Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Thư gửi đồng bào công giáo (12-1949)

Cùng đồng bào công giáo,

Nhân dịp các vị đại biểu đi công tác, tôi gửi lời thân ái chúc phúc đồng bào, tôi riêng hỏi thǎm các cụ phụ lão và các cháu thanh niên cùng nhi đồng. Sau đây, tôi có vài lời nhắn nhủ đồng bào như sau:

Cuộc kháng chiến toàn quốc đã bước sang nǎm thứ tư. Đồng bào đều biết rằng: ngày bắt đầu kháng chiến, lực lượng quân sự của giặc Pháp mạnh hơn ta. Thế mà ta càng ngày càng thắng lợi. Đó là nhờ sức đại đoàn kết của toàn dân và sự hǎng hái tham gia kháng chiến của mọi người, giáo cũng như lương.

Ngày nay, đồng bào đều thấy rõ rằng: lực lượng và tinh thần của địch ngày càng sút kém. Lực lượng và tinh thần của ta ngày càng tǎng thêm. Vì vậy, nǎm 1950 là nǎm ta phải chuẩn bị mau đầy đủ để chuyển mau sang Tổng phản công.

Muốn như thế, thì đồng bào lương cũng như giáo, đã đoàn kết phải đoàn kết khǎng khít hơn nữa, đã tham gia kháng chiến phải thi đua tham gia mạnh hơn nữa. Mà như thế, thì địch nhất định bại, ta nhất định thắng.

Tôi tin vào lòng nồng nàn yêu nước của đồng bào. Tôi mong rằng mỗi người đều cố gắng làm tròn nhiệm vụ, để đến ngày Tổ quốc thống nhất và độc lập thật sự, mỗi người đều có thể tự hào rằng: “Tôi đã góp một phần vào thắng lợi chung”.

Trên nhờ Đức Chúa, dưới nhờ nhân dân, kháng chiến nhất định thắng lợi.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 12 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Phải học suốt đời

Hôm ấy các nhà báo được nghe Bác dạy làm báo, ai cũng thấm thía: Nghề báo dễ mà khó, phải học suốt đời.

Nhà báo, nhà nhiếp ảnh Nguyễn Kim Côn có lần kể lại: Vào buổi sáng 18-1-1957 trời nắng ấm. Trên đường Hàng Trống (Hà Nội), chiếc ô tô Pô-bê-đa từ từ lăn bánh vào toà soạn Báo Nhân Dân. “Bác! Bác đến, Bác đến!”. Cùng với tiếng reo mừng, mọi người ùa ra, vây tròn lấy Bác. Và vòng vây ấy di chuyển vào hội trường. Vào hội trường rồi mà vẫn không ai chịu ngồi, vì ngồi sẽ không được đứng gần Bác. Là người chụp ảnh phục vụ Bác, hôm nay ông thấy các đồng nghiệp ở báo Nhân dân có mặt khá đông đủ. Cũng là nhiếp ảnh chuyên nghiệp, mà sao hôm nay các anh toàn đứng “trái cựa” với ống kính của ông và đèn chớp điện tử không loé sáng. Ông chợt hiểu ra là các anh muốn có hình ảnh của mình được đứng gần Bác.

Lướt nhìn “vòng vây”, Bác hỏi:

– “Ở đây, cô chú nào biết tiếng Nga thì giơ tay lên?”. Lẻ tẻ một hai cánh tay giơ lên.

– Cô chú nào biết tiếng Trung Quốc?

Lại một, hai người giơ tay.

– Những ai biết tiếng Pháp?

Nhiều cánh tay giơ lên.

– Đã làm báo thì mỗi người phải biết ít nhất là ba bốn thứ tiếng nước ngoài. Không biết tiếng nước ngoài thì thiệt lắm – thí dụ các chú yêu một cô người nước ngoài mà phải nhờ chú phiên dịch, dịch hộ là: “Tôi yêu cô” và chú phiên dịch cũng dịch đúng như vậy thì chú phiên dịch yêu mất của các chú rồi!

Xôn xao nhiều tiếng cười. Khoảng cách giữa lãnh tụ và quần chúng được xoá nhoà từ lúc nào không biết.

Bác nói tiếp:

– Hôm nọ, Bác thấy Báo Nhân Dân đăng trang nhất tin bắt gián điệp, rồi lại còn đóng khung cái tin ấy… Công an bắt được mật thám là chuyện bình thường chứ có gì là đặc biệt mà phải đóng khung, đưa lên trang nhất. Thế rồi lại còn chuyện in sai ở trang nhất, lại đính chính ở trang tư. Bác chỉ tay lên trán: Nhọ ở đây. Rồi lại rửa ở đây – Bác chỉ tay vào lưng – Thì làm sao sạch được…

Hôm ấy các nhà báo được nghe Bác dạy làm báo, ai cũng thấm thía: Nghề báo dễ mà khó, phải học suốt đời.

Theo LÊ HỒNG THIỆN/ Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Điện chia buồn (1949)

(Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ chuyển)

Tôi rất buồn khi được tin ông Hoàng Minh Châu, uỷ viên trong Ban Thường trực Quốc hội vừa tạ thế. Tôi thay mặt Chính phủ kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn ông Hoàng và gửi lời thân ái chia buồn với gia đình ông Hoàng cùng đồng bào tỉnh Biên Hoà.

Chủ tịch Chính phủ
HỒ CHÍ MINH

Điện trong nǎm 1949. Bản gốc lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi toàn thể Vệ quốc quân và dân quân du kích (12-1949)

(Nhờ Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh chuyển)

Các tướng sĩ thân mến,

Trong phiên họp cuối nǎm kiểm thảo công tác chuẩn bị tổng phản công về mọi mặt, Hội đồng Chính phủ nhận thấy Vệ quốc quân và dân quân du kích đã lập được nhiều chiến công nên Chính phủ quyết nghị khen ngợi toàn thể quân đội quốc gia và dân quân du kích.

Tôi rất vui lòng thay mặt Chính phủ gửi các anh lời khen ngợi ấy.

Nǎm mới là nǎm chuyển mạnh sang tổng phản công, tôi chắc rằng toàn thể quân đội ta, với sự ủng hộ mạnh mẽ của toàn dân sẽ ra sức thi đua lập những chiến công quyết định để đưa mau cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn đặng đáp lại lòng tin cậy của đồng bào và Chính phủ.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 12 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Báo Vệ quốc quân, số 60, Xuân Canh Dần, 1950.
cpv.org.vn

Danh mục Sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký từ nǎm 1947 đến 1949

NǍM 1947

– Sắc lệnh số 7 – SL, ngày 21-1-1947, bổ nhiệm Tổng giám đốc Bưu điện Việt Nam.

– Sắc lệnh số 8-SL, ngày 22-1-1947, cử Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các uỷ viên Uỷ ban tản cư và di cư.

– Sắc lệnh số 9- SL, ngày 29-1-1947, tạm thời đình chỉ thi hành mục B Sắc lệnh số 13-SL (24-1-1946) và Sắc lệnh số 42 (3-4-1946) về việc bắt, giam và truy tố nhân viên các cấp trong Chính phủ, cơ quan hành chính và tư pháp.

– Sắc lệnh số 10-SL, ngày 30-1-1947, bổ nhiệm Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 11-SL, ngày 30-1-1947, ấn định lại thời hạn giam cứu cho tiểu hình và đại hình ghi trong Sắc lệnh 40 (29-3-1946).

– Sắc lệnh số 11-SLb, ngày 2-2-1947, sáp nhập các Sở, Ty Địa chính vào Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 12-SL, ngày 3-2-1947, về chế độ kiểm duyệt, in, phát hành báo chí và các loại ấn phẩm.

– Sắc lệnh số 13-SL, ngày 3-2-1947, tạm cấm xuất nhập cảng hàng hóa.

– Sắc lệnh số 14-SL, ngày 3-2-1947, lập Nha tín dụng sản xuất.

– Sắc lệnh số 15-SL, ngày 7-2-1947, bổ nhiệm đặc phái viên Bộ Nội vụ tại Thanh Hoá và Ninh Bình.

– Sắc lệnh số 16-SL, ngày 12-2-1947, bổ nhiệm Chính trị Cục trưởng Bộ Quốc phòng và Phó Chủ tịch Uỷ ban hành chính Hà Nội kiêm Chính trị Phó Cục trưởng, Trưởng phòng Dân quân.

– Sắc lệnh số 17-SL, ngày 16-2-1947, lập Nha khẩn hoang, di dân thuộc Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 18-SL, ngày 16-2-1947, bổ nhiệm Giám đốc, các Phó Giám đốc Nha khẩn hoang, di dân.

– Sắc lệnh số 19-SL, ngày 16-2-1947, về tổ chức và chức nǎng của các Toà án binh (trừ Toà án binh mặt trận).

– Sắc lệnh số 20-SL, ngày 16-2-1947, quy định chế độ hưu bổng, thương tật, tiền tuất cho thân nhân, tử sĩ.

– Sắc lệnh số 21-SL, ngày 16-2-1947, bổ nhiệm Tổng Giám đốc Nha tín dụng sản xuất.

– Sắc lệnh số 22-SL, ngày 16-2-1947, trích 30 triệu đồng ở ngân sách Nhà nước cấp cho Nha tín dụng.

– Sắc lệnh số 23-SL, ngày 16-2-1947, thành lập Hội đồng sản xuất kỹ nghệ thuộc Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 24-SL, ngày 16-2-1947, bổ nhiệm Đổng lý vǎn phòng Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 25-SL, ngày 21-2-1947, cải tổ Uỷ ban hành chính tỉnh Thanh Hoá.

– Sắc lệnh số 26-SL, ngày 28-2-1947, ấn định tỷ lệ phụ thu thuế điền thổ (1%).

– Sắc lệnh số 27-SL, ngày 28-2-1947, ấn định thể thức và chế độ trực thu thời kỳ kháng chiến.

– Sắc lệnh số 27b- SL, ngày 2-3-1947, cấp đất công hoang cho công dân trên 18 tuổi.

– Sắc lệnh số 28-SL, ngày 10-3-1947, sửa địa giới của huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) và của thị xã Vinh- Bến Thuỷ.

– Sắc lệnh số 29-SL, ngày 12-3-1947, quy định quan hệ giữa chủ với công nhân Việt Nam.

– Sắc lệnh số 29b-SL, ngày 16-3-1947, lập Ngoại thương Cục thuộc Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 30-SL, ngày 17-3-1947, cử Bộ trưởng Bộ Lao động đặc nhiệm việc tản cư và di dân.

– Sắc lệnh số 31-SL, ngày 19-3-1947, sửa đổi điều 3 Sắc lệnh 131-SL ngày 20-7-1946 về tổ chức tư pháp và công an.

– Sắc lệnh số 32-SL, ngày 19-3-1947, sửa điều 9 Sắc lệnh số 40-SL, ngày 29-3-1946, về bảo đảm quyền tự do của công dân.

– Sắc lệnh số 32b-SL, ngày 19-3-1947, ấn định quỹ tản cư, di cư toàn quốc, do Bộ trưởng Bộ Lao động sử dụng.

– Sắc lệnh số 33-SL, ngày 19-3-1947, về việc tǎng 10 lần tiền phạt được ấn định trong Luật hình ban bố trước ngày 19-8-1945.

– Sắc lệnh số 34-SL, ngày 19-3-1947, sửa điều 2 Sắc lệnh số 1-SL, ngày 20-12-1946, về Uỷ ban bảo vệ khu và tỉnh.

