Archive | 2012

Vai trò và mục đích của giáo dục trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Trước khi đi vào cõi vĩnh hằng, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta một hệ thống những tư tưởng, quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cuộc cách mạng Việt Nam. Trong đó, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và xây dựng một nền văn hoá, giáo dục Việt Nam. Sinh thời, Người luôn xem phát triển giáo dục, nâng cao dân trí xã hội là một triết lý, một tư tưởng, một ước vọng. Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành(1).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, cũng như quan niệm của Người về vai trò của giáo dục không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức, học vấn cho con người, mà có tính bao quát, sâu xa, nhưng vô cùng sinh động, thiết thực, nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên“, có tri thức, lý tưởng, đạo đức sức khoẻ, thẩm mỹ… Khi nhìn nhận vai trò của giáo dục đối với sự hình thành nhân cách của con người, Bác Hồ khẳng định:

Thiện, ác nguyên lai vô định tính
Đa do giáo dục đích nguyên nhân”
Nghĩa là: Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên
Dạ bán (Nửa đêm) – Nam Trân dịch

Hồ Chí minh luôn coi giáo dục có vai trò quan trọng không chỉ đối với việc giáo dục tri thức, học vấn mà còn góp phần hình thành nên nhân cách, phẩm chất đạo đức của mỗi con người. Người nói: Mỗi con người đều có thiện và ác trong lòng, ta phải biết làm cho phần tốt ở  trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vừa là thành quả của một quá trình tiếp thu, chắt lọc và phát triển tinh hoa văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại. Do vậy, ở tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục luôn có sự thống nhất hữu cơ giũa lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục, vừa mang hơi thở của cuộc sống hiện tại, vừa chứa đựng khát vọng về một tương lai. Mục đích cao cả của Hồ Chí Minh – mục đích mà Người nguyện suốt đời phấn đấu – là mong cho dân tộc, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Bởi, đối với Người: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì(3). Suốt đời, Bác Hồ luôn mong muốn xây dựng một xã hội mới về chất, cao hơn hẳn xã hội cũ, đó là – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Và để xây dụng chủ nghĩa xã hội, theo Người, “trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, con người xã hội chủ nghĩa ở đây theo Người, cần phải: “…có học thức. Cần phải học lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày, học phải đi đôi với hành”(2).

Đào tạo con người xã hội chủ nghĩa không có con đường nào khác ngoài giáo dục tri thức khoa học và lý tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đó là nền giáo dục nhằm phát triển con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên” trong thời đại mới. Và như vậy, “con người xã hội chủ nghĩa’, con người toàn diện, “nhất định phải có học thức. Cần phải học văn hoá, chính trị, kỹ thuật. Cần phải học lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày. Trong thư gửi cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hoá, ngày 31 – 8 – 1960, Chủ tich Hồ Chí Minh đã viết: Văn hoá giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuôc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà….Giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị của Đảng và của Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế.

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc luyện “tài”, rèn “đức” cho tất cả đối tượng. Đối với trẻ em, Bác căn dặn các giáo viên phải: Giáo dục cho các cháu biết thế nào là đoàn kết, ham học, ham làm, nhưng phải làm sao cho các cháu giữ được tính chất của trẻ con. Phải làm sao cho trẻ em có kỷ luật nhưng vẫn vui vẻ, hoạt bát chứ không phải là khúm núm, đặt đâu ngồi đấy. Thông điệp của Bác để lại cho thế hệ trẻ là vẻ vang, vinh dự nhưng cũng là một trong trách lớn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(4).

Tại Đại hội Thanh niên Thủ đô ngày 30 tháng 9 năm 1967, Bác cũng căn dặn: “Thanh nên phải ra sức học tập chính trị, văn hoá và khoa học kỷ thuật. Học có tốt, hành mới tốt. Học và hành tốt mới làm tròn nhiệm vụ người thanh niên cách mạng…”. Hồ Chí Minh xem học tập chính là để làm người tốt, việc tốt có ích cho nhân dân và dân tộc, vì vậy, “Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tốt để sau này góp phần vào việc mở mang quê hương của mình và việc xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”.

Để tào tạo một con người có ích cho xã hội, theo Hồ Chí minh cần phải giáo dục toàn diện, đặc biệt là giáo dục về tài và đức. Bởi, theo Người, có tài mà không có đức, ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người. Để giáo dục tốt cả đức lẫn tài Bác nhắc nhở giáo viên: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức. Tài là văn hoá, chuyên môn; đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức… cho nên thầy giáo cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con”(5).

Đối với cán bộ, Hồ Chí Minh xem việc học tập là: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”. Mục đích trọng tâm và xuyên suốt trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là vì con người, cho con người, là xây dựng con người mới. Nhưng do yêu cầu của mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau, Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ giáo dục khác nhau cho phù hợp. Ở thời kỳ chuẩn bị thành lập Đảng, Người tập trung vào việc triển khai các lớp huấn luyện tại Quảng Châu, Trung Quốc nhằm nâng cao trình độ nhận thức cho cán bộ về con đường cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Đến giai đoạn toàn quốc kháng chiến và xây dựng nền dân chủ, Người kêu gọi sửa đổi giáo dục cho phù hợp với việc đào tạo nhân tài kháng chiến kiến quốc. Tất cả giáo dục tập trung phục vụ kháng chiến kiến quốc. Bước sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, mục đích giáo dục lại gắn liền với tình hình mới. Đó là thời kỳ rất cần những con người làm chủ xã hội, làm chủ sản xuất, biết quản lý cơ quan, xí nghiệp, trường học…

Về phương pháp giáo dục, Hồ Chí Minh không để lại cho chúng ta một tác phẩm chuyên khảo, một hệ thống lý luận hoàn chỉnh nào về phương pháp giáo dục, nhưng qua những việc làm thiết thực như: Những bài viết ngắn gọn, súc tích, những lời nói, quan điểm giáo dục của Người đã hàm chứa các phương pháp giáo dục mẫu mực. Trong quá trình lãnh đạo cuộc cách mạng Việt Nam nói chung cũng như các vấn đề liên quan đến giáo dục nói riêng, Người luôn xác định nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn làm nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng các phương pháp về giáo dục. Nguyên tắc này được Người sử dụng xuyên suốt trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, học sinh, sinh viên… trong suốt tiến trình của cuộc cách mạng.

Từ nhận thức sâu sắc về vai trò và mục đích của giáo dục, Hồ Chí Minh đã gắn bó cả cuộc đời mình để việc chăm lo, mở mang, xây dựng và phát triển một nền giáo dục mới, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa – một nền giáo dục mà mọi người đều được học, được tham gia, phát huy hết khả năng của mình, không phân biệt nam nữ, tuổi tác, giai cấp, dân tộc…

Tiếp tục kế thừa và quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp to lớn và cao cả đó của Người, trong những năm qua Đảng ta luôn quan tâm và chăm lo đến sự nghiệp giáo dục. Tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, khoá VIII đã xác định nhiệm vụ và mục đích cơ bản của giáo dục Việt Nam là: “Nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khoẻ, là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ”. Đại hội Đảng lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá. Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập”, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”.

1. Năm 1946, khi trả lời câu hỏi của các nhà báo về điều mong muốn của mình.
2. Hồ Chí Minh toàn tập. NXB CTQG 1995, 1996 tập 4, tr.56; tập 12, tr.505
3. HCM: Toàn tập, t.10, Nxb CTQG, H., 1995, tr 306.
4. Trong Thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, tháng 9/1945.
5. Bài nói tại lớp học chính trị của giáo viên, năm 1959; dẫn theo “Hồ Chí Minh- Toàn tập”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tập 9, tr. 492.

Theo Lê Văn Tuyên/GV. Khoa Xây dựng Đảng
Truong CHính trị Hậu Giang
Tâm trang
(st)
bqllang.gov.vn

Sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục

BH tham 1 lop binh dan hoc vu

Bác Hồ thăm một lớp bình dân học vụ

Từ lâu, đạo học và truyền thống “tôn sư trọng đạo” đã trở thành một nếp văn hoá đi sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, đất nước ta phải đối đầu với ba thứ giặc “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Trong đó, giặc dốt là thứ giặc nội xâm vô cùng nguy hiểm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Do đó, vấn đề cấp thiết đặt ra là phải nhanh chóng tiêu diệt thứ giặc này và vai trò của những người làm công tác giáo dục, những người dạy chữ càng quan trọng hơn lúc nào hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định:“Không có thầy giáo thì không có giáo dục… không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế – văn hoá”. Trong thời kỳ hội nhập, những vấn đề về chất lượng giáo dục, đạo đức người giáo viên… đang đặt ra những vấn đề cần suy nghĩ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục một lần nữa soi đường cho thế hệ hôm nay tiếp bước.

Cách mạng Tháng Tám đã mở đầu việc học của toàn dân của một nước độc lập, đã nêu một bài học mẫu mực về xây dựng một “xã hội học tập”, tiêu diệt giặc dốt.  Đạo học, truyền thống hiếu học của dân tộc ta ngày càng có nhiều điều kiện và cơ hội phát triển. Đi lên từ một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá muốn vươn ra biển lớn, sánh vai với thế giới luôn luôn phát triển càng cần phải học – học đi đôi với hành như Bác Hồ dạy. Hưởng ứng phong trào Nha bình dân học vụ của Chính phủ, toàn dân ta, ở cả thành thị và nông thôn đều nô nức tham gia bình dân học vụ diệt giặc dốt, coi việc đi học, biết chữ là yêu nước. Đẩy lui bóng tối của chính sách ngu dân trước đây của chế độ thực dân – phong kiến, việc học, cao trào học tập trong toàn dân là một trong những thành công khởi nguồn sống động cho công cuộc giải phóng con người của Cách mạng Tháng Tám. Trong suốt chặng đường phấn đấu lâu dài phát triển giáo dục của dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm và chăm lo đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà. Người coi: “Giáo dục là cốt sách hàng đầu” trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Người luôn nhắc nhở toàn Đảng, toàn nhân dân ta phải chăm lo đến sự nghiệp giáo dục, Người căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Đó là tinh thần, là tình cảm rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giáo dục và đạo tạo nước ta. Phát biểu tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội (tháng 10 năm 1964), Người nói:“Người thầy giáo tốt, người thầy giáo xứng đáng là người thầy vẻ vang nhất, dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương. Song những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang, nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao mà xây dựng Chủ nghĩa Xã hội được. Vì vậy nghề thầy giáo rất quan trọng, rất vẻ vang. Ai có ý kiến không đúng về nghề thầy giáo thì phải sữa chữa”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong nền giáo dục cách mạng, người giáo viên có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho nước nhà, là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hoá có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng đạo đức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại, bồi dưỡng cho họ những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội. Muốn thực hiện được nhiệm vụ ấy, bản thân các thầy, cô giáo phải trở thành một lực lượng mạnh mẽ. Những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục không được bằng lòng với kiến thức đã có, mà phải thường xuyên tích luỹ kiến thức. Người thầy được ví như người chở đò, chèo lái con thuyền kiến thức đưa các thế hệ học sinh qua sông, không chỉ vun đắp tri thức cho thế hệ trẻ mà còn bồi đắp nhân cách, giáo dục phẩm chất làm người theo câu nói của người xưa: “Tiên học lễ, hậu học văn”.  Ngày nay, trên cả nước ta vẫn còn không ít nơi chưa có điều kiện phổ cập giáo dục từ bậc học thấp nhất, đa số tập trung ở những vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Ở những nơi đây, người thầy được coi là những người “cõng chữ” lên vùng cao. Đã có biết bao tấm gương người thầy hết lòng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục những vùng khó khăn, đó là những tấm gương sáng về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – đạo đức người thầy.

