Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Lời phát biểu ở sân bay thành phố Xvéclôp (11-7-1955)

Thưa các đồng chí thân mến,

Thưa các bạn thân mến,

Tôi xin thành tâm cảm ơn các bạn đã tiếp đón tôi và Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà một cách niềm nở, khiến chúng tôi không bao giờ quên được.

Tôi rất sung sướng được chuyển tới các bạn lời chào anh em của nhân dân Việt Nam. Nhân dân Việt Nam xin chúc các bạn ngày càng thịnh vượng hơn lên và thu được nhiều thắng lợi mới trong việc xây dựng chủ nghĩa cộng sản.

Chúng tôi đã nghe nói nhiều về thành phố lộng lẫy này của các bạn, về những nhân tài sáng tạo ra nhiều máy móc rất thần tình. Sự đón tiếp của các bạn đã nói lên mối tình nồng hậu của các dân tộc ở Liên Xô vĩ đại đối với nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Tình hữu nghị bất diệt giữa nhân dân Liên Xô và nhân dân Việt Nam muôn nǎm!

Đảng Cộng sản Liên Xô muôn nǎm!

Hoà bình thế giới muôn nǎm!

————————
Phát biểu ngày 11-7-1955.
Báo Nhân dân, số 497, ngày 13-7-1955.
cpv.org.vn

Lời phát biểu tại sân bay Mátxcơva (12-7-1955)

Thưa Chủ tịch Chủ tịch đoàn Xôviết tối cao Liên Xô,

Thưa các đồng chí và các bạn,

Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà rất sung sướng và cảm động được mời sang thǎm Liên Xô, thành trì của cách mạng, thành trì của hoà bình thế giới và xứ sở của tình huynh đệ vĩ đại.

Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi xin gửi nhân dân Mátxcơva, toàn thể nhân dân Liên Xô lời chào mừng nồng nhiệt và lòng biết ơn sâu xa. Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại đã chỉ cho nhân dân Việt Nam con đường thắng lợi để giải phóng dân tộc.

Chính sách của Liên Xô nhằm bảo vệ hoà bình thế giới và những cố gắng của Liên Xô ở Hội nghị Giơnevơ đã giúp nhân dân Việt Nam lập lại hoà bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Hiện nay nhân dân Việt Nam đang có nhiều nhiệm vụ quan trọng là củng cố hoà bình, hoàn thành thống nhất bằng tổng tuyển cử tự do theo Hiệp định Giơnevơ, đồng thời phải khôi phục và phát triển nền kinh tế quốc dân đã bị tàn phá trong 8 nǎm kháng chiến để hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.

Trong cuộc đấu tranh thực hiện những nhiệm vụ đó, chúng tôi tin chắc sẽ được Liên Xô, các nước anh em khác và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới giúp đỡ. Lực lượng hoà bình trên toàn thế giới đang lớn mạnh một cách vững chắc. Chính sách hoà bình của Liên Xô càng ngày càng được thêm nhiều nước ủng hộ và tán thành.

Chúng tôi nhiệt liệt ủng hộ chính sách của Liên Xô chủ trương giải quyết các vấn đề quốc tế đang tranh chấp bằng đường lối thương lượng và các nước có chế độ xã hội khác nhau có khả nǎng chung sống hoà bình.

Chúng tôi nhiệt liệt ủng hộ bản tuyên bố chung của đồng chí Bunganin, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô và Thủ tướng ấn Độ Nêru.

Dựa vào 5 nguyên tắc được nhắc lại trong bản tuyên bố đó, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mong muốn thành lập quan hệ bình đẳng và hai bên cùng có lợi với các nước láng giềng ở Đông Dương và ở Đông – Nam á, với nước Pháp và các nước khác trên thế giới.

Thưa các đồng chí và các bạn,

Tôi thành thật cảm ơn tất cả các đồng chí và các bạn đã tới đón tiếp chúng tôi ngày hôm nay một cách nồng nhiệt như thế này. Chúng tôi tin chắc rằng thời gian Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Liên Xô sẽ đẩy mạnh sự phát triển và củng cố tình hữu nghị giữa hai nước chúng ta.

Tình hữu nghị không gì lay chuyển nổi giữa nhân dân Việt Nam và Liên Xô muôn nǎm!

Liên bang Xôviết muôn nǎm!

Đảng Cộng sản Liên Xô muôn nǎm!

Hoà bình thế giới muôn nǎm!

——————————

Phát biểu ngày 12-7-1955.
Báo Nhân dân, số 498, ngày 14-7-1955.
cpv.org.vn

Tháng Năm nhớ Bác

Trong những ngày Tháng 5 lịch sử, toàn Đảng, toàn dân ta nhớ về ngày sinh của Bác với tấm lòng trân trọng và vô cùng thành kính. Bác có công lao vô cùng to lớn, đó là đem lại sự hồi sinh cho dân tộc ta, đưa đất nước ta từ nô lệ, lầm than trở thành một đất nước độc lập, tự do. Nhưng cái to lớn và vĩ đại hơn cả là những tư tưởng đạo đức, nhân văn của Người mãi mãi tỏa sáng trong hành trình phát triển của nhân dân ta và nhân loại tiến bộ.

Cả cuộc đời Bác Hồ kính yêu là cả cuộc đời “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”. Nhớ về những kỷ niệm Ngày sinh của Bác khi Người còn sống, Người thường tránh việc tổ chức linh đình, tốn kém, tránh quà cáp, biếu xén. Nhiều năm trên cương vị là người đứng đầu Đảng cầm quyền – Đảng Lao động Việt Nam, người đứng đầu Nhà nước – Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác thường tránh mọi người tổ chức ngày sinh của mình. Khi thì Bác đi thăm thương binh, khi thì Người đi sang nước bạn. Có năm sang nước bạn, bên nước bạn phát hiện ngày sinh của Người, liền tổ chức chúc tụng, chiêu đãi, tặng hoa. Bác đã bày tỏ rõ tâm tình của mình là không muốn được mọi người tung hô, chúc tụng. Có lần Bác còn yêu cầu đồng chí Bí thư riêng của mình là nhắc mọi người dành quà mừng tặng sinh nhật Bác để giúp cho các cháu thiếu niên, nhi đồng có thêm điều kiện học tập, vui chơi. Ngày 19-5-1969, năm cuối cùng trên cõi nhân sinh, Bác đến thăm một lớp tập huấn các tướng lĩnh cao cấp toàn quân. Khi Bác đến, cả hội trường lặng đi, sau đó tất cả các đồng chí có mặt đều đứng dậy hô vang những lời chào mừng Bác. Nhân Ngày sinh của Bác, đồng chí đồng bào chưa kịp đến chúc thọ Người mà Người lại chủ động đến thăm và chúc Tết Quân đội. Hôm đó, một sĩ quan cao cấp của quân đội ta đã ôm một bó hoa lên chúc thọ Người và hứa với Người là sẽ làm tròn nhiệm vụ của Đảng, của nhân dân giao cho như lời Người dặn… Bác đến như nhắn gửi lời của Người nhân Ngày sinh của Người về một nỗi niềm lớn lao, một tâm nguyện lớn lao miền Nam phải được giải phóng, mà muốn giải phóng miền Nam, bên cạnh sức mạnh toàn dân, chiến tranh nhân dân, thì lực lượng chủ công quyết định chiến thắng là Quân đội nhân dân. Miền Nam với Bác, như Người đã nói: Miền Nam trong trái tim tôi! Chừng nào miền Nam chưa được giải phóng, đất nước chưa thống nhất thì tôi ăn chưa ngon, ngủ chưa yên… Đồng chí Vũ Kỳ là người sống gần Bác đã kể lại câu chuyện Bác muốn đi thăm miền Nam năm đó. Chắc Bác đã linh nghiệm được điều mà mình khó có thể sống thêm được 5, 6 năm nữa, cho đến ngày giải phóng miền Nam, nên Người có ý định vào Nam. Bác đã dự liệu cho chuyến đi, các phương án đi, phương tiện đi, cách cải trang để đi… Nhưng các đồng chí trong Bộ Chính trị đã không dám để Bác đi bởi vì Người không thật khỏe.

Cả cuộc đời, Bác sống trong giản dị, đạm bạc, kể cả những năm tháng trên cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, của dân tộc, thay cho cháo bẹ, rau măng của những tháng ngày cách mạng còn trong trứng nước là cơm trắng, cá kho, cà muối, canh cua, không có cao lương, mỹ vị. Tất cả Bác còn lo và dành cả cho đời, cho dân, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Trên cương vị là Chủ tịch Đảng mười tám năm, Chủ tịch nước hai mươi bốn năm khi đi thăm hỏi đồng bào, đồng chí, ít khi Bác báo cho biết trước và càng không cho tổ chức tiếp đón linh đình. Bác thường đến thăm nom từ chỗ đơn giản nhất, chỗ ăn, nơi ở, như người cha đến thăm con…

Tháng Năm nhớ Bác, học ở Bác đức tính khiêm tốn, giản dị, hết lòng vì dân, vì nước, vì những mảnh đời còn gian nan vất vả. Tháng Năm, có ngày sinh của Đức Phật, có ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có mùa sen thơm ngát. Đức Phật dạy sống phải chân chính từ ý nghĩ, sự ham muốn đến việc làm. Bác Hồ dạy chúng ta, lời dạy có gốc từ đạo Nho, đạo Phật, chắt lọc tinh hoa của tiền nhân: Phải cần, kiệm, liêm, chính. Chữ chính tưởng như dễ mà khó, bởi vì trong mỗi con người đều đang tồn tại những ham muốn mang nặng chủ nghĩa cá nhân – một thứ giặc ở trong lòng, chỉ cần thiếu chịu tu dưỡng là nó kéo ta nhào xuống hố, học cái tốt thì khó như leo núi, khó mới phải kiên trì học.

Tháng Năm nhớ Bác và học theo Bác. Bài học thiết thực và hiệu quả nhất là nói đi đôi với làm, bởi vì sinh thời Bác đã dạy: Đối với các dân tộc phương Đông, một tấm gương sống có giá trị hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền.