– Sắc lệnh số 35-SL, ngày 19-3-1947, sửa đổi điều 4, bãi bỏ điều 6 và điều 10 của mục 4 trong Sắc lệnh số 34-SL (25-3-1946) về tổ chức Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 36-SL, ngày 19-3-1947, bổ nhiệm Cục trưởng Cục Quân nhu Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 37-SL, ngày 19-3-1947, bổ nhiệm Cục trưởng Cục Giao thông công binh Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 38-SL, ngày 28-3-1947, sửa đổi điều 1 của Sắc lệnh số 34-SL (19-3-1947) về thành phần của các Uỷ ban bảo vệ khu, tỉnh, huyện và xã.

– Sắc lệnh số 39-SL, ngày 1-4-1947, huỷ bỏ tem trước bạ, giấy tín chỉ lưu hành trước 19-12-1946 và ấn định cách thức thu thuế, tem trước bạ mới.

– Sắc lệnh số 40-SL, ngày 1-4-1947, cho phép một phụ nữ Hoa kiều được nhập quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 41-SL, ngày 4-4-1947, thành lập Uỷ ban hành chính đặc biệt miền thượng du Thanh Hoá.

– Sắc lệnh số 42-SL, ngày 7-4-1947, bãi bỏ ngân sách các cấp kỳ, tỉnh, thành phố, thị xã, khu tự trị và sáp nhập vào Quỹ toàn quốc. Giữ nguyên Quỹ đặc biệt Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 43-SL, ngày 19-4-1947, cấp cho Ngoại thương Cục 20 triệu đồng vốn hoạt động ban đầu.

– Sắc lệnh số 44-SL, ngày 19-4-1947, bổ nhiệm Giám đốc Nha tiếp tế.

– Sắc lệnh số 45-SL, ngày 25-4-1947, lập Toà án binh tối cao.

– Sắc lệnh số 46-SL, ngày 30-4-1947, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Y tế và Chánh vǎn phòng Bộ Y tế.

– Sắc lệnh số 47-SL, ngày 1-5-1947, quy định tổ chức của Bộ Tổng chỉ huy, Bộ Tổng tham mưu, Cục Chính trị, Vǎn phòng Bộ Tổng chỉ huy quân đội.

– Sắc lệnh số 48-SL, ngày 15-5-1947, cho phép lưu hành một số loại giấy bạc trong toàn quốc (1đ, 5đ, 10đ, 20đ, 50đ, 100đ, 500đ).

– Sắc lệnh số 49-SL, ngày 15-5-1947, đặt “Giải thưởng Hồ Chí Minh” cho ngành quân giới.

– Sắc lệnh số 50-SL, ngày 15-5-1947, đặt Huy chương Quân công và Huy chương Chiến sĩ, quy định việc thưởng cho cá nhân và đơn vị trong quân đội, dân quân tự vệ.

– Sắc lệnh số 51-SL, ngày 1-6-1947, tạm thời định giá tiền đồng bạc Việt Nam so với đồng tiền mang niên hiệu Minh Mệnh, Thiệu Trị đang lưu hành.

– Sắc lệnh số 52-SL, ngày 1-6-1947, ấn định lại mức thuế nhập khẩu, xuất khẩu hàng hoá.

– Sắc lệnh số 53-SL, ngày 1-6-1947, ấn định quy cách kiểu tem trước bạ.

– Sắc lệnh số 54-SL, ngày 1-6-1947, bãi bỏ Hội đồng quản trị Ngoại thương Cục, đặt Ngoại thương Cục dưới quyền chỉ đạo của Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 55-SL, ngày 12-6-1947, cho phép một kiều dân áo được nhập quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 56-SL, ngày 17-6-1947, thành lập Trường Ngoại ngữ.

– Sắc lệnh số 58-SL, ngày 6-6-1947, đặt Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập và quy định việc tặng thưởng.

– Sắc lệnh số 59-SL, ngày 5-7-1947, lập “Toà án binh khu, trung ương” đặt trong Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 60-SL, ngày 5-7-1947, sửa đổi điều 2 trong Sắc lệnh số 19-SL (16-2-1947) về chế độ hưu bổng, thương tật, tiền tuất cho thân nhân, tử sĩ.

– Sắc lệnh số 61-SL, ngày 5-7-1947, cấm xuất cảnh và nhập nội các tư bản (tiền nước ngoài, tiền Việt Nam, các loại chứng thư ngân hàng).

– Sắc lệnh số 62-SL, ngày 5-7-1947, sáp nhập hai xã của huyện Thạch Hà vào huyện Can Lộc (Hà Tĩnh).

– Sắc lệnh số 228- SL/M, ngày 18-7-1947, cử ông Nguyễn Sơn làm Khu trưởng Chiến khu IV.

– Sắc lệnh số 229-SL/M, ngày 18-7-1947, điều ông Lê Thiết Hùng làm Thanh tra quân đội của Bộ Tổng chỉ huy.

– Sắc lệnh số 230-SL/M, ngày 18-7-1947, lập Phân khu quân sự trong Chiến khu IV và cử Phân khu trưởng.

– Sắc lệnh số 231-SL/M, ngày 18-7-1947, phát hành các loại “tín phiếu (1đ, 5đ, 10đ, 20đ, 50đ, 100đ, 500đ), có giá trị như giấy bạc Việt Nam”, tại Nam Trung Bộ.

– Sắc lệnh số 232-SL/M, ngày 18-7-1947, cử Chánh vǎn phòng Chủ tịch Chính phủ.

– Sắc lệnh số 233-SL/M, ngày 25-7-1947, cử các Chính trị Uỷ viên các khu I, II, III, IV, V, X và XII.

– Sắc lệnh số 235-SL/M, ngày 25-7-1947, quy định địa giới các khu XI, II, XIV.

– Sắc lệnh số 65-SL, ngày 26-7-1947, cử uỷ viên Uỷ ban hành chính tỉnh Hà Nam.

– Sắc lệnh số 66-SL, ngày 26-7-1947, cử Phó Chủ tịch huyện Nga Sơn (Thanh Hoá).

– Sắc lệnh số 67-SL, ngày 26-7-1947, cho phép Uỷ ban hành chính Nam Bộ phát hành công trái (lần thứ hai).

– Sắc lệnh số 68-SL, ngày 26-7-1947, bãi bỏ điều 9 Sắc lệnh số 40 (29-3-1946) và thay bằng điều 9 mới về trình tự thủ tục bắt giam, điều tra, lập hồ sơ với những người bị bắt về tội “xét thấy lời nói hay việc làm của họ nguy hại tới trị an, hay kháng chiến”.

– Sắc lệnh số 234-SL/M, ngày 4-8-1947, bổ nhiệm ông Tôn Đức Thắng giữ chức Thanh tra đặc biệt toàn quốc.

– Sắc lệnh số 236-SL/M, ngày 5-8-1947, quy định ông Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia có quyền hạn và chức vụ như Bộ trưởng và là thành viên Hội đồng Liên bộ trong Hội đồng Chính phủ.

– Sắc lệnh số 74-SL, ngày 17-8-1947, bổ nhiệm Cục trưởng Ngoại thương Cục.

– Sắc lệnh số 75-SL, ngày 19-8-1947, cho phép một kiều dân Đức được nhập quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 70-SL, ngày 23-8-1947, cử Khu trưởng Khu XI, XV và Khu phó Khu VI, Chính trị uỷ viên các Khu II, XII.

– Sắc lệnh số 71-SL, ngày 23-8-1947, cử các Chính trị uỷ viên khu VI, VIII, IX.

– Sắc lệnh số 76-SL, ngày 26-8-1947, thành lập Đại đoàn Độc lập.

– Sắc lệnh số 77-SL, ngày 26-8-1947, cử Đại đoàn trưởng, Đại đoàn phó và Chính uỷ Đại đoàn Độc lập.

– Sắc lệnh số 78-SL, ngày 3-9-1947, ấn định số lượng và cách chỉ định Uỷ viên trong Uỷ ban kháng chiến khu.

– Sắc lệnh số 79-SL và 80-SL, ngày 4-9-1947, cử hai Uỷ viên vào Uỷ ban kháng chiến khu XIV.

– Sắc lệnh số 81-SL, ngày 7-9-1947, bổ nhiệm chức Trưởng phòng Dân quân thuộc Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 82-SL, ngày 17-9-1947, sửa điều 7 trong Sắc lệnh số 29b-SL (16-3-1947) về lập Ngoại thương Cục.

– Sắc lệnh số 83-SL, ngày 17-9-1947, lập Viện Huân chương thuộc Phủ Chủ tịch.

– Sắc lệnh số 86-SL, ngày 17-9-1947, lập Việt Nam Quốc gia Ngân hàng.

– Sắc lệnh số 87-SL, ngày 17-9-1947, đặt phụ cấp tạm thời cho nhân viên Chính phủ.

– Sắc lệnh số 88-SL, ngày 20-9-1947, quy định hình thức thưởng cho gia đình có từ 3 con tham gia quân đội.

– Sắc lệnh số 90-SL, ngày 30-9-1947, quy định quan hệ giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy.

– Sắc lệnh số 237-SL/M, ngày 30-9-1947, cử Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính tỉnh Ninh Bình.

– Sắc lệnh số 91-SL, ngày 1-10-1947, hợp nhất Uỷ ban kháng chiến và Uỷ ban hành chính, từ cấp tỉnh đến xã thành Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính. Quy định thành phần Uỷ ban và quan hệ làm việc giữa Uỷ ban các cấp.

– Sắc lệnh số 92-SL, ngày 3-10-1947, cử cán bộ Vǎn phòng Bộ Thương binh, Cựu binh (Đổng lý sự vụ, Đổng lý Vǎn phòng).

– Sắc lệnh số 93-SL, ngày 3-10-1947, cử các Uỷ viên hành chính, Uỷ viên nhân dân của Uỷ ban kháng chiến hành chính Chiến khu I.

– Sắc lệnh số 94-SL, ngày 3-10-1947, cử các Uỷ viên hành chính và Uỷ viên nhân dân của Uỷ ban kháng chiến hành chính khu II.

– Sắc lệnh số 95-SL, ngày 3-10-1947, cử các Uỷ viên hành chính và Uỷ viên nhân dân của Uỷ ban kháng chiến hành chính khu III.

– Sắc lệnh số 96-SL, ngày 3-10-1947, cử các Uỷ viên hành chính và Uỷ viên nhân dân của Uỷ ban kháng chiến hành chính khu X.

– Sắc lệnh số 97-SL, ngày 3-10-1947, cử các Uỷ viên hành chính và Uỷ viên nhân dân của Uỷ ban kháng chiến hành chính khu XI.

– Sắc lệnh số 98-SL, ngày 3-10-1947, cử các Uỷ viên hành chính và Uỷ viên nhân dân của Uỷ ban kháng chiến hành chính khu XII.

– Sắc lệnh số 99-SL, ngày 3-10-1947, cử Phó phòng Dân quân (Bộ Quốc phòng).

– Sắc lệnh số 100-SL, ngày 3-10-1947, cử người vào Ban phụ trách Tây Nguyên.

– Sắc lệnh số 101-SL, ngày 3-10-1947, lập Sở và Ty thương binh, cựu binh ở khu, tỉnh.

– Sắc lệnh số 263-SL/M, ngày 17-10-1947, cử ông Phạm Vǎn Đồng làm Đặc phái viên của Chính phủ tại Nam Trung Bộ.

– Sắc lệnh số 264-SL/M, ngày 27-10-1947, bổ nhiệm Đặc phái viên Chính phủ tại Chiến khu IV.

– Sắc lệnh số 102-SL, ngày 1-11-1947, cho phép phát hành ở Nam Bộ các tín phiếu 1đ, 5đ, 10đ, 20đ, 50đ, 100đ, 500đ có giá trị như giấy bạc Việt Nam.

