Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Thập tam tảo, Quá Trường Sa – Sớm mười ba, Qua Trường Sa (13-3-1950)

Trường Sa quá khứ thị sa trường,
Nhất khối lâu đài nhất điềm thương.
Trung Quốc nhi kim dĩ giải phóng,
Trường Sa thử hậu miễn tang thương.

13-3-1950

Dịch nghĩa

SỚM MƯỜI BA, QUA TRƯỜNG SA

Trường Sa ngày trước là bãi sa trường,
Mỗi toà lâu đài kia là một vết thương.
Ngày nay Trung Quốc đã được giải phóng,
Trường Sa từ nay về sau sẽ thoát khỏi cảnh đổi dời dâu bể.

Dịch thơ

SỚM MƯỜI BA, QUA TRƯỜNG SA

Trường Sa ngày trước chốn sa trường,
Mỗi dãy lâu đài một vết thương.
Trung Quốc ngày nay đà giải phóng,
Trường Sa sẽ hết cảnh tang thương.1)

Bản chụp bút tích bài thơ
lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Ngọ Quá Thiên Giang – Buổi trưa qua Thiên Giang (17-3-1950)

Đáo Thiên Giang, thuyết Thiên Giang,
Thiên Giang giang ngạn mãn xuân sương.
Thiên lưỡng địch xa thành hắc tận,
Hồng quân trực đáo Trấn Nam Quan.

17-3-1950

Dịch nghĩa

BUỔI TRƯA QUA THIÊN GIANG

Đến Thiên Giang thì nói chuyện Thiên Giang,
Trên bờ Thiên Giang, sương xuân đã phủ đầy.
Hàng ngàn chiếc chiến xa của địch đều hoá thành tro đen,
Hồng quân tiến thẳng đến Trấn Nam Quan.

Dịch thơ

BUỔI TRƯA QUA THIÊN GIANG

Đến Thiên Giang kể chuyện Thiên Giang,
Xuân tới bờ sông bát ngát sương.
Xe thù ngàn cỗ thành tro xám,
Hồng quân thẳng đến Trấn Nam Quan.1)

Bản chụp bút tích bài thơ
lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Cận Long Châu – Đến gần Long Châu (29-3-1950)

Viễn cách Long Châu tam thập lý,
Dĩ vǎn pháo hưởng dữ cơ thanh.
Việt Nam dân chúng chân anh dũng,
Kháng chiến tất thắng, kiến quốc tất thành.

29-3-1950

Dịch nghĩa

ĐẾN GẦN LONG CHÂU

Cách xa Long Châu ba mươi dặm,
Đã nghe tiếng đại bác vang dội và tiếng máy bay gầm rú.
Dân chúng nước Việt Nam thật là anh dũng,
Kháng chiến nhất định thắng lợi, kiến quốc
nhất định thành công.

Dịch thơ

ĐẾN GẦN LONG CHÂU

Còn cách Long Châu ba chục dặm,
Nghe tàu bay rú, pháo gầm rung.
Nhân dân nước Việt anh hùng thật,
Diệt thù, dựng nước ắt thành công.1)

Bản chụp bút tích bài thơ
lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Nước Việt Nam đấu tranh cho nền độc lập của mình (3-1950)

Việt Nam là nước lớn nhất trong số ba nước hợp thành Đông Dương. Việt Nam có 20 triệu dân, Campuchia có 4 triệu dân, Lào một triệu.

Việt Nam là thuộc địa giàu nhất trong số các thuộc địa của Pháp. Nam Bộ sản xuất gạo và cao su, Trung Bộ (ở giữa) sản xuất muối và cá, Bắc Bộ (Bắc Kỳ) có nhiều gỗ và hầm mỏ.

Trong hơn 80 nǎm dưới ách thuộc địa của Pháp, nhân dân Việt Nam không ngừng đấu tranh chống lại bọn chủ người nước ngoài. Cuộc đấu tranh đã trở lên mạnh mẽ hơn từ Chiến tranh thế giới thứ hai (6). Mặc dù bọn thực dân thực hiện khủng bố trắng, các cuộc nổi dậy vẫn lần lượt nổ ra trong khắp nước.

Tháng 9 nǎm 1940 ở Bắc Sơn(7)(Bắc Bộ)

Tháng 11 nǎm 1940 ở Nam Bộ(8)

Tháng 1 nǎm 1941 ở Đô Lương(8)(Trung Bộ)

Tháng 12 nǎm 1944 ở Đình Cả (Bắc Bộ)(1).

Những cuộc nổi dậy đó đã bị đàn áp dã man trong lửa và máu. Những cuộc chiến đấu yêu nước đã bắt đầu. Không gì có thể ngǎn nó được.

*

*      *

MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT

Nǎm 1940, những tên Pháp phản bội ở phương Tây đã bán nước Pháp cho bọn phát xít Đức. Những tên Pháp phản bội ở phương Đông cũng bán Đông Dương cho phát xít Nhật. Dưới hai ách áp bức Pháp – Nhật, nhân dân Việt Nam đấu tranh càng kiên quyết hơn và có phương pháp hơn.

Nǎm 1941, Mặt trận dân tộc thống nhất – Việt Minh(10), đã được thành lập.

Việt Nam độc lập đồng minh (hoặc Việt Minh) có nghĩa là liên minh vì nền độc lập của nước Việt Nam. Mặt trận bao gồm tất cả những người yêu nước, không phân biệt khuynh hướng chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo, giai cấp xã hội, nam nữ và tuổi tác.

Các thành viên của Mặt trận tập hợp trong các Hội cứu quốc tức các Hội cứu nước khác nhau, thí dụ như: Hội công nhân cứu quốc, Hội nông dân cứu quốc, Hội phụ nữ cứu quốc, Hội thanh niên cứu quốc, Hội nhi đồng cứu quốc, v.v..

