Tổ quốc. Đó là bác sĩ Trần Hữu Tước và các kỹ sư: Võ Quí Huân, Võ Đình Huỳnh và Phạm Quang Lễ. Ngày 18-10-1946, tàu đưa Bác Hồ tiến vào vịnh Cam Ranh. Cao ủy Pháp Đác-giăng-li-ơ đã đón Chủ tịch Hồ Chí Minh theo nghi lễ chính thức trên biển.

Tượng Bác Hồ ở Cam Ranh.

Gần đây, Giáo sư Hàm Châu sưu tầm được hồi ký của Giáo sư Trần Hữu Tước, người duy nhất được tháp tùng Bác Hồ sang chiến hạm gặp Cao ủy Pháp. Đọc những dòng hồi ký ấy, chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động về vận mệnh của Tổ quốc và tài ứng xử trước nguy nan của Bác Hồ:

“… Nước nhà độc lập rồi, mà giữa vịnh Cam Ranh, chiếc tuần dương hạm cỡ lớn, còn lại duy nhất trong Hạm đội Thái Bình Dương của Pháp, nằm ngạo nghễ ở đó, với cờ ba sọc bay phần phật trong gió Trường Sơn thổi ra như xua đuổi. Lại hai chiếc thủy phi cơ đang vè vè bay lượn chung quanh bảo vệ. Chúng chuẩn bị tiếp đón Bác rất trọng thể, đúng nghi thức để diễu võ dương oai…

Nghi lễ “đại kỳ”, khắp trên chiến hạm, tất cả các loại cờ đều treo; tất cả các đại bác, thần công, cao xạ, phóng lôi… đều giương cao nòng tua tủa. Và hai nghìn rưỡi thủy quân đồng phục trắng tinh, đứng nghiêm như những pho tượng đá, xếp trên bảy tầng tàu.

Đại Thủy sư Đô đốc, Đặc Cao ủy Pháp Đác-giăng-li-ơ, là con người hiếu cổ đang phục hồi tất cả những nghi thức thời oanh liệt của thủy quân Pháp xâm lược, dọc ngang trên các sông biển nước người.

Điện tín hiệu ước hẹn giờ sang mời Chủ tịch “phó hội”. Bác mượn ống nhòm, nhìn qua tình thế, rồi bình thản nói:

– Chỉ một mình chú Tước đi với Bác!

Vài giây hơi lạ, tôi giương hai mắt kính cận nhìn Bác. Bác nhắc lại:

– Phải, chỉ một mình chú thôi!

Xuồng máy tăng tốc, rẽ sóng lao về phía soái hạm. Đây là chiếc xuồng dùng để duyệt thủy quân, không mui, có chỗ tựa tay để đứng. Cách độ vài chục mét, loa phóng thanh gầm lên một khẩu hiệu, rồi vang lên ba lần: “Híp, híp, híp”. Tiếp theo sau là hai nghìn rưỡi cổ họng cùng hô to lên bảy lần: “Houra! Houra!”…

Đó là đại lễ đón Quốc trưởng…

Hồ Chủ tịch ung dung lẹ bước, trèo lên thang, tiến vào phía “viên môn” của soái hạm. Quả ông Đại Đô đốc này thích nghi lễ thật!

Lại một tiếng hô. Hai nghìn thủy quân to lớn, răm rắp đều bước nhanh dãn ra hai bên thảm đỏ. Đặc Cao ủy Pháp, người loắt choắt, tướng ngũ đoản, nụ cười cáo già trên môi, miệng toe toét với những vết nhăn nheo, bước ra niềm nở đón Hồ Chủ tịch. Hai bàn tay nhỏ, ngắn, xoe tròn lấy nhau, ông ta nói:

– Thưa Chủ tịch, thật tình đến tuổi tôi, mới được học một kinh nghiệm quý báu là tốt nhất đi đâu vẫn cần người thầy thuốc bên cạnh. Có phải không, thưa ông bác sĩ?

Bác trả lời gọn gàng:

– Sang thăm Đặc Cao ủy, nên đi với thầy thuốc!

… Viên Đặc Cao ủy lõi đời, sành sỏi đã nhận rằng, mình tiếp thu ngay bài học Bác vừa dạy cho. Trước nghi lễ rầm rộ, uy nghi đó, Bác chẳng coi ra gì, một mình “phó hội”, chỉ với người thầy thuốc, với mũ, gậy hằng ngày, như thể đi thăm người quen trong làng ngoài xóm, thế thôi!

Tiệc rất thịnh soạn, Chủ tịch ngồi đối diện với Đặc Cao ủy. Hai bên Bác là một vị tướng Tổng chỉ huy Lục quân Đông Dương và một vị Đô đốc Hải quân Pháp ở Thái Bình Dương. Lại cái tay ngắn củn, lại nụ cười muốn ra vẻ duyên dáng, viên Đại Đô đốc ngọt xớt:

– Kìa, thế là Chủ tịch được đóng khung giữa Lục quân và Hải quân rồi đấy.

Nhẹ nhàng cười, Bác đáp ngay:

– Đặc Cao ủy biết đấy, chính bức họa mới làm cho cái khung có giá trị.

Khắp bàn tiệc đều tán thưởng câu trả lời rất chí lý, chơi chữ Pháp tài tình của Bác: Đóng khung và cái khung.

Sau cuộc hội đàm, lúc bắt tay từ biệt, Bác chợt ôm hôn viên Đặc Cao ủy Pháp. Hắn ngạc nhiên chưa đầy nửa giây, rồi trấn tĩnh được ngay và cũng ôm Hồ Chủ tịch. Tất cả chung quanh đều sửng sốt, trơ mắt nhìn. Các nhà báo Pháp, chỉ toàn nhà báo Pháp thôi, chụp ảnh lia lịa, ghi ghi chép chép…

Lúc ra về, như để giải đáp một thắc mắc thầm kín của tuổi trẻ trong tôi, Bác nhẹ nhàng nói:

– Ôm hôn hắn cũng chẳng sao. Xã giao mà!

Xuồng nhỏ lướt trên làn sóng dập dềnh. Đứng ngay sau lưng Bác, nên có lúc như không thấy những người chung quanh. Trước mắt là núi non, biển cả. Quê hương bao la, hùng vĩ, phần phật gió Trường Sơn đã nổi, như cả dân tộc đang đứng lên, quật cường trong trận chiến cuối cùng; rồi chớp mắt nhìn lại, thấy Bác mảnh khảnh trong bộ quần áo bạc màu, tóc phong sương bao năm đang bay trong gió, đôi mắt sáng rực niềm tin tưởng và quyết tâm. Người đứng như pho tượng trước mặt xuồng, để chèo chống trong cơn sóng gió chưa từng có của đất nước…

Nhớ lại câu của Đặc Cao ủy trong bữa tiệc: “Chủ tịch thật quen với biển cả, có lẽ xin tặng Người danh hiệu “Người thủy thủ nhỏ” như quân đội Pháp đã quý mến tặng Napoléon cái tên “Người đội trưởng nhỏ”. Bác trả lời ngay: “Phải, người thủy thủ nhỏ của Hải quân Việt Nam”…”.

Cuộc gặp gỡ ấy đã đi vào lịch sử. Dù những hiệp định và tạm ước bị phản bội, nhưng “người thủy thủ nhỏ” đã trở thành người cầm lái vĩ đại đưa con thuyền dân tộc Việt Nam vượt qua sóng gió thác ghềnh, chiến thắng kẻ thù hung bạo. Năm 2008, tượng đài Bác Hồ thăm Cam Ranh được xây dựng.

