Archive | Tháng Một 2012

Hình ảnh về Bác ở khắp nơi trên thế giới

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (05/06/1911 – 05/06/2011), chúng ta hãy tìm hiểu xem thế giới đã lưu danh Người như thế nào nhé!

Một con người lỗi lạc, một nhà cách mạng, một tri thức, một văn hào vĩ đại của Việt Nam và thế giới, Hồ Chí Minh là hình tượng sống mãi trong lòng người Việt và cộng đồng những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.

Nhiều nước trên thế giới đã dựng tượng, quảng trường, đặt tên đường phố, trường học để lưu niệm về Người – vị cha của cả dân tộc Việt Nam. Hiện nay, Hồ Chí Minh là một trong số ít những danh nhân kiệt xuất được kỷ niệm và lưu danh rộng khắp trên cả năm châu lục.

Lăng Hồ Chí Minh tại Ba Đình, Hà Nội

Chúng ta hãy thực hiện một hành trình vòng quanh trái đất và tìm hiểu về niềm tự hào to lớn này tại các nước nhé.

Người bạn, người đồng đội, đồng chí của dân tộc Việt Nam. Cuba là đất nước theo thể chế Xã hội chủ nghĩa và đã giúp đỡ rất lớn cho quá trình đấu tranh của dân tộc Việt Nam chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Như một điều tất yếu, được dựng tượng Hồ Chí Minh, được lưu niệm những gì liên quan về Người là niềm mong muốn, tự hào của đất nước Cuba anh em. Hiện nay, tại Cuba bạn bắt gặp rất nhiều công trình tưởng niệm Hồ Chí Minh.

+ Tượng chủ tịch Hồ Chí Minh ở thủ đô Lahabana

Tượng đài Hồ Chí Minh bằng đồng do kiến trúc sư Joel Diaz, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Cuba Việt Nam thiết kế khánh thành vào năm 2003. Được xây dựng nổi bật giữa Công viên Acapulco cạnh Đại lộ 26, một trong những công viên đẹp nhất ở trung tâm Thủ đô Lahabana (nhân dịp này được đổi thành Công viên Hòa Bình).

+ Trường cấp II Hồ Chí Minh ở tỉnh Jarugo (được thành lập năm 1974).

+ Trường cấp I Bác Hồ ở Lahabana (khánh thành năm 1976).

Đây chính là những địa điểm đại diện cho tình bằng hữu, tình cảm mà nhân dân hai nước muốn hướng về nhau. Đồng thời nó cũng thể hiện niềm kính trọng, biết ơn của nhân dân Cuba đối với Hồ Chí Minh.

Mêxicô

Hiện nay, tại đất nước Mêxicô cổ kính và huyền bí này, cái tên Hồ Chí Minh chắc hẳn rất quen thuộc.

+ Tượng Hồ Chí Minh tại thành phố Mêxicô

Ngày 16/01/2009, thị trưởng thành phố Mêxicô – Marcelo Ebrad và ông Phạm Văn Quê, đại sứ Việt Nam tại Mêxicô, đã chính thức vén khăn khánh thành công viên “Tự do cho các dân tộc” và tượng đài chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đây là bức tượng toàn thân chủ tịch bên bộ bàn ghế mây giản dị, đằng sau phía trên là dòng chữ vàng “không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Tây ban Nha với chữ ký của Bác rực rỡ.

+ Tượng Hồ Chí Minh tại thành phố Acapulco, thuộc bang Guerrereo (miền Nam Mêxicô).

Tượng đài chân dung Hồ Chí Minh được đặt đối diện tượng đài người anh hùng dân tộc vĩ đại của châu Mỹ Latin Simon Bolivar, tại đại lộ Miguel Aleman, đại lộ chính và lớn nhất thành phố Acapulco.

Mêxicô là một trong những quốc gia Mỹ latin đã xem Hồ Chí Minh như là một anh hùng của toàn nhân loại, một danh nhân kiệt xuất đã đấu tranh trọn đời cho sự nghiệp của các dân tộc bị áp bức.

Pháp

Có lẽ Pháp là đất nước ghi dấu nhiều ký ức nhất về hành trình bôn ba của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành. Như một phần của niềm hãnh diện ấy, nước Pháp đã gìn giữ những gì liên quan đến Hồ Chí Minh như một báu vật vô giá giữa thời đại chúng ta.

+ Di tích: Nhà số 9, ngõ Compoint, Quận 17 (Paris). Tại đây Hồ Chí Minh đã từng sinh sống và làm việc trong thời gian dài trên đất nước Pháp.

+ Bảo tàng lịch sử sống Montreuil. Đây là một khu bảo tàng về toàn bộ cuộc đời sự nghiệp Hồ Chí Minh, quá trình Người sinh sống và làm việc tại nước Pháp.

Bức tượng chân dung Hồ Chí Minh duy nhất trên nước Pháp được đặt trong khuôn viên của bảo tàng.

Liên Bang Nga

Nếu Việt Nam – Cuba là anh em, thì Liên Bang Nga (Liên Xô trước đây) chính là người anh cả của cả hai nước. Đất nước Xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Cũng từ đây Hồ Chí Minh đã tìm tới ánh sáng của chủ nghĩa, của lý luận cách mạng mà Lênin là hiện thân tiêu biểu nhất.

