Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 6: Mục tiêu chiến lược

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 6: Mục tiêu chiến lược.

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 7: Huế 26 ngày đêm

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 7: Huế 26 ngày đêm.

Ngành Y tế Thủ đô báo công dâng Bác

Nhân dịp kỷ niệm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2013), ngày Bác viết thư động viên và giao nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động ngành Y tế; trong không khí sôi nổi của cả nước bước vào mùa Xuân mới, với khí thế thi đua lập thành tích mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước đổi mới, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sáng 26/12/2013, ngành Y tế Thủ đô đã tổ chức lễ báo công dâng Bác, báo cáo những thành tích đạt được trong sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân năm 2012. Tham dự buổi Lễ có các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Giám đốc Sở, Ban Chấp hành Công đoàn ngành, lãnh đạo các phòng chức năng của Sở, các đồng chí lãnh đạo các đơn vị trong toàn ngành, đại diện cho hơn 17.000 cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của ngành Y tế Hà Nội.

Y te thu do bao congTS. TTƯT Nguyễn Khắc Hiền – Thành ủy viên, Giám đốc Sở Y tế Hà Nội báo cáo thành tích ngành Y tế Thủ đô tại Lễ báo công

Năm 2012, ngành Y tế Thủ đô đã trải qua rất nhiều khó khăn phức tạp, nhưng được sự quan tâm của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố và của các cấp, các ngành, sự nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi của tập thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, ngành Y tế Thủ đô đã đạt được những thành tựu to lớn trong nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trên địa bàn Thủ đô, điển hình là chủ động tuyên truyền và triển khai đồng bộ các biện pháp giám sát dịch và xử lý phòng chống dịch bệnh tại các địa phương, kiểm soát và khống chế thành công các dịch bệnh trên địa bàn thành phố như cúm A/H5N1, sốt xuất huyến, dịch chân, tay, miệng…; chất lượng khám chữa bệnh tại các cơ sở điều trị của thành phố ngày một nâng cao, tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh ngày càng tốt hơn, nhiều dịch vụ kỹ thuật cao, chất lượng tốt được triển khai; mạng lưới y tế cơ sở luôn được củng cố và kiện toàn, các chương trình mục tiêu y tế quốc gia và của thành phố đều hoạt động có hiệu quả; đã tổ chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống ngành Dân số Việt Nam, đầu tư xây dựng mới 5 trụ sở, cải tạo và nâng cấp 4 trụ sở của Trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình các quận, huyện. Triển khai tốt công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm theo yêu cầu của Bộ Y tế và UBND thành phố; tăng cường công tác chỉ đạo tuyến và luân chuyển cán bộ, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án 1816 của Bộ Y tế về việc cử cán bộ hỗ trợ các tỉnh Lai Châu và Điện Biên, góp phần giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân các địa phương. Cung ứng đầy đủ, kịp thời các loại thuốc, hóa chất phục vụ khám, chữa bệnh, phòng chống dịch, phòng chống thiên tai, thảm họa và các hoạt động lớn trên địa bàn. Công tác xã hội hóa trong Ngành được chỉ đạo triển khai ở nhiều đơn vị và đã phát huy hiệu quả tích cực góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và giảm tải cho tuyến trên. Đã xây dựng và hoàn thành quy hoạch phát triển ngành Y tế Thủ đô đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, có kế hoạch xây dựng mới bệnh viện 1000 giường tại huyện Mê Linh và Bệnh viện Nhi Hà Nội tại huyện Đan Phượng. Duy trì phong trào thi đua trong toàn Ngành, năm 2012 đã có 3 thầy thuốc được đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân, 32 thầy thuốc được đề nghị phong tặng danh hiệu Thầy thuốc Ưu tú, 01 Công dân Thủ đô ưu tú, 01 Huân chương Độc lập hạng Ba, 01 Huân chương Lao động hạng Nhì, 03 Huân chương Lao động hạng Ba….

Hưởng ứng phong trào thi đua của UBND thành phố: “Phát huy truyền thống 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Đảng bộ – Chính quyền và nhân dân Thủ đô đoàn kết, năng động, sáng tạo, thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2015”, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành Y tế Thủ đô xin hứa với Bác sẽ quyết tâm thực hiện những điều Bác căn dặn ngành Y tế, thực hiện y đức của người thầy thuốc, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Thành ủy, nhiệm vụ của Thành phố, kế hoạch năm 2013 của Ngành, xứng đáng là niềm tự hào của Thủ đô anh hùng./.

Lan Hương
Vkyno (st)

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 8: Khúc ca bi tráng

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Mời quý vị và các bạn xem tập 8: Khúc ca bi tráng.

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 9: Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 9: Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 10: Không có gì quý hơn độc lập tự do

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 10: Không có gì quý hơn độc lập tự do.

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 11: Mậu Thân trong lòng nước Mỹ

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 11: Mậu Thân trong lòng nước Mỹ.

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 12: Tượng đồng bia đá

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 12: Tượng đồng bia đá.

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập cuối: Chuyện chưa nói hết

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 13: Chuyện chưa nói hết.