Học tập được kinh nghiệm của thế giới là nếu không có lực lượng vũ trang thì không thể đánh thắng được bọn áp bức, Việt Minh đề ra nhiệm vụ tổ chức các đội du kích vũ trang. Ngay từ nǎm 1944, Việt Minh đã bắt đầu cuộc chiến tranh du kích chống lại quân đội Nhật và Pháp. Chẳng bao lâu, họ đã chiếm được sáu tỉnh phía Bắc Bắc Bộ. Trong vùng này, những bước đi đầu tiên của nền dân chủ mới đã được áp dụng: các cơ quan chính quyền địa phương do nhân dân bầu ra, quyền bình đẳng giữa nam và nữ, v.v..

Các đội du kích phát triển nhanh chóng và trở thành Quân đội giải phóng nhân dân (Vệ quốc quân).

Việt Bắc – nơi đóng bản doanh của Việt Minh – trở thành một thứ “đất thánh” của cuộc cách mạng dân tộc. Những người yêu nước, trai, gái, trẻ, già, từ mọi miền đất nước đã bí mật đến đây để nhận những sự cổ vũ và những chỉ thị.

CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG 8

Tháng 3-1945, bọn đế quốc Nhật đã tống cổ bọn đế quốc Pháp ra khỏi cửa. Việt Minh đã dự kiến trước sự kiện này và đã sẵn sàng để khai thác sự kiện đó. Về mặt chính trị, Việt Minh giải thích cho nhân dân hiểu các mâu thuẫn giữa những tên đế quốc với nhau và sự diệt vong không thể tránh khỏi của những tên ǎn cướp này. Về mặt quân sự, Việt Minh triển khai một công tác tuyên truyền mạnh mẽ vào các binh lính bản xứ trong quân đội Pháp và đã được họ cung cấp một số vũ khí.

Uy tín của Việt Minh tǎng lên và các tổ chức của nó phát triển rất nhanh. Đến giữa nǎm 1945, Việt Minh đã có 5 triệu hội viên (hiện nay là 12 triệu).

Mệnh lệnh chuẩn bị tổng khởi nghĩa được ban hành.

Tháng 8-1945, chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản bị đánh bại, cách mạng Việt Nam thắng lợi trong cả nước.

Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố nền độc lập của nước Việt Nam, việc thành lập nền Cộng hoà dân chủ và việc lập ra Chính phủ nhân dân. Như vậy là cả ách áp bức thuộc địa đã tồn tại trong một thế kỷ lẫn chế độ phong kiến già cỗi tồn tại từ hàng nghìn nǎm đều đã bị xoá bỏ.

SỰ CAN THIỆP CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG QUỐC TẾ

Ngay sau đó, bọn phản động quốc tế do chủ nghĩa đế quốc Mỹ đứng đầu đã tìm cách bóp chết nền cộng hoà non trẻ của Việt Nam.

Theo lệnh của Bộ tư lệnh Đồng minh do tướng Mỹ Mác áctơ chỉ huy và lấy lý do giải giáp quân đội Nhật Bản, quân đội Anh đã chiếm nửa phía Nam của nước Việt Nam và quân đội Quốc dân đảng chiếm nửa phía Bắc. Quân đội Anh đã giúp thực dân Pháp mở đầu cuộc chiến tranh chiếm lại Nam Bộ. Quân đội Quốc dân đảng dung dưỡng bọn phản động Việt Nam trong hoạt động phản cách mạng của chúng.

Hơn nữa, bọn đế quốc Nhật và Pháp đã để lại cho nước Cộng hoà Việt Nam mới một gia tài thảm hại: một nạn đói lớn. Thóc gạo đã bị chúng tịch thu hết, do đó, vào mùa xuân nǎm 1945, hơn hai triệu người đã bị chết đói tại các tỉnh phía Bắc. Rồi nạn hạn hán tiếp theo nạn lụt!

Nhờ chính sách đúng đắn và sự lãnh đạo của Việt Minh và nhờ tinh thần hǎng hái của nhân dân, không những đã tránh được nạn đói mà còn thực hiện được nhiều tiến bộ mới, thí dụ: một Quốc hội được bầu ra bằng đầu phiếu phổ thông, một quân đội nhân dân đã được tổ chức, nạn mù chữ bị xoá bỏ, v.v..

BỌN THỰC DÂN PHÁP BẮT ĐẦU CUỘC CHIẾN TRANH

Được quân đội Anh và Nhật giúp đỡ, bọn thực dân Pháp bắt đầu cuộc chiến tranh ở Nam Bộ (Nam Kỳ) ngay từ tháng 9-1945.

Vào thời kỳ đó, nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Nam Bộ nói riêng chưa được tổ chức tốt về mặt quân sự. Phần lớn các chiến sĩ được vũ trang bằng những gậy tre. Tướng Lơcléc có tiếng tǎm, Tổng chỉ huy quân đội thực dân Pháp, đoán trước rằng chúng sẽ chiếm lại toàn bộ nước Việt Nam trong vòng 3 tháng là chậm nhất.

Như người ta thấy, Lơcléc đã nhầm.

Bọn thực dân tiến hành chiến tranh ở phía Nam đồng thời tiến hành ngoại giao ở phía Bắc Việt Nam. Chúng muốn tranh thủ thời gian nhằm tǎng cường lực lượng viễn chinh để đánh một đòn lớn.

Vì vậy Chính phủ Pháp đã ký với Chính phủ Cộng hoà Việt Nam bản Hiệp định ngày 6-3, bản Tạm ước ngày 14-9 – những mảnh giấy mà chỉ ít lâu sau đó chúng đã xé bỏ.

Ngày 20-12-1946 quân đội Pháp mở cuộc tổng tấn công trong khắp nước Việt Nam. Đó là một cuộc chiến tranh không tuyên bố. Những nhà quân sự Pháp muốn lắp lại chiến thuật chiến tranh chớp nhoáng của Hítle, nhằm chỉ một đòn là tiêu diệt xong các lực lượng yêu nước Việt Nam.

ở đây nữa, bọn thực dân Pháp lại đã nhầm. Và rất chắc chắn là chúng cũng sẽ chịu chung số phận của bọn Hítle tiền bối của chúng.

