Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Nhân dân thủ đô Hà Nội lần đầu tiên kỷ niệm sinh nhật Hồ Chủ tịch

Ngày18-5-1946, báo Cứu Quốc, cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh (nay là báo Đại Đoàn Kết) xuất bản ở Hà Nội, chính thức thông báo ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ngày 19-5-1890. Chính ngày này đã ra đời một người đặc biệt của đất nước Việt Nam: Hồ Chí Minh”.

Tinh thần hoạt động của hầu hết các chiến sĩ Việt Nam đều do bộ óc tài tình của Người xây dựng nên. Ngày 19-5-1890, ngày Người nhìn thấy bầu trời Việt Nam là ngày rất quan hệ đến vận mệnh dân tộc Việt Nam.

“…Chúng ta dân tộc Việt Nam, chúng ta đi từ giai đoạn một nước nô lệ đến giai đoạn một nước tự do là nhờ có Hồ Chí Minh”. Cùng cả nước, nhân dân Thủ đô Hà Nội lần đầu tiên tổ chức kỷ niệm lần thứ 56 ngày sinh của vị Cha già dân tộc với tất cả tấm lòng thành kính, biết ơn. Chiều ngày 18-5-1946 TP. Hà Nội bừng lên trong rừng cờ biểu ngữ. Gia đình nào cũng treo ảnh chân dung Hồ Chủ tịch ở nơi trang trọng nhất. Các ngành, các đoàn thể, các giới ở Hà Nội đều gửi điện văn lên chúc thọ Hồ Chủ tịch bày tỏ lòng tin tưởng tuyệt đối với lãnh tụ tối cao của dân tộc, sẵn sàng tuân theo mọi mệnh lệnh của Chính phủ.

Tại Bắc Bộ Phủ, từ sáng sớm các em thiếu nhi đã tụ tập ở Ấu Trĩ Viên. Theo tiếng trống ếch các em tiến vào Bắc Bộ Phủ. Bác hiền từ giản dị trong bộ quần áo vẫn mặc hàng ngày tươi cười đón các em.

Thay mặt các bạn, em Nga, 8 tuổi đọc bài chúc thọ Bác trong khi các em khác thi nhau gắn huy hiệu “Măng non mọc thẳng” lên ngực áo Bác, kính tặng Bác huy hiệu hình quả tim có chữ “i”, chữ “t” tập bài hát và điều lệ Hội Nhi đồng cứu quốc. Đồng chí Khuất Duy Tiến, Bí thư Thành bộ Việt Minh mang cây bách tán tới. Bác Hồ trao cây cho các em thiếu nhi. Người nói: “Bác có cây này tặng các cháu. Mai sau cái cây sẽ mọc ra một trăm cái tán. Các cháu về chăm lo cho cây lớn, cây tốt, thế là các cháu yêu Bác lắm đấy”. Các em sung sướng được Bác cho quà, đồng thanh hát bài “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng”. Bác chụp ảnh chung với các em.

Tiếp đó, các đoàn đại biểu Hướng đạo, thiếu niên Tiền phong, đại biểu Nam Bộ, vệ quốc quân, Ban bảo vệ thành, Ban Cứu thương, đại biểu các ngành các giới, các đoàn thể, các tôn giáo, thân hào, nhân sĩ… đến chúc thọ Bác. Đại biểu UBND TP. Hà Nội kính biếu Bác một tháp rùa khổng lồ làm bằng bánh ngọt. Đại biểu Phật giáo dâng Bác quyển Kinh Dược sư.

19 giờ, tại chùa Quán Sứ, Hội Phật tử đã tổ chức buổi lễ long trọng cầu trường thọ cho Hồ Chủ tịch.

Trong ngày kỷ niệm sinh nhật 56 năm của mình, Bác vẫn không quên nhắc nhở cán bộ khi đến chúc thọ Người thực hiện khẩu hiệu “Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư”, vì đó là những điều không bao giờ cũ cả, tựa như cơm ăn, nước uống hàng ngày để sống vậy”.

Lễ kỷ niệm sinh nhật Hồ Chủ tịch đầu tiên được tổ chức ở Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh vô cùng gay go phức tạp: quân Tưởng chưa rút hết, quân Pháp ngày càng có nhiều hành động bội ước vi phạm Hiệp định sơ bộ 6/3. Vì thế, lễ kỷ niệm sinh nhật Hồ Chủ tịch không chỉ biểu lộ lòng tôn kính, tin tưởng tuyệt đối của nhân dân vào vị lãnh tụ tối cao của dân tộc mà còn là dịp biểu dương lực lượng to lớn, biểu thị tinh thần đoàn kết, quyết tâm giữ vững độc lập của nhân dân Hà Nội và đồng bào cả nước.

Lê Quang Cảnh
(Biên tập theo báo Cứu Quốc số 243 ngày 18-5-1946 và 244 ngày 20-5-1946)
daidoanket.vn

Bác Hồ: Tấm gương sáng về tập luyện thể dục thể thao

Cứ đến ngày này (19-5) cả nước lại hướng về ngày sinh của Bác. Với riêng ngành Thể dục – Thể thao, ngoài tấm lòng yêu nước thương dân, Bác còn là tấm gương sáng về tập luyện thể dục thể thao. Kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Người, chúng ta thật xúc động và tự hào nhắc lại tấm gương rèn luyện thân thể bảo vệ sức khoẻ, tăng cường thể lực để phục vụ cách mạng và nhân dân.

Bác Hồ rèn luyện thân thể hàng ngày

Trong Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục của Hồ Chủ tịch được đăng tải trên tờ Cứu quốc (Tiền thân của Báo Đại Đoàn Kết) tháng 3-1946. Bác Hồ đã viết: “ Tự tôi ngày nào tôi cũng tập”. Hồ Chủ tịch là tấm gương trong sáng về nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trí tuệ lỗi lạc, lối sống lành mạnh và tinh thần rèn luyện thân thể để giữ gìn sức khoẻ và nâng cao thể lực nhằm phụng sự Tổ quốc và nhân dân.

Sau Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, khi Chính phủ liên hiệp kháng chiến được thành lập, Hồ Chủ Tịch thay mặt Chính phủ mới ký sắc lệnh số 38 (vào ngày 27-03-1946) về việc thành lập Nha Thanh niên và Thể dục gồm Phòng thanh niên Trung ương và Phòng thể dục Trung ương. Bác am hiểu sâu sắc và có lòng tin mãnh liệt vào phương pháp bảo vệ sức khoẻ bằng tập luyện thể dục thể thao (TDTT). Chẳng hạn, ở nước Nga, trong mùa Đông, Bác Hồ vẫn đều đặn dậy sớm tập thể dục tay không, kết hợp với tập các loại tạ và dây thun… Chủ tịch Hồ Chí Minh có thói quen tránh ăn quá no, rèn luyện thân thể vào buổi sáng, không ngủ trưa, và buổi chiều Người đi làm vườn, cho đồng bào trong xóm… Các vị lão thành cách mạng còn kể lại, thời kỳ chuẩn bị Hội nghi Trung ương Đảng lần thứ 8 năm 1941, sáng nào, Cụ Hồ cũng đi đến các lán gọi mọi người cùng dậy tập thể dục bên dòng Khuổi Nậm, rồi dành một lúc tăng gia và đi tắm suối rồi sau đó mới bắt tay vào công việc nghiên cứu, viết tài liệu.

Lúc ở Liễu Châu (Trung Quốc) Bác Hồ vẫn tập luyện thể dục đều đặn, nhiều hôm Bác tập Thái Cực quyền và chạy bộ 4-5 km. Đồng chí Vũ Kỳ kể rằng: Bác Hồ có kiểu tập nhảy “dậm chân tại chỗ” thật lạ và thú vị. Số là “Phòng Chủ tịch nước”- nơi làm việc của Bác cách các lán khác thường từ dăm chục mét đến ba bốn trăm mét. Đường đi lên lán hay xuống suối, đến nhà ăn đều được Bác cho đặt những rào chắn cao từ 10 – 15cm, mức cao nhất trên 40cm. Mỗi khi đi qua, Bác và mọi người phải chụm chân nhảy không được lấy đà. Tập sức bật tại chỗ như vậy khá “trường kỳ” nhưng rõ ràng đạt hiệu quả. Cách rèn luyện “vượt chướng ngại vật” như thế, giúp Bác có thêm sức khoẻ dồi dào. Đồng chí Vũ Kỳ kể tiếp: “Hồi đó mỗi ngày Bác tập hành quân từ 5 đến 10km có hôm tăng lên tới 20km đường rừng, băng đèo, vượt sông. Bác cũng đeo ba lô nặng 25kg”. Là người khai sinh ra nền TDTT nước nhà, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chủ tịch luôn luôn quan tâm, dành thời gian theo dõi, chỉ đạo, chăm sóc phát triển ngành TDTT. Dù rất bận việc Nhà nước nhưng Bác luôn cố gắng có mặt tại các sự kiện thể thao trong nước. Đặc biệt, Bác luôn gặp mặt và động viên các VĐV thi đấu đạt thành tích tại các giải quốc tế (danh thủ Trần Oanh – bắn súng, Trần Hữu Chỉ – điền kinh, Vũ Thị Sen – bơi…). Hồ Chủ Tịch căn dặn: “Đánh giặc Mỹ gian khổ khó khăn như vậy, nhưng quân và dân ta có quyết tâm đánh thắng. Các cháu phải quyết tâm đạt thành tích cao hơn nữa. Muốn vậy phải đoàn kết, giúp đỡ nhau trong tập luyện và thi đấu, phải cố gắng thật nhiều để xứng đáng là những VĐV của dân tộc anh hùng”. Nhớ lời Bác dặn, ngành TDTT và giới TDTT cả nước càng nhớ Bác, phấn đấu làm theo lời Bác Hồ dạy và noi theo tấm gương đạo đức của Người.

AN CHI (tổng hợp)
daidoanket.vn

Tư tưởng đại đoàn kết – ngọn đuốc soi đường dân tộc

Bác Hồ ân cần thăm hỏi bà con nông dân
Ảnh: TL

Một trong những di sản vô giá mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta đó chính là tư tưởng đại đoàn kết dân tộc. Quần tụ trong cộng đồng làng, xã để hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, sinh hoạt, và để chống chọi với thiên tai, địch họa trong quá trình dựng nước và giữ nước đã hình thành nên truyền thống yêu nước, đoàn kết, một bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam.

Đúc kết từ lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Sử ta dạy cho ta bài học: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do, trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Và trong suốt cả cuộc đời của Người, Hồ Chí Minh đã không ngừng xây dựng, hoàn thiện nên một hệ thống những quan điểm về đại đoàn kết dân tộc, không ngừng truyền bá tư tưởng đại đoàn kết trong Đảng và các cấp chính quyền, trong các tầng lớp nhân dân, kể cả đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc.

Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc không phải là sách lược nhất thời trong một giai đoạn nhất định, mà đoàn kết là vấn đề cơ bản, có tính chiến lược, lâu dài. Đoàn kết có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của cách mạng, tới sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước, của dân tộc. Muốn vậy, đoàn kết phảithật thà, lâu dài, rộng rãi và chặt chẽ. Đoàn kết phải thật sự thật lòng, trên cơ sở mục tiêu chung của cách mạng, kể cả những lúc khổ cực gian nan, cũng như khi đã thành công, đó chính là phương châm đoàn kết của Hồ Chí Minh. Ngay từ những ngày đầu khi nước nhà mới giành được độc lập, trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plây cu ngày 19-4-1946, Hồ Chí Minh đã viết… “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”. Trong bài nói chuyện tại buổi khai mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, dân, chính các cơ quan Trung ương Bác nói:“Đảng có 2 chính sách, công nông trí thức hóa, trí thức hóa công nông tức là anh em trí thức cùng biết trọng lao động, cũng biết lao động, hợp thành một khối với công nông, nâng cao trình độ công nông về văn hóa và lí luận. Đấy mới là thật thà đoàn kết”. Theo Hồ Chí Minh, cần phải đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đối tượng, các lực lượng của dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, miễn là yêu nước, đồng lòng chống lại kẻ thù chung, xây dựng và phát triển đất nước. Trả lời Báo Độc lập năm 1947, Bác đã nói: “Chính sách của Chính phủ trước sau vẫn là đoàn kết. Đối với các vị quan lại cũ cũng như đối với tất cả các giới đồng bào, những người có tài, có đức thì Chính phủ đều hoan nghênh ra gánh vác việc nước”. Không chỉ quan tâm tới đoàn kết các dân tộc “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Lai hay Êđê, Xê đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”, Bác còn quan tâm tới đoàn kết các tôn giáo, chủ động giải quyết những xích mích nhằm không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Trong thư gửi Giám mục Phát Diệm, Kim Sơn, Ninh Bình Lê Hữu Từ (ngày 1-2-1947) Bác viết “chắc cụ không bao giờ tin rằng Việt Minh chống đạo vì cụ thừa biết Việt Nam độc lập đồng minh là cốt đoàn kết tất cả đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập, chứ không phải để chia rẽ tôn giáo… Những xích mích nhỏ giữa một số đồng bào tuy là đáng tiếc vì đạo đức giáo hóa chưa được phổ cập, không thể động chạm đến sự đại đoàn kết của chúng ta”.Đối với kiều bào, Người vẫn luôn dành thời gian và tình cảm động viên tinh thần đoàn kết hướng về quê hương đất nước. Trong thư chúc Tết Việt kiều ở Lào, Xiêm (Thái Lan), Người viết “các đồng bào tuy mình trú ở nơi đất khách quê người, nhưng lòng vẫn yêu mến cố hương Tổ quốc… Ngày nay, tuy nhờ sự đoàn kết của toàn dân mà nước nhà đã tranh lại quyền độc lập, nhưng chúng ta hãy còn nhiều sự khó khăn, hãy còn phải hy sinh phấn đấu mới đi đến sự nghiệp độc lập hoàn tòan. Muốn đạt mục đích đó chúng ta phải kiên quyết nữa, phải đoàn kết nữa”. Đoàn kết những con dân đất Việt mang trong mình dòng máu Lạc Hồng yêu nước, phụng sự Tổ quốc đó là một quan điểm cơ bản của di sản tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đoàn kết dân tộc phải đi liền với xây dựng, củng cố Đảng, giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng. Hiểu sâu sắc lý luận Mác-Lênin về chính đảng kiểu mới, Hồ Chí Minh đã sáng lập và dày công rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam để Đảng thực hiện vai trò lãnh đaọ cách mạng, là hạt nhân đoàn kết, là lực lượng tiên phong, là đạo đức, là văn minh để đoàn kết tập hợp toàn dân làm cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Hồ Chí Minh phải là việc làm thường xuyên, nghiêm túc nhằm phát huy ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tăng cường vai trò, sức chiến đấu, tăng cường sự đoàn kết trong Đảng và toàn xã hội. Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc  (nay là Bắc Ninh – Bắc Giang) Người nói: “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công. Đảng ta là một Đảng cách mạng theo Chủ nghĩa Mác Lênin, tất cả cán bộ và đảng viên phải đặt quyền lợi của Đảng, của giai cấp và của nhân dân lên trên hết, cao hơn hết” và cho đến trước lúc về cõi vĩnh hằng, trong bản Di chúc thiêng liêng Người vẫn dặn lại cho toàn dân tộc, điều cốt lõi “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Xây dựng, củng cố và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất từ trong Đảng để lãnh đạo tập hợp khởi đầu đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề cốt lõi trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đoàn kết phải gắn liền với dân chủ và thực hành dân chủ, xây dựng chính quyền trong sạch của dân, do dân, vì dân, chăm lo lợi ích thiết thực của các tầng lớp nhân dân. Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Nước ta là nước dân chủ, chế độ ta là chế độ dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Người hiểu rõ sức mạnh to lớn của nhân dân, gắn bó cả cuộc đời, sự nghiệp vì dân, với phương châm đoàn kết thật thà. Người tâm niệm đoàn kết đấu tranh để giành độc lập, tự do cho dân tộc cũng là để chăm lo lợi ích cho nhân dân, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Muốn vậy phải thực hành dân chủ. Mọi quyền lực của bộ máy chính trị các cấp đều do dân bầu ra, dân ủy quyền mà có, do vậy cán bộ phải là người đầy tớ, công bộc của dân. Đảng, Nhà nước đều phải lấy việc đem lại lợi ích cho dân làm mục tiêu tối cao. Thực hành dân chủ theo Hồ Chí Minh không phải chỉ dừng lại ở ý thức, lý luận mà còn phải quan tâm đến lợi ích thiết thân của các tầng lớp nhân dân. Người nói:“Nếu dân đói, Đảng, Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng, Chính phủ có lỗi”. Để có đoàn kết thật sự lâu bền, theo Hồ Chí Minh phải có dân chủ thực sự trong Đảng, trong toàn xã hội.

Để dân thật sự là chủ, việc thực hành dân chủ phải gắn liền với việc xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Theo Hồ Chí Minh, chính quyền chính là công cụ để nhân dân thực hiện mục tiêu của cách mạng và phát huy quyền làm chủ. Nhưng trên thực tế ở nhiều nơi, do nhiều nguyên nhân, chính quyền còn xa dân, quan liêu, đặc quyền đặc lợi, cho mình đứng trên dân, do vậy Người đã thường xuyên căn dặn: cán bộ Đảng, đoàn thể và đặc biệt là cán bộ chính quyền phải xem bệnh quan liêu là một nguy cơ hiện thực vô cùng nguy hiểm. Người nhấn mạnh các chủ trương của Đảng muốn đi vào cuộc sống phải được cụ thể hóa bằng chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nếu Nhà nước xây dựng và ban hành được các chính sách, pháp luật đúng đắn, hợp lòng dân thì đó sẽ là một phương thức quan trọng của chính quyền để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đúc kết, nâng cao tư tưởng đại đoàn kết dân tộc thành một hệ thống lý luận, đưa hệ thống đó thành đường lối, chủ trương của Đảng lãnh đạo, chính sách pháp luật của Nhà nước mà Người còn tập hợp lực lượng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua tổ chức Mặt trận với các hình thức khác nhau phù hợp với nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ. Dưới sự lãnh đạo của Người, ngày 18-11-1930 Mặt trận Dân tộc thống nhất (MTDTTN) Việt Nam được thành lập. Đánh giá về vai trò của MTDTTN Việt Nam, Người đã nêu rõ “Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm nên Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến, thắng lợi, lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc. Đoàn kết trong MTTQ Việt Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc… Một Mặt trận của nhân dân, đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi là một lực lượng tất thắng”. Và chính Người đã hết lòng chăm lo, xây dựng Mặt trận DTTN Việt Nam, vun đắp cho khối đại đoàn kết dân tộc. Người khẳng định “Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng”. Đối với Đảng cộng sản Việt Nam, lực lượng giữ vai trò lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, lãnh đạo xây dựng MTDTTN Việt Nam đồng thời cũng là thành viên của Mặt trận, Hồ Chí Minh cũng đã có luận điểm chỉ đạo hết sức sâu sắc: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo cuả mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”.

Kế thừa di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng xây dựng và hoàn thiện chủ trương, đường lối lãnh đạo nhằm củng cố và tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cho đến hôm nay, đại đoàn kết toàn dân tộc đã được khẳng định ở một tầng nhận thức mới, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và sự phát triển bền vững của đất nước và dân tộc.

Đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đảng và Nhà nước ta cơ chế hóa bằng những chủ trương,  những định hướng chính sách phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục nâng cao vai trò của MTTQ Việt Nam. Di sản tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc của Hồ Chí Minh đã và sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho nhân dân ta trong sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đinh Đức Lập
daidoanket.vn

Tài liệu tham khảo
Hồ Chí Minh toàn tập – NXB Chính trị Quốc gia – 2000
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. – NXB QĐND – 2004
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn công tác Mặt trận  – NXB Chính trị Quốc gia 2009

Dân tộc mang họ Bác và những kỷ vật có một không hai

Có lẽ, trên thế giới, ít có một dân tộc nào vì quý trọng một vị lãnh tụ anh minh của dân tộc mình mà tự nguyện lấy họ của lãnh tụ đó làm họ cho cả dân tộc mình như đồng bào Tà Ôi, Pa Cô hay Pahy ở huyện A Lưới (tỉnh Thừa Thiên – Huế) của Việt Nam. Không những thế, đồng bào nơi đây còn lưu giữ những kỷ vật thiêng liêng, có một không hai về Người.

Tấm chân dung in trên vải sau ngày Bác mất
luôn hiện hữu ở nơi trang trọng trong các nhà dân

30 năm trường tồn một di vật

Đi trong các xã của huyện A Lưới chúng ta không khỏi rưng rưng xúc động về các hiện vật có thể coi là tầng tầng, lớp lớp về Bác Hồ mà các dân tộc như Tà Ôi, Pa Cô, Pahy đang lưu giữ. Những kỷ vật về hình ảnh người lãnh tụ kính yêu, bậc danh nhân kỳ tài của nước Việt cũng như của thế giới được đồng bào lưu giữ “ít tuổi” nhất cũng đã được trên chục năm, “nhiều tuổi” nhất cũng đã được gần 40 năm rồi. Những kỷ vật đó thể hiện sự kính trọng lớn lao với Bác mà cuộc đời giản dị, hết lòng vì dân, vì nước đã như một mạch nguồn, thấm chẩy trong từng tấc đất, trong mỗi tấm lòng người dân.

Lần đầu tiên đặt chân lên mảnh đất này, chúng tôi thật sự bất ngờ vì được đối diện với một kho kỷ vật về Bác mà đồng bào đã cất công lưu giữ, thờ tụng đến lớn lao như vậy. Và thú thực chúng tôi rất khó lựa chọn để giới thiệu về các kỷ vật đó.

Khi chúng tôi đến nhà ông Lê Xuân Rắc, xã Hồng Quảng, huyện A Lưới để được xem kỷ vật về Bác chúng tôi phải chờ đến tận 2 ngày vì ông Rắc đang ở trên ngàn. Ngoài ông Rắc, những người trong gia đình không ai được tự ý lấy xem những kỷ vật mà ông giữ.

Chờ đợi đến khi ông Rắc về. Đó là một người nông dân vậm chắc và trực tính. Khi chúng tôi đề xuất ý định của mình là muốn xem di vật của Bác mà ông gìn giữ đã gần 40 năm nay, không nói không rằng ông Rắc lặng lẽ ra con suối đầu bản để tắm. Lúc trở lại nhà ông mới cho biết là ông không muốn để người còn bụi bặm khi động đến và nói về kỷ vật ấy.