Bài học về thống nhất chỉ đạo chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968

Sau thất bại của cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, kế hoạch “ bình định” chiến lược của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn bị phá sản một bước quan trọng. Đầu năm 1967, trên cơ sở phân tích, đánh giá, tình hình mọi mặt và diễn biến thực tế chiến trường, Quân ủy Trung ương (QUTƯ) và Bộ Tổng Tư lệnh (BTTL) Quân đội nhân dân Việt Nam nhận thấy một tình thế mới có lợi cho ta, bất lợi cho địch đã xuất hiện. Kế hoạch chiến lược Đông Xuân 1967-1968 lập tức được khởi thảo nhằm chớp thời cơ đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước tiếp tục phát triển.

Liên tục trong tháng 5 và tháng 6 năm 1967, Bộ Chính trị (BCT) Ban Chấp hành Trung ương (BCHTƯ) Đảng, khóa III đã hai lần tổ chức hội nghị để đánh giá tình hình, xem xét dự thảo chiến lược Đông Xuân 1967-1968, đề ra chủ trương: trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất để giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn, bằng cách quyết tâm chỉ đạo việc tổ chức các trận đánh tiêu diệt từ 3 đến 5 lữ đoàn Mỹ, 3 đến 5 sư đoàn quân ngụy Sài Gòn.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết tháng 6-1967 của Hội nghị BCT, Bộ Tổng Tham mưu (BTTM) đã nhanh chóng cử cán bộ tới các chiến trường, các mặt trận để chỉ đạo thí điểm cách đánh tiêu diệt gọn các đơn vị quân đội Mỹ, nhằm đánh giá khả năng tác chiến của quân và dân ta trước một đối thủ “được trang bị tận răng” như quân đội Mỹ; đồng thời, thăm dò phản ứng đối phó và thực lực của địch. Trong khi BTTM đang chỉ đạo cách đánh thí điểm trên chiến trường thì tháng 7-1967, tại Tổng hành dinh, BCT đã có cuộc họp với lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường, với các ngành, các cấp có liên quan để cùng bàn bạc, cân nhắc, từng bước hoàn chỉnh chủ trương chiến lược đã xác định.

Từ kết quả các hội nghị trên, từ thực tế “Tổ kế hoạch” của BTTM  được BCT giao cho lựa chọn hai khả năng tác chiến (từ tháng 6-1967 đến thời điểm này) chưa tìm ra phương án tối ưu; thì vào lúc đó, một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt trong BCT, QUTƯ đưa ra chủ trương: đột ngột chuyển hướng tiến công chiến lược của ta từ rừng núi, nông thôn đánh thẳng vào sào huyệt địch ở đô thị trên toàn miền Nam. Thế là, ngay lập tức, kế hoạch mà BTTM đang triển khai được hình thành lại.

Tháng 10-1967, trong 5 ngày (từ 20 đến 24-10), BCT họp bàn cụ thể hơn về chủ trương và kế hoạch chiến lược năm 1968. Đây là Hội nghị rất quan trọng để quyết định kế hoạch tiến công Tết Mậu Thân lịch sử.

Sau khi nghe Dự thảo kế hoạch chiến lược Đông-Xuân-Hè 1967-1968 do đồng chí Văn Tiến Dũng thay mặt QUTƯ trình bày, Báo cáo về tình hình địch của Cục 2, về Tình hình ta của BTTM, về Kế hoạch tác chiến của các mặt trận…, BCT nhận định: Mỹ đang thất bại lớn, có tăng quân cũng không giải quyết được gì, mà tình hình càng bế tắc, càng bị cô lập thêm, mâu thuẫn càng sâu sắc. Tuy vậy, Mỹ còn rất ngoan cố… đang cố gắng tăng cường lực lượng để giữ cho tình hình không xấu đi, ta nên chớp thời cơ bất ngờ và đồng loạt đánh mạnh vào các đô thị trên toàn miền Nam.

Phải thấy rằng, đây là một quyết định rất táo bạo, rất sáng tạo của Đảng ta. Nếu chỉ căn cứ vào tương quan lực lượng quân sự thuần túy giữa hai bên trên chiến trường lúc ấy sẽ không có chủ trương táo bạo này. Toàn bộ ý định chiến lược được giữ hết sức nghiêm mật (không đưa ra bàn ở Trung ương; ngay trong BTTM cũng chỉ những người được phân công trực tiếp làm kế hoạch mới biết).

Ngày 28-12-1967, BCT họp phiên đặc biệt, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, chính thức thông qua kế hoạch chiến lược năm 1968. Tháng 1-1968, Hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ 14 họp, đã thông qua Nghị quyết tháng 12-1967 của BCT, thực hiện Tổng công kích- Tổng khởi nghĩa (TCK-TKN) trên toàn miền Nam.

Để thực hiện quyết tâm chiến lược này, BCT chỉ rõ: trên mặt trận ngoại giao cần có những phương pháp và hình thức đấu tranh thích hợp và “phải mở đường cho địch đi vào thương lượng theo hướng có lợi nhất cho ta1. Đồng chí  Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất BCHTƯ Đảng- lưu ý rằng: mặc dù quân Mỹ đang bị động, đang lâm vào thế khó khăn, “nhưng nó là kẻ mạnh, nên ta phải biết thắng nó”. Muốn thế, chúng ta không thể đánh theo lối cũ “mà phải chuyển qua một giai đoạn mới, tức là giai đoạn TCK-TKN, buộc nó phải đi đến ngồi với ta, thương lượng với ta2.