NGUYÊN MINH
qdnd.vn

Những tiên đoán về Hồ Chí Minh

QĐND – Đối với các thiên tài và vĩ nhân, người ta không thể đánh giá cao thấp, mà chỉ có thể xem xét, đánh giá họ qua phát hiện và giải quyết những nhiệm vụ mà thời đại đã đặt ra cho nhân loại hoặc cho dân tộc mình. Bác Hồ kính yêu của dân tộc ta là như vậy.

Tiên đoán của cụ Phan Châu Trinh

Cụ Phan Châu Trinh là nhà yêu nước lớn của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Về tuổi tác, Phan Châu Trinh là bậc cha chú của Nguyễn Ái Quốc. Mặc dù giữa hai người có sự khác nhau về phương pháp cứu nước, nhưng đối với Nguyễn Ái Quốc, cụ Phan luôn dành cho Anh một niềm tin và cả sự tôn trọng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969)

Trong một bức thư đề ngày 18-2-1922 gửi từ Mác-xây cho Nguyễn Ái Quốc ở Pa-ri, cụ Phan Châu Trinh đã viết rằng: Nguyễn Ái Quốc “như cây dương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông”. Cụ Phan tin rằng, không bao lâu nữa “cái chủ nghĩa mà Anh tôn thờ (ý nói chủ nghĩa Mác – Lê-nin) sẽ sâu rễ bền gốc trong đám dân tình chí sĩ nước ta”.

Năm 1925, trước khi qua đời cụ Phan đã thổ lộ với các đồng chí của mình như Lê Văn Huân, Huỳnh Thúc Kháng: ”Sự nghiệp độc lập nước nhà trông cậy vào Nguyễn Ái Quốc”(1).

Tiên đoán của một nhà thơ lớn của Liên Xô

Vào năm 1923, khi Nguyễn Ái Quốc làm việc ở Quốc tế Cộng sản ở Mát-xcơ-va, một lần nhà thơ Liên Xô là Ô-xíp Man-đen-xtam đến thăm Nguyễn Ái Quốc. Trả lời câu hỏi của nhà thơ, vì sao phải ra nước ngoài hoạt động, Nguyễn Ái Quốc đã nói: Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ tự do, bình đẳng, bác ái… tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những từ ấy. Chuyến thăm này đã được Ô-xíp Man-đen-xtam viết lại trong bài “Thăm một chiến sĩ Quốc tế Cộng sản” (trên tờ báo “Tia lửa nhỏ”, Liên Xô, số 39, ngày 23-12-1923). Trong bài báo nói trên, nhà thơ đã nhận xét: “Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên biển lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương… Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là văn hóa tương lai…”(2).

Tiên đoán của luật sư F.H Lô-dơ-bai

Vào năm 1931, trong thời kỳ hoạt động Cách mạng ở Hồng Công, Bác Hồ đã bị cảnh sát Hồng Công bí mật bắt giam theo “đặt hàng” của mật thám Pháp. Biết tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, Hồ Tùng Mậu đã đến gặp luật sư Phrăng-xít Hăng-ri Lô-dơ-bai – một luật sư tiến bộ người Anh ở Hồng Công nhờ giúp đỡ. Luật sư F.H Lô-dơ-bai với những thông tin về Nguyễn Ái Quốc và cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đã không ngại nguy hiểm, khó khăn, qua 9 phiên tòa xét xử, bác bỏ những cáo buộc của thẩm phán, cứu Nguyễn Ái Quốc thoát khỏi nanh vuốt của thực dân Pháp. Sau này, ông nói: “Tôi tin Việt Nam sẽ có vị trí đặc biệt trên thế giới với nhà lãnh tụ tài ba Hồ Chí Minh”.

———-

(1) – Theo “117 chuyện kể về Chủ tịch Hồ Chí Minh” – Ban Tuyên giáo Trung ương.

(2) – Hồ Chí Minh “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận”, NXB Văn học, HN,1981, Tr 477,478.

LỆ CHI
qdnd.vn

Tết trồng cây cuối cùng của Bác Hồ

Đồng chí có biết?

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

QĐND – Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác trồng cây gây rừng. Ngày 28-11-1959, với bút danh Trần Lực, Hồ Chí Minh viết bài “Tết trồng cây” để phân tích ý nghĩa và lợi ích thiết thực của phong trào này và “đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây, việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”. Tết trồng cây đầu tiên đã được tổ chức ở miền Bắc vào đầu Xuân năm 1960. Từ đó, hằng năm, vào dịp đầu Xuân mới Bác Hồ lại đến một địa phương nào đó để trồng cây.

Địa điểm Người trồng cây cuối cùng là mùa Xuân Kỷ Dậu năm 1969 tại đồi Yên Bồ, xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Hồi ấy sức khỏe của Bác yếu nhiều, việc bố trí để Bác trồng cây ở một địa phương nào đó theo ý của Bác là một vấn đề rất khó khăn. Những người phục vụ Bác rất lo lắng nên nhiều lần đề nghị Bác hoãn lại việc trồng cây. Nhưng Bác rất kiên quyết. Bác gợi ý chọn xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây là nơi có phong trào trồng cây tốt.

Theo kế hoạch đã chuẩn bị, Bác đến địa điểm trồng cây. Đông đảo các đại biểu, các tầng lớp nhân dân đã đứng trên những đồi cây đón Bác. Bác trực tiếp trồng thêm một cây đa. Nhìn những xẻng đất, bình nước Bác tưới mát cho cây, mọi người ai cũng xúc động nghẹn ngào.Trồng cây xong, Bác cùng mọi người quây quần dưới tán cây và thân mật hỏi chuyện và chúc Tết mọi người. Tất cả mọi người có mặt trong buổi Bác trồng cây năm ấy không ai nghĩ rằng đó là mùa xuân cuối cùng và cũng là cái Tết trồng cây cuối cùng của Bác.

Ghi nhớ lời bác dạy 54 năm qua, nhân dân Ba Vì đã ra sức thi đua sản xuất giỏi, trồng nhiều cây xanh, năm nào cũng thực hiện tốt phong trào “Tết trồng cây” do Bác Hồ phát động. Xuân Quý Tỵ này, Ba Vì sẽ tổ chức ra quân thực hiện Tết trồng cây vào ngày 18-2 (tức là ngày mồng 9 Tết).

MINH HÀ
qdnd.vn

Theo chân Bác trên đất nước Hoa Hồng (tiếp theo)

(ĐCSVN)  – Trong ba ngày từ 13 đến 17 tháng 8 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta thăm chính thức Cộng hoà Nhân dân Bulgaria. Trong chuyến thăm ba ngày ngắn ngủi đó, hình ảnh của “một vị anh hùng huyền thoại của một dân tộc vĩ đại” (theo cách gọi của báo chí Bulgaria thời đó) qua nhiều thế hệ, vẫn còn in đậm nét trong ký ức của những người bạn Bulgaria trọng thị, mến khách.

Lễ đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường Trung tâm Thủ đô Sophia.
(Ảnh chụp lại từ phông tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh).

Ông Phạm Quốc Bảo, nguyên Đại sứ nước ta tại Bulgaria cho biết, nếu theo dấu chân Bác chỉ thông qua những trang tư liệu thì chưa đủ. Và, ông kể cho chúng tôi nghe quá trình lần tìm những nhân chứng đã từng tham gia đón tiếp Người trong chuyến thăm lịch sử đó.