Hiện nay, tại Nga có rất nhiều công trình tưởng niệm Hồ Chí Minh, như là một vĩ nhân của thế giới nói chung và hệ thống xã hội chủ nghĩa nói riêng.

+ Quảng trường và Tượng đài Hồ Chí Minh ở thủ đô Matxcova.

Nằm ở nơi giao nhau giữa phố Dmitri Ulianov (mang tên em trai V. I. Lênin) và phố “Sáu mươi năm Cách mạng Tháng Mười”, quảng trường Hồ Chí Minh sáng bừng trong nắng tháng 5, khi mùa xuân Nga đang thời điểm rực rỡ nhất. Tại đây được dựng một bức tượng lớn tưởng niệm về Hồ Chí Minh.

Tượng đài Hồ Chí Minh đặt trong quảng trường là tác phẩm Vladimir Efimovich Tsigal, nghệ sĩ nhân dân, viện sĩ Viện hàn lâm Mỹ thuật Liên Xô, tác giả của hơn 40 nhóm tượng đài nổi tiếng.

+ Đại lộ Hồ Chí Minh, ở Ulianopxco.

+ Tháng 5-2010, một bức tượng Hồ Chí Minh được khánh thành trong khuôn viên khoa ngữ văn Trường đại học Tổng hợp Saint Petersburg. Trong dịp này, Viện Hồ Chí Minh được thành lập do tiến sĩ khoa học lịch sử Vladimir Kolotov, nhà Việt Nam học, chủ nhiệm bộ môn lịch sử các nước Viễn Đông thuộc Đại học Tổng hợp Saint Petersburg, làm Giám đốc.

Hungari

Tại Hungary, đài tưởng niệm Hồ Chí Minh (có từ năm 1976) được dựng tại công viên thành phố Zalaegerszey, cách thủ đô Budapest khoảng 220 km.

Ấn độ

+ Đường Hồ Chí Minh ở thành phố Cancutta.

+ Tượng đài Hồ Chí Minh, được đặt tại giao điểm đường Hồ Chí Minh và đường Nêru thành phố Cancutta.

+ Ngay tại thủ đô Niu Đêli cũng có một đại lộ lớn được đặt tên Hồ Chí Minh.

Madagascar

Tại đất nước châu Phi này, quảng trường và tượng đài Hồ Chí Minh đặt tại trung tâm thủ đô Antananarivo.

Angola

Cộng hòa Angola đã đặt tên Hồ Chí Minh cho một con phố lớn ngay tại trung tâm Thủ đô.

Ngoài những đất nước trên, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa của nhân loại thế kỷ XX – Hồ Chí Minh, được nhiều nước khác lưu danh, kỷ niệm. Trong đó có Trung Quốc, Thái Lan và một số nước châu Phi khác. Đặc biệt, rất nhiều quốc gia còn in hình chân dung Hồ Chí Minh lên tem bưu chính như một cách thể hiện thiện chí trân trọng nhất.

Chân dung Hồ Chí Minh trên tem các nước trên thế giới.

Hiện nay, rất nhiều nước tỏ ý muốn được đặt tượng và xây dựng công trình tưởng niệm Hồ Chí Minh tại chính quốc. Điều này đã một lần nữa thể hiện được tầm, trí, dũng, khí của người Việt Nam mà tiêu biểu là Hồ Chí Minh đã vươn xa, và sẽ còn xa mãi cả về không gian và thời gian.

NamBun

phapluatxahoi.com.vn

Thơ chúc Tết của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta, Người còn là một nhà thơ lớn. Trong suốt cuộc đời cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh làm rất nhiều thơ. Bên cạnh tập Nhật ký trong tù và nhiều bài thơ khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người còn để lại cho chúng ta những bài thơ chúc Tết với biết bao tình cảm ấm áp thương yêu.

Đã từ lâu, lặng đi trong thời khắc giao thừa để lắng nghe thơ chúc tết của Bác Hồ đã trở thành tục lệ của đồng bào ta. Từ các cụ già râu tóc bạc phơ đến bầy em nhỏ, tất cả đều cảm thấy lòng lắng dịu khi nghe giọng nói ấm áp, thiết tha của Người đọc thơ chúc tết. Và cả khi Người không còn nữa, Tết đến mọi nhà vẫn ước mong:

Bác ơi!
Tết đến. Giao thừa đó
Vẫn đón nghe thơ Bác mọi lần
Ríu rít đàn em vui pháo nổ
Tưởng nghìn tay Bác vỗ sang xuân …

(Tố Hữu)

Thơ chúc Tết của Bác Hồ gửi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài thường khen ngợi thành tích của một nǎm công tác và đề ra nhiệm vụ, phương hướng cho nǎm mới, động viên mọi người phấn khởi hǎng hái tiến lên hoàn thành nhiệm vụ mới.