CHÚNG ĐÃ BỊ SA LẦY TRONG NHỮNG KHÓ KHĂN VỀ QUÂN SỰ

Sau 2 tháng kháng cự anh dũng trong thành phố Hà Nội, các lực lượng Việt Nam đã rút về nông thôn, không thiệt hại một người, không mất một khẩu súng nào.

Trong 3 tháng cuối nǎm 1947, bọn Pháp đã tung lục quân, hải quân của chúng ra nhằm bao vây và tìm diệt các lực lượng Việt Nam ở Việt Bắc. Nhưng chúng đã bị trừng phạt bằng một thất bại vang dội, với 7.500 quân của chúng bị giết và bị thương.

Từ sau thất bại đó, chúng tự hạn chế trong các trận đánh có quy mô nhỏ hơn.

Nǎm 1946, các nhà quân sự Pháp già dặn nhất đã công khai thú nhận rằng muốn chiếm lại Việt Nam thì phải có 500.000 lính Pháp. Nhưng tuyển mộ được số người đó, vũ trang cho họ, nuôi họ ǎn và vận chuyển họ sang Việt Nam, những việc đó vượt quá sức của một nước Pháp đã bị thiệt hại nặng nề và bị kiệt quệ bởi hai cuộc chiến tranh thế giới.

Những người am hiểu các vấn đề thuộc địa- như giáo sư Giuglát và những người khác – thừa nhận rằng quân đội nhân dân Việt Nam đã mạnh lên ngang quân đội thực dân Pháp.

Báo chí Mỹ – thí dụ tờ Diễn đàn thông tin Niu Oóc viết rằng: đội quân viễn chinh của Pháp ở Đông Dương đã vượt quá số 120.000 người, nhưng đến nay nó vẫn chẳng đạt được tiến bộ gì hơn thời kỳ đầu cuộc chiến tranh. Những vùng bị người Pháp chiếm đóng không quá 16% lãnh thổ của đất nước.

Tính đến cuối nǎm 1949, đội quân viễn chinh Pháp đã bị mất khoảng 100.000 người bị giết và bị thương.

Kế hoạch của tướng Rơve, tổng chỉ huy quân đội Pháp, nhằm “khoá cửa” biên giới Việt Nam đã bị thất bại hoàn toàn. Tinh thần quân đội Pháp xuống đến mức thấp nhất, trong khi những người Việt Nam đang chuẩn bị một cuộc tổng phản công.

NHỮNG KHÓ KHĂN VỀ CHÍNH TRỊ

Không có hy vọng về mặt quân sự, bọn thực dân Pháp giở những thủ đoạn chính trị. Họ dùng Bảo Đại để tổ chức ra một chính phủ bù nhìn nhằm chia rẽ nhân dân Việt Nam.

Cựu hoàng đế của các hộp đêm, Bảo Đại là một tay lật lọng chuyên nghiệp, lần lượt làm chó sǎn cho Pháp, cho Nhật và mới đây lại cho Pháp. Hắn kết hôn với con gái của một đại địa chủ theo đạo Thiên Chúa, là anh em đồng hao với một bá tước người Pháp, được nuôi nấng trong giới quý tộc thối nát ở Pháp và phần lớn thời gian hắn sống tại các thành phố ǎn chơi ở Pháp. Tên bù nhìn này là bạn của Tưởng Giới Thạch và chắc chắn hắn sẽ có cái kết cục nhục nhã như tên sát nhân người Trung Quốc kia.

Tên bán nước Việt Nam không những bị nhân dân ghét bỏ mà cả hoàng tộc cũ cũng bỏ rơi hắn. Thí dụ:

Nǎm 1949, khi tướng Rơve đến Đông Dương, hơn một nghìn nhà trí thức ở Sài Gòn đã gửi cho Rơve một bản tuyên ngôn phản đối Bảo Đại và ủng hộ Hồ Chí Minh.

Sau khi đã công bố một bức thư kết án Bảo Đại là kẻ phản bội Tổ quốc, ông hoàng già Ưng Uý, bác của Bảo Đại đã rời bỏ Huế, cố đô bị quân Pháp chiếm để nhận chức vụ chủ tịch một uỷ ban địa phương của Mặt trận dân tộc thống nhất.

Các tổ chức nhân dân đã nhất trí đòi hỏi phải trừng trị Bảo Đại vì tội phản quốc.

Một nhà báo Mỹ hỏi một người đã từng làm quan với Bảo Đại rằng có bao nhiêu người Việt Nam tán thành Bảo Đại? Câu trả lời là: ước lượng nhiều nhất là 1%.

Nhà báo Mỹ nói trên viết rằng: Trừ một số rất ít, tất cả những người Việt Nam đều chống lại bọn thực dân Pháp và Bảo Đại, tuyệt đại bộ phận nhân dân Việt Nam tán thành Chính phủ cách mạng của ông Hồ Chí Minh.

Vậy, về mặt chính trị cũng như về mặt quân sự, bọn đế quốc Pháp đều không có lối thoát.

VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN VỀ KINH TẾ

Theo số liệu chính thức, nǎm 1949, cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã làm nước Pháp thiệt hại 115 tỷ phrǎng, tức là gấp 4 lần so với lúc bắt đầu chiến tranh, vào nǎm 1946-1947.

Trong khi các khoản chi tiêu về quân sự tǎng lên một cách khủng khiếp, thì nền kinh tế Pháp hoàn toàn bị kiệt quệ, như các con số sau đây chứng minh:

Xuất cảng trước chiến tranh Đến 1949
Gạo – 1.500.000 tấn  – 90.000 tấn
Than – 1.500.000 tấn – 40.000 tấn
Cao su – 100.000 tấn – 28.000 tấn
Các thứ khác – 900.000 tấn – 48.000 tấn
Cộng – 4.000.000 tấn – 206.000 (1) tấn

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã dẫn nước Pháp bị Mácsan hoá đến chỗ bị kiệt quệ. Báo Diễn đàn thông tin Niu Oóc viết:

“Trước kia, Việt Nam là một nguồn của cải đối với nước Pháp. Giờ đây, nó trở thành một nguồn nợ nần đối với nước Pháp”.