CT HCM thăm trường ĐSPHN 21.10.1964cùng tổng thống Mali Mô đi bô Cây ta
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tổng thống Mali Môđibô Câyta
đến thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội(ngày 21/10/2012)

Trong cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những thời điểm trực tiếp là nhà giáo. Từ tháng 9 năm 1910 đến trước tháng 2 năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết. Sau khi đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, trong những năm 1925 – 1927, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp mở các lớp huấn luyệnchính trị cho thanh niên, thiếu niên Việt Nam yêu nước, trực tiếp lãnh đạo và là giảng viên chínhcủa các khóa học. Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo. Năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người luôn chăm lo việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho cách mạng; tổ chức và chỉ đạo từng bước xây dựng nền giáo dục cách mạng, nhằm thực hiện công cuộc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.

Trong quá trình đổi mới đất nước, để hội nhập nhanh hơn chúng ta nhận thấy việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài là những nội dung không thể thiếu trong chiến lược phát triển giáo dục, bởi quan tâm phát triển giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, bởi “nhân tài là nguyên khí quốc gia”… Những lời nhắc nhở của cha ông ta từ thuở dựng nước cho đến ngày hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Hôm nay, chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” là một liệu pháp mạnh, đã và đang được ngành giáo dục cũng như toàn xã hội ủng hộ, trở thành phong trào sôi nổi và đã bước đầu thành công. Chính phủ cũng đã có những đề án để nâng cấp giáo dục phổ thông, từng bước nâng những ngành học, trường học cụ thể có truyền thống và khả năng bắt nhịp với trình độ đào tạo hiện đại, trở thành ngành, trường vươn lên chuẩn đại học quốc tế… Nhìn lại chặng đường giáo dục của nước nhà, nhìn lại những thành tựu mà cả nước đã đạt được trong giáo dục, không thể không phủ nhận công lao của những người thầy, những nhà giáo, những người làm công tác giáo dục.

Công cuộc đổi mới đất nước đang đặt ra nhiều yêu cầu cần nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất nhà giáo, hơn lúc nào hết chúng ta cần xây dựng được đội ngũ những người làm công tác giáo dục có đầy đủ phẩm chất, năng lực, vừa “hồng”, vừa “chuyên” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra. Có được những thế hệ giáo viên tốt là điều khẳng định chắc chắn nhất, cụ thể nhất sự đi lên của tri thức, trình độ phát triển giáo dục của dân tộc và góp phần quan trọng cho thắng lợi của công cuộc hội nhập quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước hôm nay./.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Thủ tướng nước Cộng hòa Ukraina đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng nước Cộng hòa Ukraine Nikolai Yanovich Azarov sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 15-16/11/2012.

Viengtuongdai-LamKhanhThủ tướng Nikolai Yanovich Azarov cùng Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Ukraina đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ 

Nhân dịp này, sáng 16/11/2012, Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Ukraina do Thủ tướng Nikolai Yanovich Azarov dẫn đầu đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam và đặt vòng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lăng của Người. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Thủ tướng Chính phủ Ukraina N.Y.Azarov kính viếng”.

Vienglang-TrongDucThủ tướng Nikolai Yanovich Azarov cùng Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Ukraina vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Việt Nam và Ukraine chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 23/1/1992. Việt Nam và Ukraine có quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt. Hai bên phối hợp chặt chẽ và thường xuyên ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn và tổ chức quốc tế, trong đó có Liên hợp quốc. Chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Ukraine Nikolai Azarov diễn ra trong bối cảnh quan hệ hợp tác nhiều mặt Việt Nam – Ukraine tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ, hai bên sẽ thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực giữa hai nước, cùng trao đổi các biện pháp nhằm tăng cường và phát triển hơn nữa quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư cũng như trao đổi những vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Ra đi, Bác dặn lời non nước…

“Bác ơi, tim Bác mênh mông thế. Ôm cả non sông, mọi kiếp người”. Tôi nhớ mãi những câu thơ da diết của cố thi sĩ Tố Hữu khi viết về Bác Hồ kính yêu. Trái tim Bác vẫn nhịp đập cùng non sông đất nước, với dân tộc ngay cả khi Người đã lặng lẽ ra đi cách đây hơn 40 năm. Bác để lại bản Di chúc lịch sử. Bản Di chúc ấy chính là trái tim Người đã, đang và sẽ đập nhịp với toàn Đảng, toàn dân ta; là cốt cách Hồ Chí Minh; là ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường dẫn lối.

71Bác Hồ với các cháu thiếu niên.

Cả cuộc đời Người dành cho dân tộc, cho giang sơn đất nước. Người đã dành hơn nửa cuộc đời mình qua 3 đại dương, đến 4 châu lục, 28 nước, bôn ba trên một đoạn đường ước tính 20 vạn km cũng chỉ nhằm “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành“. Ngay cả khi từ biệt thế giới này, Người cũng chỉ có một điều hối tiếc là “không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” cho Đảng, cho dân.

Bác ơi, tim Bác mênh mông thế. Ôm cả non sông, mọi kiếp người“. Bác căn dặn bao điều trước lúc đi xa – từ điều gần đến điều xa, từ việc hôm nay cho tới việc ngày mai. Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vô cùng ác liệt, giữa bao toan tính của nước lớn nước bé, giữa ai lòng dạ đổi thay, lời Bác thật đanh thép “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn“. Bác nhắc nhở về Đảng cầm quyền: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân“. Bác còn lo xa bao điều. Ấy là “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết“. Ấy là: “Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân“…

Bác ơi, tim Bác mênh mông thế”. Trước lúc đi xa, Người còn để lại “Muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng, gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế“.

Đã có nhiều học giả quốc tế nghiên cứu về bản Di chúc của Bác để hiểu thêm cuộc đời vĩ đại của người. Thật chẳng có gì lạ khi Bác được tôn vinh là Danh nhân văn hoá thế giới, là Anh hùng giải phóng dân tộc. Cả thế giới ngợi ca Bác. A.Min – nhà cách mạng Yêmen viết: “Chính Người – Bác Hồ – đã đóng hàng ngàn mũi đinh lên chiếc quan tài của chủ nghĩa đế quốc Mỹ ở trên đất nước Việt Nam”. Một cụ bà người Mỹ da đen ở thành phố Niuooclêông trong  thư gửi đồng chí Xuân Thuỷ tại Pari tháng 9 năm 1969 đã giãi bày: “Cụ Hồ Chí Minh là một lãnh tụ vĩ đại. Một lãnh tụ có phẩm chất như Người chỉ xuất hiện một lần trong thế kỷ”. Rồi: “Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này” (P.Hanbôxtan). Và: “Việt Nam có thể có những bước thăng trầm nhưng ký ức về vị lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh sinh ra từ cuối thế kỷ XIX sẽ tồn tại mãi mãi”. (Dems Gray – Hãng tin AP).

Đã bốn thập kỷ Bác đi xa, đã qua bốn thập kỷ bản Di chúc thiêng liêng. Từng lời của Người vẫn văng vẳng nhắc nhở dạy dỗ chúng ta, vẫn thôi thúc, giục giã chúng ta trên con đường mới. Chúng ta dường như vẫn thấy Bác hàng ngày dõi theo, cổ vũ.

Lòng dân nước mở từng trang Di chúc.
Thấy Bác từng ngày trong mỗi sáng mai lên.

Một nhà thơ đã viết vậy. Còn cố thi sĩ Tố Hữu đã gói gọn mong ước của chúng ta:

Nhớ lời Di chúc, theo chân Bác
Lên những tầng cao, thẳng cánh bay!
Bác ơi, chúng con nguyện:
Đời sẽ tươi hơn, xây dựng mới
Đàng hoàng to đẹp, sáng trời đông
Tuổi xanh vững bước lên phơi phới
Đi tới như lòng Bác ước mong.

Theo Giáp Nhật Nguyệt/Báo Bắc Giang
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bài phát biểu của đồng chí Phan Đình Trạc, UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy tại Lễ tiếp nhận đá quý của Nghệ An tôn tạo Công tình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

PHÁT BIỂU

Của đồng chí Phan Đình Trạc, UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy
tại Lễ tiếp nhận đá quý của Nghệ An tôn tạo Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
(Hà Nội, ngày 04/11/2012)

—–

– Kính thưa: Anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh!

– Kính thưa: Đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam!

– Kính thưa các đồng chí!

Chủ tịch Hồ Chí Minh là của cả dân tộc và nhân loại. Tuy vậy, Người vẫn luôn dành cho quê hương những tình cảm đặc biệt. Trong sâu thẳm của trái tim Người, quê hương luôn luôn là “nghĩa nặng, tình sâu”.

Với lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối với Bác Hồ kính yêu, cùng với nhân dân cả nước, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An vinh dự được chọn cung tiến linh vật đá, đặt ở khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Với vinh dự ấy, Đoàn khảo sát của tỉnh với sự phối hợp của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khảo sát nhiều nơi, nhiều chủng loại đá có nguồn gốc khác nhau. Người tìm đá, nhưng có lẽ đá như tự tìm người. Sau một thời gian khảo sát, ngày 19/4/2011 Đoàn khảo sát gặp được loại đá như mong muốn, tại núi Pu Coọc, bản Cô, xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Đó là loại đá do thiên nhiên tôi luyện, tích tụ hàng triệu triệu năm trong lòng đất, có độ cứng và độ bền cao, tỷ trọng nặng, trường tồn mãi mãi với thời gian; không bị ăn mòn bởi nước, a xít, không bị ôxyhóa; có màu xanh lam, đỏ và phớt tím, có khả năng thấu quang và chiết quang, chứa nhiều khoáng vật quý. Có thể gọi loại đá này là “Đại Lam Ngọc”.

Trải qua hàng triệu triệu năm hình thành, tích lũy khá nhiều năng lượng vũ trụ, vì vậy trong phong thủy, “Đại Lam Ngọc” có thể được xem là “thần dược thạch mỹ”, kỳ bí hiếm có, đem lại sinh khí tốt, thiện tâm, tăng cường sinh lực, may mắn cho con người.

Sau nhiều tháng nghiên cứu, chế tác, hôm nay, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An vinh dự được kính dâng 3 khối đá quý đó để tôn tạo và nâng cao linh khí nơi Người yên nghỉ, góp phần cùng với các sản phẩm đặc sắc của các vùng miền trong cả nước quầy tụ bên Lăng, giữ yên giấc ngủ của Người, làm cho công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn hội tụ linh khí tốt lành.

Thay mặt Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An, tôi chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Hội đá cảnh, gỗ lũa và tranh tượng dân gian thành phố Hà Nội; sự nỗ lực cố gắng, tâm huyết và trách nhiệm của các nghệ nhân; cán bộ, công nhân viên Công ty Cổ phần đá và khoáng sản Phủ Quỳ, và các cơ quan, đơn vị liên quan đã góp phần hoàn thành công trình đầy ý nghĩa này.

Xin hứa với Bác, với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà sẽ tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, quyết tâm phấn đấu xây dựng tỉnh nhà trở thành một trong những tỉnh khá của miền Bắc, như mong muốn của Bác Hồ kính yêu.

Kính chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc.

Xin trân trọng cảm ơn!

bqllang.gov.vn

Dấu chân Bác Hồ nơi Đảo quốc sương mù

Thủ đô Luân Đôn của Đảo quốc sương mù giờ đây không còn xa lạ với nhiều người dân Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế. Đối với mỗi người Việt Nam, đến với Luân Đôn là đến với những ký ức về Bác Hồ, những câu chuyện về viên gạch sưởi ấm, về chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành với Vua bếp huyền thoại Escoffier mà ai ai cũng từng được nghe từ những ngày đầu cắp sách tới trường…

dau chan Bac Ho 1Tòa nhà New Zealand trên nền khách sạn Carlton, nơi Bác Hồ từng làm việc.