Bác đã sống là một tấm gương trong sáng và mãi mãi sáng trong soi cho mỗi người con theo Bác, theo con đường mà Người đã chọn cho Đảng ta, dân tộc ta, non sông đất nước ta./.

Theo vfu2.edu.vn
Phương Thúy (st)
bqllang.gov.vn

Hồi ức của một nhà ngoại giao về Chủ tịch Hồ Chí Minh

LTS – Ông E.P.Gla-du-nốp (trong ảnh) nguyên là Tham tán Công sứ Ðại sứ quán Liên Xô (cũ) tại Việt Nam,Vụ trưởng Vụ Ðông Dương Ðảng Cộng sản Liên Xô, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga – Việt. Trong thời gian công tác tại Việt Nam, ông đã có vinh dự nhiều lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt ông còn được trực tiếp dịch trong những cuộc gặp giữa Ðại sứ Liên Xô X.A.Tốp-man-xi-an và Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Nhân dịp sang thăm Việt Nam, ông đã đến Bảo tàng Hồ Chí Minh kể lại những kỷ niệm của mình về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin lược trích hồi ký của ông về những lần gặp và những cảm nghĩ của ông về Người.

Trong một lần khai mạc hội nghị có 54 Ðại sứ quán các nước, đồng chí Hồ Chí Minh đề nghị chọn ra người phiên dịch cho Ðại sứ Liên Xô X.A.Tốp-man-xi-an, và tôi đã được chọn. Thường khi có điện thoại do thư ký của Bác Hồ gọi đến, tôi sẽ lên xe đến Phủ Chủ tịch, có nhân viên ngoại giao ra đón. Theo thông lệ, cuộc gặp gỡ bao giờ cũng ở Phủ Chủ tịch, nhưng có khi chuyển sang ngôi nhà của người làm vườn. Mở đầu là những câu chuyện hội đàm chung, sau đó chuyển sang phòng chiếu phim, chiếu phim tài liệu của Việt Nam, Liên Xô hoặc quốc tế, thông thường có rất nhiều trẻ em cùng xem phim. Hồ Chí Minh khi xem phim thì bình luận những đoạn trong phim, trao đổi với Ðại sứ những cảnh quay trong phim, hoặc là nói với các em thiếu nhi những điều trong phim. Tôi lúc đó làm nhiệm vụ phiên dịch. Sau đó khoảng 15 – 20 phút, phim kết thúc, Bác Hồ đề nghị chuyển sang một phòng khác, hoặc ngôi nhà của người làm vườn, chúng tôi thường chuyển xuống phòng ở tầng 1, tôi thì không nhớ được vì thông thường lúc đó chỉ có Ðại sứ với Bác cùng đồng chí Phạm Văn Ðồng và đồng chí Hoàng Lương. Hồ Chí Minh thông báo cho Ðại sứ các vấn đề của Việt Nam, hoặc nghe Ðại sứ thông báo tình hình Liên Xô. Tôi không thể nhớ nội dung những cuộc đối thoại ấy vì nghề phiên dịch cần phải quên, khi chúng tôi nghe xong và ghi chép lại, sau đó đưa cho lãnh đạo và quên buổi phiên dịch đó. Tôi chỉ nhớ tính chất những buổi phiên dịch đó mang tính anh em thân thiện. Trong những buổi làm việc, mặc dù buổi trao đổi rất nghiêm túc, nhưng Bác thường vui vẻ và thân thiện.

Trong quá trình làm việc, thỉnh thoảng Bác lại hỏi tôi những câu hỏi rất đời thường như: Công việc của anh thế nào, cuộc sống ra sao? Ðại sứ cũng hỏi Hồ Chí Minh về tôi, thí dụ như tôi phiên dịch thế nào? v.v.

Có một lần Bác Hồ hỏi tôi kiến thức văn hóa, văn học, nghệ thuật Việt Nam. Bác hỏi tôi đã đọc những cuốn sách của các nhà văn Việt Nam, thí dụ như nhà thơ Xuân Diệu chưa? Tôi trả lời có quyển tôi đọc rồi, có quyển chưa đọc.

Sau khi cuộc nói chuyện kết thúc, Bác Hồ tự nói với Ðại sứ Tốp-man-xi-an bằng tiếng Nga là có hỏi đồng chí phiên dịch về kiến thức văn hóa, văn học, nghệ thuật Việt Nam.

Tôi muốn kể về lần gặp gỡ của tôi với Bác Hồ trong các buổi tiếp thông thường của Người với các chuyên gia nước ngoài ở Câu lạc bộ Quốc tế. Tháng 8-1962, tại Phủ Chủ tịch diễn ra buổi lễ kỷ niệm Quốc khánh Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đi dạo với các đồng chí lãnh đạo trong khuôn viên Phủ Chủ tịch, mọi người thông báo với Bác đã đến giờ bắt đầu buổi lễ. Bác Hồ cầm mi-crô nói bằng các thứ tiếng: Việt, Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc mời mọi người vào phòng, mọi người vỗ tay đồng ý. Trong buổi lễ đó, Người đã đến và mời tôi nâng cốc chúc mừng ngày Quốc khánh, lúc đó cốc của tôi chưa có rượu. Bác Hồ liền tự tay rót rượu vào cốc của tôi. Tôi rất lo lắng và hồi hộp, vì lần đầu tiên một nhân viên bình thường ở sứ quán được Chủ tịch nước quan tâm như vậy. Bác Hồ hỏi tôi:

– Cháu làm gì ở đây?

Tôi trả lời:

– Tôi là cán bộ Sứ quán.

Bác Hồ nói:

– Còn tôi là Chủ tịch nước, cán bộ bình thường thì phải tuân lệnh Chủ tịch nước.

Thế là Bác Hồ rót rượu mời tôi uống.

Ðó là thí dụ cụ thể về cách mà Bác Hồ tiếp xúc đối với mọi người, từ những người có cương vị cao đến những người có cương vị thấp, Bác đều không phân biệt ai cả, Bác đều chú ý. Người có một trí nhớ tuyệt vời, đã gặp một lần là không bao giờ quên. Ðến lần gặp gỡ sau, Bác coi tôi như một người thân quen, hỏi tôi về gia đình, vợ con, về mọi người trong gia đình tôi, về công việc, v.v.

Lần gặp sau, khoảng tháng 5 năm sau đó, tôi được gặp Bác trong dịp mừng chiến thắng phát-xít, Người cũng đến và phát kẹo cho thiếu nhi, sau đó Người lại đến hỏi tôi:

– Cháu thế nào, cháu có khỏe mạnh không? v.v.

Tôi vô cùng kính trọng Bác Hồ. Người không chỉ là một nhà chính trị kiệt xuất, mà còn là một con người có những phẩm chất rất tuyệt vời. Tôi muốn nói, hiện nay trải qua rất nhiều năm, tên tuổi Hồ Chí Minh vẫn được mọi người nhớ và kính trọng. Hồ Chí Minh đặt nền móng cho mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô, tên tuổi Người chắc chắn còn được nhắc đến mãi vì Người đã đưa ra sáng kiến thành lập Hội Hữu nghị Xô – Việt (Hội Hữu nghị Nga – Việt hiện nay). Người không chỉ là “kiến trúc sư” xây đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, Người còn xây dựng mối quan hệ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa… giữa Việt Nam và Liên Xô. Ðiều đó càng khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có chỗ đứng vững chắc trong lòng người dân Xô-viết cũng như người Nga hiện nay, mặc dù qua bao biến đổi của thời gian, những cuộc chính biến.

Theo quan điểm của chúng tôi, Liên Xô cũng như nước Nga cần nói lời cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi Người chính là cầu nối quan trọng giữa nhân dân Liên Xô với Việt Nam. Trước Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam chưa có tên trên bản đồ chính trị thế giới, mà lúc đó là thuộc địa của Pháp. Bác Hồ đến Liên Xô từ năm 1923, những độc giả Liên Xô đã biết về đất nước Việt Nam qua bài báo, tác phẩm của Bác. Người tham gia Ðại hội Quốc tế Nông dân, tham gia Ðại hội VI, VII Quốc tế Cộng sản và đã làm cho mọi người biết đến đất nước Việt Nam. Người quảng bá cho đất nước Việt Nam trên trường quốc tế. Hồ Chí Minh còn là một nhà mác-xít xuất sắc. Người luôn nói Người là học trò của Lê-nin, bởi vì Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam. Lịch sử đã cho thấy Hồ Chí Minh còn là một nhà chiến thuật rất tuyệt vời. Năm 1945, khi cách mạng Việt Nam ở thế nghìn cân treo sợi tóc, khi ở Việt Nam có cả quân Nhật, có cả quân Pháp, Hồ Chí Minh đã tìm ra biện pháp và lối thoát ra khỏi tình thế này. Hồ Chí Minh còn rất yêu trẻ em. Người yêu trẻ em vì đó là thế hệ tương lai của đất nước.

Tôi xin nhắc lại lời của Ðô-ra-rét In-ba-ru-rin, đảng viên Ðảng Cộng sản Tây Ban Nha khi nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con người huyền thoại, một nhà yêu nước vĩ đại, một nhà mác-xít Lê-nin-nít. Quan điểm của chúng tôi, Hồ Chí Minh đã có những đóng góp quan trọng trong phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

HOA ÐÌNH NGHĨA
(Bảo tàng Hồ Chí Minh)
nhandan.com.vn

Ký ức về Bác trong lòng người cận vệ xưa

ANTĐ – Suốt 10 năm thực thi nhiệm vụ bảo vệ vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, cũng chừng ấy năm, ông được vinh dự theo chân Bác đi khắp mọi miền của tổ quốc. Qua những chuyến đi đó, ông học được rất nhiều đức tính cao đẹp từ con người của Bác, để rồi hôm nay, dù Bác đã ra đi nhưng những đức tính đó vẫn ngấm sâu vào tâm hồn của người cận vệ.