Nói rồi ông đặt thang trèo lên nơi bàn thờ của gia đình, lật tấm vải đỏ phủ kín, ông cẩn trọng mang xuống một bức phù điêu bằng đá tạc nổi rõ chân dung của Bác. Ông bảo, ông đã được cơ quan, bà con lối xóm ủy quyền để gìn giữ bức phù điêu tạc chân dung Bác đã gần 40 năm nay. Ông hồi tưởng, bức phù điêu ra đời và được đưa về nhà ông từ năm 1971. Năm ấy, toàn dân tộc ta đang dốc sức, dốc lực cho chiến trường miền Nam để thực hiện thống nhất Nam Bắc một nhà theo di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm này, có một đoàn Quân bưu miền Bắc hành quân vào chi viện cho miền Nam đã qua làng ông. Trong thời gian lưu trú, biết dân tộc Tà Ôi, Pa Cô, Pahy ở đây rất yêu kính Bác Hồ nên một người trong đoàn có hoa tay đã lấy đá ở Hồng Quảng tạc một bức phù điêu về Bác để kỷ niệm bà con. Sau đó, bức phù điêu này đã được Quân bưu A Lưới gìn giữ. Sau vì dân hay tìm đến xem nên Quân bưu A Lưới đã có ý định đưa về cho dân quản lý.

Quân bưu và lãnh đạo ở đây thống nhất giao ông Rắc là người được dân quý mến, có đạo đức vinh hạnh nhận nhiệm vụ này. Sau lễ tiếp nhận, có xôi đồ, gà luộc, hương hoa như một ngày lễ trọng đại, ông Rắc đã kính cẩn cùng gia đình, làng xóm rước Bác về cùng gia đình. Ông đã chọn nơi tôn nghiêm nhất, ấy là bàn thờ tổ tiên mình để đặt bức phù điêu của Bác. Ông và gia đình cũng như bà con đã thờ tự, nhang khói cho Bác được gần 40 năm nay.

Người sống mãi trong trái tim dân

Thấu hiểu được những tình cảm mà Bác đã dành cho toàn dân Việt Nam cũng như dân tộc mình, sau khi Bác mất, không ai bảo ai, đồng bào các dân tộc như Tà Ôi, Pa Cô, Pahy đã đồng loạt tự nguyện lấy họ của Bác để làm họ cho dân tộc, dòng họ và cá nhân mình. Những người được mang họ Hồ ở đây luôn tâm niệm một lòng học và phấn đấu theo lời Bác dạy. Từ hành động và tâm nguyện này nên nhiều người trong các dân tộc Tà Ôi, Pa Cô, hay Pahy đã trở thành các cá nhân xuất sắc và điển hình. Tiêu biểu nhất là Anh hùng Kan Lịch và Anh hùng Hồ Đức Vai. Đây là hai đại biểu, đã được Bác tiếp ở Phủ Chủ tịch.

Trong các kỷ vật hiện hữu nhiều nhất ở nhà đồng bào các dân tộc như Tà Ôi, Pa Cô, Pahy là chân dung Bác được in trên vải, được treo trang trọng nhất trong gian nhà lớn của các gia đình. Sau khi Bác mất, với tấm lòng tiếc thương vô hạn, theo đề xuất của người dân, lãnh đạo Huyện đã tặng mỗi gia đình một chân dung như vậy để đồng bào đem về nhà treo cho đỡ nhớ Bác. Theo ông Hồ Rơi thì đồng bào treo ảnh Bác, ngoài việc tưởng nhớ còn là nơi để dạy dỗ cháu con. Cha mẹ đã kể cho con cháu những mẩu chuyện về Bác để khuyên dạy cháu con.

Trong lần vào các gia đình ở đây chúng tôi rất cảm động trước “Hũ muối Bác Hồ”. Hũ muối này hình thành từ thời đất nước ta còn chịu sự đô hộ của thực dân Pháp. Khi đó bắt đồng bào Tà Ôi, Pa Cô, Pahy phải “đói muối”. Bác đã gửi muối vào cho đồng bào. Đồng bào giữ  muối trong các hũ và để nhớ ơn Người, đồng bào gọi đó là “Hũ muối Bác Hồ”. Ngày nay, đất nước ta thống nhất, phát triển và hội nhập, muối trở thành gia vị thông thường nhưng đồng bào các dân tộc nơi đây vẫn giữ “Hũ muối Bác Hồ”. Theo ông Hồ Phờn, thôn A Vin, xã Hồng Thái thì “Hũ muối Bác Hồ” không bao giờ vơi trong gia đình ông. Lúc nào nhà có việc trọng như cúng tế, tết nhất hay giỗ chạp ông và gia đình luôn lấy muối ở “Hũ muối Bác Hồ” để dùng. Ngoài sự thiêng liêng, ông và gia đình đều tâm niệm: Dùng muối ấy để ăn mà nhớ về công lao trời biển của Bác đối với các dân tộc trong đó có người Tà Ôi, Pa Cô và Pahy.

Đơn Thương
daidoanket.vn

Mở rộng dân chủ để chính quyền thực sự là của dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh với bà con dân tộc thiểu số

Cả cuộc đời Hồ Chí Minh là cuộc đời vì nước, vì dân, đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì quyền làm chủ của nhân dân. Quan điểm Hồ Chí Minh về nhân dân là sự vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam, kế thừa những tinh hoa của thế giới và dân tộc. Nhân dân mà đại bộ phận là nhân dân lao động trong đó công-nông là cơ bản, đứng lên đấu tranh để tự giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng tiền phong của giai cấp công nhân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm khoa học về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, quân sự… là sản phẩm của sự kết hợp tư duy độc lập, sáng tạo của Hồ Chí Minh với tri thức tinh hoa của dân tộc Việt Nam và của nhân loại. Trong hệ tư tưởng của Người, tư tưởng dân làm chủ được coi là cốt lõi. Việc Hội nghị Trung ương 12 (Khóa X) nhất trí với Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011) trình Đại hội Đảng lần thứ XI, trong đó xác định: “Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…” chính là minh chứng cho điều đó. Bởi lý luận và thực tiễn đều khẳng định, có dân chủ thì mới có công bằng, văn minh; bản chất xã hội ta là dân chủ và dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cả cuộc đời Hồ Chí Minh là cuộc đời vì nước, vì dân, đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì quyền làm chủ của nhân dân. Quan điểm Hồ Chí Minh về nhân dân là sự vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, kế thừa những tinh hoa của thế giới và dân tộc. Nhân dân mà đại bộ phận là nhân dân lao động trong đó công-nông là cơ bản, đứng lên đấu tranh để tự giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng tiền phong của giai cấp công nhân.

Ai cũng biết, mọi hoạt động của con người đều hướng vào lợi ích. Lợi ích là một phạm trù rộng, bao gồm mọi loại lợi ích vật chất và tinh thần, lợi ích chung (nhân loại, dân tộc, giai cấp, tầng lớp) và lợi ích riêng từng cá nhân con người. Lợi ích chung và chân chính kích thích, thúc đẩy cả một dân tộc, toàn thể nhân dân của một quốc gia thuộc địa, bị áp bức, bóc lột vào cuộc đấu tranh quyết liệt, sống còn với bộ máy thống trị của thực dân, đế quốc. Mục đích chính nghĩa của chiến tranh đã cho phép Nhà nước, Đảng cách mạng có thể phát động nhân dân phát huy đầy đủ sức mạnh của cả một dân tộc trong cuộc chiến tranh chính nghĩa, vì lợi ích của chính những người cầm súng chiến đấu. Trong điều kiện đó, nhân dân đã tìm ra mọi loại vũ khí, phương tiện cũng như sáng tạo ra mọi phương thức đấu tranh thích hợp để giành chiến thắng.

Khi cuộc chiến tranh giành độc lập tự do của dân tộc đã giành toàn thắng, đất nước trong hòa bình, xây dựng thì tình hình có sự thay đổi lớn, có thể nói là cơ bản. Mối quan hệ giữa nhân dân và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đã có nội dung mới. Lúc này, lợi ích cấp thiết của dân tộc, giai cấp, tầng lớp, cá nhân là phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, xây dựng đất nước giàu mạnh. Vì thế, Hồ Chí Minh khẳng định và nói rõ nội dung cốt lõi của dân chủ là, Nhà nước phải : “Giải quyết vấn đề kinh tế, tài chính thế nào cho hợp lý, cho lợi dân” (Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb ST, H.1986, Tập 6, tr.41). Lâu nay, chúng ta nói nhiều đến quyền làm chủ của nhân dân nhưng chưa thật sự gắn có hiệu quả với lợi ích thiết thực của nhân dân như trong quy hoạch đất đai, giải phóng mặt bằng xây dựng hay như trong triển khai các dự án… Người dân không được hoặc được thông tin rất ít nên quyền dân chủ được bàn và kiểm tra còn rất hạn chế. Thắc mắc, kiện tụng xảy ra là điều không tránh khỏi vì quyền làm chủ của nhân dân có nơi, có lúc  vẫn chỉ là hình thức. Muốn khắc phục, Đảng, Nhà nước, các đoàn thể quần chúng phải gắn bó máu thịt với nhân dân; cán bộ các cấp phải thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ của nhân dân. Cần đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành chính, khắc phục bệnh quan liêu trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể và xây dựng phong cách cách mạng theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong các tổ chức ấy. Để tạo điều kiện cho nhân dân làm chủ thực sự và có hiệu quả, phải thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của mọi người dân thông qua hai kênh: đại diện và trực tiếp. Đảng và Nhà nước hết sức chú ý đến tổ chức và thực hiện tốt các chế độ khác nhau như: chế độ cán bộ cơ quan Đảng, Nhà nước tiếp xúc với dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, tiếp thu ý kiến phê bình của nhân dân; chế độ xem xét và giải quyết những khiếu tố của nhân dân; chế độ thanh tra nhân dân…

Một hình thức hết sức hiệu quả để nhân dân phát huy quyền làm chủ là thực hiện đúng đắn việc thông tin và quyền tự do ngôn luận trên báo chí theo các quy định hiện hành. Cần tổ chức thật tốt để nhân dân phát biểu ý kiến trên báo, đài góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước. Các đoàn thể quần chúng dùng báo chí để phổ biến và tuyên truyền dân chủ trong nhân dân.

Việc tiếp theo là xây dựng đồng bộ các chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh… phát huy khả năng sáng tạo của nhân dân. Bởi vì, tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay nảy nở, phát triển được nhiều hay ít tùy thuộc vào rất nhiều vào chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh… của Đảng và Nhà nước ta.  Do sự phát triển của thời đại, của yêu cầu mới, một số chính sách đã ban hành chưa đồng bộ, chưa đủ khuôn khổ pháp lý cần thiết để triển khai vào thực tiễn. Không ít luật, chính sách đã được ban hành nhưng chưa được thực thi nghiêm chỉnh do kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo. Vì thế, cần bổ sung, hoàn thiện hàng loạt chính sách trên  các lĩnh vực, đặt trọng tâm vào việc chăm lo, bồi dưỡng, phát huy cao độ nhân tố con người, xem con người vừa là mục tiêu vừa là động lực lớn nhất của sự nghiệp xây dựng CNXH; đồng thời coi ấm no, tự do, hạnh phúc của con người là mục tiêu cao nhất của chế độ mới theo như lời dạy của Bác Hồ: “ Mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường chuyên chính để làm cho chính quyền ta ngày càng thực sự là chính quyền của nhân dân, phục vụ nhân dân, chống lại kẻ thù của nhân dân (Hồ Chí Minh, Sdd, Tập 7, tr. 559).