Để hiểu rõ hơn phương châm chiến lược mà Đảng ta xác định cho Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chúng ta nhìn lại một cách khái quát tình hình quân sự, chính trị, ngoại giao của chúng ta từ 1965 đến 1968.

Về quân sự: trong khói lửa chiến tranh ác liệt, quân và dân ta trên cả hai miền Nam-Bắc vẫn bền gan chiến đấu, giữ vững chiến lược tiến công, làm thất bại một bước quan trọng các mục tiêu chiến lược trong cuộc “chiến tranh cục bộ” và “chiến tranh phá hoại” của Mỹ, khiến cho Mỹ không thể dễ dàng đạt được mục tiêu chiến lược đề ra ban đầu là “giành thắng lợi trong thời gian ngắn”.

Về chính trị, ngoại giao: nếu như phía chính quyền Mỹ chịu sức ép của phong trào phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam ngày càng tăng ở trong nước và trên thế giới, thì phía chúng ta cũng đang ở vào giai đoạn phức tạp là phải tính toán sao cho vừa giữ được độc lập chủ quyền, vừa tranh thủ được sự ủng hộ tối đa của bạn bè quốc tế. Do vậy, từ cuối năm 1966, đầu năm 1967, BCT đã chủ trương tạo điều kiện mở ra cục diện vừa đánh vừa đàm. Thấm nhuần chủ trương đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (1-1967), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh phát biểu: “ Để đánh bại kẻ thù hết sức ngoan cố và xảo quyệt là đế quốc Mỹ xâm lược, ta phải giữ vững quyết tâm cao độ, nắm vững phương châm chiến lược, đồng thời phải biết cách đánh thắng địch, vận dụng sách lược khôn kéo, thắng từng bước”3. Đó là điều giải thích, vì sao nếu như từ năm 1966 trở về trước, lập trường của phía Việt Nam là Mỹ phải rút hết quân ra khỏi miền Nam, chấm dứt hoàn toàn mọi hành động chống phá miền Bắc trước khi có bất cứ cuộc nói chuyện nào giữa hai bên thì tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, Đảng ta bắt đầu hé mở khả năng phía Việt Nam sẽ đi vào đàm phán với Mỹ, nếu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, chứ chưa bao gồm điều kiện Mỹ phải rút hết quân ra khỏi miền Nam như trước đây. Tuy nhiên, lường trước những vấn đề nảy sinh, Hội nghị Trung ương 13 cũng đã nêu rõ, phải có kế hoạch vận động, giải thích, thuyết phục… Những nước XHCN anh em có thể nghĩ là ta “thương lượng non”, do đó tỏ thái độ trực tiếp hoặc gián tiếp không đồng tình với ta; hoặc quá nặng về đàm phán đi đến thúc ép ta sớm đi đến giải pháp chính trị trong khi tình hình chưa chín muồi; cần hết sức tránh không để kẻ thù lợi dụng sự bất đồng về sách lược giữa nước ta và các nước anh em.

Trước thiện chí hòa bình của Việt Nam, phía Mỹ không những không đáp lại mà còn đòi ta “phải có đi, có lại”, đưa ra điều kiện buộc ta phải công khai cam kết không được lợi dụng việc Mỹ ngừng ném bom để chi viện cho miền Nam. Đó là sự mặc cả trớ trêu, bất công, lộn sòng giữa người bị xâm lược và kẻ đi xâm lược, thể hiện rõ việc Mỹ vẫn ôm mộng xâm lược miền Nam. Xem thư của Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 8-2-1967, thấy rõ sự ngoan cố đó.

Vì thế, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 là để giải bài toán lịch sử nêu trên. Nghiên cứu kỹ Biên bản Hội nghị BCT bàn về kế hoạch chiến lược mùa thu: TCK-TKN Đông-Xuân-Hè 1967-1968, Nghị quyết của cơ quan chỉ đạo chiến lược cũng như một số bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội lúc bấy giờ, chúng ta nhận thấy, chủ trương chiến lược táo bạo của Nghị quyết tháng 12-1967 của BCT thực hiện TCK-TKN có sự thống nhất cao của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước và quân đội. Tựu trung, các đồng chí đã hoàn toàn nhất trí với chủ trương TCK-TKN, nhằm vào toàn bộ mục tiêu hiểm yếu của địch trên chiến trường; đặc biệt là với cách đánh hiểm, đánh vào yết hầu, đánh vào “tim óc” của địch vào thời điểm nhạy cảm nhất trong đời sống chính trị nước Mỹ, buộc giới lãnh đạo Mỹ phải xuống thang, ngồi vào bàn đàm phán, mở ra một giai đoạn mới- giai đoạn vừa đánh vừa đàm, nhằm kết thúc cuộc chiến tranh theo truyền thống Việt Nam.

Tết Mậu Thân 1968 và tác động rộng lớn của nó đã hiện thực hóa mục tiêu chiến lược này của cơ quan chỉ đạo chiến lược ta về các mặt sau:

– Phơi bày toàn bộ quá trình thất bại của Mỹ trên chiến trường cả về quân  sự, chính trị; sự bất lực của một đạo quân đông tới gần một triệu rưởi, được trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại (bậc nhất lúc bấy giờ) trước sức tiến công mãnh liệt và cách đánh hiểm đầy sáng tạo của quân và dân ta.