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tập hợp 22 bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ nǎm 1942 – 1969 trong tập Hồ Chí Minh “Thơ chúc Tết” do Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh biên soạn.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN NHÂM NGỌ – 1942

Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi,
Nǎm cũ qua rồi, chúc nǎm mới:
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong !
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi !
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau !
Chúc Việt-minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong nǎm này
Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!
Nǎm này là nǎm Tết vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN BÍNH TUẤT – 1946

Hỡi các chiến sĩ yêu quí,
Bao giờ kháng chiến thành công,
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.
Tết này ta tạm xa nhau,
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy.

Chúc đồng bào:

Trong nǎm Bính Tuất mới,
Muôn việc đều tiến tới.
Kiến quốc mau thành công,
Kháng chiến mau thắng lợi.
Việt Nam độc lập muôn nǎm!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN ĐINH HỢI – 1947

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định thành công!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN MẬU TÝ – 1948

Nǎm Hợi đã đi qua,
Nǎm Tý vừa bước tới.
Gửi lời chúc đồng bào,
Kháng chiến được thắng lợi;
Toàn dân đại đoàn kết,
Cả nước dốc một lòng,
Thống nhất chắc chắn được,
Độc lập quyết thành công.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN KỶ SỬU – 1949

Kháng chiến lại thêm một nǎm mới,
Thi đua ái quốc thêm tiến tới.
Động viên lực lượng và tinh thần,
Kháng chiến càng thêm mau thắng lợi.

Người người thi đua.
Ngành ngành thi đua.
Ngày ngày thi đua.
Ta nhất định thắng.
Địch nhất định thua

THƠ CHÚC TẾT XUÂN CANH DẦN – 1950

Kính chúc đồng bào nǎm mới,
Mọi người càng thêm phấn khởi,
Toàn dân xung phong thi đua,
Đẩy mạnh cuộc chuẩn bị tới,
Chuyển mau sang tổng phản công,
Kháng chiến nhất định thắng lợi.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN TÂN MÃO – 1951

Xuân này kháng chiến đã nǎm xuân,
Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công.
Toàn hǎng hái một lòng
Thi đua chuẩn bị, tổng phản công kịp thời.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN NHÂM THÌN – 1952

Xuân này, xuân nǎm Thìn
Kháng chiến vừa sáu nǎm
Trường kỳ và gian khổ
Chắc thắng trǎm phần trǎm.

Chiến sĩ thi giết giặc
Đồng bào thi tǎng gia
Nǎm mới thi đua mới
Thắng lợi ắt về ta.

Mấy câu thành thật nôm na,
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN QUÝ TỴ – 1953

Mừng nǎm Thìn vừa qua,
Mừng xuân Tỵ đã tới.
Mừng phát động nông dân,
Mừng hậu phương phấn khởi.
Mừng tiền tuyến toàn quân
Thi đua chiến thắng mới.
Mừng toàn dân kết đoàn,
Mừng kháng chiến thắng lợi.
Mừng nǎm mới, nhiệm vụ mới,
Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,
Mừng phe dân chủ hoà bình thế giới.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN GIÁP NGỌ – 1954

Nǎm mới, quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành:
– Đẩy mạnh kháng chiến để giành độc lập tự do
– Cải cách ruộng đất là công việc rất to
Dần dần làm cho người cày có ruộng khỏi lo nghèo nàn.
Quân và dân ta nhất trí kết đoàn,
Kháng chiến, kiến quốc nhất định hoàn toàn thành công.
Hoà bình dân chủ thế giới khắp Nam, Bắc, Tây, Đông.
Nǎm mới, thắng lợi càng mới, thành công càng nhiều.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN BÍNH THÂN – 1956

Thân ái mấy lời chúc Tết:
Toàn dân đoàn kết một lòng,
Miền Bắc thi đua xây dựng,
Miền Nam giữ vững thành đồng,
Quyết chí, bền gan phấn đấu,
Hoà bình, thống nhất thành công.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN KỶ HỢI – 1959

Chúc mừng đồng bào nǎm mới,
Đoàn kết thi đua tiến tới,
Hoàn thành kế hoạch ba nǎm,
Thống nhất nước nhà thắng lợi.

THƠ CHÚCTẾT XUÂN CANH TÝ – 1960

Mừng Nhà nước ta 15 xuân xanh!
Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ!
Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua,
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Chúc đồng báo ta bền bỉ đấu tranh,
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
Cả nước một lòng, hǎng hái tiến lên,
Thống nhất nước nhà, Bắc Nam vui vẻ!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN TÂN SỬU – 1961

Mừng nǎm mới, mừng xuân mới,
Mừng Việt Nam, mừng thế giới!
Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh,
Kế hoạch 5 nǎm thêm phấn khởi.
Chúc miền Bắc hǎng hái thi đua;
Chúc miền Nam đoàn kết tiến tới!
Chúc hoà bình thống nhất thành công!
Chúc chủ nghĩa xã hội thắng lợi!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN NHÂM DẦN – 1962

Nǎm Dần, mừng Xuân thế giới,
Cả nǎm châu phấp phới cờ hồng.
Chúc miền Bắc thi đua phấn khởi,
Bốn mùa hoa Duyên-hải, Đại-phong.
Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới,
Sức triệu người hơn sóng biển Đông.
Chủ nghĩa xã hội càng thắng lợi,
Hoà bình thống nhất quyết thành công.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN QUÝ MÃO – 1963