– Sắc lệnh số 265-SL/M, ngày 25-11-1947, sáp nhập tỉnh Quảng Yên (gồm cả khu vực Hồng Gai) vào Chiến khu XII.

– Sắc lệnh số 612-MDB, ngày 7-12-1947, khen thưởng các Chủ tịch, Uỷ viên kháng chiến hành chính các xã.

NǍM 1948

– Sắc lệnh số 103-SL, ngày 1-1-1948, bãi bỏ chức Tổng thanh tra lao động và Giám đốc Ban thanh tra – hành chính Bộ Lao động.

– Sắc lệnh số 104-SL, ngày 1-1-1948, ấn định nguyên tắc cǎn bản của “Doanh nghiệp quốc gia”.

– Sắc lệnh số 105-SL, ngày 1-1-1948, cử Phó giám đốc Nha khẩn hoang di dân.

– Sắc lệnh số 106-SL, ngày 1-1-1948, cử Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến khu III.

– Sắc lệnh số 107-SL, ngày 20-1-1948, bổ nhiệm Tổng thanh tra, Phó Tổng thanh tra quân đội.

– Sắc lệnh số 108-SL, ngày 20-1-1948, bổ nhiệm Cục trưởng Cục Tình báo thuộc Bộ Tổng chỉ huy quân đội.

– Sắc lệnh số 109-SL, ngày 20-1-1948, cử Hiệu trưởng Trường Lục quân trung học Trần Quốc Tuấn.

– Sắc lệnh số 110-SL, ngày 20-1-1948, phong quân hàm Đại tướng cho ông Võ Nguyên Giáp.

– Sắc lệnh số 111-SL, ngày 20-1-1948, phong quân hàm Thiếu tướng cho ông Hoàng Vǎn Thái và một số cán bộ trong quân đội.

– Sắc lệnh số 112-SL, ngày 20-1-1948, phong quân hàm Thiếu tướng cho một số cán bộ trong quân đội.

– Sắc lệnh số 113-SL, ngày 25-1-1948, quy định tổ chức, nhiệm vụ của Cục Quân huấn thuộc Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam.

– Sắc lệnh số 114-SL, ngày 25-1-1948, bổ nhiệm Cục trưởng Cục quân huấn.

– Sắc lệnh số 115-SL, ngày 25-1-1948, phong quân hàm Trung tướng cho ông Nguyễn Bình.

– Sắc lệnh số 116-SL, ngày 25-1-1948, đặt hệ thống quân hàm cho các nhân viên thuộc Bộ Quốc phòng nhưng không phải là quân nhân.

– Sắc lệnh số 117-SL, ngày 25-1-1948, phong quân hàm Thiếu tướng cho ông Trần Đại Nghĩa.

– Sắc lệnh số 118-SL, ngày 25-1-1948, đổi Phòng Dân quân thuộc Bộ Tổng chỉ huy thành Cục Dân quân.

– Sắc lệnh số 119-SL, ngày 25-1-1948, đổi Phòng Kiểm tra trực thuộc Bộ Tổng chỉ huy thành Cục Tổng thanh tra Quân đội quốc gia Việt Nam.

– Sắc lệnh số 120-SL, ngày 25-1-1948, hợp nhất các khu thành liên khu.

– Sắc lệnh số 121-SL, ngày 25-1-1948, cử các Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính miền Nam Trung Bộ.

– Sắc lệnh số 122-SL, ngày 25-1-1948, cử các Liên khu trưởng, Liên khu phó, Chính trị uỷ viên các Liên khu I, III, X và điều động cán bộ quân đội về Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam.

– Sắc lệnh số 123-SL, ngày 25-1-1948, cử các Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Liên khu X.

– Sắc lệnh số 124-SL, ngày 25-1-1948, cử các Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Liên khu I.

– Sắc lệnh số 125-SL, ngày 25-1-1948, cử các Uỷ viên ủy ban kháng chiến kiêm hành chính Liên khu III.

– Sắc lệnh số 126-SL, ngày 25-1-1948, chính thức công nhận Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Nam Trung Bộ.

– Sắc lệnh số 127-SL, ngày 25-1-1948, cử Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Liên khu IV.

– Sắc lệnh số 128-SL, ngày 25-1-1948, chính thức công nhận Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Liên khu IV.

– Sắc lệnh số 129-SL, ngày 5-2-1948, bổ sung điều 1 Sắc lệnh số 3 (ngày 28-12-1946) tạm hoãn các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính xã.

– Sắc lệnh số 130-SL, ngày 15-2-1948, bổ nhiệm chức Đổng lý sự vụ Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 131-SL, ngày 15-2-1948, phân hạn cấp bậc và định thời hạn thǎng cấp Đại uý, Thiếu tá, Trung tá và Đại tá trong quân đội.

– Sắc lệnh số 132-SL, ngày 15-2-1948, cử các Uỷ viên và các Cố vấn Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 133-SL, ngày 15-2-1948, chuẩn y Chủ tịch và 2 Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 134-SL, ngày 15-2-1948, cử Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Liên khu I.

– Sắc lệnh số 135-SL, ngày 15-2-1948, cử Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Liên khu III.

– Sắc lệnh số 136-SL, ngày 15-2-1948, sửa đổi điều 3 Sắc lệnh số 4 (ngày 28-12-1948), uỷ quyền cho Uỷ ban kháng chiến hành chính khu ân xá, ân giảm cho tội phạm.

– Sắc lệnh số 137-SL, ngày 15-2-1948, lập Nha trung ương Hoa kiều vụ Việt Nam.

– Sắc lệnh số 138-SL, ngày 15-2-1948, bổ nhiệm Tổng Giám đốc Nha trung ương Hoa kiều vụ Việt Nam.

– Sắc lệnh số 139-SL, ngày 15-2-1948, về việc nhận tặng phẩm ủng hộ kháng chiến và sử dụng các thứ đó.

– Sắc lệnh số 140-SL, ngày 29-2-1948, lập Cục tiếp tế vận tải trực thuộc Bộ Kinh tế; bãi bỏ Nha tiếp tế được thành lập theo Nghị định ngày 15-11-1946.

– Sắc lệnh số 141-SL, ngày 29-2-1948, bổ nhiệm Cục trưởng Cục tiếp tế vận tải.

– Sắc lệnh số 142-SL, ngày 2-3-1948, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Tài chính.

– Sắc lệnh số 143-SL, ngày 2-3-1948, bổ nhiệm Tổng Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Việt Nam.

– Sắc lệnh số 144-SL, ngày 2-3-1948, nghiêm cấm lạm sát trâu bò trên toàn cõi Việt Nam.

– Sắc lệnh số 145-SL, ngày 2-3-1948, giao nhiệm vụ cho Nha khẩn hoang di dân tổ chức việc di dân đi khai thác và phục hồi vùng đất hoang hoá thuộc sở hữu của Nhà nước.

– Sắc lệnh số 146-SL, ngày 2-3-1948, quy định nhiệm vụ của Toà án binh.

– Sắc lệnh số 147-SL, ngày 2-3-1948, cho phép phát hành tại Nam Bộ và lưu hành trong toàn quốc giấy bạc loại mới (1đ, 5đ, 20đ, 50đ và 100đ).

– Sắc lệnh số 148-SL, ngày 25-3-1948, bãi bỏ các danh từ phủ, châu, quận; cấp trên xã và cấp dưới tỉnh thống nhất gọi là cấp huyện.

– Sắc lệnh số 149-SL, ngày 25-3-1948, quy định bỏ từ “kiêm” trong danh từ “Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính”; gọi là “Uỷ ban kháng chiến hành chính”.

– Sắc lệnh số 150-SL, ngày 25-3-1948, quy định về tổ chức, quyền hạn và cách làm việc của Hội đồng nhân dân trong vùng địch kiểm soát hoặc bị uy hiếp.

– Sắc lệnh số 151-SL, ngày 25-3-1948, quy định thành phần Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính các cấp xã, huyện, tỉnh và Liên khu.

– Sắc lệnh số 152-SL, ngày 25-3-1948, về thể lệ bầu lại một hay nhiều Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính mỗi cấp; quy định người ứng cử vào Uỷ ban kháng chiến hành chính có thể là người ngoài Hội đồng nhân dân.

– Sắc lệnh số 153-SL, ngày 25-3-1948, quy định người ngoài Hội đồng nhân dân nhưng là Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính được coi như Uỷ viên của Hội đồng nhân dân cấp ấy.

– Sắc lệnh số 157-SL, ngày 14-4-1948, bỏ Uỷ ban trung ương hộ đê; lập Uỷ ban hộ đê ở khu, tỉnh, huyện và ở các xã cần thiết.

– Sắc lệnh số 158-SL, ngày 14-4-1948, bổ nhiệm quyền Tổng thanh tra tài chính.

– Sắc lệnh số 159-SL, ngày 14-4-1948, quy định nhiệm vụ quyền hạn của Nha Tổng thanh tra tài chính, của Tổng Thanh tra và các thanh tra viên.

– Sắc lệnh số 160-SL, ngày 14-4-1948, cho phát hành trong cả nước “Công phiếu kháng chiến”, quy định thể thức mua.

– Sắc lệnh số 161-SL, ngày 14-4-1948, bổ nhiệm Giám đốc Nha pháp chính Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 162-SL, ngày 14-4-1948, giải tán Uỷ ban kháng chiến hành chính thị xã Bắc Ninh và sửa đổi địa giới của thị xã.

– Sắc lệnh số 163-SL, ngày 14-4-1948, tặng Huân chương Quân công hạng nhất cho Đội Quân giải phóng, Đội Quân du kích Bắc Sơn và Đội Quân khởi nghĩa Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 164-SL, ngày 14-4-1948, bổ nhiệm Khu phó Chiến khu VIII.

– Sắc lệnh số 165-SL, ngày 14-4-1948, quy định Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ Việt Nam, đổi thành Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam.

– Sắc lệnh số 166-SL, ngày 14-4-1948, cấp thêm 15 triệu đồng cho Quỹ ngoại thương.

– Sắc lệnh số 167-SL, ngày 14-4-1948, thủ tiêu tiền đồng ở Trung Bộ thời hạn 2 tháng.

– Sắc lệnh số 168-SL, ngày 14-4-1948, nghiêm cấm tệ đánh bạc và quy định việc trừng phạt tội này.

– Sắc lệnh số 169-SL, ngày 14-4-1948, lập Sở lao động ở mỗi Liên khu kháng chiến hành chính.

– Sắc lệnh số 170-SL, ngày 14-4-1948, tổ chức lại Toà án quân sự các cấp.

– Sắc lệnh số 171-SL, ngày 14-4-1948, quy định Nhà máy phốt phát Nghệ An của Bộ Canh nông là doanh nghiệp quốc gia đặc biệt.

– Sắc lệnh số 173-SL, ngày 14-4-1948, bổ nhiệm Đổng lý Vǎn phòng Bộ Y tế.

– Sắc lệnh số 174-SL, ngày 14-4-1948, sáp nhập Sở địa chính Trung bộ vào Nha địa chính (Bộ Canh nông); bổ nhiệm Tổng Giám đốc Nha địa chính.

– Sắc lệnh số 175-SL, ngày 14-4-1948, chuẩn y Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu I.

– Sắc lệnh số 176-SL, ngày 14-4-1948, gia hạn việc cấm chạy xe kéo.

– Sắc lệnh số 177-SL, ngày 14-4-1948, quy định việc định tội xâm phạm tài sản công dân.