Hiện có nhiều thông tin khác nhau về các mốc thời gian Bác làm việc ở Anh. Tuy nhiên, giới nghiên cứu lịch sử cả Việt Nam và quốc tế có lẽ đồng quan điểm rằng thời gian Bác Hồ ở Luân Đôn là từ năm 1913 tới 1917. Nơi được nhắc đến nhiều nhất trong thời gian Bác ở Luân Đôn là khách sạn Carlton, địa điểm giờ đây là nơi tọa lạc của tòa nhà New Zealand và cũng là nơi làm việc của phái đoàn ngoại giao nước này.

Tòa nhà 19 tầng hiện đại nằm trên phố Haysmarket tấp nập, gần với Quảng trường Tralfagar có những chú sư tử đá biểu tượng của nước Anh, Cung điện của Nữ hoàng và các cơ quan đầu não của Chính phủ Anh, được xây dựng năm 1959 trên nền của khách sạn Carlton trước đây. Nơi đây hiện có tấm biển màu xanh do Hội Hữu nghị Anh – Việt và các bạn bè Anh yêu quý Việt Nam đặt từ những năm 1990 ghi: “Hồ Chí Minh (1890 – 1969) – Người khai sinh ra nước Việt Nam – đã làm việc tại khách sạn Carlton, tòa nhà cũ trên nền đất này, năm 1913”.

Ông Len Aldis, Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh – Việt, một người bạn thân thiết của Việt Nam, kể rằng việc đặt được tấm biển trên tường của tòa nhà này không phải là dễ dàng. Dự án đặt tấm biển này cũng kéo dài mất 2 – 3 năm và cũng phải nhờ tới các chính trị gia có tiếng mới có thể trở thành hiện thực. Ông Len Aldis nói vui rằng, “vì là tấm biển tưởng niệm Hồ Chí Minh, một con người vĩ đại được cả thế giới biết đến, chứ nếu là… người khác chắc không được”.

Ông Len kể: “Khi mới tới Carlton, ông Hồ chỉ được giao nhiệm vụ dọn dẹp và rửa bát đĩa. Câu chuyện về việc ông Hồ cất những món ăn thừa để chuyển cho những người nghèo, người ăn xin ngoài đường mà thế hệ trẻ như bạn được nghe chính là bắt nguồn từ đây. Cảm kích trước hành động của ông Hồ, vị đầu bếp huyền thoại người Pháp Escosffier của khách sạn đã chuyển ông Hồ lên khu vực làm bánh và “truyền nghề” cho ông. Nhưng điều đó cũng không thể giữ ông Hồ ở lại xứ sương mù này bởi chất chứa trong ông là hoài bão giải phóng dân tộc…”.

dau chan Bac Ho 2Ông Lens Aldis (phải), Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh – Việt, 
đã giúp dựng tấm biển tưởng niệm Hồ Chí Minh tại tòa nhà New Zealand.

Trái ngược với vẻ hiện đại, ngạo nghễ của tòa nhà 19 tầng trên mặt đất, tầng hầm của tòa nhà New Zealand vẫn giữ nguyên từ thuở nó còn là khách sạn Carlton. Qua hai lượt cầu thang đi xuống là khu phòng được cho là nơi nghỉ ngơi của các nhân viên làm việc tại khách sạn trước đây. Khu phòng này có độ cao chỉ hơn 2m một chút với lối đi khá hẹp, có lẽ chỉ đủ cho 2 người và mỗi phòng có diện tích chỉ khoảng 10m2. Hầu hết các phòng này giờ đây chuyển thành phòng chứa đồ cũ.

Nếu tới Luân Đôn vào mùa đông và nhìn những căn phòng bé nhỏ, lạnh lẽo, không có hệ thống lò sưởi này mới thực sự thấu hiểu được câu chuyện Bác phải dùng viên gạch nóng để sưởi ấm trong mùa đông băng tuyết. Như lời ông Len kể, thời Bác Hồ ở Luân Đôn, chỉ có những người giàu có, quý tộc mới được ở trong những căn nhà có lò sưởi chạy bằng khí đốt hoặc mới có điều kiện để dùng lò sưởi đốt gỗ. Luân Đôn ngày đó vắng vẻ, lạnh lẽo và hay mù sương chứ không giống như bây giờ…

Tiến sỹ John Callow, Giám đốc Thư viện Marx ở Luân Đôn, người nghiên cứu khá nhiều về Bác Hồ kể rằng, trong thời gian làm việc ở khách sạn Carlton, Bác Hồ làm việc từ 5 giờ sáng đến trưa và từ 5 giờ chiều đến 10 giờ tối. Nhờ đó, Bác có thời gian tìm hiểu về Luân Đôn và học tiếng Anh. “Ông Hồ tới đây làm việc không phải chỉ đơn giản là để kiếm tiền và sống mà để tìm hiểu bản chất của những dây xích ràng buộc dân tộc mình và các nước thuộc địa với các nước thực dân. Qua học hỏi, nghiên cứu, ông Hồ hiểu rằng chỉ có lòng dũng cảm thì chưa đủ để giải phóng dân tộc mình mà cần phải nghiên cứu đầy đủ về sự phát triển của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc mới có thể phản kháng một cách hiệu quả…”, ông John Callow cho biết.

dau chan Bac Ho 3Phố Stephen, nơi Bác từng ở căn nhà số 8, giờ đã khác xưa.

Cũng theo Tiến sỹ John Callow, trong thời gian ở Luân Đôn, Bác từng làm các công việc nặng nhọc như cào tuyết ở trường học, điều khiển hệ thống nước nóng. Còn trong lĩnh vực “bếp núc” thì Bác còn từng làm việc ở khách sạn Drayton Court ở West Ealing, phía tây Luân Đôn, trước khi chuyển đến Carlton. Theo tư liệu ông có được thì Bác Hồ cũng từng ở một căn nhà ở số 8 phố Stephen, cắt phố Tottenham Court, cách khách sạn Carlton khoảng 30 phút đi bộ.

Phố Stephen ngày nay không còn căn nhà số 8 trước kia. Với chiều dài vỏn vẹn khoảng 500m, chặn 2 đầu là phố Tottemham Court và phố Gresse, phố Stephen hiện là nơi tọa lạc của hai tòa nhà, số 1 là khách sạn cao ngất ngưởng và đối diện là số 2 thuộc sở hữu của Viện Phim Anh (BFI). Mặt cắt của phố Stephen với Tottenham Court giờ là những tòa nhà cao tầng với các cửa hàng điện tử, thời trang san sát. Có lẽ những ngôi nhà cũ xưa kia đã bị tàn phá trong trận ném bom “The Blitz” của Đức những năm 1940 – 1941.

dau chan Bac Ho 4Khách sạn Drayton Court tại West Ealing, nơi Bác Hồ từng làm phụ bếp trước khi tới khách sạn Carlton.

Trong cuốn sách “Hồ Chí Minh – Những năm tháng chưa được biết đến” của NXB Đại học California, tác giả Sophie Quinn-Judge cho biết, Bác cũng đã từng gửi bưu thiếp cho cụ Phan Chu Trinh ở Pari (Pháp) từ địa chỉ ngôi nhà này. Ông John Callow kể rằng, do có mối liên hệ với phong trào công nhân Anh, với phong trào công nhân Việt Nam và là một nhà hoạt động công chúng nên Bác Hồ đã bị cảnh sát Anh chú ý. Căn nhà tại số 8 phố Stephen thường xuyên bị cảnh sát theo dõi, tuy nhiên khi lực lượng cảnh sát Anh đột nhập theo đề nghị bắt giữ Bác của cảnh sát Pháp thì Bác đã trốn khỏi đó và đến tháng 12/1917 thì Bác sang Pháp.

Khách sạn Drayton Court, tại số 2 phố The Avenue, nơi Bác làm việc một thời gian ngắn trước khi tới Carlton, cách trung tâm Luân Đôn khoảng 40 phút đi tàu điện ngầm. Khách sạn Drayton chính thức đi vào hoạt động năm 1894 với 60 phòng, tọa lạc ở khu khá vắng vẻ dân cư, khác hẳn so với khu trung tâm sầm uất, nhộn nhịp ở trung tâm Luân Đôn. Dù vẫn giữ nguyên hình dáng cũ nhưng bộ mặt của khách sạn ngày nay hào nhoáng hơn nhờ tu sửa và trang trí. Sau khi ngừng dịch vụ thuê phòng và chuyển thành quán rượu lớn nhất tại quận Ealing những năm 1940, Drayton Court giờ đây lại trở lại vai trò là một khách sạn với 27 phòng sang trọng và đầy đủ dịch vụ quán rượu và nhà hàng như xưa kia.

Dù tấm biển hiện nay ở tòa nhà New Zealand nói rằng Bác đã bắt đầu làm việc tại đó từ năm 1913 nhưng tư liệu lịch sử của quận Ealing cho rằng Bác đã làm việc ở khách sạn Drayton Court năm 1914. Tư liệu của quận Ealing giới thiệu về khách sạn Drayton Court viết: “Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo của Việt Nam, đã làm việc cần cù trong bếp ăn của khách sạn Drayton Court năm 1914, trước khi tiếp tục ra đi tìm đường thay đổi lịch sử đất nước ông, đánh đuổi các lực lượng đến từ Nhật Bản, Pháp và Mỹ”. Trong một tấm bưu thiếp gửi từ địa chỉ khách sạn này cho cụ Phan Chu Trinh ở Pari, Bác Hồ nói rằng mình đã tìm được nơi học tiếng: “Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây suốt”.

Những mốc thời gian cụ thể trong những tháng ngày Bác ở Luân Đôn có thể còn chưa thực sự rõ nhưng một điều rõ ràng không thể phủ nhận là thời gian Bác ở Thủ đô xứ sương mù đã được lịch sử thế giới ghi nhận với sự khâm phục về nghị lực và ý chí của một con người Việt Nam vĩ đại. Tại đây, Bác đã làm rất nhiều việc, từ cào tuyết cho tới rửa bát, phụ bếp để tồn tại và tìm hiểu về bản chất của chủ nghĩa tư bản, từ đó tìm ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Người ta nói rằng, đến nước Anh mà chưa đến thăm Di tích lịch sử Stonehenge thì chưa phải là đến nước Anh. Còn đối với những người dân Việt Nam, đến Luân Đôn mà chưa tới thăm lại những nơi Bác đã từng làm việc thì có lẽ chưa phải là đến Luân Đôn…

Theo baotintuc.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – một tấm gương sáng về tiết kiệm sức dân

Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, “có ý nghĩa lịch sử”, nền kinh tế nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, “Tạo ra thế và lực, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước”[1, tr.29].

Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu và rộng như hiện nay, thì “nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại” [1, tr.29]. Quá trình phát triển trong những năm qua còn bộc lộ nhiều hạn chế, khuyết điểm, đặc biệt là: “Kinh tế phát triển chưa bền vững; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, cơ hội và yêu cầu phát triển của đất nước” [1, tr.165]. Những hạn chế, yếu kém đó do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan cần được nghiên cứu tỉ mỉ, thận trọng để có thể đưa ra những giải pháp khắc phục chính xác và tối ưu. Trong đó, có một nguyên nhân rất lớn đó là chúng ta chưa thực sự phát huy hiệu quả vai trò của nhân dân trong phát triển đất nước; thậm chí đã làm “hao mòn”, lãng phí sức dân bằng nhiều cách khác nhau. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta không thể không nhớ đến những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, trong đó triết lý về “Tiết kiệm sức dân” của Người có ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn rất sâu sắc.