Mừng nǎm mới,
Cố gắng mới,
Tiến bộ mới,

Chúc Quý Mão là nǎm nhiều thắng lợi!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN GIÁP THÌN – 1964

Bắc Nam như cội với cành,
Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng.
Rồi đây thống nhất thành công,
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà.
Mấy lời thân ái nôm na,
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN ẤT TỴ – 1965

Chào mừng Ất Tỵ xuân nǎm mới,
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi,
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi,
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới,
Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi,
Đấu tranh anh dũng, cả nước một lòng,
Chủ nghĩa xã hội ngày càng thắng lợi!
Hoà bình thống nhất ắt hẳn thành công!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN BÍNH NGỌ – 1966

Mừng miền Nam rực rỡ chiến công,
Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Plei Me, Đà Nẵng.
Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng,
Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng.
Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng,
Tiền tuyến hậu phương, toàn dân cố gắng.
Thi đua sản xuất chiến đấu xung phong,
Chống Mỹ, cứu nước, ta nhất định thắng.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN ĐINH MÙI – 1967

Xuân về xin có một bài ca,
Gửi chúc đồng bào cả nước ta:
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi,
Tin mừng thắng trận nở như hoa!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN MẬU THÂN – 1968

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà,
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN KỶ DẬU – 1969

Nǎm qua thắng lợi vẻ vang,
Nǎm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào.
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,
Bắc-Nam sum họp, xuân nào vui hơn!

Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh

Những cái Tết sống xa Tổ quốc của Bác Hồ

Đây là bức tượng toàn thân chủ tịch bên bộ bàn ghế mây giản dị, đằng sau phía trên là dòng chữ vàng “không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Tây ban Nha với chữ ký của Bác rực rỡ. Ảnh - k14.vcmedia.vn

Đất nước bị xâm lăng, Bác phải xa Tổ quốc 30 năm ròng tìm đường cứu nước. Ba mươi năm ấy Bác đón Tết ở nơi đất khách, quê người.

Mùa hè năm 1911, Bác rời bến Nhà Rồng, bắt đầu cuộc hành trình vạn dặm. Mùa xuân năm Nhâm Tý (1912), Người đón cái Tết đầu tiên ở New York (Mỹ), Người tới thăm khu Hác-lem của người da đen, tìm hiểu cuộc sống của người lao động xã hội Mỹ. Năm 1914, Người đón Tết “con hổ” ở London – Thủ đô nước Anh, trong vai người phục vụ khách sạn.

Từ mùa xuân năm 1918 đến mùa xuân năm 1923, tại Paris, Thủ đô nước Pháp, Người sống những cái tết nhớ nước, thương dân và nhiều hoạt động cách mạng sôi nổi. Sau Hội nghị Véc-xai với bản yêu sách đòi quyền cho dân Đông Dương, năm 1920, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp.

Xuân Tân Dậu (1921), Người có cuộc đối thoại với Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp An-be Xa-rô. Mùa xuân năm 1922, ngày 1/4, tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) do Người làm chủ nhiệm và kiêm chủ bút ra số đầu tiên tại Paris.

Tháng 6/1922, Người cho công diễn vở kịch “Con Rồng tre” đả kích vua bù nhìn Khải Định khi ông vua này sang thăm “mẫu quốc”.

Năm Quý Hợi – 1923, sau cuộc họp Hội liên hiệp thuộc địa tại trụ sở báo Người cùng khổ ở số 3 phố Mác-sê Đê-pa-tri-ác-sơ, Người đã bàn với ông Nguyễn Văn Ái và Trần Tiến Nam tổ chức Tết Nguyên đán cho những người Việt Nam tại Pa-ri. Người đề nghị hai ông chuẩn bị thật cụ thể, chu đáo, vui vẻ nhưng tiết kiệm. Tối mùng 2 Tết năm ấy, tại hiệu ăn U-ni-vec-xta phố Pie Quy-ri, buổi tiệc trà vui Tết của Bác Hồ và những người Việt Nam sống tại Pa-ri diễn ra vui vẻ, ấm cúng. Bác tuyên bố sự hoạt động trở lại của Hội ái hữu.

20/6/1923, Bác bí mật rời Paris đến Thủ đô Mát-xcơ-va dự Hội nghị Quốc tế Nông dân. Xuân Giáp Tý (1924), Người đón Tết ở khách sạn Lux, số 10 phố Tvec-skai-a. Những ngày ấy giá buốt hơn mọi năm, trong tuyết lạnh Bác lặng lẽ tiễn biệt V.I.Lênin – người thầy của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Mùa xuân Ất Sửu – 1925, Người tới Quảng Châu (Trung Quốc) với tên mới là Lý Thụy. Thời gian này, Người có nhiều hoạt động để chuẩn bị cho phong trào cách mạng trong nước. Người sáng lập báo Thanh Niên, thành lập tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, tổ chức các lớp học chính trị, đào tạo cán bộ.