Phạm Quang Khánh
daidoanket.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mắt bạn bè quốc tế: Một tấm lòng nhân hậu, một chiến sĩ quốc tế vô song

Ông Raymond Aubrac luôn nói với chúng tôi: Tôi được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh của các bạn là nhờ cơ may của cuộc kháng chiến của nhân dân Pháp chống lại ách đô hộ của Đức quốc xã mà tôi là một thành viên của tổ chức này.

Ông R.Aubrac say sưa kể về những cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Quả có vậy, người đàn ông Pháp năm nay đã bước sang tuổi 96, từ lâu đã được biết đến là người bạn Pháp thân thiết của nhân dân Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông kể: năm 1944, tôi tham gia vào Ban quản lý trại lao động tại Marseilles. Khi đó, tôi đã tận mắt chứng kiến sự đối xử thô bạo của một số thành viên Ban Quản lý với các lao động Việt Nam và đã góp phần chấn chỉnh thái độ đó. Chính vì lý do này mà năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Pháp tham dự Hội nghị Fontainebleau tôi đã được mời tới gặp Người. Trong ký ức của ông Aubrac, Bác Hồ là một người giản dị, gần gũi. Thời gian lưu lại Pháp, Bác không muốn ở trong ngôi biệt thự mà chính phủ Pháp dành cho mình; cũng vì lẽ đó ông Raymond Aubrac đã mời Người đến ở ngôi nhà của mình tại vùng ngoại ô Paris. Chủ tịch của một nước, nguyên thủ của một quốc gia chấp nhận đến ở nhà một người Pháp bình thường- một người kháng chiến Pháp. Điều này có lẽ xưa nay hiếm với những bậc vĩ nhân. “Ngay lúc đó, đã có một số người bạn Pháp hỏi tôi: Phải chăng Cụ Hồ đến ở nhà tôi để giải trí,để bắn súng?- Ông Aubrac nở một nụ cười hóm hỉnh và nói. Không phải vậy! Người đến để tìm hiểu về cuộc sống của người dân Pháp.

Trong cuộc trò chuyện giữa ông và chúng tôi, thế hệ hậu sinh, ông Aubrac kể nhiều về những kỷ niệm mà gia đình ông giữ mãi về vị Chủ tịch nước đáng kính của nhân dân Việt Nam trong thời gian 6 tuần Người lưu lại nhà ông. Đó là thời gian Chính phủ hai nước gặp gỡ, bàn bạc để thiết lập mối quan hệ. Cuộc đàm phán này theo chính giới Pháp thời đó là khá khó khăn. Bởi, Chính phủ Pháp khi đó không sẵn sàng chấp nhận nền độc lập của một nước Việt Nam mới. Đó là khoảng thời gian mà gia đình Aubrac được đón tiếp rất nhiều khách là nhà báo, chính trị gia, những người thuộc phe đối lập. Họ đến để trao đổi, mạn đàm với Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa thực dân. Đối với một gia đình trí thức như gia đình Aubrac, bản thân họ đã là những người kháng chiến. Họ là những người cực lực lên án và chống lại chủ nghĩa thực dân từ trong ý thức.

Điều đặc biệt là trong những cuộc mạn đàm với các bạn Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ sử dụng những lời lẽ “đao to búa lớn”, không “lên lớp” người nghe bằng những bài thuyết giáo mà bằng những ngôn từ dễ hiểu, Người chỉ ra cho họ thấy: Thế nào là chủ nghĩa thực dân. Những người bạn Pháp trong đó có ông Raymond Aubrac hiểu rằng: Chủ nghĩa thực dân tại các nước thuộc địa cũng giống như những gì người Pháp đã phải chịu đựng trong những năm bị phát xít Đức chiếm đóng. “Trong nhiều trường hợp, cái cách mà những tên thực dân cư xử ở thuộc địa cho thấy đó là những kẻ đã từng cộng tác với Đức quốc xã khi chúng chiếm đóng Pháp. Những điều chúng tôi trao đổi không chỉ là những tình huống của người dân Việt Nam thời thuộc địa mà còn là cảnh ngộ của tất cả các dân tộc phải chịu đựng ách đô hộ của ngoại bang”. Chính từ cuộc gặp gỡ ấy, chính kể từ đó, chàng trai trẻ Raymond Aubrac đã được cảm hóa bởi những câu chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi sự gần gũi và chân tình của Người.

Mai Loan
daidoanket.vn

Nhà văn Mỹ Lady Borton: Vì dân là Tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Mấy chục năm nay, Lady Borton  đã trở thành quen thuộc trong giới nghiên cứu quốc tế về Việt Nam và cũng khá thân quen với nhiều người Việt Nam. Đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1969, bà dành nhiều năm tháng sống cùng bà con nông dân ở các làng quê Việt Nam, đi đi về về giữa Mỹ và Việt Nam không biết bao nhiêu lần với tư cách là một nhà báo, nhà văn, dịch giả, nhà nghiên cứu và hoạt động từ thiện.

Đã được đọc Tiếp sau nỗi buồn – tác phẩm viết về cuộc sống nông thôn Việt Nam thời kỳ hậu chiến của Lady Borton, nghe nhiều chuyện kể về bà từ lâu, gặp bà, tôi không ngờ bà giản dị như vậy. Trở lại Việt Nam lần này, bà là một trong những đại biểu quốc tế tham dự Hội thảo “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” với tư cách của một nhà khoa học nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã từng viết sách “Hồ Chí Minh – một hành trình”, đã từng dịch tác phẩm “Vừa đi đường vừa kể chuyện” sang tiếng Anh và nhiều tác phẩm khác về Việt Nam, về Bác Hồ, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp…

Bác Hồ với các Anh hùng, dũng sĩ miền Nam

Thưa bà Lady Borton, nhiều người Việt Nam muốn biết vì sao bà  gắn bó với Việt Nam và bỏ nhiều công sức để nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh như vậy?

Lần đầu tiên tôi nghe nói đến tên Hồ Chí Minh là vào năm 1954, khi đang học lớp 6 tại một ngôi trường ở ngoại ô thủ đô Washington D.C. Bấy giờ người ta bàn tán xôn xao về thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ. Thầy giáo chỉ định nhóm của tôi viết một bài để đăng trên một tờ báo dành cho học sinh khắp nước Mỹ

Tôi đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1969, hoạt động thiện nguyện nhân đạo tại Quảng Ngãi. Tại vùng chiến sự ác liệt miền Trung đó tôi đã giúp đỡ nạn nhân chiến tranh ở cả hai phía. Và vào tháng chín năm đó, tôi ngạc nhiên khi thấy người Việt Nam tuy ở hai chiến tuyến nhưng đều tỏ lòng tiếc thương khi được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Thú thật bản thân tôi lúc ấy không biết nhiều về Hồ Chí Minh và cũng không hiểu nổi hiện tượng lạ lùng này.

Năm 1975, lần đầu tiên tôi đến Hà Nội và từ đó, tôi có rất nhiều người bạn Việt Nam; trở thành một người bạn của Việt Nam từ khi 2 nước Việt Nam và Mỹ còn chưa bình thường hoá quan hệ. Vậy nên khi mà 2 nước đã bình thường hoá thì tôi càng là bạn bè thân thiết của những người bạn Việt Nam của tôi. Tôi đến Việt Nam như trở lại nhà của mình.

Bà Lady Borton

– Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, thậm chí ngay tại Mỹ cũng đã có nhiều tác phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vậy vì sao bà vẫn viết tác phẩm “Hồ Chí Minh – một hành trình”? Tác phẩm này có gì mới và khác so với các tác phẩm xuất bản trước đó về Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Khi cuốn sách này được xuất bản (bằng tiếng Anh – nv) tôi đã viết trong lời tựa của cuốn sách là: “Một cuốn sách mà đáng ra bản thân tôi đã phải được đọc vào thời còn rất trẻ, nhiều năm về trước”. Tôi có những người bạn rất thân thiết ở Việt Nam và họ kể cho tôi nghe nhiều chuyện về Bác Hồ. Nhưng khi tôi đọc những cuốn sách xuất bản ở Mỹ thì tôi ngạc nhiên vì có nhiều chi tiết sai quá. Ở đây không bàn đến chuyện quan điểm mà chỉ riêng số liệu, thời điểm, tính xác thực của thông tin đã sai rồi. Vì thế, tôi bỏ rất nhiều công đi khắp thế giới, thu thập các tư liệu về Hồ Chí Minh. Nhất là gần đây khi hồ sơ lưu trữ quốc tế về Việt Nam được công bố tại nhiều nước thì tôi được tiếp cận với nhiều dữ liệu mới. Tôi cũng đến tận những nơi Hồ Chí Minh đã đặt chân đến, đã sống và hoạt động… để tìm hiểu. Đó là lý do tôi viết Hồ Chí Minh – Một hành trình, tác phẩm giản dị nhưng chính xác. Tôi muốn giải mã và trình bày thật đơn giản hiện tượng Hồ Chí Minh cho người đọc phương Tây.

Cuốn sách không dừng lại ở thời điểm Hồ Chí Minh mất năm 1969 mà kết thúc với ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Cuộc hành trình của Hồ Chí Minh gắn liền với cuộc chiến đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong suốt thế kỷ 20.

Là người nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, có trong tay những tư liệu quý, tình cảm của cá nhân bà với danh nhân văn hoá thế giới Hồ Chí Minh?
Tôi cho rằng nếu không có Hồ Chí Minh thì Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam chắc không thành công. Tôi vô cùng khâm phục Hồ Chí Minh. Đó là một lãnh tụ tài giỏi. Trên thế giới có nhiều người giỏi, nhưng thường mỗi người chỉ giỏi một lĩnh vực còn Hồ Chí Minh giỏi cả về thơ ca, ngoại giao, quân sự… Lãnh tụ giỏi thì có nhiều trên thế giới, nhưng Hồ Chí Minh khác người khác ở chỗ biết tập hợp những người giỏi quanh mình. Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam lúc ấy gồm toàn những người giỏi được mời tham gia không phân biệt thành phần, giai cấp… Hơn nữa, ảnh hưởng của Hồ Chí Minh không chỉ ở Việt Nam mà còn phải xét trên bình diện đóng góp với phong trào Cộng sản thế giới.

Chắc bà cũng biết là ở Việt Nam đang có cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đứng ở góc độ một nhà nghiên cứu, theo bà đạo đức Hồ Chí Minh mà mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam phải học tập và làm theo nhất hiện nay là gì?

Tư tưởng Vì dân là tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh. Không chỉ ở Việt Nam mà cả một số nước khác trên thế giới, tôi thấy nghiêm trọng nhất bây giờ là nạn tham nhũng. Đúng là nạn tham nhũng thì ở xã hội nào cũng có, ở quốc gia nào cũng tồn tại nhưng nó có mức độ thôi. Phải hạn chế ở mức thấp thôi. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thì phải chú trọng nhất vào vấn đề tham nhũng. Hồ Chí Minh đã phấn đấu suốt đời vì dân tộc, vì nhân dân, các thế hệ người Việt Nam phải học tập và làm theo tấm gương đó.