Tư tưởng về tiết kiệm sức dân ở Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt nguồn từ Chủ nghĩa nhân văn cao cả của Người. Trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử và tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, Người luôn xác định: Con người là vốn quý nhất. Con người vừa là lực lượng, là động lực chủ yếu, trực tiếp, vừa là mục tiêu của lịch sử. Đó là sự thống nhất biện chứng của các yếu tố đó trong con người với tư cách là nhân tố quyết định, sáng tạo ra lịch sử.  Vì vậy, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng.

Với Hồ Chí Minh, con người là vốn quý nhất, yếu tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Sinh thời Người từng khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [6, tr.276]. Quan điểm đó trước hết thể hiện ở lòng yêu thương vô hạn, sự tin tưởng tuyệt đối vào con người trong nhân cách Hồ Chí Minh. Giáo sư Vũ Khiêu nhận xét: “yêu người mới là cốt lõi trong chủ nghĩa yêu nước và trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” [2, tr.260].  Tất cả sự chịu đựng muôn vàn khó khăn, gian khổ trong cuộc đời bôn ba hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh chỉ có một chủ đích tư tưởng và hành động: làm thế nào để giải phóng đồng bào khỏi áp bức, bóc lộ, nghèo khổ, suốt đời Người chỉ có một ham muốn, đó là “ham muốn tột bật, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[3, tr.161-162].

Lòng yêu thương con người của Hồ Chí Minh theo lập trường cách mạng tất yếu đòi hỏi sự tin tưởng và tôn trọng con người trên cơ sở thấy được vai trò quyết định của con người đối với lịch sử. Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, có dân thì có tất cả, không dựa vào dân thì không thể làm được việc gì. Sức mạnh của Đảng, của Nhà nước là dựa trên sức mạnh và sự ủng hộ của nhân dân. Lòng tin của Hồ Chí Minh đối với con người không chỉ ở chỗ thấy được vai trò sức mạnh của nhân dân trong cách mạng mà còn ở chỗ thấy được những khả năng tiềm ẩn của họ.

Thương người, tin người, trọng người tất yếu phải biết tiết kiệm sức người, đây là một nội dung tích cực của chủ nghĩa nhân đạo trong lịch sử tư tưởng.

Tư tưởng Nho giáo có quan niệm của Khổng Tử: “Bớt tiêu dùng và yêu người” và “sai khiến dân đúng thời”. Đến Tuân Tử, ông cho rằng: “tiết kiệm tiêu dùng và làm giàu cho dân”.

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, coi trọng vốn quý con người gắn liền với chính sách tiết kiệm sức người. Trần Quốc Tuấn coi “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”. Nguyễn Trãi coi: “việc nhân nghĩa cốt ở an dân”… Như vậy, coi trọng và tiết kiệm sức người không chỉ là quy luật tồn vong của một chế độ mà phải trở thành một đường lối, một chính sách trị nước tích cực của mọi thời đại, mọi chế độ chính trị.

Tư tưởng Hồ Chí Minh chứa đựng một hệ thống các quan niệm về tiết kiệm sức người hết sức phong phú, sâu sắc, đó là tiết kiệm sức lao động, tiền công, của công, thời gian, nguyên vật liệu, giấy bút, máy móc, ruộng đất, đặc biệt là tiết kiệm sinh mạng con người trong khởi nghĩa giành chính quyền, trong chiến tranh giải phóng dân tộc và trong mỗi trận đánh… nói cách khác, theo nghĩa rộng, nội dung của nó bao gồm:

Khoan thư sức dân: Tức là “giảm sự đóng góp của nhân dân”, “ra sức bảo vệ sản xuất, bình ổn vật giá”… đặc biệt “Phải bồi dưỡng lực lượng cho dân nhiều hơn yêu cầu đóng góp” [5, tr.464].

An dân: Coi “Nhân hoà là quan trọng hơn hết” [5, tr.479]. Muốn vậy thì: “Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm…Khi ai có điều gì oan ức thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam. Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền ấy” [5, tr.66].

Dưỡng dân: Phát triển kinh tế – xã hội, phát triển văn hóa – giáo dục, từng bước nâng cao đời sống vật chất – tinh thần của nhân dân. Đó là kế sách “làm cho dân giàu và giáo dục dân”, và cũng là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội nước ta. “Phát triển kinh tế và văn hóa tức là dần dần xây dựng chủ nghĩa xã hội” [7, tr.2].

Để tiết kiệm sức người, sức của, Hồ Chí Minh yêu cầu: Mọi chủ trương, chính sách, các công việc đều phải có kế hoạch chu đáo, có chuẩn bị, có lãnh đạo, có trọng tâm, thiết thực và có hướng dẫn chặt chẽ. Trong bài Thiếu óc tổ chức – một khuyết điểm lớn trong các Uỷ ban nhân dân – Báo Cứu quốc ngày 4-10-1945, Hồ Chí Minh nhắc nhở: “…Trong khi làm công tác, kế hoạch đã sơ sài, phân công đã không sáng suốt, rồi sau khi làm lại không chịu kiểm điểm lại” [3, tr.39]. Một trong những nguyên nhân gây lãng phí, kém hiệu quả trong tổ chức lãnh đạo, quản lý chính là sự “chủ quan”, sự “khờ dại” và “quan liêu” của cán bộ. Mặt khác, phải biết quý trọng sáng kiến, phổ biến kinh nghiệm, đảm bảo an toàn lao động, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, thi đua, chăm lo sức khoẻ và phân phối, sử dụng hợp lý sức lao động… là những biện pháp hữu hiệu, góp phần tiết kiệm sức người, sức của. Trong bài nói chuyện ở Trường cán bộ Công đoàn ngày 19-1-1957, Người nhấn mạnh: “Hiện nay có hai khẩu hiệu: Tăng gia sản xuất và Thực hành tiết kiệm. Hai điều đó phải đi đôi, thiếu một là không được”. [6, tr.296].

Hồ Chí Minh là người khởi xướng và là tấm gương trong các phong trào thi đua tiết kiệm cho kháng chiến và kiến quốc như “tuần lễ vàng”, “quỹ nghĩa thương” trong nông dân, “phong trào mùa đông chiến sỹ”, “hũ gạo kháng chiến”…

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm là những giá trị có ý nghĩa to lớn đối với giai đoạn hiện nay. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Đảng ta đã có “Cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước; đẩy lùi và xoá bỏ các hiện tượng tiêu cực, làm lành mạnh các quan hệ xã hội và thực hiện công bằng xã hội”. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về các văn kiện tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng do đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trình bày ngày 19 – 4 – 2001 đã nhấn mạnh đất nước ta đang đang phải đối mặt với nhiều thách thức với bốn nguy cơ cơ bản. Trong đó có hai nguy cơ đáng lưu ý là: Tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; nạn tham nhũng và tệ quan liêu trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là một thách thức to lớn đối với sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy, tìm hiểu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “tiết kiệm sức dân” đang trở thành vấn đề cấp bách.

Đến nay những nguy cơ đó không những chưa mất đi, mà còn có chiều hướng diễn biến phức tạp, gây những tổn thất lớn cho Đảng, Nhà nước và đời sống của nhân dân. Ở nhiều lĩnh vực, nhiều loại hình kinh tế, và ở các cấp, các ngành nhiều vụ tham nhũng, lãng phí lớn gây thất thoát ngân sách của Nhà nước và tiền của của nhân dân đã được phát hiện và xử lý trong những năm qua. Tình trạng lãng phí, dàn trải trong quy hoạch phát triển và đầu tư công còn lớn. Các dự án treo, sa mạc hoá đất nông nghiệp, rồi các cảng biển, sân bay, các khu kinh tế, nhà máy thép, xi măng, sân golf…được đầu tư xây dựng ở nhiều tỉnh thành bất chấp hiệu quả kinh tế. Nhiều nhà máy không hoạt động được do thiếu nguyên liệu sản xuất, những công trình xây dựng xuống cấp nhanh chóng…là vấn đề chúng ta đang quan tâm hiện nay. Nhân dân hiện cũng đang đối mặt với nạn buôn lậu và hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng khiến chúng ta không thể không suy ngẫm. Đặc biệt là tình trạng “lãng phí chất xám”, “bạc hoá chất xám” do những yếu kém trong công tác tổ chức và bố trí cán bộ ở các cấp, các ngành còn diễn ra; một bộ phận cán bộ, công chức những người trong “biên chế” nhà nước làm việc kém hiệu quả, ỷ lại, trông chờ cũng là sự lãng phí lớn đối với “sức dân”. Gần đây, báo giới đã thông tin số liệu rằng: Hiện có khoảng hơn 30% cán bộ, công chức làm việc tương đối tốt, nhưng cũng có khoảng trên 30% không làm việc gì và cũng bằng chừng đó số cán bộ , công chức yếu kém về năng lực. Điều đó không thể không làm ta phải suy nghĩ, trăn trở, dù rằng số liệu chỉ là tương đối.

Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “…năng lực cạnh tranh quốc gia chậm được cải thiện. Đầu tư vẫn dàn trải. Hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư còn thấp, còn thất thoát, lãng phí, nhất là nguồn vốn đầu tư của Nhà nước… Chất lượng nhiều công trình xây dựng cơ bản còn thấp. Quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả chưa cao, còn lãng phí… Một số tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thua lỗ, gây bức xúc trong xã hội… Chất lượng xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển một số ngành, vùng, nhất là quy hoạch sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản còn yếu, gây lãng phí, thất thoát lớn…” [1, tr.166-167]. Và: “…Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới của đất nước… Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội” [1, tr.172]. Thêm vào đó là: “…Việc đổi mới công tác cán bộ còn chậm; … đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục. Công tác cán bộ thiếu tầm nhìn xa…” [1, tr.246]

Tất cả những hạn chế, yếu kém và khuyến điểm trên đây đã và đang làm “hao mòn” sức dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; và đó là những rào cản không nhỏ trong quá trình phát triển đất nước. Nó cần được nghiên cứu và giải quyết một cách thấu đáo, triệt để nhằm tạo động lực, củng cố và phát huy sức dân cho phát triển. Và như vậy, trong Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hiện nay, chúng ta không thể không nghiên cứu, quán triệt tư tưởng và tấm gương của Người về “Tiết kiệm sức dân” – một vấn đề có ý nghĩa thời đại và cấp bách hiện nay!

Nguyễn Gia Lộc
bqllang.gov.vn

Bác Hồ, người trồng cây vĩ đại

Các tao nhân mặc khách phương Đông rất yêu thiên nhiên và hay trồng cây, nhưng đến với thiên nhiên là để thoát tục, và trồng cây chỉ mang tính tượng trưng với mấy gốc liễu, mấy khóm cúc, mấy sào đậu, luống rau để thưởng thức hay tiêu sầu. Bác cũng yêu thiên nhiên và thích trồng cây, nhưng với một tư tưởng và phong cách hoàn toàn khác. Bác gắn chặt thiên nhiên với cuộc đời. Bác trồng cây thực sự với một mục đích dân sinh kinh tế thiết thực và lâu dài.

Bh ngươi trong cay
Bác Hồ tham gia Tết trồng cây tại Bất Bạt, Hà Tây, 1969

Bác Hồ là người trồng cây vĩ đại. Yêu cây, trồng cây ở Bác thể hiện năm phẩm chất cách mạng cao đẹp.