SỰ CAN THIỆP CỦA MỸ VÀ MÂU THUẪN GIỮA NHỮNG TÊN KẺ CƯỚP

Tình trạng của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam giống như tình trạng của một người cưỡi trên lưng một con hổ. Xuống chǎng? Sẽ bị ǎn thịt. Đừng xuống chǎng? Bị ǎn thịt mất thôi.

Tuyệt vọng, hắn cầu cứu chủ nghĩa đế quốc Mỹ.

Tên này, không đợi mời đến hai lần, đã vồ ngay lấy cơ hội. Bởi vì hắn muốn biến Việt Nam thành một “vành đai an toàn” chống cộng sản.

Chẳng bao lâu, mâu thuẫn gay gắt xuất hiện giữa hai toán kẻ cướp.

Chủ nghĩa đế quốc Mỹ nói với ông bạn Pháp: “Vì tôi ứng tiền và vũ khí, và vì anh không đánh thắng được ở Việt Nam, vậy anh hãy cút khỏi đó để tôi vào thay!”.

Nhưng chủ nghĩa đế quốc Pháp nói với “vị cứu tinh” của mình:

“A, xin lỗi! Anh cung cấp vũ khí, đúng vậy. Nhưng tôi, tôi đã hy sinh hàng vạn sinh mạng thanh niên Pháp. Vì vậy tôi muốn giữ lấy phần mà tôi đã cướp được”.

Dưới đây là một số chứng cớ về các mâu thuẫn đó:

Ngày 1-3-1950, Thông tấn xã Pháp loan báo rằng “Chính phủ Pháp muốn giữ quyền kiểm soát mọi viện trợ được cung cấp cho Việt Nam” (cho bù nhìn Bảo Đại).

Cùng ngày, Hãng thông tấn U.P thuật lại lời của ông Giétxốp, đại sứ lưu động của Tơruman, nói rằng: “Trước khi quân đội Pháp rút khỏi nước này, nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam không có gì bảo đảm cả” (Dịch lại từ báo chí nước ngoài).

Thật là một cú đá của con lừa … Mỹ!

CANH BẠC CỦA MỸ

Theo tin của Hãng thông tấn U.P ngày 6-3-1950, Tơruman đã gửi cho quân đội Pháp ở Đông Dương 60 máy bay mới, có thể là 120… Hạm đội 7 của Mỹ sẽ bỏ neo ở Sài Gòn… Mỹ sẽ sử dụng lính Nhật để đánh Việt Nam… theo yêu cầu của Chính phủ Pháp. Oasinhtơn sẽ cho Bảo Đại 30 triệu đôla để sống được tới tháng 6,…vân vân.

Nhưng cũng chính hãng thông tấn đó ngày 1-3-1950 đã viết rằng: “Điều mà Mỹ làm ở Đông Dương lúc này là món tiền cược cá ngựa lớn nhất mà cho tới nay Mỹ chưa từng chơi trong cuộc chiến tranh lạnh. Nhưng ngay cả với sự giúp đỡ của Mỹ, người Pháp cũng không thể đánh bại được du kích cộng sản… Từ nǎm 1946, không có sự giúp đỡ nào từ bên ngoài, Hồ Chí Minh đã có thể chặn được bước tiến của quân đội Pháp… Với chỉ một phần nhỏ số viện trợ như của Mỹ dành cho Pháp, ông Hồ Chí Minh cũng có thể đương đầu với Pháp nhiều nǎm nữa. Nếu Liên Xô đến giúp ông ta thì ông ta cũng có thể tạo ra cho người Pháp cũng như cho người Mỹ một tình cảnh không thể tưởng tượng nổi… 30 triệu đôla mà người Pháp yêu cầu cho Bảo Đại thì chỉ là một giọt nước trong một cái bể lớn… Chính phủ Bảo Đại – do người Pháp nâng đỡ – là một đứa trẻ mới sinh, yếu đuối, và không được nhân dân kính trọng…” (Dịch lại).

Như vậy là ngay cả dư luận phản động ở Mỹ cũng lên án cuộc phiêu lưu của Tơruman ở Việt Nam.

Là một tay đánh bạc tồi, Tơruman đã đặt cọc vào Tưởng Giới Thạch một số đôla và nỗ lực đồ sộ. Và kết quả là ông ta nhận được một trận đòn khủng khiếp. Ông ta bị mất vốn và mất mặt, con ngựa Trung Quốc của ông ta bị đánh quỵ hoàn toàn, nước Trung Hoa cách mạng được giải phóng một cách thắng lợi.

Không nghi ngờ gì nữa, Bảo Đại và quân đội viễn chinh Pháp sẽ bị đánh bại như Tưởng Giới Thạch vậy, và Tơruman sẽ mất số tiền cược của ông ta ở Việt Nam như ông ta đã mất ở Trung Quốc. Nhưng đối với ông ta lần này, sự thiệt hại sẽ đau đớn hơn nhiều bởi vì ông sẽ bị đánh bại bởi nước Việt Nam nhỏ bé.

VIỆT NAM SẼ THẮNG LỢI

Việc Liên Xô, nước Trung Hoa mới và các nước dân chủ công nhận Chính phủ Cộng hoà Việt Nam đã nâng lên đến mức cao nhất niềm phấn khởi của nhân dân Việt Nam dũng cảm mà tinh thần thì rất cao và lòng can đảm thì không gì thắng nổi. Đối với Việt Nam, đó là một thắng lợi lớn về chính trị.