– Làm lộ rõ những sai lầm về chiến lược cũng như cách thức điều hành chiến tranh của giới lãnh đạo Oa-sinh-tơn và của giới tướng lĩnh Mỹ trên chiến trường.

– Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 còn là sự biểu dương ý chí, nghị lực, sức mạnh và nghệ thuật điều hành chiến tranh của Bộ Thống soái Việt Nam; qua đó, làm bộc lộ những giới hạn trong sức mạnh quân sự, kinh tế của Mỹ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chiến lược toàn cầu mà Mỹ đã theo đuổi từ lâu.

– Vì những lẽ đã nêu, cho dù Mỹ là một nước lớn, một nước chưa hề bại trận trong lịch sử 200 năm lập nước, nhưng sự kiện Tết Mậu Thân 1968 đã gây  chấn động dữ dội giữa lòng nước Mỹ, khiến cho đông đảo các tầng lớp xã hội Mỹ- kể cả các quan chức cấp cao, các nghị sĩ, các tập đoàn tài phiệt đầy thế lực phải thay đổi quan điểm, không còn hậu thuẫn cho chính sách xâm lược của chính quyền Giôn-xơn nữa.

– Tất cả những gì diễn ra trong Tết Mậu Thân 1968 đã khiếnTổng thống Mỹ L.Giôn-xơn, vào đêm 31-3-1968, chẳng những phải công khai tuyên bố: Mỹ đơn phương chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc (từ vĩ tuyến 20 trở ra), sẵn sàng cử đại diện đi vào đàm phán với chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, mà hơn thế, còn quyết định rút dần quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam khi chưa một mục tiêu nào của cuộc chiến tranh này được thực hiện. Việc trút bỏ gánh nặng chiến tranh xuống vai chính quyền và quân đội Sài Gòn- một lực lượng vốn đã bại trận trước khi quân Mỹ buộc phải tham chiến và ngày càng phụ thuộc vào sự hiện diện của quân Mỹ thì, về thực chất đã làm cho Mỹ phải phụ thuộc vào chính kẻ đã và đang phụ thuộc vào mình. Với tất cả các lý do đó, cho dù sau Tết Mậu Thân 1968, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta vẫn phải kéo dài và rất quyết liệt (phải 5 năm sau quân Mỹ mới rút hết và 7 năm sau ngụy quyền Sài Gòn mới sụp đổ hoàn toàn), nhưng với quyết định ngày 31-3-1968 của Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn, về thực chất, số phận cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ đã được định đoạt.

Bài học về sự thống nhất  chỉ đạo chiến lược trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 vẫn mang giá trị thời sự trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của chúng ta, khi mà tình hình chính trị, quân sự, kinh tế thế giới và khu vực còn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều thách thức, nguy cơ, nhiều nhân tố gây mất ổn định như hiện nay.

Đại tá, PGS, TS. HỒ KHANG
Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
tapchiqptd.vn

____________________

1, 2 – ĐCSVN- Văn kiện Đảng, Toàn tập, Tập 29 , Nxb CTQG, H. 2004, tr. 63; tr. 23.

3 – Văn kiện Đảng, Sđd, Tập 28, tr. 124;125.

“Cầu hàng không” Xuân Mậu Thân 1968 – Khúc tráng ca bất tử

QĐND – Thật kỳ diệu! Tôi đã thốt lên như vậy khi nghe trọn câu chuyện tái hiện ký ức thực hiện nhiệm vụ tuyệt mật, thiết lập “cầu hàng không” chi viện cho chiến trường miền Nam Tết Mậu Thân 1968 của Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Tường Long, nguyên kỹ sư hàng không thuộc Trung đoàn 919, Quân chủng Phòng không-Không quân. Từ ký ức của Anh hùng Nguyễn Tường Long kết hợp với tư liệu của Thiếu tướng Phan Khắc Hy, nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Không quân, nguyên Phó tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, chúng tôi có dịp hiểu rõ hơn những trang sử bi hùng của “cầu hàng không” Tết Mậu Thân 1968.

Kế hoạch quan trọng tối mật

Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Tường Long giờ đây đã yên nghỉ trong cõi vĩnh hằng. Ông qua đời năm 2008. Cuộc gặp gỡ với tôi trước ngày định mệnh mấy tuần là lần cuối cùng ông tiếp xúc với báo chí. Dường như ông đã tiên liệu trước sự ra đi vĩnh viễn của mình vì tuổi già, bệnh tật, nên đã chủ động đến gặp tôi. Ông mang theo bản tư liệu chép tay được trình bày khá ngắn gọn nhưng đầy đủ. Đó là những gì ông nhớ được về nhiệm vụ tối mật, cải tiến máy bay vận tải IL-14 do Liên Xô sản xuất thành máy bay ném bom, thiết lập “cầu hàng không” chi viện chiến trường miền Nam Tết Mậu Thân 1968. “Đây là dấu ấn sâu sắc nhất trong đời quân ngũ của tui. Tui đã ghi tóm tắt tất cả vào đây. Cháu cần gì thêm thì cứ hỏi. Thời gian đã qua lâu rồi nhưng tui vẫn nhớ rành rẽ mọi việc. Tui sẽ kể hết cho cháu nghe, kẻo rồi không còn dịp để mà kể nữa”, ông đã nói với tôi như vậy.

Phi công Nguyễn Văn Bang, một trong những cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Ảnh tư liệu.