Mùng 1 Tết năm 1926, Người khai bút viết thư gửi đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, đề nghị gửi tài liệu phục vụ tập san “Nông dân”. Ngày mùng 2 Tết, trên diễn đàn Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Quốc dân đảng Trung Quốc, dưới cái tên Vương Đạt Nhân, Người tố cáo thực dân Pháp đàn áp nhân dân Việt Nam, phá hoại cách mạng Trung Quốc và kêu gọi: “Cùng nhau liên hiệp lại … Tất cả hãy đứng lên chống kẻ thù chung …”.

Mùa xuân năm 1927, Người chủ trương ra tờ báo “Lính Kách mệnh” nhằm mục đích tuyên truyền, giác ngộ binh lính Việt Nam, xuất bản tại Quảng Châu. Sau đó tháng 4/1927, Người rời Quảng Châu, qua Liên Xô, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ, Italia, Pháp… và sang hoạt động ở vùng Đông Bắc Thái Lan.

Năm 1928, Người ăn Tết với những bát cháo và bánh mì rẻ tiền tại một cửa hàng ăn của công nhân Béc-lin. Mùa xuân năm 1929, Người đón Tết cùng đồng bào Thái với cái tên mới là Thầu Chín.

Với những hoạt động cách mạng rất tích cực của Người, thực dân Pháp lùng bắt Người và các đồng chí khác. Việc truy bắt Người không có kết quả, nhưng thực dân Pháp vẫn quyết định mở phiên tòa đại hình vào đầu tháng 10/1929 tại Thành phố Vinh, quê hương Người. Tại đây, Tòa án Nam Triều đã kết án tử hình vắng mặt lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí Trần Phú, Hồ Tùng Mậu. Mặc cho kẻ thù lồng lộn, chống phá, truy bắt, uy hiếp, tinh thần các chiến sĩ cộng sản không những không lùi bước mà họ càng tích cực hoạt động trong các phong trào đấu tranh của các tầng lớp công-nông-binh.

Vào dịp xuân Canh Ngọ -1930, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, với vai trò là Ủy viên Quốc tế cộng sản, phụ trách Cục phương Đông, Người về Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1931, Người đón xuân và tham gia các hoạt động cách mạng ở Hong Kong (Trung Quốc). Tháng 6/1931, dưới cái tên Tống Văn Sơ, Người bị bắt và bị giam trong nhà tù của thực dân Anh ở Hong Kong.

Năm 1932, được sự giúp đỡ của luật sư Lô-dơ-bai, Người được trả tự do. Năm 1933, Người đón Tết ở Hạ Môn (Trung Quốc). Mùa xuân năm 1934, trong bộ quần áo dài Trung Quốc, Người lên một chiếc tàu hàng Xô-viết ở Thượng Hải đi Liên Xô. Năm 1939, Người trở lại Trung Quốc chuẩn bị trở về nước lãnh đạo cách mạng.

Năm Tân Tỵ – 1941, vào ngày 8/2/1941, tức là ngày mùng 3 Tết, Người cùng các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Sâm vượt cột mốc biên giới số 108 tại Cao Bằng về với đất Mẹ thân yêu. Sự kiện quan trọng này đã in dấu trong thơ Tố Hữu:

Ôi sáng xuân nay, xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về… im lặng con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ. 

Mùa xuân này, lịch sử tiếp tục sang trang, cả nước ta đang trên đường CNH, HĐH, cả dân tộc chớp lấy thời cơ, vượt qua thử thách, vững bước hội nhập và phát triển… Con đường Xuân mà chúng ta đang đi, chính là con đường mà Bác đã lựa chọn qua ba mươi mùa xuân xa Tổ quốc.

(Tạp chí Xây dựng Đảng)

Ký ức đón Tết bên Bác Hồ của người cảnh vệ già

(Nguoiduatin.vn) – Thật bất ngờ khi chúng tôi gặp lại đại tá Nguyễn Hữu Trực (ở thôn Giữa, xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang). Cuộc sống, con người của đại tá vẫn “không thể giản dị hơn” như chính tính cách và con người ông.

Trong quá trình trò chuyện, tôi luôn cảm nhận được sự xúc động, tôn kính của đại tá mỗi khi nói về Bác và luôn gần gũi như thể ông vẫn đang là người vinh dự được phục vụ Bác vậy. Và trong không khí tết đang đến gần, kỷ niệm những cái tết được ở bên Bác lại sống động hơn cả.

“Thấm và ngấm” phong cách của Bác

Đại tá Trực sinh năm 1932 trong một gia đình bình thường như bao gia đình khác ở vùng quê bán sơn địa. Năm 18 tuổi (năm 1950), ông tham gia lực lượng Thanh niên xung phong và từng đi phục vụ Chiến dịch biên giới ở Tây Bắc, sau đó là các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám.

Đại tá Trực hiện nay

 Đại tá Trực kể: “Nhiệt huyết tham gia đánh đuổi thực dân, đế quốc, phát xít xâm lược của thanh niên ngày ấy luôn sục sôi. Song, khi đã được tham gia vào chiến dịch lớn, tôi vẫn bồi hồi, thoáng chút lo lắng với suy nghĩ, mình sẽ đóng góp phần việc nhỏ bé như thế nào?”.