Tháng 8-2007, Đoàn cán bộ Ban Tuyên giáo Trung ương do GS, TS Phạm Mạnh Hùng, Phó Trưởng ban làm Trưởng đoàn đã cùng Đại sứ và nhóm biên soạn đến thăm lâu đài Vơrana, trước đây là Nhà khách Chính phủ, nơi Bác Hồ đã ở trong thời gian chuyến thăm lịch sử. Chủ nhân của lâu đài là cựu Hoàng Simeon Đệ nhị, nguyên Thủ tướng Bulgaria (2001-2005) đã đích thân dẫn đoàn đi thăm nơi ăn, chốn nghỉ của Bác trước đây và giới thiệu với khách về tòa lâu đài cổ kính này.

Các hoạt động kỷ niệm 50 năm chuyến thăm Bulgaria của Chủ tịch Hồ chí Minh diễn ra trên đất bạn đã được các cơ quan, đoàn thể ở trung ương và địa phương, các hãng thông tấn báo chí và nhân dân Bulgaria đánh giá cao và hưởng ứng nhiệt tình. Tới dự mít tinh và khai mạc triển lãm ảnh có nhiều vị lãnh đạo cấp cao như: Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Kinh tế và Năng lượng, Chủ tịch Cơ quan Nhà nước về Công nghệ thông tin và Truyền thông; Chủ nhiệm Ủy ban Nông – Lâm của Quốc hội, Chủ tịch Nhóm nghị sĩ Quốc hội hữu nghị với Việt Nam; Thứ trưởng Bộ Văn hóa; Chủ tịch Hội Hữu nghị Bulgaria – Việt Nam; các đại biểu Quốc hội, Đoàn Ngoại giao, cán bộ nhân viên Đại sứ quán, đông đảo bà con trong cộng đồng người Việt và bạn bè Bulgaria… Điều rất cảm động là các cựu chiến binh, các nhà hoạt động chính trị – xã hội lão thành, có nhiều tình cảm sâu sắc với Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tham gia đầy đủ trong các hoạt động nhân dịp kỷ niệm chuyến thăm Bulgaria của Bác.

Trước đó, nhằm bổ sung, hoàn thiện tư liệu cho việc biên soạn cuốn sách, Đại sứ và nhóm biên soạn đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ với các nhân chứng. Ngày 8-5-2007, vợ chồng nghị sĩ Oleg Popov và con trai đến thăm Đại sứ quán nước ta tại Sôphia ta trước khi bà Evelina Popova sang Việt Nam công tác. Bà cho biết, trước đây cụ Popov (bố chồng bà) đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nôvi Khan. Hồi đó cụ Popov còn là một thượng úy trẻ trong hàng ngũ an ninh nước bạn bảo vệ Bác Hồ. Sau này, cụ Popov được thăng quân hàm thiếu tướng an ninh và đã nghỉ hưu. Đại sứ rất xúc động khi nghe tin vui này và đã ngỏ ý mong muốn được đến thăm cụ. Không bao lâu sau, chiều ngày 11-5, ông Phạm Quốc Bảo về thăm làng Gabra. Mặc dù đã gần 80 tuổi, không quản đường xá xa xôi, cụ Popov đã lên tận làng Novi Khan, cách nhà 15 km để chỉ nơi Bác Hồ dừng chân và kể lại khi nghe tin Bác Hồ đi qua tuyến đường này, nhân dân đã đổ ra đường, đông chưa từng có trong lịch sử để chào đón Bác. Cụ nói rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị khách duy nhất được nhân dân Bulgaria đón tiếp nồng nhiệt đến như vậy. Cụ cũng không quên kể lại những giây phút xúc động khi được ôm Bác Hồ như thế nào, nửa thế kỷ đã qua mà cho tới tận bây giờ vẫn còn nhớ mãi không nguôi. Cụ đã tâm sự: “Tham gia bảo vệ Bác Hồ, tôi thấy có cái gì đấy rất khác. Người thật khiêm tốn, giản dị và cái đó đã tôn vinh Người trong mắt người dân Bulgaria và gây ấn tượng rất sâu sắc đối với tôi cho đến tận bây giờ”.

Ngày 17-8-2007, trong số khách đến dự mít tinh kỷ niệm 50 năm chuyến thăm Bulgaria của Chủ tịch Hồ Chí Minh có hai mẹ con cụ Vasilka Nikiphorova. Cụ tặng hoa Đại sứ và bày tỏ cảm tình đặc biệt với nhân dân Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy ở tuổi 93 nhưng cụ vẫn minh mẫn và rất tích cực tham gia các hoạt động của hội hữu nghị Bulgaria – Việt Nam. Ngày 29-8-2007, Đại sứ cùng nhóm biên soạn đến thăm gia đình cụ, thật cảm động khi được biết cả con gái và con rể của cụ nay đã ở tuổi 70 mà trước đây cũng đều được gặp Bác Hồ. Cụ được gặp Bác Hồ ở cuộc mít tinh, dự chiêu đãi và tặng hoa Bác cách đây nửa thế kỷ. Bà Maria Nikiphorova phụ trách nhóm thiếu nhi tặng hoa Bác Hồ ở sân bay Sophia, còn ông Andrey Evtimov Penchev được dự mít tinh chào mừng Bác ở quảng trường Đỏ, thành phố Plovdiv. Năm mươi năm đã trôi qua, nhưng hình ảnh về Bác Hồ vẫn còn in dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân Bulgaria.

Theo dấu chân Bác Hồ, Đại sứ cùng nhóm giúp việc đã về làng Perustitsa (nay là một thị trấn) nằm ở phía tây dãy núi Rodopi ở cách Sophia 147 km về phía Đông Nam. Nhóm biên soạn đã vào tham quan hầm rượu vang mà cách đây 50 năm Bác Hồ đã đến thăm. Tại đây, hai bố con ông Giám đốc niềm nở đón tiếp và đã dành cho ông Phạm Quốc Bảo và nhóm biên soạn một bất ngờ lớn. Họ giới thiệu một cụ già người tầm thước, da dẻ hồng hào có mặt trong buổi tiếp là người được gặp Bác Hồ ở đây tháng 8-1957. Cụ Iordan Costadinov Toncov bồi hồi nhớ lại: “Cách đây 50 năm, khi đó tôi mới 25 tuổi đã vinh dự được bắt tay Bác Hồ”. Sau đó, cụ đã hướng dẫn các thành viên của đoàn công tác tham quan những nơi mà nửa thế kỷ trước Bác Hồ đã thăm như: hầm rượu vẫn còn nguyên, ngôi nhà nơi tiếp đón Bác, gia đình ông Petar Savov có người em đã anh dũng hy sinh trong chiến tranh chống phát xít để bảo vệ dân làng. Cụ Iordan Costadinov Toncov xúc động nói: ”Tôi vẫn còn nhớ mãi cái bắt tay nồng nhiệt với một bậc vĩ nhân. Dù chỉ trong giây lát ngắn ngủi, nhưng cũng đủ để bản thân tôi có cơ hội cảm nhận được lòng nhân ái của Người”.