Bức hình ông Thưởng chụp lưu niệm với Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo năm 1968
(ông Thưởng ngồi bên cạnh Bác, trên tay bế một cháu nhỏ)

Niềm vinh hạnh 10 năm theo chân Bác

Ông Lê Minh Thưởng (SN 1941, trú tại xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) sinh ra trong một gia đình thuần nông tại vùng đất Nghi Thịnh. Sau khi học xong cấp 2 trường làng, ông Thưởng tình nguyện làm đơn đi nghĩa vụ quân sự nhưng không thành. Ấp ủ ước mơ được đóng góp sức mình vào công cuộc giải phóng đất nước vẫn ngày đêm thôi thúc ông, năm 1959, ông được tuyển vào công an vũ trang (nay là bộ đội biên phòng). Cũng trong năm đó, ông được đơn vị cho đi học tại trường C500.

Một năm sau, ông Thưởng tốt nghiệp ra trường và được điều về công tác tại cục cảnh vệ với nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ. Khỏi phải nói, khi nhận nhiệm vụ mới, ông Thưởng vui mừng đến độ nào. Vậy là từ nay ông sẽ được làm việc gần Bác và đặc biệt là ông lại đảm nhận việc bảo vệ cho Người. Nhiệm vụ lớn lao và vô cùng quan trọng, ông cũng thấy thật tự hào vì ông được Đảng và nhân dân tin tưởng. Ban đầu, khi mới về, ông Thưởng được phân công trực gác ở vòng ngoài, một thời gian sau, ông được phân công trực tiếp bảo vệ Bác. Ông Thưởng chia sẻ về niềm vui ngày chính thức làm cận vệ cho bác, từng câu nói của ông hào hứng như chúng vừa mới xảy ra hôm qua, dù đã 43 năm trôi qua: “Tôi không thể kể hết niềm vui sướng của mình trong cái ngày mà tôi được phân làm cận vệ cho Bác, bảo vệ Bác chính là được bảo vệ cả Tổ quốc. Tôi thấy mình thật may mắn, đó là một vinh hạnh của cả đời tôi”.

Hạnh phúc xen lẫn với nhiều lo lắng, bởi ông Thưởng cũng sợ rằng mình không làm tròn trách nhiệm của mình để ảnh hưởng đến cả đất nước. Do đó, mỗi ngày làm việc, ông đều cố gắng hoàn thành thật tốt công việc của mình. Suốt 10 năm theo chân bảo vệ Bác, chừng đó thời gian cũng giúp ông có cơ hội ở bên Bác nhiều hơn và học được nhiều điều từ Bác.

Suốt 10 năm theo chân Bác cùng là thời gian để ông Thưởng có cơ hội hiểu rõ hơn về Bác. Và giờ đây, khi sống trong thời bình, ông Thưởng vẫn không quên hình bóng của người cha già dấu yêu. Trong căn nhà nhỏ của mình, ông vẫn dành riêng một gian để bày những búc ảnh và những kỷ vật mà ông giữ được trong thời gian làm việc cạnh Bác. Đối với ông, những bức ảnh đó như là những báu vật vô giá mà “dù nhà có nghèo rớt mồng tơi mà có người ta trả giá cao để mua” ông cũng không bao giờ bán. Ông thường ngồi lặng yên trong căn phòng đặc biệt này mỗi khi ông nhớ về quá khứ. Đến nay, dù đã vào cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng ông Thưởng vẫn giữ được phong thái của người bộ đội cụ Hồ, nhanh nhẹn, tháo vát. Hàng ngày, dù làm bất cứ việc gì, ông cũng đều lấy chuẩn mực đạo đức sống của Bác khi xưa làm kim chỉ nam. Vì lẽ đó, trở về làng quê Nghi Thịnh, hỏi đến ông Lê Minh Thưởng ai cũng đều biết, không phải vì ông giàu hay nổi tiếng vì lý do nào mà vì ông là một trong rất ít người có được niềm vinh hạnh bảo vệ Bác Hồ.

Hình ảnh Bác qua ký ức của người cận vệ xưa

Ông Thưởng ôn lại kỉ niệm xưa qua những bức ảnh

Được ở bên cạnh, làm cận cho Bác thực chẳng dễ dàng. Đến nay, trong tâm trí của ông Thưởng vãn nhớ như in những kỷ niệm về Bác Hồ trong suốt những tháng ngày theo chân Bác. Khi mới vào làm việc gần Bác, ông Thưởng còn khá nhút nhát, thấy vậy Bác nói: “Con người ta sợ nhất là giấu dốt, nếu biết chuyện gì thì cứ nói, không biết thì hỏi, đừng im lặng giấu dốt. Con người như thế đã dốt lại còn dốt hơn và mang tiếng tự cao, tự đại”.

Một lần vào Tết năm 1964, ông Thưởng cùng các đồng chí khác cùng Bác đi chợ Đồng Xuân để tìm hiểu về nguồn lương thực, thực phẩm chuẩn bị cho người dân ăn Tết. Để không bị phát hiện, mọi người phải hóa trang cho Bác phòng trường hợp xấu có thể xảy ra. Ông Thưởng có nhiệm vụ đi xem đường trước. Hôm đó trời mưa, lúc vào chợ, Bác đi xem quầy lương thực, thực phẩm. Lại hàng thực phẩm tự do Bác hỏi cô bán thịt 1 cân bao nhiêu tiền nhưng lại nói giọng Nghệ An. Cô bán thịt cứ nhìn chằm chằm vào mặt Bác vì nghe giọng nói quen quen. Nếu không có sự nhanh trí của đồng chí Phạm Lệ Ninh (Trưởng phòng bảo vệ Bác) thì chắc chắn Bác sẽ bị lộ. Lúc đó nhanh như chớp, đồng chí Ninh tiến lên phía trước và hỏi lại bằng giọng Bắc khiến cô bán thịt không để ý nữa.

Một lần nữa, trên đường đi công tác tại Thanh Hoá, khi phát hiện Bác về, người dân ùa ra vậy kín cốt để một lần được thấy Bác bằng xương bằng thịt. Ông Thưởng cho biết: “Đi cùng Bác để bảo vệ, thực ra chúng tôi không sợ có ai ám sát nhưng chỉ sợ dân mình biết ai cũng ra sức chen vào để được thấy Bác mà thôi”. Trong suốt những chuyến đi đó, đi đến đâu Người cũng rất giản dị, không quan cách và sống rất gần gũi nhân dân. Lần Bác vào thăm xưởng sản xuất nông cụ Thanh Hoá, những công nhân làm việc tại đây khi biết Bác vào thăm đã bỏ dụng cụ làm việc ào chạy về phía Bác. Những người đi theo bảo vệ Bác như ông Thưởng phải vô cùng vất vả mới đưa được Bác ra khỏi vòng vây.

Đọc báo và chăm sóc cây cảnh là niềm vui của ông Thưởng khi về già

Chính từ những lần được gần Bác, ông Thưởng lại được Bác bày dạy cho những điều hay lẽ phải. Lần đầu tiên được bảo vệ Bác đi bộ, ông Thưởng được Bác dạy rằng: “Cùng đi thì phải nói chuyện, làm như vậy quãng đường sẽ ngắn lại. Việc gì biết thì nói, không biết thì phải hỏi, đừng dấu, im lặng làm thinh. Hiểu cái gì nói cho mọi người nghe. Im lặng có thể là dốt, là tự kiêu…”. Dù đi đến đâu, trong chuyện ăn uống Bác cũng rất giản dị. Nhiều địa phương, thấy Bác về nên thiết đãi tiệc, nhưng Bác không vừa lòng. Bác nói: “khi đất nước còn khó khăn mọi thứ đều phải tiết kiệm thì bản thân một người cán bộ phải gương mẫu thực hiện để người dân lấy đó mà noi theo”.

Sau khi Bác qua đời, ông Thưởng lưu lại Phủ chủ tịch 1 năm để bàn giao công việc, sau đó ông được điều về làm việc tại cục cảnh sát hình sự. Năm 1980, ông lại được luân chuyển về phòng cảnh sát hình sự Nghệ Tĩnh với chức vụ đội trưởng đội săn bắt cướp. Trong quãng thời gian công tác với nhiệm vụ mới, ông Thưởng và đồng đội đều lập được nhiều chiến công làm bao tên tội phạm khét tiếng một thời phải nể phục. Năm 1990, ông Lê Minh Thưởng về hưu với quân hàm trung tá, suốt thời gian hoạt động, ông Thưởng nhận được nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước.

Thoáng chút trầm ngâm, ông Thưởng bộc bạch: “Có ở gần Người mới biết được cái tâm của Người như thế nào. Người quả thực là vị lãnh tụ vĩ đại của đất nước, là kho tàng vĩ đại của dân tộc ta, lớp hậu sinh có học hết cả đời cũng không thấm nhuần hết đạo đức của Người”. Vì lẽ đó, khi về với cuộc sống thường nhật, ông Thưởng cũng học tập theo tấm gương đạo đức của Bác, sống giản dị và luôn quan tâm mọi người. Đặc biệt, thế hệ con cháu trong gia đình, ông Thưởng đều răn dạy theo tấm gương của Bác. Những câu chuyện về chặng đường hoạt động của Bác như một kho tàng truyện mà cứ mỗi lúc rảnh rỗi, hay khi có đông con cháu ông Thưởng lại kể cho các con, cháu cùng nghe. Khi đó, con người ông như thực sự sống lại giai đoạn ấy. Nghe lời cha, ông, con cháu trong gia đình ông Thưởng lại lấy chuẩn mực đạo đức của người để học tập và noi theo.

Trịnh Nguyễn
anninhthudo.vn

Kỷ niệm về Bác

Tháng Năm về, hình ảnh Bác Hồ – người cha già dân tộc gần gũi, nhân từ và rất đỗi cao đẹp như hiển hiện trong lòng mỗi người dân đất Việt. Từng vinh dự được gặp Bác, những người cựu chiến binh xúc động nhớ về Người với niềm tự hào và kính trọng sâu sắc. Những kỷ niệm và hình ảnh đẹp về Người mãi mãi khắc ghi trong trái tim của những người lính năm xưa. 