Trân trọng cảm ơn bà!
Cẩm Thúy (thực hiện)
daidoanket.vn

Bác Hồ với đồng bào các dân tộc thiểu số

Đại đoàn kết

Xuất phát từ lịch sử và thực tiễn đất nước, Hồ Chí Minh khẳng định: dân tộc Việt Nam là một khối thống nhất của các dân tộc anh em, được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước; các dân tộc thiểu số là một bộ phận hợp thành của dân tộc Việt Nam; các dân tộc thiểu số cũng như dân tộc Kinh đều bị thực dân, đế quốc áp bức, bóc lột và đều có nguyện vọng đánh đuổi thực dân, đế quốc; xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc.

Theo Hồ Chí Minh, vấn đề dân tộc thiểu số có mối quan hệ tương tác, biện chứng với vấn đề giải phóng và phát triển của dân tộc Việt Nam. Một mặt, dân tộc Việt Nam được giải phóng là điều kiện tiên quyết để các dân tộc thiểu số được giải phóng; dân tộc Việt Nam được phát triển là định hướng và điều kiện cho sự phát triển các dân tộc thiểu số. Mặt khác, để giải phóng dân tộc Việt Nam không thể thiếu sự đóng góp của các dân tộc thiểu số; sự phát triển của các dân tộc thiểu số là một động lực cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán luận điểm nói trên trong quá trình hoạt động cách mạng của Người và phù hợp với nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ.

Trong những năm tháng hoạt động ở nước ngoài, ngoài việc thành lập và tham gia hoạt động trong các tổ chức cách mạng, Hồ Chí Minh (khi đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc) đã viết sách báo tập trung lên án chủ nghĩa thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam, trực tiếp chọn và huấn luyện nhiều cán bộ người dân tộc thiểu số trong các lớp học được mở tại Quảng Tây, Quảng Đông (Trung Quốc).

Ngay sau khi về nước, Hồ Chí Minh đã tiến hành các hoạt động vận động quần chúng. Người trực tiếp biên soạn tài liệu huấn luyện cán bộ, trong đó Người yêu cầu cán bộ phải: “Tìm hiểu phong tục, tập quán, học tiếng địa phương v.v…” Người giao cho một số cán bộ người dân tộc mở lớp huấn luyện quân sự  và tổ chức nhiều hội nghị để củng cố sự đoàn kết giữa các dân tộc…

Trong thời kỳ chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa, Người nhấn mạnh: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thẩy”. Trong “Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa”, Người kêu gọi: “Chỉ có đoàn kết, phấn đấu nước ta mới được độc lập”. Người đã chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, trong đó phần đông là người các dân tộc thiểu số.

Với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dân tộc Việt Nam nói chung và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã thành người chủ của nước Việt Nam độc lập. Quốc hội khóa I đã có sự tham gia của đại diện các dân tộc thiểu số. Với cương vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập, Hồ Chí Minh đã mời đại diện các dân tộc thiểu số tham gia Chính phủ hoặc giữ trọng trách ở các cơ quan Trung ương và địa phương. Ngày 19-4-1946, Người có thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu, trong đó Người khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, GiaRai hay ÊĐê, XêĐăng hay BaNa và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt…”

Từ sau ngày Toàn quốc kháng chiến, Người luôn luôn nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu lúc này là “phải kháng chiến cứu nước”, “đoàn kết hơn nữa để chống xâm lăng”. Người giao cho các ngành hữu quan mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, quân sự và cử con em các dân tộc thiểu số sang Trung Quốc, Liên Xô học tập.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh vì mục tiêu dân tộc, dân chủ và hòa bình. Trong thời kỳ mới, vấn đề dân tộc thiểu số ở nước ta đã được Hồ Chí Minh đặt ra và giải quyết trên một bình diện mới, có nội dung mới, phản ánh những nhu cầu cơ bản của các dân tộc thiểu số, từ chính trị đến kinh tế, từ văn hóa đến xã hội v.v… trong đó đoàn kết vì sự phát triển của các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ trung tâm. Trong các dịp đi thăm đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc, Tây Bắc, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An… Người nhấn mạnh: “Ngày nay chế độ ta là chế độ dân chủ, tất cả nhân dân các dân tộc đều có quyền làm chủ nước nhà” và kêu gọi: “Trước hết, tất cả các dân tộc, bất kỳ to hay là nhỏ, đều phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em một nhà”. Nói về nhiệm vụ trong thời kỳ mới, Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội là mọi người dân được áo ấm, cơm no, nhà ở tử tế, được học hành. Muốn vậy thì mọi người phải thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm”“phải phát triển kinh tế và văn hóa” và nhấn mạnh: Đồng bào dân tộc thiểu số cần có chữ viết của mình; cần đẩy mạnh việc xóa nạn mù chữ, học tập văn hóa, giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc… Người đã chỉ thị cho các cơ quan hữu quan thành lập nhiều trường dành riêng cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số. Người còn căn dặn việc trồng cây; giữ gìn vệ sinh làng bản, nhà ở, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự an ninh… Do đồng bào các dân tộc thiểu số sống phần lớn các tỉnh biên giới, Người nhắc nhở phải đoàn kết, giữ gìn tình hữu nghị với nhân dân các nước có chung biên giới. Người yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền: “Phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân… áp dụng chủ trương, chính sách phải sát hợp với tình hình mỗi nơi”.

Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, cứu nước Người đã chỉ thị cho các cơ quan tiếp tục lựa chọn và đưa nhiều con em đồng bào các dân tộc thiểu số sang các nước xã hội chủ nghĩa học tập, đào tạo và nhiều người trong số đó đã trở thành cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; nhiều nhà khoa học, nhiều nhà văn hóa có tên tuổi… Dù hoàn cảnh đất nước bị chia cắt song Người luôn luôn quan tâm đến đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền Nam.

Hồ Chí Minh gắn bó với đồng bào các dân tộc thiểu số không chỉ về nhận thức mà còn trong tình cảm của Người. Nơi Người đặt chân đầu tiên khi về nước là ở nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Người nói một số tiếng dân tộc thiểu số khi cần thiết. Sau khi nước nhà độc lập, với cương vị  Chủ tịch nước, Người đã có thư gửi đồng bào các tỉnh Việt Bắc, trong đó Người viết:“Tôi không bao giờ quên đồng bào Thổ, đồng bào Nùng, đồng bào Mèo… cho đến anh em Hoa kiều, người thì giúp chúng tôi ăn, kẻ thì cho chúng tôi áo…”. Tên gọi Bác Hồ đã trở  thành thân thiết với đồng bào các dân tộc trên đất nước Việt Nam.

Có thể nói, Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ mà còn là người bạn đồng hành của mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Sự đoàn kết của 54 dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam là một nhân tố cơ bản đảm bảo thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới của chúng ta.

PGS. TS PHẠM HỮU TIẾN
daidoanket.vn

Tháng năm hành trình theo chân Bác

(GD&TĐ) – Những ngày đầu tháng 5 lịch sử, trong không khí chuẩn bị lễ kỷ niệm 65 năm Bác Hồ và Bộ Chính trị về Định Hóa lập thủ đô kháng chiến, chúng tôi làm một cuộc hành trình về thăm những địa danh và những di tích nơi xưa kia, trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ chọn là nơi dừng chân để chuẩn bị cho chiến lược lâu dài. Theo bước chân của Người, chúng tôi được trở về với không khí của những tháng năm gian khổ mà nghĩa tình nơi Việt Bắc thiêng liêng.

Nơi thắp lửa cuộc Tổng khởi nghĩa

Hướng về vùng núi rừng Việt Bắc, nơi xưa kia Bác và Bộ Chính trị chọn là “Thủ đô kháng chiến”, chúng tôi dừng chân ở Chợ Chu Định Hóa, cách thành phố Thái Nguyên 50 km.

Cây đa cùng biển di tích trước cửa chợ Chu

Cách thị trấn Chợ Chu khoảng 2km, chợ Chu nằm giữa ngã ba xóm Đồng Chùa, cạnh hai cây đa tỏa rộng bóng mát. Theo người già ở đây, chợ Chu được thực dân Pháp xây dựng từ trong vòng 10 năm từ 1915 đến 1925, khi chúng tiến hành xâm lược Việt Nam và chọn Định Hóa là phên giậu tiến hành những cuộc càn quét và xây dựng nhà tù. Chợ Chu được xây dọc thành nhiều gian với nhiều cột to, xù xì, chạy dọc theo một khu đất rộng. Chợ Chu không đơn thuần là một khu chợ để mua bán và sinh hoạt cộng đồng mà còn là nơi diễn ra những cuộc đàn áp đẫm máu của thực dân Pháp với những cộng sản yêu nước thời bấy giờ.

Theo cuốn Lịch sử Định Hóa của tác giả Lê Nhâm, người dày công viết lịch sử cách mạng của quê hương, chợ Chu là địa điểm đặc biệt quan trọng, là nơi khởi đầu cho cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945. Vẫn còn đây, trước cửa chợ Chu là hai cây đa lịch sử ghi dấu ấn ngày 28 tháng 3 năm 1946. Tại đây, đúng ngày này, đã diễn ra cuộc mít tinh lịch sử với hàng ngàn quần chúng tham gia. Trong cuộc mít tinh này, Việt Minh huyện Định Hóa đã tuyên bố xóa bỏ ách thống trị của thực dân Pháp và chính quyền phong kiến tay sai. Từ đây, ngọn lửa cuộc Cách mạng Tháng Tám bùng lên mạnh mẽ, Mặt trận Việt Minh tiến về Hà Nội cướp chính quyền.

Ngày nay, chợ Chu của thị trấn được xây dựng khang trang hơn ở một khu mới, song vẫn còn đó chợ Chu thời Pháp cùng hai cây đa tọa lạc ngay giữa ngã ba đường. Tuy có chợ mới nhưng người dân khu vực này hàng ngày vẫn lấy chợ Chu cũ là nơi họp chợ, bày bán hàng hóa.

Cùng hướng đường đến chợ Chu, chúng tôi đến khu di tích nhà tù Chợ Chu trên đỉnh núi cao cách thị trấn hơn 1 km.

Di tích nhà tù Chợ Chu nằm trên đồi cao ở xóm Vườn Rau. Theo sử sách,  năm 1889 thực dân Pháp chiếm đóng đã xây dựng đồn bốt. Năm 1894 chúng đặt cơ quan đại lý cai trị vùng này. Đến năm 1916 tiến hành xây dựng nhà tù.

Nhà tù Chợ Chu ban đầu được làm bằng tre, gỗ, đơn sơ, chủ yếu giam tù thường phạm. Nhà tù Chợ Chu giam giữ các chiến sỹ yêu nước tham gia cuộc khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên (1917) và khởi nghĩa Yên Bái(1930). Năm 1940 cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ, bị thực dân Pháp đàn áp dã man, nhiều chiến sỹ cách mạng và thân nhân bị bắt và đem về giam giữ tại nhà tù Chợ Chu. Đến năm 1942 nhà tù được xây dựng lại kiên cố, bằng gạch ngói, xi măng, có thể giam giữ 200 người một lúc…

Đài tưởng niệm liệt sỹ Chu Hóa

Cuối năm 1944 tình hình cách mạng nước ta phát triển mau lẹ, Trung ương Đảng chủ trương lấy cán bộ ở các nhà tù ra để xây dựng lực lượng, chi bộ nhà tù Chợ Chu đã nhất trí cử 12 đồng chí vượt ngục. Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Xứ uỷ và tổ chức khôn khéo, bí mật của các đồng chí trong tù, ngày 2/10/1944 các đồng chí đã vượt ngục thành công xây dựng được một vùng căn cứ địa hết sức quan trọng ở huyện Định Hoá, Đại Từ (Thái nguyên) và Sơn Dương (Tuyên Quang). Thành lập cơ quan chỉ huy chiến khu Nguyễn Huệ do đồng chí Song Hào làm bí thư, xây dựng căn cứ đón Bác Hồ và Trung ương Đảng về Tân Trào lãnh đạo toàn dân ta khởi nghĩa giành chính quyền 8/1945 thành công.