Trước hết yêu cây, trồng cây ở Bác là cả một tấm lòng yêu nước, thương đồng bào. Hoa râm bụt là một hình tượng về tấm lòng yêu nước của Bác. Khi còn ẵm ngửa, Bác đã say sưa đùa giỡn với bông hoa râm bụt mà mẹ và chị buộc chỉ treo trước mặt. Trong hành trang đi tìm đường cứu nước, Bác luôn luôn mang theo những hình tượng dân tộc, trong đó có lòng thương người, nụ cười dí dỏm, Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, câu thơ Bà Huyện Thanh Quan, câu hát ru em và cả cây hoa râm bụt. Làm giỗ mẹ chẵn hai mươi năm trên đất Pháp, Bác vẫn tìm được hoa râm bụt cho gà thờ ngậm, đúng như câu ngạn ngữ ngàn xưa ông cha căn dặn “Gà thờ giỗ cha, gà ngậm ngọn trúc/ Gà thờ giỗ mẹ, gà ngậm hoa râm bụt”. Ngày hoạt động ở Xiêm, Bác nhắc anh em trồng cây râm bụt để nhớ về đất nước. Ngày ở chiến khu cũng như khi về ở Thủ đô Hà Nội, nơi Bác ở luôn luôn có cây râm bụt thân thương của quê nhà.

Cây vú sữa là một hình tượng của tấm lòng Bác luôn nhớ thương đồng bào Nam bộ. Năm 1955, đồng bào miền Nam gửi biếu Bác một cây vú sữa và một quả dừa. Cây vú sữa được Bác trồng giữa bờ ao cạnh ngôi nhà Bác ở đầu tiên trong Phủ Chủ tịch. Ngày ngày, tuy bận trăm công nghìn việc của Chủ tịch nước, nhưng trước giờ làm việc buổi sáng hay sau giờ làm việc buổi chiều, Bác Hồ đều chăm sóc tưới cho cây vú sữa. Năm 1958, Bác chuyển sang ở và làm việc bên nhà sàn. Bác cho chuyển cây vú sữa sang trồng cạnh nhà sàn, để Bác chăm sóc được thuận tiện hơn. Hàng ngày làm việc tại nhà sàn, luôn được nhìn thấy cây vú sữa, mỗi khi đi xa về chưa đến cổng nhà sàn Bác đã để ý nhìn cây xanh tốt thế nào. Thấy cây như thấy đồng bào miền Nam, vơi đi nỗi nhớ da diết miền Nam trong trái tim Người. Vào những năm cuối đời, khi sức khỏe đã giảm sút, nỗi nhớ miền Nam dâng tràn, Bác muốn vào miền Nam thăm đồng bào, đồng chí. Nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh và sức khỏe nên Bác không vào được. Do vậy, ngày ngày chăm sóc và trông thấy cây vú sữa mang lại cho Bác cảm giác đang ở bên chiến sĩ, đồng bào miền Nam.

Thứ hai, yêu cây, trồng cây ở Bác là cả một chiến lược dân sinh kinh tế thiết thực và lâu dài. Các tao nhân mặc khách xưa kia cũng trồng cây, nhưng chỉ là mấy gốc liễu, mấy khóm cúc hay vài luống rau để thưởng thức hay tiêu sầu. Còn Bác trồng cây với một mục đích nhân sinh rõ ràng. Việc trồng cây của Bác tùy hoàn cảnh thực tế cụ thể mà có khác. Ngày mới giành lại được độc lập, dân ta vừa qua một trận đói chết hai triệu người chưa kịp hồi hơi, Bác đã phát động ngay việc trồng rau màu cứu đói. Ngày ở căn cứ cách mạng hay chiến khu, Bác chủ trương trồng rau màu là để góp phần cải thiện đời sống cán bộ, chiến sĩ, giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân. Bác thả cải xoong trên dòng suối, làm vườn rau bên lán ở, hướng dẫn chiến sĩ rải đất trồng rau trên vách đá. Khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, cải cách ruộng đất thành công, cái ăn cái mặc của dân bước đầu đã được đảm bảo, Bác liền phát động Tết trồng cây chuẩn bị cho dân có gỗ làm nhà. Bác kêu gọi trồng cây gây rừng, phủ xanh đồi trọc, là mong trồng những rừng vàng mang lại những núi tiền vô tận làm giàu cho Tổ quốc.

Thứ ba, yêu cây, trồng cây ở Bác là cả một phong cách khoa học. Bác gắn bó với cây với bản chất của một người lao động cần cù đất Việt. Ngày ở Pháp có lúc Bác đã kiếm sống bằng nghề làm vườn. Ngày hoạt động ở Xiêm, rồi ở khu căn cứ Pác Bó, Tân Trào, chiến khu Việt Bắc, cho đến khi về ở Thủ đô Hà Nội, Bác luôn luôn tăng gia sản xuất một cách hoàn toàn tự giác và tổ chức lôi cuốn mọi người cùng làm theo. Bác không phải trồng cây với tính tượng trưng để động viên phong trào, mà Bác đã lao động thường xuyên và thật sự. Bác trồng cây với một phong cách khoa học. Trước hết phải chọn cây gì có lợi ích thiết thực, hiệu quả rõ ràng, trồng cây nào phải tốt cây ấy. Khi trồng rau phục vụ nhà ăn, Bác đã chọn cây cải canh thu hoạch nhiều lần, chứ không phải cây cải củ chỉ thu một lượt. Đi đâu thấy cây gì sinh lợi được cho dân là Bác đem về trồng như cây cọ dầu Hải Nam. Cảm động nhất là Bác đã du nhập cây săng xanh không rụng lá về định làm cây đường phố cho người quét rác đỡ vất vả.

Thứ tư, yêu cây, trồng cây ở Bác còn là một phương thức trồng người. Liên hệ ngôn ngữ phương Tây thấy từ Trồng trọt trong tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga cùng có một nguồn gốc chữ La – tinh cultura, đều có hai nghĩa; vừa là trồng trọt, vừa là văn hóa. Cái cây xưa kia mọc tự nhiên ở trong rừng hay ngoài bãi, con người đã biết lấy bàn tay và khối óc của mình mà thuần hóa nó, nghĩa là trồng trọt nó, vì lợi ích của bản thân con người, cái cây được trồng trọt đó trở thành một sản phẩm văn hóa. Và nói rộng ra, tất cả những cái gì do lao động và tư duy con người cải tạo hay sáng tạo đều gọi là văn hóa. Chính bản thân con người, một động vật sinh ra trong tự nhiên, có thể nói, nó tự trồng mình bằng lao động và tư duy để trở thành con người, và con người cũng là một sản phẩm văn hóa. Văn hóa tựu trung là cái làm cho con người khác con vật.

Quả thật, lời nói của Hồ Chủ tịch, đặt song song trồng cây và trồng người, có một ý nghĩa triết lý và thực tiễn rộng lớn, bao trùm. Bác Hồ quan tâm da diết đến việc trồng người, nhất là việc giáo dục thanh thiếu niên. Bác từng nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa”, và, vì tương lai lâu dài của sự nghiệp cách mạng, ngay trong Di chúc của Người để lại, Bác cũng nhắc nhở đến việc chăm lo giáo dục cho các thế hệ mai sau… Ta nghĩ đến Nguyễn Trãi xưa đi tìm cái thiện chân, thiên tính trong “đạo tự nhiên”. Ông chủ trương “ẩn cả” (tức đại ẩn) ngay giữa nơi triều đường để lo việc nước việc dân. Cả hai vị anh hùng dân tộc đều có cái phong thái của bậc hiền triết phương Đông, nắm được cái triết lý con người thống nhất với thiên nhiên như một thể hoàn chỉnh, và đều mang tấm lòng nhân ái mênh mông, tựu trung là để lo việc trồng cây và trồng người.

Thứ năm, yêu cây, trồng cây ở Bác là một phong thái triết học cách mạng phương Đông. Theo Giáo sư Trần Văn Giàu: Có tâm hồn cách mạng, Cụ Hồ thương người. Có tâm hồn thi nhân, Cụ Hồ yêu thiên nhiên. Yêu thiên nhiên của Cụ Hồ và yêu thiên nhiên của Lão Trang có khác và khác xa. Cụ Hồ yêu thiên nhiên không phải để tiêu dao, xa trần tục. Cụ Hồ yêu thiên nhiên mà gắn liền thiên nhiên với cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Ở thiên nhiên Cụ Hồ thấy một con người cổ vũ, chia vui buồn. Ở thiên nhiên Cụ Hồ cũng tìm thấy một sự quân bình trong tâm hồn sau những giờ làm việc căng thẳng.

Ở Cụ Hồ, thiên nhiên như có tính người, thiên nhiên được nhân hóa, thiên nhiên là bạn tri âm, bạn chiến đấu của Người… Yêu nước, yêu dân, yêu con người một cách nồng nhiệt, Cụ Hồ cũng yêu thiên nhiên một cách nồng thắm, hòa hiệp thiên nhiên với cuộc đấu tranh vì phẩm chất và tự do của con người. Ắt có quan hệ gần gũi giữa tình yêu thiên nhiên với trạng thái tâm hồn thanh thản, tỉnh táo, ung dung trong lúc bình cũng như trong khi biến.

Tìm hiểu tình yêu thiên nhiên, quan điểm lao động và sự nghiệp trồng cây của Bác, ta thấy Bác quả là một con người vĩ đại, trọn đời lo dân lo nước. Tết trồng cây là một tục lệ tốt đẹp Bác để lại cho dân ta, không ngừng làm đẹp non sông, làm giàu cho dân nước.

Nguyễn Thế Nữu
Theo http://nongnghiep.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong việc bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững

Trong vài ba thập kỷ gần đây, do sức ép của dân số và sự phát triển kinh tế thiếu tính toán, các nguồn tài nguyên trên trái đất ngày càng vơi cạn, môi trường bị suy thoái nghiêm trọng, thậm chí ở một số vùng có nguy cơ bị phá huỷ hoàn toàn. Hàng loạt các vấn đề về môi truờng đã nảy sinh như biến đổi khí hậu toàn cầu, suy thoái đa dạng sinh học, suy thoái tầng ô zôn, hoang mạc hóa đất đai,… Các vấn đề nêu trên đang là những thách thức đối với sự sống còn của loài người. Trước tình hình đó, chính phủ và nhân dân các nước không thể thờ ơ trước lời kêu gọi của nhiều tổ chức quốc tế: Hãy cứu lấy trái đất! Một trong những giải pháp đang được nhiều quốc gia triển khai nhằm “cứu lấy trái đất” là chuyển chiến lược phát triển thiếu kiểm soát lâu nay sang chiến lược Phát triển bền vững “Phát triển bền vững là phát triển nhằm đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” [6, tr. 9]. Như vậy, để phát triển bền vững, bên cạnh phát triển kinh tế – xã hội, cần phải quan tâm xây dựng một môi trường sống an toàn không chỉ ở hiện tại mà cho cả các thế hệ tương lai. Bảo vệ môi trường không còn là nhiệm vụ của một tổ chức hay cá nhân riêng lẻ nào mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Chính vì vậy cần phải đẩy mạnh công tác “giáo dục môi trường”, phải làm sao cho ý thức bảo vệ môi trường trở thành nếp sống thường nhật của mỗi người.

1Sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một tích cực bảo vệ môi trường

Lúc sinh thời, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng gắn cuộc sống của mình với thiên nhiên, môi trường. Thiên nhiên không những là nơi cung cấp những điều kiện sống và công tác mà với Người, thiên nhiên là người bạn, người cổ vũ, chia sẻ buồn vui. Ở thiên nhiên, Người tìm thấy một sự quân bình trong tâm hồn lúc thảnh thơi hay trong những giờ phút căng thẳng. Vì thế, thiên nhiên (sông, núi, trăng, sao, chim, hoa …) thường xuất hiện trong thơ của Người ngay cả khi “thân thể ở trong lao”, hay giữa núi rừng Việt Bắc, khi Người “chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”…

Thấy được vai trò to lớn đó của thiên nhiên nên Người chủ trương sống hòa hợp với thiên nhiên, môi trường. Theo Người, môi trường sống là yếu tố quan trọng đảm bảo sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ và giúp cho họ công tác tốt. Chính vì vậy, Người luôn căn dặn cán bộ phải chọn những nơi ở đảm bảo các “Phương châm”, các “điều kiện” sau: “Trên có núi, dưới có sông, có đất ta trồng, có bãi ta vui .. Nhà thoáng, ráo, kín, mát.” [3, tr. 73]. Khi trở về Hà Nội, trong khu nhà đơn sơ của mình, Người đã tạo ra một môi trường thiên nhiên tuyệt đẹp. Người trồng nhiều cây trong vườn, chăm chút như chăm người ốm. Người chăm sóc ao cá và không cho phép ai xua đuổi hoặc bắn chim trong vườn. Người nói: Chim là của quý của thiên nhiên, phải bảo vệ chúng. Nhà thơ Cu-ba P. Rodrighet sau khi đến thăm nhà sàn Bác Hồ tại Thủ đô Hà Nội đã nhận xét: “Chúng tôi được biết có hai điều Bác Hồ yêu thích, đó là hoa và tiếng chim ca. Hoa và chim luôn luôn ở bên Người. Ngôi nhà nhỏ của Bác nhìn ra phía nào cũng có một ô cửa sổ, một bức tranh bằng ánh sáng, trong đó hiện ra những cành cây, và khi gió nhẹ thổi qua, bức tranh như có sức sống” [3, tr. 67]; đồng thời, Người luôn luôn quan tâm đến việc xây dựng môi trường sống trong lành từ những việc làm nhỏ hàng ngày đến những kế hoạch lớn của đất nước. Nếu chúng ta liên hệ đến thời điểm giữa thế kỷ XX, thời điểm mà vấn đề môi trường chưa đặt ra cấp bách như hiện nay và trong hoàn cảnh đất nước đang trải qua hai cuộc kháng chiến gian khổ để bảo vệ độc lập dân tộc thì chúng ta sẽ thấy được tầm nhìn sâu sắc, lâu dài của Người vì sự phát triển bền vững của đất nước.Trong sinh hoạt hàng ngày, thông qua những việc làm nhỏ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ mong muốn xây dựng một môi trường sống trong lành cho các thế hệ tương lai.

Họa sĩ Diệp Minh Châu, người đã từng có một thời gian được sống gần Chủ tịch Hồ chí Minh tại chiến khu Việt Bắc vẫn cón nhớ mãi một câu chuyện: Hôm đó “Chủ tịch Phủ” phải dời đi nơi khác, anh em lo xếp gọn mang dụng cụ, tài liệu và dỡ chòi. Châu thấy Cụ Hồ hì hục đào hố trồng một cây quýt. Lấy làm lạ, Châu hỏi: Dời nhà rồi Bác, Bác còn trồng gì? Cụ Hồ đáp: “Ít bữa nữa cây quýt lớn lên, có trái, người đi đường, đi rừng có thể đỡ khát được” [3, tr.73]. Như vậy, trong một hành động nhỏ của Người đã ẩn chứa mong muốn rất cao đẹp. Với Người, trồng cây không chỉ để có bóng mát, trái ngọt cho hôm nay mà còn góp phần để lại thành quả ngày mai.

Dù ở đâu, trong thời gian dài hay ngắn Người đều tự tay trồng những cây xanh làm tốt tươi những nơi mình đi qua. Nhân dân địa phương thường gọi bằng cái tên trìu mến “Cây đa Bác Hồ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn muốn đi xa hơn nữa. Người không chỉ tạo cho mình môi trường sống trong lành, hòa hợp thiên nhiên mà còn muốn tạo ra điều đó cho nhân dân Việt Nam, để lại lợi ích cho muôn dời. Chính vì thế, Người đã phát động một phong trào trồng cây rộng lớn trong toàn thể nhân dân, từ các em thiếu nhi, thanh niên cho đến các cụ phụ lão. Người viết: “Việc này tốn kém ít mà lợi ích nhiều.”, Theo Người, mỗi người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây, nếu tất cả nhân dân miền Bắc đều trồng từ một đến ba cây trong một năm, bắt đầu từ năm 1960 thì mỗi năm có thêm 15 triệu cây. Và “trong mười năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn”[4, tr. 566]. Người diễn đạt ý nghĩa của việc trồng cây bằng thơ để ai cũng hiểu, cũng nhớ: “Muốn làm nhà cửa tốt,/ Phải ra sức trồng cây./ Chúng ta chuẩn bị từ rày, /Dăm năm sau sẽ bắt tay dựng nhà”.

Mùa xuân năm 1960, phong trào “Tết trồng cây” bắt đầu được phát động trong nhân dân. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cố gắng đưa “Tết trồng cây” trở thành một phong tục tốt đẹp của nhân dân ta mỗi khi Xuân về, Tết đến. Mỗi khi đi thăm các địa phương, trường học, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều chú ý nhắc nhở công tác vệ sinh môi trường và động viên mọi người tích cực trồng cây. Đến thăm thôn Lạc Trung (Vĩnh Phúc), Người nhấn mạnh: “Muốn làm nhà thì phải có gỗ, muốn có gỗ thì hãy hăng hái trồng cây” [5, tr. 258]. Nói chuyện với nhân dân đảo Cô Tô ngày 9-5-1961, Người động viên: “Cần trồng nhiều cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây ngăn gió. Trồng cây sẽ đưa lại cho nhân dân nguồn lợi to, lại làm cho xứ sở ta thêm tươi đẹp” [5, tr. 354]. Khi về thăm trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Người nói: “Lần trước đến thăm trường, Bác có nói hai điểm: một là vệ sinh, hai là trồng cây. Vệ sinh ở đây còn kém! Về trồng cây, Bác bảo nên trồng nhiều cây” [5, tr. 330]….

Trong những dịp nói chuyện với thiếu nhi, thanh niên, Người không quên nhắc nhở, động viên các em trồng cây. Nói chuyện với thiếu niên, nhi đồng trong dịp Tết Trung thu năm 1960, Người căn dặn: “Các em tiếp tục trồng cây nhiều nữa. Ở thành thị cũng như ở nông thôn các em nên thành lập những đội nhi đồng chăm nom cây cối để giúp đồng bào trồng cây nào sống cây đó, tốt cây đó” [5, tr. 220]. Đồng thời, với những địa phương, đơn vị không thực hiện tốt nhiệm vụ trồng cây, Người thẳng thắn phê bình. Người phê bình nhân dân Thái Nguyên: “Việc trồng cây gây rừng chưa được coi trọng, trồng cây nhưng chưa chú ý chăm sóc để cây chết, cán bộ, công nhân khu gang thép đốt cháy mất hơn 2 vạn cây” và yêu cầu “phải ra sức bảo vệ rừng, không để gây ra cháy rừng” [5, tr. 98]. Đồng thời, với những địa phương đơn vị có thành tích về vệ sinh và trồng cây, Người có lời khen ngợi và nêu gương. Người khen thầy trò Trường Trung cấp Thể dục thể thao (tiền thân của Trường Đại học Thể dục thể thao Từ Sơn ngày nay): “Ở đây các cháu có phong trào tăng gia sản xuất tốt, nhưng phải trồng thêm nhiều cây xanh…”. Người dặn thêm: “Nên cố gắng trồng nhiều cây có bóng mát để học sinh có nơi trú nắng” [1, tr. 98]. Người nêu tấm gương về thôn Lạc Trung (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc): “Thôn Lạc Trung hồi kháng chiến bị giặc Pháp đốt sạch, không còn một gốc cây nào. Nhờ trồng cây có kế hoạch nên từ một thôn trơ trọi chỉ sau vài năm Lạc Trung trở nên xanh tươi nhất trong cả huyện Vĩnh Tường…Bà con xem đó, do Tết trồng cây mà đất nước ta càng thêm xanh tươi, nhân dân ta càng thêm giàu có” [5, tr.263-264].

Ngày nay, chúng ta có những rừng thông, rừng phi lao bát ngát, xanh rờn dọc chiều dài bờ biển, những con đường lớn, đường nhỏ được viền cây xinh xắn, những ngọn đồi được phủ xanh bóng mát,… Tất cả những khung cảnh này đã được Người sớm hình dung và cố gắng gây dựng bằng những “Tết trồng cây” đầy ý nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ chú trọng trồng cây ở nước ta, mà Người còn mong muốn việc làm đó phát triển ở nước khác. Trong những lần đi thăm các nước bạn, gặp gỡ nhân dân các nước đó hoặc khi đón tiếp các vị nguyên thủ quốc gia ở nước mình, Người đều tổ chức trồng cây lưu niệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trồng cây đại ở Ấn Độ, trồng cây sồi ở nước Nga và Người gọi đó là “những cây hữu nghị” và nhân dân địa phương gọi là những “Cây Bác Hồ”. Các cây ấy lớn theo thời gian, không chỉ biểu hiện của tình hữu nghị tươi thắm giữa nhân dân Việt Nam và bầu bạn thế giới mà còn thể hiện ý thức làm đẹp môi trường sống.

Như vậy, lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những dành trọn cuộc đời mình đấu tranh cho độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, mà với mong ước non sông, đất nước đời đời tươi đẹp, nhân dân Việt Nam mãi mãi được hạnh phúc vẹn tròn, Người sớm hình dung và chỉ ra những định hướng phát triển lâu dài cho đất nước. Định hướng đó không chỉ là những tư tưởng về xây dựng con người và môi trường xã hội mà còn nhằm xây dựng môi trường tự nhiên. Nhiều tư tưởng của Người về phát triển bền vững đã trở thành hiện thực. Ngày 17-8-2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, trong đó đã thể hiện và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển bền vững. Đồng thời, đối với toàn thể nhân loại, chiến lược phát triển bền vững cũng đang là định hướng phát triển lâu dài với sự ra đời của Chương trình Chăm lo cho trái đất và Chương trình trồng rừng, bảo vệ rừng.

Hiện nay, nhiều vấn đề bức xúc về môi trường đang đặt ra ở nước ta, trong đó nổi bật là việc khai thác rừng quá mức gây hậu quả hết sức nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Do đó, hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải thấy được tầm quan trọng của việc trồng cây, gây rừng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra từ nửa thế kỷ trước. Học tập tấm gương của Người, chúng ta cần đẩy mạnh phong trào trồng cây trong mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, thực hiện đúng tư tưởng của Người: Trồng cây phải có kế hoạch dài hạn, tiến hành thường xuyên, đồng bộ chứ không chỉ một năm và ở một số địa phương nhất định; phải chú trọng trồng cây và chăm sóc cây, bảo đảm “trồng cây nào sống cây đó, tốt cây đó”, tránh việc tiến hành hình thức, chạy theo diện tích, số lượng. Mặt khác, cần tạo điều kiện cho lực lượng học sinh, sinh viên trong các trường học tham gia phong trào Tết trồng cây vì đây là hoạt động vừa có ý nghĩa thực tiễn vừa mang ý nghĩa giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sâu sắc.

Tài liệu tham khảo

1. Bác Hồ với thể dục thể thao Việt Nam (1995), Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội.

2. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2007), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

3. Trần Văn Giàu (2008) Vĩ đại một con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

4. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 9 (1958-1959) (2000), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

5. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 10 (1961-1962) (2000), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

6. Luật bảo vệ môi trường (2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

ThS. Phan Thị Lý – ThS. Trần Thanh Hùng
GV. Khoa Khoa học Xã hội & Nhân Văn
Theo http://www.tdmu.edu.vn
Đỗ Long Văn (st)

bqllang.gov.vn

Nước Trung Hoa của Đặng Tiểu Bình

Sau nhiều tháng chuẩn bị, ngày 8.11, Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Trung quốc đã chính thức bắt đầu. 10 năm sau kỳ Đại hội năm 2002, Đại hội lần này được coi là bước chuyển giao quyền lực cho thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc. Trong bối cảnh quốc gia đang phải đối mặt với nhiều thách thức cả về kinh tế lẫn xã hội, những bài học của Đặng Tiểu Bình, một trong những nhà lãnh đạo có công lớn nhất trong sự phát triển của Trung Quốc ngày hôm nay, lại một lần nữa được nhắc đến.