Để chuẩn bị cho Chiến dịch Mậu Thân 1968, thực hiện chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu; Quân chủng Phòng không-Không quân, Bộ tư lệnh Không quân đã giao cho Trung đoàn 919, trực tiếp là Ban Kỹ thuật của Nguyễn Tường Long nhiệm vụ tối quan trọng và tuyệt mật: Nghiên cứu cải tiến một số loại máy bay hiện có phục vụ nhiệm vụ chiến đấu, ném bom, chi viện cho chiến trường miền Nam. Cuộc thử nghiệm được bắt đầu với loại máy bay vận tải IL-14. Ông là người lãnh trách nhiệm nghiên cứu, lập phương án cải tiến trình cấp trên phê duyệt. Thời gian gấp rút. Nhiệm vụ cấp bách. Nguyễn Tường Long hối hả tìm tài liệu kỹ thuật tiếng Nga về loại máy bay này để nghiên cứu, nhưng chẳng khác gì “mò kim đáy bể”. May mắn là sau đó, Tường Long tìm được một tài liệu quân sự tiếng Đức dịch từ tiếng Nga. Như vớ được vàng, người kỹ sư trẻ và các cộng sự chụm đầu, ngày quên ăn, đêm quên ngủ, dồn tâm lực, trí tuệ nghiên cứu toàn diện đặc tính kỹ, chiến thuật của máy bay IL-14 để tìm phương án cải tiến. Lúc bấy giờ, những chiếc máy bay IL-14 của ta khi đưa từ Liên Xô về, phải gửi tại sân bay Tường Vân (Trung Quốc). Ngay lập tức, các phi công của Trung đoàn 919 đã sang Tường Vân lái ba chiếc về sân bay Gia Lâm phục vụ việc nghiên cứu, cải tiến.

Sau nhiều ngày đêm liên tục miệt mài, Nguyễn Tường Long và các kỹ sư đã tìm ra “mã khóa” để biến máy bay vận tải chở quân IL-14 thành chiến đấu cơ bắn pháo cối, ném bom. Trọng tâm của kế hoạch cải tiến là phần khoang bụng và hai cánh của máy bay. Các kỹ sư đã tháo dỡ hết các ghế ngồi và phụ kiện dùng để chở người, tính toán sức nâng, cân đối lực cản của gió và tính năng hoạt động trên không của phương tiện để gắn vào đó một khối lượng vũ khí tương ứng. Tận dụng phần gờ hai bên dãy ghế ngồi, Nguyễn Tường Long đã “chế” thành vị trí gắn vũ khí và lắp được 60 quả đạn cối 120mm. Tiếp đó là “mổ bụng” máy bay, tạo cửa cho đạn cối thoát ra khi phi công thao tác chiến đấu trên không. Hai cánh của máy bay cũng được nắn lại để gắn các giá treo bom, đủ khả năng mang theo ba quả bom loại 100kg.

Sau khi cải tiến, IL-14 trở thành chiến đấu cơ đa năng, vừa ném bom, vừa phóng đạn cối, vừa chở quân nhảy dù và hàng chi viện. Kế hoạch cải tiến, nâng cấp một loạt máy bay IL-14 và máy bay AH2 được triển khai gấp rút, kịp chuẩn bị cho chiến dịch chi viện. Riêng loại máy bay AH2, sau khi cải tiến, mỗi chiếc lắp được 10 quả cối 120mm.

Trong khúc tráng ca…

Nhật ký chiến tranh của Thiếu tướng Phan Khắc Hy có nhiều trang ghi chép tỉ mỉ diễn biến của nhiệm vụ thả dù tiếp tế bộ binh và tấn công một số mục tiêu mặt đất ở phía Nam Vĩ tuyến 17 trong Chiến dịch Mậu Thân 1968. Sau khi đã chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, vũ khí trang bị, đúng ngày 27 Tết Mậu Thân (nhằm ngày 26-1-1968), thực hiện chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu, Chính ủy Không quân Phan Khắc Hy và Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân Nguyễn Văn Tiên trực tiếp xuống Trung đoàn 919 để phổ biến nhiệm vụ tuyệt mật, tổ chức cho các phi đội cất cánh chi viện bộ binh và tấn công mục tiêu của kẻ thù ở bên kia Vĩ tuyến 17. Các lực lượng bảo đảm cho “cầu hàng không” cũng được triển khai gấp rút, bí mật lập sở chỉ huy không quân ở Quảng Bình.

Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Tường Long, người trực tiếp cải tiến máy bay IL-14 (chụp năm 2008).

Vào thời khắc miền Nam tổng tiến công, đêm Ba mươi rạng sáng Mồng Một Tết Mậu Thân, lực lượng không quân Trung đoàn 919 gồm các phi đội thực hiện nhiệm vụ chi viện cũng đã sẵn sàng chờ lệnh cất cánh. Thiếu tướng Phan Khắc Hy nhớ lại: “Vào thời điểm đó, thời tiết miền Bắc đột ngột chuyển biến rất xấu. Mây dày đặc, nhiệt độ xuống thấp, mặt khác hệ thống phòng ngự của địch cả trên đất liền và trên biển được tăng cường tối đa. Tình hình hết sức khó khăn”.

