Archive | Tháng Sáu 2012

Thư gửi Hội nghị cán bộ Tổng cục cung cấp nǎm 1953 (6-1953)

Thân ái gửi Hội nghị cán bộ của Tổng cục cung cấp,

Bác vui lòng nhận được báo cáo rằng Hội nghị đã cố gắng làm việc và có kết quả khá: tìm thấy khuyết điểm và cách sửa chữa khuyết điểm, thực hiện biên chế, chỉnh đốn tổ chức, sửa đổi lề lối làm việc…

Bây giờ, dưới sự lãnh đạo, đôn đốc, kiểm tra của Tổng cục, các ngành phải thi đua thực hiện những điều đã quyết định trong Hội nghị.

Sau đây, Bác có mấy điểm cần dặn các chú:

– Phải luôn luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm.

Nhân dân hy sinh rất nhiều công và của để cung cấp cho bộ đội.

Đảng và Chính phủ luôn luôn sǎn sóc đến bộ đội. Nhân dân, Đảng và Chính phủ tin các chú, giao trách nhiệm cho các chú.

Vậy trách nhiệm của cán bộ Tổng cục cung cấp từ trên đến dưới là toàn tâm toàn lực phục vụ bộ đội. Chớ tham ô, chớ lãng phí một đồng tiền, một bát gạo, một ngày công của nhân dân đóng góp cho bộ đội.

– Phải thật lòng thương yêu binh sĩ.

Phải sǎn sóc đời sống vật chất và tinh thần của binh sĩ, phải coi binh sĩ như anh em ruột thịt của mình. Đối với công nhân các nhà máy, với anh em lái xe, với dân công phục vụ chiến dịch, với anh em thương binh cũng vậy.

Đó là quan điểm quần chúng, đó là lập trường giai cấp.

– Phải chỉnh đốn tổ chức và công tác.

Tổ chức phải gọn gàng. Nhiệm vụ của mỗi bộ phận, mỗi người phải quy định rõ ràng. Các cấp và các cán bộ lãnh đạo phải giúp đỡ và đôn đốc thường xuyên, phải kiểm tra chặt chẽ.

Tổng cục cung cấp có trách nhiệm giúp xây dựng quân đội. Các ngành và các cán bộ nên ký với nhau những giao ước thi đua để mọi người đều ra sức làm tròn nhiệm vụ.

– Mở rộng dân chủ.

Các đợt chỉnh huấn đã thu được kết quả khá. Để phát triển và củng cố kết quả ấy, cần phải thực hiện dân chủ, mở rộng phong trào thật thà tự phê bình và phê bình từ trên xuống, từ dưới lên, gây phong trào thiết thực chống quan liêu, tham ô, lãng phí. Như vậy thì công tác của Tổng cục cung cấp sẽ tiến bộ hơn nữa, tức là góp một phần to vào những thắng lợi to hơn nữa.

Các chú có quyết tâm thì nhất định làm được.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Tạp chí Hậu cần, số 9,
tháng 6-1953, tr.24
cpv.org.vn

Thư gửi các lớp chỉnh huấn cơ quan (6-1953)

Thân ái gửi lớp chỉnh huấn,

Nhân dịp mở đầu lớp chỉnh huấn, Bác có mấy lời giúp các cô, các chú nghiên cứu:

Vì sao phải chỉnh huấn?

Vì cán bộ ta lập trường chưa vững chắc, tư tưởng chưa thông suốt. Do đó mà mắc nhiều khuyết điểm như:

– Chưa hiểu rõ đường lối cách mạng dân tộc – dân chủ; chưa nắm được vững chính sách trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh.

– Chưa phân biệt rõ ràng ai là thù, ai là bạn (trên thế giới, trong nước và trong bản thân mình).

– Vì vậy mà mắc nhiều bệnh. Chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc. Đó là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác, như:

Tự tư tự lợi, sợ khó sợ khổ;

Không yên tâm công tác. Ham địa vị danh tiếng;

Lãng phí, tham ô. Quan liêu, mệnh lệnh, v.v..

Chỉnh huấn phải thế nào?

Chỉnh huấn là cốt để giúp cán bộ nâng cao tư tưởng cách mạng, củng cố lập trường, rửa gột khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Muốn có kết quả ấy thì phải:

– Mở rộng dân chủ: thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình.

– Chống thái độ rụt rè, nể nả giữa cấp dưới và cấp trên, giữa công nông và trí thức, giữa cán bộ ngoài Đảng và trong Đảng.

Nhiệm vụ của mọi người:

Cán bộ phụ trách các cơ quan phải thật thà lãnh đạo việc chỉnh huấn.

Những người dự lớp chỉnh huấn thì phải quyết tâm học tập, quyết tâm cải tạo; giúp nhau học tập, giúp nhau cải tạo.

Các cô, các chú đều là những cán bộ kháng chiến, cán bộ cách mạng, đều là những cán bộ có thể tiến bộ và có tương lai vẻ vang. Mong các cô, các chú cố gắng học tập, để tiến bộ mãi, để toàn tâm toàn lực phụng sự kháng chiến, phụng sự nhân dân, để làm trọn nhiệm vụ (nhất là nhiệm vụ phát động quần chúng thực hiện chính sách ruộng đất), để trở nên những cán bộ gương mẫu.

Chúc các cô, các chú mạnh khoẻ và chỉnh huấn thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 6 nǎm 1953
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 120,
từ ngày 26 đến 30-6-1953.
cpv.org.vn

“Gặp Bác Hồ” giữa đất nước Singapore

Đến đảo quốc Singapore, chúng tôi còn lưu lại một kỉ niệm đẹp về đất nước nổi tiếng xanh – sạch – đẹp này. Trong hành trình tham quan, chúng tôi đi qua Bảo tàng văn minh châu Á của Singapore, một vị trí rất đẹp bên bờ sông. Anh hướng dẫn viên du lịch người bản địa chợt hoạt bát hẳn lên sau khi giới thiệu bằng tiếng Anh cho chúng tôi về quá trình phát triển giao thương của Singapore, anh dẫn mọi người đi về phía tiền sảnh của bảo tàng, miệng nói liên tục bằng tiếng Việt rất rõ: “Hồ Chí Minh! Hồ Chí Minh!” Miệng anh cười tươi và ánh mắt tỏ ra ấm áp đặc biệt khi nhắc đến tên Bác Hồ.

Thoạt tiên mọi người chưa hiểu anh định nói gì, nhưng khi rẽ sang đến đúng vị trí tiền sảnh của bảo tàng thì tất cả cùng “à” lên một tiếng khi nhận thấy một tấm bia tưởng niệm bằng đá đặt trang trọng trước bảo tàng. Bia tưởng niệm chủ tịch Hồ Chí Minh! Không ai bảo ai, tất cả cùng ùa đến bên tấm bia, xúc động ngắm nhìn hình ảnh thiêng liêng và gần gũi của Bác. Một điều thật bất ngờ và làm tất cả chúng tôi cảm thấy tự hào vì chỉ có duy nhất Bác Hồ được dựng bia tưởng niệm ở vị trí đẹp nhất, trang trọng nhất trước bảo tàng.

bac ho - singapoBia tưởng niệm Bác Hồ ở Bảo tàng Văn minh Châu Á của Singgapore

Trên tấm bia cao gần 2 mét là những dòng tiếng Anh giới thiệu trang trọng về tiểu sử của Bác cùng với chân dung thật đẹp của Người. Tấm bia ghi ngắn gọn về quá trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác cũng như vai trò trong đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân. Trên hành trình vận động cứu nước và tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, Bác đã đáp thuyền đến Singapore vào tháng Năm năm 1933 và sau đó đi tiếp đến Hồng Kông. Những thông tin ngắn gọn về tiểu sử của Bác trong một tấm bia cùng bài thơ Giã gạo của Người đã đem đến hình ảnh một lãnh tụ, một chiến sĩ đấu tranh kiên cường cho dân tộc và một nhà thơ, nhà văn hoá lớn của Việt Nam. Chúng tôi cảm động vì được quây quần bên Bác giữa Singapore, để cảm nhận được những tình cảm rất đáng quý mà bạn đã dành cho Bác Hồ, cho Việt Nam.

Được “gặp” Bác Hồ giữa đất nước Singapore, tôi chợt nghĩ dường như Bác vẫn đang là một chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, dường như khoảnh khắc đặt chân lên đất nước xinh đẹp này vào 76 năm trước, Người trở lại để gặp những người bạn Singapore, thắt chặt thêm tình hữu nghị giữa hai nước anh em trong khối ASEAN. Khoảnh khắc quây quần thật ngắn ngủi, nhưng đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc ấm nồng vì những tình cảm trân trọng mà đất nước Singapore dành cho Bác Hồ kính yêu, dành cho những người bạn Việt Nam.

Theo Trần Hà Nam/yume.vn
Kim Yến(st)
bqllang.gov.vn

Thư gửi bộ đội sau chiến dịch mùa xuân nǎm (1953 6-7-1953)

Thân ái gửi toàn thể bộ đội,

Sau chiến dịch mùa Xuân, đối với các đơn vị và các chiến sĩ có thành tích đặc biệt, Bác muốn khen thưởng một cách đích đáng và sốt dẻo. Nhưng các đơn vị chọn lọc chậm, đến nay chưa báo cáo đầy đủ. Vì vậy, Bác gửi thư này trước, khen thưởng sẽ đến sau. Trong thư này

Bác khen ngợi:

Trong chiến dịch mùa Xuân, các chú đã nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, vượt qua khó khǎn; hành quân thì nhanh chóng, bí mật, chiến đấu thì hǎng hái dũng cảm; biết làm dân vận, tranh thủ nhân dân.