– Sắc lệnh số 178-SL, ngày 15-4-1948, cho phép một kiều dân Thuỵ Sĩ được nhập quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 179-SL, ngày 25-4-1948, bổ nhiệm Cục trưởng Cục Dân quân.

– Sắc lệnh số 180-SL, ngày 30-4-1948, bãi bỏ các loại giấy bạc Đông Dương do Đông Dương Ngân hàng phát hành.

– Sắc lệnh số 181-SL, ngày 6-5-1948, cho phép phát hành và lưu hành trên toàn cõi Việt Nam giấy bạc loại 5 hào, 2 hào.

– Sắc lệnh số 182-SL, ngày 26-5-1948, bổ nhiệm Tổng thanh tra Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 183-SL, ngày 26-5-1948, bổ nhiệm Phân khu trưởng và Chính uỷ Phân khu IV.

– Sắc lệnh số 184-SL, ngày 26-5-1948, bổ nhiệm Liên khu trưởng và Liên khu phó Liên khu X.

– Sắc lệnh số 185-SL, ngày 26-5-1948, ấn định tạm thời thẩm quyền của các Toà án sơ cấp và đệ nhị cấp.

– Sắc lệnh số 186-SL, ngày 26-5-1948, ấn định việc phạt vi cảnh.

– Sắc lệnh số 190-SL, ngày 28-5-1948, tái lập Nha thống kê thuộc Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 191-SL, ngày 28-5-1948, bổ nhiệm Giám đốc Nha thống kê.

-Sắc lệnh số 192-SL, ngày 28-5-1948, cấm buôn bán chuyên chở, tàng trữ xa xỉ phẩm ngoại hoá trong toàn cõi Việt Nam.

– Sắc lệnh số 193-SL, ngày 28-5-1948, lập Hội đồng sản xuất kỹ nghệ thuộc Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 194-SL, ngày 28-5-1948, bỏ Uỷ ban hộ đê trung ương và lập Uỷ ban bảo vệ đê điều các cấp.

– Sắc lệnh số 188-SL, ngày 29-5-1948, sửa đổi chế độ công chức và đặt các thang lương cho công chức.

– Sắc lệnh số 195-SL, ngày 1-6-1948, lập Ban vận động thi đua các cấp.

– Sắc lệnh số 197-SL, ngày 8-6-1948, về việc bổ nhiệm Tổng thanh tra và thanh tra các bộ.

– Sắc lệnh số 198-SL, ngày 13-6-1948, ấn định thủ tục thiết lập hoặc sửa đổi địa giới các đơn vị kháng chiến hành chính.

– Sắc lệnh số 201-SL, ngày 7-7-1948, thành lập “Ban thi hành chính sách bao vây kinh tế địch”.

– Sắc lệnh số 202-SL, ngày 7-7-1948, cử Đặc phái viên Chính phủ thi hành chính sách bao vây kinh tế địch.

– Sắc lệnh số 203-SL, ngày 7-7-1948, phong quân hàm Thiếu tướng cho ông Lê Thiết Hùng.

– Sắc lệnh số 199-SL, ngày 8-7-1948, ấn định đơn vị tiền tệ Việt Nam là “đồng”.

– Sắc lệnh số 200-SL, ngày 8-7-1948, về việc trưng tập các công chức tòng sự tại các công sở, kể cả các nhân viên Uỷ ban kháng chiến hành chính các cấp.

– Sắc lệnh số 205-SL, ngày 18-8-1948, ấn định thể lệ trục xuất ngoại kiều khỏi Việt Nam.

– Sắc lệnh số 206-SL, ngày 19-8-1948, thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao và xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng.

– Sắc lệnh số 207-SL, ngày 20-8-1948, cử ông Hoàng Đạo Thuý vào Ban vận động thi đua ái quốc trung ương.

– Sắc lệnh số 208-SL, ngày 20-8-1948, bỏ điều 2, điều 3 trong Sắc lệnh số 134-SL (24-7-1946) về phụ cấp hàng tháng cho Uỷ viên Uỷ ban hành chính các cấp.

– Sắc lệnh số 209-SL, ngày 20-8-1948, đổi một số quy định trong Sắc lệnh số 137-SL (24-7-1946) và ấn định phụ cấp hàng tháng cho nhân viên ở Vǎn phòng Chủ tịch Chính phủ và Vǎn phòng các Bộ trưởng, cử người vào Vǎn phòng Chủ tịch Chính phủ và Vǎn phòng các bộ.

– Sắc lệnh số 210-SL, ngày 20-8-1948, quy định việc bầu thư ký Uỷ ban kháng chiến hành chính xã, ấn định thành phần và nhiệm vụ của Ban thường vụ Uỷ ban kháng chiến hành chính xã.

– Sắc lệnh số 211-SL, ngày 20-8-1948, ấn định cách chỉ định các uỷ viên trong Uỷ ban kháng chiến hành chính xã, huyện, tỉnh trong vùng địch tạm chiếm.

– Sắc lệnh số 212-SL, ngày 20-8-1948, đặt xã Phúc Hoà (Nghi Lộc) và xã Xuân Triều (Thanh Chương) thuộc Nghệ An.

– Sắc lệnh số 213-SL, ngày 20-8-1948, cử người tạm kiêm chức Phó Đổng lý sự vụ Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 214-SL, ngày 20-8-1948, cử Chánh vǎn phòng Bộ Tổng chỉ huy kiêm Chánh vǎn phòng Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 215-SL, ngày 20-8-1948, quy định những quyền lợi đặc biệt cho những người nước ngoài có đóng góp vào cuộc kháng chiến của Việt Nam.

– Sắc lệnh số 216-SL, ngày 20-8-1948, đặt “Huân chương kháng chiến”, có 3 hạng: Nhất, Nhì, Ba.

– Sắc lệnh số 217-SL, ngày 20-8-1948, bổ sung điều 3 của Sắc lệnh số 180-SL (30-4-1948) về lưu hành và tàng trữ giấy bạc Đông Dương.

– Sắc lệnh số 218-SL, ngày 20-8-1948, sửa đổi thuế nhập nội các mặt hàng ngoại.

– Sắc lệnh số 219-SL, ngày 20-8-1948, về việc đặt “phụ thu kháng chiến”.

– Sắc lệnh số 220-SL, ngày 20-8-1948, quy định lại giá biểu các loại giá tem thuế.

– Sắc lệnh số 221-SL, ngày 20-8-1948, cho phép Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ Kinh tế được ban hành thể lệ đặc biệt hạn chế sự tự do buôn bán trong nội địa.

– Sắc lệnh số 222-SL, ngày 20-8-1948, cấm chỉ mọi hoạt động buôn bán với địch.

– Sắc lệnh số 223-SL, ngày 20-8-1948, sửa đổi Sắc lệnh số 53-SL, ngày 1-6-1947, về tổ chức Ngoại thương Cục.

– Sắc lệnh số 224-SL, ngày 20-8-1948, sửa đổi Sắc lệnh số 140-SL, ngày 29-2-1948 về thành lập Cục tiếp tế vận tải.

– Sắc lệnh số 225-SL, ngày 20-8-1948, cấp 20 triệu đồng cho Cục tiếp tế vận tải.

– Sắc lệnh số 226-SL, ngày 20-8-1948, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 227-SL và 228-SL, ngày 20-8-1948, bổ nhiệm hai Phó Đổng lý sự vụ Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 229-SL, ngày 20-8-1948, bổ nhiệm Giám đốc Nha khoáng chất kỹ nghệ (Bộ Kinh tế).

– Sắc lệnh số 230-SL, ngày 20-8-1948, sửa đổi về tổ chức Tư pháp công an.

– Sắc lệnh số 231-SL, ngày 20-8-1948, sửa đổi điều 3 của Sắc lệnh số 191-SL (16-2-1947), về tổ chức Toà án binh cấp khu.

– Sắc lệnh số 232-SL, ngày 20-8-1948, về việc ân giảm một số phạm nhân, nhân kỷ niệm Quốc khánh 2-9.

– Sắc lệnh số 233-SL, ngày 20-8-1948, bổ nhiệm Tổng Giám đốc tiểu học vụ.

– Sắc lệnh số 234-SL, ngày 20-8-1948, mở “Trường Y sĩ Việt Nam” đào tạo cán bộ y tế cho cơ quan dân y và quân y.

– Sắc lệnh số 235-SL, ngày 20-8-1948, bổ nhiệm Phó Đổng lý sự vụ Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 237-SL, ngày 26-8-1948, chuyển huyện Thuỷ Nguyên (tỉnh Kiến An) và huyện Nam Sách (tỉnh Hải Dương) từ Liên khu I về Liên khu III; sáp nhập trường bay Gia Lâm (thuộc tỉnh Bắc Ninh) vào thành phố Hà Nội và do Liên khu III quản lý.

– Sắc lệnh số 238-SL, ngày 28-8-1948, bổ nhiệm Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu VI.

– Sắc lệnh số 239-SL, ngày 28-8-1948, bổ nhiệm Chánh vǎn phòng Hội đồng Quốc phòng tối cao.

– Sắc lệnh số 240-SL, ngày 28-8-1948, cử Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu X.

– Sắc lệnh số 241-SL, ngày 12-10-1948, thành lập “Ban trung ương bao vây kinh tế địch”.

– Sắc lệnh số 242-SL, ngày 12-10-1948, sửa đổi một số điểm trong chương 1, 2, 3 Sắc lệnh số 20-SL (ngày 16-2-1947) về chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sĩ.

– Sắc lệnh số 243-SL, ngày 14-10-1948, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Lao động.

– Sắc lệnh số 244-SL, ngày 14-10-1948, trích 30 triệu đồng ở Quỹ toàn quốc cho Nha tín dụng sản xuất làm tiền quyên trợ (lần thứ hai).

– Sắc lệnh số 245-SL, ngày 14-10-1948, ấn định chế độ phụ cấp cho các vị trong Ban Thường vụ và Ban Thường trực Quốc hội.

– Sắc lệnh số 246-SL, ngày 14-10-1948, ấn định phụ cấp cho các Bộ trưởng, Thứ trưởng các Bộ và Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam.

– Sắc lệnh số 247-SL, ngày 14-10-1948, cho phép một kiều dân Đức được nhập quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 248-SL, ngày 14-10-1948, tặng Huân chương Quân công hạng Ba cho Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Quân giới Trần Đại Nghĩa.

– Sắc lệnh số 249-SL, ngày 14-10-1948, bổ nhiệm Khu trưởng, Khu phó khu IX.

– Sắc lệnh số 250-SL, ngày 14-10-1948, bổ nhiệm Liên Khu phó Liên khu I.

– Sắc lệnh số 252-SL, ngày 22-10-1948, bãi chức Giám đốc Ban pháp chế Bộ Lao động.

– Sắc lệnh số 253-SL, ngày 22-10-1948, chuẩn y để ông Lê Xuân Hưu từ chức Phó Đổng lý sự vụ Bộ Thương binh và Cựu binh.

– Sắc lệnh số 254-SL, ngày 19-11-1948, quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, cách làm việc, sự phân công của tổ chức chính quyền nhân dân các cấp.

– Sắc lệnh số 255-SL, ngày 19-11-1948, quy định về tổ chức và cách làm việc của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban kháng chiến hành chính trong vùng địch tạm kiểm soát hoặc uy hiếp.

– Sắc lệnh số 256-SL, ngày 19-11-1948, quy định Bộ trưởng Quốc phòng có quyền phát hành “Quân dụng phiếu” trong thời chiến.

– Sắc lệnh số 257-SL, ngày 19-11-1948, cấm mọi sự tích trữ có tính đầu cơ hàng hoá thiết yếu.