Chân dung Đặng Tiểu Bình được trưng tại quảng trường ở Thâm Quyến, Quảng Đông, Trung Quốc

Mặc dù chưa bao giờ ở vị trí nguyên thủ quốc gia hay là người đứng đầu Chính phủ, Đặng Tiểu Bình luôn được coi là kiến trúc sư trưởng của mô hình phát triển Trung Quốc từ năm 1978, thời điểm Trung Quốc đang ở đáy sâu của khủng hoảng. 14 năm sau khi ông về nghỉ, 200 triệu người không còn sống trong cảnh nghèo đói, và Trung Quốc đã trở thành một cường quốc kinh tế.

Những năm vừa qua Trung Quốc đã mất đi động lực đó. Tham nhũng đã trở thành vấn nạn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế không còn ở mức hai con số và có chiều hướng giảm qua từng năm, trong khi phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc. Rõ ràng, Trung Quốc đang cần những cải cách sâu rộng cả về kinh tế lẫn xã hội. Và để làm được điều đó, học thuyết Đặng Tiểu Bình chưa bao giờ là quá khứ:

Thí điểm từ đó nhân rộng mô hình: để cải cách thành công, cần tiến hành thí điểm chính sách ở địa phương phù hợp trước. Nếu có kết quả, Đặng Tiểu Bình để các cán bộ ở địa phương thí điểm phổ biến mô hình trên toàn quốc, cũng như cho phép các địa phương khác đến học hỏi kinh nghiệm. Một trong những ví dụ thành công nhất chính là mô hình đặc khu kinh tế ở Thâm Quyến. Năm 1979, Thâm Quyến bắt đầu mở cửa để các thương nhân Hong Kong tự do thành lập công ty và tự đặt ra những quy định quản lý riêng. Những quy định này tỏ ra hiệu quả và sau đó được áp dụng ở nhiều nơi.

Trọng nhân tài: chỉ những người có thực tài mới được kết nạp vào Đảng. Để có vị trí cao hơn, họ phải chứng minh được năng lực của mình. Các cán bộ đã có tuổi cần tự nguyện rời nhiệm sở để nhường cho người trẻ hơn.

Hạn chế tối đa mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền: vào năm 1978, nhiều cán bộ vẫn phản đối việc giải tán các hợp tác xã, mặc dù chế độ này không thể sản xuất ra đủ thực phẩm cho người dân. Thay vì cố gắng thuyết phục những ý kiến phản đối, Đặng Tiểu Bình ban hành chính sách cho phép các hộ nông dân được giữ lại sản phẩm, sau khi hoàn thành hạn mức sản phẩm cho nhà nước (chính sách khoán ruộng đất). Ngay sau đó, người dân Trung Quốc không những đủ ăn mà nông sản thừa còn được đem ra trao đổi buôn bán. Đặng Tiểu Bình để cho các nhà báo viết về những thành tựu đó và một năm sau thì toàn bộ Trung Quốc thống nhất bãi bỏ chế độ hợp tác xã.

Thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với các cường quốc: học thuyết ngoại giao của Đặng Tiểu Bình từng là kim chỉ nam trong chính sách đối ngoại của Bắc Kinh. Ông luôn tỏ thái độ thân thiện với mỗi nhà lãnh đạo trên thế giới, bên cạnh việc thừa nhận những khác biệt giữa Trung Quốc và các quốc gia khác. Trong lịch sử Trung Quốc, ông là nhà lãnh đạo đầu tiên đến thăm và trò chuyện với Nhật hoàng, từ đó đàm phán thành công các thỏa thuận hợp tác với Nhật Bản, thúc đẩy chương trình trao đổi nhân lực, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa hai nước bằng việc nhập khẩu các chương trình TV, phim và tiểu thuyết Nhật. Đặng Tiểu Bình cũng là người có công bình thường hóa mối quan hệ Mỹ – Trung. Chuyến thăm Mỹ năm 1979 và sự kiện một quan chức Trung Quốc đội chiếc mũ cao bồi gửi tới người dân Trung Quốc thông điệp: chẳng có gì là sai khi tiếp nhận tinh hoa văn hóa Mỹ và thế giới. Năm 1989, ông chào đón Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Mikhail Gorbachev đến thăm Trung Quốc, để chứng tỏ rằng mối quan hệ song phương, từng gián đoạn từ năm 1963, đã được nối lại.

Đặng Tiểu Bình thuộc thế hệ những nhà cách mạng đầu tiên của Trung Quốc, đồng chí của Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai. Ngày nay, vẫn còn nhiều điều mà những nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc cần học hỏi từ những di sản mà ông để lại, nhưng quan trọng nhất vẫn là thái độ sẵn sàng thử thách và thay đổi, quan điểm không bài ngoại, đường lối ngoại giao thực dụng, và chính sách trọng nhân tài.

Ngọc Điệp
Theo IHT
daibieunhandan.vn

Sự can thiệp thô bạo khoác áo nhân quyền

Nhân quyền (quyền con người) là giá trị của nền văn minh nhân loại, là thành quả của quá trình đấu tranh gian khổ và lâu dài vì tự do, công bằng, hoà bình và phát triển. 

Tuy nhiên, lĩnh vực quyền con người hiện đang bị một số lực lượng chính trị bá quyền lợi dụng như là một ngọn cờ tập hợp lực lượng hòng can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia độc lập, có chủ quyền. Bởi vậy, quyền con người đang trở thành vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp trong đời sống chính trị quốc tế hiện nay.

Mỹ và một số nước phương Tây lớn tiếng rêu rao ”nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia”, ”nhân quyền không biên giới”.

Vậy thực chất cái gọi là ”nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia”, ”nhân quyền không biên giới”… ở đây là gì ?

Đó chính là chiêu bài mà Mỹ và một số nước phương Tây đừng làm cái cớ để ”can thiệp nhân đạo” vào công việc nội bộ các nước có chủ quyền. Dưới ngọn cờ ”nhân quyền”, Mỹ và các nước phương Tây muốn áp đặt ”nhân quyền” mang màu sắc siêu cường của họ lên các nước khác. Nếu không chấp nhận quan niệm giá trị đó họ sẽ tìm mọi cách gây sức ép bằng kinh tế, chính trị, công nghệ… uy hiếp vũ trang, thậm chí, lật đổ hoặc áp đặt bằng vũ lực. Có thể nói, thực chất đó là những hành động của chủ nghĩa thực dân mới ngày nay, núp dưới danh nghĩa bảo vệ ”nhân quyền” của Mỹ và phương Tây.

Trên thực tế, từ năm 1990 đến nay, núp dưới ngọn cờ ”nhân quyền”, Mỹ đã hơn 40 lần sử dụng vũ lực đối với một nước. Đặc biệt, cuối tháng 3 năm 1999, NATO do Mỹ cầm đầu đã phớt lờ luật pháp quốc tế, ngang nhiên bỏ qua Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc, oanh tạc Nam Tư – một quốc gia có chủ quyền suốt 78 ngày. Bốn năm sau, (3/2003) một lần nữa, Mỹ- Anh lại bất chấp Liên hợp quốc, tiến công Irắc với cái cớ ”I-rắc có vũ khí huỷ diệt hàng loạt”.

Nếu quả thật nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia, thì phải chăng vì nhân quyền có thể không cần đến chủ quyền ? Và không có chủ quyền quốc gia thì căn cứ vào đâu họ nhân danh quốc gia có ”nhân quyền” can thiệp vào quốc gia ”vi phạm nhân quyền”, căn cứ vào đâu để xác định sự tồn tại của một quốc gia độc lập? Và khi chủ quyền của một quốc gia – dân tộc bị xâm phạm và chà đạp thì nhân quyền của quốc gia dân tộc đó có còn được bảo đảm hay không ? Và thử hỏi, liệu có thể có những vụ ném bom mang tính nhân đạo hay không, nhất là khi nhiều vụ ném bom ”nhầm” vào khu dân cư, phá huỷ bệnh viện, trường học, những công trình dân sinh… giết chết hàng trăm người dân vô tội, khiến bao gia đình tan nát hoặc lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Thử hỏi, những giá trị nhân quyền của Mỹ và các nước phương Tây ở đây là gì ?

Là một dân tộc từng bị chủ nghĩa thực dân cũ và mới xâm lược, áp bức, hơn ai hết chúng ta hiểu sâu sắc rằng khi 1à ”vong quốc nô” thì không thể có nhân quyền, và chỉ khi nào giành được độc lập dân tộc thì mới có được những quyền cơ bản của con người. Một quốc gia không có hoặc chưa có chủ quyền thì không thể nói đến nhân quyền, đến ”quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc”. Ngược lại, nước độc lập mà nhân dân không đủ cơm ăn, áo mặc, không được học hành thì độc lập, tự do cũng chẳng nghĩa lý gì, nền độc lập đó không thể bền vững.

Như vậy, chủ quyền quốc gia và nhân quyền có mối quan hệ biện chứng, làm tiền đề tồn tại và phát triển cho nhau. Chủ quyền quốc gia 1à điều kiện tiên quyết, cơ bản để thực hiện đầy đủ nhân quyền và một khi nhân quyền được thừa nhận và phát triển thì đó là nền tảng của tự do, công bằng và hoà bình. Vì lẽ đó, không thể có cái gọi là ”nhân quyền cao hơn chủ quyền”.

Đã từ lâu, Mỹ đã theo đuổi và sử dụng ngoại giao nhân quyền như là một chính sách cơ bản trong chiến lược ”diễn biến hoà bình” nhằm chống phá các nước XHCN, trong đó có Việt Nam. Sau thất bại ở Việt Nam, Mỹ càng đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện chính sách ngoại giao nhân quyền để chống phá nước ta. Ngày 19/10/1982, Bộ Ngoại giao Mỹ tổ chức Hội nghị ”Lên án sự vi phạm nhân quyền của cộng sản Việt Nam”. Tháng 12/1983, Bộ Ngoại giao Mỹ trình Quốc hội Mỹ rằng, Việt Nam là một nước không có nhân quyền. Ngày 8/12/1991, Quốc hội Mỹ lên tiếng phản đối Việt Nam vi phạm nhân quyền. Ngày 6/9/2001, Hạ viện Mỹ thông qua Dự luật nhân quyền Việt Nam (VHRA), nhưng không được Thượng viện Mỹ thông qua. Đặc biệt, ngày 15/7/2003,Hạ viện Mỹ đã thông qua điều khoản bổ sung cho Dự luật chi tiêu đối ngoại của Bộ ngoại giao Mỹ trong năm tài chính 2004-2005 (HR. 1950), gắn các điều kiện về nhân quyền với viện trợ không liên quan đến mục đích nhân đạo cho Việt Nam.

Sau gần một tuần thảo luận từ 14/7 đến 19/7/2004, Hạ Nghị viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu với 232 phiếu thuận, 45 phiếu chống, 65 không bỏ phiếu, thông qua cái gọi là luật Nhân quyền Việt Nam năm 2004 mang số hiệu H.R.1587.
Cái gọi là ”Luật Nhân quyền Việt Nam” năm 2004 hay còn gọi là hồ sơ H.R.1587 gồm 3 chương, trong đó liệt kê 10 điều xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, áp đạt điều kiện vô lý cho việc cải thiện quan hệ hữu nghị và hợp tác đang trên đà phát triển theo chiều hướng thuận giữaViệt Nam và Hoa Kỳ. Tệ hại hơn, dự luật này còn đề nghị dành một quỹ đặc biệt để khuyến khích việc gây ra tình hình bất ổn về chính trị ở Việt Nam.