“Ghế của Bác chứ có phải ngại đâu mà các chú ngại” Ông Nguyễn Ngọc Châu, 83 tuổi, nguyên Chính ủy Trung đoàn 600 bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1953-1969 xúc động kể lại: Mỗi tối thứ 7, anh em bảo vệ lại được quây quần cùng xem phim với Bác trong tình cảm chan hòa như tình ông-cháu, cha-con ruột thịt, không hề có cảm giác xa cách. Bác cũng thường hay nói đùa nên không khí rất vui vẻ. Có lần xem một bộ phim thần thoại của Pháp, đồng chí thuyết minh chưa kịp xem trước, chỉ căn cứ vào bản dịch để đọc nên không khớp với hình ảnh. Bác bèn bảo: “Chú thuyết minh như thế thì làm hỏng phim mất. Chú đứng lên !”, rồi Bác ngồi vào ghế thuyết minh liền cả 3 tập. Kết thúc buổi chiếu, tôi để ý thấy mọi người đều nói: “Hôm nay mà không có Bác dịch thì hỏng cả buổi xem phim”.

Nhiều lần xem phim sau này, hễ thấy thuyết minh không đạt là Người lại làm thay công việc đó, rồi chỉ ghế của mình bảo: “Các chú ra ghế của Bác mà ngồi. Có phải là cái ngai đâu mà các chú ngại”. Vậy là ghế của Bác thì người thuyết minh ngồi, còn ghế của người thuyết minh thì Bác ngồi ! Nhiều anh em chiến sĩ trông đợi buổi xem phim cuối tuần để được nhìn Bác, nghe Bác giới thiệu. Sau này khi Bác đã đi xa, những buổi chiếu phim tối thứ 7 vẫn được đồng chí Phạm Văn Đồng duy trì nhưng dường như thiếu vắng hình ảnh Bác, buổi chiếu không có “hồn”. Nhớ mãi hình ảnh Bác, ông Nguyễn Ngọc Châu đã viết thành một câu chuyện nhỏ mang tên “Đồng chí thuyết minh tóc bạc”.

Các cháu có “tủ” gì mới không ?

Nhiều lần được biểu diễn phục vụ Bác, bà Trần Thị Ngà, nguyên là nghệ sĩ Đoàn văn công Tổng cục Chính trị nhớ mãi sự quan tâm, chăm lo tận tình của Người đối với anh chị em làm nghệ thuật nói chung và những kỷ niệm về những ngày tháng được kề cận bên Bác. Từ 1960-1969, cô văn công Trần Thị Ngà được vào Phủ Chủ tịch hát, đọc sách báo cho Người nghe, giúp Người tiếp khách quốc tế. Một kỷ niệm vui mà cô nhớ mãi là lần chuẩn bị biểu diễn văn nghệ phục vụ buổi tiếp đoàn Tiệp Khắc, Bác hỏi: Hôm nay các cháu có “tủ” gì mới không ? Cô trả lời: “Thưa Bác, hôm nay chúng cháu sẽ hát một bài hát của Tiệp Khắc bằng tiếng Việt ạ”. Bác cười, dặn dò: “Các cháu phải hát làm sao đừng để lúc hát tiếng Việt mà khách tưởng là đang hát tiếng Tiệp, còn khi các cháu hát tiếng Tiệp, khách lại tưởng là đang hát tiếng Việt”. Có lần, Bác chia đôi cốc sữa của mình đưa cho Ngà uống và hóm hỉnh nói: “Đồng cam cộng khổ với Bác chứ !” khi cô không dám nhận. Người còn gửi thư cho anh chị em văn công Tổng cục Chính trị đi biểu diễn tại Trung Quốc năm 1964 với lời dặn dò ấm áp và chan chứa yêu thương: “Mong các cháu đoàn kết nội bộ, đoàn kết với anh em Trung Quốc, biểu diễn tốt, cố gắng học hỏi các đồng chí Trung Quốc, nhờ các đồng chí Trung Quốc thẳng thắn phê bình để không ngừng tiến bộ, giữ gìn sức khỏe. Chúc các cháu thành công !…”

Từ ngày Bác đi xa, hàng năm cứ đến ngày sinh của Người, bà Trần Thị Ngà và những người đã từng kề cận, gắn bó bên Bác lại tụ về bên ngôi Nhà sàn thiêng liêng, tưởng nhớ Người và cùng ôn lại những năm tháng mà đối với họ là đẹp đẽ và vui sướng nhất cuộc đời.

Buổi học không bao giờ quên 

Đối với ông Chi Phan, Phó Tổng Biên tập báo Cựu chiến binh Việt Nam, buổi chiều 1/4/1959 là “buổi học không bao giờ quên”. Đây cũng chính là tên bài viết của cậu học trò Chi Phan, khi ấy đang học lớp 8D trường Bưởi – Chu Văn An, ngay sau lần đầu tiên được gặp Bác Hồ, đăng trên trang nhất của tuần báo Văn. Ông kể: “Chiều hôm đó, khi lớp chúng tôi đang học bài thơ “Sáng tháng Năm”, đến đoạn “Bàn tay con nắm tay Cha. Bàn tay Bác ấm vào da, vào lòng. Bác ngồi đó lớn mênh mông. Trời xanh, biển rộng, ruộng đồng nước non” thì có tiếng reo “Bác Hồ ! Bác Hồ !” rồi Bác xuất hiện nơi cửa lớp, thật mà lại như mơ. Bác chuyện trò, căn dặn chúng tôi chăm chỉ học hành, giúp đỡ bà con, xứng đáng với truyền thống lâu đời của nhà trường”. Kể từ buổi chiều thiêng liêng ấy, Chi Phan luôn tự hào là học sinh của ngôi trường được Bác tặng 8 chữ vàng “Yêu nước, cách mạng, dậy tốt, học tốt”. Ông mãi khắc ghi trong tâm khảm hình ảnh của Bác và những phút giây ngắn ngủi được gặp mặt, được Bác xoa đầu ân cần dạy bảo.

Sau đó hơn 1 năm, tháng 8/1960, tại vườn hoa Bách Thảo, khi đang cùng 1.500 học sinh Hà Nội lập dàn hợp xướng chuẩn bị biểu diễn chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3, Chi Phan lại được gặp Bác khi Người đến thăm, chúc các cháu học sinh hát hay, hát tốt hơn nữa những bài hát ca ngợi Đảng, đất nước và quê hương. Sau này còn vinh dự được gặp Bác 3 lần nữa nhưng đối với ông Chi Phan, hình ảnh Bác cầm cây đũa chỉ huy bắt nhịp dàn hợp xướng hát bài ca Kết đoàn trong ngày mùa thu tháng tám rực rỡ nắng vàng ấy mãi mãi để lại dấu ấn sâu đậm nhất, xúc động nhất cuộc đời./.

BTK-TTXVN
cpv.org.vn

Nhiều hoạt động kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trên toàn thế giới

Sáng 19/5 chính quyền tỉnh Na-khon Pha-nôm (Thái Lan) đã tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm lần thứ 116 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Làng hữu nghị ở Na-khon Pha-nôm. Đông đảo các quan chức tỉnh và hàng trăm bà con Việt kiều từ các tỉnh Na-khon Pha-nôm, U-bôn, Mục-đa-hản và Sa-kon Na-khon đã tới dự.

Phát biểu tại buổi lễ, Phó tỉnh trưởng Na-khon Pha-nôm Thi-la-đệt Vông-lạn đã ca ngợi cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm gương sáng về đạo đức, thuỷ chung trong sự nghiệp phát triển đoàn kết, hợp tác giữa các dân tộc và các quốc gia trong khu vực, nhất là trong quan hệ Việt Nam – Thái Lan. Ông cũng kêu gọi bà con Việt kiều tăng cường đoàn kết và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng mối quan hệ hữu nghị, sự hiểu biết giữa Thái Lan và Việt Nam.

Chiều cùng ngày tại tỉnh U-đon, cộng đồng bà con Việt kiều đã tổ chức lễ cắt băng khánh thành khu Di tích Bác Hồ tại làng Nọng Ổn. Đông đảo các quan chức địa phương do Phó Tỉnh trưởng U-đon, Phít-tha-da Xủn-thon Vi-phạt dẫn đầu đã dự lễ khánh thành.

Phát biểu tại buổi lễ cắt băng khánh thành khu di tích trên, đồng chí Phạm Quang Vinh, Đại biện lâm thời đại sứ quán ta tại Thái Lan đã nêu bật công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, suốt đời đấu tranh vì nền độc lập tự do của dân tộc. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam mà còn có ý nghĩa quan trọng đối các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Thay mặt cộng đồng bà con Việt kiều, đồng chí Phạm Quang Vinh gửi lời cảm ơn tới chính quyền địa phương tỉnh U-đon đã tạo điều kiện cho cộng đồng Việt kiều xây dựng khu Di tích Bác Hồ và coi đây là một biểu tượng về mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Thái Lan.

Khu di tích Bác Hồ tại làng Nọng Ổn, cách trung tâm tỉnh U-đon khoảng 15 km, là nơi Bác Hồ đã sống và hoạt động từ năm 1929 với bí danh ông Thầu Chín.

* Pháp:

Cùng ngày, Đại sứ quán nước ta tại Pháp đã tổ chức các hoạt động kỷ niệm lần thứ 116 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Như đã thành truyền thống từ nhiều năm nay, Đại sứ nước ta tại Pháp Nguyễn Đình Bin, Đại sứ nước ta bên cạnh Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) Vũ Đức Tâm cùng đông đảo cán bộ, nhân viên sứ quán và các cơ quan đại diện của Việt Nam tại Pháp đã đến đặt hoa và thăm lại căn nhà số 9 ngõ Công-poanh ở thủ đô Pa-ri, nơi chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ở trong thời gian sống và hoạt động ở Pháp.

Tiếp đó, Đại sứ Nguyễn Đình Bin và Đại sứ Vũ Đức Tâm cùng đoàn đã đến đặt lẵng hoa tại tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công viên thành phố Mông-tơ-rơi. Tại đây, Phó Thị trưởng, bà Tê-re-dơ Phrăng-xoa cùng Giám đốc Bảo tàng lịch sử sống Gin-be Sun và đông đảo quan chức của thành phố, cán bộ và nhân viên của bảo tàng cùng đặt lẵng hoa tưởng nhớ Hồ Chủ tịch.