– Sắc lệnh số 257B-SL, ngày 19-11-1948, ấn định thể lệ truy tố tội vi phạm thể lệ mậu dịch với vùng địch tạm chiếm.

– Sắc lệnh số 258-SL, ngày 19-11-1948, quy định tổ chức công an quân pháp.

– Sắc lệnh số 259-SL, ngày 19-11-1948, ấn định mức sinh hoạt phí tối thiểu cho quân nhân mỗi ngày và mức phụ cấp hàng tháng (theo cấp bậc).

– Sắc lệnh số 260-SL, ngày 19-11-1948, bổ nhiệm Đổng lý vǎn phòng Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 261-SL, ngày 19-11-1948, ấn định mức lương cho những người không phải công chức đang làm việc tại các cơ quan bộ, kỳ, khu và tỉnh.

– Sắc lệnh số 262-SL, ngày 20-11-1948, ấn định biểu thuế điền thổ nǎm 1948.

– Sắc lệnh số 262B-SL, ngày 22-11-1948, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 263-SL, ngày 28-11-1948, sáp nhập huyện Gia Lâm (Liên khu I) vào Liên khu III.

– Sắc lệnh số 264-SL, ngày 19-11-1948, bổ khuyết về tổ chức Toà án binh.

– Sắc lệnh số 265-SL, ngày 10-12-1948, quy định Uỷ ban kháng chiến hành chính Hà Nội là một Uỷ ban kháng chiến hành chính thành phố, thuộc Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu III.

NǍM 1949

– Sắc lệnh số 1-SL, ngày 10-1-1949, thay đổi địa giới một số xã và huyện của tỉnh Hải Dương.

– Sắc lệnh số 2-SL, ngày 1-2-1949, thành lập Trường cao đẳng Mỹ thuật.

– Sắc lệnh số 3-SL, ngày 1-2-1949, bổ nhiệm Phó Cục trưởng Cục chính trị (Bộ Quốc phòng).

– Sắc lệnh số 4-SL, ngày 1-2-1949, bổ nhiệm Phó Cục trưởng Cục tình báo (Bộ Quốc phòng).

– Sắc lệnh số 5-SL, ngày 1-2-1949, bổ nhiệm Chánh vǎn phòng Bộ Quốc phòng kiêm Chánh vǎn phòng Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam.

– Sắc lệnh số 6-SL, ngày 25-2-1949, ấn định việc chi thu nǎm 1949.

– Sắc lệnh số 7-SL, ngày 25-2-1949, cho phép một kiều dân Trung Hoa được nhập quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 8-SL, ngày 25-2-1949, cấm bán quá giá tối đa do Chính phủ quy định với những mặt hàng thiết yếu cho đời sống và công cuộc kháng chiến.

– Sắc lệnh số 9-SL, ngày 25-2-1949, ấn định một số nguyên tắc tổ chức doanh nghiệp quốc gia.

– Sắc lệnh số 10-SL, ngày 8-3-1949, cử Giám đốc Nha bình dân học vụ.

– Sắc lệnh số 12-SL, ngày 12-3-1949, trừng trị tội ǎn cắp các đồ quân giới, quân trang, quân dụng.

– Sắc lệnh số 13-SL, ngày 12-3-1949, chuyển huyện Kinh Môn Liên khu I về tỉnh Hải Dương (Liên khu III).

– Sắc lệnh số 14-SL, ngày 12-3-1949, đổi tên Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam thành Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam; các bộ chỉ huy Liên khu quân sự thành Bộ Tư lệnh Liên khu; Tổng chỉ huy gọi là Tổng tư lệnh; Liên khu trưởng gọi là Tư lệnh Liên khu.

– Sắc lệnh số 15-SL, ngày 12-3-1949, hợp nhất hai xã Phú Thịnh (Hưng Nguyên) và xã Nam Cường (Nam Đàn) thành xã Nam Hưng thuộc huyện Nam Đàn (Nghệ An).

– Sắc lệnh số 16-SL, ngày 12-3-1949, việc xá thuế điền thổ nǎm 1948 cho một huyện ở nam tỉnh Bắc Ninh.

– Sắc lệnh số 18-SL, ngày 12-3-1949, cử Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 19-SL, ngày 21-3-1949, cử Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 20-SL, ngày 21-3-1949, cử Chính trị uỷ viên Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 26-SL, ngày 25-4-1949, sửa đổi thể lệ truy tố tội quan hệ mậu dịch với vùng địch tạm chiếm.

– Sắc lệnh số 27-SL, ngày 25-4-1949, thay đổi giá tem thuế biên lai.

– Sắc lệnh số 28-SL, ngày 25-4-1949, cho phép một kiều dân Pháp được nhập quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 29-SL, ngày 25-4-1949, bổ sung điều 5 Sắc lệnh số 254-SL (19-11-1948) về điều kiện bầu lại Hội đồng nhân dân tỉnh.

– Sắc lệnh số 30-SL, ngày 25-4-1949, bác đơn xin ân xá án tử hình của một tội nhân.

– Sắc lệnh số 31-SL, ngày 25-4-1949, bổ nhiệm Đổng lý vǎn phòng Bộ Quốc gia giáo dục.

– Sắc lệnh số 32-SL, ngày 25-4-1949, tặng Huân chương Độc lập các hạng, Huân chương kháng chiến hạng Nhất cho một số tập thể và cá nhân.

– Sắc lệnh số 33-SL, ngày 25-4-1949, sáp nhập Nha thống kê (Bộ Kinh tế) vào Chủ tịch phủ.

– Sắc lệnh số 34-SL, ngày 25-4-1949, cử Giám đốc Nha thống kê.

– Sắc lệnh số 36-SL, ngày 25-4-1949, thành lập “Quỹ tham gia kháng chiến”.

– Sắc lệnh số 37-SL, ngày 11-5-1949, đặt Uỷ ban kháng chiến hành chính Hà Nội trực thuộc Chính phủ trung ương.

– Sắc lệnh số 38-SL, ngày 21-5-1949, duyệt y Ngân sách toàn quốc tài khoá 1949.

– Sắc lệnh số 39-SL, ngày 21-5-1949, cho phép phát hành tem thư có hình Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Sắc lệnh số 40-SL, ngày 21-5-1949, chỉ định Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu I.

– Sắc lệnh số 44-SL, ngày 21-5-1949, chỉ định Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu IV.

– Sắc lệnh số 46-SL, ngày 7-6-1949, chỉ định Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung Bộ.

– Sắc lệnh số 47-SL, ngày 7-6-1949, lập xã Phong Chương, huyện Phong Điền (Thừa Thiên).

– Sắc lệnh số 48-SL, ngày 7-6-1949, sáp nhập huyện Lộc Bình (tỉnh Hải Ninh) vào tỉnh Lạng Sơn.

– Sắc lệnh số 49-SL, ngày 18-6-1949, ban hành Bộ luật thuế trực thu áp dụng trong toàn quốc từ 1-1-1950.

– Sắc lệnh số 50-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Đổng lý quân vụ Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 52-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 53-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Chánh vǎn phòng Bộ Quốc phòng kiêm Chánh vǎn phòng Bộ Tổng tư lệnh.

– Sắc lệnh số 54-SL, ngày 18-6-1949, cử quyền Tổng tham mưu phó Bộ Tổng tham mưu.

– Sắc lệnh số 55-SL, ngày 18-6-1949, cử Giám đốc Nha quân giới, Nha quân dược, Nha quân nhu.

– Sắc lệnh số 56-SL, ngày 18-6-1949, cử Cục trưởng Cục quân chính, Cục quân nhu, Cục công binh, Cục thông tin liên lạc.

– Sắc lệnh số 57-SL, ngày 18-6-1949, cử Bộ chỉ huy Đại đoàn 308.

– Sắc lệnh số 58-SL, ngày 18-6-1949, bãi bỏ Sắc lệnh số 241-SL ngày 12-10-1948 về việc lập Ban trung ương bao vây kinh tế địch.

– Sắc lệnh số 59-SL, ngày 18-6-1949, bãi bỏ thể lệ hiện hành về sản xuất diêm tiêu.

– Sắc lệnh số 60-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Chánh vǎn phòng Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 61-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Phó Đổng lý sự vụ Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 62-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 63-SL, ngày 18-6-1949, quy định nǎm 1949 vẫn giữ nguyên các biểu thuế áp dụng nǎm 1948.

– Sắc lệnh số 64-SL, ngày 18-6-1949, sáp nhập Nha địa chính và các cơ quan phụ thuộc vào Bộ Tài chính.

– Sắc lệnh số 65-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Phó Đổng lý sự vụ Bộ Tài chính.

– Sắc lệnh số 66-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Chánh vǎn phòng Bộ Tài chính.

– Sắc lệnh số 67-SL, ngày 18-6-1949, định nguyên tắc kiểm soát nguyên liệu cho ngành quân giới.

– Sắc lệnh số 68-SL, ngày 18-6-1949, ấn định kế hoạch thực hiện công tác thuỷ nông, thể lệ bảo vệ công trình thuỷ nông.

– Sắc lệnh số 69-SL, ngày 18-6-1949, cho phép bị can nhờ một công dân không phải luật sư bào chữa.

– Sắc lệnh số 70-SL, ngày 18-6-1949, tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba cho Cục phó Cục quân giới.

– Sắc lệnh số 71-SL, ngày 18-6-1949, bãi bỏ thuế tổng nội sản xuất.

– Sắc lệnh số 72-SL, ngày 18-6-1949, thành lập Hội đồng tu luật.

– Sắc lệnh số 73-SL, và số 74-SL, ngày 27-6-1949, về ân giảm hai án tử hình.

– Sắc lệnh số 75-SL, ngày 1-7-1949, quyết định sung vào Nhà nước ruộng đất và tài sản của phạm nhân bị kết tội làm phương hại đến nền độc lập quốc gia.

– Sắc lệnh số 76-SL, ngày 1-7-1949, quy định quyền hạn sửa đổi tạm thời các đơn vị kháng chiến hành chính.

– Sắc lệnh số 78-SL, ngày 14-7-1949, ấn định giảm mức địa tô và lập Hội đồng giảm tô cấp tỉnh.

– Sắc lệnh số 79-SL, ngày 14-7-1949, chỉ định chế độ thuế trực thu tạm thời đối với ngoại kiều.

– Sắc lệnh số 80-SL, ngày 16-7-1949, chỉ định Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Hà Nội.

– Sắc lệnh số 83-SL, ngày 2-8-1949, bổ nhiệm Phó Tư lệnh Liên khu III.

– Sắc lệnh số 84-SL, ngày 2-8-1949, bổ nhiệm Tư lệnh Liên khu IV.

– Sắc lệnh số 85-SL, ngày 2-8-1949, bổ nhiệm Giám đốc Nha quân giới nay kiêm chức Cục trưởng Cục pháo binh.

– Sắc lệnh số 86-SL, ngày 2-8-1949, bổ nhiệm Phó Đổng lý quân vụ Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 87-SL, ngày 2-8-1949, sửa đổi điều 2 Sắc lệnh số 206-SL, ngày 19-8-1948, về thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao.

– Sắc lệnh số 88-SL, ngày 2-8-1949, sửa đổi điều 8 của Sắc lệnh số 131-SL (20-6-1946) về khám nhà khi phạm pháp quả tang; sửa điều 2, điều 6 Sắc lệnh số 13 (24-1-1946) về lập biên bản khám nhà.

– Sắc lệnh số 89-SL, ngày 2-8-1949, bãi bỏ chức Tổng thanh tra Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 90-SL, ngày 2-8-1949 cử Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Hà Nội.