Vào dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 80 của cụ bà Angelina Ivanova Angelova (23-11-2007), nguyên Giám đốc Liên hiệp Nhà trẻ mang tên Hồ Chí Minh trong suốt 20 năm (1970-1990), đơn vị liên tục là lá cờ đầu trong toàn quốc và đã được nhà nước tặng thưởng Huân chương cao quý “Kiril và Metoy” hạng Nhất”. Tiếp xúc với Đại sứ, cụ Angelina Ivanova Angelova xúc động tâm sự: “Cho đến ngày nay, các lớp con cháu của chúng tôi vẫn mang trong mình niềm tự hào lớn lao là đã được dạy dỗ và lớn lên từ Liên hiệp Nhà trẻ “Hồ Chí Minh”.

Theo dấu chân Bác Hồ, nhóm biên soạn đã đi theo hành trình Bác đã đi qua, bồi hồi xúc động và niềm tự hào trào dâng khó tả. Từ các cơ quan trung ương đến chính quyền địa phương, từ thủ đô Sophia đến Perustitsa, những địa danh, thành phố, làng mạc, đường đèo, núi non, rừng cây, sông suối…, đến đâu cũng như vẫn còn in dấu chân Người, như những nhân chứng lịch sử đã chứng kiến một thời Bác đã đi qua, nay vẫn còn để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân Bulgaria.

Những nhân chứng lịch sử đã nói lên rằng: Sự kính trọng, khâm phục và tình cảm quý báu đối với Bác Hồ vẫn còn là những dấu ấn sâu đậm trong lòng những người bạn Bulgaria, bất chấp cả những biến động lớn trong quan niệm về các giá trị tinh thần, tư tưởng và đạo đức trong quá trình chuyển đổi thể chế chính trị của đất nước.

Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, Di sản Hồ Chí Minh vẫn là cầu nối cho những ý niệm tốt đẹp của người Bulgaria đối với Việt Nam. Dấu ấn của Người để lại vẫn luôn nâng bước để chúng ta tiến lên trên con đường hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc.

(Viết theo lời kể của ông Phạm Quốc Bảo và tài liệu do nhóm biên soạn cuốn sách cung cấp)

Nguyễn Vũ Cân
dangcongsan.vn

Theo chân Bác trên đất nước Hoa Hồng

(ĐCSVN)  – Trong ba ngày từ 13 đến 17 tháng 8 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta thăm chính thức Cộng hoà Nhân dân Bulgaria. Trong chuyến thăm ba ngày ngắn ngủi đó, hình ảnh của một vị anh hùng huyền thoại của một dân tộc vĩ đại (theo cách gọi của báo chí Bulgaria thời đó) qua nhiều thế hệ, vẫn còn in đậm trong ký ức của những người bạn Bulgaria trọng thị, mến khách..

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Bulgaria từ ngày 13 đến
ngày 17 tháng 8 năm 1957. (Ảnh chụp lại từ phông tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Bác Hồ qua từng trang tư liệu

Tháng 6 năm 2010, tôi được ông Phạm Quốc Bảo, nguyên Đại sứ nước ta tại Bulgaria tặng cuốn sách “Hồ Chí Minh trên đất nước Hoa Hồng”. Cuốn sách này do Đại sứ quán nước ta tại Cộng hoà Bulgaria phối hợp với Bảo tàng Hồ Chí Minh biên soạn và được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự Thật phát hành. Cuốn sách tập hợp những tư liệu quý về chuyến thăm lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Bulgaria từ ngày 13 đến ngày 17 tháng 8 năm 1957. Chuyến thăm được ghi vào trang vàng của lịch sử quan hệ giữa Việt Nam và Bulgaria.

Ông Phạm Quốc Bảo kể rằng, nhờ sự giúp đỡ tận tình của bạn bè và các cơ quan hữu quan Bulgaria và trong nước, Đại sứ quán nước ta đã sưu tầm được nhiều hình ảnh và tư liệu quý về hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Bulgaria và Việt Nam.

Đầu năm 2007, nhờ có mối quan hệ thân tình với một số cán bộ lãnh đạo Bộ Ngoại giao Bulgaria, Đại sứ quán ta đã nhận được một tập hồ sơ tư liệu quý về chuyến thăm Bulgaria năm 1957 của Chủ tịch Hồ Chí Minh gồm 62 trang bằng tiếng Bulgaria và tiếng Pháp. Trong đó có nhiều tài liệu có giá trị như các bản ”tốc ký” ghi lại những lời phát biểu miệng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi gặp mặt với Đoàn Chủ tịch Quốc hội Bulgaria, biên bản các cuộc hội đàm giữa các nhà lãnh đạo hai nước, các chỉ thị và nghị quyết đặt tên Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các đại lộ, nhà trẻ, nhà máy ở Bulgaria…

Tháng 5/2007, nhờ sự giúp đỡ của Quốc hội Bulgaria, Đại sứ quán nước ta đã nhận được hai tập bản sao báo “Sự nghiệp Công nhân” – Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Bulgaria và báo “Mặt trận Tổ quốc” – Cơ quan ngôn luận của Đoàn Chủ tịch Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc Bulgaria (từ ngày 13 đến ngày 19/8/1957) đang lưu giữ tại Quốc hội. Trong đó, các báo đăng tải các tin, bài, văn kiện, lời phát biểu của lãnh đạo hai nước… diễn tả đầy đủ toàn cảnh chuyến thăm của Bác qua hệ thống truyền thông Bulgaria. Dựa trên những tư liệu quý bước đầu sưu tầm được, trước hết nhóm biên soạn tiến hành cuộc hành trình ”Theo dấu chân Bác Hồ” trên tư liệu báo chí. Những tư liệu đó đã cho thấy, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Bulgaria đã dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh sự đón tiếp hết sức nồng nhiệt, trọng thị, hữu nghị và thân thiết, thể hiện tình cảm chân thành với lòng kính trọng và tình yêu cao quý nhất của nhân dân Bulgaria anh em đối với nhân dân Việt Nam anh hùng. Báo chí Bulgaria mô tả nhân dân Bulgaria đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh như một vị anh hùng huyền thoại của một dân tộc vĩ đại. Đồng thời khắc họa trong tâm khảm của người dân Bulgaria hình ảnh của “Bác Hồ” khiêm tốn, giản dị, cởi mở, chân thành và giàu lòng nhân ái.

Vào một ngày cuối thu năm 2007, lãnh đạo Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Bulgaria mời Đại sứ đến thăm. Cùng đi với Đại sứ còn có tiến sĩ Bạc Cầm Tiến, một nhà khoa học đang định cư tại Bulgaria. Sau này, Tiến sĩ Bạc Cầm Tiến được giao nhiệm vụ biên dịch những tài liệu tiếng Bulgaria sang tiếng Việt, phục vụ công tác biên soạn cuốn sách “Hồ Chí Minh trên đất nước Hoa Hồng”.  Ông Phạm Quốc Bảo nói rằng, đây là cơ hội để nhóm biên soạn tìm kiếm các tư liệu về Bác đang được lưu giữ ở Cục Lưu trữ Quốc gia Bulgaria. Ông nói: “Điều cuốn hút chúng tôi nhất là những album ảnh và những tập tài liệu đã ố vàng bởi thời gian, nhưng được bảo quản rất chu đáo, trong đó có gần 40 bức ảnh quý, những bút tích và chữ ký nguyên gốc của Bác”.

