“Pho sử sống” của đặc công Rừng Sác

QĐND – Người được mệnh danh là “pho sử sống”, từng là “linh hồn” của đặc công Rừng Sác chính là Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Lê Bá Ước (Bảy Ước), nguyên Chính ủy Đoàn 10. Trong hàng nghìn trận đánh của đặc công Rừng Sác thì trận tiêu diệt đồn Giồng Ông Đông, thuộc xã Phú Hữu (nay là xã Phú Đông) huyện Nhơn Trạch (Đồng Nai) diễn ra vào đêm Mồng Một Tết Mậu Thân năm 1968, thể hiện rõ bản lĩnh, sự nhạy bén của vị chỉ huy huyền thoại này.

Trong căn nhà ấm cúng của Đại tá Lê Bá Ước ở phường Quyết Thắng, TP Biên Hòa một ngày Xuân Quý Tỵ, chúng tôi có dịp được nghe ông kể về trận đánh năm xưa: “Ngày Mồng Một Tết Mậu Thân, tôi bí mật vào trong dân tìm hiểu thêm tình hình. Bà con Phú Hữu thông báo rõ quy luật hoạt động của địch và cho biết, chỉ huy đồn Giồng Ông Đông là tên chuẩn úy Sáu, quê ở Bến Tre. Đột nhiên, tôi nảy ra sáng kiến, ngay đêm hôm đó, trong khi đơn vị triển khai đội hình, tôi nhờ một cụ già ở địa phương dẫn đường đưa tới gần phía trước đồn địch. Lựa chỗ có địa hình thuận lợi, tôi bắc loa kêu gọi dõng dạc: “Chuẩn úy Sáu, tôi biết rõ anh quê ở Bến Tre và đang chỉ huy lực lượng bảo an ở đây. Ngày Tết cổ truyền, cha mẹ, vợ con anh đang mong đợi. Hiện nay, cách mạng đang tổng tiến công mãnh liệt ở mọi nơi, anh hãy buông súng và đưa lính ra đầu hàng ngay thì chúng tôi không tiến công đồn. Bằng không, tất cả sẽ bị tiêu diệt”.

Lúc đầu, địch im phăng phắc. Dường như lời kêu gọi đã làm nao núng tinh thần phần đông tụi lính nên chỉ ít phút sau, một số tên bỏ chạy ra bờ ruộng, một số chạy thục mạng về sau, trong đó có cả tên chuẩn úy Sáu.

Đại tá Lê Bá Ước giới thiệu chiếc đế giày của phi công Mỹ bị cá sấu rừng Sác ăn thịt.

Tuy nhiên, trong đồn còn tên đồn phó cùng mấy đứa ác ôn hô nhau bám trụ chống trả. Chúng bắn xối xả về phía tiếng loa. Lê Bá Ước liền rút nhanh khỏi đó. Đồng chí Tám Sơn, Đoàn trưởng, ra lệnh cho đơn vị tiến công. Đặc công xé hàng rào áp sát đồn địch, khống chế hỏa lực địch và tiêu diệt quá nửa số lính của đại đội bảo an. Tuy nhiên, do nắm địch không kỹ nên ta không phát hiện được vị trí khẩu đại liên của chúng. Xung kích 1 đã phát triển vào bên trong, xung kích 2 gặp khó khăn bởi khẩu đại liên của địch bắn quá dữ. Đồng chí Tám Sơn bò tới chỗ Lê Bá Ước, nói: “Anh Bảy, cho xung kích 3 lên thôi”. “Tôi lưỡng lự suy tính. Vừa lúc đó, tôi nhận được báo cáo, có 2 trường hợp hy sinh sau khi cắt hàng rào lô cốt, trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Nở là chủ nhiệm trinh sát trung đoàn. Tôi nói với đồng chí Đoàn trưởng: “Nếu tiếp tục kéo dài sẽ bất lợi, nhất định bọn chúng sẽ gọi hỏa lực chi viện”. Đồng chí Tám Sơn nhất trí, hạ lệnh lui quân. Đúng như dự tính của tôi, khoảng 30 phút sau, Mỹ cho pháo kích dữ dội xung quanh khu vực đồn”-ông Ước hào sảng kể tiếp.

Vậy là, trận tiến công đồn Giồng Ông Đông, mặc dù đánh không đúng sở trường nhưng Đoàn 10 đặc công Rừng Sác vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cũng trong thời điểm ấy, các đơn vị của Đoàn đồng loạt triển khai tiến công ở nhiều nơi trên địa bàn giáp ranh Sài Gòn. Cả đặc khu Rừng Sác hừng hực khí thế tổng tiến công đánh vào những mục tiêu trọng yếu làm lung lay tinh thần quân địch, mở đường cho thắng lợi cuối cùng.

Bài và ảnh: HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

“Đòn sấm sét” quyết định (kỳ 2)

Cuộc tổng tiến công, nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và ba bài học giá trị

Đòn bất ngờ

QĐND – Bài học thứ ba là: Chủ trương đúng đắn, thắng lợi quyết định. Như kế hoạch và chủ trương đã định, cuối tháng 1-1968 ta bắt đầu mở hoạt động lớn ở Mặt trận đường số 9-Khe Sanh, xem như một đòn chính của bộ đội chủ lực ta, nhằm đánh lạc hướng, thu hút quân cơ động của Mỹ, vây hãm, giam chân, tiêu hao địch tạo thế cho các chiến trường khác tiến công và nổi dậy. Tướng Oét-mo-len vội vã điều quân tăng cường giữ và cho không quân ném bom dữ dội, chở quân đổ bộ xuống khu vực Khe Sanh. Sau đợt Tết, quân ta tiếp tục bao vây Khe Sanh, dùng các hỏa lực và đánh lấn khiến Bộ Quốc phòng Mỹ tính tới khả năng ta có thể tạo ra một “trận giống như Điện Biên Phủ”. Địch đã rơi vào cái bẫy của ta.

Một cuộc gặp giữa đoàn đàm phán Việt Nam và Mỹ ở Hội nghị Pa-ri. Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã góp phần buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán ở Pa-ri. Ảnh tư liệu

Trên chiến trường nước bạn Lào, từ ngày 12 đến ngày 27-1-1968, quân đội Pa Thét Lào và quân tình nguyện Việt Nam mở chiến dịch Nậm Bạc đại thắng. Chiến thắng này đi trước và phối hợp nhịp nhàng với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên chiến trường miền Nam. Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, đêm Giao thừa Xuân Mậu Thân, quân dân miền Nam đồng loạt Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền đánh vào 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn. Bốn bộ tư lệnh quân đoàn, hầu hết các bộ tư lệnh sư đoàn, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần bị đánh. Trong đó có những trận gây chấn động lớn trong giới cầm quyền Mỹ và có tiếng vang mạnh mẽ trên thế giới như trận đánh vào tòa Đại sứ Mỹ, dinh Độc Lập ngụy, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Đài phát thanh ở Sài Gòn và 25 ngày đêm làm chủ thành phố Huế…

Phối hợp với cuộc tiến công vào đô thị của các lực lượng vũ trang và được sự giúp sức của lực lượng vũ trang, nhân dân đồng bằng Nam Bộ đã nổi dậy, phá tan phần lớn bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền ở thôn xã, giành quyền làm chủ ở nhiều vùng, mở rộng và củng cố hậu phương của ta. Tuy vậy, trên thực tế đã không có tổng khởi nghĩa. Trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho đến lúc đó, chưa có cuộc ra quân nào có quy mô lớn và khí thế cao như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ta đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực của Mỹ, làm tan rã từng mảng lớn quân đội tay sai, giải phóng nhiều thôn ấp, phường phố gồm 120 vạn dân.

Trong khi lực lượng Mỹ – ngụy và chư hầu còn đông tới hơn 1 triệu 20 vạn tên, nắm trong tay những phương tiện chiến tranh hiện đại khổng lồ, đứng chân trên những căn cứ được phòng thủ vững chắc, thì quân dân miền Nam đã tiến công vào tận hang ổ của chúng, giành được thắng lợi to lớn chưa từng có.

Trong khi bộ chỉ huy quân Mỹ chờ đợi một cuộc tiến công thì cuộc tiến công đã được đoán trước lại xảy ra như một bất ngờ. Sức mạnh, thời gian, không gian, cường độ và mức phối hợp của cuộc tiến công làm cho sự bất ngờ càng tăng thêm. Mỹ luôn luôn bị bất ngờ, điều này đã hầu như có tính quy luật vì sự chủ quan, đánh giá thấp đối phương của họ. Còn về phía ta thì tạo được bất ngờ là kết quả của một quá trình tạo thế, tạo lực công phu, chu đáo, có tính toán và chuẩn bị về mọi mặt.

“Chiến tranh cục bộ” phá sản

Xuân Mậu Thân 1968 là một “đòn sét đánh” giáng vào đầu chính quyền Mỹ-ngụy, buộc Mỹ phải rời bỏ ảo tưởng để đối đầu với thực tế: Trước mặt giới cầm quyền Mỹ hiểu rõ khả năng lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, quân đội Mỹ bị đánh bại trong một cuộc chiến tranh. Kẻ sợ chiến tranh kéo dài không dứt là Mỹ chứ không phải là ta. Thế trận chiến tranh nhân dân của ta cho phép ta có thể đánh địch ở cả những điểm mà địch nghĩ là “bất khả xâm phạm”. Quyền chủ động sử dụng nhân tố thời gian và không gian là thuộc về chúng ta. Chúng ta có thể đánh lâu dài và đánh mạnh, càng đánh càng mạnh; càng mạnh, càng thắng; nơi nào muốn đánh đều đánh được, lúc nào muốn đánh đều đánh được.

Đòn tiến công Xuân Mậu Thân 1968 đã gây kinh hoàng cho cả nước Mỹ. Trên hầu hết các bang nước Mỹ rộ lên những cuộc biểu tình chống chiến tranh, đặc biệt là của giới sinh viên, học sinh. Nhiều người trong chính giới Mỹ đòi xét lại chính sách của Mỹ đối với cuộc chiến này. Trong nội bộ các cố vấn thân cận của Tổng thống Mỹ diễn ra sự chia rẽ gay gắt. Tổng thống Giôn-xơn đã phải triệu tập một cuộc họp “những người am hiểu nhất”. Sau hai phiên tranh luận kéo dài, phần đông tán thành chấm dứt leo thang chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam và có những biện pháp đi đến tách ra khỏi cuộc chiến tranh này.