Một số đơn vị tiến bộ khá về đánh vận động. Một số đơn vị tiến bộ khá về đánh công kiên. Vùng sau lưng địch, thì du kích đã thu được nhiều thắng lợi.

Bác phê bình:

Một số đơn vị còn mắc những khuyết điểm như:

Quyết tâm chưa được vững chắc, bền bỉ chưa thật cao như Bác dặn và như các chú đã hứa với Bác.

Cách chỉ huy của cán bộ nhiều khi còn máy móc, chưa linh động vì vậy mà đã bỏ lỡ nhiều dịp tốt tiêu diệt địch.

Bác nhắc nhở:

Các chú phải ra sức sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm.

Chớ tự kiêu tự mãn, chủ quan khinh địch.

Những đơn vị và chiến sĩ đã tiến bộ nhiều, thì phải tiếp tục tiến bộ hơn nữa. Đơn vị và chiến sĩ nào tiến bộ ít, thì phải cố gắng nhiều để tiến kịp các chiến sĩ và đơn vị bạn.

Bác chúc cho:

Các chú vui vẻ mạnh khoẻ, hǎng hái tham gia cuộc chỉnh quân chính trị để củng cố lập trường giai cấp, thấm nhuần tư tưởng đấu tranh và phụng sự nhân dân lao động, để kiên quyết ủng hộ nông dân trong phong trào phát động quần chúng thực hiện chính sách ruộng đất.

Những đơn vị nào có nhiệm vụ chiến đấu, thì thi đua thu nhiều thắng lợi mới.

Bác hứa hẹn với các chú: Chờ nhận đủ báo cáo về thành tích, Bác sẽ gửi giải thưởng cho những chiến sĩ và đơn vị xuất sắc nhất.

Bác hôn các chú
HỒ CHÍ MINH

Báo Quân đội nhân dân,
số 89, ngày 6-7-1953.
cpv.org.vn

Ra sức giữ đê phòng lụt (16-7-1953)

Ngày 20-4-53, Chính phủ đã có lời đôn đốc đồng bào về việc đắp đê, hộ đê (Báo Nhân dân, ngày 20-5-53).

Mỗi nǎm, mùa mưa đến, thì giặc lụt lại uy hiếp.

Giặc LỤT là tiên phong của giặc ĐÓI. Nó là đồng minh của giặc NGOẠI XÂM. Nó mong làm cho dân ta đói kém, để giảm bớt sức kháng chiến của chúng ta.

Đắp đê giữ đê là để chống giặc lụt và giặc đói, cho nên cũng như một chiến dịch.

Vì nếu “Lụt thì lút cả làng”, cho nên cần phải động viên tất cả đồng bào ở vùng có đê, hǎng hái tham gia chiến dịch đắp đê giữ đê.

Trong việc đắp đê giữ đê, kế hoạch phải rất tỉ mỉ, phân công phải rất rành mạch, chuẩn bị phải rất chu đáo, lãnh đạo phải rất thống nhất.

Cán bộ quân, dân, chính, đảng, những vùng ấy phải xem việc đắp đê giữ đê là việc chính. Phối hợp phải thật chặt chẽ. Chỉ đạo phải thật thiết thực. Tổ chức phải thật đầy đủ. Tuyệt đối chống cách khoán trắng, chống quan liêu, mệnh lệnh.

Đối với đồng bào dân công, phải giải thích, tuyên truyền, cổ động, tổ chức đến nơi đến chốn. Phải làm cho mọi người hiểu rõ: đắp đê giữ đê là lợi ích chung của địa phương, mà cũng là lợi ích thiết thân của mỗi người. Phải chú ý bồi dưỡng tinh thần và vật chất cho dân công. Phải hết sức tránh lãng phí ngày giờ, nhân lực và vật lực của đồng bào.

Việc thi đua phải tổ chức chu đáo và bền bỉ; phải báo cáo tên những chiến sĩ hoặc những nhóm có thành tích đặc biệt, để Hồ Chủ tịch và Chính phủ khen thưởng. Đắp đê giữ đê là công việc chính. Nhưng đồng thời, phải xếp đặt các công việc khác cho ǎn khớp, chứ không phải vì việc chính mà bỏ trôi những công việc khác.

Lời kêu gọi của Chính phủ nói: “Công tác chống lụt nǎm nay phải đặt dưới khẩu hiệu: “Đề phòng và đấu tranh””.

Nghĩa là phải tỉnh táo đề phòng và đấu tranh chống âm mưu địch phá hoại. Đề phòng nǎm nay nước có thể to hơn mấy nǎm trước.

Tục ngữ nói: “Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn”. Từ kháng chiến đến nay, chúng ta đã thắng giặc lụt, đã thắng giặc ngoại xâm, vì quân và dân ta đoàn kết một lòng.

Nǎm nay, ở những vùng có đê, cán bộ và đồng bào ta nhất định phải đoàn kết một lòng, đưa toàn tâm toàn lực vào việc đắp đê giữ đê thì chúng ta nhất định thắng lợi.

C.B.

Báo Nhân dân, số 124,
từ ngày 16 đến 20-7-1953.
cpv.org.vn

Điện mừng nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh nước Cộng hoà nhân dân Ba Lan (21-7-1953)

Kính gửi đồng chí Bôlétlavơ Biêrút,
Thủ tướng nước Cộng hoà Nhân dân Ba Lan,

Nhân dịp ngày Quốc khánh nước Cộng hoà Nhân dân Ba Lan, nhân danh Chính phủ và nhân dân Việt Nam và cá nhân tôi, tôi xin gửi tới đồng chí Chủ tịch, Chính phủ và nhân dân Ba Lan lời chào mừng thân ái.

Chúng tôi phấn khởi theo dõi công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Ba Lan đang tích cực tiến hành dưới sự lãnh đạo sáng suốt của đồng chí và với sự giúp đỡ của Liên Xô vĩ đại. Chúng tôi chúc nhân dân Ba Lan đạt được nhiều thành tích to lớn hơn nữa để góp phần giữ gìn hoà bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới.

Chủ tịch kiêm Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 125,
từ ngày 21 đến 25-7-1953.
cpv.org.vn

Gửi cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh cựu binh (7-1953)

Nhân dịp Ngày Thương binh, tôi xin gửi một tháng lương của tôi và 50 cái khǎn tay do đồng bào phụ nữ Thái biếu tôi, nhờ cụ chuyển cho anh em thương binh với lời chào thân ái của tôi.

Tháng 7 nǎm 1953

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 7 nǎm 1953
BÁC

Báo Nhân dân, số 126,
từ ngày 26 đến 30-7-1953.
cpv.org.vn

Chúng tôi vững tin vào thắng lợi cuối cùng của mình (7-1953)

Hằng nǎm, vào cuối tháng 6, chúng tôi thường điểm lại những kết quả của sáu tháng đã qua và chuẩn bị kế hoạch cho sáu tháng sắp tới. Trong sáu tháng đầu nǎm nay, song song với việc tiếp tục cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, chúng tôi đã bắt đầu tiến hành hai nhiệm vụ chủ yếu: giáo dục chính trị cho cán bộ và cải cách ruộng đất.

*

*      *

Sau khi Cách mạng Tháng Tám nǎm 1945 thắng lợi, Đảng có khoảng 5.000 đảng viên. Phần lớn những đồng chí đó vừa ra khỏi các nhà tù của Pháp ở Côn Đảo, Lao Bảo, Sơn La, v.v.. Trong số ấy có người đã ở tù 15-17 nǎm.

Từ nǎm 1946, Đảng đã phát triển nhanh có khi quá nhanh. Đến cuối nǎm 1950, Đảng đã có gần 700.000 đảng viên. Do không đồng thời tiến hành một công tác có hệ thống đối với các đảng viên mới, cho nên việc tǎng quá nhanh số đảng viên đã làm cho trình độ giác ngộ chính trị của đảng viên bị giảm sút. Vì vậy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định ngừng kết nạp đảng viên và tổ chức những lớp học chính trị để giáo dục cho đảng viên những kiến thức sơ đẳng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Do thiếu kinh nghiệm và rất thiếu giảng viên có chất lượng nên ban đầu kết quả không được hài lòng lắm.

Ban Chấp hành Trung ương đã cố gắng hết sức mình để vận

dụng kinh nghiệm của các đảng anh em, trước hết là Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhằm cải tiến công tác giáo dục tư tưởng. Từ tháng 6 nǎm 1952 đến tháng 6 nǎm 1953, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tổ chức 3 lớp học, với 800 học viên, tất cả đều là những người phụ trách các cơ quan trung ương, tỉnh và khu của Đảng và Chính phủ (cũng có cả những người ngoài Đảng). Các lớp học đó đều do các đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo.

Các ban chấp hành khu và tỉnh đã tổ chức các lớp học cho cán bộ tỉnh và huyện gồm 11.380 học viên.