Nhiệm vụ cất cánh không thể chậm trễ hơn được nữa. Một phương án táo bạo nhưng cần thiết được thông qua. Các máy bay T.14 (ký hiệu chỉ máy bay IL-14 cải tiến) sẽ cất cánh từ sân bay Gia Lâm, bay ở tầm thấp vòng qua không phận Lào để vào Huế, nhằm tránh sự phát hiện của ra-đa đối phương. Tối Mồng 10 Tết Mậu Thân (nhằm ngày 7-2-1968), các chuyến bay lần lượt nhận lệnh cất cánh. Vì thời tiết xấu, tổ bay đánh đồn Mang Cá không tìm thấy mục tiêu. Hai chiếc đã bay trở ra cửa biển Cửa Việt (Quảng Trị) và bắn chìm một tàu chiến của địch, bắn hai tàu khác bị thương rồi về sân bay Gia Lâm hạ cánh an toàn; còn chiếc của ông Chuyền trên đường quay về thì bị bắn thủng thùng chứa nhiên liệu nên phải hạ cánh khẩn cấp xuống Thanh Hóa. Riêng tổ bay do đồng chí Phan Kế làm cơ trưởng đã mãi mãi không trở về.

Liên tiếp những ngày sau đó, các tổ bay thực hiện nhiều đợt xuất kích nữa. Theo lời kể của Thiếu tướng Phan Khắc Hy thì có tất cả 12 tổ bay cất cánh đi làm nhiệm vụ trong 4 đêm, bao gồm cả bay chiến đấu và bay tiếp vận.

Trong câu chuyện với chúng tôi lúc còn sống và tư liệu chép tay để lại, Anh hùng Nguyễn Tường Long nhắc nhiều đến người đồng đội gần gũi, thân thiết, đó là phi công Nguyễn Văn Bang (trong chiến dịch “cầu hàng không” nói trên, phi công Nguyễn Văn Bang là phi đội trưởng). Trong quá trình Ban Kỹ thuật nghiên cứu, cải tiến máy bay, trước nhiều ý kiến bày tỏ sự lo ngại kế hoạch không thành công, làm hỏng máy bay, phi công Nguyễn Văn Bang là người động viên, ủng hộ Nguyễn Tường Long hết mình. Anh nói với Tường Long: “Cậu cứ làm đi. Nếu phải chết vì bay thử nghiệm máy bay cải tiến của cậu thì tớ cũng sẵn sàng”.

Sau một vài chuyến đầu cất cánh tìm diệt mục tiêu trên bộ không đạt kết quả như mong muốn, Nguyễn Văn Bang đã đề xuất và được cấp trên chấp thuận, chuyển hướng đánh mục tiêu trên biển, cụ thể là nhắm vào các chiến hạm của Mỹ. Nguyễn Tường Long và Nguyễn Văn Bang đã bàn bạc, tính toán kỹ lưỡng phương án đánh sao cho mục tiêu phải bị tiêu diệt và máy bay phải an toàn. Cách đánh được thống nhất, đưa máy bay vào độ cao trên 100m, mục tiêu nằm trong tầm bắn thì cắt bom, phóng hỏa lực rồi nhanh chóng thoát lên cao. Tầm 11 giờ 30 phút đêm 12-2-1968, ba tổ bay lần lượt cất cánh nhưng sau đó chỉ có một tổ trở về. Hai tổ, trong đó có tổ bay của Nguyễn Văn Bang bị mất liên lạc. Các nguồn tin sau đó cho biết, các phi công của chúng ta sau khi đã trút bom và hỏa lực vào mục tiêu đối phương, đã anh dũng hy sinh. Nhưng hy sinh do va vào núi cao hay trúng hỏa lực địch bị rơi xuống biển, thì đến nay vẫn còn là một ẩn số.

Không thấy đồng đội đưa máy bay trở về, lòng dạ Tường Long như có lửa đốt. Ngày hôm sau, Tường Long dò sóng ra-đi-ô, tình cờ nghe được một bản tin nước ngoài cho biết, có hai tàu trong hạm đội của Mỹ bị đánh phá hư hỏng nặng, phải gấp rút kéo sang vùng biển Phi-líp-pin để sửa chữa.

Chiến dịch “cầu hàng không” kết thúc. Chúng ta đã đưa được hàng chục tấn hàng đến địa điểm tiếp vận, phá hủy một số mục tiêu quan trọng của địch. 32 cán bộ, chiến sĩ của 4 tổ bay thuộc Trung đoàn 919 đã anh dũng hy sinh. Năm 2006, qua thông tin của quần chúng, cơ quan chức năng đã phát hiện được vị trí rơi của 1 trong 4 chiếc máy bay nói trên tại vùng rừng núi huyện A Lưới (Thừa Thiên-Huế) và đã tiến hành cất bốc được một phần hài cốt, làm lễ an táng cho các liệt sĩ. 3 chiếc máy bay còn lại cùng các cán bộ, chiến sĩ hy sinh đến nay vẫn chưa tìm được tung tích.