Ngày 31-3-1968, Giôn-xơn thông báo quyết định đơn phương ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Pa-ri và tuyên bố không ra tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ hai. Có thể coi đó là sự thừa nhận công khai sự phá sản của chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Và rõ ràng là ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ đã bị lung lay. Nhưng Mỹ vẫn có ý đồ xảo quyệt, rút ra mà vẫn ở lại, chuyển sang thi hành chiến lược “phi Mỹ hóa” rồi “Việt Nam hóa” chiến tranh.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ta còn tổ chức mấy đợt tiến công nữa vào các thành thị, bỏ lỏng các vùng nông thôn, trong khi địch tiến hành “bình định cấp tốc” giành dân, nên đã gặp khó khăn trong một thời gian dài.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã giành được thắng lợi to lớn, toàn diện, có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Thắng lợi to lớn và quan trọng nhất là chúng ta đã tạo ra một sự thay đổi đột biến trong cục diện chiến tranh. Thế chiến lược của địch bị đảo lộn. Địch đã bị hãm vào thế đi xuống về chiến lược trên toàn bộ chiến trường, đặc biệt là mặt trận thành thị, phải chuyển sang chiến lược phòng ngự. Tiến công không được, phòng ngự không vững, đó là thế thất bại. So sánh lực lượng ta, địch đã chuyển biến một bước quan trọng có lợi cho ta.

Về chính trị, điều quan trọng nhất là địch đã nhận thấy sẽ thua nếu kéo dài chiến tranh. Nỗi lo thất bại lan rộng trong hàng ngũ Mỹ-ngụy. Cuộc tiến công phối hợp của ta trên mặt trận ngoại giao làm cho địch càng bị động, khó khăn hơn. Ta đã mở ra cục diện mới, tạo ra thế chiến lược mới, mặt trận mới, lực lượng mới, khả năng mới để tiến lên giành những thắng lợi mới to lớn hơn nữa.

Phân tích kết quả đợt tổng công kích, tổng khởi nghĩa Xuân Mậu Thân 1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (từ ngày 28 đến 31-8-1968) Đảng ta nhận định: “Với thắng lợi to lớn của 6 tháng mở đầu thời kỳ tổng công kích, tổng khởi nghĩa vừa qua, ta đã mở ra cục diện mới của chiến tranh, tạo ra thế chiến lược mới, lực lượng mới, khả năng mới… Ta đang ở thế thắng, thế mạnh và có đủ lực lượng để thực hiện quyết tâm đánh thắng Mỹ trong bất kỳ tình huống nào”. Đây là một chủ trương chiến lược đúng đắn và sáng tạo, là một sáng tạo lịch sử của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta.

(hết)

Đại tá Trần Nam Chuân
qdnd.vn

Quyết tâm chiến lược táo bạo (kỳ 1)

Quyết tâm chiến lược táo bạo (kỳ 1)

Cuộc tổng tiến công, nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 và 3 bài học giá trị

Lựa chọn phương án tối ưu

QĐND – Bài học thứ hai là: Quyết tâm chiến lược chính xác, sáng tạo, táo bạo. Chủ trương đã có, nhưng thực hiện được là cả một quá trình cực kỳ căng thẳng về trí óc và sức lực, bằng mồ hôi và máu, khắc phục nhiều khó khăn, vượt qua nhiều thử thách với nỗ lực phi thường.

Ban đầu, khi được Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ chuẩn bị kế hoạch chiến lược Đông Xuân 1967-1968, Bộ Tổng tham mưu đề ra phương án bao gồm những trận đánh tiêu diệt lớn với những chỉ tiêu định mức diệt sinh lực địch, giải phóng dân, làm tê liệt giao thông, đánh căn cứ lớn, đẩy mạnh đấu tranh đô thị, phá tuyển cử của địch. Đây là phương án chiến lược chính xác với chỉ tiêu cao hơn. Với phương án này, ta sử dụng lực lượng quân sự là chính nhằm đánh tiêu diệt lớn, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận từng bước giành quyền làm chủ ở các đô thị và vùng chung quanh. Nhưng khó khăn là cho đến lúc này, chủ lực ta còn thiếu kinh nghiệm đánh lớn, khả năng tiêu diệt đơn vị địch lớn hơn cấp tiểu đoàn chưa bảo đảm. Một lúng túng nữa là chọn chiến trường nào để ra đòn quyết định. Vả lại, làm theo kiểu tuần tự như tiến đánh theo mùa thì địch sẽ có thời gian hồi phục, tình hình sẽ kéo dài không thể tạo chuyển biến gì lớn. Về chiến lược, không tranh thủ được thời cơ có lợi, không đáp ứng được tình thế đã mở ra.

Quân ta tiến công trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968. Ảnh tư liệu

Bộ Tổng Tham mưu đã báo cáo những phương án, kế hoạch và xin ý kiến của đồng chí Lê Duẩn. Đồng chí nêu vấn đề: Mỹ đã đưa chiến tranh cục bộ đến đỉnh cao mà vẫn thất bại. Phải chăng lúc này đã có thể đưa chiến lược tiến công của ta đến bước phát triển tất yếu của nó là tổng công kích, tổng khởi nghĩa? Xong cần phải bàn bạc kỹ. Quân ủy Trung ương cần chuẩn bị để báo cáo Bộ Chính trị. Đến tháng 8-1967 đã hình thành ý định thay đổi phương án, lựa chọn phương án tối ưu phát huy sức mạnh tổng hợp lớn nhất bằng cách tổng tiến công kết hợp với nổi dậy, giáng cho địch một đòn quyết định, tạo cục diện mới của chiến tranh. Bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11-1967, các đồng chí phụ trách chiến trường ra báo cáo tình hình, thống nhất cao với chủ trương và cách đánh mới này. Ngày 20-10-1967, Bộ Chính trị nghe Quân ủy Trung ương báo cáo kế hoạch chiến lược toàn diện về tổng công kích-tổng khởi nghĩa. Và ngày 18-11-1967, Bộ Chính trị lại họp bàn về đề án phát động quần chúng tổng khởi nghĩa kết hợp với tổng công kích.

Ngày 18-1-1968, Bộ Chính trị họp nghe đồng chí Nguyễn Văn Linh báo cáo kế hoạch của miền Nam và hạ quyết tâm cuối cùng. Vậy là phải mất vài tháng nghiên cứu, bàn bạc, trao đổi với các chiến trường, các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy quân sự cấp cao, các địa phương, mới đi đến khẳng định một quyết định: Kết hợp hai đòn tổng tiến công và nổi dậy, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng lực lượng quân sự Mỹ-ngụy, đánh đổ ngụy quyền các cấp, làm thay đổi lực lượng so sánh có lợi cho ta hơn nữa. Trên cơ sở đó, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, phải xuống thang chiến tranh. Đồng thời, thực hiện sách lược mềm dẻo, lôi kéo và làm tan rã quân ngụy, mở đường cho Mỹ rút ra mà không mất thể diện.

Để thực hiện mục tiêu thắng lợi nói trên, chúng ta lựa chọn hướng công kích và khởi nghĩa chủ yếu nhằm vào các thành thị mà trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế. Thành thị là sào huyệt đầu não, trung tâm chỉ huy, nơi dự trữ nhiều trang bị kỹ thuật, hạ tầng cơ sở của không quân, hải quân, phương tiện thông tin, giao thông vận tải của địch. Đánh vào đây là đánh vào tim óc, huyết mạch, dạ dày của địch, nơi rất hiểm và nhạy cảm nhất, chỗ mạnh nhất cũng là nơi địch đang có sơ hở, từ đó tạo một tác động lớn. Ở đây ta sử dụng lực lượng quân sự tinh nhuệ (đặc công, biệt động), kết hợp mũi tiến công của lực lượng xung kích với những cuộc nổi dậy của quần chúng tại chỗ và vùng nông thôn kế cận, phối hợp quân sự và chính trị, thành thị và nông thôn. Đánh như vậy nhất định gây ảnh hưởng lớn đến cục diện chiến tranh, thắng lợi sẽ có tầm vóc chiến lược, “sức dùng một nửa mà công được gấp đôi”.

Đồng thời, ta chủ trương kéo chủ lực địch ra những chiến trường ta đã chuẩn bị nhằm giam chân và tiêu diệt nhiều địch, khiến cho địch không phán đoán được ý định của ta, tạo điều kiện cho các thành thị tiến công và nổi dậy. Đây cũng là một đòn chính của tổng công kích, một hướng tiến công của bộ đội chủ lực của ta.

Đạn đã lên nòng

Không gian tiến công bao trùm toàn miền, tiến hành đồng loạt trên quy mô rộng lớn chưa từng có. Thời gian tiến công được chọn đúng giữa Đêm Giao thừa Tết Nguyên đán – một thời điểm mà địch không ngờ tới. Đây thật quả là một quyết tâm chiến lược chính xác, sáng tạo, táo bạo.

Như vậy, việc lựa chọn phương hướng tiến công đánh đòn quyết định, việc tìm ra cách đánh tối ưu nhằm tạo hiệu lực chiến lược với lực lượng không nhiều, cũng như thực hiện phối hợp chiến trường trên quy mô toàn miền, cả nước đã làm cho trận chiến Tết Mậu Thân 1968 là một trận quyết chiến chiến lược chưa từng có trong cuộc chiến tranh giải phóng này. Đây quả là một sự sáng tạo độc đáo trong tư duy chiến lược của Đảng ta và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mẫu mực về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Song nhiều vấn đề cực kỳ phức tạp vẫn còn ở phía trước. Làm sao đưa một số lượng người và vũ khí không nhỏ vào ém sẵn sâu trong lòng địch, nơi chúng bảo vệ nhiều lớp, nhiều tầng, tưởng chừng ruồi bay khó lọt. Làm sao giữ được bí mật cả một hoạt động sôi nổi, dồn dập của cả ba thứ quân. Làm sao sắp xếp bố trí lực lượng chuẩn bị và phối hợp nhịp nhàng kịp thời các mũi tiến công. Thật khó mà nói hết được mức độ khẩn trương, căng thẳng của lao động trí óc của Bộ thống soái tối cao và các cấp lãnh đạo chỉ huy các chiến trường, các địa phương để bàn bạc, đóng góp trí tuệ, đề ra và tổ chức thực hiện quyết sách chiến lược lịch sử này. Và cũng khó mà hình dung hết được khối lượng đồ sộ công tác chuẩn bị tạo lực, tạo thế cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, chuẩn bị đề phòng cả tình huống địch có thể đánh phá hệ thống đê điều miền Bắc, kéo dài và mở rộng chiến tranh.