Nói chuyện với Đại sứ Nguyễn Đình Bin và đoàn, bà Tê-re-dơ Phrăng-xoa và ông Gin-be Sun cho biết thành phố Mông-tơ-rơi và Bảo tàng lịch sử sống rất tự hào được chọn là nơi đặt tượng đài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, coi đó là biểu tượng sinh động của tình hữu nghị và đoàn kết giữa nhân dân Pháp và Việt Nam nói chung, giữa những người cộng sản Pháp và Việt Nam nói riêng.

Nhân dịp này, Đại sứ Nguyễn Đình Bin đã chân thành cảm ơn lãnh đạo cùng tất cả quan chức, cán bộ của thành phố Mông-tơ-rơi và Bảo tàng lịch sử sống trong thời gian qua đã góp phần đáng kể vào việc tăng cường và thắt chặt quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước, chăm sóc Không gian Hồ Chí Minh giữ mãi màu xanh, trở thành một trong những điểm được nhiều người tham quan.

Trước đó, sáng cùng ngày, Đại sứ Nguyễn Đình Bin cùng toàn thể cán bộ Đại sứ quán và các cơ quan đại diện của Việt Nam tại Pháp đã dâng hương lên bàn thờ Hồ Chủ tịch trong niềm xúc động và tình cảm sâu sắc của những người con tưởng nhớ đến công lao của vị cha già dân tộc, vị lãnh tụ vĩ đại đã đem lại tự do, độc lập cho toàn dân tộc Việt Nam.

* Cu-ba:

Sáng 19/5, Viện Cu-ba Hữu nghị với các Dân tộc (ICAP) và Hội Hữu nghị Cu-ba-Việt Nam phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại Cu-ba, đã tổ chức trọng thể lễ đặt vòng hoa tại khu tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Công viên Hòa bình, quận Quảng trường, thủ đô La Ha-ba-na, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 116 ngày sinh của Người (19/5/1890- 19/5/2006) và lần thứ 111 ngày hy sinh của vị Anh hùng dân tộc Cu-ba Hô-xê Mác-ti (19/5/1895-19/5/2006).

Phó chủ tịch ICAP Bu-ê-na-vên-tu-ra Rê-dết A-cô-xta, đại diện ICAP, Hội Hữu nghị Cu-ba -Việt Nam, cán bộ nhân viên Đại sứ quán và các cơ quan đại diện khác của Việt Nam tại Cu-ba, cùng đông đảo tập thể giáo viên và học sinh trường phổ thông cấp II Um-bec-tô Blat, đã tham dự tại buổi lễ trọng thể này.

Phó chủ tịch Hội Hữu nghị Cu-ba -Việt Nam Pê-đrô Pa-la-xi-ô đã phát biểu nêu bật tiểu sử và qúa trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Pê-đrô nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của ngày 19/5, ngày sinh của Lãnh tụ cách mạng Việt Nam và cũng là ngày vị Anh hùng dân tộc Cu-ba Hô-xê Mác-ti ngã xuống trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc chống bọn thực dân Tây Ban Nha. Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Cu-ba-Việt Nam ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh đạo toàn dân đánh đổ chế độ phong kiến và ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, thành lập Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông-Nam Á. Ông khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân tộc Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bằng chiến thắng Điện Biên phủ lịch sử và đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn đất nước, đưa non sông về một mối.

Ông đánh giá cao những thành tựu kinh tế-xã hội của Việt Nam đạt được trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X vừa qua tổng kết và đúc rút kinh nghiệm, đồng thời ca ngợi mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai dân tộc Cu-ba và Việt Nam đã được Hô-xê Mác-ti, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô dày công vun đắp.

Thay mặt Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam, đại sứ nước ta tại Cu-ba Phạm Tiến Tư đã bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với Đảng, Chính phủ và nhân dân Cu-ba đã tận tình giúp đỡ nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Đại sứ nhắc lại lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc còn sống rằng “Cu-ba và Việt Nam là hai anh em sinh đôi” và câu nói bất hủ của Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô khi cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân ta đang ở trong giai đoạn quyết liệt “Vì Việt Nam, Cu-ba sẵn sàng hiến cả dòng máu của mình”.

Trước khi buổi lễ kết thúc, những người tham dự đã hô vang khẩu hiệu nổi tiếng trước đây “Cu-ba, Việt Nam đoàn kết, nhất định thắng”.

Trước đó, ngày 18/5, tập thể giáo viên và học sinh Trường tiểu học “Bác Hồ” ở quận Pla-gia, thủ đô La Ha-ba-na, đã tổ chức triển lãm tranh do học sinh của trường vẽ ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh và vị Anh hùng dân tộc Hô-xê Mác-ti. Các em học sinh đã phát biểu, trình bày những hiểu biết của mình về hai vị lãnh tụ cách mạng của Việt Nam và Cu-ba. Cùng ngày, đông đảo các cán bộ cơ quan đại diện Việt Nam tại Cu-ba, đại diện sinh viên và Việt kiều đang học tập và sinh sống tại Cu-ba, đã dự lễ kỷ niệm lần thứ 116 ngày sinh của Bác và nghe Đại sứ kiêm bí thư Đảng ủy Phạm Tiến Tư thông báo về kết qủa của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X.

* Anh:

Nhân dịp kỷ niệm ngày sinh 19/5 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại sứ quán nước ta tại Anh đã tổ chức dâng hoa tưởng niệm trước Biển di tích kỷ niệm Bác tại tòa nhà Niu Di-lân, trụ sở của Đại sứ quán Niu Di-lân ở trung tâm thủ đô Luân Đôn.

Đại sứ Trịnh Đức Dụ và toàn thể cán bộ nhân viên Đại sứ quán, các cơ quan đại diện như Thương vụ, Thông tấn xã, Bảo Việt, Hàng không Việt Nam, Hội người Việt Nam tại Anh và một số bà con Việt Kiều, đã tham dự lễ kỷ niệm sinh nhật Bác.

Tham dự buổi lễ còn có Đại sứ Niu Di-lân Giô-na-than Hăn và Thư ký Hội hữu nghị Anh-Việt Len An-đi-xơ. Đại sứ Giô-na-than Hăn đã bày tỏ vui mừng và vinh dự được tham dự lễ dâng hoa kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tòa nhà của Đại sứ quán Niu Di-lân. Ngài Giô-na-than Hăn coi tấm Biển di tích kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên bức tường của Đại sứ quán Niu Di-lân là một vinh dự lớn đối với Niu Di-lân và là biểu tượng của quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa Niu Di-lân và Việt Nam.

Phát biểu tại lễ dâng hoa kỷ niệm, Đại sứ Trịnh Đức Dụ đã điểm lại công lao to lớn của Bác đối với dân tộc và chặng đường gian khổ mà Người đã phải trải qua trong những ngày bôn ba tìm đường cứu nước. Đại sứ kêu gọi toàn thể cán bộ nhân viên Sứ quán và các cơ quan đại diện cố gắng phấn đấu, tu dưỡng theo tư tưởng và lời dạy của Bác.

Toà nhà Đại sứ quán Niu Di-lân hiện nay được xây trên nền khách sạn Can-tơn, nơi Bác đã làm phụ lò năm 1913 và phải nướng gạch bọc vào báo để ủ ấm mình trong những đêm Đông lạnh giá nơi “xứ sở sương mù”. Năm 1960, khách sạn Can-tơn đã bị phá bỏ để xây dựng tòa nhà Niu Di-lân. Được sự đồng ý của Đại sứ quán Niu Di-lân, năm 1990, Hội hữu nghị Anh-Việt và Hội người Việt Nam tại Anh đã đề nghị Chính phủ Anh cho gắn tấm Biển kỷ niệm Bác trên bức tường phía ngoài tòa nhà. Tấm biển hình ô-van nền xanh da trời, có dòng chữ màu trắng bằng tiếng Anh “Hội Anh-Việt. Nơi đây, Hồ Chí Minh 1890-1969, Người sáng lập ra nước Việt Nam đã làm việc năm 1913”./.

BTK-TTXVN
cpv.org.vn

“Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ…”

Thăm Khu di tích lịch sử ATK ở Định Hoá Thái Nguyên vào đúng ngày diễn ra Lễ kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về ATK Định Hoá lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (20-5-1947 – 20-5-2012) và kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Người (19-5-1890 – 19-5-2012). Không khí thật rộn ràng, đặc biệt.

Cho dù Nhà trưng bày – Bảo tàng ATK Định Hoá đã được khánh thành cách đây 5 năm, to lớn bề thế trên Đào De, nhưng trong lòng chúng tôi lại về đây với một tình cảm đặc biệt – Trở về quê hương Việt Bắc của những ngày đầu kháng chiến, cùng với những câu thơ thân thương của nhà thơ Tố Hữu viết về Bác Hồ:

“Vui sao một sáng tháng Năm
Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ
Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn…”

Mặt trời vừa nhô lên đỉnh núi Hồng, mọi vạn vật nơi đây bừng sáng. Chim muông ríu rít reo ca. Những luống hoa còn rớt lại ánh xuân thắm đỏ, qua những bông râm bụt, trên hàng cây mà Bác trồng ngày nào bên lán Tỉn Keo. Giờ đây chúng vẫn xanh tốt đâm chồi nảy lộc. Màu sắc ấy lại gợi nhớ cho chúng ta rằng, tại nơi đây, ngày 6-12-1953, Bác đã cùng các nhà lãnh đạo có một quyết định lịch sử mở Mặt trận Điện Biên. Về đến đây biết bao hình ảnh thân thương của Bác lại hiện lên trong từng mảnh đất, bờ suối, cánh rừng, mái lá.