Bài, ảnh: HOÀNG MAI
qdnd.vn

Tin “mật” sau Mậu Thân

QĐND – Ngày 12-6-1965, tại Sài Gòn, Hội đồng quân lực Việt Nam Cộng hòa họp, ra quyết định phế truất Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, giải tán Chính phủ dân sự của Thủ tướng Phan Huy Quát, lập ra Ủy ban lãnh đạo quốc gia do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch và Ủy ban hành pháp Trung ương do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đứng đầu. Lúc bấy giờ, so với Kỳ (vai trò như Thủ tướng) thì Thiệu (vai trò như Tổng thống) khá mờ nhạt, vậy mà anh Hai Nhạ (tức Vũ Ngọc Nhạ, Cơ cán đi sâu kiêm Tổ trưởng Tổ điệp báo chiến lược của ta) vẫn chỉ đạo tôi tìm cách tiếp cận, bám sát Thiệu, bởi theo anh, đây mới là kẻ về lâu dài sẽ giữ vị trí trung tâm của chế độ Sài Gòn. Thực tế sau này đã chứng tỏ nhận định của anh Hai Nhạ là hoàn toàn chính xác…

Nhiệm vụ anh Hai Nhạ giao là thế, nhưng thực hiện lại chẳng hề dễ dàng, vì tôi chỉ là Tổng thư ký Tổng đoàn công-kỹ nghệ, đã không có tiếng tăm gì đáng kể trong giới chính trị, quân sự ở Sài Gòn, lại còn mang vết tù cũ dưới thời Ngô Đình Diệm. Tôi loay hoay mất mấy tháng trời mà công việc vẫn chưa tiến triển. Tới cuối năm 1965, nhờ sự thu xếp của anh Hai Nhạ, tôi mới được Trần Ngọc Nhuận (một linh mục rất thân cận với Thiệu, là Chánh xứ nhà thờ Phát Diệm ở quận Phú Nhuận và là người thuộc khối Công giáo miền Bắc di cư vào Nam) dẫn tới gặp Thiệu. Không rõ anh Hai Nhạ đã nói với Trần Ngọc Nhuận những gì mà vị linh mục chống Cộng khét tiếng này chỉ trịnh trọng giới thiệu với Nguyễn Văn Thiệu rằng tôi là một “nhân vật quốc gia kỳ cựu, có uy tín cao, quan hệ rộng” rồi chào Thiệu ra về, để tôi ở lại ngồi nói chuyện riêng với Thiệu.

Đại sứ Mỹ Bân-cơ (bên trái) từng trao tận tay Nguyễn Văn Thiệu bản khuyến cáo “7 biện pháp đối phó với Cộng sản” sau Tết Mậu Thân. Ảnh tư liệu.

Sau lần gặp đầu mang tính xã giao, tôi còn gặp riêng Nguyễn Văn Thiệu vài lần nữa, khi thì ở Dinh quốc khách trên đường Tú Xương, khi thì ở Dinh Gia Long, có lúc lại ở tư thất của Thiệu trong khu cư xá Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn. Sự trao đổi giữa hai bên càng lúc càng cởi mở. Do nghĩ tôi là người được phe Công giáo giao nhiệm vụ duy trì quan hệ với Thiệu và bí mật yểm trợ Thiệu trong một số hoạt động “tế nhị” nên Thiệu rất muốn thông qua tôi để giành lấy sự ủng hộ mạnh mẽ hơn của phe Công giáo, đặc biệt là trong cuộc bầu cử Tổng thống Việt Nam Cộng hòa sẽ diễn ra vào ngày 3-9-1967. Thiệu ngỏ ý, nếu “các cha” hỗ trợ Thiệu trong việc thu hút sự tín nhiệm của Mỹ thì Thiệu sẽ sẵn sàng nghe theo khuyến cáo của “các cha”. Thậm chí, vì nghi ngờ phe Công giáo ủng hộ liên danh “Người gieo mạ” của Trần Văn Hương và Mai Thọ Truyền hơn là ủng hộ liên danh “Dân chủ” của Thiệu-Kỳ nên Thiệu đã nhờ tôi “dàn xếp” để nếu thất cử thì ông ta vẫn có thể lui về nắm quân đội trên cương vị Tổng tư lệnh hoặc Tổng trưởng Quốc phòng.

Sau khi Thiệu đắc cử Tổng thống vài tuần, cũng nhờ sự thu xếp của anh Hai Nhạ mà tôi được mời vào Phủ Tổng thống làm Công cán ủy viên. Ngay lần đầu tiên đến gặp Tổng thư ký Phủ tổng thống là Nguyễn Văn Hướng (tức Mười Hướng, Mười Lễ, đảng viên Đại Việt kỳ cựu, từng làm Xứ bộ trưởng Xứ bộ Nam Việt của Đại Việt), tôi đã đề nghị không phổ biến công khai chức danh Công cán ủy viên Phủ Tổng thống của tôi, tạo điều kiện cho tôi tiếp tục ngồi vững ở vị trí Tổng thư ký Tổng đoàn công-kỹ nghệ, làm bình phong cho các hoạt động chính trị, kinh tế… để hậu thuẫn Thiệu và Hướng. Vốn có ý gờm tôi do nghĩ tôi là người thân cận lâu năm của Thiệu, được Thiệu gài vào Phủ Tổng thống để kiềm chế Hướng nên Hướng đồng ý ngay. Do đó, về cơ bản tôi không phải chịu sự phân công, điều hành một cách sít sao của Hướng và của Mai Quốc Đống (sĩ quan quân đội biệt phái, Đổng lý văn phòng Tổng thư ký) như những người khác trong Phủ Tổng thống.

Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Xuân Hòe (thời trẻ).