Dựa vào tinh thần làm chủ của nhân dân ta, ý thức trách nhiệm cao của các cấp, thế trận và lực lượng mà Đảng đã dày công chuẩn bị và xây dựng nên cho đến thời điểm lịch sử ấy, như đạn đã lên nòng chỉ chờ giờ hành động điểm là bắn ra nhằm thẳng yết hầu địch.

Đại tá TRẦN NAM CHUÂN (Còn nữa)
qdnd.vn

12 ngày đêm máu trộn hoa đào

QĐND – Chiều 30-1-1968, khi hoa anh đào cùng xác pháo nhuộm đỏ phố phường Đà Lạt thì cách đó không xa, trong khu rừng thuộc huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, 100 cán bộ, chiến sĩ dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Bùi Minh Hớn thẳng tiến về hướng Đà Lạt. Cạnh đó, trong căn phòng cưới vừa được dựng lên bằng tấm vải dù, nữ y tá Lê Thị Mai lặng lẽ cất cặp gối thêu màu trắng vào ba lô. Hôm nay là ngày cưới nhưng vì thời khắc trọng đại trên toàn miền Nam đã điểm nên họ đành gạt bỏ hạnh phúc riêng mình…

Lên đường trong ngày cưới

Với vợ chồng Thiếu tướng Bùi Minh Hớn, 45 năm qua, ngày Tết năm nào cũng gợi lại cho ông bà thật nhiều kỷ niệm. Bởi cái ngày cả nước nổ súng bắt đầu chiến dịch Mậu Thân 1968 cũng chính là ngày cưới “hụt” của hai người.

Tháng 1-1967, khi tham gia trận đánh gần Quốc lộ 20 tuyến Sài Gòn – Đà Lạt, Đại đội trưởng Bùi Minh Hớn bị thương nhẹ ở vai, phải vào Bệnh xá Tỉnh đội Tuyên Đức (nay là Lâm Đồng) để điều trị. Tại đây, anh được nữ y tá Lê Thị Mai, nguyên nữ sinh trường Bồ Đề, Đà Lạt trực tiếp chăm sóc. Vẻ đẹp dịu dàng và sự ân ần, chu đáo của nữ y tá trẻ khiến trái tim chàng sĩ quan giải phóng rung động. Trước đó, dù chưa biết mặt nhưng Mai cũng đã nhiều lần nghe danh Minh Hớn, một chỉ huy nổi tiếng gan dạ, dũng cảm, nhiều lần tổ chức bộ đội đánh những trận “xuất quỷ nhập thần” khiến địch kinh sợ. Tên tỉnh trưởng tỉnh Tuyên Đức ngày ấy là Trung tá Nguyễn Hợp Đoàn ra giá: “Thưởng 20 ngàn đô-la cho ai lấy được đầu Minh Hớn”. “Đầu tiên là mến vì tài nhưng khi tiếp xúc lại thấy anh ấy thật thà, khiên tốn nên đem lòng thương”- bà Mai nói.

Yêu nhau 2 năm, hai người quyết định báo cáo tổ chức cho phép thành vợ chồng. Do điều kiện công tác của cả hai đều rất bận rộn nên sau nhiều lần trì hoãn, cuối cùng họ cũng được đơn vị cho phép tổ chức lễ cưới vào chiều 30 Tết.

Bà Mai nhớ lại: Chuẩn bị cho đám cưới, anh em đơn vị giúp dựng một phòng cưới “dã chiến” bằng vải dù, còn bà chuẩn bị một ít bánh kẹo, thuốc lá để đồng đội đến chia vui. “Khi chúng tôi đang làm mọi công tác chuẩn bị và hồi hộp, náo nức chờ tới giây phút trọng đại của đời mình thì trưa 30-1, anh ấy nhận được chỉ thị phải lên gặp cấp trên nhận nhiệm vụ, 5 giờ chiều anh ấy mới về, nét mặt đăm chiêu. Anh nắm tay tôi rất chặt rồi nói: Do yếu tố bí mật nên tối nay bọn anh ra mặt trận, sắp tới sẽ đánh lớn. Vậy là lễ cưới của chúng mình sẽ không thực hiện được. Em đừng buồn, ngày chiến thắng sẽ là ngày cưới của chúng ta”.

Thiếu tướng Bùi Minh Hớn cùng vợ Lê Thị Mai.

12 ngày đêm máu trộn hoa đào

Từ biệt người vợ sắp cưới, Bùi Minh Hớn chỉ huy Đại đội 810 hành quân về Đà Lạt. Tại đây đơn vị của ông cùng Đội biệt động thành Đà Lạt và một trung đội đặc công đảm nhiệm đánh địch từ hướng Tây Bắc, chiếm các mục tiêu chủ yếu như: Tòa tỉnh trưởng, Ty cảnh sát, Tỉnh đoàn bảo an, Lữ quán thanh niên, Đại học chiến tranh chính trị, Chợ Đà Lạt và các ấp: Đa Phú, Đa Cát, Phước Thành.

Đêm 31-1-1968, đơn vị xuất phát tiến công thị xã Đà Lạt. 22 giờ cùng ngày, tổ đi đầu vừa tới đường Hai Bà Trưng, phát hiện một tiểu đội địch án ngữ phía trước. Đại đội nhanh chóng triển khai đội hình, hình thành 2 mũi bí mật, áp sát rồi bất ngờ nổ súng, 10 tên địch bị tiêu diệt, đơn vị nhanh chóng tiếp cận mục tiêu chủ yếu, tuy nhiên địch đã phát hiện hướng tấn công của ta nên chúng nhanh chóng triển khai đội hình và gọi hỏa lực đáp trả, cuộc chiến đấu diễn ra giằng co, quyết liệt. Địch tuy có tổn thất nhưng ta vẫn không chiếm được mục tiêu, phải lùi ra khu Hòa Bình tổ chức chức bám trụ ở đó.

8 giờ sáng ngày 2-2-1968, địch dùng lực lượng lớn cùng xe tăng và xe bọc thép hỗ trợ mở nhiều đợt đánh phá vào khu Hòa Bình, đơn vị kiên cường đánh trả, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên, bắn cháy 2 xe bọc thép. Đến 10 giờ, đơn vị rút ra phía tây thị xã, trụ lại khu vực Đa Cát, Phước Thành xây dựng trận địa đánh địch. Từ ngày 3 đến 12-2-1968, địch liên tiếp sử dụng bộ binh cùng các loại vũ khí hạng nặng như xe tăng, thiết giáp và máy bay tổ chức nhiều đợt tiến công. Dù phải chịu nhiều tổn thất nhưng với ý chí sắt đá và quyết tâm giữ vững trận địa, đơn vị đã đẩy lùi các đợt tiến công và gây cho địch nhiều tổn thất to lớn. Đêm 11-2-1968, được lệnh của cấp trên, Đại đội 810 rút về căn cứ.

12 ngày đêm tiến công và bám trụ đánh địch, dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Bùi Minh Hớn, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 810 đã vượt nhiều khó khăn, không do dự, chùn bước, bám trụ ngoan cường dưới mưa bom bão đạn của quân địch. Dù hơn một nửa cán bộ, chiến sĩ hy sinh và bị thương nhưng không ai tỏ ra nao núng, mà đều kiên quyết đánh trả hàng chục đợt phản kích của địch, giữ vững trận địa.

4 tháng sau kể từ ngày 30-1-1968, Đại đội trưởng Hớn và nữ y tá Mai mới gặp lại nhau. Lúc này bà Mai đã xung phong ra chiến trường, trực tiếp tham gia chiến đấu và chăm sóc thương binh. Đó cũng là lần đầu tiên họ được sống giây phút vợ chồng.

Sau Chiến dịch Mậu Thân, Đại đội 810 được bổ sung lực lượng và trở thành tiểu đoàn, được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, ông tiếp tục giữ chức tiểu đoàn trưởng, rồi Tham mưu phó Tỉnh đội Tuyên Đức. Sau năm 1975, ông là Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Ninh Thuận, về hưu năm 2001 với quân hàm Thiếu tướng. Còn bà tham gia công tác tại địa phương, về hưu năm 1993. Hiện nay ông bà vẫn mạnh khỏe và sống hạnh phúc cùng con cháu trong căn nhà trên đường Phù Đổng Thiên Vương, phường 8, thành phố Đà Lạt.

Bài và ảnh: VŨ ĐÌNH ĐÔNG
qdnd.vn

Mậu Thân 1968 – Cuộc tiến công lúc giao thừa

Huế 1968

QĐND – Năm 2004, NXB Schiffer Publishing phát hành cuốn Cửa vào Hoàng cung: Cuộc giải vây Huế Tết 1968 (Palace Gate: Under Siege in Hue City: TET January 1968)[1] của Trung tá phi công hồi hưu Ri-sớc Brao (Richard Brown). Người lái máy bay trinh sát Mỹ này đã chứng kiến những khoảnh khắc hệ trọng, khởi đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, tạo nên bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ tại địa bàn quan trọng thứ hai trên toàn miền Nam: Thành phố Huế.

Tiệc và pháo hoa ngày Tết

Các dịp Lễ tạ ơn, Thiên chúa giáng sinh và Tết Dương lịch ở Huế không có gì khác so với những ngày thường, chỉ có thực đơn nhà ăn sĩ quan là thay đổi. Vào kỳ Giáng sinh 1967, có thấy nói ngừng bắn, nhưng chúng tôi vẫn phải bay tất cả các phi vụ như ngày thường.

Bìa cuốn sách “Cửa vào Hoàng cung: Cuộc giải vây Huế Tết 1968”.

Tiệc tùng ngày Tết đều là các đại tiệc. Tôi đi dự hai trong số đó, trong đó có một đại tiệc do tướng Ngô Quang Trưởng làm chủ tiệc. Một ban nhạc dân tộc Việt mặc áo thụng đỏ và vàng công diễn cạnh một biệt thự của Pháp bên bờ sông Hương, gửi những giai điệu qua tất cả các cửa sổ nào mở. Hầu hết các nhạc công đều đã cao tuổi, khoảng từ 60 đến 70. Nhiều người trong họ để râu dài đến gần thắt lưng. Có lẽ họ đã từng chơi nhạc cho vua nhà Nguyễn.