Khám phá đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng nhất trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu này là mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Bulgaria đã có từ rất lâu, trước khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức (tháng 2/1950). Điều này đã được Bác Hồ “tiết lộ” trong lời phát biểu khi đến thăm Đoàn Chủ tịch Quốc hội ngày 14/8/1957: ”Mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Bulgaria đã có từ lâu rồi. Hôm nay tôi mới tiết lộ điều bí mật của mối quan hệ này”. Người kể về mối quan hệ thân thiết của mình với những người con ưu tú của dân tộc Bulgaria là Georgi Dimitrov và Vasil Kolarov khi người tham dự một hội nghị bí mật của Quốc tế Cộng sản trước khi đi vào hoạt động bí mật tại Trung Quốc.

Chính mối quan hệ mang ý nghĩa lịch sử sâu xa đó đã đặt nền móng xây dựng mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Bulgaria. Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, nhân dân hai nước không ngừng vun đắp cho mối quan hệ này ngày càng nở hoa kết trái.

Ông Phạm Quốc Bảo, nguyên Đại sứ nước ta tại Cộng hoà Bulgaria.

Theo ông Phạm Quốc Bảo, bước đầu tiên – như cách ông nói – theo chân Bác trên đất nước Hoa Hồng qua tư liệu báo chí cho thấy:

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh là đóng vai trò to lớn trong việc phát triển quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Bulgaria, đồng thời góp phần củng cố sự đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa thời đó vì sự nghiệp hoà bình, tiến bộ xã hội trên thế giới.

Một trong những mục đích quan trọng của chuyến thăm còn nhằm vào việc củng cố sự đoàn kết và thống nhất hành động giữa các nước xã hội chủ nghĩa chống chạy đua vũ trang và chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc thời bấy giờ. Điều này đã được nêu rõ trong Tuyên bố chung của chuyến thăm.

Trong bài xã luận ngày 18/8/1957, Báo “Mặt trận Tổ quốc” Bulgaria gọi Đoàn đại biểu ta là ”Những vị sứ giả của tình hữu nghị và đoàn kết giữa các dân tộc”.

Phóng sự báo “Sự nghiệp Công nhân” đã ghi lại những chi tiết quý báu của hoạt động ngoại giao “Hồ Chí Minh” trong buổi đến thăm nông trang Pêruxtixa. Lúc đó, tại buổi họp mặt, khi nhận bình rượu vang từ tay đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Đảng Cộng sản Bulgaria, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa chậm rãi đọc dòng khẩu hiệu trên tường bằng tiếng Bulgaria “Hãy củng cố sự thống nhất giữa những người cộng sản và nông dân!”, vừa rót rượu, mỉm cười mời Chủ tịch Đảng Liên minh Nông dân. Sự tinh tế, sâu sắc trong phong cách “ngoại giao nhân dân” Hồ Chí Minh đã được mọi người có mặt vỗ tay nhiệt liệt hưởng ứng. Như vậy, với một cử chỉ rất bình dị, thân tình trong một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, Người đã kịp chuyển đến các vị lãnh đạo của bạn thông điệp về tầm quan trọng và sức mạnh của sự đoàn kết và thống nhất…

Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Bulgaria ủng hộ hoàn toàn đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Lãnh đạo hai nước khẳng định sự cần thiết phải có những nỗ lực chung của tất cả các lực lượng yêu chuộng hòa bình, nhằm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt sự chia cắt đất nước, góp phần tích cực vào việc củng cố hòa bình ở khu vực và trên thế giới.

Sự đoàn kết gắn bó giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước dựa trên những nét tương đồng về hoàn cảnh lịch sử, lý tưởng cách mạng và lập trường kiên định trên các vấn đề quốc tế cùng quan tâm.

Sự kính trọng, khâm phục và đặc biệt là tình cảm nồng nhiệt, thân thiết và gần gũi mà nhân dân Bulgaria đã dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những tình cảm đặc biệt mà nhân dân Bulgaria dành cho Bác xuất phát từ uy tín lớn lao và khả năng cảm hoá đặc biệt của Người. Ông Andey Evtimov Penchv – một nhân chứng lịch sử đã tâm sự: ”Một ấn tượng mạnh mẽ đọng lại trong tôi là chỉ qua một lần gặp mặt tại cuộc mít tinh ngắn ngủi mà Bác Hồ đã trở nên vô cùng gần gũi thân thiết với tất cả những người có mặt tại đây. Họ xem Người như một người thân. Chỉ trong khoảnh khắc Người đã chiếm được lòng tin của tất cả. Ai cũng muốn được tự mình góp phần ủng hộ đồng bào Việt Nam anh em. Sức mạnh vô hình từ Người đã lôi cuốn họ: tính khiêm tốn giản dị, niềm mong muốn vô tận được tiếp xúc với mọi người dân bình thường, khả năng diễn đạt nội dung phong phú bằng rất ít lời và yếu tố không kém phần quan trọng là phong thái trí thức, thanh cao trong mọi cử chỉ của Người…”.

Nguyễn Vũ Cân
dangcongsan.vn

Truyền thông thế giới phản ánh cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968

QĐND – Cách đây vừa tròn 45 năm, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 với vai trò và hệ quả mang tính bước ngoặt trong Chiến tranh Việt Nam, đã gây chấn động lớn trong dư luận không chỉ ở nước Mỹ mà trên toàn thế giới. Sự chấn động ấy được thể hiện sâu sắc qua những trang báo, những ấn phẩm lúc bấy giờ và cả sau này…

Trận tiến công rất đỗi kinh ngạc

Trong lịch sử chiến tranh thế giới cũng như lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ có cuộc tiến công đồng loạt, đều khắp và rộng lớn như Mậu Thân 1968. Cuộc tổng tiến công đã đánh vào 4/6 thành phố, 37/46 thị xã và hàng trăm thị trấn trên toàn miền Nam, làm rung chuyển cả Nhà Trắng và Lầu Năm góc, khiến báo chí thế giới bàng hoàng. Hãng thông tấn Roi-tơ của Anh, ngày 3-2-1968, đưa tin: “Quy mô và tính chất ác liệt của các trận tiến công phối hợp ở Sài Gòn và các trung tâm quan trọng khác tại miền Nam Việt Nam làm cho Mỹ và các nước đồng minh rất đỗi kinh ngạc”. Tờ Người bảo vệ (Anh) viết: “Người ta không thể tin là một sự kiện như thế lại có thể xảy ra”.

Biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam tại thành phố Niu Y-óoc năm 1968. Nguồn: AP

Không chỉ báo chí nước ngoài lên tiếng mà cả những tờ báo danh tiếng tại Mỹ cũng có những nhận định chua chát về chính cuộc chiến do mình gây nên. Tờ Tin tức Oa-sinh-tơn đã viết: “Các cuộc tiến công ồ ạt, táo bạo của Cộng sản ngày 31-1 là một điều đáng kinh ngạc. Mỹ đã phải dùng máy bay lên thẳng đổ bộ xuống nóc nhà sứ quán Mỹ ở Sài Gòn đang mù mịt trong khói đạn để giành lại ngôi nhà được coi là “chống du kích”, đã bị Cộng sản chiếm trong 6 giờ liền. Chỉ riêng cảnh tượng đó cũng đủ để xóa tan những nhận định lạc quan trước đó của Chính phủ Tổng thống Giôn-xơn”.

“Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam nói rằng đây là chiến thắng, nhưng thực chất nó chỉ là chiến thắng trống rỗng”, “cuộc tiến công thậm chí còn khiến công luận Mỹ nhận ra rằng, cuộc chiến tranh Mỹ tiến hành ở Việt Nam là hành động vô cùng dại dột”… đó là hàng loạt những lời nhận xét xác đáng đăng kèm theo ảnh một số lính Mỹ bị thương trong một cảnh đổ nát ở gần Sài Gòn mà tờ Time nổi tiếng của Mỹ đã đưa ra thời đó. Số ra ngày 31-3-2003, nhân kỷ niệm 80 năm tồn tại của tờ báo này đã dành một phần đặc biệt viết về những ngày đáng nhớ trong lịch sử nước Mỹ. Trong đó, có 2 ngày đặc biệt mà nhân dân và quân đội Mỹ không bao giờ quên, đó là ngày 31-1-1968 (Tết Mậu Thân) và ngày 30-4-1975. Tờ Time cũng từng nhận định, chính cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã khiến L.B.Giôn-xơn không thể tái ứng cử tổng thống Mỹ.

Cú đấm nặng nề

Thực tế đã chứng minh chính người dân nước Mỹ là những người cảm nhận rõ nét nhất tác động của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Trong cuốn hồi ký “Thanh gươm và lưỡi cày”, xuất bản tại Niu Y-óoc năm 1972, tướng Mắc-xoen D. Tay-lo (Maxwell D.Taylor), cựu Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn và cũng từng là cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ L.B Giôn-xơn (L.B Johnson), đã miêu tả: “Ngày 31-1-1968, quân địch (tức Quân Giải phóng) tiến công và chỉ trong vòng 2 ngày, họ đã tiến vào 5 đô thị lớn, 39 tỉnh lỵ và nhiều thành phố. Những trận tiến công đã được báo chí Mỹ tường thuật bằng những hàng tít lớn và chiếu trên màn ảnh vô tuyến truyền hình. Điều này đã làm cho phần lớn dân chúng và một số quan chức Mỹ kinh hoàng. Thậm chí cho đến mãi sau này, sự kinh hoàng đó vẫn còn trong tâm trí họ”.

Về phần mình, tướng Mắc-xoen D. Tay-lo cũng thú nhận, bất ngờ thực sự mà cuộc tiến công Tết 1968 đã gây cho ông không phải việc Quân giải phóng mở một cuộc tiến công lớn mà chính là mức độ mãnh liệt của hàng loạt cuộc tiến công đổ dồn vào thời điểm đó. “Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta phải công nhận, đối phương đã giáng cho Chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề”, đó là câu chốt được đánh giá là vô cùng xác đáng trong cuốn “Tường trình của một quân nhân” của Tướng W.C Oét-mo-len (W.C.Westmoreland) – nguyên Tư lệnh Bộ Chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Sức mạnh có hạn của Mỹ

Cuộc tổng tiến công của đối phương vào tận đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn càng cho thấy những bằng chứng về sức mạnh có hạn của Mỹ ở châu Á. Mỹ có đến nửa triệu quân ở Nam Việt Nam, đã mất 13 năm và đã tiêu mỗi ngày 60 triệu USD mà vẫn không bảo vệ được một tấc vuông đất nào ở miền Nam Việt Nam. Thời báo Niu Y-óoc, tờ báo lớn nhất nước Mỹ, đã đăng những dòng như vậy trong số ra ngày 1-2-1968. Cũng tờ báo này, số ra ngày 2-1-1968, đã nhấn mạnh: “Chiến thắng của Việt cộng không những chứng minh sự suy yếu của cơ cấu chính trị Mỹ mà còn đe dọa thủ tiêu hoàn toàn cơ cấu chính trị này”. Tác giả bài báo còn đánh giá: “Hậu quả chính trị do thắng lợi đáng kinh ngạc của Việt cộng gây ra lần này mới là nguy hại nhất”.

Còn N. Si-han (N. Sheehan), tác giả Mỹ khi viết cuốn sách “Sự lừa dối hào nhoáng” (A Bright Shining Lie) cũng cho rằng, tướng lĩnh và quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam đã nói dối trắng trợn nhân dân Mỹ rằng, cuộc công kích Tết Mậu Thân là chiến thắng của Mỹ và quân đồng minh miền Nam. Đó không chỉ là những dòng chữ chát chúa, cay đắng đối với chế độ của Tổng thống Mỹ Ních-xơn mà là những minh chứng hùng hồn về chiến thắng rõ ràng của dân tộc Việt Nam.

Truyền thông Mỹ đã có tác động mạnh đến dư luận Mỹ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, đặc biệt là vào thời điểm sau Tết Mậu Thân 1968, 16 triệu thanh niên Mỹ đã đốt thẻ và chống lệnh đi quân dịch. Kể cả những lính Mỹ đang ở Việt Nam cũng công khai phản đối chiến tranh.

Qua một số sách báo Mỹ và nước ngoài nói về sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, có thể nhận thấy, dù ở góc độ nào, dưới con mắt của các nhà khoa học quân sự, nhà chính trị, nhà sử học hay nhà báo, từ người dân bình thường đến các tướng lĩnh cao cấp, thậm chí cả Tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ lúc bấy giờ, đều phải thừa nhận tác động to lớn của sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 đối với toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.

Trong hồi ký của mình, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã từng thú nhận: “Dù so với bất kỳ tiêu chuẩn nào thì cuộc tiến công Tết cũng là một thất bại quân sự nặng nề” (của Mỹ). Cựu Ngoại trưởng Mỹ Hen-ri Kít-xinh-gơ (Henry Kissinger) cũng nhận xét: “Việc Tổng thống chúng ta chỉ có thể gặp người lãnh đạo một nước mà hơn 30.000 người Mỹ đã phải chết vì nó trên một hòn đảo hiu quạnh trong một khung cảnh đẹp trời của Thái Bình Dương chứng minh tình hình rối như tơ vò mà chiến tranh Việt Nam đã dìm xã hội chúng ta vào”. Trong cuốn sách “Những năm tháng ở Nhà Trắng”, Hen-ri Kít-xinh-gơ từng viết rằng, ngày nay hầu hết chuyên viên về Việt Nam công nhận đó là một thất bại thảm hại của Mỹ.

Chính những thừa nhận này chứng tỏ tầm vóc và ý nghĩa sâu sắc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968 của quân và dân Việt Nam ở miền Nam. Nó đập tan những luận điểm sai trái và xua đi những nghi ngờ về thắng lợi của quân giải phóng trong Tết Mậu Thân năm 1968.

HÙNG HÀ
qdnd.vn

Khoảnh khắc trước giờ G

QĐND – Sáng 30 Tết Mậu Thân 1968, tôi đang chuẩn bị đến gặp đồng chí Phạm Xuân Ẩn để nắm tình hình và bàn công việc thì có thư hỏa tốc của trên do cô giao liên đem đến. Nội dung lá thư chỉ một câu: “Anh Tư ra gặp tôi gấp”. Ký tên: Sáu Trí.

Cô giao liên cho biết, địa điểm gặp ở Sở Cao su Bến Củi, đường đi ước chừng trên một trăm cây số. Tôi mượn chiếc xe Hon-đa nữ của cô Tám Thảo. Cô Thảo mua thêm giỏ hoa và trái cây, bánh mứt để ngụy trang trên đường. Tôi và cô giao liên đóng vai vợ chồng ngày 30 về quê cúng ông bà. Vì vậy, dọc đường, tuy qua rất nhiều trạm kiểm soát của địch, nhưng chúng tôi không gặp bất kỳ trở ngại nào. Chúng tôi đến nơi thì đã gần 4 giờ chiều. Bến Củi cách Dầu Tiếng một cây cầu bắc ngang sông Sài Gòn. Hai bên đều là rừng cao su bạt ngàn. Bên Dầu Tiếng thì còn đồn, bốt giặc, bên Bến Củi là vùng du kích. Bàn giao tôi cho tổ giao thông vũ trang, cô giao liên từ giã, vội vàng trở về dãy nhà lụp xụp của công nhân cao su.