Cảm tình của những người lao động trên toàn thế giới và sự đoàn kết của nhân dân Pháp đã dấy lên một phong trào rộng lớn chống lại “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” ở Việt Nam là một thắng lợi to lớn về tinh thần đối với nhân dân Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Để giành lại nền độc lập dân tộc và sự thống nhất đất nước của mình, nhân dân Việt Nam sẵn sàng đấu tranh 10 nǎm, 15 nǎm, 20 nǎm hoặc hơn nữa, nếu cần thiết!”. Và Người nói thêm: “càng gần đến thắng lợi, chúng ta càng gặp nhiều khó khǎn. Nhưng chúng ta đã quyết tâm khắc phục tất cả những khó khǎn và chịu đựng mọi hy sinh để đạt mục đích của mình: Đánh đuổi tất cả bọn xâm lược và giải phóng Tổ quốc của chúng ta”.

Quyết tâm bền bỉ đó, niềm tin tưởng không gì lay chuyển nổi đó của một dân tộc là sự bảo đảm vững chắc của thắng lợi cuối cùng. Và Việt Nam sẽ thắng.

Vậy thì, trái với tất cả những sự tính toán của lực lượng phản động quốc tế, đứng đầu là lực lượng phản động Pháp – Mỹ đang muốn biến Việt Nam thành một cái hàng rào chống cộng sản ở Đông Nam á,nước Việt Nam dũng cảm đang trở thành một tiền đồn vững chắc của mặt trận quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc ở khu vực này của thế giới (1).

DIN
Thư ký Mặt trận Liên – Việt
(Mặt trận dân tộc thống nhất) địa phương

Kính gửi Bộ biên tập tuần báo

Vì một nền hoà bình lâu dài

Vì một nền dân chủ nhân dân,

Đồng chí Tổng biên tập thân mến,

Tôi không viết tiếng Pháp đã từ lâu, khá lâu. Lần này viết, chắc tôi sẽ mắc nhiều lỗi. Mong đồng chí sửa hộ những lỗi đó. Nếu thấy cần thiết, đồng chí có thể sử dụng tài liệu này để viết lại hoàn toàn bài báo.

Tôi sẽ gửi tới đồng chí nhiều bài khác nữa, hoặc do tôi, hoặc do các đồng chí của tôi viết.

Về thù lao, tôi mong đồng chí gửi đều đặn cho chúng tôi nhiều bản của tờ báo và những sách báo khác mà đồng chí có.

Chào thân ái
Ngày 22 tháng 3 nǎm 1950
HỒ CHÍ MINH

Tái bút: Nếu trong bài có những sai về chính trị, mong đồng chí sửa hộ những sai đó và gửi cho chúng tôi lời phê bình. Xin cảm ơn trước.

Viết bằng tiếng Pháp.
Tài liệu lưu tại Bảo tàng
Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Nhân “Ngày Gia đình Việt Nam” (28/6) kể về tình thương yêu cha mẹ và anh chị của Bác Hồ

Hiện nay, qua Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chúng ta đã nhận thấy “Hồ Chí Minh là hiện thân cho tinh hoa của dân tộc lại mang những nét riêng của môi trường quê hương và gia đình đã có ảnh hưởng sâu sắc tới Người từ thuở ấu thơ”(GS Phan Ngọc Liên, Hồ Chí Minh từ nhận thức lịch sử đến hành động cách mạng – NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999, trang 37).

Hơn nữa, ngoài gia đình, quê hương và đất nước cũng là những nhân tố quan trọng trong việc hình thành nên con người Hồ Chí Minh. Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh và cũng là người thầy chủ yếu dạy chữ Hán đầu tiên của Nguyễn Tất Thành là người có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình hình thành tình thương yêu của Bác đối với dân tộc và con người Việt Nam.

Cụ Sắc tin tưởng vào người con hiếu thảo, thông minh, chăm học, lại sớm có ý chí vươn lên làm người qua việc đổi tên con từ Nguyễn Sinh Cung ra Nguyễn Tất Thành (1901). Cuộc sống của người mẹ – bà Hoàng Thị Loan – cũng ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Sinh Cung về đức tính nhân hậu, đảm đang, sống chan hòa với mọi người.

Từ đó, mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa ba chị em: Nguyễn Thị Thanh (Nguyễn Thị Bạch Liên), Nguyễn Sinh Khiêm (Nguyễn Tất Đạt) và Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Tất Thành) về lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, tình thương yêu của anh chị em, lòng yêu nước, thương nòi…đã hòa quyện vào nhau.

Tình thương yêu cha mẹ và anh chị của Bác Hồ sau 30 – 40 năm xa cách quê nhà vẫn luôn là mối tình gia đình, lòng hiếu thảo tràn đầy và bền vững của Bác. Điều đó được thể hiện qua vài mẩu chuyện sau đây:

Buổi trưa ngày 27/10/1946, giữa lúc tình hình Thủ đô và đất nước trong cơn dầu sôi lửa bỏng trước họa ngoại xâm của thực dân Pháp lần nữa, Bác Hồ chỉ có ít phút nghỉ trưa sau cả buổi sáng làm việc căng thẳng, sức khỏe còn kém nhưng vẫn tiếp chị ruột Nguyễn Thị Thanh từ quê ra Hà Nội thăm.

Bà Thanh vừa gọi vừa ôm lấy Bác: “Cậu, cậu, cậu có khỏe không?” Bác khóc. Bà Thanh hỏi tiếp: “Cậu đi lâu thế có nhớ quê hương không? Còn nhớ chị ngồi ru võng cho cậu ngủ, chị hát ru bài ru non nước không?” Bà Thanh khóc, Bác nói: “Quê hương nghĩa nặng tình sâu, ở nước ngoài, đêm khuya thanh vắng, bỗng chốc nhớ lời ru con của người mình, lòng dạ em thêm nhớ đất nước, quê hương, bà con”.