Một đơn vị VNCH tăng cường cho sư đoàn BB 1 của quân đội Sài Gòn mời tất cả bộ phận giám sát không kích tại tiền duyên của không lực Mỹ tới dự tiệc Tết của họ. Mỗi chúng tôi cũng đóng tiền túi vào hỗ trợ chi phí cho bữa tiệc. Một trong các nghi thức là giết một con bò và xẻ thịt nó thành miếng cho món nướng. Một số thùng phuy loại 55 galon (200 lít) được xẻ dọc làm đôi. Nửa số thùng phuy bổ đôi này được đem đựng hỗn hợp sền sệt của gia vị và các đồ mắm xốt cay nóng để tạo thêm nhiệt từ chính chúng. Một nửa số thùng bổ đôi còn lại đựng than củi đốt cho hồng lên, trên đậy sẵn các vỉ lớn bằng sắt. Cách ăn là dùng một xiên tre nhúng một miếng thịt vào thùng đựng gia vị, tẩm nó cho đến khi thấm đẫm hương liệu, rồi kẹp vào vỉ nướng trên lửa. Khi miếng thịt đã chín, chúng tôi cần đến một quyết tâm cao để ăn hết nó. Bản năng tự đề kháng của cái bụng trước thách thức của món ăn nóng hừng hực này buộc ta phải nốc tất cả những chất lỏng nào trong tầm tay mình. Ấy vậy mà cuối tiệc tôi quay lại bãi nướng (barbecue) để tìm chút thịt nướng được mệnh danh là “cái chết đen”, nhưng chẳng còn một miếng nào. Một vài “con ma” (ý nói lính Mỹ, lính Sài Gòn) liều mạng đang cố thọc tay vào chỗ gia vị còn nóng, tìm một vài miếng thịt tuột khỏi xiên khi ngâm tẩm gia vị. Chỉ uống có dăm ngụm rượu, nhưng tôi cũng thấy ngà ngà say.

Sáng hôm sau, một nhân viên FAC xòe cho tôi cẳng tay cháy trụi hết lông. Không lẽ chúng tôi nhét ngần ấy thức ăn vào bụng. Không lẽ chúng tôi ăn hết một con bò?

Nửa đêm 29 Tết, tựa như mọi cỡ súng ở Nam Việt Nam đều tuôn hết đạn lên trời. Đạn súng máy, đạn vạch đường, pháo sáng, mọi hỏa khí nào có thể tạo tiếng nổ, hoặc soi sáng, đều phát hỏa. Ở Trung Quốc người ta đốt pháo để đuổi tà ma. Còn ở Việt Nam, tà ma bị súng bắn rụng.

Hàng triệu đô-la Mỹ bị bắn lên trời, và gần như mỗi xu đều đến từ người đóng thuế suốt đời tận tâm ở Hoa Kỳ. Nhưng những loạt tiếng nổ mà tôi sẽ được biết sau 24 giờ nữa sẽ chẳng ồn hơn bao nhiêu.

Trước giờ G

Sau khi giải quyết một số trục trặc kỹ thuật, tôi cất cánh theo kế hoạch, lên hướng thung lũng A Sầu vào rạng sáng 30 Tết. Điều kiện khí tượng như sau: Trời u ám, có mây mù. Quan sát không được tốt, do đó tôi hạ độ cao xuống, hướng về một điểm phía trên ngọn núi đầu tiên trên hướng này, tính toán sao cho không dễ bị trúng đạn từ mặt đất.

Một phần của phi vụ trinh sát là phát hiện bất cứ biểu hiện khác lạ nào, bất cứ thay đổi nào của địa hình. Trong thời gian 9 tháng ở đất nước này, tôi chưa hề nhìn thấy một bóng người nào trên mạng đường mòn trải từ mảnh đất dốc thoai thoải từ góc phía nam Huế tới ngọn núi đầu tiên, rồi từ đó tới rừng. Tôi nghĩ những con đường mòn này là do những người thiểu số sống ở đây thành đường. Một khi hàng tháng nay không có ai qua lại, cỏ đã mọc um tùm trên đường mòn.

Tôi không nhìn thấy ai trên đường mòn, nhưng những đám cỏ từng mọc bời bời trên đó cũng biến mất. Những đường mòn trở nên sậm màu và rộng ra; hoàn toàn không còn vết tích của màu xanh. Có nghĩa là đã có nhiều người đi trên con đường này hồi đêm.

Quân Mỹ phản kích tại Huế.

Tôi vẫn bay về hướng ngọn núi, nhưng linh cảm sẽ không có cách nào thật an toàn để bay vượt được tới A Sầu vào sáng hôm đó.

Hơn nữa, những con đường mòn thật đáng chú ý. Tôi vòng lại rồi bay về góc tây của thành Huế.

Tôi hạ cánh rồi đánh xe tới sở chỉ huy sư đoàn BB 1 của quân đội Sài Gòn. Không có ai ngoài một sĩ quan trực nhật không nói được tiếng Anh và vài người thư ký. Đại tá cố vấn A-đam (Adams) có vẻ không mấy quan tâm tới những gì tôi quan sát được. Tôi trình một báo cáo tình báo qua các kênh của không lực Mỹ rồi quay về trại. Đa số các cố vấn Mỹ xem nhẹ báo cáo này, vì các chỉ huy VNCH mà họ cố vấn cho sẽ không làm việc ngày Tết.

Tôi muốn quân lực VNCH báo động nhưng không thể tìm được ai có đủ thẩm quyền. Chiều tối hôm đó tôi lại cất cánh để quan sát những gì xảy ra tại địa bàn phía tây Huế. Trời rất mù, tầm nhìn giảm xuống tới chỉ khoảng 1 dặm (1,6km), trần mây hạ thấp xuống khoảng 500 feet (150m), quá thấp so với thiết bị trinh sát trên máy bay của tôi. Tôi đưa máy bay vào bãi đỗ, rồi đi về phía nhà ăn…

Thời khắc số không

Các pháo thủ của Quân Giải phóng bắn thật chính xác. Quả đạn pháo 122mm đầu tiên rơi trúng nóc sở chỉ huy của viên tỉnh trưởng Thừa Thiên. Phòng ngủ của tôi ở tầng 2 ngôi nhà, chỉ cách sở chỉ huy trên có một con phố hẹp, nên tiếng nổ ghê gớm này bảo với tôi rằng đêm giao thừa âm lịch này sẽ trở thành một thời khắc vô cùng đặc biệt…

Tôi choàng dậy, tìm đường lần về Sở chỉ huy bay (SCH). Một quả rốc-két rơi trúng hàng rào dây thép gai chạy dọc theo con đường giáp dãy nhà ngủ của sĩ quan Mỹ gần nơi tôi ở. May thay, cánh cửa nhà che chắn tôi khỏi trái này. Các mảnh đạn và mảnh dây thép gai từ các phía cày lên các bờ tường và đồ đạc, nhưng chỉ có vài miếng đâm vào má, cánh tay tôi. Đáng kể có một mảnh cứa mạnh vào tay trái.

Một số xe cộ đỗ dọc theo hàng rào bắt lửa, tạo ánh sáng cho tôi bật chiếc máy thu âm cá nhân, rồi băng vết thương trên tay trái và tìm thấy một chiếc áo bay. Tôi khoác khẩu M-16 của tay phi công cùng phòng vào người (khẩu của tôi bị phá hủy ở Khe Sanh) rồi tìm cách lần ra Sở chỉ huy bay. Không ai biết quả rốc-két tiếp theo rơi ở đâu, nên chuyến đi này giống như trò chơi cò quay kiểu Nga (roullette – một quả cầu nhỏ chạy vòng vòng trên bàn sòng bạc có hình nón quay tít, không ai biết khi bàn quay dừng lại quả cầu sẽ rơi vào vị trí nào trên bàn).

Tôi vừa vào đến SCH thì có ai đó, mặt đầy máu, bước vào, gào lên rằng quân Mỹ trong tòa nhà cao cấp (VIP house) đang khốn đốn, cần hỗ trợ. Tôi lao tới đó.

Một quả B-40 bắn trúng vào một máy điều hòa nhiệt độ lắp trong tường, mảnh đạn bắn tung khắp trong phòng. Một số sĩ quan Mỹ bị thương. Một quả khác bắn trúng tháp canh, làm một người Mỹ khác bị thương rất nặng. Có vẻ như quân tấn công định đột nhập vào trại Mỹ theo hướng này. Đại tá Ki-lơ (Keeler) đã đoán đúng.

Trời tối đen như mực, mây đen và sương mù dày đặc. Quân đối phương ào ạt tới. Chúng tôi bắn dữ dội về góc phố đó đến mức tôi nghĩ khó ai có thể sống sót. Chúng tôi phải ghìm đối phương xuống để có thể sơ tán thương binh Mỹ từ tháp canh ra. Cùng lúc, có tiếng ai hỏi đèn pin. Tôi tìm cách đi ra chiếc xe jeep của mình, đỗ gần SCH. Không có cách gì tiếp cận. Chiếc jeep đỗ gần hàng rào, không xa những chiếc xe đang cháy. Sẽ là tự sát nếu cứ cố ra xe, vì lửa cháy chiếu rõ toàn cảnh. Nó đã bị thủng lốp, và bị phá hỏng một số chỗ. Quay trở vào SCH, tôi nghe tiếng chuông điện thoại. Tôi thật ngạc nhiên vì Quân Giải phóng chưa phá hỏng đường dây. Tôi gọi cho trung tâm hỗ trợ trực tiếp đường không ở Đà Nẵng, giải thích rằng chúng tôi cần một máy bay chiếu đèn pha từ trên không. Người ở đầu dây kia khá lịch sự, nhưng không tin vào tình hình chiến sự ở Huế mà tôi mô tả, nhưng cũng hứa sẽ cho máy bay chiếu đèn pha. Chẳng có chiếc nào đến. Nhưng cuối cùng trời cũng hửng sáng.