Tại cái lán trên đồi Khau Tý này, Bác Hồ đã sáng tác nhiều thơ ca, trong đó có bài “Cảnh khuya” với tâm hồn của một thi nhân đang đau đáu nỗi lo cho đất nước:

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”

Rồi cũng tại nơi đây, vào ngày xuân năm 1947, Bác còn viết bài thơ “Cảnh rừng Việt Bắc” rất đáng yêu. Đây là bài thơ xuân đầu tiên, trong cuộc kháng chiến trường kỳ này, có những câu ta không thể quên:

“Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay
Vượn hót chim kêu suốt cả ngày
Khách đến thì mời ngô nếp nướng
Săn về thường chén thịt rừng quay.
Non xanh nước biếc tha hồ dạo
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này”

Đến lán Khuôn Tát, chúng tôi phải đi qua một bãi cỏ rộng và cây đa cổ, cỡ khoảng trăm năm tuổi. Trên bãi cỏ này, trước kia là nơi Bác đã cùng các chiến sĩ và cán bộ tập thể thao, chơi bóng chuyền, hay ngồi nghỉ dưới cây đa. Trước kia người ta gọi là cây đa Khuôn Tát, sau này còn đặt tên là “Cây đa Bác Hồ”, để ghi dấu một di tích minh chứng cho hình ảnh của Bác vẫn còn hiển hiện với bà con thôn bản nơi đây, tại cái xóm Khuôn Tát, xã Phú Đình hẻo lánh này. Đáng chú ý trước khi lên lán mọi người đều phải lội qua một con suối cắt ngang. Đó cũng gọi là suối Khuôn Tát, cùng với những bãi đá rất đẹp. Đồng thời cũng là nơi Bác hay tắm giặt, hoặc thường ngồi câu cá mỗi khi nghỉ ngơi hoặc cần phải suy nghĩ điều gì đó trong công việc. Cách đấy không xa còn có thác Khuôn Tát, một thắng cảnh đẹp, với 7 tầng chảy ào ạt quanh năm.

Thế mới hay ông Già Ké này có con mắt thật tinh tế, khi chọn những địa điểm làm việc, ngoài những nguyên tắc của mình nhưng vẫn gắn liền với non nước hữu tình đúng như ông đã đề ra: Trên có núi, dưới có sông – Có đất ta trồng có bãi ta vui. Hay kèm theo đó còn phải đạt yêu cầu: Tiện đường sang Bộ Tổng – Thuận lối tới Trung ương. Nhà thoáng ráo kín mát – Gần dân không gần đường. Lấy dân làm gốc, Bác Hồ đã sống ở Việt Bắc trong suốt chín năm trường kỳ kháng chiến với ý tưởng nhất quán phải dựa vào sức dân. Chính vì vậy, nếu hỏi bất kể ai, những người lớn tuổi đều thuộc một bài thơ vô danh vẽ nên chân dung Người, rất giản dị thân thương với những câu:

“Quần sắn cao, chân đi đôi dép
Chiếc áo chàm vá hai miếng ở vai
Trán cao lắm. mắt sáng, râu hơi dài
Khi nói chuyện hay ví câu hát lượn…”

Hình ảnh dung dị này đã được nhà thơ Tố Hữu cũng đã mô tả trong bài thơ Việt Bắc:

“Nhớ ông cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải, đẹp tươi lạ thường
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo…”

Đúng là đến những di tích và khu tưởng niệm này, những câu thơ xưa của Bác luôn vang lên, thể hiện một sự lạc quan và tin tưởng ở con đường mà Bác đã vạch ra để đi tới cùng của công cuộc kháng chiến. Ở nơi đây, Bác còn viết cuốn sách “Sửa đổi lề lối làm việc” nổi tiếng, mà tính thời sự của những vấn đề Người đặt ra vẫn còn có giá trị đến ngày nay.

Đó cũng là cảm xúc của chúng tôi đang đứng nơi đây – Nhà Tưởng niệm Bác Hồ, giữa đồi cao thoáng mát. Chúng tôi bước lên 79 bậc tượng trưng cho 79 mùa xuân của Người. Và nữa, đi dưới tán của 79 cây vạn tuế, cùng với hàng hoa râm bụt quanh Hòn non bộ Tam Sơn cầu mong anh linh của Bác luôn trở về với con cháu, về với đất nước, về với miền Nam thân thương mà Bác vẫn hằng mong ngày đêm khi còn sinh thời. Đôi mắt của Bác trên bức tượng đồng như nhắn nhủ với chúng tôi nhiều điều trong mỗi bước chân.

Vương Tâm
daidoanket.vn

Hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên sân khấu

Hình tượng Hồ Chủ tịch đã được các loại hình văn học – nghệ thuật khai thác nhiều ngay từ khi Người còn sống. Nhưng phải tới năm 1976, lần đầu tiên hình tượng Bác mới được phản ánh trên sân khấu. Đó là vở “Người công dân số một” do Nhà hát Cải lương Trung ương thể hiện (sáng tác của Vũ Đình Phòng và Hà Văn Cầu). Kể từ đó, hình tượng Bác Hồ xuất hiện rất nhiều trên sân khấu, để lại nhiều ấn tượng trong lòng khán giả và làm nên tên tuổi của nhiều nghệ sĩ. Ngày 17-5-2012, tại Bảo tàng Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Bảo tồn Phát huy Văn hóa Dân tộc phối hợp với Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tổ chức hội thảo: “Nghệ thuật sân khấu thể hiện hình tượng Bác Hồ”.

Cảnh trong vở ca kịch Hồ Chí Minh – Hồi ức màu đỏ

Tiếp theo “Người công dân số một”, vở “Đêm trắng” (Lưu Quang Hà sáng tác, Đoàn kịch Trường Sơn biểu diễn), đã đem lại tiếng vang cho sân khấu. Năm 1984, vở “Lịch sử và nhân chứng” (Hoài Giao sáng tác) Đoàn kịch Hải Phòng biểu diễn và vở “Người không thể chết” của Đoàn kịch Tổng cục Chính trị cũng nối tiếp ra đời. Cũng trong thời kỳ đầu, nghệ sĩ Văn Tân đã mạnh dạn sáng tác và biểu diễn được một số hoạt cảnh có hình tượng Bác Hồ trên sân khấu khá thành công và cho đến giờ phút này nghệ sĩ Văn Tân đã có tới hơn ngàn xuất diễn.

Từ 1990, khi Unesco tôn vinh Bác và trọng thể kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người thì ngành sân khấu cũng rộ lên phong trào sáng tác và biểu diễn đề tài Hồ Chủ tịch. Các bộ môn sân khấu từ kịch nói đến tuồng, chèo, dân ca kịch đều có tác phẩm thể hiện hình tượng Bác Hồ, mặc dù đây là một công việc vô cùng khó khăn bởi xây dựng hình tượng Hồ Chủ tịch không chỉ đòi hỏi giống về ngoại hình mà còn phải giống về cốt cách, phong cách và tâm hồn của một vị lãnh tụ vĩ đại mà toàn dân tộc đang thành kính tôn thờ.

Rất mừng là lãnh đạo của Đảng và Nhà nước rất quan tâm tới việc sáng tác và biểu diễn hình tượng Bác Hồ trên sân khấu. Hầu hết các vị lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đều đến dự, buổi khai mạc “Liên hoan biểu diễn hình tượng Bác Hồ trên sân khấu” (do Viện Sân khấu và Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức tại Bảo tàng Hồ Chí Minh ngày 18-5-1991 với sự tham gia của các nghệ sĩ tên tuổi như Sỹ Hùng, Tiến Thọ, Tiến Hợi, Đức Trung, Văn Tân) diễn liên hoàn năm trích đoạn hay nhất có hình tượng Bác Hồ. Sự thành công của liên hoan đã khiến cho các đồng chí lãnh đạo ở TP. Hồ Chí Minh thời đó quyết định mời các đoàn vào biểu diễn nhân kỷ niệm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2-9-1992. Chương trình đưa vào Nam được hoàn chỉnh thêm một bước nữa và được mang tên “Hình tượng Bác Hồ qua các thời kỳ lịch sử”, trong đó gồm 5 trích đoạn trong các vở: “Người công dân số 1”, “Giai điệu tháng 5”, “Lịch sử và nhân chứng”, “Đêm trắng”, và hoạt cảnh “Bác Hồ với anh hùng dũng sĩ miền Nam”.

Cuộc vận động sáng tác về đề tài Hồ Chủ tịch cũng đã đem lại kết quả nhất định. Ngành Chèo cũng đã mạnh dạn sáng tác hình tượng Bác Hồ. Đoàn chèo Thái Nguyên có vở “Đêm trăng huyền thoại” và vở “Vần thơ thép” của Trần Đình Ngôn do Nhà hát Chèo Việt Nam biểu diễn khá thành công… Và gần đây lại xuất hiện vở “Hồ Chí Minh – Hồi ức mầu đỏ” của Nguyễn Quang Vinh do Nhà hát Ca kịch Huế biểu diễn. Hai vở diễn đã gây được tiếng vang trong công chúng, đều giành được giải cao trong hai đợt hội diễn sân khấu toàn quốc, mặc dù là Chèo và ca kịch Huế là hai bộ môn nghệ thuật dân tộc rất khó trong việc thực hiện đề tài lãnh tụ, nghĩa là ngoài việc tạo hình cho giống nhân vật chính là Bác Hồ còn phải hát chèo, hát ca Huế, nếu không hợp lý, không tinh tế thì sẽ xảy ra phản cảm, gây ra hiệu ứng ngược!.

Tất cả những thành công nói trên đều thể hiện tấm lòng của anh chị em nghệ sĩ sân khấu đối với Bác Hồ kính yêu, đồng thời cũng cho thấy nhân dân ta từ Bắc chí Nam đều thiết tha được nhìn thấy Bác, dù chỉ qua hình tượng do các nghệ sĩ tài năng sáng tạo trên sân khấu. Điều đó đặt ra cho những người hoạt động sân khấu một nghĩa vụ cao cả là tiếp tục sáng tác và biểu diễn hình tượng Bác Hồ. Nghĩa là thông qua hình tượng Bác Hồ, thông qua sân khấu mà nói lên cho được tư tưởng đạo đức của Bác Hồ. Như vậy cũng là thiết thực “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” như Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động.