Vì hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tháng 2/1955, ông Trực chính thức được nhận vào công tác tại ngành công an và tham gia một khoá huấn luyện nghiệp vụ. Theo đại tá Trực, đây là khoá huấn luyện rất lạ, thú vị đối với một thanh niên mới lớn như ông. Thời điểm đó, ông không biết rằng  được huấn luyện như vậy thì sẽ được phân công làm công tác gì? ông cùng một số anh em cứ âm thầm học, tập luyện, vậy thôi. Những tình huống, những giả định như thật trong bài tập nghiệp vụ đã cho ông cái nhìn lạc quan cũng như rất rõ ràng về công việc trước mắt cũng như sau này của người chiến sỹ công an.

Đại tá Trực kể: “Khi biết mình có tên trong danh sách được cùng với đội cảnh vệ tháp tùng Bác Hồ đi viếng nghĩa trang liệt sỹ vào ngày 2/9/1955 – ngày Quốc khánh lần thứ 10 thì tôi đã định nhảy và hét lên vì sung sướng. Song cảm xúc đó đã được kìm nén lại, đúng như những gì tôi được huấn luyện trước đó. Và trong suy nghĩ của tôi lúc đó xuất hiện chữ vinh dự kèm với trách nhiệm”.

Sau lần đó, ông được điều về làm cảnh vệ vòng ngoài của Phủ Chủ tịch. “Có nghĩa là được nhìn thấy Bác thường xuyên hơn, được thấy dáng Người hàng sáng tập thể dục, cho cá ăn, chăm sóc cây, nâng niu trái quả, ngồi trầm tư… Những cử chỉ, lời nói, việc làm đơn giản, bình dị, thường ngày đó cứ thấm, ngấm dần vào tính cách, cuộc sống của những chiến sỹ bảo vệ, phục vụ Bác như chúng tôi…” – vị đại tá già nhớ lại.

Qua tìm hiểu, tôi rất tâm đắc lời đại tá Trực nói về cái sự “thấm và ngấm” ấy. Hiện tại, cuộc sống của đại tá Trực cũng rất bình dị. Cả 5 người con của ông đã trưởng thành và ra ở riêng, hàng ngày ông vui với ngôi nhà nhỏ, đầy cây xanh và ao cá. Dù tuổi đã thượng thọ nhưng ông vẫn thích lội ao, vớt cái bèo, cho con cá ăn, quét dọn vườn tược, tỉa cây… Và có một thói quen ông chưa bao giờ không làm, đó là sáng sáng dậy tập thể dục và nghe chim hót.

“Các chú lại bố trí rồi!”

Đại tá Trực kể: “Trong sự nghiệp, tôi có 5 năm là bảo vệ và 2 năm được trực tiếp phục vụ Bác Hồ. Tất cả những gì liên quan đến 7 năm này là ký ức tôi không thể quên. Trong rất nhiều những sự kiện diễn ra trong thời gian đó, có những sự kiện là dấu ấn quan trọng.

Tháng 6/1957, lần đầu tiên Bác trở về thăm lại quê Nghệ An. Bác đã đau đáu mong chờ chuyến trở về quê sau bao năm bôn ba tìm đường cứu nước. Lần đó, tôi được tham gia bảo vệ Bác. Cũng năm đó, tôi được kết nạp Đảng. Kết nạp Đảng xong, tôi được ông Vũ Kỳ phân công nhiệm vụ là trực tiếp bảo vệ Bác trong Phủ Chủ tịch. Cảm xúc lúc nhận nhiệm vụ mới lạ lắm, vinh dự xen lẫn mơ hồ trong thoáng qua của sự lo lắng. Lúc đó, tôi hiểu nghiệp vụ mà mình được huấn luyện, luyện tập bắt đầu phải ứng dụng tối đa trong sự sáng tạo của cái chuẩn đến từng chi tiết nhỏ nhất”.

Theo Đại tá Trực, bảo vệ Bác trong Phủ Chủ tịch là việc thường ngày nhưng bảo vệ Bác ra ngoài thì phức tạp hơn nhiều. Khi ra khỏi Phủ Chủ tịch,  Bác luôn muốn tận mắt nhìn thấy mọi thứ, trực tiếp tiếp xúc, hỏi han mọi người. Phần lớn những sự bố trí của cảnh vệ đều bị Bác phát hiện và thay đổi lịch trình.

Lực lượng cảnh vệ đang hộ tống một đoàn đại biểu

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III thành công tốt đẹp, Bác muốn đi thăm bà con nông dân, muốn trực tiếp ngắm nhìn đồng lúa, nhìn bà con nông dân gặt lúa. Cánh đồng lúa ở khu vực tỉnh Hà Tây (cũ) được bố trí để đưa Bác đến thăm nhưng khi phát hiện ra, Bác đã yêu cầu lái xe tiếp tục chạy mà không dừng lại nơi cảnh vệ đã bố trí trước. Bác còn nói vui nhưng chứa đựng sự phê bình rằng: “Các chú lại bố trí rồi”!. Cả đoàn lo lắng nhưng Bác bình thản và vui lắm.