Theo chỉ đạo của anh Hai Nhạ, tôi đã tích cực mở rộng, đi sâu quan hệ, bước đầu thu thập được một số tin tức, tài liệu có giá trị từ Lưu Vĩnh Lữ (sĩ quan quân đội biệt phái, Bí thư của Hướng), Uông Ngọc Thạch (bác sĩ, phụ tá của Thiệu, đặc trách báo chí và thông tin), Nguyễn Duy Xuân (thạc sĩ, cố vấn của Thiệu về kinh tế, từng làm Tổng giám đốc Việt tấn xã, Tổng ủy trưởng Hợp tác và nông tín, Tổng trưởng Kinh tế), Tôn Thất Cư (Đổng lý văn phòng Bộ phát triển sắc tộc), Khương Hữu Điều (Phụ tá Tổng trưởng Kinh tế), Đặng Văn Sung (Thượng nghị sĩ, Trưởng khối Dân chủ-xã hội ở Thượng viện), Nguyễn Mậu (Hạ nghị sĩ, Chủ tịch Ủy ban quốc phòng của Hạ viện)…

Ngay sau khi sự kiện Tết Mậu Thân nổ ra, anh Hai Nhạ đã tới tận nhà tôi, chỉ đạo tìm mọi cách thu thập tin tức, tài liệu về nhận định tình hình và âm mưu, thủ đoạn đối phó của địch, cả về ngắn hạn, trung hạn lẫn dài hạn. Thấy trong bối cảnh nước sôi lửa bỏng mà tôi lại năng tới Phủ Tổng thống hơn trước, nhóm Thiệu, Hướng, Đống, Lữ… cho rằng, tôi đang lo lắng cho sự an nguy của chế độ Việt Nam Cộng hòa, nhưng chúng đâu ngờ mối quan tâm lớn nhất của tôi lúc này là thực hiện yêu cầu điều tra của cơ quan tình báo cách mạng.

Buổi sáng hôm ấy, chừng một tuần sau Tết Mậu Thân, chiến sự còn đang diễn ra ác liệt ở ngay sát Sài Gòn, tiếng bom, đạn vẫn ì ùng dội về, tôi đang ngồi tại bàn làm việc của mình trong Dinh Độc Lập, chăm chú đọc xấp tài liệu vừa mượn được từ Lưu Vĩnh Lữ thì Nguyễn Văn Hướng bước vào phòng, trên tay cầm một tờ giấy. Thấy tôi, Hướng tỏ ra mừng rỡ, vui vẻ cất tiếng chào rồi bước tới, trịnh trọng chìa tờ giấy về phía tôi, cười nói:

– Anh Hòe à, đây là bản khuyến cáo của phía Mỹ về một số phương cách đối phó cấp thời đối với cuộc Tổng tấn công từ phía cộng sản. Ông Đại sứ Bân-cơ vừa trực tiếp ngồi trực thăng bay từ Tòa đại sứ sang đây, trao tận tay Tổng thống Thiệu. Ông Bân-cơ vừa ra về là ông Thiệu gọi ngay tôi lên, đưa cho, bảo đem về nghiên cứu gấp rồi báo cáo lại thật cụ thể với ông ấy. Ngặt nỗi tôi không rành Anh ngữ. Vậy nhờ anh dịch giúp luôn, sẵn giấy bút đây tôi sẽ ghi chép lại cẩn thận. Chỉ có một trang này thôi, lại hết sức quan trọng, anh dịch kỹ càng cho nhé!

Miệng mỉm cười đáp “vâng”, tay nhận tờ tài liệu mà tim tôi đập thình thịch. Tôi thoáng nghĩ: “Ồ, thứ mà anh Hai Nhạ yêu cầu đây rồi!”. Nhìn lướt qua, tôi thấy nội dung tài liệu chỉ gồm vài chục dòng với 7 đầu mục tương ứng 7 biện pháp đối phó cấp thời mà Mỹ chỉ đạo Thiệu khẩn trương tập trung lực lượng và phương tiện để tổ chức thực hiện. Trong lúc Hướng quay qua lấy giấy bút, tôi đã dồn hết tâm trí để đọc, nhờ đó gần thuộc nội dung tài liệu. Khi dịch cho Hướng chép, tôi chẳng những nói to từng chữ, nhắc lại từng câu mà chốc chốc còn ngưng ngang, mượn việc giải thích về thuật ngữ, ý tứ cho Hướng hiểu để khắc sâu trong óc mình. Xong xuôi, tuy rất sốt ruột, chỉ muốn bay ngay về báo cáo anh Hai Nhạ, nhưng để Hướng khỏi nghi ngờ, tôi vẫn ngồi lại một lúc nữa. Nhìn vào, ai cũng nghĩ tôi đọc tài liệu. Thực ra thì tôi đang “tua” lại trong đầu những nội dung vừa dịch cho Hướng…

Khi tới gặp anh Hai Nhạ, theo yêu cầu của anh, tôi đã chép lại bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt các nội dung nói trên. Sau này, khi có dịp đối chiếu, tôi rất vui vì mình đã không để sót một câu chữ nào.

Vậy là tình báo của ta đã nắm được nguyên văn một tài liệu tuyệt mật do phía Mỹ gửi cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, trước khi trang tài liệu ấy được dịch và chuyển lại cho ông ta…

VŨ SÁNG Ghi theo lời kể của Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Xuân Hòe
qdnd.vn