Di tích nhà tù chợ Chu, biểu tượng sinh động của người chiến sỹ cách mạng nguyện hiến dâng cuộc sống, chiến đấu hi sinh vì độc lập tự do của tổ quốc. Trong nhà tù Chợ Chu nhiều đồng chí đã nêu cao tấm gương sáng về tinh thần học tập, trưởng thành qua thực tiễn đấu tranh bất khuất, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Đường về Chu Hóa

Cái nắng oi ả cùng tiếng ve râm ran đầu tháng năm trên con đường trải nhựa phong quang đưa chúng tôi về Chu Hóa, một xã vùng ven thành phố Việt Trì (Phú Thọ). Qua tấm biển chỉ dẫn và chỉ đường của người dân, chúng tôi tới được khu nhà tưởng niệm Bác Hồ ở Chu Hóa. Được biết, Chu Hóa là nơi trong những năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp Bác và nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng đã về làm việc trong 11 ngày trên đường  lên Việt Bắc chỉ đạo kháng chiến.

Học sinh trường THCS Chu Hóa chăm sóc Khu đền thờ lưu niệm chủ tịch Hồ Chí Minh ở Chu Hóa

Tại đây, chúng tôi được tiếp xúc với ông Nguyễn Kim Đức, người dày công tìm hiểu và sưu tầm những tư liệu về Bác Hồ trong những ngày ở Chu Hóa. Đồng thời, qua cuốn “Bác Hồ với Phú Thọ Phú Thọ làm theo lời Bác” đã đưa chúng tôi trở về không khí của những ngày đầu khi Bác Hồ dừng chân nơi đây. Đầu tháng 12-1946, đồng chí Trần Đăng Ninh, phụ trách đội công tác TƯ về Phú Thọ trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Đức Thắng, Bí thư Tỉnh ủy chuẩn bị sẵn một số địa điểm để Bác và cơ quan Trung ương đến ở và làm việc khi cần thiết. Nơi Bác ở phải đạt yêu cầu là: “Có phong trào quần chúng tốt, đường ra lối vào thuận tiện nhưng kín đáo, bảo đảm được bí mật”.

Thi hành chỉ thị cấp trên, Tỉnh ủy Phú Thọ đã khẩn trương chuẩn bị. Mọi địa điểm đều được đồng chí Trần Đăng Ninh và các đồng chí lãnh đạo tỉnh Phú Thọ xem xét cẩn thận và quyết định chọn 3 xã ở 3 huyện là xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông; xã Chu Hóa, huyện Lâm Thao (nay về Việt Trì) và xã Yên Kiện, huyện Đoan Hùng. Cả 3 xã này đều là nơi có phong trào cách mạng sớm, chính quyền và các đoàn thể quần chúng vững, lại nằm gần quốc lộ, thuận tiện giao thông nhưng lại kín đáo, đảm bảo được bí mật. Để đảm bảo tuyệt đối an toàn và yên tĩnh cho Bác làm việc, theo yêu cầu của đội công tác, chủ nhà các gia đình Bác ở đều vui vẻ nhường hẳn nhà cho cơ quan Trung ương, chuyển gia đình sang nhà khác ăn ở tạm một thời gian.

Khu nhà trưng bày trong khu di tích Chu HóaKhu nhà trưng bày trong khu di tích Chu Hóa

Cũng trong thời gian dừng chân ở Chu Hóa, Bác đã ký và soạn thảo nhiều văn kiện quan trọng như: Ký 8 sắc lệnh liên quan đến tổ chức, bộ máy, bổ nhiệm cán bộ, đảm bảo quyền tự do của nhân dân; Điện chúc mừng Hội nghị liên Á; viết thư trả lời các nhà báo Pháp về cuộc chiến tranh phi nghĩa của Thực dân Pháp tại Việt Nam; gửi thư cho Báo Vệ quốc quân nói về 12 điều răn với chiến sỹ Vệ quốc quân và sau này trở thành 12 điều kỷ luật của Quân đội; hoàn thành tác phẩm “Đời sống mới”; viết thư cho đồng bào miền Nam sau đúng 100 ngày toàn quốc kháng chiến; Bác cũng viết thư gửi Thủ tướng Ấn Độ Nêru.. trong cuốn tài liệu Lịch sử Đảng bộ xã Chu Hóa thì những ngày Bác ở đây, nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước như: Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Nguyễn Lương Bằng… thường xuyên đến làm việc và xin chỉ thị của Bác. Do phải giữ bí mật nên những ngày ở Chu Hóa, Bác không trực tiếp gặp cán bộ, đảng viên và nhân dân xã, nhưng Bác thường xuyên nghe các đồng chí phục vụ báo cáo về tình hình mọi mặt của địa phương, đồng thời có những chỉ thị giúp đỡ nhân dân.

Ngày nay, Chu Hóa đã đổi thay nhiều, cuộc sống của người dân nơi đây ngày càng đi lên. Để tưởng nhớ và ghi dấu những ngày tháng Bác về Chu Hóa, Đảng bộ và nhân dân nơi đây đã xây dựng khu nhà lưu niệm Bác ngay trong căn nhà Bác ở năm xưa. Hiện trong nhà lưu niệm của Bác, nhân dân vẫn giữ được chiếc mâm gỗ, bộ trường kỷ bằng tre cùng nhiều văn bản, bản sao của Bác ở Chu Hóa. Ngày ngày, các em học sinh trường THCS, Tiểu học Chu Hóa thay nhau đến chăm sóc, quét dọn và trồng hoa trong khuôn viên nhà lưu niệm Bác. Đồng thời, nơi đây đã trở thành điểm đến tâm linh của du khách mọi nơi trong hành trình về nguồn.

Như Bác vẫn còn đây 

Dời nhà tù Chợ Chu, chúng tôi đến thăm chùa Hang phía bên kia sườn núi đá cao sừng sững. Ngôi chùa được “thiên tạo” trong lòng đá, cách thị trấn Chợ Chu 2km.

Ngôi đền thờ chủ tịch Hồ Chí Minh ở Chu HóaNgôi đền thờ chủ tịch Hồ Chí Minh ở Chu Hóa

Theo sư thầy Thích Thanh Thắng, nhà sư trụ trì nhiều năm ở chùa này thì ngôi chùa có từ lâu rồi, sư thầy, người dân nơi đây không biết rõ ngôi chùa có từ khi nào. Họ chỉ biết, khi lớn lên đã thấy có một ngôi chùa trên vách núi đá, trong hang sâu.

Lần theo những bậc đá uốn lượn dẫn lối lên cổng chùa, chúng tôi đặt chân lên chùa Hang. Đây là ngôi chùa có cấu trúc đặc biệt, không giống với cấu trúc của những ngôi chùa thông thường. Chùa được “thiên tạo” trong hang đá. Bước vào cửa chùa là một vòng tròn cửa hang khá rộng và thoáng mát, bên trong là một hang sâu với vòm mái cao, phẳng được “sắp xếp” bởi nhiều hình khối khác nhau của đá. Không gian chùa có hai gian. Gian trên gần cửa hang và gian dưới thấp hơn gần cửa sau của chùa. Phía bên trong nữa là hang sâu chưa được khám phá.

Bước chân vào không gian chùa Hang, du khách được sống trong không khí yên tĩnh, thanh tịnh, trầm mặc và linh thiêng chốn cửa Thiền. Cái độc đáo ở ngôi chùa này có lẽ không gian có sự chan hòa giữa tuyệt phẩm của thiên nhiên với không khí tâm linh và thiện tâm từ bi của chúng sinh. Chính vì vậy mà sư thầy Thích Thanh Thắng đã khẳng định: “ Đến với chùa Hang là đến với chốn bình yên nơi tiên cảnh, thoát hẳn với bụi trần”.

Thế hệ trẻ Chu Hóa hôm nayThế hệ trẻ Chu Hóa hôm nay

Trong những năm kháng chiến chống Thực dân Pháp, những ngày đầu khi cách mạng còn trong “trứng nước” vô cùng khó khăn, gian khổ, chùa Hang còn là một căn cứ cách mạng quan trọng. Trong tình thế giặc Pháp truy lùng, càn quét lực lượng cách mạng, nhất là cơ quan đầu não của Đảng ta, chùa Hang là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc bí mật, luận bàn những kế sách quan trọng chuẩn bị cho chiến dịch Thu Đông năm 1950.

Vì vậy, ngày nay, cùng với ban thờ Phật, chùa Hang còn có ban thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh rất thiêng liêng và tôn kính. Điều đặc biệt, ban thờ Bác Hồ được đặt ngang với ban thờ Phật trong không gian chùa. Khi được hỏi về điều này, sư thầy Thích Thanh Thắng nhấn mạnh: “ Trong lòng dân, Bác Hồ là một vị Phật nhân từ, bác ái, nên đặt ban thờ như vậy là một niềm tôn kính vô cùng”. Đến thăm chùa Hang, không khí linh thiêng hòa cùng không khí cách mạng năm xưa làm cho lòng người không khỏi dưng dưng cảm xúc.

Hành trình của chúng tôi chỉ dừng chân ở ba khu di tích, còn nhiều địa điểm khác trong cuộc hành trình của Bác, song, Chợ Chu, Chu Hóa và chùa Hang đã có thể làm cho chúng tôi thêm hiểu về những ngày tháng cách mạng gian khổ mà Bác và Bộ Chính trị phải trải qua. Mỗi địa điểm như một nét son lịch sử, như một “Việt Bắc” để mỗi người dân trông về để thêm yêu lãnh tụ và bền sâu ý chí trong cuộc sống hôm nay.

Nguyễn Thế Lượng
gdtd.vn

Bình rượu thuốc quý – Quà Tết của Bác Hồ

(GD&TĐ) – May mắn được nhiều dịp hầu chuyện cố thư ký của Bác Hồ, ông Vũ Kỳ (1921 – 2005), chúng tôi nhắc đến tên tuổi những nhân vật được gặp Bác, hầu như ai ông cũng có chuyện để kể, thật lạ và thú vị.

Quà cáp nên chọn dịp

Chuyện lần ấy là về nhà điện ảnh Xô viết nổi tiếng Rôman Carmen.

Dịp đó, năm 1967, tròn nửa thế kỷ xảy ra sự kiện “10 ngày rung chuyển thế giới”, tức Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, ông Vũ Kỳ trình Bác danh sách dự kiến người và quà biếu. Bác xem đến chỗ “Bình rượu Ngũ xà của đồng bào Tây Bắc tặng” thì dừng lại khen Chú khá! Lại hỏi: – Bác đồng ý với chú gửi bình rượu sang Liên Xô biếu đồng chí Carmen vì lý do gì chú đoán xem nào?