Một tuần sau, cũng vào giờ nghỉ trưa (ngày 3/11/1946), tại Bắc Bộ Phủ, anh cả Khiêm ôm lấy Bác Hồ: “Chú Cung, chú Cung, chú có khỏe không?”. Chòm râu Bác Hồ rung rung chạm vào má bác cả Khiêm. Bác hỏi thăm sức khỏe anh, chị Thanh. Bác Khiêm trả lời: “Chị Thanh về có nói chuyện lại, bảo chú gầy lắm, công việc bận suốt ngày, bà con ai cũng đến hỏi thăm.”…

Khi anh Nguyễn Sinh Khiêm tạ thế (1888-1950) tại làng Kim Liên ngày 15/10/1950, thọ 62 tuổi, Bác Hồ được tin anh mất, từ Chiến khu Việt Bắc không về được, Người gửi điện cho Ủy ban Hành chính Kháng chiến Liên khu IV  nhờ chuyển cho làng Kim Liên: “Nghe tin anh cả mất lòng tôi rất buồn rầu, vì việc nước nặng nhiều, đường xá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu. Tôi xin chịu tội bất đệ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho một người đã hy sinh tình nhà để lo việc nước – Ngày 9/11/1950 – Hồ Chí Minh” (Bác Hồ ở ATK, NXB Hội Nhà văn, 2009, trang 122-123).

Một hôm, theo cụ Nguyễn Sinh Khiêm về nhà thờ họ ngoại, lên động Tranh thắp hương phần mộ thân mẫu Hoàng Thị Loan, nhà báo Sơn Tùng kể được cụ Khiêm thổ lộ: “Ba chị em Bác đều cắt rốn, chôn nhau sau căn nhà ở góc vườn kia, có bờ râm bụt bao quanh, ngăn cách mảnh sân với mảnh vườn đằng trước, lúc em Bác còn ẵm ngửa, mẹ sai chị Thanh hái hoa râm bụt dùng chỉ treo lơ lửng, đong đưa dỗ em…, anh em Bác thơ thẩn bên bờ râm bụt từ bên vườn nhà mình sang bên nhà ông bà ngoại.

Em tôi (Bác Hồ) tách cánh hoa râm bụt dán lên má khoe: Em có má hồng. Ngày vào kinh đô Huế, nhà có vườn rộng, bờ rào râm bụt…anh em Bác dựng tuồng, dùng nhựa cây ruối dán cánh hoa râm bụt vào má, vào trán, vào cằm để hóa trang…Diễn xong, anh em bị ngứa, mẹ Bác bắt hai anh em vào gường nằm để ăn roi mẹ phạt thì Bác thưa: “Mẹ ơi, con được mẹ cho cầm hoa râm bụt chơi, mẹ nói hoa này hiền như Bụt, hoa lòng mẹ thì con mới dán hoa lên mặt…” Mẹ Bác phì cười: “Hoa râm bụt hiền nhưng nhựa cây ruối nó dữ”.

Ông Vũ Kỳ nhớ lại ngày kháng chiến ở ATK Định Hóa, giờ nghỉ việc Bác cùng chăm sóc vườn rau, bờ râm bụt. Bác tâm sự: “Các cụ ta hay dùng điển tích bên Tàu để tưởng nhớ cha mẹ. Nhưng của ta thiếu gì những cái hay, cái đẹp, giản dị mà sâu sắc, như: Nhìn bờ râm bụt nhớ mẹ cha, nhìn ngọn cây đa nhớ làng xóm.”(Sđd trang 120)

Hoa râm bụt, bờ râm bụt đã đi vào lòng Bác như một thứ tình thương anh chị em, gia đình, quê hương và sự hiếu thảo với cha mẹ. Mẹ của Bác chẳng may qua đời lúc Bác còn bé nhưng đã gieo vào lòng cậu Sinh Cung một nỗi buồn sâu sắc. Còn cha lại qua đời ở trong Nam năm 1929 (nay có Lăng mộ ở thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp) giữa lúc Bác đang hoạt động ở nước ngoài.

Chỉ vài năm sau ở Pháp (1915) ký tên Paul Thành, Bác viết thư cho Toàn quyền Đông Dương nhờ tìm địa chỉ của cha mình, dù biết đó là việc làm cực kỳ nguy hiểm. Câu nói tha thiết chân tình của Bác với đồng bào miền Nam “Miền Nam luôn trong trái tim tôi” chắc chắn trong đó còn ẩn chứa tâm sự: “Miền Nam còn có hài cốt của cha tôi nữa” và có lần Bác còn nhờ Bộ Chính trị sắp xếp cho vào Nam giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang hồi gay go.

Trước đó, vào thời kháng chiến chống Pháp, khi ở lán trên đồi Tỉn Keo (ATK Định Hóa), Bác đã trồng cây hoa râm bụt mà nay đã cao lớn cành lá xum xuê và luôn trổ hoa màu đỏ rực khiến cho khách tham quan đều bồi hồi xúc động nhớ đến Bác, người Anh hùng giải phóng  dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam với một tình yêu bao la về gia đình và đất nước.

Theo Vương Liêm/ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 4)

(DVHNN) Trong thời đại ngày nay, sự hội nhập của báo chí nước ta với báo chí quốc tế là một dấu ấn không thể quên được. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, dù đổi mới, hiện đại và hội nhập, báo chí nước ta vẫn là nền báo chí cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập. Một Người thầy vĩ đại của Báo chí Cách mạng Việt Nam.

Ảnh tư liệuBác Hồ làm việc trong vườn Phủ Chủ Tịch (1957). Ảnh tư liệu

Bác Hồ là vị lãnh tụ của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới mà còn là Người khơi nguồn và chỉ đạo báo chí cách mạng Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước, Người rất coi trọng báo chí đối với sự nghiệp cách mạng. Với mục đích làm công cụ tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê Nin, giác ngộ những người yêu nước trong cuộc đấu tranh cách mạng để giành độc lập cho dân tộc, tự do của nhân dân.

Báo Người cùng khổ 1922 và báo Thanh niên 1925 đã tập trung vào mục tiêu đó. Với báo Người cùng khổ bằng ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần tội ác của bọn xâm lược tại các thuộc địa để cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới thấy rõ và ủng hộ cho cuộc chiến tranh chính nghĩa đòi quyền sống, quyền con người, quyền dân tộc của các dân tộc thuộc địa. Ngày 21/6/1925, tờ báo Thanh Niên do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, chỉ đạo và là Người biên tập chính ra số đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của Báo chí Cách mạng Việt Nam. Các tổ chức cách mạng ở trong nước dùng tờ báo này để tuyên truyền, giác ngộ và giáo dục quần chúng, làm cầu nối truyền ánh sáng tư tưởng cách mạng của Bác về cho dân tộc, góp phần to lớn cho sự nghiệp giải phóng đất nước.