– Sắc lệnh số 91-SL, ngày 2-8-1949, bổ nhiệm Chánh Vǎn phòng Bộ Giao thông công chính.

– Sắc lệnh số 92-SL, ngày 2-8-1949, cho phép ông Hoàng Thiếu Sơn thôi chức Chánh vǎn phòng Bộ Quốc gia giáo dục.

– Sắc lệnh số 93-SL, ngày 2-8-1949, lập Hội đồng xét cấp bậc cho quân nhân.

– Sắc lệnh số 95-SL, ngày 13-8-1949, đặt ngạch Thanh tra lao động và Kiểm soát lao động.

– Sắc lệnh số 96-SL, ngày 17-8-1949, ân xá một án tử hình cho phạm nhân.

– Sắc lệnh số 97-SL, ngày 19-8-1949, cử Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu IV.

– Sắc lệnh số 98-SL, ngày 20-8-1949, ân giảm hai án tử hình cho phạm nhân.

– Sắc lệnh số 99-SL, ngày 20-8-1949, bác đơn xin ân giảm án tử hình của nguyên Trưởng ty công an tỉnh Hà Nam.

– Sắc lệnh số 102-SL, ngày 4-9-1949, lập Hội đồng Giáo dục.

– Sắc lệnh số 103-SL, ngày 4-9-1949, quy định Nhà máy phốt phát Nghệ An là một doanh nghiệp quốc gia.

– Sắc lệnh số 104-SL, ngày 4-9-1949, cấp thêm 50 triệu đồng cho Cục tiếp tế vận tải.

– Sắc lệnh số 105 – SL, ngày 9-9-1949, bãi bỏ Sắc lệnh số 246-SL (14-10-1948) và ấn định mức phí hàng tháng của các vị trong Chính phủ.

– Sắc lệnh số 106 -SL, ngày 9-9-1949, bãi bỏ Sắc lệnh số 245-SL (14-10-1948) và ấn định mức phí cấp hàng tháng của các vị trong Ban thường trực Quốc hội.

– Sắc lệnh số 108 -SL, ngày 23-9-1949, bãi bỏ Hội đồng sản xuất kỹ nghệ (Bộ Kinh tế).

– Sắc lệnh số 109 -SL, ngày 23-9-1949, bổ sung về việc truy tố tội vi phạm thể lệ mậu dịch với vùng địch tạm chiếm.

– Sắc lệnh số 110 -SL, ngày 23-9-1949, lập Ban cǎn cứ địa Việt Bắc.

– Sắc lệnh số 111 -SL, ngày 6-10-1949, cấp cho Nha tín dụng sản xuất 30 triệu đồng làm Quỹ quyên trợ (lần thứ 3).

– Sắc lệnh số 114 -SL, ngày 18-10-1949, cử Chính trị uỷ viên Liên khu III.

– Sắc lệnh số 115-SL, ngày 18-10-1949, chỉ định một số cán bộ vào Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 116- -SL, ngày 18-10-1949, cử ông Cục trưởng Cục dân quân kiêm chức Cục trưởng Cục chính trị.

– Sắc lệnh số 117 -SL, ngày 18-10-1949, sửa đổi điều 7 Sắc lệnh số 131 -SL, ngày 20-7-1946 về việc khám nhà tư nhân ban đêm.

– Sắc lệnh số 118 -SL, ngày 18-10-1949, thành lập Uỷ ban xí nghiệp tại các xí nghiệp Nhà nước

– Sắc lệnh số 119 -SL, ngày 20-10-1949, cử Chính trị uỷ viên Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 120 -SL, ngày 20-10-1949, đặt một ban Cố vấn bên cạnh Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 121 -SL, ngày 20-10-1949, sửa điều 4 sắc lệnh số 33 – SL, (22-3-1946) quy định cấp bậc, quân phục, phù hiệu, cấp hiệu cho quân đội; ấn định quyền hạn của từng cấp trong việc định cấp bậc cho quân nhân.

– Sắc lệnh số 122 – SL, ngày 21-10-1949, bổ sung điều 1 Sắc lệnh số 26 – SL (25-4-1949) truy tố tội vi phạm thể lệ quan hệ mậu dịch với vùng địch bị tạm chiếm.

– Sắc lệnh số 123 – SL, ngày 27-10-1949, quy định điều kiện những người được chữa bệnh theo Tây y.

– Sắc lệnh số 124 – SL, ngày 27-10-1949, quy định điều kiện cho phép những người muốn mở hiệu thuốc chữa bệnh theo Tây y.

– Sắc lệnh số 126 – SL, ngày 4-11-1949, quy định nghĩa vụ quân sự cho nam công dân từ 18 đến 45 tuổi.

– Sắc lệnh số 127 – SL, ngày 4-11-1949, hợp nhất Liên khu I và Liên khu X thành Liên khu Việt Bắc, lập Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc.

– Sắc lệnh số 128 – SL, ngày 4-11-1949, cử thành viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc.

– Sắc lệnh số 129 – SL, ngày 4-11-1949 cử cố vấn ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc.

– Sắc lệnh số 130 – SL, ngày 7-11-1949, sáp nhập một số huyện thuộc tỉnh Kiến An và tỉnh Hải Dương vào tỉnh Quảng Yên.

– Sắc lệnh số 131 – SL, ngày 7-11-1949, trả huyện Gia Lâm về tỉnh Bắc Ninh.

– Sắc lệnh số 134 -SL, ngày 22-11-1949, cử cán bộ vào Bộ Tư lệnh quân đội địa phương và dân quân Liên khu Việt Bắc.

– Sắc lệnh số 135 -SL, ngày 25-11-1949, bỏ điều 9 Sắc lệnh số 254- SL (19-11-1949) về thẩm quyền bãi miễn của Hội đồng nhân dân xã và tỉnh và thay bằng điều 9 mới.

– Sắc lệnh số 136 -SL, ngày 29-11-1949, ấn định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân thị xã và thành phố.

– Sắc lệnh số 138 -SL, ngày 14-12-1949, cho phép một kiều dân Trung Hoa được nhập quốc tịch Việt Nam .

– Sắc lệnh số 138b -SL, ngày 18-12-1949, lập Ban thanh tra Chính phủ trực thuộc Phủ Thủ tướng.

– Sắc lệnh số 138c -SL, ngày 18-12-1949, cử cán bộ vào Ban thanh tra Chính phủ.

– Sắc lệnh số 140 -SL, ngày 21-12-1949, sửa đổi một số điều trong Sắc lệnh số 71 -SL (22-5-1945) về tổ chức và ấn định quy tắc Quân đội quốc gia Việt Nam.

– Sắc lệnh số 141 -SL, ngày 21-12-1949, bãi bỏ Nha hưu bổng và giao các vấn đề về hưu bổng cho Vǎn phòng Bộ Tài chính.

– Sắc lệnh số 142 -SL, ngày 21-12-1949, quy định các Trưởng hạt, Trưởng liên hạt lâm chính có tư cách như Uỷ viên tư pháp công an.

– Sắc lệnh số 143 -SL, ngày 21-12-1949, đổi tên Nha thương vụ và Nha khoáng chất kỹ nghệ (Bộ Kinh tế) thành Nha thương mại và Nha kỹ nghệ.

– Sắc lệnh số 144 -SL, ngày 21-12-1949, sửa điều 1 Sắc lệnh số 69- SL (18-6-1949) về quyền bào chữa của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 145 -SL, ngày 22-12-1949, lập Nha y tế thôn quê trong Bộ Y tế và ấn định nhiệm vụ của Nha.

– Sắc lệnh số 146 -SL, ngày 24-12-1949, ấn định mức thuế điền thổ nǎm 1950.

– Sắc lệnh số 147 -SL, ngày 26-12-1949, quy định quyền hạn đặc biệt của cấp chỉ huy quân đội đối với các Uỷ ban kháng chiến hành chính trong những vùng đang có chiến sự.

– Sắc lệnh số 148 -SL, ngày 30-12-1949, bãi bỏ Sắc lệnh số 135 -SL (24-7-1946) và ấn định mức chi phí tiếp tân cho các cấp chính quyền nhân dân, từ Ban Thường trực Quốc hội đến Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện và thị xã.

– Sắc lệnh số 149 -SL, ngày 30-12-1949, tặng Huân chương Độc lập, Huân chương Kháng chiến nhân kỷ niệm ba nǎm toàn quốc kháng chiến.

– Sắc lệnh số 150 -SL, ngày 31-12-1949, bổ sung quyền hạn và nhiệm vụ của Bộ trưởng Bộ Nội vụ đối với Uỷ ban kháng chiến hành chính các cấp.

cpv.org.vn

Hồ Chí Minh toàn tập – Lời giới thiệu tập 6

Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 6 gồm những bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngày 1-1-1950 đến cuối tháng 12-1952. Đây là thời kỳ cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp đang chuyển mạnh từ thế cầm cự sang thế phản công tích cực để tiến tới tổng phản công.

Thất bại trong chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh, thực dân Pháp phải cầu cứu đế quốc Mỹ. Với sự giúp đỡ của Mỹ, Pháp thi hành chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Chúng củng cố nguỵ quyền, nguỵ quân, mở rộng lấn chiếm ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, phong toả biên giới, bao vây cǎn cứ địa Việt Bắc, vừa tǎng cường phòng thủ vùng đồng bằng Bắc Bộ, vừa tìm cách phản công, để giành lại quyền chủ động chiến lược đã mất.

Tập 6 thể hiện rõ những tư tưởng, chủ trương, hoạt động rộng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đối nội, đối ngoại để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đẩy cuộc kháng chiến tiến mạnh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích đúng tình hình, tương quan lực lượng giữa phe dân chủ, cách mạng và phe đế quốc, phản động trên phạm vi toàn thế giới. Người chỉ rõ, lực lượng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ hoà bình đã hình thành một mặt trận thống nhất thế giới, gồm Liên Xô, Trung Quốc, các nước Đông Âu, do Liên Xô lãnh đạo, nhiều nước vừa giành được độc lập về chính trị, nhân dân yêu chuộng hoà bình và tiến bộ trên thế giới. Đó là một lực lượng rất mạnh, là đồng minh to lớn cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Phe phản dân chủ do Mỹ cầm đầu, gồm Mỹ, Anh, Pháp và các thế lực phản động tay sai của chúng. Mỹ thi hành chính sách Tơruman, kế hoạch Mácsan, lập khối Bắc Đại Tây Dương, vũ trang Tây Đức, Nhật Bản, lôi kéo các chính phủ phản động ở châu á vào khối Thái Bình Dương, thi hành chính sách “dùng người châu á đánh người châu á”, phá hoại phong trào giải phóng dân tộc. ở Việt Nam, từ ngày bắt đầu chiến tranh, Mỹ đã ra sức giúp giặc Pháp. Từ nǎm 1950, Mỹ tiến thêm một bước là trực tiếp can thiệp vào nước ta. Cho nên ta đã có “một kẻ địch chính là giặc Pháp lại thêm một kẻ địch nữa là bọn can thiệp Mỹ(tr.81). Trong thời kỳ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú ý phân tích chính sách và những hoạt động của Mỹ trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, vǎn hoá nhằm làm rõ âm mưu, bản chất, thủ đoạn của đế quốc Mỹ, chỉ ra những chỗ yếu, những mâu thuẫn trong nội bộ của chúng nhằm đánh tan tư tưởng phục Mỹ, sợ Mỹ còn rơi rớt trong một bộ phận nhân dân ta.

Tại Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách đặt ra cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.