– Dạ thưa Bác, rượu Tây Bắc là gợi nhớ, cảm ơn đồng chí ấy suốt gần 8 tháng đã đem hết tâm lực dàn dựng, quay phim, có thể nói là quên cả thân mình trong mọi hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm để hoàn thành hai bộ phim lịch sử cho ta: “Điện Biên Phủ” và “Việt Nam trên đường thắng lợi” – bộ phim màu đầu tiên của chúng ta…

Bác còn giải thích thêm: – Mấy chú quay phim, chụp ảnh nhà ta dường như còn tự ty “tốt đẹp trưng ra, xấu xa đậy lại”. Thế là dàn cảnh sân khấu, không phải phim ảnh thời sự tư liệu…

Quả thực, ông Vũ Kỳ nhắc lại với chúng tôi một số cảnh quay về sinh hoạt thường ngày của lãnh tụ mà chắc chắn đời đời các thế hệ con cháu chúng ta được xem đều vô cùng xúc động, có thể dễ dàng so sánh với bất kỳ bậc danh nhân, lãnh tụ nào từ Đông Tây kim cổ về sự giản dị, khiêm nhường, hết mình thương dân, yêu nước như Bác Hồ của chúng ta.

Rôman Carmen nhận ra rất rõ sự vĩ đại của bậc vĩ nhân không thể có đối tượng so sánh bắt nguồn từ những bóng hình huyền thoại ấy trong rừng sâu vùng nhiệt đới xa lạ.

Bác Hồ tiếp R.Carmen ngày 26/7/1954 tại Việt Bắc.Bác Hồ tiếp R.Carmen ngày 26/7/1954 tại Việt Bắc.

Lộc bất tận hưởng

Tám tháng trời ở Việt Nam, R. Carmen bất kể ngày đêm luồn rừng, lội suối, vượt núi, băng đèo, len lỏi cả giữa các đồn bốt giặc vùng đồng bằng trung du, ông còn dành thời gian ít ỏi để “ba cùng”: ăn – ở – làm lụng với đồng sự và nhân dân để nâng cao chất lượng thước phim, tìm hiểu con người, văn hóa địa phương, học thuộc một số câu, từ tiếng Việt, nhất là các câu tục ngữ Bác Hồ hay dùng.

Chúng tôi đôi lần được đi theo đến thăm ông ở Moskva vào đầu những năm 1960. Trong nhà dành riêng một phòng trưng bày vật lưu niệm, nổi bật nơi chính giữa là của các lãnh tụ: chiếc píp hút thuốc của Phidel Castro, khẩu súng săn của Agienđê, chiếc khăn quấn rằn ri của Araphát… Sau Tết Mậu Thân – 1968, nghe anh em kể lại, nổi bật chính giữa, rất lạ mắt là bình rượu những con rắn cuộn tròn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mỗi khi đón khách từ Việt Nam, bao giờ chủ nhà cũng hãnh diện hướng dẫn tới xem góc Việt Nam những hàng mỹ nghệ tre mây đan, chiếc nón, áo trấn thủ…, rồi quay lại nơi đặt kỷ vật của các lãnh tụ, giới thiệu Bình rượu Bác Hồ. Hai tiếng Bác Hồ ông nói nhấn mạnh khá rõ, còn “Bình rượu” không dấu, chắc là mới học phát âm.

R. Carmen bộc bạch, mình cũng là dân nghiền vodka, vả lại làm việc nhiều cũng cần bồi bổ sức khỏe, ngũ xà là rượu bổ rất quý, nhưng bình rượu là kỷ vật vô giá của bậc vĩ nhân thế kỷ, chỉ đặt nó nơi trang trọng nhất một thời gian thôi, rồi sẽ trao luân lưu theo câu Hồ Chí Minh từng nói: Lộc bất tận hưởng như tập quán của người Nga vậy.

Tháng 9/1969, sau khi được tin Bác Hồ qua đời, trong một buổi gặp mặt cảm động, R. Carmen trân trọng trao bình rượu cho nhà nữ đạo diễn nổi tiếng Gruzia Pompenxkaia. Và rồi 3 năm sau khi Bình rượu Bác Hồ đã có chủ nhân mới được chủ nhân đầu tiên đồng thuận, bà Pompenxkaia mời người chủ vừa lập công lớn với cuộc đấu tranh anh dũng của anh em Việt Nam – Giáo sư Ôlếch Côngxtantinnôvich – giảng sư Đại học VGIK, Nghệ sĩ công huân Liên Xô, Trưởng đoàn đạo diễn quay phim thế chân R. Carmen tiếp nhận bình rượu. Ông và đồng nghiệp gần như có mặt tại hầu hết các điểm nóng trên cả hai miền Nam Bắc để tố cáo tội ác gây chiến tranh của các nhà cầm quyền bên kia Đại Tây Dương và kêu gọi nhân dân Mỹ, nhân loại tiến bộ đoàn kết, ủng hộ Việt Nam đấu tranh chống xâm lược. Đó là các bộ phim “Phóng sự từ miền Bắc Việt Nam”, “Mêkong trong khói lửa”…

Ngày nay, cứ mỗi dịp hiếm hoi họp mặt hữu nghị Nga – Việt, GS O. Congxtantinnôvich lại mở tủ, trịnh trọng bưng ra Bình rượu Bác Hồ rót vào một cốc nhỏ tượng trưng rồi san ra, lại san ra… chút xíu gọi là vào các cốc vodka của mỗi người truyền nhau cùng nâng cốc Đavai – đatna (Nào, xin mời cạn chén). Anh em mình có mặt, cảnh xa nhà, xa nước càng xúc động, tự nhiên bật ra câu hát cửa miệng đầy tự hào, các bạn Nga người hát theo, người vỗ tay hoà nhịp tràn ngập niềm hứng khởi: Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng! Lời Bác nay thành chiến thắng huy hoàng… Việt Nam Hồ Chí Minh…

Theo SKĐS
gdtd.vn

Bác Hồ chống tham nhũng, tha hóa đạo đức cách mạng

Bác Hồ với người dân Pác Bó xã Trường Hà,
huyện Hà Quảng, Cao Bằng
Ảnh: TL

Những năm kháng chiến, nền kinh tế ta theo chế độ bao cấp. Từ đó, nảy sinh hai giá là một sơ hở làm cho một khối lượng sản phẩm, hàng hóa rất lớn của Nhà nước lọt vào tay bọn đầu cơ tích trữ lũng đoạn nền kinh tế, tha hóa cán bộ, nhân viên Nhà nước. Chênh lệch giá được triệt để khai thác bằng mọi cách, có đến 50% hàng đối lưu với nông dân bị một số cơ quan ăn chặn, cả nông sản lẫn vật tư hàng hóa đều bị thất thoát khá nhiều mà dân gian vẫn nói “hàng công nghiệp ăn từ trên ăn xuống, hàng nông sản ăn từ dưới ăn lên”, Nhà nước và nông dân đều chịu thiệt thòi, chỉ béo bở tham nhũng. Từng có lúc đưa một tỷ “Rúp” (tiền Liên Xô cũ) vật tư ra, ta chỉ thu về 20 tỷ đồng Việt Nam (VN), nếu tính theo tỷ giá hối đoái 100 đồng VN đổi lấy một “rúp” thì ta đã mất 80 tỷ đồng VN.

Chống ngoại xâm và chống nội xâm rõ ràng đều hết sức bức thiết, không thể để bọn nội xâm và bọn buôn gian, bán lận hoành hành, phá hoại hậu phương lớn đang hàng ngày chi viện người và của cho miền Nam. Ngày 24-7-1962 Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nói chuyện với hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước về Cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm tăng cường quản lý kinh tế tài chính, chống tham ô lãng phí, quan liêu. Người nêu rõ ý nghĩa, nội dung, phương hướng của cuộc vận động, phân tích những biểu hiện, nguyên nhân và tác hại của các bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu trong cán bộ hiện nay, đồng thời phê phán những thái độ không đúng. Người nhấn mạnh: “Cuộc vận động này là một cuộc cách mạng nội bộ, một cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kẻ địch là tệ nạn tham ô, lãng phí, quan liêu. Uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ, chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình”. (Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – tập 8 – trang 268).

Cuộc vận động mang tên “Ba xây, Ba chống”. Ba xây gồm có: Nâng cao ý thức trách nhiệm – Tăng cường quản lý kinh tế tài chính – Cải tiến kỹ thuật. Ba chống gồm có: Chống tham ô – Chống lãng phí – Chống quan liêu.

Ngày 26-12-1963, Hội đồng Chính phủ họp phiên cuối năm Hồ Chủ tịch đến thăm và chúc Tết, Người nhắc nhở Chính phủ phải làm tốt cuộc vận động “Ba xây – Ba chống”. Người nói: “Hiện nay chúng ta làm “Ba xây, ba chống” còn kém. Anh chị em công nhân và nhân viên ở cơ sở rất hăng hái nhưng từ cấp giám đốc lên đến bộ trưởng, thứ trưởng thì còn nhiều người chưa chuyển cho nên có chỗ cuộc vận động bị tắc lại. Bây giờ phải làm “Ba xây, ba chống” cả hai chiều, từ dưới lên, từ trên xuống. Bản thân các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng, các cán bộ lãnh đạo phải “Ba xây, ba chống”. Hơn ai hết người lãnh đạo phải nhận rõ cuộc vận động này là rất quan trọng để làm cho tốt” (Biên bản Hội đồng Chính phủ lưu lại tại Trung tâm lưu trữ quốc gia, trích trong Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử).

Ngày 31-1-1964, Bộ Chính trị họp bàn về công tác lãnh đạo cuộc vận động “Ba xây, ba chống”. Hồ Chủ tịch đã đến dự, Người đề cập vấn đề không bình thường là cán bộ lãnh đạo lại hưởng ứng “Ba xây, ba chống” không tích cực bằng đông đảo cán bộ, nhân viên. Người nêu câu hỏi:
Tại sao dưới động, trên không động?
Nhỏ động, to không động?

Người đề nghị phải làm cho cấp bộ trưởng, thứ trưởng thông suốt tư tưởng. Bởi lãnh đạo còn có người cho “Ba xây, Ba chống” chỉ cấp dưới mới học; lại có lãnh đạo để xảy ra tham nhũng, lãng phí tìm mọi cách né tránh. Còn ở cơ sở phải kết hợp chặt chẽ giữa các tổ chức chi bộ đảng, công đoàn, đoàn thanh niên để chấn chỉnh cuộc vận động “Ba xây, Ba chống” khỏi sộc sệch. Khi biết chưa nơi nào, phát động “Ba xây, Ba chống” chưa nơi nào có dân tham gia, Người phê bình nghiêm khắc những cán bộ sợ quần chúng, không dám phát động, phong trào. Người yêu cầu phát hành loại sách nhỏ, bài ngắn để tuyên truyền giải thích, lôi cuốn nhân dân tham gia vào cuộc vận động. Hội nghị đánh giá cuộc vận động “Ba xây, Ba chống” đã đạt nhiều tiến bộ, Hồ Chủ tịch không đồng tình với đánh giá này, Người nhận xét: “Mới chỉ là tiến bộ bước đầu”. (Biên bản hội nghị Bộ Chính trị lưu tại Cục lưu trữ văn phòng T.Ư .Đảng, trích trong Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử).