Xe chạy đến cánh đồng lúa ở huyện Đan Phượng, thấy nhiều bà con đang gặt lúa, nói chuyện rộn ràng, khuôn mặt ai cũng tươi rói vì mùa vụ bội thu, Bác yêu cầu dừng xe. Bác xuống xe, xuống ruộng, đến hỏi han người nông dân đang gặt lúa. Nhận ra Bác, mọi người đều vui, xúc động. Bác vui, người nông dân xúc động còn cảnh vệ và phục vụ như Đại tá Trực thì lo lắng…

Sau 7 năm vinh dự được phục vụ Bác, năm 1962, đại tá Trực đi học nghiệp vụ ở Liên Xô (cũ), rồi về làm giảng viên Học viện An ninh. Năm 1976, Đại tá được cử về giảng dạy tại Trường Đào tạo cán bộ cho nước bạn Lào.

Năm 1990, nghỉ hưu với quân hàm đại tá. Đại tá được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến công hạng nhất, và Huân chương tự do hạng nhì của nước bạn Lào.

Đại tá Trực thừa nhận: Bác ra ngoại ô, thăm nông dân, trẻ em, trí thức… phương án tác chiến của cảnh vệ, phục vụ nhẹ nhàng hơn. Bác đi thăm những nơi công cộng, chợ… quả thật, anh em cảnh vệ phải linh hoạt đến tối đa có thể. Cụ thể, chiều 30 Tết năm 1960, Bác quyết định đi thăm chợ Đồng Xuân xem bà con tiểu thương buôn bán, đồng bào mua hàng, sắm Tết thế nào. Kế hoạch của cảnh vệ đề xuất là có người sẽ đến giúp Bác cải trang nhưng Bác không đồng ý. Bác tự mặc áo bông, đội mũ và quàng khăn che bộ râu rồi đi. Bác đến khắp các dãy hàng trong chợ, qua từng cửa hàng, đứng nhìn, ngắm, thậm chí hỏi mua hàng thế mà không ai nhận ra Bác.

Khi đi đến dãy hàng cuối cùng của chợ, có một cháu thiếu niên theo mẹ đi chợ, nhận ra Bác. Có lẽ do bất ngờ và sung sướng nên cháu chỉ kịp thốt lên lời “A… Bác Hồ! “thì rất may cảnh vệ kịp phát hiện và yêu cầu giữ im lặng. Bác không biết chi tiết đó vẫn vừa đi vừa nhìn đồng bào mua sắm rồi đi thẳng ra xe. Trong những chuyến đi công tác, Bác thường đến thăm người lao động, thiếu niên, nhi đồng, thăm nơi họ làm việc, sinh hoạt trước khi đến trụ sở chính quyền, nhà máy. Bác muốn biết tình hình làm việc, sinh sống của đồng bào trước khi làm việc với chính quyền, với lãnh đạo nhà máy. Đặc biệt, Bác luôn ăn, ở, sinh hoạt cùng đội ngũ cán bộ đi cùng trong những chuyến công tác dài ngày và với tác phong giản dị, tiết kiệm…

“Được Bác quý mến, dạy bảo, uốn nắn… là phần thưởng lớn của anh em cảnh vệ và đội ngũ phục vụ” – Đại tá Trực bày tỏ. Vào ngày nghỉ, Bác luôn tổ chức và trực tiếp cùng cảnh vệ, đội ngũ phục vụ xem phim hoặc ngồi chơi trò gì đó. Có thể là đố vui; có thể là hỏi kiến thức địa lý, lịch sử; có thể là đặc tính của cây; của con cá… Rất vui và chứa đựng ý nghĩa giáo dục rất dễ nhớ. Ngày lễ, ngày Tết, Bác hầu như vẫn làm việc, vẫn tiếp khách, nhất là khách quốc tế vào dịp tết cổ truyền nên cảnh vệ, người phục vụ vẫn phân công thay nhau trực.

Vũ Hoàng Quế Ngân

nguoiduatin.vn

Vùng than ấm tình Bác…

Trong những năm 60, ngành than có vị trí đặc biệt quan trọng. Lúc đó, về năng lượng, nước ta chỉ có than, ngoài ra không còn nguồn năng lượng nào khác và xuất khẩu, than cũng là nguồn hàng chủ lực. Chính vì ngành than có vị trí quan trọng như vậy nên Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm và riêng Bác Hồ cũng dành cho Quảng Ninh, cho ngành than những tình cảm đặc biệt.

Năm 1946, Bác Hồ – với cương vị là người đứng đầu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – gặp đại diện của Chính phủ Pháp trên một chiến hạm của Pháp ở Vịnh Hạ Long.

Từ trên chiến hạm này, ngắm nhìn phong cảnh thơ mộng trên Vịnh, lòng đầy cảm hứng, Người nói: “Vùng mỏ nước ta thật đẹp và giàu, thợ mỏ của chúng ta thật vô cùng anh dũng”. Kháng chiến bùng nổ, hướng về vùng mỏ, Người viết thư khích lệ nhân dân nơi đây tích cực phá hoại kinh tế của địch. Hòa bình lập lại trên miền Bắc, một năm sau, Bác viết thư thăm hỏi và động viên nhân dân, công nhân Quảng Ninh. Vùng mỏ luôn chiếm một vị trí quan trọng trong trái tim Người.