Qua mấy nét khái quát về quá trình sáng tác và biểu diễn hình tượng Bác Hồ trước đây, chúng ta có thể suy nghĩ và rút kinh nghiệm: Tục sáng tác và biểu diễn đề tài đặc biệt này theo nhiều hình thức, như kịch tư liệu lịch sử theo kiểu “Người công dân số một”, “Đêm trắng”, “Lịch sử và nhân chứng”, “Vần thơ thép”, “Hồ Chí Minh – Hồi ức mầu đỏ”… Hoặc chỉ phát triển theo hình thức (tableau) như trong “Bài ca Điện Điên”, “Không còn đường nào khác”, “Sáng mãi niềm tin”, kể cả làm hoạt cảnh như trong “Bác Hồ với các anh hùng dũng sĩ miền Nam”. Và diễn xuất thì học tập và phát triển từ sự thành công của các nghệ sĩ đi trước. Từ kinh nghiệm ấy chắc chắn các thế hệ nghệ sĩ tiếp theo sẽ có được những kinh nghiệm quý để sáng tạo ra những tác phẩm hay, những hình tượng đẹp về Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Làm thế nào để đưa được tư tưởng Hồ Chí Minh vào sâu rộng trong nhân dân một cách tốt nhất, đáp ứng sự đòi hỏi của nhân dân là được chiêm ngưỡng hình ảnh Bác có chiều sâu hơn, giống hơn, sống động hơn và xúc động hơn trên sân khấu.

GS. HOÀNG CHƯƠNG
daidoanket.vn

Nhớ Bác Hồ qua Lễ hội Làng Sen

Lễ hội Làng Sen năm 2012 với chủ đề “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và ca ngợi Đảng, quê hương đất nước” là hoạt động có ý nghĩa nhân kỷ niệm 122 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 – 19-5-2012) và hướng tới kỷ niệm 55 năm ngày Bác Hồ về thăm quê lần thứ Nhất (14-6-1957 – 14-6-2012).

Tái hiện hình tượng Bác Hồ trên sân khấu

Lễ hội làng Sen năm 2012 được tổ chức từ 17-5 đến 19-5, nhằm tôn vinh các giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh – người Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá kiệt xuất. Không gian lễ hội trải dài từ TP. Vinh đến huyện Nam Đàn và các huyện, thị xã của tỉnh Nghệ An. Địa điểm tổ chức lễ hội là Quảng trường Hồ Chí Minh, Nhà hát dân ca, rạp 12-9; xã Kim Liên, huyện Nam Đàn và các huyện, thị xã.

Theo thông tin từ Ban tổ chức, trong thời gian diễn ra lễ hội có nhiều hoạt động văn hóa, thể thao được tổ chức như: Lễ dâng hoa trước Tượng đài Bác Hồ tại Quảng trường Hồ Chí Minh; Lễ dâng hoa, dâng hương báo công với Bác tại nhà tưởng niệm Bác ở Khu di tích Kim Liên; Lễ rước ảnh Bác Hồ qua các thời kỳ từ nhà Tưởng niệm Bác tại Khu di tích Kim Liên ra sân vận động Làng Sen; Liên hoan tiếng hát Làng Sen và thi người đẹp Lễ hội Làng Sen tại TP. Vinh; Chiếu phim về đề tài Bác Hồ tại TP. Vinh và Kim Liên – Nam Đàn; Trưng bày triển lãm về đề tài Đảng, Bác Hồ và Lễ hội Làng Sen tại Kim Liên (Nam Đàn); Biểu diễn nghệ thuật tại Quảng trường Hồ Chí Minh; Tham quan các di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Kim Liên – Nam Đàn; Tổ chức giải bóng chuyền Lễ hội Làng Sen 2012 tại Kim Liên – Nam Đàn; Tổ chức các hoạt động thể thao và hội trại của các xã, thị trấn huyện Nam Đàn…

Lễ tổng kết Lễ hội Làng Sen 2012 vừa diễn ra tại Rạp 12 – 9, TP. Vinh vào 14h00 ngày hôm nay (19-5).

NGUYỄN LONG
daidoanket.vn

“Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác”

Đưa tiễn một cuộc đi xa. “Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi. Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác”. Thế rồi con tàu càng đi, càng bồi hồi nhớ nước. “Đêm xa nước đầu tiên ai nỡ ngủ. Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương…”. Chao ôi, sóng quê hương? Biển, trong cảm thức của người Việt rất mãnh liệt và sâu lắng. Bao đời đứng trước biển, “mỗi người Việt Nam dù sống ở đâu, ngay cả ở trên miền núi, hình như bao giờ cũng nghe được tiếng rì rào của biển cả ngày đêm không mỏi vỗ sóng vào bờ….

Con mắt và trái tim chúng ta vì vậy sẽ không chỉ dừng lại ở đường bờ biển thường được biểu diễn bằng một nét vẽ mảnh ở trên bản đồ: những phần đất nổi và đất nằm dưới mặt biển mà chúng ta có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ rộng lớn hơn nhiều, và chúng ta phải có ý thức rõ ràng về điều đó. Đường biên giới của ta là bất khả xâm phạm”! Những dòng chữ đầy ắp cảm xúc này được trích từ tác phẩm “Thiên nhiên Việt Nam” của GS. Lê Bá Thảo – nhà khoa học địa lý hàng đầu của Việt Nam, xuất bản năm 1990. Từ những ý tưởng ấy nếu biết chân thành cảm thụ, bền tâm suy ngẫm sẽ hiểu ra rất nhiều điều. Từ lớp vỡ lòng, con em chúng ta cần phải được dạy điều đó để từ tờ giấy trắng tâm hồn tuổi thơ đã đậm tô rõ nét niềm tự hào về biển trời của Tổ quốc. Có như vậy thì mới thấm thía được với cảm nhận “sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương”.

Hơn năm trăm năm trước, 1473, theo sách Đại Việt Sử ký Toàn thư, vua Lê Thánh Tông đã cảnh báo Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy: “Nếu người dám đem một thước, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di ”. Lùi xa về mấy trăm năm trước nữa, giữa thế kỷ XII, cũng sách trên ghi: năm 1161, “Lý Anh Tông sai Đô tướng Tô Hiến Thành và Phó tướng Đỗ An Di đem hai vạn quân đi tuần tiễu ở các nơi ven biển miền Tây Nam để giữ yên cõi xa”. Năm 1171, vua “đi tuần các hải đảo, xem khắp hình thế núi sông, muốn biết dân tình đau khổ và đường đi xa, gần thế nào”. Năm 1172, “mùa xuân tháng 2, vua lại đi tuần các hải đảo ở địa giới các phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật rồi về”. Liệu đây có phải là vị vua đầu tiên vẽ bản đồ đất nước?

Đừng quên là nhiều trận quyết chiến chiến lược đánh tan giặc ngoại xâm đã từng xảy ra nơi cửa biển khi mà những đạo binh xâm lược luôn dùng đường biển để tiến vào nước ta: trận Bạch Đằng năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán do Vạn vương Hoằng Tháo cầm đầu và chết trên biển. Bình về chiến công này, Ngô Thì Sĩ viết: “một vũ công cao cả vang dội đến nghìn thu, há phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi đâu”! Quả đúng như thế.

Trận quyết chiến chiến lược của quân dân đời Trần tháng ba năm Mậu Tí (1288) dưới sự chỉ huy của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đánh tan mấy chục vạn quân Nguyên cũng diễn ra trên khúc sông Bạch Đằng lịch sử này. Trong “Nguyên sử, q.166, Phàn Tiếp truyện” chép: Kịch chiến từ giờ Mão đến giờ Dậu” tức là từ sáng đến chiều, đã nói lên tính khốc liệt của cuộc chiến. Tướng giặc Ô Mã Nhi từng khoác lác hăm dọa vua Trần: “Ngươi chạy lên trời, ta theo lên trời; ngươi chạy xuống đất ta theo xuống đất, ngươi trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn xuống nước ta theo xuống nước” để rồi cuối cùng bị tóm cổ tại ghềnh Cóc, sông Chanh, một nhánh chảy vào sông Bạch Đằng, nơi Hưng Đạo Vương đã dàn thế trận với những bãi cọc đâm thủng thuyền giặc. Rõ ràng là, trong những trận quyết chiến chiến lược đó, thủy binh luôn giữ một vai trò rất quan trọng trong tư duy chiến lược của ông cha ta, tiêu biểu là Hưng Đạo Vương.

Vì thế, việc dựng tượng Trần Hưng Đạo thiên tài quân sự Việt Nam, vị tướng duy nhất được nhân dân phong Thánh tại Song Tử Tây, nơi đầu sóng ngọn gió ở Trường Sa là một việc làm thật có ý nghĩa, một bước đột phá trong quyết sách giữ nước, thể hiện rõ bản lĩnh “có cứng mới đứng đầu gió” của dân tộc ta. Trong tâm thức Việt Nam, “Đức Thánh Trần” còn tượng trưng cho oai lực trừ tà diệt quỷ. Những hồn ma Toa Đô, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp… và lũ hậu duệ của chúng đang lảng vảng ở Biển Đông chắc sẽ phải hồn xiêu phách tán trước oai lực ấy.

Trong tương quan về vị thế địa chính trị, địa chiến lược thì mỗi thước, mỗi tấc đất trên thềm lục địa, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Tổ quốc hôm nay. Khi mà vấn đề Biển Đông đang là một thực tế nổi cộm trong đời sống quốc tế với những thủ đoạn vừa nham hiểm, vừa trắng trợn của thế lực bành trướng hiếu chiến đang thè cái “lưỡi bò” ham hố muốn liếm trọn vùng biển giàu “vàng đen” và vị trí chiến lược nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương này, thì việc thông tin đầy đủ và khơi động tình cảm yêu nước và ý chí bảo vệ chủ quyền lãnh thổ phải là nghĩa vụ của những người có trách nhiệm với đất nước. Đồng thời, càng phải có ý thức thường trực việc tuyên truyền về tình cảm yêu nước của thế hệ trẻ, cổ vũ và tạo cho họ điều kiện để thực hiện quyền được yêu nước của mình. Làm thất thoát hay để thui chột tình cảm yêu nước đó là có tội với đất nước, đáng hổ thẹn với cha ông đã bao đời đổ máu để giữ gìn từng tấc đất, từng thước biển, từng hòn đảo làm nên giang sơn gấm vóc hôm nay. Vì thế, tượng Đức Thánh Trần dựng tại Song Tử Tây cùng với phong trào “góp đá xây dựng Trường Sa” là một tín hiệu cổ vũ cho ý chí quật cường của thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay. Hai câu thơ ghi trong “Kỷ yếu Trường Sa” sau đây đã phần nào nói lên được điều đó:

“Xây vững chãi những công trình trên biển
Tôn cao nền Tổ quốc giữa đại dương”

Là một bán đảo với chiều dài gấp bốn chiều rộng, bờ biển trải dài từ Vịnh Bắc Bộ sang đến Vịnh Thái Lan, hải phận mở rộng ra 12 hải lý, tức là trên 22km và vùng kinh tế biển rộng 200 hải lý thường tương ứng với thềm lục địa ở đáy biển, nối dài bờ biển ra ngoài khơi đến độ sâu 200m thì chiến lược biển phải là một chiến lược có tầm vóc xuyên suốt thời gian và không gian. Khi con thuyền đất nước đã vượt qua quãng nước lợ pha vị mặn ở đầu cửa sông, khởi đầu một vòng lượn ngoạn mục ở khúc quanh của dòng chảy để hướng ra biển thì một “chiến lược biển” được vạch ra cách đây hơn 5 năm là sự ghi nhận một bứt phá trong tư duy về biển.