Đọc một số tài liệu lưu trữ ghi một số cuộc họp của Bộ Chính trị, của Hội đồng Chính phủ, thấy Hồ Chủ tịch đã phải dành một phần thời gian và sức lực vào cuộc đấu tranh chống giặc nội xâm. Cán bộ lãnh đạo còn một số thiếu gương mẫu, Người biết. Có lãnh đạo nhà đã đủ ở, gian trong gian ngoài lại đòi có nhà rộng hơn, đã có xe công lại đòi xe đẹp hơn; có người đi nước ngoài dùng tiền Nhà nước mua hàng xa xỉ, vợ con trưng diện, thậm chí còn mang hàng ngoại về để vợ con buôn bán. Mất đoàn kết nội bộ xảy ra ở một số nơi, nhất là khi các tỉnh sát nhập, mất đoàn kết càng kéo dài, lộ liễu, làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nước.

Còn giặc Mỹ trên đất nước ta, nguy cơ mất nước đã đành, nhưng nhìn xa hơn khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng, Hồ Chủ tịch vẫn chưa yên tâm. Đảng viên kém phẩm chất chỉ là số ít, nhưng phần nhiều trong số đó lại có chức có quyền, chỉ nghĩ đến “vinh thân phì gia” trong khi dân đang ra sức thực hiện khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”; đã có một số gia đình hai, ba người vào chiến trường miền Nam… Không tăng cường giáo dục, nâng cao phẩm chất số cán bộ kém, chẳng khác gì nuôi dưỡng trong lòng đất nước mầm mống của mối họa lớn dễ phát sinh. Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh, mấy lần đại thắng quét sạch giặc ngoại xâm (đời Trần và đời Lê) chỉ còn ta với ta nhưng rồi lại mất nước vì mọi quyền hành lúc đó đã vào tay bọn gian thần tham nhũng cùng vua quan chỉ biết hưởng lạc, đè đầu cưỡi cổ dân.

Hồ Chủ tịch đã nói: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” (Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 12 – trang 557).

Cách mạng tháng 10 Nga thành công, nghe tin một số đảng viên có chức có quyền kiêu căng, xa dân, Lê Nin đã cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt Đảng cộng sản Nga. Chỉ có những đảng viên của Đảng mới có thể làm việc đó”.

Thắng lợi cuối cùng càng đến gần, Hồ Chủ tịch càng suy nghĩ nhiều đến đội ngũ đảng viên, cán bộ sẽ lãnh đạo đất nước khi đã độc lập và thống nhất, sạch bóng giặc ngoại xâm. Ngày 3-2-1969, nhân Kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng (9 tháng trước khi Người qua đời) Báo Nhân dân đã đăng bài báo quan trọng của Hồ Chủ tịch, đầu đề: Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Bài báo đề cao đông đảo đảng viên, cán bộ đã rất hăng hái dũng cảm trong mọi công tác, nhân dân ta rất tự hào có những người con như thế. Bài báo phê phán một số ít đảng viên, cán bộ đạo đức, phẩm chất thấp kém, lúc nào cũng chỉ muốn “mọi người vì mình”.

“Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, thiếu kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng của nhân dân”.

Đọc bài báo này nhiều người biết cán bộ lãnh đạo vẫn còn những người bị tiêm nhiễm bao thói hư tật xấu. Chúng ta càng hiểu sâu xa tại sao trong Di Chúc, Hồ Chủ tịch đã viết: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, theo ý tôi việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”.

Thái Duy
daidoanket.vn

Viên kẹo của Bác Hồ

– Gương mặt Bác thoáng buồn, Bác nói với tôi mà như nói với chính mình: “Còn hàng triệu cháu như các cháu, giờ này chưa có được một viên kẹo nào đâu…”

TIN BÀI KHÁC

Những mẩu chuyện nho nhỏ về Bác Hồ đã được nhiều người Việt Nam thuộc nằm lòng, trong đó có những câu chuyện Bác tặng quà cho trẻ em Việt Nam cũng như trẻ em quốc tế: “Quả táo của Bác Hồ“, hay “Ai ngoan sẽ được thưởng“.

Là một trí thức cấp tiến, một người say mê lao động, một chiến sĩ cách mạng, một lãnh tụ giải phóng dân tộc, một nhà báo, nhà thơ, họa sĩ…, con người rộng lớn và sâu thẳm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được nhiều thế hệ khám phá và học hỏi. Qua cảm nhận của các nghệ sĩ về Người ghi lại trong bộ tác phẩm 11 cuốn “Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ – Văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh(NXB Văn học), Người còn hiện lên là một Con Người tha thiết nhất với con người.

Dưới đây là một câu chuyện ít người biết đến, được kể bởi nghệ sĩ H’ben (Quang Tuệ ghi), một người con của dân tộc Bahnar, Việt Nam – được trích trong tập sách nói trên.

*****

Bác Hồ chia kẹo

Tôi sinh năm 1933 ở làng Đé Đơng, xã Yang Trung, huyện Kông Chro – một cái làng nghèo khó của người Bahnar.

Khi tôi bắt đầu lớn lên, Đé Đơng là một làng nô lệ nên sự khổ nhục của con người không thể kể xiết…. Khi đã có nhận thức, biết thương người làng mình, cũng là lúc tôi biết làng tôi có cán bộ chống Pháp đang ở.

Một hôm, cán bộ người Kinh vào làng nói, bây giờ tôi vẫn còn nhớ đại ý: Hiện nay có Bác Hồ là người lãnh đạo nhân dân đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Đánh được Pháp rồi, người làng ta và cả dân các làng Tây Nguyên rộng lớn này sẽ được sung sướng, tự do…

Hồi đó, tôi không hiểu biết những lời ấy. Nhưng cuộc sống hiện tại cực quá, nên chẳng riêng tôi mà cả làng ai cũng muốn đứng lên đánh Pháp, đứng lên làm cách mạng. Vả lại, từ trong sâu thẳm suy nghĩ của mỗi người nói đến Bác Hồ là nói đến lẽ phải, sự công bằng nên ai ai cũng ưng, cũng muốn đi theo con đường của Bác…

Một ngày của năm 1956, Bác đến thăm trường Dân tộc Trung Ương đóng tại Gia Lâm, Hà Nội. Lần đầu tiên, tôi được biểu diễn văn nghệ cho Bác và các cán bộ cùng đi theo. Xem xong, Bác xoa đầu tôi và ân cần hỏi.

– Cháu dân tộc gì?

– Thưa Bác, dân tộc Bahnar – Tôi trả lời Bác.

Bác hỏi tiếp:

– Cháu ở đây ăn cơm có no không?

– Thưa Bác, có no ạ – Tôi thưa.

Bác lại hỏi:

– Cháu có nhớ nhà không?

– Thưa Bác, có ạ – tôi trả lời Bác.

Bác thoáng đăm chiêu “ừ” rồi nói với tôi:

– Cháu cố gắng học cho giởi rồi sau này sẽ trở về quê hương Tây Nguyên phục vụ đồng bào…

Nhưng rồi chiến tranh đã không cho tôi những như bao người khác trở về nơi chôn rau cắt rốn của mình như điều người ta vẫn hằng mong đợi… Là diễn viên của Đoàn văn công giải phóng, sống ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, nhớ lời Bác dặn tôi càng cố gắng phấn đấu để biểu diễn phục vụ ở Phủ Chủ tịch và Nhà khách của Bác thêm một lần nữa. Có lần chúng tôi còn được biểu diễn phục vụ một “người khách đặc biệt” của Bác Hồ, ông Xu-các-nô.

Ấn tượng sâu sắc nhất của tôi là hôm biểu diễn lần cuối cùng cho Bác xem ở Phủ Chủ tịch năm 1967. Kết thúc buổi biểu diễn, Bác gặp riêng các diễn viên. Bác cho kẹo và hỏi từng người;

– Cháu xin Bác bao nhiêu?

Ai cũng nhanh nhẩu xin Bác cho nhiều nhiều. Đến lượt tôi, Bác hỏi:

– Thế cháu xin Bác bao nhiêu?

Tôi thật thà đáp:

– Thưa Bác, cháu chỉ  xin một viên thôi ạ.

Bác cười to và nói:

– À, cháu này ngoan lắm!

Nhưng rồi gương mặt Bác thoáng buồn. Bác nói với tôi, với mọi người xung quanh mà như nói với chính mình, với những người đang ở xa:

– Còn hàng triệu cháu như các cháu, giờ này chưa có được một viên kẹo nào đâu..


Chúng tôi lặng đi trong xúc động. Chúng tôi hiểu trái tim mênh mông của Bác khi ấy, cũng như bất cứ lúc nào khác vẫn đang hướng về miền Nam còn ngập chìm trong lửa đạn. Trước ngày mất không lâu, Bác có nói một lời tưởng như đơn giản, nhưng nghĩ ra thì mới thấy thấm sâu về ý nghĩa: miền Nam luôn ở trong trái tim tôi….

Bác Hồ ở chiến dịch biên giới 1950 – Đinh Đăng Định.

Bác Hồ chẻ củi

Bác Hồ kéo lưới với bà con ngư dân Thanh Hóa năm 1960

“Con tàu đưa Nguyễn Tất Thành đi khắp mọi miền đất lạ, cho anh cơ hội tiếp xúc với đủ mọi loại người, để cuối cùng anh tự giác ngộ ra rằng, ở đâu, người lao động cũng tốt, cũng thống khổ như nhau” (trích bài GS, TS Hoàng Chí Bảo)

Dưới con mắt quan sát của một nhà thơ Việt Nam, nhà thơ Huy Cận, thì “Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là người của một quyển sách, một nền văn hóa duy nhất“. Từ tuổi nhỏ, Người đã học chữ Hán và văn học cổ điển Trung Quốc. Người cũng tiếp thu nền văn hóa Ấn Độ qua ảnh hưởng của đạo Phật và qua sự tiếp xúc với rất nhiều người bạn Ấn Độ quen thân trong cuộc chiến đấu. Tại Liên Xô, vào những năm 20, Bác khám phá ra nền văn học Nga của thế kỉ XIX. Người đọc nhiều Turgenev, Tolstoi và cũng đọc một vài tác phẩm của Chekhov. Tại Pháp, “thế kỉ ánh sáng” đã chiếu rọi ánh sáng vào tâm trí Người. Ham đọc Voltaire và Rousseau, và cũng đọc nhiều Victor Hugo, Anatole France, Người thật sự đã hấp thụ được tinh thần của cách mạng Pháp ngay từ nguồn. Suốt đời Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mang dấu ấn của lòng ham mê đầu tiên ấy về những lý tưởng tự do và bác ái.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một ấn tượng sâu sắc cho những người có dịp gặp Người: người ta tưởng được tiếp kiến một lãnh đạo Nhà nước, một lãnh tụ cách mạng, thì người ta lại được gặp một con người. Người đấu tranh giành độc lập, tự do, bảo vệ nhân phẩm cho đồng loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người hiền vĩ đại, bởi vì Người đã tin tưởng ở con người, ở những  dân tộc, bởi Người đã tin vào những khả năng vô tận của con người để tự cải thiện tâm hồn và cuộc sống của chính mình.

Trên báo Ogoniok (Liên Xô trước đây), số 39, ra ngày 23-12-1923, nhà thơ đồng thời là nhà báo Xô-viết nổi tiếng O.Mandenxtam đã viết như sau: “Dáng dấp con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai“. Thời gian ấy Bác đang học tập tại trường Đại học Phương Đông tại Moscow, mới bước sang tuổi ba mươi. Nhà thơ viết: “Dân An Nam làm một dân tộc giản dị và lịch thiệp. Qua phong thái thanh cao, trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới…

Vân Sam
vietnamnet.vn