Không thể có được điều kiện khí tượng nào thuận lợi hơn cho tấn công Huế mà Quân Giải phóng đã có được trong dịp Tết này. Trừ một số khoảng thời gian ngắn vào các buổi tối, khí tượng 4 ngày liền (năm sớm âm lịch), trời luôn bao phủ bởi trần mây thấp với mây mù hoặc sương mù, không có khả năng sử dụng đại bác cỡ nhỏ của máy bay chiến đấu Spu-ky (Spooky) (AC-47). Nhưng chúng tôi được chiếu đèn từ máy bay rất tốt kể từ đêm thứ hai của cuộc tiến công Tết trở đi (từ đêm 1 âm lịch, hoặc ngày 1-2 dương lịch)…

Lính thủy đánh bộ Mỹ đã tới và với một giá khủng khiếp về thương vong, từng bước chiếm lại khu vực phía nam sông Hương. Một bãi đáp được thiết lập ở công viên nhỏ nằm giữa Dinh tỉnh trưởng và bờ nam sông Hương. Ở bên bờ Bắc tình hình cũng không mấy sáng sủa nên tôi đáp trực thăng Hu-uây (Huey) sang phía SCH sư đoàn 1 quân Sài Gòn để xem không quân Mỹ có thể trợ chiến tốt hơn cho tướng Ngô Quang Trưởng và các đơn vị của ông ta…

Lê Đỗ Huy (dịch)
qdnd.vn

[1]http://www.amazon.com/Palace-Gate-Under-Siege- January/dp/0887407455

Đánh chiếm Đài Phát thanh Sài Gòn

Trong Chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, lúc đó tôi là Bí thư Chi bộ, Chính trị viên Đội 4 Biệt động Sài Gòn. Ngày 26 Tết, tôi được lệnh của đồng chí Tư Chu (tức Nguyễn Đức Hùng, nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng kiêm Chỉ huy lực lượng Biệt động Quân khu Sài Gòn- Gia Định) điều toàn bộ Đội 4 về nhận nhiệm vụ chiến đấu. Đêm 27 Tết, chúng tôi hành quân từ xã Thạnh An, huyện Bến Cát về ấp Lộc Vĩnh, tỉnh Tây Ninh.

Đêm 28 Tết, Bộ Tư lệnh Quân khu SG-GĐ giao nhiệm vụ chiến đấu cho đơn vị tôi là đánh chiếm và giữ cho được Đài Phát thanh Sài Gòn trong vòng 1 tiếng đồng hồ rồi bàn giao cho Tiểu đoàn 4 Thủ Đức, sau đó sẽ nhận nhiệm vụ tiếp theo…

Đại tá Đặng Xuân Tẻo (trái) vui mừng gặp lại đồng đội cũ.

Sáng 29 Tết, chúng tôi hành quân thần tốc về điểm tập kết cuối cùng tại nhà số 65 Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1, nơi chỉ cách Đài Phát thanh hơn 100m. 11 giờ trưa mùng 1 Tết, toàn đội gồm 11 người đã tập trung đầy đủ tại cơ sở bí mật rồi khui hầm đưa vũ khí lên lau chùi để chuẩn bị chiến đấu. Đến 16 giờ cùng ngày, tôi cùng đồng chí Thảo đi trinh sát mục tiêu lần cuối. Tôi thấy địch đang tăng cường cảnh sát dã chiến, xây dựng công sự bảo vệ đài phát thanh khá kiên cố. Tôi quyết định phải chuẩn bị một trái bộc phá nặng 20kg để phòng khi tình huống xấu xảy ra ta sẽ phá hủy nhà đài. 22 giờ đêm, đồng chí Năm Lộc, Chỉ huy trưởng hạ lệnh chiến đấu và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng người.

Đúng 24 giờ đêm mùng 1 tết, đơn vị tôi đồng loạt nổ súng đánh chiếm Đài Phát thanh Sài Gòn chớp nhoáng chỉ trong vòng 10 phút. Thế nhưng, khoảng 30 phút sau thì địch nã pháo phản kích dữ dội cho tới hơn 3 giờ sáng khiến 4 đồng chí hy sinh và 2 đồng chí khác bị thương. Lúc này quân ta gặp khó khăn vì đạn sắp hết, lựu đạn, thủ pháo chỉ còn mấy quả nhưng tất cả quyết chiến đấu cho đến hơn thở cuối cùng.

Do địch pháo kích dữ dội nên Tiểu đoàn 4 không vào được như phương án đã định. Đội chúng tôi tiếp tục chiến đấu một mất một còn với địch. Đến gần 4 giờ sáng, đồng chí Năm Lộc, Chỉ huy trưởng cử tôi và 2 đồng chí nữa (Hai và Hiệp) rời trận địa về số nhà 65 Nguyễn Bỉnh Khiêm để xin chỉ thị của đồng chí Tư Tăng – Cụm trưởng kiêm Chỉ huy trưởng đội 3, 4, 5 đang trực chiến tại sở chỉ huy. Để thoát khỏi vòng vây địch, chúng tôi phải mở “đường máu”. Trong trận chiến không cân sức, cả hai đồng chí Hai, Hiệp đều anh dũng hy sinh, tôi vừa chiến đấu với địch, vừa tìm cách thoát nhanh ra ngoài. Chạy đến nhà số 65 Nguyễn Bỉnh Khiêm, tôi gọi đồng chí Tư Tăng ra mở cửa, sau loạt đạn địch, tôi tấp nhanh vô nhà. Chỉ 10 phút sau, địch ập đến, chúng đập cửa rầm rầm gọi chủ nhà.

Tôi và đồng chí Tư Tăng vội rút xuống hầm bí mật. Ở dưới hầm, tôi nghe rõ địch xông vào nhà đập phá, quát tháo: “Vừa thấy chúng chạy vào đây, giờ đâu rồi? Khai mau không tao sẽ bắn nát đầu ngay tại chỗ…”. Tiếng chị Năm chủ nhà vẫn bình tĩnh: “Các ông nói sao chớ tui có thấy ai vào nhà đâu. Không tin mấy ông cứ lục soát…”. Tìm suốt không thấy gì, chúng bao vây căn nhà suốt 24/24 giờ. Nằm dưới hầm, vào khoảng 7 giờ sáng mùng 2 Tết, tôi nghe tiếng nổ vang trời phát ra từ đài phát thanh. Tôi và anh Tư Tăng nghẹn ngào hiểu rằng những đồng đội thân yêu của chúng tôi đã quyết tử cho nổ bộc phá để phá hủy toàn bộ đài phát thanh và quyết không để bị sa vào tay giặc. Cho đến nay, nỗi đau vẫn đè nặng trái tim những người còn sống chúng tôi…

Suốt 4 ngày trốn dưới hầm bí mật, tôi và đồng chí Tư Tăng phải chia nhau ăn một dĩa cơm nếp, 10 quả cam và 1 gô nước. Đến trưa mùng 5 Tết, lợi dụng lúc địch đổi ca trực, chị Năm gọi tôi và đồng chí Tư Tăng lên khỏi hầm, thay nhanh quần áo rồi theo cửa sau, thoát ra ngoài rút về căn cứ. Đi được một đoạn, tôi bị một nhóm lính địch chặn lại xét giấy tờ. Tôi bình tĩnh đưa giấy tờ (giả) với chức vụ thiếu úy ngụy rồi vờ than: “Mấy bữa rày đánh nhau dữ quá, tôi tranh thủ về thăm nhà một lát…”. Một tên lính tỏ ra thông cảm: “Lại đảo ngũ trốn quân dịch chớ gì, thôi đi đi cha…”. Thế là tôi thoát chết trong gang tấc! Đi đến đâu tôi cũng thấy địch bao vây dày đặc nhưng nhờ người dân che chở, cuối cùng tôi cũng trở về tới căn cứ cách mạng.

Sau chiến thắng đó, Đội 4 Biệt động Sài Gòn được tặng Huân chương Quân công hạng nhì, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Theo Minh Ngọc (SGGPO), ghi theo lời kể Đại tá Đặng Xuân Tẻo
qdnd.vn

Kết hợp tiến công và nổi dậy của quần chúng

QĐND – Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền, quân và dân Đồng bằng sông Cửu Long đã tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân Mậu Thân 1968 ở các thành phố, thị xã thuộc Khu 9 và Khu 8, trọng điểm là các thành phố Cần Thơ, Mỹ Tho và các thị xã Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Châu Đốc…

Lực lượng tham gia tổng tiến công và nổi dậy là các đơn vị bộ đội chủ lực Miền, bộ đội đặc công, biệt động, bộ đội địa phương thuộc các tỉnh đội, huyện đội, lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng nhân dân. Các khu vực trọng điểm tiến công được xác định là các đơn vị Mỹ, quân đội Sài Gòn, khu hành chính, Đài phát thanh, cơ sở hậu cần-kỹ thuật, sân bay, kho tàng của địch. Ở Khu 9, ta xác định trọng điểm là thành phố Cần Thơ và thị xã Vĩnh Long; ở Khu 8, trọng điểm là thành phố Mỹ Tho, thị xã Bến Tre. Thời gian phát lệnh tổng tiến công đồng loạt vào rạng sáng ngày 1-2-1968. Phương án tác chiến là sử dụng hỏa lực, bộ đội đặc công, biệt động tiến công mở đầu, chủ lực và bộ đội địa phương kết hợp các lực lượng vũ trang phối hợp đánh địch, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy đấu tranh.

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, cùng với toàn miền Nam, quân và dân Đồng bằng sông Cửu Long tiến công đồng loạt vào hầu hết các thành phố, thị xã, chi khu, quận lỵ, đưa chiến tranh vào tận hang ổ và các cơ quan đầu não của địch; đánh chiếm được một số mục tiêu quan trọng, tích cực đánh địch phản kích. Tại các trọng điểm, như ở Cần Thơ, ta đánh trong nội thành, sau đó chiến đấu quyết liệt, tranh chấp với địch ở vùng ven lộ Vòng Cung. Ở Vĩnh Long, ta đánh chiếm và làm chủ thị xã 6 ngày đêm. Các trọng điểm Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Châu Đốc và ở vùng nông thôn, bộ đội địa phương, dân quân du kích làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy tiến công địch bằng 3 mũi giáp công: Quân sự, chính trị, binh vận; bao vây đồn bốt, giải phóng nông thôn…

Thắng lợi to lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long trong Tết Mậu Thân 1968 góp phần cùng toàn miền Nam, giáng cho quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn đòn bất ngờ, làm đảo lộn toàn bộ chiến lược chiến tranh của Mỹ.