Mỹ tự cho mình cái quyền phán xét tình hình nhân quyền của các nước khác, trong khi chính Mỹ đang bị dư luận chỉ trích vì vi phạm nhân quyền và bị các nước đồng loạt gạt khỏi Ủy ban nhân quyền của Liên hiệp quốc trong cuộc bỏ phiếu tại Hội đồng kinh tế-xã hội (ECOSOC) (3/5/2001). Điều mỉa mai là nước luôn đòi ”can thiệp nhân đạo” vào công việc nội bộ của các nước khác để giải quyết vấn đề nhân quyền, thì chính họ lại vi phạm nhân quyền nhiều nhất. Ngày 1/3/2004, Văn phòng Quốc Vụ viện Trung Quốc đã công bố báo cáo “Về quyền con người ở Mỹ năm 2003”, trong đó đặc biệt nhấn mạnh, sau sự kiện ngày 11/9, dưới chiêu bài chống khủng bố, chính phủ Mỹ đã ra hàng loạt đạo luật vi phạm quyền và sự tự do của công dân.

Ở Mỹ hiện có không ít người không đủ điều kiện thực hiện quyền cơ bản của con người và quyền sống của con người bị đe dọa bởi chính sách bóc lột, đàn áp, bởi tệ phân biệt chủng tộc, bởi bạo lực tràn lan và các tệ nạn xã hội. Các số liệu thống kê cho thấy, năm 2002 số người không có chỗ ở của Mỹ đã vượt quá con số 3 triệu, những người giàu chỉ chiếm 1% dân số lại nắm trong tay tổng số tài sản vượt quá tổng tài sản của 40% dân số, có đến 21.500 nhóm mafia với 731.000 thành viên, có khoảng 200 triệu cây súng đang lưu hành trong dân, 11,9 triệu vụ án giết người, hiếp dâm, cướp bóc. Gần đây, nhiều vụ việc cảnh sát hành hung người da đen ngay trên đường phố mà không bị xét xử nghiêm minh, cho thấy sự phân biệt chủng tộc vẫn còn nặng nề. Trong tháng 4,5 vừa qua, trên phương tiện thông tin đại chúng đang rộ lên hình ảnh lính Mỹ ngược đãi tù binh I-rắc đang làm hoen ố hình ảnh nước Mỹ và đương kim Tổng thống Buts. Về điều này, ông uỷ viên Hội đồng thành phố New York – Wenden Photxto, đã phải thừa nhận rằng, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc là đặc trưng của nền pháp lý Mỹ. Nó là bệnh ung thư đang tàn phá chúng ta. Hãy dẹp bỏ câu chuyện hoang đường rằng nước Mỹ là xứ sở của nhân quyền và tự do.

Ở Việt Nam, đảm bảo và phát triển quyền con người đã là một mục tiêu chính trị chủ đạo và nhất quán trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Đường lối nhất quán và xuyên suốt từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến sự nghiệp đổi mới đất nước và tất cả vì sự nghiệp giải phóng con người, vì quyền con người đích thực. Đường lối này là kết tinh những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc và quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về quyền con người. Không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận như là một tuyên ngôn chính trị, quyền con người đã và đang được thể chế hoá và hiện thực hóa trong đời sống thực tiễn ở Việt Nam, nhất là trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước.

Cho đến nay, chúng ta đã có được một hệ thống văn bản pháp luật tương đối toàn diện về bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Cùng với việc khẳng định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2, Hiếnpháp năm 1992 đã được sửa đổi năm 2001), Hiến pháp còn xác định cách thức thực hiện quyền làm chủ trên thực tế. ”Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với các cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân” (Điều 53). Hiến pháp còn quy định những quyền công dân hết sức cụ thể: quyền bầu cử và ứng cử, quyền miễn nhiệm đối với đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, quyền khiếu nại, tố cáo, các quyền tự do về báo chí, ngôn luận, hội họp, lập hội…

Bên cạnh đó, công tác thông tin cho cử tri về hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là truyền hình trực tiếp (hoặc truyền thanh) về các phiên họp của cơ quan dân cử; công tác tiếp xúc cử tri; việc tổ chức các đợt góp ý kiến của nhân dân về các dự án luật; việc ban hành và đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở… là những tiền đề hết sức quan trọng trong việc đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, trong việc xây dựng nền dân chủ XHCN.

Đảm bảo và phát huy quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân sẽ làm tăng khả năng hiện thực của việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, trình độ phát triển kinh tế, những điều kiện sinh hoạt vật chất luôn là nền tảng và mang tính quyết định đối với việc hiện thực hoá và mở rộng các quyền con người, quyền công dân. Thực tế hơn 17 năm đổi mới vừa qua cho thấy, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đến phát triển kinh tế và xem đây là nhiệm vụ trung tâm. Việc thừa nhận và thể chế hoá trong Hiến pháp 6 thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay chính là sự tôn trọng và khuyến khích những người có năng lực và điều kiện tham gia phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng.

Bên cạnh chú trọng nâng cao đời sống vật chất, Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm chăm lo đời sống tinh thần của nhân dân, đặc biệt là trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Những năm qua, nhiều lễ hội và ngày lễ lớn của các tôn giáo, các kỳ đại hội và hoạt động lớn của các tôn giáo được tổ chức trọng thể ở mọi miền của Tổ quốc trong không khí trang nghiêm, an toàn, thu hút hàng vạn tín đồ tham gia.

Thống kê cho thấy: ở Việt Nam hiện có khoảng 10 trường đại học tôn với hàng ngàn tăng ni sinh, chủng sinh, sinh viên đang theo học.

Hầu hết các cơ sở thờ tự của tôn giáo đều được xây dựng, duy tu, bảo dưỡng…

Nhìn tổng quát, những nỗ lực và thành tựu cơ bản trên đây có tính chất nền tảng và bao trùm trên tất cả những lĩnh vực chủ yếu về quyền con người như: chính trị, dân sự, kinh tế-xã hội, văn hoá ở Việt Nam hiện nay.

Điều đó, một mặt, chứng minh sự quan tâm đặc biệt và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong việc đảm bảo các quyền con người, quyền công dân, nhưng mặt khác, khẳng định tính tôn trọng và tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế về quyền người mà Nhà nước Việt Nam đã tham gia ký kết, phê chuẩn. Đồng thời, chính thực tiễn đầy sức thuyết phục đó đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt vu cáo trong vấn đề nhân quyền của các thế lực thù địch.

(Theo Võ Công Khôi
Phân viện Đà Nẵng
Tạp chí Tư tưởng-Văn hóa, tháng 8/2004)

cpv.org.vn

This entry was posted on Tháng Mười Một 18, 2012, in Chính luận.

Thông qua Tuyên bố Nhân quyền ASEAN

Tuyên bố khẳng định các nước ASEAN cần tăng cường hợp tác và hữu nghị để thúc đẩy hòa bình, ổn định và hòa hợp ở khu vực.

Ngày 18/11, tại Thủ đô Phnom Penh, Campuchia, Lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Tuyên bố Phnom Penh thông qua Tuyên bố Nhân quyền ASEAN (AHRD).

Tuyên bố Nhân quyền ASEAN là văn kiện chính trị đầu tiên của ASEAN nhằm tạo khuôn khổ chung cho tăng cường hợp tác ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền ở khu vực, với những ý nghĩa quan trọng.

Tuyên bố thể hiện nguyện vọng, quyết tâm và nỗ lực của người dân và Chính phủ các nước thành viên xây dựng một Cộng đồng ASEAN hướng tới người dân; khẳng định cam kết của ASEAN tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ  các quyền cơ bản của con người cũng như phấn  đấu nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân khu vực như đã nêu trong Hiến chương ASEAN.

Tuyên bố thể hiện cam kết của ASEAN trong thúc đẩy thực hiện Tuyên bố Nhân quyền ASEAN phù hợp với các nguyên tắc đề ra trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế, Tuyên bố và Chương trình Hành động Viên và các văn kiện quốc tế về nhân quyền khác mà các quốc gia thành viên ASEAN đã tham gia.

Tuyên bố khẳng định lại  các giá trị nhân quyền chung, đi đôi với coi trọng các giá trị và đặc thù của ASEAN và các quốc gia trong khu vực, quyền đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm trước cộng đồng, qua đó đóng góp vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực quyền con người.

AHRD bao gồm các phần: i) Phần mở đầu, ii) Các nguyên tắc chung, iii) Các quyền dân sự và chính trị, iv) Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, v) Quyền phát triển, vi) Quyền hưởng hòa bình, và vii) Hợp tác thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền; với 40 Điều.

Phần mở đầu khẳng định lại các mục đích, nguyên tắc trong Hiến chương ASEAN; nhấn mạnh cam kết đối với Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền (UDHR), Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên bố và Chương trình hành động Viên…; khẳng định AHRD sẽ góp phần xây dựng khuôn khổ hợp tác nhân quyền ở khu vực và đóng góp vào tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN.

Phần các nguyên tắc chung nêu các nguyên tắc như bình đẳng, không phân biệt đối xử, quyền được công nhận, bảo vệ trước pháp luật, đối xử cân bằng giữa các quyền, cân bằng giữa quyền và trách nhiệm; tôn trọng đặc thù khu vực và sự đa dạng về thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa, lịch sử… của mỗi nước cũng như pháp luật và trật tự xã hội trong thực thi nhân quyền; bảo đảm các nguyên tắc không thiên vị, khách quan, không chính trị hóa vấn đề nhân quyền…

Các quyền dân sự và chính trị bao gồm các quyền được sống; quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân, quyền không bị nô dịch và buôn bán; quyền không bị tra tấn; quyền tự do đi lại, cư trú, tị nạn; quyền sở hữu tài sản; quyền có quốc tịch; quyền hôn nhân và gia đình, quyền được xét xử công bằng và bảo vệ trước pháp luật; quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu cá nhân; quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do hội họp; quyền ứng cử, bầu cử trên cơ sở nội luật của mỗi nước.

Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, bao gồm các quyền về việc làm, lập và tham gia công đoàn; hạn chế sử dụng lao động trẻ em; quyền đối với các dịch vụ xã hội cơ bản (lương thực, y tế, vệ sinh…); quyền nâng cao thể chất và chăm sóc sức khỏe; giúp đỡ và chống kỳ thị với người mắc bệnh truyền nhiễm; quyền hưởng an sinh xã hội và giáo dục; chăm sóc, bảo vệ bà mẹ và trẻ em; quyền văn hóa; nhấn mạnh việc thực hiện các quyền kinh tế-xã hội-văn hóa cần phù hợp với khả năng và điều kiện của các quốc gia thành viên.

Phần về quyền phát triển khẳng định quyền phát triển là  thành tố quan trọng của nhân quyền, trong đó mỗi người có quyền tham gia, đóng góp và thụ hưởng công bằng các thành quả và lợi ích của phát triển; nêu các biện pháp thu hẹp khoảng cách phát triển, thúc đẩy phát triển bền vững và đồng đều ở khu vực nhằm phục vụ và nâng cao cuộc sống của người dân khu vực.

Tuyên bố khẳng định mỗi cá nhân và các dân tộc ở khu vực đều có quyền hưởng hòa bình; các nước ASEAN cần tăng cường hợp tác và hữu nghị để thúc đẩy hòa bình, ổn định và hòa hợp ở khu vực.

Phần hợp tác thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền khẳng định mong muốn, cam kết của các nước thành viên trong tăng cường hợp tác về nhân quyền./.

Theo Chính phủ
vov.vn