Người đề ra rằng mỗi khi viết một bài báo, người viết phải tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho đơn giản, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát, đặc biệt là viết ngắn…. Báo chí là một công cụ để tuyên truyền và cổ động rất có hiệu quả và Người hơn ai hết hiểu được điều đó. Qua báo chí Người tập hợp và kêu gọi, động viên, cổ vũ nhân dân và đồng bào, chiến sĩ vượt qua hy sinh gian khổ để chiến thắng kẻ thù…

Với Bác, báo chí phục vụ mục đích trong sáng và cao cả của Đảng, của sự nghiệp cách mạng, là công cụ để tuyên truyền khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân ta, biểu dương những cái tốt, người tốt, việc tốt, ngăn chặn và đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực.

Tháng 4/1959, tại Đại hội lần thứ II của Hội nhà báo Việt Nam, Người chỉ rõ “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyền truyền đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ”. Để báo chí luôn là diễn đàn của nhân dân, phục vụ nhân dân, Người khẳng định “Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo” và “Không riêng vì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt điều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”. Bác Hồ với các nhà báo “Nếu các bạn viết báo mà quần chúng hiểu, quần chúng ham đọc, quần chúng khen hay, thế là các bạn tiến bộ. Trái lại, là các bạn chưa thành công”.

Những người làm báo hôm nay thật vinh dự và tự hào có Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nhà báo cách mạng vĩ đại và là người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Tư duy, phong cách, đạo đức báo chí Hồ Chí Minh là một kho tàng quý báu mà Người để lại cho các thế hệ người làm báo hôm nay và mai sau. Các thế hệ những người làm báo luôn phấn đấu kế thừa và phát triển sự nghiệp báo chí của Bác trong giai đoạn cách mạng hiện nay./.

Tôn Phúc (viết theo tư liệu)

Theo dvhnn.org.vn
Vkyno (st)

Quỹ công lương (1-4-1950)

Đầu nǎm 1950, để mở đà cho cuộc tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực của nhân dân vào cuộc kháng chiến, Chính phủ đã ra sắc lệnh lập Quỹ công lương, mục đích để nhân dân góp lương thực vào công quỹ quốc gia, cấp dưỡng bộ đội, công nhân viên chức làm việc ở các cơ quan, xí nghiệp Chính phủ.

Theo sắc lệnh, Quỹ công lương đóng bằng thóc, cốt để giải quyết vấn đề tiếp tế khó khǎn hiện nay và sau này trong giai đoạn tổng phản công. Mỗi một công dân Việt Nam sẽ đóng 10 kilô thóc. Đặc biệt cả phụ nữ cũng đóng, thể theo yêu cầu của chị em đòi được góp như nam giới vào những quỹ kháng chiến. Riêng cho công nhân và công chức, vì không trực tiếp sản xuất nông nghiệp, nên được đóng bằng tiền, số tiền tương đương với 10 kilô thóc bán ở thị trường địa phương trong khi đóng.

Bất cứ công dân nào từ 18 đến 55 tuổi đều có nhiệm vụ đóng Quỹ công lương, trừ những người đã được Chính phủ cho miễn hẳn như bộ đội, du kích thoát ly sinh sản (địa phương quân), thương binh được hưởng hưu bổng thương tật, học sinh không tài sản, người tàn tật không kế sinh nhai, v.v..

Lập Quỹ công lương, Chính phủ nhằm mục đích chuẩn bị sẵn ở các chiến trường những kho thóc phòng khi cần đến dùng được mau lẹ, điều hoà giá cả; tiếp tế đầy đủ cho bộ đội để khỏi tình trạng vừa đánh giặc vừa lo ǎn, giải quyết tiếp tế khó khǎn cho công nhân và công chức.

Cuộc kháng chiến càng gần thắng lợi càng đòi hỏi nhiều hơn công sức của nhân dân. Với mục đích đẩy cuộc kháng chiến sang giai đoạn tổng phản công, Chính phủ đã hạ sắc lệnh Tổng động viên nhân lực, vật lực và tài lực của nhân dân và lập Quỹ công lương. Quỹ công lương được nhân dân hǎng hái đóng góp nhanh chóng sẽ là một sức mạnh mới đẩy nhanh cuộc chuẩn bị tiến sang giai đoạn cuối cùng và đảm bảo cho tổng phản công thắng lợi hoàn toàn.

T.L.

Báo Sự thật, số 130, ngày 1-4-1950.
cpv.org.vn

Sinh viên Việt Nam tại Anh với Sắc lệnh tổng động viên (15-4-1950)

Được biết Chính phủ đã hạ Sắc lệnh tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực của nhân dân, 14 sinh viên Việt Nam từ 18 đến 30 tuổi đang theo học ở trường đại học tại Luân Đôn đã đánh điện về hỏi kỹ thêm Chính phủ về việc tòng quân của anh em. Anh em muốn biết cách thức và đường lối về nước trong trường hợp anh em được gọi về nước tòng quân, và những huấn lệnh nào của Chính phủ anh em cần phải thi hành trong trường hợp Chính phủ miễn cho anh em tòng quân để tiếp tục công việc học hành ở Anh, v.v.. Anh em ngỏ ý rất sẵn sàng về nước để được nhập ngũ và chấm hết bức điện: “dù xa xôi, tâm trí chúng tôi vẫn luôn luôn hướng về Tổ quốc và lúc nào cũng sẵn sàng thi hành những huấn lệnh của Chính phủ”.

T.L.