Như vậy tổng cộng đã có 12.180 người dự các lớp học chính trị. Tuỳ theo các điều kiện địa phương, các lớp học đó kéo dài 2, 3 hoặc 4 tháng. Chương trình học tập gồm các chủ đề sau: Cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam; cuộc chiến tranh yêu nước và sự nỗ lực của dân tộc; chính sách Mặt trận dân tộc, chính sách ruộng đất, kinh tế và tài chính của Việt Nam; tổ chức Quân đội nhân dân; công tác trong các vùng tạm bị địch chiếm; những điều kiện để trở thành đảng viên.

Việc học tập những vấn đề trên được thực hiện trên cơ sở những tác phẩm của Mác, Ǎngghen, Lênin, Xtalin và báo cáo của đồng chí Malencốp tại Đại hội lần thứ XIX Đảng Cộng sản Liên Xô, những tác phẩm của đồng chí Mao Trạch Đông, những bài viết của đồng chí Hồ Chí Minh, những vǎn kiện của Đảng.

Trong Quân đội nhân dân, tất cả binh lính và sĩ quan cũng đều theo các lớp học chính trị. Chương trình học tập của họ nhẹ hơn.

Việc học tập được gắn liền với việc phê bình những khuyết điểm trong công tác của chúng tôi và với việc tự phê bình. Cuối khoá dành một hoặc hai tuần lễ để mỗi học viên tổng kiểm thảo. Kết quả tương đối tốt. Điều đó thể hiện trong thái độ thành thật của học viên khi phơi bày những khuyết điểm và nhược điểm trong công tác của mình cũng như trong việc cải tiến công tác hằng ngày của các tổ chức Đảng và các cơ quan Chính phủ. Trong quân đội, kết quả còn nổi bật hơn trong việc tǎng cường kỷ luật, sự giác ngộ chính trị, lòng dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng của các chiến sĩ. Kết quả chủ yếu là trình độ tư tưởng chính trị của cán bộ chúng tôi được nâng cao.

Bên cạnh những kết quả đầu tiên đó, chúng tôi cũng đã có nhiều khuyết điểm: thời gian học tập quá ngắn, không đủ giáo viên, nghiên cứu chưa đủ sâu sắc lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, v.v.. Khuyết điểm khác là: trong số 1.365 học viên đang giữ các trọng trách, chỉ có 139 người là công nhân và 351 người là nông dân lao động. Do đó, Đảng còn cần phải cố gắng cải thiện thành phần xã hội các cán bộ của mình.

Mặc dù có những khó khǎn và khuyết điểm, kinh nghiệm đã chỉ ra rằng công tác giáo dục tư tưởng đang đi trên con đường đúng đắn. Nó sẽ ngày càng được cải tiến để khắc phục những khuyết điểm ấy.

*

*      *

Ngay từ khi bọn thực dân Pháp và đế quốc Nhật bị đuổi khỏi đất nước, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra sắc lệnh về các biện pháp cải cách ruộng đất: chia ruộng đất của bọn đế quốc và bọn phản quốc cho nông dân nghèo, chia ruộng công, giảm 25% địa tô, v.v.. Nhưng các địa chủ lớn đã tìm mọi cách để trốn tránh pháp luật. ít người trong bọn chúng đã thành thực thực hiện việc giảm địa tô.

Tháng 12 nǎm ngoái, nhân dịp kỷ niệm ngày bắt đầu cuộc chiến tranh yêu nước, trong lời kêu gọi nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: chính là nông dân, dân lao động đã cung cấp phần lớn các chiến sĩ cho quân đội chúng ta, đã gánh vác phần lớn công việc ở tiền tuyến và hậu phương.

Nhưng họ lại là những người nghèo nhất, bởi vì họ có ít hoặc không có ruộng đất, và họ bị bóc lột nặng nề bởi địa tô và nợ lãi quá cao. Từ nay, Chính phủ, Đảng và Mặt trận dân tộc cần phải kiên quyết thi hành một chính sách ruộng đất mới nhằm cải thiện số phận của nông dân chúng ta và đẩy mạnh cuộc kháng chiến của dân tộc…

Hiệu lệnh đã được phát ra. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sau khi chuẩn bị chu đáo, tháng 5 vừa qua Hội nông dân đã mở một cuộc hội nghị. Hơn 200 đại biểu đã có mặt. Người ta đã nghiên cứu kỹ các chỉ thị của Đảng và sắc lệnh của Chính phủ về chính sách ruộng đất mới. Người ta đã vạch ra một chương trình công tác để thật sự giảm tô và giảm tức. Người ta đã quyết định bắt đầu công việc trong một số vùng và dần dần mở rộng phong trào theo “vết dầu loang”.

Hội nghị kết thúc, các đại biểu được phân chia thành hai đoàn, đã đi thẳng về nông thôn trong hai vùng khác nhau. Mỗi đoàn được chia thành nhiều đội. Mỗi đội có khoảng 12 đến 15 người và phụ trách một làng nhất định. Mỗi thành viên trong đội phải tuân thủ chặt chẽ nội quy trong đó có một điều quy định việc “ba cùng”: 1) ở trong những nhà nông dân nghèo; 2) chia sẻ bữa ǎn với họ (cùng ǎn); 3) giúp đỡ họ trong mọi công việc.

Công tác của các đội được tiến hành theo từng giai đoạn: đến thǎm nông dân nghèo và nói chuyện với họ, nghiên cứu tình hình trong làng. Giải thích cho những nông dân đó nguồn gốc sự nghèo khổ của họ và cùng họ bàn bạc cách đấu tranh chống lại sự nghèo khổ đó. Giải thích chính sách ruộng đất của Đảng và Chính phủ. Lựa chọn những người tích cực trong số nông dân. Trong các cuộc hội họp, khuyến khích nông dân nói lên sự áp bức và bóc lột mà họ phải chịu đựng, thức tỉnh lòng cǎm thù của họ đối với bọn địa chủ. Thành lập một uỷ ban lâm thời của Hội nông dân bao gồm các thành viên được lựa chọn trong số những nông dân tích cực nhất. Uỷ ban này sẽ lãnh đạo phong trào để thi hành chính sách ruộng đất mới.

Khi tất cả những việc đó đã làm xong, người ta tổ chức một cuộc mít tinh. Người ta dẫn những địa chủ có tội với nông dân tới. Nông dân – những nạn nhân của chúng, với chứng cớ trong tay, đã công khai buộc tội chúng.

Cuối cùng, toà án nhân dân xét xử và quyết định. Những kẻ có tội đã buộc phải trả lại cho nông dân những số tiền bất hợp pháp do phát canh thu được, số tiền công bị giữ lại một cách bất hợp pháp, trả lại những ruộng đất đã bị chiếm đoạt một cách gian lận, v.v..

Trong trường hợp bị cáo còn phạm những tội khác nghiêm trọng hơn, toà án nhân dân có quyền kết án đến mức tử hình.

Cho đến nay, đã có khoảng 20 làng thi hành những biện pháp này. Kinh nghiệm thu được khá phong phú. Đó là một cuộc đấu tranh giai cấp thật sự ở nông thôn. Những người lao động một khi thức tỉnh, đã tỏ ra có tính chiến đấu cao và có đầu óc thực tiễn.

Phần đông các địa chủ đều rất xảo trá và nham hiểm. Có những kẻ đã phạm những tội ác khủng khiếp cho đến nay vẫn che giấu được vì nông dân không dám tố cáo ra.

Trong những làng đã thi hành chính sách ruộng đất mới, chính quyền của bọn địa chủ phong kiến bị đánh đổ, nông dân lao động trở thành những người chủ. Trong 6 tháng cuối nǎm, phong trào đã lan ra tới hơn 200 làng. Nông dân rất phấn khởi, vì phong trào đã đáp ứng đúng nguyện vọng và lợi ích của họ.

*

*      *

Trong nửa đầu nǎm nay, cuộc chiến tranh yêu nước đã thu được những thành tựu đáng kể.

ở đồng bằng Bắc Bộ, những cǎn cứ du kích mới đã được thành lập và tǎng cường, đặc biệt là tại các tỉnh Thái Bình, Hà Đông, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương. Cái mới trong thời kỳ này là các chiến sĩ du kích của chúng tôi đã tiến công vào cả trung tâm của các tỉnh như Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương, Kiến An. Trong tỉnh sau cùng này, các chiến sĩ của chúng tôi đã phá huỷ hàng trǎm tấn bom và đạn đại bác và đã đốt cháy hàng chục vạn lít ét xǎng.

Các boongke ở Yên Vĩ, hệ thống dinh luỹ mà theo các nhà chức trách Pháp thì đó là “vinh quang” của cố Thống chế Tátxinhi, đã bị chiếm và bị phá huỷ.

Bản tổng kết tình hình 6 tháng ở đồng bằng Bắc Bộ là như sau: thiệt hại về người của địch là 17.000 tên bị diệt hoặc bị bắt làm tù binh. Về vật chất: 4 tàu đổ bộ và 4 canô bị đánh chìm, hai đoàn xe lửa bị phá huỷ, 9 máy bay, 24 xe tǎng và 680 xe vận tải và nhiều xe có động cơ khác đã bị phá huỷ. Chúng tôi thu được: 3.800 súng trường, 820 súng đại liên và tiểu liên, 15 ba dô ca, 7 đại bác, v.v..