Anh em trong tổ giao thông vũ trang đều thuộc Cụm Tình báo H63 mà tôi là cụm trưởng. Lâu ngày gặp lại tôi từ thành phố ra, anh em mừng lắm. Anh em cứ quấn lấy ngắm nhìn mái tóc quăn xịt keo và đôi giày da bóng lộn của tôi, tỏ vẻ ngạc nhiên về thủ trưởng của mình. Tôi nói: “Vô thành phố phải vậy chớ sao tụi bây! Mai mốt đứa nào vô thành phố phụ với tao cũng phải cải trang vậy thôi”.

Đại tá Nguyễn Văn Tàu và Tám Thảo, nguyên chiến sĩ tình báo trong cụm H63. Ảnh tư liệu

Tôi giao xe và chìa khóa cho Khắc Vệ, tổ trưởng, rồi theo chân chiến sĩ Ghém đi gặp anh Sáu Trí. Tôi và anh Sáu Trí vốn biết nhau từ hồi kháng chiến chống Pháp. Lúc đó, anh là Phó ban Quân báo Khu 7, tôi là cán bộ nằm trong tổ nghiên cứu địch do đồng chí Trần Văn Danh làm tổ trưởng. Năm 1964, anh được rút trở ra căn cứ, làm Trưởng phòng Tình báo Miền (B2).

Đêm 30 Tết trong rừng, với ánh sáng lù mù từ ngọn đèn dầu leo lét, anh Sáu phổ biến nghị quyết của Bộ Chính trị cho tôi. Sau khi phân tích cặn kẽ tình hình địch, tình hình ta; nghị quyết nêu ra phương hướng hành động mới: Tình hình cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định.

Rừng về khuya, sương lạnh mà nghe ấm lòng. Tôi thấy phấn khởi như hồi năm 1960, được nghe Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, đồng ý cho miền Nam được kết hợp tự vệ vũ trang với đấu tranh chính trị.

Sáng Mồng 1 Tết, anh Sáu phổ biến cụ thể: Đêm Mồng 1, rạng sáng Mồng 2 Tết, quân ta sẽ nổ súng Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam. Là người đã cùng anh chị em trong cụm trực tiếp tham gia chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công, từ việc phát hiện sơ hở của địch trong những ngày Tết cho đến việc vẽ sơ đồ, chụp ảnh các mục tiêu… Vậy mà nay, nghe phổ biến giờ nổ súng ngay trong đêm nay, lòng tôi tràn ngập niềm vui đến không cầm được nước mắt. Chiến tranh sắp đến hồi kết thúc rồi chăng? Chiều nay, tôi phải về Sài Gòn để kịp phổ biến cho anh chị em trong cụm.

Tạm biệt anh Sáu, tôi trở ra trạm liên lạc thì một tình huống không ngờ xảy ra. Anh em trong tổ giao thông thấy chiếc xe đẹp nên chạy thử, nhưng vì không quen nên té làm hỏng xe, đi sửa chưa thấy về. Ra chỗ cánh công nhân sửa giùm, họ bảo: Chúng tôi không biết về loại xe này, thấy chỗ nào cong thì uốn lại thôi, còn máy không nổ thì đành chịu.

Tôi vặn công tắc điện, đạp cần phát động. Máy vẫn im lìm. Tôi rút khăn tay lau mồ hôi trán. Thế này thì không kịp về Sài Gòn mất! Thử áp dụng biện pháp cuối cùng, tôi bảo: Tao ngồi lên xe, tụi bây sáp vô đẩy cho mạnh. Tôi dận cần số. Máy nổ giòn. Êm tai mát ruột làm sao. Tôi dừng lại nói lớn: “Tao đi luôn, tụi bây mạnh giỏi nhé”.

Ra đến Quốc lộ 1 thì đã 7 giờ tối. Tôi hình dung các binh đoàn chủ lực của ta đang hăm hở tiến về Sài Gòn trên những cánh đồng bên trái, bên phải kia. Đồng đội đi trên ruộng lầy, còn tôi đi trên đường tráng nhựa… Khi tôi ra khỏi địa bàn xã An Tịnh thì bất ngờ đụng cụm xe tăng địch. Hai thằng Mỹ bước tới, chĩa thẳng súng vào tôi. Một thằng hỏi: “Vi xi?”. Tôi trả lời: “Ô, nô vi xi” và nói câu chúc Tết: “Happy New Year”. Một thằng lại gần, nói câu chúc Tết và hỏi tôi đi đâu vào giờ này. Tôi nói đi chúc Tết cha vợ trên Trảng Bàng, hơi quá chén nên giờ này mới về.

Tôi lấy bao thuốc ra mời và dò hỏi hai tên Mỹ vì sao không nghỉ Tết, hai bên đã tuyên bố ngừng bắn để người dân ăn Tết kia mà? Chúng cho biết, đêm qua, ngoài Huế và nhiều thành phố khác đã bị Việt Cộng bất ngờ tiến công.

Nghe đến đây, lòng tôi đầy nỗi băn khoăn. Vì sao ngoài đó lại nổ súng trước? Nếu vậy thì giặc trong thành đã phòng bị, tối nay anh chị em đặc công biệt động của mình sẽ gay go.

Tôi về đến Sài Gòn lúc 9 rưỡi tối. Sau khi phổ biến cho đồng đội và giao nhiệm vụ, tôi vẫn đủ thời gian đi một vòng xuống bến Bạch Đằng, lên đường Thống Nhất, kiểm tra lại mục tiêu chính như Bộ tư lệnh Hải quân, Tòa đại sứ Mỹ, dinh Độc Lập… Xong việc, tôi trở về căn nhà ở 136B đường Gia Long, nơi đồng đội đang chờ. Thấy tôi an toàn, Tám Thảo rất mừng, nói: “Tối qua, giờ Giao thừa, em và ba lén vặn đài Hà Nội, nghe Bác Hồ chúc Tết. Nghe câu: “Tiến lên, toàn thắng ắt về ta”, ba em phấn khởi quá, nói năm nay chắc ngon lành lắm”. Tôi nói nhanh: “Chốc nữa, súng quân ta sẽ nổ khắp Sài Gòn, mở ra giai đoạn tổng khởi nghĩa nhằm đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn…”.

Giờ G trên toàn miền Nam được quy định từ 0 đến 2 giờ ngày 31-1-1968, tức đêm Mồng 1, rạng sáng Mồng 2 Tết Mậu Thân. Một sự việc đáng tiếc là do sự đổi lịch ở miền Bắc, nên hướng Quân khu 5 và Tây Nguyên vẫn theo lịch cũ, nổ súng trước, còn B2 nổ súng sau theo lịch mới. Mặc dù vậy, chấp hành quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, đêm 31-1, rạng 1-2-1968, quân dân B2 đã thực hiện tổng công kích và nổi dậy đồng loạt tại Sài Gòn và hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn. Đợt 1 Tết Mậu Thân diễn ra từ 31-1 đến 25-2-1968. Ta đã đánh vào những cơ quan đầu não chỉ huy của Mỹ-ngụy. Tại nhiều thị xã, thị trấn và một số nơi ở Sài Gòn, quân ta trụ lại nhiều giờ hoặc nhiều ngày để đánh địch phản kích. Trong hồi ký của mình, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn thừa nhận, ta đã tiến công 36/44 tỉnh, thành phố ở miền Nam, bắn phá 5 trong 6 thành phố lớn và khoảng 1/4 trong số 248 quận lỵ. Ta đã bất ngờ, đồng loạt tiến công sào huyệt địch, gây choáng váng không chỉ giới chóp bu Mỹ-ngụy tại Sài Gòn mà thực tế Oa-sinh-tơn thừa nhận là đã “đưa chiến tranh vào lòng nước Mỹ”.