Báo Sự thật, số 131, ngày 15-4-1950
cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân ngày 1-5-1950 (5-1950)

Nhân dịp Tết Lao động quốc tế, tôi gửi lời thân ái chúc mừng đồng bào lao động trong nước và anh em lao động thế giới.

Trong lúc này, anh em lao động và nhân dân tiến bộ khắp thế giới đang mạnh mẽ động viên, để chống âm mưu của những kẻ muốn gây chiến tranh và để giữ gìn dân chủ và hoà bình lâu dài.

Đồng bào lao động và toàn thể quốc dân ta cần phải hǎng hái tổng động viên để đánh tan bọn xâm lược, để đưa cuộc kháng chiến thần thánh của ta mau đến thắng lợi hoàn toàn. Như thế, tức là toàn thể lao động và nhân dân ta thiết thực chen vai thích cánh với lao động và nhân sĩ thế giới để hoàn thành sự nghiệp vĩ đại chung là bảo vệ dân chủ và hoà bình thế giới.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1539, ngày 4-5-1950.
cpv.org.vn

Thư gửi anh em thương binh Mặt trận Lê Hồng Phong (1-5-1950)

Anh em thương binh,

Tôi được báo cáo rằng trong trận Phố Lu và Nghĩa Đô, toàn thể chiến sĩ tỏ ra rất anh dũng.

Riêng các anh bị thương, do sự chǎm nom của các thầy thuốc và các khán hộ, một số lớn anh em thương binh đã lành mạnh, trở về bộ đội. Còn các chú đang cần ở lại y viện tôi gửi lời thân ái an ủi các chú và chúc các chú mau trở lại mạnh khoẻ để đi đánh giặc lập công thêm.

Tôi cũng cảm ơn các thầy thuốc và anh em khán hộ đã chǎm nom các thương binh rất chu đáo. Thế là đáng khen.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 1 tháng 5 nǎm 1950
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1538, ngày 3-5-1950.
cpv.org.vn

Khen ngợi đồng bào các xã Thượng Lũng, Xuân Quang, Tiến Yên, Bằng Lang (mặt trận Lê Hồng Phong) (1-5-1950)

Đồng bào thân mến,

Tôi được báo cáo rằng toàn thể đồng bào trong 4 xã rất hǎng hái ủng hộ kháng chiến đã làm những việc như:

– Bán lương thực rẻ cho bộ đội.

– Khi đánh giặc thì toàn dân trong 4 xã đã ra sức tiếp tế cho bộ đội, vận tải và giúp đỡ các chiến sĩ bị thương.

Tôi rất vui mừng thay mặt Chính phủ cảm ơn và khen ngợi đồng bào.

Đồng thời tôi mong đồng bào các xã khác đều thi đua ủng hộ kháng chiến như 4 xã này.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 1 tháng 5 nǎm 1950
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1541, ngày 6-5-1950.
cpv.org.vn

Đoàn đại biểu Người có công huyện Tiên Phước – Quảng Nam về Lăng viếng Bác

Người có công huyện Tiên Phước Quảng NamĐoàn đại biểu Người có công huyện Tiên Phước – Quảng Nam
chụp ảnh lưu niệm bên Lăng Bác

Sáng ngày 26/6/2012 tại Nhà khách số 8 Hùng Vương  – Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp Đoàn Người có công với cách mạng huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam do đồng chí Trần Tâm – Uỷ viên Ban thường vụ Huyện uỷ, Chủ nhiệm UBKT, làm Trưởng đoàn và đồng chí Phùng Văn Huy – Phó Chủ tịch UBND huyện làm Phó đoàn. Đoàn gồm 38 người, trong đó có 31 đối tượng chính sách chủ yếu là các thương binh, bệnh binh, đặc biệt có 2 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng năm nay đều gần 90 tuổi. Các đối tượng chính sách trong đoàn đi lần này đa phần là lần đầu được ra Thủ đô, vào Lăng viếng Bác.

Đồng chí Trần Tâm cho biết: Tiên Phước là một huyện miền núi phía Tây của tỉnh Quảng Nam, có khí hậu khắc nghiệt lại chịu ảnh hưởng lớn của thiên tai nên kinh tế còn nghèo. Do đó, rất ít người dân có điều kiện ra thăm Thủ đô và vào Lăng viếng Bác. Tiên Phước tự hào là mảnh đất đã sinh ra các bậc đại khoa và các nhà yêu nước như: Tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng và Phó bảng Phan Châu Trinh là những nhân vật lịch sử nổi tiếng với lòng yêu nước thương dân, cả cuộc đời chỉ mưu cầu độc lập, dân quyền cho dân tộc. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, Tiên Phước là hậu phương vững chắc của cách mạng. Trong chiến tranh chống Mỹ, Tiên Phước là một trong những địa bàn bị địch đánh phá ác liệt theo kiểu “đốt sạch, giết sạch, phá sạch”. Nhưng những con người nơi đây vẫn luôn anh dũng, kiên cường. Quảng Nam là tỉnh có số đối tượng chính sách chiếm trên 20% dân số, trong đó huyện Tiên Phước có hơn 22.000 đối tượng chính sách. Điều này đòi hỏi công tác “Đền ơn đáp nghĩa” của tỉnh nói chung và của huyện Tiên Phước nói riêng còn phải cố gắng nhiều hơn nữa và cố gắng tạo điều kiện cho các đối tượng chính sách được về Thủ đô Hà Nội và vào Lăng viếng Bác Hồ – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Trước khi vào Lăng viếng Bác, các đại biểu đã được nghe giới thiệu về quá trình xây dựng Lăng, về những đóng góp của nhân dân tỉnh Quảng Nam vào việc xây dựng Lăng của Người. Đồng chí Phùng Văn Huy đã rất xúc động thay mặt Đoàn ghi vào vào sổ lưu niệm: “Đoàn đại biểu Người có công với cách mạng huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam được vinh dự ra Thủ đô và vào Lăng viếng Bác nhân dịp kỷ niệm 65 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2012). Chúng cháu nguyện suốt đời học tập, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người”.

Hải Yến
cpv.org.vn