ĐÀO VĂN ĐỆ
qdnd.vn

Trồng cỏ trên… xe tăng

Ông cha ta đánh giặc

QĐND – Từ khi nhận nhiệm vụ đánh cứ điểm Làng Vây (Hướng Hóa, Quảng Trị), các cán bộ chỉ huy bộ đội xe tăng của Tiểu đoàn 198 và cán bộ tăng cường của trung đoàn, đại diện Bộ tư lệnh Thiết giáp đã đi nghiên cứu địa hình Làng Vây nhiều lần. Ngoài hướng xe tăng tiến công từ phía Tây theo trục Đường 9, các cán bộ chủ yếu nghiên cứu việc lợi dụng sông Sê-pôn, bí mật đưa xe tăng vào tập kết để đánh từ hướng Nam căn cứ.

Sông Sê-pôn nhỏ hẹp, quanh co, lòng sông đầy đá hộc, bờ sông dốc dựng đứng. Địch hoàn toàn không ngờ xe tăng ta có thể vận động được vào hướng này. Theo kế hoạch tác chiến hiệp đồng binh chủng, Đại đội tăng 9 gồm 8 xe tăng lội nước PT-76 (vì phải tháo dồn xích của 11 xe bảo đảm cho 8 xe) cùng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 2, Sư đoàn bộ binh 325, tiến công địch từ hướng Nam căn cứ. Đây là hướng tiến công chủ yếu.

Cán bộ Đại đội tăng 9 hai lần cùng cán bộ công binh dùng mảng nứa bí mật thăm dò lòng sông Sê-pôn, xác định đường, bến, phương án lái trên sông, đề ra các biện pháp khắc phục cụ thể. Các chiến sĩ công binh nhiều lần bơi lặn dưới nước, đánh dấu các khu vực có đá ngầm, đo mực nước nông, sâu và phá những tảng đá to trên đoạn sông nước cạn từ làng Côn đến Pê-sai (khoảng 4km) để mở đường, vì đoạn này xe tăng phải cơ động bằng xích. Những đoạn sông có nhiều đá ngầm, bộ đội công binh phải “gài” quân dọc hai bên, ngâm mình dưới nước giá buốt để làm lộ tiêu sống dẫn đường cho xe tăng.

Ngày 24-1, Đại đội tăng 9 vào tới vị trí tập kết tại Pê-sai bằng đường sông Sê-pôn. Do trận đánh hoãn lại, nên Đại đội tăng 9 phải nằm lại ở khu tập kết chiến đấu trong điều kiện hết sức khó khăn, cách căn cứ Làng Vây khoảng 3km; xe pháo nằm phơi mình trên đồi cây con mọc xen lẻ, cỏ tranh cao chỉ che hết bánh xích, địch thường xuyên cho máy bay trinh sát và tung biệt kích thám báo lùng sục để phát hiện lực lượng ta. Để giữ bí mật, cán bộ, chiến sĩ Đại đội tăng 9 phải đan sọt, đổ đất, đánh những vầng cỏ tranh lớn trồng vào, rồi xếp lên xe tăng, tưới nước hằng ngày để ngụy trang.

Khi thay bánh đỡ nặng và chốt xích, anh em phải dùng dép cao su đệm vào đầu chốt xích để giảm bớt tiếng động khi đóng. Đưa xe tăng vào hướng nam bằng đường sông Sê-pôn là một hành động táo bạo, bất ngờ. Nhờ giữ nghiêm kỷ luật bí mật, nên Đại đội tăng 9 đã nằm ở vị trí tập kết 12 ngày, cho đến tận ngày nổ súng, mà địch vẫn không hề hay biết.

THANH HUYỀN
qdnd.vn

Xe tăng yểm trợ cho xe tăng đột kích

QĐND – Trong trận đánh cứ điểm Tà Mây (Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh năm 1968), để chi viện cho bộ binh và các lực lượng chiến đấu của ta vượt qua cửa mở đột kích đánh địch, lực lượng xe tăng lần đầu tiên tham gia chiến đấu.

Khi bộ binh ta áp sát hàng rào cứ điểm Tà Mây thì bị hỏa lực dày đặc của địch chặn lại. Xe tăng 558 được lệnh nhanh chóng vượt lên, vừa hành tiến vừa đánh địch. Các loại hỏa lực trên xe tăng 558, gồm pháo và súng máy 12,7mm bắn sập các lô cốt, tiêu diệt các ổ hỏa lực địch, yểm trợ cho xe tăng 555 xông thẳng vào cổng chính và đánh thẳng vào bên trong cứ điểm. Bộ binh và công binh bám sau xe tăng, vượt qua cửa mở, đánh chiếm đầu cầu và tỏa ra các hướng, dũng cảm tiêu diệt địch.

Đồng chí Chính ủy Binh chủng Tăng thiết giáp (đứng giữa) với các cựu chiến binh tham gia trận đánh Tà Mây- Làng Vây. Ảnh: Anh Quân.

Đang phát triển chiến đấu thì xe tăng 558 bị dây thép gai cuốn vào xích phải dừng lại để khắc phục. Phát hiện xe tăng của ta, địch cho máy bay AD-6 và hỏa lực bắn phá. Kíp xe tăng 558 bình tĩnh dùng súng máy 12,7mm đánh địch, phát huy hỏa lực pháo chi viện cho xe tăng 555 và bộ binh chiến đấu. Được xe tăng dẫn dắt, chi viện hỏa lực, bộ binh ta phát triển nhanh vào tung thâm, chia cắt địch, tiêu diệt sở chỉ huy và các ổ đề kháng ngoan cố. Sáng 24-1-1968, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm Tà Mây.

Tiến công bất ngờ, cách đánh sáng tạo, dũng mãnh thọc sâu táo bạo, linh hoạt trong hiệp đồng chiến đấu cùng bộ binh, trong trận Tà Mây, lực lượng xe tăng ta đã phát huy hỏa lực, nhanh chóng áp đảo địch, tạo điều kiện dứt điểm nhanh trận đánh, tạo niềm tin về sức mạnh đột phá của hỏa lực xe tăng trong chiến đấu hiệp đồng binh chủng, cổ vũ, động viên Bộ đội Tăng thiết giáp tiếp tục giành những thắng lợi mới.

NHẬT QUANG
qdnd.vn

Mùa Xuân, nghĩ về Đảng, về học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Theo từng nhịp bước thời gian, hạ phai, thu úa, đông tàn … Mùa Xuân đến, tiết Xuân tươi khơi dậy sức sống cho muôn loài; vạn vật phô bày toàn diện vẻ đẹp huy hoàng, lộng lẫy, sức sống sung mãn, toàn bích. Nơi nơi nô nức, hân hoan chào đón mùa Xuân. Mùa Xuân của thiên nhiên, đất trời chỉ đến một lần trong  năm; mùa Xuân là thời gian vui tươi hạnh phúc và tràn đầy sức sống mà mọi người được hưởng, ai ai cũng có những mùa Xuân tươi đẹp trong cuộc đời!

 4. 1.mua xuan nghi ve DangVới Đảng ta, nhân kỷ niệm lần thứ 30 Ngày thành lập Đảng (3/02/1930), Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng:“ĐẢNG TA THẬT LÀ VĨ ĐẠI”.

Soi rọi lịch sử hình thành và phát triển của Đảng trong 83 năm qua, chúng ta nhận thức được sự khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vô cùng sâu sắc! Bởi lẽ, ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng luôn giáo dục đảng viên phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; mỗi đảng viên phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đặt lợi ích của dân tộc, của Đảng, của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân.

Từ đầu năm 2007 đến nay, Đảng ta phát động cán bộ, đảng viên và nhân dân rèn luyện, tu dưỡng, học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, noi theo tác phong, phong cách làm việc của Người, nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu; mỗi cán bộ, đảng viên phấn đấu làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, noi theo đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị của Người.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã chỉ ra 3 nội dung trọng tâm: ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị … là những vấn đề, nội dung cơ bản và hệ trọng để xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh! Qua đợt sinh hoạt chính trị quan trọng và rộng lớn này, các cấp ủy đảng, các ngành, các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, nội dung những tư tưởng chỉ đạo của Đảng, những công việc phải làm, trên cơ sở đó thống nhất cao về ý chí, quyết tâm, thấy đầy đủ trách nhiệm để gương mẫu thực hiện nghị quyết có hiệu quả trên mỗi cương vị công tác tại địa bàn, lĩnh vực thuộc trách nhiệm lãnh đạo của mình!

Ngày nay, hơn lúc nào hết, Đảng ta kiên định, giữ vững lập trường chủ nghĩa Mác – Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, thống nhất ý chí, hành động trong toàn Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kêu gọi mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên trong hệ thống chính trị trung với nước, hiếu với dân. Chỉ có một Đảng chân chính mới canh cánh nỗi lo chưa xây dựng đất nước giàu mạnh, chưa chăm lo chu đáo cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân.

Lãnh tụ của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiêm túc chỉ ra trách nhiệm của Đảng và Nhà nước: Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi. Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Một Đảng mà thấy hết, nhận hết trách nhiệm khuyết điểm về mình và quyết tâm sửa chữa là một đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh!

Mùa Xuân đến, nghĩ về Đảng, về học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thấy lòng mình ấm lại! Chúng ta tin tưởng tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng bằng nhận thức khoa học, với sự hiểu biết sâu sắc về bản chất vì dân, vì nước, vì dân tộc của Đảng! Năm mới Quý Tỵ – 2013, mỗi cán bộ, đảng viên tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện, thấm nhuần và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Mỗi đảng viên của Đảng phấn đấu mãi mãi là một nhành Xuân của Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, góp phần làm cho Đảng gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân, làm cho đạo đức, văn minh của Đảng tỏa sáng.

http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ – Người không có tuổi !

Một buổi sáng năm 1960, nhà thơ An-tôn-xki, người dịch “Nhật ký trong tù” vào thăm Bác tại Hà Nội. Nhà thơ viết: “Đúng 6 giờ rưỡi, chúng tôi đến chờ Người. Vừa mới bước qua ngưỡng cửa phòng khách thì từ phía cánh cửa đối diện đã bước ra một người đứng tuổi, vóc người tầm thước, với chiếc áo ka ki màu sáng và chân đi đôi dép. Người niềm nở mỉm cười. Ở đây tôi dùng chữ “đứng tuổi” là vì tôi biết rõ tuổi Hồ Chủ tịch. Đúng hơn cả, nên gọi Bác Hồ là người không có tuổi. Thật vậy, mái tóc Người đã bạc mà dáng dấp vẫn gọn gàng, nhanh nhẹn như tuổi thanh niên”.