Phải chăng truyền thuyết 50 người con theo mẹ lên núi và 50 người con theo cha xuống biển là một lựa chọn của sự cân bằng tâm thế hướng núi và hướng biển. Vì thế, dựa vào địa hình, “yếu tố trội” biến đổi chậm nhất theo thời gian cùng với các yếu tố tự nhiên khác như khí hậu, sông ngòi và lớp phủ sinh vật, thì chọn “hướng núi” dựa vào núi để mà mở nước phải chăng là một sự lựa chọn trong thế chẳng đặng đừng vào thời ấy. Mặc dù vậy, trong sâu thẳm tâm thức Việt, cả hai hướng ấy quyện vào nhau. Những lời “nguyện nước thề non” của thi sĩ Tản Đà có sức khơi gợi mãnh liệt tâm thức ấy

“Non cao đã biết hay chưa,
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn”

Mà đâu chỉ nỗi khắc khoải của một tài thơ nằm vắt ngang thế kỷ XIX và thế kỷ XX, hơn nửa thế kỷ sau nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng nói về sự gắn quyện ấy:

Trong khi ta về lại nhớ ta đi
Đi lên non cao, đi về biển rộng”

Vì trên đất nước ta đâu cũng có “những giòng sông nối đôi tay liền với biển khơi”. Người nhạc sĩ thiên tài ấy gợi lên một ý tưởng rất lạ: “Bao năm chờ đợi sóng gần ta” và rồi trong “bao năm chờ đợi” ấy liệu đã có những ai nghe được, cảm nhận được “biển có bâng khuâng gọi thầm”?
Vâng, biển gọi. Vì đi về phía biển là đi tìm một chân trời.

Lịch sử đã từng ghi nhận bản lĩnh mở đường, đi về phương Nam của Nguyễn Hoàng thế kỷ XVII. Bản lĩnh đó được bật dậy từ một tầm nhìn: nhìn ra cái thế chiến lược của việc mở nước về phương Nam, hướng ra biển từ giải Hoành Sơn tạo ra một thế phát triển mới. Quả là, “vạn đại dung thân” là gì, nếu không phải là thấy chiến lược bừng sáng trong đầu về một chân trời mới mở rộng ra trước mắt, không phải cho một đời Nguyễn Hoàng, mà cho ngàn ngàn đời một dân tộc thường xuyên đi tìm lối thoát khỏi một vị thế địa dư trứng nằm dưới đá ? (Cao Huy Thuần). Tầm nhìn chiến lược xuyên lịch sử, xuyên không gian và thời gian từ đôi mắt của bậc danh sĩ thế kỷ XVI Nguyễn Bỉnh Khiêm, với bản lĩnh và sự nghiệp của người anh hùng đi mở cõi Nguyễn Hoàng đã khởi đầu cho một chuyển đổi tâm thế dân tộc: hướng ra biển.

Gợi lại đôi điều “cảm thức về biển” khi vấn đề Biển Đông đang “nóng” đòi hỏi mỗi người Việt Nam phải biết hướng ra biển không chỉ bằng đôi mắt mà phải bằng cả trái tim. Chính với trái tim ấy mà Hồ Chí Minh quyết vượt biển tìm đường cứu nước trong trái tim rớm máu

“Đêm xa nước đầu tiên ai nỡ ngủ
Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương
Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở
Xa nước rồi càng hiểu nước đau thương”

(Chế Lan Viên)

Vì thế, thay vì “làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác”, hôm nay, nhân kỷ niệm ngày sinh lần thứ 122 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, học theo tầm nhìn đại dương của Bác Hồ, thế hệ trẻ quyết noi gương ông cha giữ vững và phát huy bản lĩnh Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giữ nước và phát triển đất nước theo mong ước cuối cùng của Bác: “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

GS Tương Lai
daidoanket.vn

Gặp người sưu tầm 2222 bức ảnh về Bác Hồ

Cụ Đinh Văn Thân là người may mắn đã 3 lần được gặp Bác Hồ, cũng từ đó, để tỏ lòng biết ơn và thành kính công lao trời biển của Người, cụ đã bỏ biết bao công sức, tiền của đi khắp mọi miền đất nước để sưu bộ ảnh của Bác với 2222 bức ảnh, 22 bài thơ chúc tết, 11 hình ảnh về các kỳ Đại hội Đảng và 100 ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đó không chỉ là thú vui mà còn là cách thể hiện sự kính yêu với vị cha già dân tộc.

Cụ Đinh Văn Thân

Cụ Đinh Văn Thân quê ở thôn Ngô Đồng (xã Gia Phú, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Gặp cụ trong những ngày đầu hè (năm 2012) cụ rất yếu, đi lại rất khó khăn, bởi đầu năm cụ bị một trận tai biến (năm nay cụ Thân đã 84 tuổi), Dù vậy, nhưng khi hỏi cụ về việc sưu tầm ảnh Bác, mắt cụ như sáng lên và cụ chầm chậm kể cho tôi nghe về những chuyến đi sưu tầm ảnh Bác: Cụ đã bỏ ra biết bao thời gian, công sức cũng như lòng đam mê, kiên trì và nghị lực để có được một bộ sưu tập ảnh với 2222 bức được sắp xếp thứ tự theo thời gian. Từ lúc Bác trưởng thành, ra đi tìm đường cứu nước, những hoạt động cách mạng ở nước ngoài, đến khi về nước lãnh đạo cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cho đến lúc Bác đi xa. Bộ sưu tập ảnh về Bác giúp cho người xem thấy được hầu như trọn vẹn cả cuộc đời của Bác, cũng như tài năng toàn diện và đạo đức cao cả của lãnh tụ Hồ Chí Minh, một con người suốt đời vì nước, vì dân, được cả nhân loại ngưỡng mộ, tôn sùng và công nhận là Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hóa thế giới.

Để có những bức ảnh như mong muốn, ngoài những tư liệu sách báo có sẵn trong tỉnh, cụ phải đi đến khắp mọi miền của Tổ quốc như: Thư viện, bảo tàng, nhiều cơ quan, bạn hữu ở trong và ngoài tỉnh như: Nam Định, Thái Bình, Hòa Bình, Hà Nội, Hải Phòng hay lên tận Thái Nguyên, Tuyên Quang là nơi Bác Hồ sống và làm việc suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp để sưu tầm ảnh Bác. Có chuyến đi xa kéo dài hàng tháng, từ các tỉnh miền Trung như: Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, đến Đăk Lăk, Đăk Nông và vào tới Bình Dương, Bình Phước, TP Hồ Chí Minh.

Lần đầu tiên cụ Thân đã được gặp Bác vào năm 1958, nhân dịp Bác đến thăm khu triển lãm tiểu thủ công nghiệp tại phố Yết Kiêu (Hà Nội). Ấn tượng đó về cuộc gặp đầu tiên ấy vẫn vẹn nguyên trong ký ức ông: “Bác nói rất ít, nhỏ nhẹ nhưng lại dễ hiểu. Được nghe Bác nói, tôi hiểu thêm nhiều điều về Đảng, cách mạng”. Lần thứ 2 cụ Thân vinh dự được gặp Bác tại quê hương vào ngày 15-3- 1959 nhân chuyến Bác về thăm và động viên nhân dân Ninh Bình chống hạn. Lần thứ 3 gặp Bác trong lần cụ cùng đoàn cán bộ Y tế vào Thanh Hóa công tác và gặp Người đang đến thăm địa phương. Ba lần gặp Bác đã để lại trong cụ Thân nhiều ấn tượng tốt đẹp và những kỷ niệm không thể nào quên. Cụ lắng nghe và dõi theo từng cử chỉ, lời nói và hành động của Bác, mọi cái đều rất ân cần và thắm thiết. Cụ tự nhủ, mình phải làm một việc gì đó thật ý nghĩa để khắc sâu hình ảnh Bác, một vị lãnh tụ thiên tài, một tấm gương sáng mà suốt cuộc đời mỗi người đều cần phải học tập và làm theo.

Là cán bộ nghỉ hưu, tại quê nhà, con cái đã có gia đình riêng, giờ chỉ còn hai ông bà chăm sóc nhau, với căn nhà cấp 4 đã khá cũ ở một vùng quê chiêm trũng, song cụ chọn nơi trang trọng nhất trong căn nhà là nơi đặt bàn thờ Bác. Kể cả ngày giỗ, ngày sinh và những ngày lễ lớn cụ đều thắp hương tưởng nhớ Bác. Việc sưu tầm ảnh Bác vừa là đam mê, lại là một thú vui của tuổi già, vừa thỏa mái, lại có ích. Cụ bộc bạch: Với tôi, việc sưu tầm ảnh Bác là một thú chơi tâm đắc nhất. Đây không chỉ là thú vui mà còn là cách thể hiện sự kính yêu với vị cha già dân tộc. Chia tay cụ, chúng tôi cầu mong sao cụ chóng khỏe và tiếp tục dong duổi trên con đường tìm kiếm những bức chân dung về Người để bộ sưu tập vô giá kia ngày càng trọn vẹn và ý nghĩa hơn.

Thùy Trang
daidoanket.vn