Người khẳng định nhiệm vụ của Đảng Lao động Việt Nam trong giai đoạn này là “đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội” (tr.174). Để thực hiện được nhiệm vụ này, Người nêu ra phương châm, nguyên tắc và những biện pháp xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức nhằm rèn luyện Đảng ta thành một “đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để” (tr.174), xứng đáng là một chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, làm cho Đảng trở thành nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Người vạch rõ: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam” (tr.175). Với sứ mệnh to lớn, vẻ vang, toàn Đảng, cũng như mỗi đảng viên phải có trách nhiệm xung phong gương mẫu, làm cho dân tin Đảng, yêu Đảng, làm theo chính sách của Đảng và Chính phủ, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường.

Bên cạnh việc xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo sát sao việc chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương, chú trọng ngành công an, tư pháp, kinh tế tài chính, vǎn hoá, giáo dục, sửa đổi và thống nhất phương pháp công tác cho cán bộ. Nǎm 1952, Người phát động phong trào tẩy trừ bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí, làm cho bộ máy chính quyền trong sạch, thật sự là chính quyền của dân, do dân và vì dân. Người rất quan tâm việc đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc nhằm động viên đến mức cao tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Pháp thắng lợi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương phát triển lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Chỉ đạo việc xây dựng và phát triển quân đội, Người vạch rõ: “Phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị và quân sự trong bộ đội ta. Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao kỷ luật tự giác của bộ đội ta. Phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân” (tr.171), “một quân đội vô địch”. Đồng thời, Người chỉ rõ: “Phải phát triển và củng cố dân quân du kích về các mặt: tổ chức, huấn luyện, chỉ đạo và sức chiến đấu. Phải làm cho lực lượng của dân quân du kích thành những tấm lưới sắt rộng rãi và chắc chắn, chǎng khắp mọi nơi, địch mò đến đâu là mắc lưới đến đó” (tr.171). Đảng ta chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích ở mặt trận sau lưng địch, đồng thời chỉ đạo bộ đội chủ lực tiến lên đánh vận động, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, đánh vận động song song với đánh du kích trên cả hai mặt trận trước mặt địch, sau lưng địch và phối hợp chặt chẽ hai mặt trận ấy với nhau, nhằm phân tán lực lượng, làm rối loạn kế hoạch của địch trên khắp các chiến trường, tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng đất đai.

Tại Hội nghị chiến tranh du kích, Người vạch rõ mục đích của chiến tranh du kích “không phải là ǎn to đánh lớn mà phải tỉa dần, đánh làm cho nó ǎn không ngon, ngủ không yên, không thở được, bị hao mòn về tinh thần và vật chất rồi đi đến chỗ bị tiêu diệt” (tr.525). Cần có sự phối hợp hành động giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Bộ đội chủ lực phải giúp đỡ bộ đội địa phương và dân quân du kích về tổ chức, huấn luyện mọi mặt. Cả ba thứ quân đều phải “bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại”. Phải biết bảo vệ, giáo dục, giúp đỡ, vận động nhân dân. Làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu, thì việc gì cũng làm được và nhất định thắng lợi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đề ra những quyết định lớn chỉ đạo chiến lược chiến tranh, phương châm tác chiến, mà còn trực tiếp chỉ đạo cụ thể về chiến thuật và chiến dịch. Người uốn nắn những khuynh hướng nóng vội, muốn đánh to, ǎn to khi chưa đủ điều kiện, chỉ rõ trong tác chiến phải phát huy tinh thần, ưu thế chính trị để đánh địch, dũng cảm, chủ động tìm địch mà đánh, tranh thủ thời gian, chớp thời cơ, bí mật, bất ngờ tiến công địch, hễ đánh là phải quyết thắng. Người giáo dục cán bộ trong quân đội, “từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải sǎn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ǎn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ǎn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng” (tr.207). Sự quan tâm, chỉ đạo đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đối với việc xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh quân sự có ý nghĩa quyết định thắng lợi của các chiến dịch Hoà Bình, Tây Bắc và thắng lợi của các chiến trường khác trong cả nước. Các lực lượng vũ trang ta tiến bộ rõ rệt trong đánh du kích, đánh vận động, tiến tới đánh công kiên, có khả nǎng khắc phục được khó khǎn về tiếp tế, để đánh lớn ở các chiến trường đồng bằng, trung du và rừng núi, xa hậu phương.

Cùng với tiến công địch trên mặt trận quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đẩy mạnh hoạt động ngoại giao. Thực hiện phương châm thêm bạn bớt thù, muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ, không gây oán thù với bất cứ ai, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố rõ quan điểm đối ngoại của Chính phủ ta với chính phủ các nước trên thế giới: “Cǎn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hoà

bình và xây đắp dân chủ thế giới” (tr.8). Sau tuyên bố của Người, chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa và dân chủ mới lần lượt chính thức công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ ta. Thắng lợi ngoại giao này thực sự đưa lại sức mạnh ủng hộ to lớn của phe dân chủ và hoà bình trên thế giới với nhân dân ta. Sức mạnh tự lực tự cường của dân tộc được kết hợp với sức mạnh đoàn kết quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến mau tới thắng lợi.

Vừa nhận sự giúp đỡ của các nước bạn và nhân dân thế giới, Người vừa nêu cao tinh thần quốc tế chân chính trong việc giúp đỡ, đoàn kết với các dân tộc Miên, Lào cùng kháng chiến. Tư tưởng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong Mặt trận dân tộc thống nhất, tiến tới xây dựng khối đại đoàn kết ba dân tộc Việt – Miên – Lào chiến đấu vì độc lập tự do của mỗi nước, thể hiện sâu sắc trong bài nói của Người tại buổi khai mạc Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt và nhiều bài khác. Người khẳng định: “Dân tộc Việt đại đoàn kết, dân tộc Miên đại đoàn kết, dân tộc Lào đại đoàn kết. Rồi đây chúng ta nhất định đi đến Việt – Miên – Lào đại đoàn kết. Với sự đồng tâm nhất trí của ba dân tộc anh em, với sức đại đoàn kết của ba dân tộc anh em, chúng ta nhất định đánh tan lũ thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ” (tr.181).

Các bài nói, bài viết và cả những bài thơ chữ Hán, chữ Việt của Người được in trong tập sách này, đã làm rõ thêm hình ảnh Bác Hồ, một người cách mạng giản dị, cần lao, tranh đấu, đồng cam cộng khổ với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta trong kháng chiến, một tấm gương mẫu mực về những đức tính quý báu: Trung với nước, hiếu với dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Người kiên quyết chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc, đồng thời có lòng nhân ái bao la, có muôn vàn tình thương yêu với bộ đội, chiến sĩ, đồng bào đang đau khổ trong vùng tạm bị chiếm, với các em bé thiếu nhi, các thương binh liệt sĩ. Người có lòng khoan dung đối với những tù, hàng binh và những người lầm đường lạc lối. Người sẵn sàng mở cho Pháp lối thoát danh dự để kết thúc chiến tranh.

*

*      *

Trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 6, xuất bản lần thứ hai, các bài nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều được đối chiếu với bản gốc hoặc bản công bố lần đầu tiên trên các sách báo từ 1950 đến nay.

Phần Phụ lục, có danh mục các sắc lệnh và quyết định do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký trong thời gian 1950-1952 và một số tài liệu ghi lại lời phát biểu của Người.

Do công tác lưu trữ trong thời kỳ kháng chiến có nhiều khó khǎn, thời gian chuẩn bị bản thảo của chúng tôi còn bị hạn chế, nên trong việc sưu tầm, đối chiếu, xác minh, chú thích tài liệu của tập này chắc chắn không tránh khỏi còn thiếu sót. Chúng tôi mong nhận được ý kiến xây dựng của bạn đọc xa gần.

cpv.org.vn


Bạn muốn download trọn bộ Hồ Chí Minh toàn tập
Tập 6 (1953 – 1955) hãy nhấn vào đây Down load

Thư chúc mừng nǎm mới (1-1950)

Cùng đồng bào toàn quốc,

Cùng toàn thể chiến sĩ,

Cùng tất cả cán bộ,

Cùng các cháu thanh niên và nhi đồng,

Nhân dịp Tết dương lịch, tôi thay mặt Chính phủ chúc đồng bào, chiến sĩ, cán bộ và các cháu nǎm mới.

Trong nǎm 1950, cuộc kháng chiến sẽ bước sang giai đoạn mới. Vì vậy, mỗi một công dân Việt Nam, mỗi một chiến sĩ Việt Nam phải đưa tất cả tinh thần và lực lượng mới vào cuộc Thi đua ái quốc, để chuẩn bị mau chóng đầy đủ đặng chuyển sang tổng phản công.

Nǎm mới là một nǎm quyết định.

Mỗi người, mỗi ngành, mỗi nơi đều phải cố gắng làm tròn bổn phận, thì nǎm mới chắc là một nǎm đại thắng lợi.

Tôi mong rằng mỗi một đồng bào, mỗi một chiến sĩ, mỗi một cán bộ và mỗi một cháu sẽ chúc Tết Chính phủ và tôi bằng một lời hứa kiên quyết rằng:

“Tôi hứa sẽ kiên quyết làm tròn nhiệm vụ, để làm cho nǎm mới là nǎm thắng lợi hoàn toàn”.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Báo Sự thật, số 126, ngày 6-1-1950.
cpv.org.vn

Thư gửi Đại hội công đoàn toàn quốc (1-1950)

Gửi Đại hội công đoàn toàn quốc,

Nhân dịp Đại hội, tôi gửi lời thân ái chúc các đại biểu mạnh khoẻ và Đại hội có kết quả thiết thực tốt đẹp. Trong cuộc kháng chiến của dân tộc, giai cấp công nhân ta đã gánh một phần quan trọng và đã có những thành tích vẻ vang. Từ nay giai cấp công nhân ta ắt phải cố gắng hơn nữa. Theo ý tôi, những việc chính mà Đại hội phải làm là:

– Tổ chức và huấn luyện toàn thể công nhân, trong vùng tự do và trong vùng tạm bị địch chiếm.

– Lãnh đạo công nhân xung phong thi đua ái quốc và chuẩn bị tổng phản công.

– Đi đến tổ chức toàn thể lao động bằng đầu óc cũng như lao động bằng chân tay.

– Giúp đỡ và lãnh đạo nông dân về mọi mặt.

– Liên lạc mật thiết với công nhân thế giới, trước hết là với công nhân Trung Hoa và công nhân Pháp.

Trong công việc kháng chiến và kiến quốc, trong sự nghiệp xây

dựng nền dân chủ mới, giai cấp công nhân phải là người lãnh đạo. Vì vậy, mỗi nam, nữ công nhân phải cố gắng học hỏi, tiến bộ, phải cố gắng xung phong làm kiểu mẫu trong mọi việc để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của giai cấp mình.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1479, ngày 23-2-1950.
cpv.org.vn

Bệnh máy móc (6-1-1950)

Một nhóm thợ đóng một cỗ xe ngựa rất khéo. Nhưng đóng rồi thì không dùng được. Vì cỗ xe to quá, đưa ra cửa phòng không lọt.

Nghe câu chuyện đó, ai không cười những người thợ kia là ngốc.

Song sự thật thì một số cán bộ ta vẫn thường “khoá cửa đóng xe” như những người thợ kia. Đó là họ mắc bệnh máy móc.

Vài thí dụ:

– Một đoàn thể kia báo cáo rằng: 85 phần trǎm hội viên đã được huấn luyện. Tài thật! Nhưng khi xét lại, thì chương trình huấn luyện vẫn là “ba giai đoạn, bốn mâu thuẫn”, và 85 phần trǎm hội viên được huấn luyện kia vẫn không hiểu rõ công việc thiết thực của mình là gì.