7.a1Bác Hồ với một số người cao tuổi tiêu biểu. 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta lúc đó 55 tuổi. Nhìn dáng người mảnh khảnh, đôi mắt sáng, vầng trán cao và bộ râu hơi dài, cả nước kính trọng và tôn vinh Hồ Chủ tịch là Lãnh tụ dân tộc. Báo chí thì gọi Bác là Cụ Hồ Chí Minh.

Nhà thơ Tố Hữu lúc đó chưa được gặp Bác, trong bài thơ “Hồ Chí Minh” viết ngày 26-8-1945, cũng đã gọi Bác Hồ là một người lính già:

“Hồ Chí Minh
Người lính già
Đã quyết hy sinh
Cho Việt Nam Độc Lập
Cho thế giới hoà bình…”

Một lần, một nhạc sỹ đưa một đoàn các cháu thiếu nhi vào thăm Bác. Các cháu cùng hát vang bài ca: “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”. Khi nghe đến câu hát: “Bác nay tuy đã già rồi, già rồi nhưng vẫn vui tươi…”, Bác Hồ quay sang tươi cười, nói với đồng chí Trần Duy Hưng:

– Này chú, Bác đã già đâu nhỉ?

Có thể nói, Bác Hồ của chúng ta là một con người không chấp nhận tuổi già. Chúng ta hãy tưởng tượng, một con người 21 tuổi, với hai bàn tay trắng đã ra đi tìm đường cứu nước. Sang Pháp, rồi vượt biển lớn đi vòng quanh Châu Phi, rồi sang Mỹ, Anh, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thuỵ Sỹ, Nga, Trung Quốc… Hầu như đi khắp các châu lục, làm nhiều nghề, vừa học vừa hoạt động cách mạng, vừa phải khôn khéo vượt qua mọi sự bắt bớ của bọn đế quốc. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy thật lạ lùng, là một người Việt Nam trẻ tuổi, vừa đến Thủ đô Paris không bao lâu, đã thâm nhập ngay được vào đời sống chính trị tại đó, làm những việc cực kỳ quan trọng đối với dân tộc mình, đối với các dân tộc thuộc địa và góp phần hình thành chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Pháp”.

Chúng ta cũng biết trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, Bác Hồ của chúng ta đã hai lần phải vào tù, và một lần lĩnh án tử hình vắng mặt do Toà án Nam triều ở Vinh, theo lệnh nhà cầm quyền Pháp kết án ngày 11-11-1929. Năm 1931, Bác bị bắt vào nhà tù Hương Cảng, và năm 1942 ở nhà tù Tưởng Giới Thạch ở Tĩnh Tây, Trung Quốc, với bao nỗi đày ải khổ cực. Trong thời gian 1 năm 12 ngày, bị giải đi mấy chục nhà giam, chân bị cùm, răng rụng, đói và rét. Song chính trong tù ngục ấy, Bác đã để lại cho chúng ta tập thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù” mà ngày nay đã được in ra ở 30 nước:  Anh, Pháp, Trung Quốc, Đức, Tiệp, Nga, Tây Ban Nha, Hàn Quốc…

Khi về Pác Bó, Cao Bằng, ở trong hang đá lạnh, ăn uống thì kham khổ “Sáng ra bờ suối, tối vào hang. Cháo bẹ, rau măng, vẫn sẵn sàng…”. Một cuộc đời cách mạng gian khổ như thế, trước Đại hội Tân Trào ở lán Nà Lừa, Bác lại bị một trận ốm rất nặng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp kể: Có đêm Bác đã dặn lại như có ý dối dăng… Thế nhưng Cách mạng Tháng Tám thành công, đã 55 tuổi, Bác Hồ vẫn ngày đêm làm việc, lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những ghềnh thác hiểm nghèo, và Người không hề nghĩ đến tuổi già!

Ngày 19 tháng 5 năm 1946.

Lần đầu tiên nhân dân ta mừng Ngày sinh của Bác. Bác nói với Đoàn đại biểu Nam Bộ đến mừng Người: “Tôi xin cảm ơn các anh, các chị Nam Bộ đã đến chúc thọ tôi. Thật ra, các báo ở đây đã làm to cái ngày sinh của tôi, chứ 56 tuổi chưa có gì đáng chúc thọ, hãy cũng còn như thanh niên cả…” (Báo Cứu Quốc ngày 20-5-1946).

Sau này trong những bài thơ viết về tuổi thọ, Bác vẫn không chấp nhận tuổi già. Bài thơ “Không đề”, Bác viết năm 1949 tại chiến khu Việt Bắc:

KHÔNG ĐỀ

Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà
Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già
Chờ cho kháng chiến thành công đã
Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta.

Cho đến năm 78 tuổi, trong bài thơ “Không đề” Bác Hồ vẫn viết:

KHÔNG ĐỀ

Bảy mươi tám tuổi vẫn chưa già
Vẫn vững hai vai việc nước nhà
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn
Tiến bước ta cùng con em ta!

Anh em ở gần Bác mới thưa với Bác rằng: “Thưa Bác. 78 tuổi là già rồi ạ!”, thế là Bác chữa lại: “Bảy mươi tám tuổi chưa già mấy/ Vẫn vững hai vai việc nước nhà…”.

Sự nghiệp cách mạng vĩ đại của cả một dân tộc. Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, mà Bác là người chèo lái, nỗi lo toan cho hạnh phúc của nhân dân và lẽ sống cao đẹp vì dân, vì nước, khiến Người đã vượt qua cái tâm lý tuổi già thông thường, để luôn hướng tới một mùa xuân đẹp đẽ của đất nước!

Ngày 19 tháng 5 năm 1946.

Một Đoàn cán bộ của Ban Vận động đời sống mới, do nhà văn Nguyễn Huy Tưởng dẫn đầu, vào chúc thọ Bác. Nhân lúc trò chuyện, nhà văn thưa với Bác:

– Thưa Cụ, nhân hôm nay đến chúc thọ Cụ Chủ tịch, xin Cụ cho Ban Đời sống mới chúng tôi một khẩu hiệu để vận động nhân dân thực hiện.

Bác Hồ vui vẻ hẳn lên, Người nói:

– Khẩu hiệu ư? Thế thì khẩu hiệu đó là: “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”.

Sau một phút suy nghĩ, nhà văn lão thành đứng dậy thành thật thưa với Bác:

– Thưa Cụ Chủ tịch, khẩu hiệu đó rất hay, nhưng nghe nó cổ cổ thế nào ấy ạ!

Bác Hồ cười:

– Ơ hay! Sao lại cổ? Các cụ ta xưa ăn cơm, bây giờ chúng ta ăn cơm vẫn thấy ngon. Thế thì nó cổ chỗ nào? Cái hay của Tổ tiên thì chúng ta phải học.

Ngày 10 tháng 5 năm 1965.

Năm ấy, Bác Hồ của chúng ta vừa tròn 75 tuổi!

Đúng 9 giờ sáng hôm ấy, Người ngồi vào bàn viết Bản Di chúc “Tuyệt đối bí mật”. Năm ngày sau, ngày 14-5 Người đã viết xong Bản Di chúc lịch sử và tự tay đánh máy. Cuối tài liệu Bác ghi: Hà Nội ngày 15 tháng 5 năm 1965 và ký tên Hồ Chí Minh.

Tối hôm đó, các đồng chí trong Bộ Chính trị vào mừng thọ Bác 75 tuổi. Một bó hoa tươi được đặt trang trọng trên bàn. Đồng chí Trường Chinh thay mặt, nói mấy lời chúc thọ Bác.

Bác xúc động nói:

– Bác cảm ơn các chú đã có lòng, nhưng trong lúc toàn dân ta đang kháng chiến gian khổ, mọi việc hết sức khẩn trương, mà lại đi chúc thọ một cá nhân như thế này là không nên!

Mọi người có mặt trong căn phòng đều lặng yên, suy nghĩ… Bác Hồ của chúng ta là như thế đó! Trong cả cuộc đời mình, Người luôn đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng,“Nâng niu tất cả, chỉ quên mình!”.

Ngày 19 tháng 5 năm 1969.

Hồi này sức khoẻ của Bác đã yếu! Đúng 9 giờ, Bác lại ngồi vào bàn xem lại Bản Di chúc đã viết. Người đọc lại rất kỹ toàn bộ các bản viết trong 4 năm qua và chữa lại một số chữ. Trong câu “Khi người ta đã ngoài 70 tuổi”, Bác chữa lại là “70 xuân!”.

Buổi sáng, Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ:

– Cháu Trỗi hy sinh cách đây đã gần 5 năm rồi chú nhỉ?

Đồng chí Vũ Kỳ thưa với Bác:

– Thưa Bác, anh Trỗi hy sinh ngày 16 tháng 10 năm 1964, đến nay đã gần 5 năm!

Một thoáng buồn, rồi Bác bảo đồng chí Cẩn nấu món ăn theo kiểu Nam Bộ để Bác mời khách. Trưa hôm ấy, Bác mời đồng chí Phạm Văn Đồng sang cùng tiếp khách. Khách mời của Bác hôm ấy là hai cháu gái miền Nam, chị Phạm Thị Quyên vợ anh Trỗi và chị Nguyễn Thị Châu.

Không ai ngờ, đó là ngày 19 tháng 5 cuối cùng trong cuộc đời 79 mùa xuân của Bác!

Bác Hồ kính yêu của chúng ta là như thế đó. Bằng một nghị lực phi thường, và trí tuệ siêu việt Người đã suốt đời lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ta làm cách mạng. Người nói: “Xưa nay, những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không!”.

Trước kia, khi chưa gặp Bác, nhà thơ Tố Hữu viết: “Hồ Chí Minh người lính già/ Đã quyết chí hy sinh…”. Nay được ở gần Bác, nhà thơ lại viết: “Hồ Chí Minh – Người trẻ mãi không già”. Và “Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười. Quên tuổi già, tươi mãi tuổi đôi mươi!”.

Bác Phạm Văn Đồng đã nói: “Tưởng nhớ Hồ Chí Minh là biến khẩu hiệu “Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta” thành tư tưởng, tình cảm và hành động của mỗi người cộng sản và mỗi người dân”./.

Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Mùa Xuân Tân Tỵ 1941 Bác Hồ trở về Pác Bó !