Tại buổi hội thảo khoa học “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968” do Bộ Quốc phòng và Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế tổ chức ngày 10-1-2008, trong tham luận của mình, đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư, khẳng định: Thắng lợi to lớn, rất oanh liệt của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm chấn động nước Mỹ và thế giới, làm đảo lộn chiến lược của địch trên chiến trường, tạo ra bước ngoặt chiến tranh, đánh dấu thất bại của “Chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Đại tá NGUYỄN VĂN TÀU, Anh hùng LLVT nhân dân
qdnd.vn

Thế trận vững chắc trên ba vùng chiến lược, tiến công đồng loạt, bất ngờ

Kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

QĐND – Nhằm tạo ra hiệu lực chiến lược mạnh, làm tan rã ý chí xâm lược của đối phương, Đảng ta chủ trương trong Tết Mậu Thân 1968 vừa tiến công đồng loạt vừa táo bạo hướng sức mạnh của chiến tranh cách mạng vào các đô thị miền Nam, xem đó là mũi nhọn thọc sâu vào yết hầu của địch, có tầm quan trọng chiến lược đối với toàn bộ chiến trường và toàn bộ cuộc chiến tranh, là đòn ác liệt nhất, đánh vào “tim óc”, “huyết mạch” của địch. Đó cũng là cách tốt nhất để phối hợp ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, tiêu diệt nhiều nhất sinh lực địch, làm sập chỗ dựa chính trị, đè bẹp ý chí xâm lược của chúng.

Trước khi tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy, bằng nhiều biện pháp, nhiều hình thức kết hợp, các cơ quan chỉ đạo chiến lược và các cấp chỉ huy chiến trường của ta đã tổ chức nghi binh chiến lược, nhằm phân tán lực lượng chủ lực địch, làm lạc hướng đề phòng của chúng. Từ những tháng cuối năm 1967, ta đã lần lượt mở một số chiến dịch ở vùng ven biên giới, ở Tây Nguyên, đồng thời duy trì các hoạt động quân sự ở vùng ven đô thị và các vùng nông thôn đồng bằng như lệ thường, làm cho địch lầm tưởng rằng lực lượng ta đã bị thương vong trong cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966-1967, không còn khả năng mở các chiến dịch ở đồng bằng như trước.

Ban chỉ huy thống nhất Phân khu 5 (Thị xã Thủ Dầu Một) bàn kế hoạch tác chiến trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Trên mặt trận ngoại giao, ta ngỏ ý rằng Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ đi vào đàm phán với Mỹ, càng làm cho nước Mỹ bị phân hóa giữa phái chủ chiến và phái chủ hòa, đồng thời giới lãnh đạo Mỹ càng tin là ta đã thực sự bị suy yếu trên mặt trận quân sự.

Tháng 1-1968, ta chủ động mở hai chiến dịch quân sự lớn trong đó có Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh và ngay lập tức thu hút sự chú ý của bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn và giới lãnh đạo Mỹ, khiến Mỹ nhận định và phán đoán sai lầm.

Hướng tiến công chủ yếu trong Tết Mậu Thân nhằm vào các đô thị ở miền Nam thực sự là một đòn bất ngờ lớn, khiến địch trên chiến trường không kịp trở tay, làm cho giới lãnh đạo Mỹ phải sững sờ, choáng váng. Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm kháng chiến, ta đã đưa được chiến tranh vào thành thị, biến hậu phương và hậu cứ địch thành chiến trường của ta. Đòn tiến công của ta đã nhằm trúng vào các mục tiêu yết hầu, huyết mạch của địch, bao gồm các cơ quan đầu não trung ương và địa phương của chính quyền Sài Gòn, các sở chỉ huy, sân bay, bến cảng, kho tàng, căn cứ truyền tin, đầu mối giao thông, đặc biệt là đánh vào Tòa đại sứ Mỹ… Đó là thành công lớn của Đảng ta trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, làm thay đổi một cách đột biến, đẩy địch vào thế bị động cả về quân sự và chính trị.

Bất ngờ không chỉ là hướng tiến công mà còn ở thời điểm tiến công. Thời điểm đó là dịp Tết Nguyên đán, lúc địch dễ bộc lộ sơ hở, chủ quan và lơi lỏng nhất trong việc đề phòng. Thực tiễn đã cho thấy việc chọn thời điểm tiến công bất ngờ vào dịp Tết của ta là rất sáng suốt, khi các đơn vị quân đội Sài Gòn chỉ còn một nửa quân số, khiến cho bộ chỉ huy quân sự Mỹ lúng túng ứng phó.

Nghệ thuật chọn hình thức và phương thức tiến công trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 rất sáng tạo. Chúng ta đã tiến công đồng loạt, tiến công bằng nhiều hình thức, nhiều lực lượng; không tiến công tuần tự từ ngoài vào trong mà kết hợp từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong, khiến cho địch đã bị bất ngờ càng thêm bất ngờ và lúng túng. Việc nghi binh chọn hướng, chọn thời điểm, mục tiêu, hình thức và phương thức tiến công chứng tỏ bước phát triển mới trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, trong nghệ thuật tiến công của Đảng, của quân và dân ta trên chiến trường. Trong khi chiến lược quân sự của Mỹ là “tìm và diệt”, nhằm đưa chiến tranh tới tận xứ sở của đối phương. Trong khi bộ chỉ huy quân sự của Mỹ tại Sài Gòn vẫn nhất mực tin rằng chiến lược của đối phương là “lấy nông thôn bao vây thành thị”, thì chiến tranh lại nổ ra mạnh mẽ, đồng loạt ngay giữa Sài Gòn và một loạt các thành phố, thị xã, thị trấn trên toàn miền Nam. Đầu năm 1968, lực lượng quân sự địch tại miền Nam lên tới gần 1 triệu 200 nghìn tên, với hệ thống chính quyền tay sai, ấp chiến lược và mạng tình báo đặc vụ giăng khắp mọi nơi, thì cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của ta, mà hướng chính nhằm vào các đô thị là một hành động “xuất thần”, khiến các nhân viên tình báo địch phải thú nhận thất bại cay đắng.

Để có được cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, hy sinh, nêu cao quyết tâm tiến công địch, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng vững chắc trên khắp ba vùng chiến lược, tổ chức và bố trí hợp lý lực lượng chính trị và LLVT ba thứ quân ở đô thị, vùng ven, vùng nông thôn đồng bằng và rừng núi. Đó là kết quả của quá trình nắm bắt thực tiễn trên chiến trường và tình hình nội bộ nước Mỹ, từ đó tính toán, chọn lựa và tìm ra cách đánh, cách thắng Mỹ phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam.

Đại tá, TS NGUYỄN THÀNH HỮU
qdnd.vn