– Một xã kia có đến 25 chương trình thi đua. Mỗi đoàn thể, mỗi ngành trong xã đều có một chương trình riêng, và không chương trình nào ǎn khớp nhau hết. Kết quả là thi đua không có… kết quả.

– Tỉnh A báo cáo rằng: Phụ nữ toàn tỉnh góp quỹ Tham gia kháng chiến, và tỉnh có mấy vạn nữ du kích.

Xét ra thì thấy rằng: Tỉnh ấy đã ra lệnh bắt phụ nữ góp, và bắt phụ nữ có 3,4 con mọn cũng phải đi tập “một, hai”.

Kết quả là không bằng tỉnh B đã biết dùng cách tuyên truyền giải thích cho nên phụ nữ đã xung phong góp quỹ nhiều hơn, và nữ du kích thì mạnh mẽ hơn.

– Khu nọ, trong một mùa đã có đến 450 cuộc đại hội. Đại hội chứ không phải hội nghị tầm thường đâu nhé! Kết quả là các cán

bộ chỉ lo đi khai hội mà hết cả thời giờ, đến nỗi mọi công việc bị chậm trễ.

Bệnh máy móc ấy do đâu mà ra?

– Nó do bệnh chủ quan mà ra. Nó sẽ có hại gì?

– Nó sẽ làm hỏng công việc. Muốn chữa khỏi bệnh máy móc thì phải dùng cách gì?

– Đây là đơn thuốc chữa bệnh máy móc: bất kỳ việc to việc nhỏ:

Phải xem xét kỹ lưỡng,

Phải bàn bạc kỹ lưỡng,

Phải hỏi dân kỹ lưỡng,

Phải giải thích kỹ lưỡng cho dân,

Phải luôn luôn gần gụi dân.

Mong rằng các cán bộ ta cố gắng chữa hết bệnh máy móc thì mọi việc sẽ đều thành công mau chóng.

A.G.

Báo Sự thật, số 126, ngày 6-1-1950.
cpv.org.vn

Chúc mừng Thống chế Xtalin thọ 70 tuổi (6-1-1950)

Nhân dịp mừng thọ Thống chế Xtalin 70 tuổi, nhân danh nhân dân Việt Nam, Chính phủ Việt Nam và nhân danh cá nhân, tôi kính chúc Thống chế hạnh phúc và trường thọ.

HỒ CHÍ MINH

Báo Sự thật, số 126, ngày 6-1-1950
cpv.org.vn

Học bài học lớn Bác Hồ dạy làm báo

Từ khi rời Bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước đến khi viết bài báo cuối cùng trong đời, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh luôn vận dụng sáng tạo luận điểm của Lênin về báo chí là công cụ “tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể”.

Trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người đã học viết báo, làm báo và cũng chính Người đã sáng lập nên nền báo chí cách mạng Việt Nam. Trong hệ thống các giá trị tư tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại, có một góc độ về tư tưởng – văn hóa – nghề nghiệp làm báo…

vbnhjgvbnhjgTranh châm biếm của Nguyễn Ái Quốc trên Báo Le Paria (Người Cùng Khổ):Văn minh bề trên! (Số 2, ngày 1-5-1922) và Mau lên du hành! (Số 5, ngày 1-8-1922).

Bài học viết báo, làm báo, sử dụng báo chí

Có câu chuyện kể rằng: Khi đặt chân đến nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc mưu sinh bằng nhiều nghề và trong tiềm thức của người thanh niên ấy muốn chứng kiến những gì diễn ra ngay trên đất nước có nền văn minh “đi khai hóa thuộc địa”, muốn tiếp cận các trào lưu tiến bộ trên thế giới và nhằm mục đích lớn lao là “tìm con đường giải phóng cho dân tộc mình”. Trên đất nước ấy, với vốn tiếng Pháp tự học, Người đã học viết báo, làm báo.

Chuyện kể rằng, khi viết bài báo đầu tiên gửi đến tòa soạn, vị chủ bút đã góp ý để Người sửa chữa. Rồi các bài báo tiếp theo được chọn đăng, khi ấy vị chủ bút lại bảo: “Bây giờ ông có thể viết dài ra”. Một thời gian sau, vị chủ bút lại bảo: “Ông có thể viết ngắn lại”.

Câu chuyện buổi đầu Nguyễn Ái Quốc học viết báo bằng chính ngôn ngữ “mẫu quốc” có thể tóm tắt như vậy và đó cũng là bài học vỡ lòng cho người làm báo hôm nay (nhất là những người đang bước vào nghề).

Không chỉ học viết báo, chính Người vừa sáng lập, phụ trách trình bày, vẽ biếm họa, in báo… và phát hành báo đến đối tượng cần tuyên truyền, giác ngộ cách mạng. Đó là những tờ báo gắn bó với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người như: Le Paria (Người Cùng Khổ), Tạp chí Quốc Tế Nông Dân, Thanh Niên, Việt Nam Hồn, Thân Ái, Lính Cách Mệnh, Việt Nam Độc Lập, Cứu Quốc…

Người để lại bài học lớn, chính Người tổ chức quy trình xuất bản báo, chính Người phụ trách trình bày báo vừa in đậm dấu ấn nghệ thuật độc đáo, vừa hiện đại vừa bình dân. Đó là bài học sinh động về hình ảnh “cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng”, bài học sử dụng công cụ báo chí như “tờ hịch cách mạng” vẫn tươi nguyên.

Bài học về tính khuynh hướng chính trị của báo chí

Luận điểm báo chí mà Nguyễn Ái Quốc khẳng định trong suốt thời kỳ lịch sử lâu dài dưới chế độ thực dân phong kiến là đấu tranh cho quyền tự do báo chí. Với Nguyễn Ái Quốc, đấu tranh cho tự do báo chí về thực chất luôn gắn bó với đấu tranh cho khuynh hướng chính trị, bởi Nguyễn Ái Quốc nhận thức được rằng làm báo chính là làm chính trị – Báo chí là sản phẩm của khuynh hướng chính trị nhất định.

Trước sự đàn áp của thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên nghịch lý đến nỗi khó tin được “Giữa thế kỷ XX này ở một đất nước có đến 20 triệu dân mà không có lấy một tờ báo! Các bạn có thể tưởng tượng được thế nào không? Không có lấy một tờ báo bằng tiếng mẹ đẻ của chúng tôi”.

Một tờ báo mà không đề cập đến các vấn đề chính trị và những chuyện thiết thân đến cuộc sống của người dân thì thủ tiêu chức năng của mình. Xu hướng chính trị của tờ báo, nói như Lênin “Một tờ báo mà không có xu hướng chính trị là điều lố lăng phi lý, chướng tai, gai mắt và có hại”. Nguyễn Ái Quốc phê phán tình trạng mất tự do của báo chí dưới chế độ thực dân Pháp nhưng đồng thời cũng nêu lên chức năng của báo chí.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính khuynh hướng chính trị của báo chí cũng là luận điểm cơ bản để lý giải vấn đề “tự do báo chí” mà phương Tây rêu rao. Báo chí là công cụ, là sản phẩm chính trị của một giai cấp nhất định, do đó không có chuyện “tự do báo chí” chung chung.

Báo chí (dù là tờ báo mang đậm chất giải trí, chuyên về một lĩnh vực nào đó…) cũng do một tầng lớp, một tập đoàn, thậm chí một nhóm người…thực hiện. Tất cả đều phục vụ lợi ích của những người nắm giữ tờ báo. Đó chính là sự chi phối bởi tính khuynh hướng, vấn đề tự do báo chí, do đó không thể tách rời quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế của một giai cấp, chế độ chính trị.

Tiếp thu quan điểm này, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã phát biểu “Tự do báo chí của chúng ta chính là tự do phục vụ lợi ích, vì hạnh phúc của nhân dân, vì chế độ XHCN”.

Ngày nay, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, báo chí cách mạng nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, với các loại hình báo chí: Báo viết (báo in), báo hình (truyền hình), báo nói (phát thanh), báo điện tử.

Báo chí hoạt động trong thời đại bùng nổ thông tin, thông tin đã trở thành lực lượng sản xuất ra của cải vật chất trực tiếp, trong đó báo chí đóng vai trò là kênh thông tin quan trọng đã thật sự trở thành sản phẩm chính trị đặc biệt có tính chất hàng hóa và trong chừng mực nào đó báo chí tỏ rõ quyền lực chính trị của mình.

Vì vậy bài học về tính khuynh hướng chính trị của báo chí càng phải thấm nhuần và vận dụng nhằm đảm bảo tính định hướng chính trị của hoạt động báo chí. Dù tờ báo thuộc cơ quan, tổ chức nào, nội dung thông tin – tuyên truyền phục vụ đối tượng người xem – người nghe là ai cũng phải có chính kiến, có định hướng rõ ràng.

Trong mối quan hệ đan xen ấy, vấn đề bản lĩnh chính trị để xử lý thông tin không chỉ là sự vững vàng, nhất quán về lập trường, quan điểm của Đảng đối với hoạt động báo chí mà còn là một thử thách mang tính cọ xát trước mỗi sự việc – sự kiện – vấn đề, mỗi tình huống trong quá trình tác nghiệp của những người làm báo, cơ quan báo chí lấy lợi ích chung của nhân dân, của đất nước đặt lên hàng đầu.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta những bài học vô giá về báo chí cách mạng. Từ bài học vỡ lòng khi Người bắt đầu viết báo đến những quan điểm, phong cách… làm báo mà mỗi khi ôn lại, chúng ta càng thấm thía.

Đứng trước mỗi sự việc – sự kiện – vấn đề – tình huống…, người làm báo hôm nay hãy tự đặt câu hỏi và trả lời như Bác đã huấn thị: “- Viết cho ai? – Viết để làm gì? – Viết như thế nào?”. Đó là bài học lớn, rất cụ thể, rất thiết thực Bác để lại cho các thế hệ làm báo.

CỎ THƠM
baoapbac.vn

Lời tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cùng Chính phủ các nước trên thế giới 14-1-1950

Sau khi Cách mạng Tháng Tám nǎm 1945 1 đã đánh đổ nền thống trị của đế quốc Nhật và Pháp ở Việt Nam, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập. Ngày 2-9-1945, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phát biểu bản Tuyên ngôn Độc lập 2 trước quốc dân Việt Nam và thế giới. Ngày 2-3-1946, Quốc hội 3 (Quốc dân đại hội) Việt Nam bầu Chính phủ chính thức của nước Việt Nam.

Ngày 23-9-1945, quân đội thực dân Pháp đánh Nam Bộ. Sau đó, nước Pháp đã ký với Việt Nam bản Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 4 và Tạm ước 14-9-1946 5 . Nhưng thực dân Pháp vẫn tiếp tục cuộc chiến tranh phi nghĩa trái với ý nguyện hoà bình của nhân dân Pháp. Chúng lại thành lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại để dùng làm lợi khí xâm lược Việt Nam và lừa gạt thế giới.

Quyết bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc chống thực dân Pháp, nhân dân và quân đội Việt Nam đương chiến đấu anh dũng và ngày càng gần thắng lợi cuối cùng. Trải qua mấy nǎm kháng chiến, nước Việt Nam từng được nhân dân toàn thế giới đồng tình và ủng hộ. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố với Chính phủ các nước trên thế giới rằng: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là Chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam. Cǎn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hoà bình và xây đắp dân chủ thế giới.

Ngày 14 tháng 1 nǎm 1950
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Báo Sự thật, số 127, ngày 25-1-1950.
cpv.org.vn