Theo những báo cáo chưa đầy đủ, trên tất cả các mặt trận, chúng tôi đã tiêu diệt 23.000 binh lính địch (bị giết, bị bắt, mất tích).

Từ tháng 12-1950 đến tháng 5-1953, thi hành chính sách nhân đạo, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tha cho về với gia đình hơn 35.000 tù binh Pháp, lê dương và bù nhìn.

Như tôi đã nêu ở trên, việc giáo dục chính trị trong Quân đội nhân dân đã thu được những kết quả tốt đẹp. Quân đội nhân dân cũng đã đạt được nhiều tiến bộ trong lĩnh vực quân sự. Chính ngay kẻ địch của chúng tôi cũng buộc phải thừa nhận điều đó. Xin dẫn báo Le Monde: “… Ngày nay họ đã có một lực lượng bộ binh mà trong loại hoạt động quân sự ấy thì có thể thuộc loại ưu tú nhất thế giới, ít tốn kém không thể tưởng tượng được, cực kỳ cơ động, trang bị chỉ bằng khí tài nhẹ. Chống lại thứ bộ binh khó tìm ra tung tích ấy thì xe tǎng, đại bác, máy bay đều không làm gì được” (báo Le Monde, ngày 21-5-1953). Kẻ địch thú nhận rằng cứ mỗi nǎm chiến tranh, xứ Đông Dương lại ngốn mất của nó 100.000 lính, nuốt mất của nó 500 tỷ phrǎng, tức là một số tiền ngang giá 250.000 ngôi nhà ở, nhưng vẫn bị những tổn thất to lớn mà không cải thiện được về mặt chiến lược, không đạt kết quả chính trị, không có hy vọng. Nó cũng thú nhận rằng vào nǎm 1953, tình hình ở Trung Kỳ vẫn mong manh. “Việt Minh đã có những sư đoàn khá tốt, đất nước thuận lợi đối với họ, họ giữ quyền chủ động. ở Bắc Kỳ, tình hình thật sự là xấu. Quân đội của chúng ta (Pháp) đã bị sa lầy ở Đông Dương” (báo Climats).

*

*      *

Còn chúng tôi, chúng tôi không say sưa với thắng lợi và không đánh giá quá thấp kẻ địch, nhưng chúng tôi tự cảm thấy ngày càng mạnh lên, ngày càng thêm vững tin vào thắng lợi cuối cùng của chúng tôi, ngày càng quyết tâm đuổi ra khỏi Tổ quốc mình bọn thực dân Pháp và quan thầy của chúng là bọn can thiệp Mỹ, mặc dù chúng tôi vẫn không từ bỏ thái độ bè bạn và hữu nghị đối với nhân dân Pháp.

Tháng 7 nǎm 1953
DIN

Tuần báo Vì một nền hoà bình
lâu dài, vì một nền dân chủ
nhân dân, bản tiếng Pháp,
số 250, ngày 21-8-1953.
cpv.org.vn

Đoàn đại biểu Phụ nữ Công an nhân dân tổ chức lễ báo công dâng Bác

Nhân kỷ niệm 64 năm Ngày Bác Hồ ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”, ngày 06/6/2012, giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, 250 hội viên phụ nữ Công an nhân dân từ mọi miền của đất nước, đại diện cho 44 ngàn hội viên phụ nữ lực lượng Công an nhân dân hội tụ về đây báo công dâng lên Bác những thành tích, chiến công trong thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ Công an nhân dân học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; kỷ cương sáng tạo – Vì an ninh Tổ quốc; xây dựng gia đình hạnh phúc”.

Phu nu cong an 2Đoàn đại biểu Phụ nữ Công an nhân dân tổ chức lễ báo công dâng Bác

Phu nu cong an 1Đoàn đại biểu Phụ nữ Công an nhân dân vào Lăng viếng Bác

Khắc ghi và thực hiện lời dạy của Bác, hội viên phụ nữ Công an nhân dân đã không ngừng thi đua, rèn luyện, lập thành tích cao đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự, xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân, vì sự tiến bộ, phát triển của phụ nữ Công an nhân dân.

Qua 5 năm triển khai thực hiện, các phong trào đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, có sức lan toả mạnh mẽ, nhận được sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, lãnh đạo các cấp, sự đồng tình hưởng ứng của toàn thể cán bộ, chiến sỹ và đặc biệt đã thu hút 100% hội viên phụ nữ toàn lực lượng hăng hái thi đua thực hiện, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc, hết lòng phục vụ nhân dân luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự.

Hội đã tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho phụ nữ về tấm gương đạo đức cách mạng của Bác, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhằm tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, từng bước thấm nhuần và hành động theo lời dạy của Người; đồng thời các cấp hội đã xây dựng và thực hiện hàng trăm mô hình, công trình, phần việc gắn với 3 nội dung phong trào, góp phần quan trọng vào hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị.

Với những thành tích đó, phụ nữ Công an nhân dân đã vinh dự được Nhà nước tặng Huân chương Quân công hạng Nhất, 3 tập thể được tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; có 2 tập thể và 3 cá nhân được tặng Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam; hàng ngàn lượt tập thể và cá nhân được Thủ tướng Chính phủ, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Bộ Công an và các cấp tặng Cờ thi đua, Bằng khen, Giấy khen như những bông hoa tươi thắm dâng lên Bác kính yêu để tỏ lòng biết ơn Người và nguyện mãi mãi đi theo, tiếp bước con đường cách mạng mà Người đã lựa chọn.

Tại buổi lễ báo công, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu, phụ nữ Công an nhân dân hứa tuyệt đối tin tưởng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam, nguyện đoàn kết sát cánh bên nhau, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, đem hết sức lực, trí tuệ và niềm tin yêu của mình cùng lực lượng Công an nhân dân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu, với lời khen tặng của Bác đã dành cho phụ nữ Việt Nam “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”./.

Trần Tiên Long
bqllang.gov.vn

Bài nói chuyện ở lớp chỉnh huấn cán bộ trí thức (7-8-1953) (1)

Hôm nay tôi đến, thấy các cụ, các anh chị em vui vẻ, tôi cũng vui. Mục nói chuyện của tôi là gặp đâu nói đấy.

Tôi nghe nói buổi chiều vừa khai hội phê bình cho đảng viên. Tóm tắt những sai lầm của đảng viên là xa cán bộ ngoài Đảng; khi nói chuyện, bàn bạc thì ra mặt làm thầy; việc không biết lại giấu dốt; đối đãi với anh em thì khách sáo, không chân thành thật thà.

Theo tôi, một số cán bộ, đảng viên ở cơ quan và địa phương nhận những lời phê bình ấy, là đúng.

Thứ nhất, tôi thay mặt Đảng cám ơn các cụ, các anh chị em đã phê bình. Trong Tuyên ngôn của Đảng có yêu cầu nhân dân và các Đảng bạn phê bình cho Đảng.

Thứ hai, anh em trong Đảng thì phải nhận xét, tự kiểm thảo phê bình; xem lại những điều anh em đã phê bình để sửa đổi, vì khuyết điểm ấy không đúng với sự giáo dục của Đảng. Đảng giáo dục đảng viên phải gần gũi nhân dân, cán bộ ngoài Đảng; phải thật thà, không lên mặt, biết sao nói vậy; không biết, phải học hỏi quần chúng nhân dân, không giấu dốt. Đối với mọi người, phải thật thà chân thành, không khách sáo, ngoại giao. Làm như thế thì cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng tin nhau, đoàn kết, học hỏi lẫn nhau để cùng tiến bộ.

Tôi có xem lại những câu hỏi anh em đặt ra. Đặt nhiều câu hỏi như thế là rất tốt. Anh chị em đến đây thảo luận, cái gì chưa biết, chưa thông đưa ra thảo luận, không để bụng, không giấu giếm, như thế rất tốt.

Tôi có một số ý kiến sau đây, đúng hay không, anh em xem lại.

1. Nói chung, đại đa số câu hỏi đặt ra đều lấy cái “tôi”, cái cá nhân mình làm chủ thể. Thí dụ: dân đối với tôi thế nào? Đảng đối với tôi thế nào? Chính phủ đối với tôi thế nào? Anh em cán bộ tôi tương lai thế nào? Địa vị của tôi thế nào? Tóm lại là lấy cái tôi, lấy cá nhân mình làm chủ thể, đòi quyền lợi của cá nhân mình mà không nói gì đến nghĩa vụ của mình. Phải nói: tôi đối với dân phải thế nào? Đối với Đảng phải thế nào? Đối với Chính phủ phải thế nào? Nói rộng ra là chỉ đòi nhân dân phục vụ mình mà không nói mình phải phục vụ nhân dân thế nào?

2. Từ cái tôi đi đến cái “ta”. Nhưng cái ta bị động. Thí dụ: Mỹ mạnh, can thiệp vào Việt Nam, ta thế nào? Mỹ giúp Pháp mạnh hơn, ta thế nào? Giúp bù nhìn tổ chức quân đội mạnh hơn, ta thế nào? Tôi chắc là sau khi nghiên cứu kỹ, phải đặt ngược lại là: ta chủ động, Mỹ đến ta cũng đánh; Pháp mạnh, ta cũng đánh; bù nhìn tổ chức thêm quân, ta cũng đánh.

Cũng vì “tôi” và “ta” ấy, nên nhiều vấn đề không giải quyết được; nếu chủ động thì rất dễ giải quyết.

Một điểm nữa. Nghe nói các ngành, các cá nhân ôn lại, xét lại những việc mình đã làm trong hồi Pháp thuộc, thấy thằng Pháp xấu xa và làm nhục mình.

Đặc biệt anh em thấy việc nó đối đãi, giáo dục mình là nhục nhã hơn. Nhưng thấy thế vẫn chưa triệt để. Thấy nhục là một bước, phải tiến lên bước nữa: thấy tội của mình. Vì Pháp nhồi sọ, mua chuộc nên mình đã đối đãi với nhân dân như thế nào, điều ấy anh em chị em chưa nghĩ tới. Thấy mình nhục đã đành, còn phải thấy tội nữa.

Xin lỗi cụ Bùi, (có tiếng cụ Bùi: “Không dám, xin cụ cứ nói”) ví dụ: thời trước cụ làm thầy giáo thì không có gì là tham ô, lãng phí của nhân dân, vì dạy bao nhiêu giờ lĩnh bấy nhiêu tiền. Nay xét lại,

lúc đó dạy thì dạy gì, đào tạo người thì đào tạo cho ai? Vì “tôn sư trọng đạo”, cụ ở địa vị ông thầy, nên được lớp trí thức trọng cụ, dân cũng trọng cụ. Nhưng ông thầy lúc ấy nói gì? Nói chống Tây thì nó đá đít. Dù muốn hay không, cũng phải nói đế quốc, phong kiến là tốt. Như thế là có thể có tội với nhân dân rồi. Tôi nghe đây có 4 đời là học trò cụ, như thế là tứ đại nô lệ.

Tóm lại, các ngành thấy Tây đối đãi với mình là nhục, nhưng phải tiến lên bước nữa xét tội của mình đối với nhân dân. Để đi đến đâu? Đi đến càng cǎm thù đế quốc phong kiến. Cǎm thù đây không phải là tiêu cực, mà phải tích cực làm gì cho nhân dân để chống lại đế quốc phong kiến. Có làm được không? Nhất định có thể làm được.

*

*      *

Có mấy vấn đề anh em thảo luận nhiều. Vấn đề Mỹ thì hoặc là đã rõ rệt, hoặc là chưa rõ rệt chừng nào. Đại ý nói Mỹ giỏi, Mỹ mạnh, rồi đi đến sợ Mỹ. Vấn đề này, tôi nói dài một chút.

Mỹ có mạnh không? ở Trung Quốc, sau khi đánh đổ bọn Tưởng Giới Thạch được Mỹ hết sức giúp, người ta gọi Mỹ là con cọp giấy. Nói thế có quá không?

Về chiến tranh ở Triều Tiên 10 , Mỹ có khối tư bản muốn hoà, có khối muốn đánh, tức là bọn làm công nghiệp nặng, tàu bay, xe tǎng. Vì có hai khối trái nhau, khối không muốn đánh tìm lý lẽ chống lại khối muốn đánh. Nghe đế quốc Mỹ phê bình đế quốc Mỹ, nhiều người tin hơn là ta phê bình nó. Chúng phê bình nhau thế nào?

Một người có địa vị chính trị ở Mỹ nói: “Mỹ có mạnh không? Nếu Mỹ cứ theo chính sách chiến tranh như ở Triều Tiên thì sẽ đi đến sụp đổ vì 5 cớ:

1. Kinh tế Mỹ là kinh tế xây dựng trên chiến tranh, nghĩa là trong cuộc Chiến tranh thứ nhất và thứ hai, Mỹ phát tài rất to. Nếu hoà bình, kinh tế chiến tranh của Mỹ sẽ sụp đổ. Thí dụ: hồi đầu tháng 6, nghe Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên bằng lòng đình chiến, thị trường chứng khoán (Bourse) sụt xuống hơn 4.000 triệu đôla, mấy ngày sau, vẫn tiếp tục sụt giá. ở Mỹ, người ta gọi là khủng hoảng hoà bình.

2. Chính trị thì Mỹ bị cô độc. Trước đây 3, 4 nǎm, vì kế hoạch Mácsan 11 mà tất cả các nước Tây Âu phục tùng, ca tụng Mỹ. Bây giờ, kết quả là các nước đã tǎng binh bị quá sức nên lâm vào tình trạng kinh tế bế tắc. Hơn nữa, Mỹ cấm các nước phương Tây như Anh, Pháp, ý buôn bán với phương Đông, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân. Hàng hoá các nước đưa sang Mỹ bán thì thuế quan rất cao, mua hàng của Mỹ giá rất đắt, bán hàng cho Mỹ giá rất rẻ. Vì thế, các nước tìm cách chống lại Mỹ. Nước nhỏ nhất đầu tiên chống lại Mỹ là Xâylan. Mỹ hỏi về việc Xâylan bán cao su cho Trung Quốc, Xâylan giả lời: “Cao su tôi bán được đắt, mua gạo lại giá rất rẻ, nên tôi làm”. Mỹ cũng phải chịu. Từ cuối nǎm ngoái đến giờ, Anh, Pháp đều lần lượt gửi phái đoàn sang Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân để điều đình buôn bán. Gần đây, Anh cử cả viên cựu Bộ trưởng Bộ Thương mại sang Liên Xô.

Còn nhiều mâu thuẫn khác nữa. Cách đây vài tháng, Thủ tướng Anh Sớcsin (Churchill) nói: “Nếu Mỹ không bằng lòng điều đình buôn bán với Liên Xô thì Sớcsin sẽ tự sang gặp Malencốp”. Một Thủ tướng một nước như Anh mà nói câu ấy thì đủ biết mâu thuẫn thế nào?

Mặt khác, Mỹ mua chuộc chính phủ các nước đế quốc để hòng lôi kéo nhân dân. Bây giờ Mỹ phàn nàn mất tiền toi, vì nó giúp rất nhiều mà nhân dân các nước Pháp, ý vẫn bỏ phiếu cho Đảng Cộng sản. Lại như một nước gần Mỹ và thân Mỹ nhất là Canađa. Gần đây Thủ tướng Canađa cũng nói: “Chúng ta rất thương yêu người bạn quý báu là Mỹ, nhưng chúng ta mong bạn của chúng ta nhận rằng chúng ta là người Canađa”.

ở ấn Độ bây giờ ông Nêru ra mặt chống Mỹ.

3. Chính sách xâm lược của Mỹ trái với chính nghĩa. Chẳng những nhân dân thế giới chống mà nhân dân Mỹ cũng chống. Có một nhà đại tư bản nói: Mỹ chỗ nào cũng muốn có thế lực, ở Âu cũng như á. Một ngày kia, Mỹ sẽ đi đến Nam Bǎng Dương hay Bắc Bǎng Dương để đồng minh với con chim “Panhgoanh” 1 . Đồng minh của Mỹ như Quyrinô (Quirino) ở Phi Luật Tân, Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan, Bảo Đại ở Việt Nam bị nhân dân ghét, nên họ ghét cả Mỹ nữa.

4. Tàu bay Mỹ có nhiều nhưng kinh nghiệm quân sự Mỹ kém hơn các nước: hải quân kém Anh, lục quân kém Pháp, Đức, Nhật.

Báo Mỹ nói: một đoàn đi thanh tra mặt trận thấy có những đội quân, đại đa số lính Mỹ trong đơn vị không chịu bắn, làm gì thì làm. Mỹ lập Uỷ ban nghiên cứu tâm lý lính Mỹ, thì Uỷ ban này kết luận một câu rất mỉa mai: “vì trường học Mỹ dạy cho trẻ con nhiều đạo đức nên nó mất cả thiên tính giết người”.

5. Mỹ gặp một địch nhân càng ngày càng mạnh là phong trào thế giới bảo vệ hoà bình. Mới đây, có mấy nhà khoa học họp nhau lại ở Ôslo (Na Uy), sau lại họp tiếp ở Pari (Pháp). Mãi đến nǎm kia, nǎm ngoái mới thành phong trào lấy chữ ký “chống chiến tranh bảo vệ hoà bình”. Thế mà có lần 600, có lần hơn 600 triệu người ký.

Ngay như ở Mỹ là nơi bọn thống trị còn phát xít hơn Hítle, cứ hễ nói đến hoà bình là cho luôn là cộng sản, thế mà cũng lấy được hơn 2 triệu chữ ký. Ngoài ra còn có những tổ chức của công nhân, trí thức đấu tranh cho hoà bình rất lớn, đó là thập tự quân (croisade) bảo vệ hoà bình.

Nói tóm lại Mỹ có 5 điểm yếu của nó.

Chứng cớ rõ rệt: Mỹ và 18 nước chư hầu đánh một nửa nước Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) trong 3 nǎm mà phải đình chiến. Mưu mô của Mỹ là đánh lấy Triều Tiên để làm bàn đạp tấn công Liên Xô, Trung Quốc. Như thế là bước đầu đã thất bại.

Ngoài thất bại quân sự nói trên, còn mấy sự thật nữa.

Đại chiến thứ nhất, Mỹ mất 33 vạn 4.000 người và được gì? Mỹ được địa vị anh chị, từ hàng thứ ba, bốn, nhảy lên nhất nhì trên thế giới và được rất nhiều tiền.

Đại chiến thứ hai, Mỹ mất hơn 18 vạn người nhưng về kinh tế được phát tài lớn, về chính trị vượt cả Anh, làm đầu sỏ phe đế quốc.

Đến chiến tranh Triều Tiên, Mỹ mất hơn 38 vạn người, tiền xài mất khá nhiều, mà không được gì cả, chính trị lại bị cô lập.

Vì vậy, đình chiến ở Triều Tiên là một thắng lợi của phe dân chủ hoà bình thế giới và là một thất bại cho phe đế quốc gây chiến, nhất là Mỹ.

Có anh em hỏi về vǎn hoá Mỹ. Có mấy bài của người Mỹ và người Anh nói về vǎn hoá Mỹ đǎng báo “Pour une Paix durable et pour une Démocratie populaire” (Vì một nền Hoà bình lâu dài và vì một nền Dân chủ nhân dân), nên đưa cho anh em xem. Một cô giáo Mỹ nói: “trong 2.000 quyển sách của Mỹ có độ 200 quyển tương đối trong sạch, còn toàn là dâm đãng, trộm cướp, khiến người xem khó chịu”. Một người Anh nói: “Hai quyển sách ở Mỹ bán chạy nhất, nếu đọc qua xem nội dung nói gì, thì ta thất kinh”.

Không phải như thế nói Mỹ không có vǎn hoá đâu. Mấy trǎm người vǎn hoá Mỹ chân chính bị thải hết, sách viết không cho in, công việc không cho làm.

Bên Mỹ bây giờ có bệnh thần kinh nhiều, vì tuyên truyền chiến tranh. Một bản điều tra của Quốc hội Mỹ về tội phạm viết có hơn 2 triệu người phạm trọng tội và cứ 76 người dân Mỹ thì có một người phạm tội.

ở Triều Tiên đã đình chiến nhưng chưa đi đến hoà bình vì ở Mỹ có bọn phá. Nên anh em Trung – Triều rất tỉnh táo để đề phòng.

Có anh em liên hệ: Triều Tiên đình chiến ảnh hưởng đến Việt Nam thế nào?

Có ảnh hưởng không? Có, vì:

1. Triều Tiên là một bộ phận của phe dân chủ hoà bình, Triều Tiên thắng lợi là ta thắng lợi.

2. Triều Tiên cho ta thấy kinh nghiệm là phải đánh bao giờ cho đế quốc quỵ, nó biết không thể đánh được nữa, nó mới chịu đàm phán. Đừng có ảo tưởng mình muốn đàm phán là nó đàm phán.

Đầu nǎm, sau khi trúng cử, Tổng thống Mỹ qua thǎm Triều Tiên nghiên cứu đặt kế hoạch, một là đánh qua áp Lục Giang, hai là nếu không đánh được thì đánh một vố thật mạnh để bên Trung – Triều phải xin hoà. Nhưng cả hai kế hoạch đều không được, Aixenhao nói muốn đánh như thế phải hy sinh 30 vạn bộ đội Mỹ. Nếu hy sinh như thế thì thế nào? Không có đường ra. Vì thế, nó mới chịu đàm phán đình chiến.

Ta cũng phải đánh cho Pháp quỵ. Lúc ấy, có đàm phán mới đàm phán, chứ không phải đưa đàm phán ra là nó đàm phán ngay đâu. Đừng có ảo tưởng. Mục đích của nó là xâm lược. Nó mất 99% còn hy vọng 1%, nó vẫn đánh. Phải đánh nó quỵ nó mới chịu.

Có những người nói Mỹ rảnh tay giúp Pháp, thì ta thế nào? Thì cũng thế, Mỹ vẫn giúp Pháp từ trước. Nay nó giúp hơn, ta có khó khǎn hơn, ta có đánh không? Ta vẫn đánh. Nó có thua không? Nó vẫn thua.

Nói về kháng chiến của ta, nói về Mỹ với ta, phải nhớ lại 10 nǎm trước. Lúc ấy có quân đội Nhật, Pháp. Lúc ấy nói đánh Nhật, Pháp thì nhiều người cho là châu chấu đá voi. Nhưng ta vẫn tổ chức đánh Nhật, đánh Pháp để giải phóng dân tộc. Lúc đầu, bộ đội du kích ta có 12 người, trong đó có hai phụ nữ. Làm thế là vì mình xem về tương lai, tin tưởng ở thắng lợi, thấy rõ tình hình thế giới sẽ biến đổi, Nhật Pháp sẽ xung đột nhau. Bây giờ ta có 12 người, sau sẽ có 12 vạn người. Ta quyết tâm, ta có thế, nên ta làm được.

Bây giờ có người hỏi sức ta mạnh hơn hay Pháp mạnh hơn? Nói về súng, đạn, xe tǎng, máy bay thì có cái ta không có. Nhưng tại sao ta nói ta mạnh hơn? Vì thế của ta mạnh hơn. Nói về người lính. Tinh thần anh lính đứng đằng sau khẩu đại bác của địch rất thấp, nên đại bác chỉ là một cục sắt. Còn bộ đội của ta chỉ có tiểu liên nhưng biết vì ai mà đánh, đánh như thế nào, nên tin ở kháng chiến nhất định thắng lợi, tin vào lực lượng tinh thần của dân ta, cái gì làm cũng được.

Đến câu hỏi: ta có chịu đàm phán không?

1. Từ đầu đến nay, ta chủ trương hoà bình; vì Pháp xâm lược ta nên ta phải đánh.

2. Ta biết nếu không đánh cho giặc quỵ thì không bao giờ nó xin đàm phán, nên ta phải đánh nó quỵ; nó quỵ, nó xin đàm phán ta sẽ đàm phán. Điều kiện đàm phán rất đơn giản:

a) Cút đi.

b) Việt Nam hoàn toàn độc lập.

Chưa có như thế thì chưa đàm phán.

Tóm lại, ta còn phải trải qua nhiều gian khổ, phải đánh mạnh với quyết tâm của ta, với tinh thần của dân ta. Mỹ đến ta cũng đánh, đánh cho đến khi nào độc lập hoàn toàn.

Bây giờ, địch một mặt chuẩn bị đánh ta, một mặt phóng ra tin điều đình. Nó bày ra trò điều đình như thả một cái mồi, nếu ta như bầy cá đổ xô lại đớp, quên cả tỉnh táo đề phòng, nó sẽ dễ đánh ta. Mình phải chủ động, kiên quyết đối phó với mọi tình thế.

Trong những câu hỏi của các anh chị em, tôi thấy một phần vì muốn hiểu, nhưng mặt khác biểu lộ ít nhiều tư tưởng sợ khó, sợ khổ, sợ Mỹ. Điều ấy không nên. Chiến sĩ ra mặt trận, đồng bào đi dân công, họ không sợ gì cả. Họ quyết tâm vượt được mọi khó khǎn. Nếu sợ khó, sợ khổ, sợ Mỹ thì cái gì cũng sợ. Mà đã cái gì cũng sợ thì không làm được việc gì, chỉ làm nô lệ.

*

*      *

Có anh em nói chính sách của Đảng rất đúng đắn, nhưng không biết có quyết tâm làm không và có đủ cán bộ để làm không?

1. Nhất định Đảng có quyết tâm thực hiện cho kỳ được chính sách ấy. Anh em thấy một số cán bộ địa phương không gương mẫu trong việc thực hiện chính sách. Chính vì thế, Đảng phải chỉnh huấn, làm cho cán bộ hiểu thấu và hết lòng hết sức thực hiện chính sách ấy.

2. Hơn nữa, Đảng phải làm sao cho cán bộ ngoài Đảng và nhân dân nhận thấy chính sách Đảng là đúng, cùng giúp Đảng thực hiện chính sách ấy.

Cho nên Đảng rất hoan nghênh anh em phê bình Đảng như chiều nay.

*

*      *

Có anh em hỏi một người công giáo có thể vào Đảng Lao động không? Có. Người tôn giáo nào vào cũng được, miễn là trung thành, hǎng hái làm nhiệm vụ, giữ đúng kỷ luật của Đảng. Nước ta kinh tế lạc hậu, kỹ thuật kém, tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật, nhưng trong điều kiện hiện tại, người theo đạo vẫn vào Đảng được.

Anh em lại hỏi: ở nước ta có Đảng Lao động, lại có Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội. Đảng Lao động thì đã rõ. Còn Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội thì làm gì? Có cần nữa không? Cần lắm. Đảng Xã hội tổ chức, giáo dục anh em trí thức. Trong anh em trí thức, có một số đã vào Đảng Lao động hoặc gần Đảng, có một số chưa hiểu Đảng. Đảng Xã hội tổ chức, huấn luyện cho anh em ấy gần công nông . Đảng Dân chủ tổ chức, huấn luyện tư sản dân tộc, tiểu thương, tiểu chủ. Một số những người này đã vào Đảng Lao động. Nhưng còn một số nói: bây giờ các anh chống địa chủ phong kiến, ngày mai sẽ đến lượt chúng tôi, nên họ sợ. Đảng Dân chủ giáo dục đoàn kết họ để kháng chiến và sau này kiến quốc. Hai Đảng ấy có nhiệm vụ rõ ràng, quan trọng và cần thiết.

Câu hỏi ấy có thể có mấy ý nghĩa:

1. Bây giờ đã có Đảng Lao động thời nhập lại làm một, cùng làm cách mạng.

2. Đảng Lao động muốn hất mình đây.

Nghĩ như thế đều không đúng. Bao giờ Đảng Lao động cũng cố sức giúp đỡ các Đảng anh em để cùng nhau tiến bộ, kháng chiến, kiến quốc.

*

*      *

Các cô và các chú là cán bộ kháng chiến, cách mạng. Bất kỳ ở địa vị nào, làm nghề gì, đều là người chủ trong những người chủ nước nhà (chủ đây không phải là địa chủ). Phải có khí khái như thế.

Có câu “tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc”, nghĩa là lo trước dân, vui sau dân. Trong lúc khó khǎn của dân tộc, khí tiết của người cán bộ là không sợ gì hết, không sợ kẻ địch, không sợ khó khǎn gian khổ. Cái gì khó khǎn, cực khổ, cán bộ phải xung phong làm trước. Muốn cho xứng đáng là người cán bộ cách mạng, mong các cô các chú phải có khí tiết ấy.

Nói vào tối 7-8-1953.
Sách Phát huy tinh thần
cầu học, cầu tiến bộ,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960,
tr.38-49.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) họp từ ngày 25 đến 30-1-1953. Hội nghị đã thảo luận và hoàn toàn nhất trí với báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bản báo cáo của đồng chí Trường Chinh về tình hình, nhiệm vụ và công tác trong nǎm 1953. Hội nghị đã kiểm điểm việc thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng và quyết định chủ trương phát động, quần chúng triệt để giảm tô, giảm tức, tiến tới thực hiện cải cách ruộng đất ngay trong kháng chiến. Hội nghị cũng đã ra nghị quyết về các mặt quân sự, kinh tế, tài chính, công tác vùng sau lưng địch và một số vấn đề về tổ chức, xây dựng Đảng.

Cách viết (17-8-1953) (1)

Hôm nay Bác nói về cách viết, đặc biệt là viết ngắn.

Hiện nay trình độ của đại đa số đồng bào ta bây giờ không cho phép đọc dài, điều kiện giấy mực của ta không cho phép viết dài và in dài, thì giờ của ta, người lính đánh giặc, người dân đi làm, không cho phép xem lâu. Vì vậy cho nên viết ngắn chừng nào tốt chừng ấy.

Trong các báo, có những bài lằng nhằng dài mấy cột, như là rau muống kéo dây. Đọc đến khúc giữa thì không biết khúc đầu nói cái gì; đọc đến khúc đuôi thì không biết khúc giữa nói cái gì. Thế là vô ích.

– Vì ai mà mình viết?

– Mục đích viết làm gì?

Phải đặt câu hỏi: Viết cho ai?

– Viết cho đại đa số: Công – Nông – Binh.

Viết để làm gì?

– Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng.

Thế thì viết cái gì?

Trong vấn đề này cũng phải có lập trường vững vàng: ta, bạn, thù thì viết mới đúng.

Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn. Nêu cái hay, cái tốt, thì phải có chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào nói thế ấy. Bộ đội và nhân dân ta cũng đủ nhiều cái hay để nêu lên, không cần phải bịa đặt ra.

Phê bình thì phải phê bình một cách thật thà, chân thành, đúng đắn; chứ không phải để địch lợi dụng để nó phản tuyên truyền.

Còn đối với địch thì thế nào?

Thì nêu những cái xấu của nó để cho bộ đội ta, đồng bào ta biết là chúng nó độc ác thế nào, xấu xa thế nào, để gây lòng cǎm thù đối với quân địch.

Sự hung ác, xấu xa của chúng nó rất nhiều, nếu biết gom góp tài liệu thì tha hồ mà viết. Có những việc chúng nó làm, bên ngoài thì như là tốt, mà bên trong thì thật là xấu, ta phải giải thích cho nhân dân ta hiểu.

Thí dụ: Trong vùng địch, Pháp có khi “phát chẩn” hay là Mỹ “giúp” để tuyên truyền, để mua chuộc. Sự thực là chúng đã cướp chỗ này rồi “giúp” chỗ khác. Một thí dụ ấy đủ biết cái xấu của nó rõ rệt rồi. Nhưng nếu không biết xem xét thì tưởng nó làm như thế là tốt.

Lấy tài liệu đâu mà viết?

Muốn có tài liệu thì phải tìm, tức là:

1. Nghe: lắng tai nghe các cán bộ, nghe các chiến sĩ, nghe đồng bào để lấy tài liệu mà viết.

2. Hỏi: hỏi những người đi xa về, hỏi nhân dân, hỏi bộ đội những việc, những tình hình ở các nơi.

3. Thấy : mình phải đi đến, xem xét mà thấy.

4. Xem: xem báo chí, xem sách vở. Xem báo chí trong nước, xem báo chí nước ngoài.

5. Ghi: những cái gì đã nghe, đã thấy, đã hỏi được, đã đọc được

thì chép lấy để dùng mà viết. Có khi xem mấy tờ báo mà chỉ được một tài liệu thôi. Tìm tài liệu cũng như những công tác khác, phải chịu khó.

Có khi xem tờ báo này có vấn đề này, xem tờ báo khác có vấn đề khác, rồi góp 2,3 vấn đề, 2,3 con số làm thành một tài liệu mà viết.

Muốn có nhiều tài liệu thì phải xem cho rộng.

Xem báo Trung Quốc, báo Liên Xô, báo Anh, báo Pháp… xem được nhiều thứ báo chừng nào thì lấy được nhiều tài liệu chừng ấy.

Một thí dụ: bên Liên Xô có những thành công về công nghệ, về nông nghiệp, chỉ nói thế thôi có được không?

Cố nhiên là được. Nhưng nên biết cũng trong nǎm ấy, cũng trong mùa ấy, mà mức công nghệ, nông nghiệp ở Liên Xô, ở Trung Quốc, ở các nước bạn lên như thế nào, còn ở Pháp, ở Mỹ, ở Anh sút kém như thế nào để mà so sánh. Như thế thì người đọc sẽ thấy ngay bên nào tiến, bên nào thoái.

Cách viết thế nào?

Trước hết là cần phải tránh cái lối viết “rau muống” nghĩa là lằng nhằng “trường giang đại hải”, làm cho người xem như là “chắt chắt vào rừng xanh”. Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích. Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng chữ nhiều. Bất đắc dĩ mới phải dùng chữ, thí dụ: “độc lập”, “tự do”, “hạnh phúc” là những chữ Trung Quốc, nhưng ta không có chữ gì dịch, thì cố nhiên phải dùng. Nếu quá tả không mượn, không dùng, hoặc là nói: Việt Nam “đứng một” thì không ai hiểu được.

– Chớ ham dùng chữ – các ông viết báo nhà mình hay dùng chữ quá. Những chữ tiếng ta có mà không dùng, lại dùng cho được chữ kia. Cán bộ cũng hay dùng chữ lắm, dùng lung tung; nhiều khi không đúng.

Vài thí dụ: 3 tháng thì không nói 3 tháng, lại nói “tam cá nguyệt”. Đánh vào sâu thì nói “tung thâm”, xem xét thì nói “quan sát”, v.v..

Phải viết gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt. Nhưng vắn tắt không phải là cụt đầu, cụt đuôi, mà phải có đầu, có đuôi.

Phải học cách nói, tiếng nói của quần chúng. Có nhà thơ nào nói: “Tóc cười, tay hát” thì thật là “hoang vu”! Có nhà vǎn nói: “cặp mắt ông cụ già dĩnh ngộ” thì thật là “ngộ nghĩnh”!

Chớ ham dùng chữ. Những chữ mà không biết rõ thì chớ dùng. Những chữ mà tiếng ta có, thì phải dùng tiếng ta.

Viết phải thiết thực, “nói có sách, mách có chứng”, tức là nói cái việc ấy ở đâu, thế nào, ngày nào, nó sinh ra thế nào, phát triển thế nào, kết quả thế nào?

Vài thí dụ: Chống tham ô, lãng phí thì nêu rõ ai tham ô, ai lãng phí? Cơ quan nào tham ô? Lãng phí cách thế nào? ngày tháng nào, v.v.. Chớ viết lung tung.

Nói du kích đánh thắng, đánh thắng ngày nào? Thắng cách thế nào? Giết được bao nhiêu địch, bắt bao nhiêu địch, thu được bao nhiêu súng? … Phải nói rõ ràng, đồng thời chớ lộ bí mật.

Viết rồi phải thế nào?

Viết rồi thì phải đọc đi, đọc lại. Thấy cái gì thừa, câu nào, chữ nào thừa, thì bỏ bớt đi. Đọc đi đọc lại 4, 5 lần đã đủ chưa? Chưa đủ. Đọc đi đọc lại, sửa đi sửa lại. Mình đọc mấy lần rồi cũng chưa đủ. Phải nhờ một số đồng chí công, nông, binh, đọc lại. Chỗ nào ngúc ngắc, chữ nào khó hiểu, họ nói ra cho thì phải chữa lại.

Cách viết truyền đơn cũng thế, viết báo cũng thế, viết báo cáo, viết gì cũng thế.

Viết chuyện có nhiều ngóc ngạnh thì phải nắm lấy cái chính, không nên kể con cà con kê. Nhằm lấy điểm chính mà viết.

Phải giữ bí mật:

Trong lúc viết, thì phải chú ý giữ bí mật. Các báo chí của ta rất kém giữ bí mật.

Có khi số báo nào cũng có lộ bí mật.

Thí dụ: Như nói thanh niên du kích lẫn vào mấy bà con đi chợ cầm đòn gánh, lúc gặp lính giặc, thì mấy thanh niên quật giặc chết.

Về sau cứ phiên chợ nào có thanh niên là bị địch vớ.

Một thí dụ khác : Giặc vào quét làng, dân chạy hết. Có một chị phụ nữ giả ốm ở lại, mỗi tối chị ấy mang cháo cho anh thương binh ở dưới hầm bí mật. Hầm có một… để cho anh ấy thở và để chị ấy đổ cháo xuống.

Đó là một việc oanh liệt đáng nêu lên. Nhưng vì viết không khéo, làm lộ bí mật, về sau Tây cứ đi tìm hầm bí mật, chỗ nào có …, là nó nhất định đào cho được.

Thế là viết mà không biết giữ bí mật. Chớ có nêu rõ địa điểm, tên người, cho địch biết.

Viết khẩu hiệu:

Có những khẩu hiệu viết rất to, nhưng Hồ Chủ tịch cũng không hiểu vì viết tắt cả một đống. Không ai đọc được, có lẽ chỉ có anh viết khẩu hiệu ấy đọc được thôi, Hồ Chủ tịch không hiểu thì chắc dân cũng ít người hiểu.

Lại có cách viết “hoa hoè”, chữ U không ra chữ U, chữ N không ra chữ N, chữ I không ra chữ I. Họ cho thế là mỹ thuật. Cách viết thế, cách nói cũng thế. Nói phải cho gọn gàng, có đầu có đuôi, có nội dung. Nói lung tung như nhiều người cán bộ nói ở các mít tinh, nói rồi không biết đường nào mà đi ra nữa, thôi đi thì cũng dở, nói nữa thì không biết nói gì! Nói ít, nhưng nói cho thấm thía, nói cho chắc chắn thì quần chúng thích hơn.

Muốn nói gì phải chuẩn bị trước.

Cách viết và cách nói đại khái như thế.

Kinh nghiệm Bác viết thế nào ?

Sau Thế giới chiến tranh lần thứ nhất, Bác ở Pháp. Muốn tuyên truyền cho nước ta, nhưng không viết được chữ Pháp. Làm thế nào bây giờ ?

Nhất định phải học viết cho kỳ được.

Có một đồng chí làm trong một tờ báo Sinh hoạt công nhân 1 bảo: “Có tài liệu gì, anh cứ viết, rồi tôi đǎng cho”.

Bác nói: “Tài liệu thì có, chỉ tội tôi không viết được”. Đồng chí ấy nói: “Anh cứ viết 3 dòng, 5 dòng cũng được. Có thế nào thì viết thế ấy. Nếu có sai mẹo mực thì tôi sửa cho”.

Thế là từ đấy trở đi, mình học viết báo. Viết 3, 4 dòng. Khi viết rồi, chép ra 2 miếng, 1 miếng gửi cho nhà báo, 1 miếng mình giữ lại.

Lần đầu tiên bài mình được đǎng báo, có thể nói là sướng nhất trong đời người. Mình đem bài báo đã đǎng rồi với cái miếng mình đã giữ lại, so lại coi thử sai lạc chỗ nào, họ sửa cho thế nào.

Cách ít lâu, đồng chí ấy nói: “Anh viết được 3 dòng rồi, bây giờ kéo dài ra !”. Mình cố gắng kéo dài mãi, cho đến lúc viết được 10 dòng.

Đồng chí ấy lại nói: “Anh kéo dài nữa đi, cho tài liệu thành một bài nhỏ !”. Thế là mình cứ kéo, đồng chí cứ sửa, cứ khuyến khích mình.

Cách giáo dục như thế thật tốt. Cứ kéo, kéo, kéo đến khi viết hết một cột, rồi hơn một cột, rồi một cột rưỡi.

Thế rồi đồng chí ấy nói: “à, bây giờ anh viết được rồi, anh nên làm một cách khác. Rút ngắn lại”.

Thật là rầy rà! Trước thì bắt kéo dài, bây giờ lại bắt rút ngắn! Nhưng mà đồng chí ấy nói: “Anh kéo dài được, thì bây giờ rút ngắn rút cũng được. Từ một cột rưỡi, nay chỉ viết một cột thôi. Viết cho thật chặt, xem đi xem lại, những cái gì lôi thôi, dài dòng không cần thiết thì bỏ nó đi …”. Thế rồi mình phải đếm từng chữ. Một dòng có mấy chữ, một cột thì có mấy dòng. Nó có số chữ của nó rồi, đếm từng chữ mà viết cũng khó chứ không phải dễ. Kết quả là rút được.

Cách ít lâu, đồng chí ấy lại nói: “Bây giờ rút nữa đi”. Mình cứ phải rút, lần này qua lần khác, cho đến lúc rút chỉ còn 10 dòng.

Đồng chí nói: “Được rồi đấy, viết dài được, viết ngắn được, bây giờ có vấn đề gì, thì viết dài hoặc viết ngắn tuỳ ý anh”.

Đồng chí ấy thường nhắc mình: “Câu kéo thì phải viết cho rõ ràng, minh bạch, chớ có lủng củng; chữ nào không hiểu mà muốn dùng thì hỏi anh em, chớ có dùng ẩu”.

Đấy là đồng chí ấy cũng là một người công nhân, tự học viết vǎn rồi phụ trách tờ báo này.

Mình viết được là nhờ đồng chí ấy chịu khó dạy bảo, giúp đỡ.

Lúc viết được báo rồi, lại có một ý muốn là viết truyện ngắn. Đó là một sự cả gan!

Dám viết thử, là vì có một hôm xem hai quyển truyện nhỏ, một quyển của Anatôn Phrǎngxơ, một quyển nữa là của ông Tônxtôi. Xem thấy các ông ấy viết giản đơn lắm, dễ hiểu lắm.

Thử viết một truyện ngắn về đời sống của công nhân Pari mà mình biết rất rõ vì tự mình cũng là công nhân. Viết xong đưa đến ban vǎn nghệ của báo Đảng là báo Nhân đạo 12 và nói với các đồng chí ấy: “Đấy, tôi thử viết bài này, đǎng được thì các đồng chí cho đǎng, chỗ nào cần phải sửa, thì nhờ các đồng chí sửa cho, tôi không có tính tự ái đâu, nhờ các đồng chí sửa để tôi học thêm”.

Truyện ấy được đǎng lên báo. Đó là lần thứ hai mà mình thấy sung sướng!

Rồi mình chỉ viết truyện thật ở nước ta và ở các thuộc địa Pháp. Các đồng chí cũng thích là vì có những chuyện ở thuộc địa mà các đồng chí ấy không biết và những người đọc cũng không biết.

Có thể nói, từ lúc bắt đầu viết mấy dòng cho đến bây giờ, mình chỉ thích viết những truyện nước mình và các thuộc địa và chỉ để đập thực dân Pháp.

Cách mạng Tháng Tám thành công, viết bài Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đó là lần thứ ba mà mình thấy sung sướng.

Bây giờ, khi Bác viết gì cũng đưa cho một số đồng chí xem lại, chỗ nào khó hiểu thì các đồng chí bảo cho mình sửa chữa.

Nói tóm lại viết cũng như mọi việc khác, phải có chí, chớ giấu dốt, nhờ tự phê bình và phê bình mà tiến bộ.

Quyết tâm thì việc gì khó mấy cũng làm được.

Sách Cách viết,
Hội những nhà viết báo
Việt Nam xuất bản
lần thứ hai, nǎm 1955.
cpv.org.vn

———————-

(1) Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) họp từ ngày 25 đến 30-1-1953. Hội nghị đã thảo luận và hoàn toàn nhất trí với báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bản báo cáo của đồng chí Trường Chinh về tình hình, nhiệm vụ và công tác trong nǎm 1953. Hội nghị đã kiểm điểm việc thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng và quyết định chủ trương phát động, quần chúng triệt để giảm tô, giảm tức, tiến tới thực hiện cải cách ruộng đất ngay trong kháng chiến. Hội nghị cũng đã ra nghị quyết về các mặt quân sự, kinh tế, tài chính, công tác vùng sau lưng địch và một số vấn đề về tổ chức, xây dựng Đảng.

Điện mừng nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (16-8-1953)

Kính gửi đồng chí Kim Nhật Thành, Thủ tướng
Nội các nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân
Triều Tiên,

Nhân dịp ngày Quốc khánh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, tôi kính gửi đồng chí và nhờ đồng chí chuyển cho nhân dân và Chính phủ nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên lời chào mừng nồng nhiệt và thân ái.

Tôi kính chúc nhân dân Triều Tiên thành công trong sự nghiệp thống nhất quốc gia và mau chóng khôi phục lại nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá.

Tôi tin rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Triều Tiên, của đồng chí và nhờ sức ủng hộ nhiệt liệt của Mặt trận dân chủ và hoà bình thế giới, nhất là của nhân dân Liên Xô và Trung Quốc, nhân dân Triều Tiên sẽ thắng lợi vẻ vang.

Ngày 22 tháng 7 nǎm 1954
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 130,
từ ngày 16 đến 20-8-1953.
cpv.org.vn