6. 1 bh 1941
Bác Hồ về Pác Bó, Cao Bằng (28/1/1941).

Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, mùa Xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc!

Có cái gì đó giống như một câu chuyện cổ tích, kể về một chàng trai từ biệt quê hương. Anh đã ra đi, vượt qua biết bao núi cao, rừng rậm, biển cả… vượt qua biết bao thử thách, đói rét, tai ương… Và sau 30 năm ròng rã anh đã trở về, đem theo một cuốn sách quý thần kỳ…

Trong bài: “Sen của loài người”, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Văn chương thế giới hay dùng chữ thần kỳ khi nói đến Hồ Chí Minh. Chỉ riêng việc “đi” của Người đã lắm nét thần kỳ. Nơi nào là nơi Người chưa đến trên thế giới?”. Ba mươi năm đi khắp các châu lục để tìm đường cứu nước. Một nhà nghiên cứu đã nói: Đó là một cuộc đi dài nhất so với mọi cuộc đi của bất cứ một anh hùng, chí sĩ nào đầu thế kỷ, và cũng có thể nói, đó là một cuộc đi dài nhất so với bất kỳ một lãnh tụ cách mạng nào trên thế giới! (1911-1941).

Mảnh đất Tổ quốc đầu tiên được đón bước chân Bác Hồ, là cái bản nhỏ Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Và chính ở nơi đây, trong những ngày đầu trở về Tổ quốc, Bác đã viết bài thơ:

Pác Bó hùng vĩ

Non xa xa, nước xa xa

Nào phải thênh thang mới gọi là

Đây suối Lê-nin, kia núi Mác

Hai tay gây dựng một sơn hà.

Tháng 2-1941

Đại tá Dương Đại Lâm, quê ở Pác Bó kể lại: Sau cái đêm đầu tiên nghỉ lại tại nhà một đồng bào Nùng có cảm tình với cách mạng, hôm sau Máy Lỳ – người chủ nhà – dẫn Bác và mấy đồng chí vừa về nước, theo một con đường nhỏ chạy ngoằn ngoèo qua rừng, lên một ngọn núi đá. Từ bờ suối trèo lên phải qua một đoạn dốc khá dài, cây cối rậm rạp, mới lên tới cửa hang. Hang không rộng lắm, có hai ba ngách nhỏ. Trong một ngách có tảng đá khá to, bằng phẳng, sau này mọi người gác cây rồi rải lá lên làm giường nằm. Gần đấy, một con suối nhỏ chảy quanh các tảng đá, rồi đổ xuống phía dưới, tung những bọt trắng xoá. Bác hỏi, Máy Lỳ bảo: “Ở đây mọi người gọi hang này là Cốc Bó, có nghĩa là đầu nguồn!”.

Vốn là một người yêu thích thiên nhiên, Bác tỏ vẻ thích thú. Khi đi xem cảnh vật chung quanh, nhìn ngắm mãi ngọn núi đá hùng vĩ, Bác bảo với mọi người:

– Chúng ta sẽ đặt tên cho ngọn núi này là Núi Các – Mác, còn dòng suối đẹp kia, nước trong vắt bắt nguồn từ ngọn núi ra, chúng ta sẽ gọi là Suối Lê-nin!

Tất cả mọi người đều tỏ vẻ tán thưởng!

Có người nói, nghĩ đến Bác Hồ là chúng ta nghĩ ngay đến sông núi, đất nước, và chính Bác cũng là người đặt tên cho đất nước, sông núi mình. Ngọn núi Các – Mác và dòng suối Lê-nin không những là biểu tượng cho một con đường cách mạng vĩ đại mà cả dân tộc ta ngay từ đầu đã lựa chọn, mà còn làm cho vùng đất núi non này như xa, rộng hẳn ra, gắn liền Việt Nam với Cách mạng thế giới!

Cũng ở hang Pác Bó này Bác Hồ còn viết bài thơ:

Tức cảnh Pác Bó

Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang!

                                    Tháng 2-1941

Đồng chí Vũ Kỳ kể lại: “Hành trang theo Bác trở về Pác Bó vẻn vẹn chỉ có một chiếc va ly xách tay bằng mây, trong đựng hai bộ quần áo đã cũ. Và tập tài liệu “Con đường giải phóng” tập hợp những bài giảng trong lớp huấn luyện ở Nậm Quang (Quảng Tây, Trung Quốc) do Bác phụ trách vừa mới kết thúc trước Tết mấy hôm”.

Về Pác Bó, Bác thường mặc bộ quần áo dân tộc Nùng, màu chàm, ống tay rộng. Thức ăn của Bác và anh em chỉ có rau bí, rau rừng, măng đắng, và ốc bắt ở suối. Tháng giáp hạt, nhân dân ăn độn ngô, Bác cũng ăn cháo, ăn ngô. Trời mưa, hang núi ướt lạnh thấu xương, từ các nhũ đá nước nhỏ giọt xuống đều đều không dứt. Để đỡ lạnh, mọi người phải đốt một đống lửa nhỏ. Nhưng thời gian này, Bác đã viết hàng chục bài thơ tuyên truyền cách mạng. Và cũng từ đây, trong hang đá đại bản doanh này, tháng 5 năm 1941, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng ta đã họp, định ra đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hai mươi năm sau, Bác Hồ lại trở về thăm lại Pác Bó. Người viết bài thơ:

Thăm lại hang Pác Bó

Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay!

                              Ngày 20-2-1961

Trong bài thơ này, không một chữ nói về mình, Bác chỉ nhắc đến Đảng, đến Dân, đến non sông gấm vóc! Với người khác, khi đi xa trở lại, thường kể về những ngày đầu gian khổ, nhưng Bác thì không! Bác Hồ của chúng ta là thế đó! “Nâng niu tất cả chỉ quên mình” (Tố Hữu).

Trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến, trước sau Bác Hồ đã sống với đồng bào các dân tộc Việt Bắc trên 12 năm. Và núi rừng Việt Bắc, Chiến khu của Cách mạng, cũng đã trở thành tình sâu nghĩa nặng với Đảng, với Bác Hồ, trở thành niềm tin yêu, hy vọng của cả nước trong những ngày kháng chiến gian khổ:

“Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc cụ Hồ sáng soi”

Tố Hữu

Nói đến Việt Bắc, là nói đến “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”,  nói đến những an toàn khu Định Hoá (Thái Nguyên), Chiêm Hoá (Tuyên Quang) trong kháng chiến, nói đến Pác Bó, đã trở thành thơ, thành Di tích lịch sử Cách mạng cho muôn đời con cháu!

Mùa Xuân này trở lại Pác Bó thăm vùng đất “Đầu nguồn” Cách mạng, lòng chúng ta lại bồi hồi nhớ đến Bác kính yêu!

Năm 1911, một buổi sáng Nguyễn Tất Thành đã nói với một người bạn thân:

– Lê này, mình đã quyết định ra nước ngoài, đến nước Pháp và các nước khác. Mình muốn biết ở đấy họ sống và lao động ra sao, rồi sau đó sẽ trở về nước để giúp đỡ đồng bào mình.

– Cậu lấy tiền đâu để đi? Người bạn ngạc nhiên hỏi.

Nguyễn Tất Thành giơ hai bàn tay ra:

– Đây, tiền đây! Mình sẽ lao động, sẽ làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động…

Thế rồi, chuyến đi lịch sử đã diễn ra. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, Bến cảng Nhà Rồng tấp nập. Tàu đô đốc La-tút-sơ Trê-vin, một tàu lớn đang đón khách và lấy hàng. Một thanh niên mảnh khảnh, dáng học trò, bước đến trước viên Thuyền trưởng:

– Tôi đến để làm phụ bếp. Tên tôi là Văn Ba (anh là con thứ ba trong gia đình).

Và 30 năm sau, một con người đã mang hàng trăm tên, làm 12 nghề khác nhau, biết hơn 12 thứ tiếng, đã từng đi qua khắp các châu lục trên thế giới lại trở về Tổ quốc thân yêu của mình. Suốt 30 năm trời đằng đẵng, Người chỉ ước mong cái ngày hôm ấy. Đã nhiều lần, Bác tìm cách về nước, nhưng giặc Pháp giăng lưới cảnh sát dày đặc ở dọc biên giới. Trong khi đó Bác đã bị bọn thực dân Pháp và chính phủ Nam Triều kết án tử hình vắng mặt. Còn bây giờ, tình hình thế giới và trong nước có nhiều thuận lợi, phải gấp rút tìm mọi cách trở về lãnh đạo cách mạng.

Và Pác Bó, Cao Bằng, mảnh đất vùng biên giới đã có cơ sở cách mạng từ năm 1937 này, đã được Bác Hồ chọn là nơi về nước. Và thật không ngờ, ngày trở về Tổ quốc của mình lại đúng vào những ngày Tết, những ngày Xuân Việt Nam. Hoa mơ nở trên những cánh rừng biên giới như lặng lẽ chào đón người con thân yêu nhất của mình, trở về với một ước mơ lớn. Nhưng thời điểm đó không phải là ngẫu nhiên, chúng ta nhớ Hội nghị thành lập Đảng ở Cửu Long (Trung Quốc) Bác cũng chọn vào ngày mùng 5 Tết Canh Ngọ. Những ngày Tết dân tộc cổ truyền, là dịp thuận lợi nhất để che mắt địch.

Ngày trở về Pác Bó, Bác Hồ của chúng ta đã 51 tuổi. Và Người lại nhắc lại hình ảnh “Hai bàn tay” trong bài thơ Pác Bó của mình:

“Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay gây dựng một sơn hà”

Nhưng bây giờ không phải là hai bàn tay trắng lúc ra đi. Hai bàn tay ấy, hôm nay đã có chủ nghĩa Mác – Lê-nin dẫn đường, có đông đảo đồng bào, đồng chí và núi rừng cách mạng chở che.

Trước mắt Người đã là Mùa Xuân Tổ quốc, dù mới chỉ là mùa Xuân trên một cánh rừng biên giới. Song thật là kỳ diệu, lịch sử đã đi những bước đi ngàn dặm. Chỉ bốn năm sau, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dõng dạc tuyên bố với thế giới: Một nước Việt Nam Độc lập, Tự do, Thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ!

Non sông gấm vóc đã mở ra một thời đại mới, một thời đại mang tên Người – Thời đại Hồ Chí Minh!

 Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn