Archive | Tháng Hai 2012

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau

Trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ luôn dành sự quan tâm, chăm lo đến thế hệ trẻ, đặc biệt là công tác giáo dục đào tạo, bồi dưỡng họ thành lớp người thừa kế, tiếp tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của nhân dân. Trong bản “Di chúc”, Người viết: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc làm rất quan trọng và cần thiết”, “…đoàn viên, thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn có chí tiến thủ, Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

293.jpgBác Hồ với thế hệ trẻ. Ảnh: Tuấn Anh

Sớm nhận rõ vị trí, vai trò của thế hệ trẻ đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Bác đã coi việc thức tỉnh thanh niên, kêu gọi họ đứng lên cùng đồng bào cả nước đánh đuổi quân xâm lược bằng việc đẩy mạnh công tác giáo dục đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Bởi vì, theo Bác, thế hệ trẻ không những là lớp người kế tục, tiếp bước các thế hệ già, mà còn là tương lai, tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Với ưu thế là lớp người trẻ tuổi, có sức khỏe, nhiệt tình, hăng hái, ham hiểu biết, ham tiếp thu cái mới, giầu sức sáng tạo; thế hệ trẻ có đủ các điều kiện để “dời non, lấp bể”, làm nên sự nghiệp cách mạng. Bác đã ví thanh thiếu niên là “mùa xuân của tuổi trẻ”, “mùa xuân của xã hội”, “là tương lai, tiền đồ của nước nhà”. Vì thế, sự phát triển lâu dài của đất nước rất cần có sự giúp đỡ của thanh niên; phụ thuộc một phần lớn vào thanh niên và công tác thanh niên của Đảng, Nhà nước ta. Không ít lần, Bác khẳng định: Thanh thiếu niên là người làm chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh thiếu niên và sự tiến bộ của họ. Cũng vì thế, Bác luôn căn dặn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và khuyên bảo thanh thiếu niên: Các cháu muốn thực sự làm chủ tương lai nước nhà thì ngay hiện tại “phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải ra làm việc để chuẩn bị cho cái tương lai đó”.

Vì vậy, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, tháng 9 – 1945, Bác đã viết thư gửi học sinh, sinh viên toàn quốc. Trong thư có đoạn viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Bác khuyên nhủ thanh thiếu niên phải ra sức học tập, rèn luyện để tự mình có đủ sức mạnh để tham gia kháng chiến, kiến quốc, gìn giữ hòa bình, xây dựng đất nước mạnh giầu, phồn vinh. Đối với thiếu niên, Bác dạy: Tuổi nhỏ làm việc nhỏ; tùy theo sức của mình; để tham gia kháng chiến; và gìn giữ hòa bình. Đối với thanh niên: “…b) các việc đáng làm thì khó mấy cũng cố chịu quyết tâm làm cho kỳ được. c) ham làm những việc ích quốc lợi dân, không ham địa vị và công danh phú quý. d) đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc. e) quyết tâm làm gương về mọi mặt: siêng năng, tiết kiệm, trong sạch. f) chớ kiêu ngạo, tự mãn, nói ít làm nhiều, thân ái, đoàn kết… ”. Bác rất tin tưởng thanh niên, tin vào ý chí, nghị lực và quyết tâm đánh thắng “giặc ngoại xâm”, “giặc đói”, “giặc dốt”; làm rạng danh dân tộc, giống nòi Việt Nam. Với tuổi trẻ, óc sáng tạo và sự dồi dào sức lực, thanh niên có thể vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành trách nhiệm vẻ vang mà cả dân tộc giao phó. Bác viết: “Không có việc gì khó; chỉ sợ lòng không bền; đào núi và lấp biển; quyết chí ắt làm nên”.

Để làm tốt công tác giáo dục đào tạo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, Bác đề cao vai trò, trách nhiệm, sự nêu gương, mẫu mực, mẫn cán của đội ngũ cán bộ và các thế hệ cha, anh, những người đi trước. Theo Bác, thế hệ đi sau phải tiến bộ hơn thế hệ đi trước mới tốt, nếu thế hệ đi sau không bằng thế hệ đi trước, như thế là thụt lùi, là đáng phê bình. Và đó cũng là khuyết điểm của người lớn tuổi, thế hệ cha anh. Vì vậy, dù bận trăm công ngàn việc, Bác đều dành thời gian quan tâm đến các cơ sở giáo dục và đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác giáo dục đào tạo; coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng, chiếm vị trí hàng đầu của việc phát huy nhân tố con người. Theo Bác, chống “giặc dốt”, “giặc đói” cũng cấp bách, hệ trọng như chống giặc ngoại xâm. Trong suy nghĩ và việc làm của Bác, vấn đề nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đều là những công việc cần thiết, nên làm vì nó phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc; vì “cả hai việc đó đều cần phải có nhân tài”. Nếu không làm như vậy thì phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, quốc phòng… sẽ không có người đảm đương, đứng ra gánh vác. Vậy là, từ khi thành lập “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội”, viết tác phẩm “Đường Kách mệnh” (1927) cho tới khi viết bản “Di chúc” thiêng liêng để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta (1969); trọn vẹn cuộc đời, Bác luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ – người thừa kế, tiếp tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của nhân dân. Vì lẽ đó, Bác luôn yêu cầu cán bộ của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng phải thực sự quan tâm, chăm lo đến thanh thiếu niên; dành mọi ưu tiên và những gì là tốt đẹp nhất, có thể làm được để chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ thanh thiếu niên, coi đó là “cái vốn quý nhất” của cách mạng.

Với chủ trương giáo dục đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ để họ có đủ “đức” và “tài” đứng ra gánh vác nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Bác yêu cầu công tác giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ phải toàn diện, đầy đủ các mặt: Đạo đức, lối sống, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, công nghệ… Trong đó, Bác đặc biệt chú ý tới công tác giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho thanh niên; coi đó là cái “gốc rất quan trọng”. Đồng thời, coi trọng công tác giáo dục, bồi dưỡng mục tiêu, lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ; giúp thế hệ trẻ thực hiện ước mơ, hoài bão của mình, đi đúng con đường cách mạng mà Đảng đã vạch ra. Vì thế, Bác đã nêu câu hỏi: “Mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của thanh niên là gì?”. Người tự trả lời: Học tập, rèn luyên đạo đức cách mạng, nhận thức rõ ràng mục tiêu, lý tưởng phấn đấu để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, để làm cho dân giàu, nước mạnh. Theo Bác, có đạo đức cách mạng, mục tiêu, lý tưởng phấn đấu là tốt nhưng như thế là chưa đủ để thanh niên trở thành chủ nhân thật sự của một đất nước tự do, độc lập. Vì thế, họ cần được giáo dục, bồi dưỡng kỹ càng về mọi mặt để nâng cao trình độ chính trị, học vấn, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, quân sự, ngoại ngữ… cũng như cách đối nhân, xử thế của người cách mạng. Đó không chỉ là điều kiện để biến khả năng hoạt động của họ thành hiện thực trong đời sống mà còn là hành trang cần thiết để họ vững tin bước vào đời, lập thân lập nghiệp.

Về biện pháp giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ, theo Bác, vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Do vậy, trong giáo dục đào tạo, bồi dưỡng thanh thiếu niên, phải “khéo” kết hợp giữa học tập với vui chơi, giải trí; dạy từ dễ đến khó. Một trong những biện pháp quan trọng, có ý nghĩa thời sự đối với công tác giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ hiện nay là sự nêu gương của các thế hệ đi trước, của thầy giáo, cô giáo. Muốn vậy, phải ra sức xây dựng đội ngũ thầy giáo tốt, trường lớp tốt, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên gương mẫu, mô phạm để thanh thiếu niên nhìn vào đó học tập, làm theo. Thực hiện tốt lời căn dặn và những điều mong muốn của Bác đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, cũng là ý thức, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi chính đáng của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam yêu nước.

PGS.TS Nguyễn Bá Dương
Theo QĐND

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết dân tộc và về Tôn giáo

Cốt lõi của Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết trước hết là đoàn kết vì đại nghĩa, đoàn kết trong Đảng để đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế. Trên cơ sở đó Người kêu gọi mọi người càng đoàn kết nhau lại thành một khối để chống lại kẻ thù chung. Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: ”…đoàn kết lại, biết rằng thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ, đồng tâm, hiệp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi”.

298.jpgHồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần đại đoàn kết dân tộc.
Ảnh: Tuấn Anh

Đấu tranh nhằm xóa bỏ nỗi nhục mất nước cũng như nỗi nhục nghèo nàn và lạc hậu ở một nước như Việt Nam, Hồ Chí Minh hiểu cần phải thức tỉnh lương tri của tất cả mọi người, tất cả các tôn giáo trên cơ sở đại đoàn kết, tập hợp họ thành một khối thống nhất để dựng nước và giữ nước. Người mong muốn nhân dân của Người dù có tín ngưỡng hay không có tín ngưỡng, dù thuộc các tôn giáo khác nhau, đều trước hết thấy mình là con Rồng, cháu Lạc, phải có trách nhiệm với cộng đồng, với những người đã khuất, với tổ tiên.

Vì thế, ngay từ năm 1924, Người đã nói: ”Chủ nghĩa dân tộc là một động lực to lớn của đất nước”. Trong tư tưởng Người, dân tộc được xác định trên lập trường của giai cấp công nhân, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Đó là ”Chủ nghĩa dân tộc hướng tới chủ nghĩa Cộng sản”. Ngoài ra, Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết còn có nguồn gốc sâu xa từ truyền thống, từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Đó là truyền thống “Nhiễu điều phủ lấy giá gương; người trong một nước phải thương nhau cùng”. Vì thế, năm 1942, ngay sau khi về nước lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã viết: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi dưới ngọn cờ Việt Minh để đánh đuổi Tây – Nhật, khôi phục lại độc lập tự do”.

Với Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta. Đó là cái bảo đảm chắc chắn nhất cho cách mạng thắng lợi. Người cho rằng: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lục lượng đoàn kết của nhân dân”. Và “Đại đoàn kết là một lực luợng tất thắng. Nhờ đại đoàn kết mà cách mạng đã thắng lọi, kháng chiến đã thành công. Nay chúng ta đại đoàn kết thì cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta nhất đánh thắng lợi, nước nhà nhất định thống nhất”. Chính vì thế, ngay sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (VNDCCH) ra đời, dù bận “trăm công, nghìn việc”, vừa phải lo chống giặc đói, giặc dốt, lại phải lo thắng giặc ngoại xâm, Người rất quan tâm tới các tổ chức đoàn thể xã hội, các tổ chức tôn giáo. Ngày 3/9/1945, tức chỉ một ngày sau khi tuyên bố độc lập, Người đã có chương trình kế hoạch tiếp các tổ chức đoàn thể (như các báo Việt, Trưng, văn hóa giơi, công giới, thương giới, Công giáo, Phật giáo, nông hội, nhi đồng, thanh niên…). Cũng trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lân thời (bàn về những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước VNDCCH), Hồ Chí Minh đã nêu 6 nhiệm vụ cấp bách phải làm, trong đó Người nhấn mạnh vấn đề thứ 6 là: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo (Thiên chúa giáo) và đồng bào Lương (Phật giáo), để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết”.

images333077.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh với các đại biểu công giáo.
Ảnh: Tuấn Anh

Suốt cuộc đời mình, không lúc nào Hồ Chí Minh không chú ý đến những hành vi tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào. Người đã chú ý đến phong tục tập,quán của người dân khi trở về Pắc Bó, thậm chí tự tay vẽ hình ảnh Đức Phật và dựng ngôi chùa để đồng bào không phải đi xa làm lễ. Người cũng gửi nhiều thư và điện đến các vị giám mục, linh mục để vận động tinh thần yêu nước của đồng bào Công giáo. Người cũng còn gửi thư đến các ông lang, ông đại, biểu dương công trạng và tinh thần tham gia kháng chiến của đồng bào miền núi Hòa Bình.

Không chỉ với các đồng bào có đạo và không có đạo, với các đoàn thể, các Đảng dân chủ và xã hội, cũng được Người quan tâm để phát huy tốt vai trò của các tổ chức này trong việc động viên mọi tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia kháng chiến và thực hiện đại đoàn kết toàn dân. Có thể nói rằng, “Hồ Chí Minh đã nhận rõ cơ sở khách quan của khối đại đoàn kết dân tộc và tin tưởng vào đồng bào dù có tôn giáo hay không có tôn giáo. Người kêu gọi phải đoàn kết, không phân biệt tôn giáo, Đảng phái, già ,trẻ, gái trai… “Đoàn kết là chiến lược lâu dài chứ không phải là sách lược tạm thời”. Người là hiện thân, là ngọn cờ của khối đại đoàn kết dân tộc. Người đã phấn đấu không mệt mỏi cho sự củng cố khối đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công-nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo, nhằm tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp, mọi Đảng phái, mọi tôn giáo, dân tộc để bao vây, cô lập kẻ thù, phá tan chính sách của chúng, để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Người luôn nhắc nhở: “… đối với các đoàn thể khác cùng dân chúng, chỉ có một chính sách là đại đoàn kết”. Thậm chí, trước lúc đi xa, trong di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ khi thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Rõ ràng là, tư tưởng về đoàn kết của Hồ Chí Minh một khi trở thành chiến lược của cách mạng Việt Nam đã tạo nên một sức mạnh vô địch để dân tộc ta “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vuợt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Đó là sức mạnh của đoàn kết toàn dân kết hợp với sức mạnh thời đại để đưa dân tộc tiến tới “độc lập, tự do, hạnh phúc”. Vì thế, có thể khẳng định rằng tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi là một thành công lớn của Hồ Chí Minh. Người đã tập hợp được những tổ chức cách mạng chân chính về một mối, quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc, tranh thủ được sự ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng được tình đoàn kết quốc tế. Đó là kết quả của nhà tổ chức vĩ đại Hồ Chí Minh, biến khẩu hiệu nổi tiếng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công” thành hiện thực, thành sức mạnh tinh thần, trí tuệ, thành sức mạnh vật chất cực kỳ to lớn đánh thắng những thế lực thù địch hung bạo, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn kết mãi là một lực lượng to lớn của dân tộc Việt Nam. Đoàn kết là một lực lượng vô địch.

Theo báo Sức khoẻ & Đời sống

hochiminhhoc.com

Trần Đăng Khoa: Xuân về lại nhớ Bác Hồ

(VOV) – “Bác sống thế này mà ở dưới, có chú còn nhũng nhiễu làm khổ dân. Bác mà sống xa hoa thì ở dưới các chú đục khoét hết của dân à?”

Thi thoảng, trong đời sống công chức, chúng ta vẫn thường làm một việc không lấy gì làm mới mẻ: Kê khai tài sản. Nhìn bản Kê khai, ta lại mủi lòng: Sao mãi mình vẫn chưa giàu được nhỉ? Và rồi, ta lại được an ủi. Hóa ra ta vẫn chưa phải là người nghèo nhất. Ngay cả một người nông dân chân lấm, tay bùn, ở dưới đáy xã hội, nhưng vẫn có mảnh vườn, cái ao, hay chí ít cũng có con lợn, con gà. Nghĩa là vẫn có tài sản. Chỉ duy nhất một người dường như không có gì cả, một người nghèo nhất nước. Người đó là Bác Hồ, Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tác giả may mắn được nhiều lần gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, học trò ưu tú của Bác Hồ

Lục lọi trong tiểu sử Bác, đến cả nhà riêng của Người, ta thấy Người có gì? Một tấm áo kaki, đôi dép cao su, chiếc quạt bằng lá cọ… Vật chất là thế đấy. Còn tinh thần ư? Bác cũng là người duy nhất không có bất kỳ các loại Huân, Huy chương gì, đến cả sơ đẳng nhất là Bằng khen, Giấy khen, Người cũng không có. Bác còn là người nghèo nhất cả trong cõi riêng tư. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại, có những đêm, khuya rồi, Bác đã tắt đèn, nhưng trong phòng vẫn có tiếng đài. Đồng chí Vũ Kỳ tưởng Bác đã ngủ, rón rén đến tắt. Bác ngăn lại: “Đừng… Cứ để thế cho căn phòng Bác nó ấm, vì có tiếng người, tiếng phụ nữ…”

Ôi! Đài Tiếng nói Việt Nam! Vinh quang biết bao! Hạnh phúc biết bao khi Đài đã trở thành người bạn đường, người sẻ chia, an ủi Bác, trong những khoảnh khắc Người cô đơn nhất!

Nghĩ đến Bác, ngay cả một người bất hạnh đến cùng cực, cũng thấy được an ủi, sẻ chia. Hóa ra mình cũng vẫn chưa phải là người bất hạnh nhất.

Một người nghèo nhất nước như Bác, nhưng lại để cho chúng ta một di sản đồ sộ. Đó là một đất nước độc lập, toàn vẹn, một sự nghiệp Cách mạng chói ngời, một tấm gương trong sáng và lối sống cao đẹp đến tinh khiết.

Ta hiểu vì sao Bác luôn quan tâm đến những người nghèo, người lao động. Bác luôn hướng đến người lao động. Bác đặt tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam. Nghĩa là Đảng của tất cả mọi người, vì ai mà chẳng là người lao động. Bác còn dành lương mua quà cho người nghèo. Vào những dịp tết đến, xuân về, Bác thường chọn những gia đình nghèo nhất để đến thăm và chúc Tết.

Chuyến thăm rất bí mật, không báo trước để địa phương nghênh đón, rồi tuyên truyền, đưa tin. Thường chỉ có Bác và đồng chí Vũ Kỳ. Một chị lao công, ở trong khu hẻm nhỏ, đêm 30 Tết còn đi gánh nước thuê. Bàn thờ trống hoang, không có cả nải chuối, tấm bánh. Tết đến với mọi nhà, nhưng Tết lại quên căn nhà chị.

Bởi thế, chị bàng hoàng đến sửng sốt, buông rơi cả hai thùng nước, khi thấy Bác đột ngột xuất hiện trong căn nhà tồi tàn của mình: “Trời ơi, Bác…Gia đình cháu khổ lắm…Cháu không ngờ Bác lại đến với cháu..”. “Thế Bác không đến với cháu thì Bác còn đến với ai?…”. Chị bật khóc. Và Bác cũng khóc. Đó là một trong những cái Tết cuối cùng của Bác trong ký ức của đồng chí Vũ Kỳ.

Dân còn nghèo như thế, nên Bác sống rất đạm bạc tằn tiện. Bữa ăn của Người là bữa ăn của một nông dân nghèo. Tiếp khách quốc tế, Bác vẫn mang trang phục của một người nông dân nghèo. Bộ quần áo nâu và đôi dép cao su. Một đồng chí cán bộ tỉnh ái ngại: “Thưa Bác, Bác thay mặt cho Đảng, cho Dân, Bác vất vả thế này, có khi bạn bè quốc tế lại trách Đảng trách Dân không chu toàn với Bác…”.

Bác cười điềm đạm: “Bác sống thế này mà ở dưới, có chú còn nhũng nhiễu làm khổ dân. Bác mà sống xa hoa thì ở dưới các chú đục khoét hết của dân à?”

Cuộc đời của Bác, nếp sống của Bác là một bài học lớn cho các cán bộ cấp dưới. Ta hiểu vì sao trong những năm chiến tranh, đất nước loạn lạc, mà xã hội lại rất thanh bình, lòng dân không ly tán. Ra đường không lo trấn lột. Về nhà không sợ trộm cắp. Cũng không có tham nhũng, đĩ điếm. Một đời sống lành mạnh giữa một bầu khí quyển trong veo.

Một người suốt đời sống vì dân, lo cho dân, ngay trong những giây phút cuối cùng giã từ cõi đời, phần nói về mình, Về việc riêng, Người cũng chỉ dành cho mình đúng 79 chữ. 79 chữ tổng kết cả một đời người 79 năm, trong một ít chữ phong phanh ấy, Người cũng lại chỉ canh cánh lo cho dân, không muốn tổ chức tang lễ điếu phúng linh đình để đỡ tốn thời giờ và tiền bạc của dân.

Chúng ta đang học tập tấm gương Đạo đức và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng thế nào là Tư tưởng Hồ Chí Minh? Tôi cũng đã theo học và nghiên cứu. Có rất nhiều định nghĩa. Nhưng cũng không ít những quan niệm áp đặt và chủ quan. Nói về Tư tưởng Hồ Chí Minh, có lẽ không có ai nói hay hơn và chuẩn xác hơn cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười. Mà ông cụ lại nói vo ở Hội Nhà văn, nói suốt 4 giờ liền về nhiều vấn đề mà giới văn chương rất tâm đắc.

Khi bàn về Tư tưởng Hồ Chí Minh, cụ Đỗ Mười đưa ra một định nghĩa rất ngắn mà vô cùng chuẩn xác: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì? Là Việt Nam hóa tất cả những tư tưởng tiên tiến nhất, đặc sắc nhất của nhân loại và biến chúng thành hiện thực ở Việt Nam!”

Quả đúng như vậy. Ta có thể tìm thấy trong những câu nói bất hủ của Người, những kinh nghiệm được đúc kết của rất nhiều thời đại. Và một trong những bài học sâu sắc Người để lại cho chúng ta là sự chiêm cảm tinh vi đến chuẩn xác và nghệ thuật dùng người. Đây chính là một bí mật của Bác mà chúng ta cần nghiên cứu, khám phá. Bác có tầm nhìn rất xa và rất chuẩn xác.

Năm 1941, Bác có bức tranh, vẽ cây kèn, con số 1945 cùng câu thơ “Việt Nam Độc lập thổi kèn loa”. Sau quả đúng như vậy. Và như thế, Bác đã “nhìn” thấy ngày Độc lập từ năm 1941. Sau này Người cũng đoán chuẩn xác năm giải phóng Sài gòn. Tối 30/4/1960, trong diễn văn chào mừng Quốc tế Lao động tại Nhà hát Lớn Hà Nội, có một dòng rất đặc biệt, lúc đó Người đã giấu đi bằng một nét gạch xóa, nhưng vẫn còn được lưu giữ trong Bảo tàng Hồ Chí Minh “…Cùng lắm cũng chỉ 15 năm nữa, nước nhà sẽ thống nhất, đồng bào Nam, Bắc sẽ sum họp một nhà…”.

“15 năm nữa…” tính từ thời điểm năm 1960 thì đúng là năm 1975. Rất chuẩn xác. Bởi thế, có người coi Bác như một vị Thánh. Tài nhất là nghệ thuật dùng người. Đây chính là mấu chốt quyết định sự thắng lợi của Cách mạng. Năm 1946, khi phải rời Tổ Quốc, Người lại trao toàn quyền điều hành đất nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng và chỉ dặn một câu:  “Dĩ bất biến ứng vạn biến”.  Với một nhà Nho uyên thâm như cụ Huỳnh, chỉ nói thế là đủ.

Điều đáng ngạc nhiên, sao lúc ấy, tình thế rất phức tạp, thù trong, giặc ngoài, trong Chính phủ có bao nhiêu Đảng viên cốt cán, Bác không trao, mà lại trao quyền điều hành đất nước cho một nhân sĩ không phải Đảng viên là cụ Huỳnh Thúc Kháng? Đưa một người không phải Đảng viên lên chức vụ lớn, lại trao cho cả vận mệnh đất nước là một quyết định táo bạo.

Nhưng bằng lối ứng xử rất đẹp ấy, Bác đã quy tụ được tất cả những tinh hoa của dân tộc đến với cuộc kháng chiến cứu nước và kiến quốc. Bởi thế, rất nhiều nhân sĩ, trí thức, ở nhiều đảng phái khác nhau đều tìm đến với Người, có không ít người từ bỏ đời sống nhung lụa, trở về Tổ Quốc, cùng đồng cam cộng khổ với Người. Những năm tháng cam go ấy, không có nhiều ban bệ, tư vấn, mà sao Bác dùng người chuẩn thế. Những cán bộ được Bác chọn, trao việc đều trở thành những nhân vật xuất sắc của lịch sử đất nước.

Đặc biệt là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nhiều lúc tôi cứ vân vi tự hỏi, bằng phép nhiệm màu nào mà Bác đã nhìn thấy khả năng thiên tài quân sự trong Võ Nguyên Giáp, một người chưa từng qua bất kỳ một khóa học quân sự nào?. Lúc ấy, ông Giáp chỉ đơn thuần là một ông giáo dạy sử ở trường tư thục Thăng Long.

Một con người hoàn toàn xa lạ với quân binh, trận mạc, vậy mà Bác lại trao cho việc phụ trách quân sự, rồi phong thẳng lên Đại tướng và ủy nhiệm cho toàn quyền quyết định việc quân: “Chú là Tướng biên ải, Tướng ngoài mặt trận, có gì cần thiết, chú cứ quyết rồi báo cáo Bác sau!”.

Sau này, ta mới biết việc chọn Tướng Giáp của Bác tài tình đến như thế nào. Võ Nguyên Giáp quả là một thiên tài quân sự. Tên tuổi ông có thể đặt bên cạnh những tên tuổi lừng danh nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc: những Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Quang Trung… Vậy bằng cách nào Bác phát hiện được khả năng tiềm ẩn một Thiên tài quân sự trong dáng vẻ bạch diện thư sinh của một ông giáo dạy sử ở một trường phổ thông? Đó chính là một bí mật.

Nhà báo nổi tiếng Mỹ Lady Borton kể lại rằng, có lần, mấy nhà báo Pháp cũng rất ngỡ ngàng hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh một câu hỏi khá hắc búa: “Thưa ngài Chủ tịch, ngài phong ông Giáp lên thẳng chức Đại tướng, là phong theo tiêu chí nào?”. Bác bảo: “Nước tôi là nước du kích. Chúng tôi đánh giặc theo lối du kích, thì phong hàm cũng là phong theo kiểu du kích. Ông Giáp của chúng tôi đã đánh thắng tất cả các ông tướng tài giỏi của nước Pháp, vậy thì ông ấy phải là Đại tướng thôi”. Nói rồi, Bác cười rất sảng khoái. Mấy nhà báo quốc tế cũng cười. Câu hỏi móc mói nhuốm màu bùa chú đã bị hóa giải.

Bác của chúng ta là thế đấy!. Người rất tài biến những chuyện to tát, nghiêm trọng thành những điều hết sức giản dị, mộc mạc. Chỉ những người từng trải, uyên thâm và lịch lãm lắm mới có thể làm được như thế…/.

Trần Đăng Khoa

vov.vn

Câu chuyện những ngôi nhà của Bác Hồ

Ngày 18-5-1958, Bác Hồ về sống tại nhà sàn cho đến cuối đời - Ảnh: Tư liệu

Ngày 15-10-1954, sau khi quân ta tiến vào Thủ đô được năm ngày, Bác bí mật vào Hà Nội và tạm dừng chân ở nhà thương Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Trung ương quân đội 108). Lúc này việc chọn cho Bác một chỗ ở riêng được các đồng chí lãnh đạo đặt ra và trao đổi nhiều lần.

Nhưng các biệt thự đẹp, sang trọng ở dọc các phố Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu, Nguyễn Gia Thiều, Lý Nam Đế… lần lượt có chủ mới. Đó là những cán bộ cấp cao từ chiến khu mới về.

Chọn chỗ của người thợ điện

Trong những ngày ở nhà thương Đồn Thủy, nghe báo cáo về một số dư luận không hay lắm về việc nhà cửa có liên quan đến một vài cán bộ cấp cao, Bác tâm sự với một đồng chí bên cạnh: “Người ta ai cũng muốn có nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con khôn, ăn mặc sung sướng nhưng những cái đó dù sao cũng chỉ là nhất thời, còn tiếng xấu thì còn lại muôn đời, lưu truyền mãi mãi…”.

Cuối cùng, Bộ Chính trị cũng quyết định đưa Bác về ở và làm việc tại dinh toàn quyền cũ, ngôi nhà to đẹp nhất nước lúc bấy giờ.

Ngày 15-12-1954, nhân đến thăm bộ đội diễn tập duyệt binh để chuẩn bị tham gia đón Trung ương Đảng và Chính phủ về Thủ đô, Bác cùng các đồng chí giúp việc ghé vào thăm nhà mới được phân. Ai cũng nghĩ ngôi nhà này thật sự xứng đáng với Bác. Nhưng một bất ngờ đã xảy ra. Sau khi xem xét cả trong lẫn ngoài, Bác nói với các đồng chí đi cùng: “Ngôi nhà rất đẹp, không thua kém những công trình đẹp nhất ở Thủ đô Pa-ri. Các chú cần có kế hoạch quét dọn, sửa chữa để dùng vào việc khác, ví dụ như làm nơi vui chơi cho các cháu thiếu nhi chẳng hạn, còn Bác thì dứt khoát không ở đây”.

Sau khi xem xét một số ngôi nhà ở khu vực xung quanh, Bác quyết định chọn chỗ ở cho mình là ngôi nhà cấp bốn của người thợ điện.

Ngày 19-12-1954, nhân kỷ niệm 8 nămNgày Hà Nội nổ súng mở đầu kháng chiến toàn quốc, từ nhà thương Đồn Thủy Bác dọn đến nơi mới. Đây là căn nhà mái bằng cách nhà sàn hiện nay khoảng 100m. Nó đã bỏ không khá lâu, hình như là từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, trong đó có qui định quân Pháp phải rút khỏi Hà Nội sau ba tháng. Do đó mà quanh nhà và lối đi cây và cỏ dại đã mọc đầy.

Bộ phận văn phòng khẩn trương dọn dẹp, làm vệ sinh, nặng nhất là phải cùng nhau khiêng cái máy nổ đang nằm chềnh ềnh chính giữa nhà, dầu mỡ chảy lênh láng, đen kịt, bốc mùi rất khó chịu. Anh em bảo vệ, công vụ, văn phòng nhìn nhau ngao ngán. Bác nhìn thấy nỗi thất vọng của mọi người liền vui vẻ động viên: “Các chú chỉ cần hăng hái làm “cách mạng” trong một ngày là cải tạo xong thôi. Chúng ta sẽ có một chỗ ở đàng hoàng gấp trăm ngàn lần cán bộ và nhân dân hiện nay đang ở”.

Chỉ một thời gian ngắn, cảnh vật xung quanh ngôi nhà đã thay đổi hẳn. Con đường vào nhà được rải sỏi. Bác cho trồng hai hàng dâm bụt hai bên đường. Tuy nhiên, do nhà đổ mái bằng nên mùa hè rất nóng, còn mùa đông thì lạnh giá, ánh sáng mặt trời không đủ cho Bác làm việc. Khoảng hơn 3g chiều đã phải thắp đèn. Các đồng chí lãnh đạo mỗi lần đến làm việc rất băn khoăn về nơi ở và làm việc của Bác, nhiều lần đề nghị Bác chuyển nơi khác nhưng Bác vẫn giữ ý kiến của mình. Bác nói với các đồng chí phục vụ: “Hãy nhìn nhân dân sống như thế nào để mà sống cho phù hợp. Sống phù hợp với nhân dân mới hiểu được nhân dân”.

Không làm quá to, không dùng gỗ tốt

Bác thỉnh thoảng có đến thăm vài gia đình cán bộ ở những khu biệt thự to trên dưới mười phòng, trang hoàng lộng lẫy như vua chúa ngày xưa, bóng điện từ ngoài cổng cho đến trong nhà có đến vài chục ngọn. Mỗi lần đến thăm như thế, lúc ra về Bác tự nói với mình và cũng muốn cho các đồng chí phục vụ ngồi bên nghe thấy: “Trong lúc nhân dân, cán bộ còn rất nghèo khổ, khó khăn, có gia đình hàng chục nhân khẩu chen chúc trong một căn hộ hơn chục mét vuông mà họ sống trong những biệt thự như vậy mà vẫn phởn phơ, vô cảm. Thật không chịu nổi”. Có lần đến thăm như thế, khi ra cửa Bác hỏi chủ nhà: “Nhà nhiều bóng đèn như thế này có hôm nào quên tắt không?”.

Sau hơn bốn năm sống và làm việc ở ngôi nhà người thợ điện, sau này là “nhà 54”, ngày 18-5-1958 Bác chuyển sang ở ngôi nhà sàn, cũng ở ngay trong khuôn viên Phủ Chủ tịch.

Thời gian thi công nhà sàn là thời gian Bác đi công tác nước ngoài trong vòng một tháng. Trước khi đi Bác cho gọi kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh đến căn dặn là phải tiết kiệm, không làm quá to, không dùng gỗ tốt. Tầng dưới nhà sàn sẽ là nơi dùng để họp Bộ Chính trị và tiếp khách quí. Xung quanh làm một hàng ghế ximăng sát tường để dành cho các cháu thiếu nhi mỗi lần Bác mời vào vui chơi với Bác.

Ngôi nhà có hai tầng. Từ tầng một lên tầng hai bằng chiếc cầu thang gỗ 14 bậc. Tầng hai được ngăn làm hai phòng, mỗi phòng khoảng 9m2, một phòng làm việc, một phòng ngủ. Trong phòng làm việc có 1 bàn, 1 ghế và 1 giá sách sát tường chia làm nhiều ô để đựng tài liệu và sách báo. Phòng ngủ có một chiếc giường rộng 1,2m. Bốn góc giường cắm bốn cọc gỗ để mắc màn. Phía đầu giường có hai chiếc gối, một để gối ngủ, còn một để chồng lên gối ngủ cho đầu cao lên mỗi khi Bác đọc sách. Bên cạnh gối là chiếc quạt lá cọ. Bác bảo là để dự phòng khi mất điện hoặc khi đi ra ngoài. Hơn nữa, Bác nói thỉnh thoảng cũng cần phải cho quạt điện nghỉ để dùng được lâu.

Ngôi nhà sàn của Bác đã trở thành một di tích lịch sử quí hiếm, một tài sản tinh thần vô giá đối với các thế hệ mai sau. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng viết: “Cái nhà sàn của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng và trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại thì cái nhà nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn. Một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao”.

Đại tá Thế Kỷ
(Người giúp việc cho ông Vũ Kỳ – Thư ký của Bác Hồ)
Theo tuoitre.vn – Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực hoạt động của UNESCO (*)

Tại Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”, bà Katherine Muller-Marin – Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội đã có bài phát biểu nêu bật những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các hoạt động của tổ chức này.

Tôi có mặt tại đây ngày hôm nay để hoàn thành sứ mệnh của Nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24 của cơ quan này tại Pa-ri năm 1987, về việc kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn. Đại hội đồng cho rằng việc thế giới kỷ niệm ngày sinh của những nhà văn hóa và trí thức kiệt xuất sẽ góp phần đạt được những mục tiêu của UNESCO và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia.

Đại hội đồng cũng coi Người là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc bởi Người đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và dân tộc Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại vì hòa bình, độc lập dân chủ và tiến bộ xã hội. Đại hội đồng cũng cho rằng những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật kết tinh truyền thống văn hóa của Việt Nam, một truyền thống có từ nhiều nghìn năm trước, và những lý tưởng của Người tiêu biểu cho khát vọng các dân tộc khác trên thế giới bởi họ đấu tranh nhằm khẳng định bản sắc văn hóa của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.

Trên cơ sở những suy xét này, Đại hội đồng đã khuyến nghị các quốc gia thành viên tham gia vào việc kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các sự kiện thể hiện tưởng nhớ về Người nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người.

Đại hội đồng cũng đề nghị Tổng Giám đốc UNESCO có những biện pháp thích hợp để kỷ niệm ngày sinh của Người và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức trong dịp này, đặc biệt là những sự kiện diễn ra tại Việt Nam.

Quyết định của UNESCO cũng căn cứ vào những đóng góp của Hồ Chí Minh cho năm lĩnh vực hoạt động của UNESCO. Tôi xin được nhắc lại một vài đóng góp đó:

Trong lĩnh vực văn hóa, chúng ta thấy Hồ Chí Minh bên cạnh tư cách là một nhà thơ, rất quan tâm đến việc bảo vệ và bảo tồn di sản. Sắc lệnh Số 65 được Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành tháng 11 năm 1945 quy định rằng việc bảo tồn di tích lịch sử là một nhiệm vụ rất cần thiết để xây dựng nước Việt Nam.

Quyết định này còn cấm phá hủy đình, chùa, đền đài, điện thờ, hoặc những nơi thờ cúng, các lâu đài, thành quách, và lăng mộ, cũng như các đồ vật, sắc chỉ, văn bằng, tư liệu, sách báo có giá trị cho lịch sử, dù có tính tín ngưỡng hoặc không. Người cũng quan tâm đến việc khôi phục nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống trên khắp đất nước.

Bảo vệ và bảo tồn là những nhiệm vụ rất quan trọng trong UNESCO. UNESCO khuyến khích việc nhận diện, bảo vệ và bảo tồn di sản văn hóa cũng như di sản thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên khắp thế giới – những di sản được coi là có giá trị nổi bật đối với nhân loại, như đã được thể hiện trong Công ước của UNESCO liên quan đến việc Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và trong Công ước 2003 của UNESCO về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể.

Một ví dụ khác của Hồ Chí Minh liên quan đến công tác bảo vệ và bảo tồn này là Sắc lệnh công nhận Lễ hội Giỗ tổ Hùng vương, một sự kiện yêu nước nhằm mục đích ghi nhớ công lao to lớn của ông cha, đồng thời nhấn mạnh sức mạnh tinh thần của một dân tộc thống nhất.

Từ thuở ban đầu, Hồ Chí Minh đã nhận ra bản chất hỗn hợp của nền văn hóa Việt Nam. Người nói: “Văn hoá Việt Nam là kết quả của sự tác động qua lại giữa Đông và Tây”. Người cũng tin rằng văn hóa là kim chỉ nam cho mọi dân tộc với ý nghĩa là nó giúp nâng cao nhận thức của công chúng, phục hồi sức sống của dân tộc, và đảm bảo các quyền con người, trong khi khẳng định các quyền kinh tế, chính trị và Người cũng quan tâm đặc biệt tới mối quan hệ giữa văn hóa, kinh tế và chính trị và tin rằng văn hóa phải thẩm thấu vào toàn xã hội và đến với từng thành viên để phát huy tiềm năng sáng tạo của họ.

Trong lĩnh vực truyền thông và thông tin. chúng ta thấy vai trò của Người trong việc phát triển báo chí. Ví dụ như: Người đã lập ra tờ báo riêng của mình, Tờ Le Paria, có nghĩa là “Người cùng khổ” vào năm 1921 và sáng lập ra Báo Thanh niên – tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam vào năm 1925 và trở thành Tổng Biên tập đầu tiên của ấn phẩm này. Người cũng lập ra tờ báo quốc gia chính của Đảng Cộng sản Việt Nam – Báo Nhân Dân, được xuất bản tại Hà Nội và là cơ quan ngôn luận chính thức của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã đưa một phong cách làm báo mới ở Việt Nam, lấy dân tộc và người dân làm chủ đề thời sự chính. Viết cho giai cấp lao động, các tờ báo cách mạng phải lột tả thực tế đời sống của người lao động và hướng dẫn họ trong cách cư xử và hành động nhằm giúp họ cải thiện điều kiện sống của mình.

Một số người nói rằng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho nền báo chí Việt Nam, một giả định hợp với logic bởi suốt đời mình, Người là một nhà báo. Người viết nhiều thể loại văn chương và báo chí: Bút ký, truyện thời sự, xã luận, thơ, cùng các thể loại khác. Các bài báo của Người, đi thẳng vào vấn đề và được viết một cách giản dị, rõ ràng và súc tích, rất dễ hiểu với độc giả đông đảo của Người.

Hội Nhà báo Việt Nam cũng được thành lập dưới sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; khởi đầu chỉ với 200 hội viên nhưng giờ đây đã lên đến hơn 16.000 người.

Tôi nhận thấy một điều lý thú là vào năm 1946, trên cương vị Chủ tịch lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập Bộ Kinh tế quốc gia, trong đó có một đơn vị thống kê chịu trách nhiệm tập hợp các số liệu về dân số, tình hình tài chính, kinh tế, chính trị, và lý thú hơn nữa là cả các số liệu về văn hóa.

Giờ đây, chúng ta đang làm việc với sự hỗ trợ của Viện Thống kê UNESCO cùng Tổng cục Thống kê và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch của Việt Nam để xây dựng một Khung hành động cho Thống kê Văn hóa Việt Nam nhằm trợ giúp cho việc xây dựng và triển khai chính sách dựa vào thực tiễn, bởi lẽ văn hóa đang trở thành một nhân tố chủ chốt của phát triển bền vững.

Trên những lĩnh vực khác, tôi nhận thấy trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn chú ý đến các vấn đề của phụ nữ. Người cho rằng để giúp chị em tham gia vào các hoạt động xã hội, sự phân biệt giữa nam và nữ cần xóa bỏ và chính phủ cần phải có chính sách khuyến khích phụ nữ cùng nam giới tham gia vào sản xuất, quản lý kinh tế và hoạt động văn hóa. Người cũng viết trong Di chúc là Đảng và Chính phủ nên có những kế hoạch để đảm bảo ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động, kể cả lãnh đạo, và rằng chị em cần phải phấn đấu vươn lên.

Đối với UNESCO, bình đẳng giới là một quyền cơ bản của con người, một giá trị chung, và cũng là một điều kiện cần thiết để đạt được các mục tiêu phát triển quốc tế, trong đó có tất cả các mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ. Suy cho cùng, việc nâng cao quyền lực của phụ nữ và bình đẳng giới là những vấn đề chính trị cần có sự hưởng ứng và cam kết của các nhà lãnh đạo thế giới và những người làm chính sách.

Liên quan đến khoa học xã hội và với những khái niệm về hợp tác hòa bình và hiểu biết lẫn nhau trên thế giới được UNESCO quảng bá, Việt Nam đang ra sức đóng góp cho khu vực và thế giới. Một phong cách mới của ngoại giao Việt Nam đã xuất hiện khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Bộ Ngoại giao được thành lập trong tháng 8 năm1945 khi nội các lâm thời được công bố. Ý thức được tầm quan trọng của ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiêm nhiệm chức Bộ trưởng Ngoại giao cho đến tháng 3 năm 1947.

Về khoa học tự nhiên, Hồ Chí Minh đã sớm thể hiện sự quan tâm của Người đối với các vấn đề liên quan đến môi trường và tới mối quan hệ hòa hợp giữa con người và thiên nhiên trong sự phát triển của một quốc gia. Người ủng hộ sự cần thiết phải chống thiên tai, duy trì và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cùng môi trường sinh thái và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trồng rừng, thủy lợi và cải thiện chất đất.

Sự quan tâm của Người đối với việc trồng cây và bảo vệ môi trường đã vượt qua biên giới tới mức, trong các chuyến thăm nước ngoài hoặc mỗi khi tiếp đón khách ngoại quốc, Người hay tổ chức lễ trồng cây và gọi những cây này là “cây hữu nghị”, biểu tượng cho quan hệ giữa Việt Nam và thế giới cũng thể hiện thái độ tích cực đối với môi trường. Tôi có thể hiểu được tại sao chúng tôi luôn được mời tới các lễ trồng cây. Ngay cả trong Di chúc của mình, Hồ Chí Minh khuyến nghị những người viếng thăm trồng cây tưởng niệm.

Người còn kêu gọi mọi người “trồng và bảo vệ rừng, như bảo vệ ngôi nhà của mình”. Để nêu gương, Người đã tạo ra một môi trường tự nhiên tuyệt vời quanh nơi ở của mình và chăm sóc cây cối, hồ cá, và chim chóc, nhấn mạnh là chúng cần được bảo vệ bởi chúng là những báu vật của thiên nhiên.

Trong lĩnh vực giáo dục, tôi nhận thấy điều thú vị là Người cho rằng xóa bỏ nạn mù chữ có nghĩa là tạo nên một phong trào giáo dục đại chúng. Người chỉ ra rằng học đọc và học viết có thể được tiến hành ở bất cứ đâu, dùng than, mặt đất, hoặc lá chuối làm bút và giấy. Người sáng suốt khi chỉ ra rằng một người đã biết đọc, người đó cần tiếp tục học tập bởi người biết chữ có thể quên cách đọc nếu họ không có gì đễ đọc. Người tuyên bố rõ ràng rằng Chính phủ và Bộ Giáo dục có nhiệm vụ cung cấp sách báo phù hợp với từng cấp độ của người đọc.

Từ khi được thành lập vào năm 1946, UNESCO đã đi đầu trong nỗ lực xóa bỏ nạn mù chức trên toàn cầu với những chương trình như Giáo dục cho mọi người. Đây là một yếu tố cần thiết cho việc xóa nghèo, giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em, kiềm chế sự phát triển dân số, đạt được sự bình đẳng giới, và đảm bảo phát triền bền vững, hòa bình và dân chủ. Hơn thế, thật thú vị khi đọc trong Công báo quốc gia Việt Nam 1945 thấy rằng Bộ Giáo dục được thành lập ngay sau khi Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Có một mối tương liên giữa ý nghĩ của Hồ Chí Minh rằng “mục tiêu cuối cùng của việc học là trở thành con người theo đúng nghĩa của từ này với bốn trụ cột của việc học đã được Ủy ban về Giáo dục cho thế kỷ XXI xác định trong báo cáo của họ trình lên UNESCO trong thập kỷ 1990 như là những nguyên tắc cơ bản cho việc định hình lại giáo dục. Ủy ban cảm thấy là giáo dục suốt đời dựa trên bốn trụ cột:

Học để biết, ngụ ý cung cấp những công cụ nhận thức cần có dễ hiểu thế giới và những điều phức tạp của nó một cách tốt hơn, và để có nền tảng đủ và phù hợp để học tập trong tương lai.

Học để làm, có nghĩa là cung cấp các kỹ năng giúp các cá nhân tham gia một cách có hiệu quả vào nền kinh tế và xã hội toàn cầu.

Học để làm người có nghĩa là cung cấp những kỹ năng tự phân tích và kỹ năng xã hội để giúp các cá nhân phát huy đầy đủ nhất tiềm năng của mình về mặt tâm lý – xã hội, về tình cảm cũng như thể chất, để trở thành một “con người toàn diện” về mọi mặt.

Học để chung sống ngụ ý là hướng các cá nhân vào những giá trị tiềm ẩn trong các nguyên tắc dân chủ, sự hiểu biết giữa các nền văn hóa, tôn trọng và hòa bình ở mọi cấp bậc xã hội và quan hệ giữa người với người nhằm giúp cho các cá nhân và các xã hội cùng sống trong hòa bình và hòa thuận.

Tôi xin kết thúc bài phát biểu của mình với những ý nghĩ sau:

Nếu một con thuyền ra khơi mà không định trước bến đỗ, thì gió thổi hướng nào là không quan trọng? Con thuyền có thể cập bất kỳ bến nào. Biết được bến đỗ mà ta muốn đến có nghĩa là ta có một tầm nhìn rõ ràng về nơi đó. Điều đó có nghĩa là kiểm soát tốc độ gió và sức lực để tới được bến đỗ đó.

Có được một vị Chủ tịch như Hồ Chí Minh, người được nhiều người không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới tôn vinh như anh hùng dân tộc, giống như có được một biểu tượng giúp chúng ta có được một tầm nhìn, chỉ cho đất nước một bến đỗ an toàn cho đất nước. Và hơn thế, một lãnh tụ như thế cũng chỉ cho ta cách kiểm soát phong ba bão táp thông qua lòng tự hào, lao động cần cù và quan hệ hòa hiếu.

Giờ đây, tôi xin cùng dân tộc Việt Nam kỷ niệm ngày sinh của một nhân vật vĩ đại, người đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại và trong lịch sử của đất nước này. Xin chúc tất cả quý vị một tương lai phồn thịnh và thái bình./.

Katherine Muller-Marin
Theo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Đảng với dân như cá với nước…”

Bác Hồ đã khẳng định: “Đảng với dân như cá với nước”. Đó không chỉ là nguyên lý quán xuyến trong mọi hoạt động của Đảng mà còn là một bài học xương máu quyết định sự sống còn của Đảng. Sự tan rã của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu luôn là minh chứng đau lòng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân. Cho nên Đảng ta vĩ đại vì nó bao trùm cả nước, đồng thời vì nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta. Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H 2002, t.10, tr.4). Chính vì thế, Đảng được nhân dân tin theo, sức mạnh vô địch của Đảng ta là từ nhân dân mà ra.

Trong thời kỳ hoạt động bí mật cũng như khi Đảng lãnh đạo nhân dân trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng ta luôn được nhân dân cưu mang, giúp đỡ, đùm bọc, chở che. Trên khắp mọi miền đất nước đã xuất hiện biết bao tấm gương sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình để bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ của Đảng. Đó là tấm gương của những người luôn “Sống cùng Đảng, chết không rời Đảng/ Tấm lòng son chói sáng ngàn thu”;“Chết nằm xuống còn hôn cờ Đảng”, mặc cho giặc khảo tra “Cắn răng thà chết, không xa Đảng mình”. Là thời kỳ mà biết bao đồng bào, chiến sĩ, những người cộng sản đã anh dũng hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng. Rất nhiều gia đình cả cha và con đều hy sinh. Nhiều bà mẹ có chồng và các con đều là liệt sĩ, nhưng không hề nuối tiếc và ta thán. Tuyệt đại đa số đảng viên, cán bộ của Đảng khi đó luôn vì nhân dân phục vụ, thực sự là công bộc của dân.

Ngày nay, những lời dạy của Bác về mối quan hê giữa Đảng với dân càng có ý nghĩa khi “một bộ phận không nhỏ đảng viên không còn gần gũi, gắn bó với họ như ngày xưa. Thậm chí có nhiều nơi, nhiều lúc có một số cán bộ, đảng viên không khác xa mấy bọn hào lí thời cũ. Họ cũng chè chén xa hoa, ăn đút lót, hù dọa, hạch sách, quát nạt dân. Nhiều cán bộ, đảng viên sống xa cách dân, chỉ thấy quần chúng là đối tượng bị lãnh đạo, phải giáo dục, được ban phát. Quần chúng nhân dân muốn gặp nhữngđầy tớcủa mình thì thật khó khăn, cách bức, thậm chí có lúc bị hoạnh họe, hù dọa”, “những hành động việc làm cụ thể nhiều khi không dựa vào dân; dân không được biết, được bàn, ngay cả với những vấn đề thiết thân của họ. Do vậy, nguy cơ lớn nhất đối với Đảng Cộng sản cầm quyền là thoát ly quần chúng; cán bộ, đảng viên của Đảng đối lập với những người sinh ra, nuôi dưỡng, đùm bọc, hi sinh vì mình” (Hoàng Tùng – Tạp chí Cộng sản, số 2, 1999).

Thực tế cho chúng ta thấy, nhiều cán bộ, đảng viên đã không gục ngã trước mũi tên, hòn đạn của kẻ thù trong chiến tranh, nhưng lại không vượt qua được những cám dỗ của tiền tài, địa vị khi họ nắm quyền lãnh đạo. “Trong gian khổ, hi sinh họ dựa vào dân, được dân che chở nhưng khi cách mạng thắng lợi, được sung sướng, nhiều người lại quên mất dân”, “có người vẫn dạy người khác là phải nâng cao đạo đức cách mạng, học tập gương Bác Hồ nhưng họ lại cho phép bản thân mình làm khác đi. Khoảng cách giữa nói và làm hiện nay còn rất xa. Nhiều cán bộ, đảng viên không phải làđầy tớ, công bộccủa dân mà thật sự trở thành nhữngông quan cách mạng” (Hoàng Tùng).

V.I.Lênin từng khẳng định: Chúng ta sẽ mất tất cả khi những người cộng sản trở thành quan liêu. Căn bệnh quan liêu, xa rời quần chúng đã và đang diễn ra khá trầm trọng. Điều này đã được đề cập đầy đủ trong Nghị quyết Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Để khắc phục những hiện tượng xa rời bản chất tốt đẹp của Đảng, xa rời quần chúng nhân dân cần thực hiện các giải pháp đồng bộ mà Nghị quyết đã chỉ rõ. Đồng thời Đảng và Chính phủ cần có những chế tài cụ thể để mọi cán bộ, đảng viên chịu sự kiểm soát của dân, mở rộng dân chủ, kỷ luật thích đáng để trừng trị nghiêm khắc những ai xâm phạm lợi ích, quyền làm chủ của dân. Cần giữ vững quan hệ máu thịt giữa Đảng và dân. “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hi sinh” phải là nghĩa vụ, trách nhiệm của những người cán bộ, đảng viên. Phát huy sức mạnh “Đảng với dân là một”. Một khi mỗi cán bộ, đảng viên đặt lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, nhất định Đảng sẽ được nhân dân tin yêu, mối quan hệ với dân từ đó ngày càng gắn bó. Đảng phải luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, xứng đáng với sự tin yêu mà nhân dân đã dành cho Đảng, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ trung thành của nhân dân. Mỗi người dân Việt Nam sẽ thấy tự hào, hạnh phúc được đi trên con đường mà Bác đã lựa chọn, chiến đấu dưới lá cờ của Đảng và Bác kính yêu:

Không gì vinh bằng chiến đấu dưới cờ
Đảng chói lọi, Hồ Chí Minh vĩ đại !”
(Tố Hữu)

Nguyễn Thị Ý

xaydungdang.org.vn

Nhà 67 – nơi Bác Hồ để lại muôn vàn tình thương yêu

Bàn làm việc của Bác Hồ tại nhà 67 trong Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội. Ảnh: L.Q.V

Nhà 67 – được gọi tên theo năm công trình xây dựng và hoàn thành (năm 1967) được xây dựng theo Chỉ thị của Bộ Chính trị bố trí nơi làm việc cho Bác để phòng tránh chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Bác đã ở làm việc và đi xa từ đây, để lại bao tiếc thương cho nhân dân cả nước. Ngôi nhà này cũng đơn sơ giản dị như bao ngôi nhà khác ẩn mình dưới những tán cây cổ thụ trong Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Căn nhà hoàn thành ngày 20/7/1967, một thời gian sau do chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ diễn ra ngày một ác liệt, Bác mới đồng ý chuyển xuống làm việc ở đây. Nơi đây cũng là nơi Bác họp với Bộ Chính trị bàn và ra những quyết định quan trọng liên quan đến vấn đề xây dựng kinh tế ở miền Bắc, đường lối ngoại giao, đường lối quân sự cho hai miền.

Đây cũng là nơi Bác tiếp các đồng chí lãnh đạo ở Trung ương Cục miền Nam, ở Quân khu V ra họp và làm việc như: Đồng chí Nguyễn Văn Linh, đồng chí Võ Chí Công… Buổi họp đầu tiên của Bộ Chính trị tổ chức tại đây là nghe đồng chí Lê Đức Thọ báo cáo về diễn biến của Hội nghị Pa-ri, đồng thời chuyển một số bức họa của các bạn người Pháp gửi tặng Bác. Có lần Bộ Chính trị đang họp thì máy bay địch đến bắn phá Hà Nội, Bác và đồng chí Văn Tiến Dũng gọi điện thoại động viên các đơn vị quân đội và dân quân tự vệ tại Hà Nội đã bắn rơi máy bay Mỹ…

Các đồng chí lãnh đạo bên quân đội thường được Bác gọi tới báo cáo với Bác về tình hình chiến sự. Đồng chí Phùng Thế Tài báo cáo về tình hình chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ tại miền Bắc và chiến công của quân dân miền Bắc bắn rơi máy bay và bắn chìm tàu chiến của đế quốc Mỹ. Đồng chí Lê Ngọc Hiền – Cục trưởng Cục Tác chiến thường xuyên báo cáo Bác về tình hình chiến sự tại miền Nam. Trong phòng treo 2 bản đồ: Bản đồ theo dõi bố trí binh lực địch ở miền Nam, bản đồ theo dõi các bước leo thang bắn phá miền Bắc của Đế quốc Mỹ để cho Bác tiện theo dõi diễn biến chiến sự.

Năm 1969, sức khỏe Bác giảm sút nhiều nhưng Bác vẫn tiếp khách và làm việc bình thường. Ngày 19/5.1969 – đúng sinh nhật, Người tiếp đồng chí Nguyễn Hữu Mai – Bộ trưởng Bộ Điện – Than đến báo cáo công việc của ngành. Đối với ngành công nghiệp quan trọng này bác thể hiện sự quan tâm đặc biệt.

Chiều 24/8/1969, Bác cùng đồng chí Tố Hữu nghe Đài Tiếng nói Việt Nam phát bài “Diễn ca Điều lệ Hợp tác xã nông nghiệp”, nghe xong Người căn dặn đồng chí Tố Hữu nên phổ biến cách tuyên truyền bằng hình thức diễn ca này để bà con nông dân dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm.

Bác quan tâm chỉ đạo xuất bản sách người tốt việc tốt viết về nông dân với chủ đề “Hậu phương thi đua với tiền phương”. Không chỉ đối với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân mà đối với các ngành, các giới, các địa phương, Người đều dành sự quan tâm sâu sát. Bác thường gửi thư khen, tặng huy hiệu đến những người có thành tích trong lao động, trong chiến đấu và là tấm gương tốt trong tu dưỡng đạo đức… do đài báo phát hiện, do các ngành, đoàn thể đề nghị.

Nhân dịp kỷ niệm Đảng ta 39 tuổi (3/2./1969), tại ngôi nhà này, Bác đã viết bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Đây là bài báo cuối cùng Người viết đăng trên Báo Nhân Dân. Bài báo được Bác trao đổi ý kiến nhiều lần với đồng chí Tố Hữu, Bác yêu cầu đồng chí Cù Văn Chước ngồi bên để ghi lại những ý kiến của Bác về nội dung bài báo này. Bài báo đã trở thành tài liệu quan trọng trong hệ thống các bài viết của Người về công tác xây dựng Đảng.

Từ bài giảng cho lớp cán bộ đảng viên ở Quảng Châu “Tư cách người cách mạng” đến khi người viết Di chúc trước lúc đi xa và dặn lại “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”. Ngày 17.8.1969, theo lịch, các bác sĩ kiểm tra sức khỏe phát hiện thấy tim Bác không bình thường, đã đề nghị Người không lên thang gác nhà sàn nữa. Bác đồng ý chuyển ở hẳn tại nhà 67.

Tuy sức khỏe kém đi nhiều nhưng Bác vẫn nghe đồng chí Cù Văn Chước – người giúp việc cho Bác đọc báo chí để nắm bắt tình hình và vẫn xử lý công việc hằng ngày của một vị Chủ tịch nước. Ngày 24/8/1969, sức khỏe của Người đã diễn biến phức tạp, tối hôm đó, một cơn đau tim đột ngột làm cho Bác mệt hơn. Từ ngày 25/8/1969, nhà 67 trở thành nơi chăm sóc, chữa bệnh cho Người.

Năm ấy lũ tràn về, nước trên sông Hồng lên to. Tại giường bệnh Bác vẫn quan tâm nhắc Bộ Chính trị phải tìm mọi cách phân lũ không để nước tràn về Hà Nội, để đồng bào không bị lâm vào cảnh lụt lội. Khi đồng chí Phạm Văn Đồng đến bên giường Bác báo cáo về kết quả phân lũ, Người nở nụ cười, khuôn mặt rạng ngời mãn nguyện. Người dặn đồng chí Phạm Văn Đồng: “Các chú nhớ bắn pháo hoa để đồng bào vui, Bác sẽ cố gắng gặp đồng bào mươi phút…”.

Người đã không dự lễ Quốc khánh cùng đồng bào như ước nguyện được. Người đã ra đi nhẹ bước tiên vào hồi 9h47 phút ngày 2/9/1969, vào chính ngày Người đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cách đó 24 năm về trước.

Theo Đỗ Văn Phú
(Theo tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh)
Laodong.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền văn hóa Việt Nam những ngày đầu cách mạng

Văn hóa luôn là vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm. Kế tục sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới và quá độ tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước và Chính phủ phát động toàn dân xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Nhân dịp đầu xuân 2011, chúng tôi xin giới thiệu bài tường thuật buổi làm việc của Hồ Chủ tịch về văn hóa với đại biểu đoàn văn hóa lâm thời Bắc Bộ đã được đăng trên Tạp chí Tri Tân số 205, tháng 9/1945, trang 4-5.

Tri Tân là tạp chí có khuynh hướng dân tộc, yêu nước chuyên về khảo cứu, số 1 ra ngày 3/6/1941, trụ sở 349 Phố Huế – Hà Nội, do cụ Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng làm chủ nhiệm. Đều đặn ra hằng tuần, Tri Tân đã thu hút được đông đảo các cây bút có uy tín thời đó như Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (sau là Chủ tịch Quốc hội đầu tiên), Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm, Chu Thiên Hoàng Minh Giám (nhà văn, tác giả Bóng nước Hồ Gươm), Biệt Lam Trần Huy Bá, Đặng Thai Mai (nguyên Viện trưởng Viện Văn học, Giải thưởng Hồ Chí Minh 1996), Vệ Thạch Đào Duy Anh (Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000), Kiều Thanh Quế… đến các cây bút trẻ mới xuất hiện nhưng sớm gây được tiếng vang như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi…

5h chiều 7/9/1945, ban quản trị lâm thời đoàn văn hóa Bắc Bộ đang họp tại nhà văn hóa (hội Khai trí Tiến đức cũ) thì có tin điện thoại của Bộ Ngoại giao cho biết rằng Cụ Hồ Chí Minh – Chủ tịch Chính phủ lâm thời muốn hội đàm với đại biểu đoàn văn hóa khoảng 19h.

Ba anh Trương Tửu, Thượng Sỹ, Nguyễn Đức Quỳnh do anh Nguyễn Hữu Đang hướng dẫn, lên Bắc Bộ phủ để yết kiến Cụ Hồ Chủ tịch.

Biết tiếng Cụ đã lâu, lần đầu được gặp Cụ trong bộ y phục quá giản dị, chúng tôi không giấu nổi sự cảm động. Nét mặt gân guốc, đôi mắt quắc thước, điệu bộ hồn nhiên bộc lộ một tinh thần tranh đấu cương quyết và một tâm hồn nhân đạo, chân thành.

Hồ Chủ tịch với Luật sư Vũ Trọng Khánh – Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Giáo sư Đặng Thai Mai, ông Nguyễn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại thoái vị), ông Vũ Đình Huỳnh (người đeo kính đen đứng sau ông Vĩnh Thụy) – Bí thư của Hồ Chủ tịch, ông Ngô Quang Châu, ông Trần Huy Liệu – Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, ông Lưu Văn Lợi, ông Nguyễn Đình Thi (từ trái sang phải).

Sau mấy lời giới thiệu của anh Nguyễn Hữu Đang, anh Trương Tửu nhân danh Chủ tịch Ủy ban Văn hóa lâm thời Bắc Bộ Việt Nam, chào mừng Cụ Hồ, tán thành cuộc cách mạng dân chủ vừa đắc thắng và đặt lòng tín nhiệm vào tài năng sáng suốt của Cụ trong công việc lãnh đạo dân tộc đường giải phóng.

Lời nói thủng thẳng và rành rọt, Cụ Hồ cảm ơn anh em trong giới văn hóa:

– Theo ý riêng của tôi, lời Cụ Hồ nói, trong sự giải phóng dân tộc và kiến thiết một nước Việt Nam mới, nhiệm vụ của các ngài trong giới văn hóa cũng rất là nặng nề quan trọng. Dân tộc chúng ta đã bước sang một giai đoạn mới tất nhiên phải có một chính thể mới và một văn hóa mới. Khi chúng ta còn bị nô lệ thì văn hóa của chúng ta cũng mang nặng những dấu tích nô lệ. Bây giờ độc lập, văn hóa cũng phải có những dấu tích độc lập. Phải độc lập trước đã rồi văn hóa mới phát triển được. Dân tộc còn bị áp chế, hàng triệu đồng bào chúng ta vẫn còn chết đói đầy đường thì các ngài có thể ngồi trong tháp ngà mà sáng tác được không? Tôi mong rằng các ngài trong giới văn hóa nhận thấy rõ nhiệm vụ của các ngài trong lúc này là: Củng cố nền độc lập của Việt Nam, sửa soạn cho đất nước một văn hóa mới và phải làm thế nào cho văn hóa Việt Nam sẽ chiếm được một địa vị trong nền văn hóa thế giới.

– Thưa Cụ, lời anh Trương Tửu đáp lại, toàn thể anh em trong giới văn hóa chúng tôi, bao lâu nay, vẫn sống trong sự áp bức ngột ngạt của chính sách thực dân. Tuy vậy dù cường quyền áp bức đến bực nào, anh em chúng tôi cũng vẫn cố gắng vươn đến một ánh sáng, vươn đến độc lập và tự do. Ngày nay sự giải phóng của dân tộc đã thực hiện một phần rất lớn. Các ánh sáng tự do cần thiết cho sự phát triển của văn hóa mà chúng tôi hằng khao khát đã nhờ sự giải phóng ấy mà bắt đầu tưng bừng, cho nên đối với chúng tôi, tranh đấu cho nền độc lập của nước nhà trong lúc này cũng tức là tranh đấu cho sự giải phóng của nền văn hóa Việt Nam.

Cụ Hồ Chủ tịch gật đầu tỏ ý bằng lòng:

– Bổn phận của các ngài là lãnh đạo tư tưởng của quốc dân, tranh đấu cho nền độc lập và kiến thiết một nền văn hóa mới. Cái văn hóa mới này cần phải có tính cách khoa học, tính cách đại chúng thì mới thuận với trào lưu tiến hóa của tư tưởng hiện đại.

Cụ nói tới đây thì anh Nguyễn Đức Quỳnh xin phép Cụ trình bày một vài ý kiến:

– Thưa Cụ, lời anh Quỳnh nói, Cụ đã nói đến tính cách khoa học của văn hóa mới, chúng tôi xin đề cập đến sự hợp tác của các nhà kỹ thuật, chuyên môn trong công việc kiến thiết quốc gia. Theo chỗ chúng tôi nhận xét, ít lâu nay thì các nhà kỹ thuật chuyên môn trong công việc kiến thiết quốc gia hình như vẫn còn chút ít ngần ngại khi muốn hợp tác với Chính phủ để thi thố tài năng của mình. Họ là những người sống bằng kỹ nghệ và chỉ muốn làm việc cho kỹ thuật. Họ muốn được quyền đứng ngoài những xu hướng chính trị của đảng phái để phụng sự Tổ quốc.

Mắt Cụ Hồ sáng hẳn lên. Cụ với tay cầm quản bút ghi trên một tờ giấy để trước mặt Cụ (chúng tôi thấy Cụ ghi bằng chữ Hán), Cụ đặt quản bút xuống chậm rãi nói:

– Tôi nhờ ngài thanh minh với tất cả những anh em trong giới kỹ thuật chuyên môn rằng: Nước Việt Nam không phải của Việt Minh. Nước Việt Nam là của quốc dân Việt Nam. Chính phủ lâm thời hiện thời này không phải là Việt Minh là của toàn thể quốc dân.

Cụ dừng lại giơ tay phải lên như muốn xua đuổi một điều ngộ nhận của nhiều người đối với Chính phủ, và nói tiếp:

– Đấy ngài xem… Trong Chính phủ lâm thời có cả vua, quan lại cũng có, địa chủ cũng có, nông dân cũng có, công nhân cũng có. Đây là một Chính phủ Liên hiệp quốc gia, không có màu sắc quốc gia nào lấn át cả. Lúc này bất cứ người nào miễn là có tài và đừng phản cách mạng thì có thể phụng sự được quốc gia, toàn quốc. Trong lúc chung quanh mình bao nhiêu người đói khát, mình có thừa thóc gạo, phải đem mà giúp ích cho đồng bào. Nếu có thể mà lúc này không đem tài năng ra phụng sự quốc dân thì không những quốc dân có quyền chê trách mà ngay đến chính anh có tài đó cũng phải chê trách. Chừng như có một ý kiến gì mạnh mẽ mới nảy ra trong óc Cụ, mắt Cụ bỗng trở nên hân hoan và nghiêm trọng. Đôi mắt Cụ như lắng sâu vào trào lưu tiến hóa của lịch sử. Và Cụ hỏi:

– Thật chưa bao giờ dân nước chúng ta có một sự đoàn kết rộng đến thế. Bổn phận chúng ta ngày nay – bổn phận của các ngài là làm sao cho sự đoàn kết rộng ra, càng ngày càng sâu xuống, phải củng cố sự đoàn kết ấy cho nó bắt rễ xuống, cho nó bền chặt mãi.

Cụ dừng lại, cảm động, gian phòng im lặng.

Sợ mất thêm nhiều thì giờ của Cụ, anh Trương Tửu liền tường trình đại cương công việc của đoàn văn hóa Bắc Bộ Việt Nam đang tiến hành:

1. Tổ chức cuộc trưng bày văn hóa.

2. Dự thảo một chương trình của tuần lễ văn hóa.

3. Vận động đại hội nghị toàn quốc văn hóa.

Nghe nói tiếng “toàn quốc”, Cụ Hồ gật đầu:

Đại hội nghị toàn quốc văn hóa… phải, phải làm thế mới được. Từ trước đến giờ, chính sách thực dân Pháp đã chia rẽ chúng ta nhiều lắm rồi. Tôi mong rằng các ngài cố gắng làm được như thế, tổ chức mau chóng cuộc đại hội nghị văn hóa toàn quốc, gây được mối liên lạc mật thiết của quốc dân và văn hóa. Chính phủ sẽ giúp đỡ các ngài những phương tiện để thực hành công việc đó.

Công việc đã kéo dài hơn một tiếng đồng hồ. Ông Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ mở cửa phòng bước vào, rút đồng hồ ở túi ra ghé tai Cụ Hồ báo cáo việc gì đó… Chúng tôi đoán rằng Cụ sắp phải tiếp đoàn đại biểu của giới khác, vội đứng dậy. Anh Trương Tửu thay mặt anh em trong đoàn văn hóa cảm ơn Cụ một lần nữa. Cụ cũng đứng dậy, nhờ chúng tôi chuyển lời chào của Cụ đến tất cả anh em trong đoàn văn hóa, và ngỏ ý mong anh em đoàn kết chặt chẽ với quốc dân để cùng tranh đấu cho sự giải phóng dân tộc.

Sau khi bắt tay Cụ Hồ Chủ tịch, chúng tôi lui về, trong lòng chan chứa cảm tình thành thực và tín nhiệm đối với Cụ Chủ tịch Chính phủ lâm thời.

Đến ngày 24/11/1946, Đại hội nghị văn hóa toàn quốc được tổ chức tại Hà Nội với sự góp mặt của các đại biểu từ Bắc chí Nam. Đại hội dự kiến họp trong 7 ngày nhưng vì thực dân Pháp ngày càng lộ bộ mặt gây hấn, ngày kháng chiến toàn quốc đã gần kíp, Đại hội chỉ họp trong 1 ngày. Báo Cứu quốc thời đó đưa tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự và phát biểu ý kiến trong vòng 40 phút. Nhưng hiện nay, theo nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm thấy bài phát biểu đó của Người

Kiều Mai Sơn

cand.com.vn

Sáng mãi tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh

Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân chứa đựng giá trị đạo đức, nhân văn cao quý và sức mạnh tinh thần to lớn, chỉ đường cho lực lượng Công an nhân dân suốt hơn sáu thập kỷ qua. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, Công an nhân dân phải gắn bó với nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng nhân dân, khắc phục những khuyết điểm, hiện tượng tiêu cực làm tổn hại đến mối quan hệ giữa Công an và nhân dân.

Những ngày tháng năm này, chúng ta lại nghe vang lên lời tôn vinh của Đảng ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cách đây đúng 40 năm:

“Từ buổi thiếu niên đến phút cuối cùng, Hồ Chủ tịch đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao đẹp và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ… Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.

Cách đây 20 năm, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc ra quyết định “về việc tổ chức kỷ niệm những vĩ nhân và những sự kiện đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại; ghi nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là một nhà văn hóa lớn”.

Bác Hồ về thăm quê nội làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, Nghệ An, tháng 6/1957. Ảnh: Tư liệu.

Toàn Đảng, toàn dân ta, các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mãi mãi về sau vô cùng hạnh phúc, tự hào được có một vị lãnh tụ tối cao là Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu tượng rực rỡ nhất của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng, đạo đức và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọng lại sâu lắng trong Di chúc của Người:

“Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần vào sự nghiệp cách mạng của thế giới”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khai sinh, giáo dục, rèn luyện và xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Từ rất sớm, Người đề ra sáu điều về tư cách, đạo đức phải có ở người Công an nhân dân:

Đối với tự mình, phải cần kiệm liêm chính
Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành
Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép
Đối với công việc, phải tận tụy
Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo

Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân chứa đựng giá trị đạo đức, nhân văn cao quý và sức mạnh tinh thần to lớn, chỉ đường cho lực lượng Công an nhân dân suốt hơn sáu thập kỷ qua. Ngày nay, phong trào “Công an nhân dân học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy” hòa quyện với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ” đã trở thành một sinh hoạt chính trị sâu rộng trong lực lượng Công an nhân dân đang tiến theo con đường cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Trong bất cứ tình huống nào, lực lượng Công an nhân dân, cả chính quy và không chính quy, luôn công tác, chiến đấu dũng cảm và mưu trí, nhiều khi hy sinh cả tính mạng của mình, để bảo vệ Tổ quốc, nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhiệm vụ đó ngày càng phức tạp và khó khăn, gian khổ và quyết liệt, nhưng lực lượng Công an nhân dân, được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, Công an nhân dân phải gắn bó với nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng nhân dân, khắc phục những khuyết điểm, hiện tượng tiêu cực làm tổn hại đến mối quan hệ giữa Công an và nhân dân.

Hiện nay, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang gây ra những thiệt hại nặng nề đến kinh tế – xã hội của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Ở nhiều nơi trên thế giới, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, khủng bố, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên thiên nhiên đang diễn ra với tính chất ngày càng nguy hiểm.

Bác Hồ nói chuyện về tình hình cách mạng trong nước và thế giới với cán bộ, chiến sỹ bảo vệ và phục vụ những ngày ở Chiến khu Việt Bắc.

Ở nước ta, đại đa số cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta, đứng trước những khó khăn về kinh tế – xã hội, vẫn vững vàng, tin tưởng ở Đảng, Nhà nước, ở công cuộc đổi mới và triển vọng phát triển tốt đẹp của đất nước. Nhưng tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, kể cả tội phạm xuyên quốc gia, sử dụng công nghệ cao đang có chiều hướng gia tăng. Đặc biệt, các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và xã hội ta hòng chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ ta, từng bước lái đất nước ta đi chệch con đường xã hội chủ nghĩa.

Tình hình đó đòi hỏi Công an nhân dân hơn lúc nào hết càng phải học tập, làm theo sáu điều Bác Hồ dạy và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đem hết trí tuệ, sức lực ra để công tác, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu thắng lợi. Lý tưởng, mục tiêu cao đẹp của lực lượng Công an nhân dân là góp phần tích cực nhất bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân, Đảng và Nhà nước, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đấy là tấm lòng và là việc làm thiết thực nhất của lực lượng Công an nhân dân kỷ niệm lần thứ 119 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng Người.

Sáng mãi trong nhân dân và lực lượng Công an nhân dân Tư tưởng và Đạo đức Hồ Chí Minh!

Hồng Hà (Nguyên Bí thư Trung ương Đảng)

cand.com.vn

Bác Hồ trên tem thế giới

Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Danh nhân Văn hóa thế giới – Anh hùng giải phóng dân tộc – Vị lãnh tụ kính yêu của Việt Nam đã xuất hiện rất nhiều trên tem bưu chính Việt Nam và đã trở thành một chuyên đề sưu tập đặc sắc đối với người chơi tem trong và ngoài nước. Đặc biệt, với lòng tôn kính và ngưỡng mộ sâu sắc, một số nước trên thế giới cũng phát hành tem bưu chính mang hình ảnh Người, xin được giới thiệu cùng các bạn.

Ngày 19/5/1970, Cuba phát hành 1 bộ gồm 7 tem “Kỷ niệm 80 năm ngày sinh Hồ Chí Minh” do họa sĩ Felix René Mederos Pazos (1933-1996) thiết kế. Ông đã 2 lần sang Việt Nam thực tế trong 2 năm 1969, 1972 để vẽ một số tranh về chiến tranh Việt Nam. Bộ tem thể hiện cảnh sinh hoạt và chiến đấu của quân dân 2 miền rất sinh động như : công binh xưởng, gặt lúa, lớp học dưới địa đạo… Trong đó có một mẫu tem với giá mặt cao nhất 13 centavo (xu) mang hình chân dung Hồ Chủ Tịch trên nền cờ đỏ sao vàng. Phong bì ngày đầu tiên có chân dung Người, bản đồ Việt Nam bị chia cắt tượng trưng bởi 2 màu xanh đỏ và hình ảnh người nông dân Việt Nam. Đây là bộ tem đầu tiên của thế giới về Hồ Chủ Tịch.

Ngày 19/5/1972, Cuba tiếp tục phát hành một bộ gồm 3 tem “Hội nghị lần thứ ba về phản đối chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương” trong đó có một mẫu tem giá mặt 3 centavo mang hình ảnh Jose Marti và Hồ Chí Minh – 2 vị cha già dân tộc, 2 lãnh tụ cách mạng vĩ đại trên nền hình ảnh cách điệu của quốc kỳ Cuba và Việt Nam. Ngày 19/5 vừa là ngày sinh của Hồ Chủ Tịch, vừa là ngày mất của Jose Marti.

Ngày 02/9/1970, kỷ niệm 1 năm ngày mất của Hồ Chủ Tịch và 25 năm quốc khánh nước Việt Nam DCCH, Bưu điện CHDC Đức phát hành 1 tem nằm trong series 7 tem có phụ thu mang tiêu đề “Việt Nam bất khả chiến bại”. Đây là series những con tem có phụ thu để gây quỹ ủng hộ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Con tem này mang hình chân dung Hồ Chủ tịch với dòng chữ tiếng Đức màu đen “Tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh” và màu đỏ “Việt Nam bất khả chiến bại”, giá mặt 20 + 5 pf (xu).

Để chào mừng Hiệp định Paris về Việt Nam vừa được ký kết, ngày 17/02/1973, Cộng hòa Algeria Dân chủ và Nhân dân (vùng Bắc Phi) phát hành một con tem giá mặt 0.40 dinar. Con tem mang hình ảnh bản đồ Việt Nam thống nhất màu nâu đỏ nổi bật trên bán đảo Đông Dương màu vàng nằm bên Biển Đông xanh thẳm với chân dung Hồ Chủ Tịch đặt trang trọng trong khung hình oval. Con tem mang dòng chữ tiếng Pháp “Tôn vinh nhân dân Việt Nam” và ngày ký hiệp định Paris về Việt Nam “27.1.1973”.


Kỷ niệm 90 năm ngày sinh Hồ Chủ Tịch, ngày 12/7/1980, Liên Xô phát hành một tem giá mặt 6 kopeck. Trên tem, chân dung Hồ Chủ Tịch được vẽ rất đẹp bằng màu xanh lam nổi bật trên nền lá cờ đỏ sao vàng bên cạnh cột cờ Hà Nội.

Kỷ niệm 1 năm ngày mất của Chủ tịch Kim Nhật Thành, ngày 08/7/1995, CHDCND Triều Tiên phát hành 1 bộ gồm 1 block và 3 tờ tem nhỏ (sheetlet) “Lãnh tụ vĩ đại Kim Nhật Thành sống mãi với chúng ta”. Bộ tem được thiết kế dựa theo ảnh tư liệu thể hiện hình ảnh Kim Chủ tịch với các nhà lãnh đạo thế giới. Trong đó có một tờ tem nhỏ gồm 2 tem giá mặt 30 jon (xu) mang 2 hình ảnh : Kim Chủ tịch đàm đạo với Hồ Chủ Tịch tháng 11/1958 và Kim Chủ tịch bắt tay đón tiếp người anh hùng huyền thoại Che Guevara tháng 12/1960.


Kỷ niệm 25 năm Hiệp ước hợp tác hữu nghị Lào-Việt, ngày 18/7/2002, CHDCND Lào phát hành 1 bộ gồm 2 tem “Hợp tác Lào-Việt” trong đó có 1 tem giá mặt 3.500 kip mang hình ảnh Hồ Chủ Tịch đang đàm đạo với Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản – Chủ tịch Đảng NDCM Lào, Chủ tịch nước CHDCND Lào. Hình ảnh 2 vị lãnh tụ trên tem được vẽ giản dị bằng 2 màu đen trắng.


Năm 2000, Dominica Liên hiệp (Commonwealth of Dominica) – một quốc gia nhỏ ở vùng Caribbe phát hành một tờ tem gồm 17 tem giá mặt 55 cent “Thế kỷ 20, 1960-1969” nằm trong series tem “Thiên niên kỷ 1000-2000”. Tờ tem này được in rất đẹp với hình ảnh nhiều sự kiện lớn trong thập niên 60 của thế kỷ 20, trong đó có có 1 tem mang sự kiện Hồ Chủ Tịch từ trần năm 1969. Trên tem là hình chụp lại một khung ảnh chân dung Hồ Chủ Tịch có chữ ký của Người, đặt trên nền cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam với dòng chữ “Hồ Chí Minh, Lãnh tụ Bắc Việt Nam, từ trần”.

Ngày 15/3/1999, Cộng hòa quần đảo Marshall phát hành tờ tem “Thập kỷ của hiểm họa và phát triển 1950-1959” (Dedicate of Peril and Progress) gồm 15 tem giá mặt 60 cent nằm trong series tem “Thế kỷ 20”. Tờ tem này thể hiện nhiều sự kiện quan trọng trong thập niên 50 của thế kỷ 20. Con tem thứ 9 trong tờ tem này mang tên “Hoàng hôn trên đế chế thực dân” (Sun Sets on Colonial Empires) với chân dung Hồ Chủ Tịch bên cạnh bản đồ Việt Nam màu đỏ rực bị chia cắt ở vĩ tuyến 17 và hình ảnh những chiến sĩ Điện Biên phất cao lá cờ đỏ “Quyết chiến, quyết thắng” trên nóc hầm tướng Pháp De Castries. Hình vẽ và màu sắc của tờ tem này rất đẹp.

Năm 2001, Rwanda phát hành bộ tem “Thiên niên kỷ” gồm nhiều tờ tem nhỏ, mỗi tờ có 4 tem với giá mặt 300 Rwanda Franc để tôn vinh các vĩ nhân trên mọi lĩnh vực của thế giới trong Thiên niên kỷ vừa qua. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiện diện trên tờ tem thập kỷ 40 với hình với chân dung trông thật phúc hậu. Trên lề tờ tem này là hình ảnh người thanh niên Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tua (Pháp) tháng 12 năm 1920 và hình ảnh Hồ Chủ Tịch cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm bộ đội diễn tập năm 1957.

Đặc biệt, trong năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã được UNESCO tôn vinh là Danh nhân Văn hoá Thế giới và Anh hùng giải phóng dân tộc, một số quốc gia đã trân trọng phát hành tem về Người. Đó là :

Liên Xô : ngày 03/2/1990 phát hành 1 tem giá mặt 10 kopeck. Chân dung Hồ Chủ Tịch trên tem đẹp, nghiêm nghị. Trên tem có dòng chữ “Hồ Chí Minh 1890-1969” bằng tiếng Nga.

Cuba : ngày 19/5/1990 phát hành 1 tem giá mặt 50 centavo. Chân dung Hồ Chủ Tịch trong bộ quân phục màu xanh lá trên tem dựa theo ảnh chụp “Bác Hồ sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954”. Nền tem là hình ảnh cách điệu của quốc kỳ Việt Nam và Cuba liền một dải hình chữ Z. Trên tem có dòng chữ “Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hồ Chí Minh” bằng tiếng Tây Ban Nha. Phong bì ngày đầu tiên của con tem này có in hình chân dung Hồ Chủ Tịch trên một lá cờ đỏ được dập nổi (embossed) và in khắc chìm (engraving) rất đẹp.

CHDCND Lào : ngày 11/5/1990 phát hành 1 bộ gồm 3 tem mang những hình ảnh sau : Hồ Chủ Tịch nói chuyện với đồng bào (40 kip), Hồ Chủ Tịch bắt tay Hoàng thân Xuphanuvong (1909-1995) – Chủ tịch nước CHDCND Lào (60 kip), Hồ Chủ Tịch giơ tay vẫy chào (160 kip). Trên tem có dòng chữ “Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hồ Chí Minh” bằng tiếng Pháp và Lào. Phong bì ngày đầu tiên của bộ tem này có hình Hồ Chủ Tịch đeo kính gần giống với phong bì ngày đầu tiên của Việt Nam nhưng dấu hủy đặc biệt là hình chân dung của Người.

CH Ấn Độ : phát hành một tem ngày 17/5/1990 giá mặt 2 rupee mang hình chân dung Hồ Chủ Tịch và ngôi nhà sàn giản dị của Người ở vườn Phủ Chủ tịch. Họa sĩ đã dùng 2 màu nâu và xanh mạ làm nổi bật chân dung Hồ Chủ Tịch. Trên tem có dòng chữ “Hồ Chí Minh” bằng chữ Ấn Độ và chữ Latin. Phong bì ngày đầu tiên của tem này được minh hoạ bằng bức ảnh “Hồ Chủ Tịch sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954” và bức ảnh nổi tiếng của cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Lâm Hồng Long “Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn” chụp ngày 03/9/1960.

Cộng hòa Madagascar (tên cũ là Cộng hòa dân chủ Madagascar) : phát hành một tem ngày 19/10/1990 giá mặt 350 Franc Malagasy thể hiện chân dung Hồ Chủ Tịch rất phúc hậu như một tiên ông với khuôn mặt đầy đặn, hồng hào; râu tóc trắng như cước; nụ cười hiều hậu luôn nở trên môi. Trên tem có dòng chữ tiếng Pháp “Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam”.

vn.360plus

Bác Hồ với Tết Mậu Thân 1968

Giữa năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta xuất hiện tình thế mới, có lợi cho ta. Tháng 12-1967, Bác Hồ chủ tọa cuộc họp Bộ Chính trị, phân tích tình hình, quyết định mở đợt tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 để giành thắng lợi quyết định. Sau đó, tháng 1-1968, hội nghị Trung ương lần thứ 14 (khóa III) thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967, khẳng định quyết tâm, mục tiêu và hướng chiến công chiến lược.

Từ sau cuộc họp Bộ Chính trị, Bác chỉ thị cho các cán bộ chỉ huy các chiến trường:

Kế hoạch phải thật tỉ mỉ
Hợp đồng phải thật ăn khớp
Bí mật phải thật tuyệt đối
Hành động phải thật kiên quyết
Cán bộ phải thật gương mẫu”.

Đồng chí Vũ Kỳ – thư ký riêng của Bác – kể lại rằng, Bác đã chuẩn bị thư chúc Tết Mậu Thân 1968 từ độ ba tháng trước. Sáng chủ nhật 31-12-1967, Bác ra Phủ Chủ tịch để đọc ghi âm thư chúc Tết. Chị Trần Thị Tuyết ngâm bài thơ chúc Tết, vừa để Bác nghe, vừa để ghi âm phát lúc giao thừa. Sáng ngày 1-1-1968, Bác gửi Thư chúc mừng năm mới tới toàn thể cán bộ và đảng viên cả nước. Trong thư, Bác “gửi lời chúc mừng đến các nước XHCN anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta”; “chúc kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới cố gắng mới, tiến bộ mới!”. Đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước, Bác chúc:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”

Chiều ngày 1-1-1968, Bộ Chính trị đến, Bác căn dặn thêm công việc. Bốn giờ chiều, Người lên máy bay trở lại Bắc Kinh để chữa bệnh theo quyết định của Bộ Chính trị và Hội đồng bác sĩ. Ở Bắc Kinh, Bác nghỉ ở Ngọc Tuyền Sơn, khu tịnh dưỡng của lãnh đạo nước bạn. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta thường xuyên đến Bắc Kinh để báo cáo và xin ý kiến Bác. Ngày 20-1-1968, đồng chí Lê Đức Thọ đến. Ngày 25-1-1968, trên đường từ Hungari về, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ghé qua Bắc Kinh xin chỉ thị cuối cùng của Bác về chiến dịch Mậu Thân.

Cũng theo đồng chí Vũ Kỳ, chiều 29 Tết, Bác Hồ nhận điện của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng chúc Tết Bác. Tối đêm giao thừa nơi Bắc Kinh xa xôi, hai Bác cháu ngồi im lặng trong phòng, vặn Đài Tiếng nói Việt Nam nghe tin tức, ca nhạc và ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Từ khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (1941) đến lúc đó 26 năm, đây là lần đầu tiên Bác đón giao thừa ở nước ngoài. Thời gian trôi đi chầm chậm. Rồi, bên ngoài, tiếng pháo nổ ran, tiễn Đinh Mùi và đón Mậu Thân. Từ chiếc đài bán dẫn, tiếng nói của Bác Hồ vang lên:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”

Lời thơ chúc Tết của Bác đồng thời cũng là hiệu lệnh mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy được truyền đi khắp mọi miền đất nước. Khi đài phát xong câu cuối “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta”, Bác nói khẽ: “Giờ này, miền Nam đang nổ súng!”.

Trưa Mồng Một Tết, Bác Hồ rất vui khi nhận được tin chiến thắng từ Hà Nội báo sang: “Đánh khắp miền Nam!”. Mồng 6 Tết, nhằm ngày 3-2-1968, kỷ niệm 38 năm Ngày thành lập Đảng. Mới 6 giờ sáng, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ chuẩn bị giấy bút. Bác ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ra ngoài trời đầy tuyết trắng, đọc cho đồng chí Vũ Kỳ ghi bài thơ “khai bút” đầu năm:

Đã lâu chưa làm bài thơ nào
Nay lại thử làm xem ra sao
Lục khắp giấy tờ vần chẳng thấy
Bỗng nghe vần “THẮNG” vút lên cao!”

“Vần THẮNG” của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom và đánh phá miền Bắc, thừa nhận chính thức Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán Paris để giải quyết chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

PHẠM MINH KHẢI

baohaugiang.com.vn

Bác Hồ trong lòng nhân dân thế giới

Bảo tàng Hồ Chí Minh được xây dựng theo nguyện vọng của nhân dân Việt Nam nhằm tỏ lòng biết ơn và đời đời ghi nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng với Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Khu di tích Phủ Chủ tịch, đây là nơi hội tụ tình cảm thiêng liêng của toàn dân ta và bạn bè quốc tế với Người. Trong những ngày tháng 5 lịch sử này, nhân kỷ niệm lần thứ 115 Ngày sinh của Bác (19/5/1890 – 19/5/2005), Hànộimới xin trích đăng những tình cảm chân thành và xúc động mà bạn bè khắp năm châu khi đến thăm, nghiên cứu và hiểu thêm về cuộc đời của Bác Hồ đã lưu lại tại bảo tàng.

Suthichai Youn- Tổng biên tập Tập đoàn Xuất bản quốc gia, Băng Cốc – Thái Lan

“Chúng tôi có ấn tượng sâu sắc về chuyến tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh. Chúng tôi đã có được sự hiểu biết rõ ràng và sâu sắc về lịch sử và cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Chúng tôi, lớp người của thế hệ sau chắc chắn có thể học được những bài học quý báu từ sự cống hiến, lòng quyết tâm và tình yêu của Người dành cho dân tộc, đất nước và những con người đang đấu tranh vì tự do và hòa bình trên thế giới”.

Tôn Hồng Tuyền (Trung Quốc)

“Bác Hồ, Người là tập trung của những phẩm chất cao đẹp, đấu tranh gian khổ, cần cù, tiết kiệm của người Việt Nam, là tập trung của ý chí kiên cường, đoàn kết một lòng; Người đã đoàn kết và lãnh đạo nhân dân Việt Nam, trải qua cuộc đấu tranh gian khổ, trường kỳ, cuối cùng đã chiến thắng kẻ thù xâm lược; Người đã có cống hiến to lớn cho nhân dân Việt Nam, nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới”…

Lô-xép (LB Nga)

“Lịch sử dân tộc không thể tách rời lịch sử của những người đại diện vĩ đại của dân tộc đó. Điều này càng được khẳng định khi tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh. Một dân tộc cần phải hiểu và trân trọng gìn giữ lịch sử của mình, tôn kính ký ức về những người đã cống hiến cả cuộc đời mình phụng sự Tổ quốc”.

An-đu Rơ-bê-lô – UVBCT BCHTƯ Đảng CS Bra-xin

“Nhân dân Bra-xin xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn nhân dân Việt Nam và người con vĩ đại của nhân dân Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang nêu gương cho nhân loại.

Chúng tôi tin tưởng rằng, trên cơ sở những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam sẽ giữ vững tinh thần cách mạng và quyết tâm trong xây dựng hòa bình, chủ nghĩa xã hội như đã từng giữ vững tinh thần cách mạng và quyết tâm trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong khi lãnh đạo nhân dân Việt Nam chiến thắng những kẻ áp bức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm thức dậy trong trái tim các dân tộc toàn thế giới những tình cảm kỳ vọng vào tự do và bác ái giữa các dân tộc. Sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong tâm trí chúng ta”.

Sahih Abdu Mashamoun – Cựu Đại sứ Xu-đăng tại Việt Nam

“Tôi rất vui mừng được đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh và đây là cơ hội hiếm hoi để tôi học hỏi nhiều hơn nữa về Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của một dân tộc vĩ đại, một người có học thức và tầm nhìn rộng lớn. Chính điều này đã giúp Người lãnh đạo thắng lợi cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc Việt Nam vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Thời gian tham quan bảo tàng là vô cùng bổ ích và đã làm tăng thêm hiểu biết của tôi về lịch sử văn hóa và tư tưởng trên khắp thế giới thông qua lịch sử và cuộc đời của một lãnh tụ vĩ đại”.

Graham Kierath -(Ô-xtrây-li-a)

“Thật là một dịp tuyệt vời được tham quan và tìm hiểu về cuộc đời và thời đại của Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Tôi thật sự cảm nhận được không khí lịch sử và lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Tôi vô cùng xúc động trước những cuộc đấu tranh và sự gian khổ mà nhân dân Việt Nam đã trải qua trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do”.

Lu-ít An-đa-ny-a (Pê-ru)

“Bảo tàng Hồ Chí Minh là một biểu tượng quan trọng thể hiện sự tưởng nhớ của nhân dân Việt Nam đối với người anh hùng dân tộc bất tử của mình, đồng thời cũng là một khu triển lãm về cuộc đời mẫu mực của Người.

Đây là một đóng góp quan trọng để bảo tồn lịch sử phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc trên thế giới và của phong trào cộng sản quốc tế, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những biểu tượng cao cả nhất”.

Một GS đại học Y khoa ở Giơ-ne-vơ, Thụy Sĩ

“Tôi thấy Hồ Chí Minh trước hết là một người yêu nước, một người giải phóng dân tộc Việt Nam, sau đó mới là một người cộng sản. Thấm nhuần tư tưởng của Lê-nin, Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời đấu tranh cho tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam bị áp bức và sự bình đẳng của giai cấp”.

HNM
ANHTHU

dantri.com.vn