ứyeyNgày 30 tháng 3 năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh.

Cuối những năm 50, mỏ Cẩm Phả đang thời kỳ khôi phục, chưa phân thành các mỏ như bây giờ. Bác Hồ đến thăm vùng mỏ ngày 30/3/1959, không quản bụi bặm, Bác leo lên tận tầng 10 công trường khai thác cơ khí mỏ Đèo Nai.

Đến từng cỗ xe goòng, Bác căn dặn công nhân: “Ngày nay khu mỏ là của nhân dân nói chung và của công nhân nói riêng. Công nhân là giai cấp lãnh đạo, là chủ khu mỏ thì phải làm sao cho xứng đáng. Để xe máy hỏng, lười biếng, lãng phí đều không xứng đáng với vai trò làm chủ. Muốn làm những người chủ xứng đáng thì phải thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.Bây giờ chúng ta làm cho mình, cho nhân dân và cho con cháu chúng ta nữa”.

Bác còn đến thăm nhà ăn tập thể phục vụ công nhân ở công trường than trụ mỏ Đèo Nai. Người ân cần hỏi chị em phục vụ, xem từng suất ăn của những người thợ mỏ và rất hài lòng về sự phục vụ ở đây. Trong cuộc mít tinh của đồng bào, Bác đã biểu dương nhà ăn tập thể của công trường than trụ Đèo Nai tuy nhà lá đơn sơ nhưng phục vụ tốt, phê bình khu nhà ba tầng Cẩm Phả đồ sộ nhưng bẩn thỉu mất vệ sinh.

Tết năm 1965, Bác lại dành cho Quảng Ninh một vinh dự đặc biệt: Người về ăn Tết với vùng mỏ. Quảng Ninh hiện còn lưu giữ một bức ảnh quý, chụp tại Trường cấp III Hòn Gai  – nơi lãnh đạo, nhân dân Quảng Ninh tổ chức đón Người: Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, thay mặt nhân dân và công nhân vùng mỏ, biếu Bác “Hòn than đầu tiên của kế hoạch khai thác năm 1965 vì miền Nam ruột thịt”.

Tết đó, Quảng Ninh rộn ràng, ấm áp hẳn lên. Gần Tết, tin Bác về ăn Tết tuy được giữ bí mật nhưng vẫn bị lộ ra ngoài. Tỉnh ủy có thông báo, Tết này phải có thành tích đặc biệt để báo cáo với Đảng, Chính phủ và Bác Hồ. Các cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất đều xem lại kế hoạch. Mọi người đoán già đoán non thế mà cũng đúng, chỉ có địa điểm đón Bác cụ thể ở chỗ nào thì bí mật đến cùng.

Việc tổ chức đón Bác được các tổ chức, đoàn thể, các cơ sở sản xuất chuẩn bị chu đáo, nhất là việc cử cán bộ công nhân viên tham gia đoàn đi dự mít tinh đón Bác phải lựa chọn kỹ từng người. Ở nhà máy, mỏ than do Giám đốc, Công đoàn giới thiệu để Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Công đoàn tỉnh và Mặt trận Tổ quốc tỉnh chọn. Ngày 2/2/1965, Bác về Hòn Gai. Nhân dân các nơi nườm nượp đổ về thị xã.

Trong cuộc mít tinh, Người thăm hỏi và chúc Tết đồng bào, kêu gọi công nhân mỏ thi đua lao động sản xuất “Vì miền Nam ruột thịt”. Bác trao tặng ngành Than Cờ thưởng luân lưu khá nhất và trực tiếp giao cho mỏ than Đèo Nai. Khi nhận hòn than từ tay đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Người hài lòng nói: “Bác mong sẽ được các chú tặng hòn than cuối cùng của kế hoạch năm 1965 trước thời hạn nhiều ngày”.

Vâng lời Bác, cả vùng than dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất, mở “chiến dịch sản xuất than vì miền Nam ruột thịt”, mở các công trường “Bà Rịa”, “Rạch Giá”, “Long Châu Hà”… Công đoàn đã tổ chức đợt học tập cho cán bộ, công nhân làm theo lời Bác dạy, thành tích sản xuất than ngày một nhiều, mặc dù chiến tranh bắn phá của Mỹ xuống vùng mỏ ngày thêm ác liệt…

Đỗ Văn Phú (Theo lời kể của đồng chí Lê Bùi – nguyên Ủy viên BCH Tổng Công đoàn Việt Nam)

phapluatvn.vn

Khúc hát trồng cây…

Đã từ lâu, mỗi dịp xuân về, nhân dân ta trên khắp mọi miền cả nước không chỉ náo nức đón Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc mà còn hưởng ứng Tết trồng cây. Tết trồng cây được Bác Hồ khởi xướng từ đầu năm 1960, đến nay đã qua nửa thế kỷ vẫn được nhân dân ta gìn giữ, phát huy và trở thành một nếp phong tục rất đẹp, rất riêng.

Ý nghĩa sâu xa, lòng thiết tha của Bác khi khởi xướng Tết trồng cây hằng năm đã trở thành nguồn cảm hứng dạt dào cho nhiều nhà thơ:

Vượt trùng dương chát mặn bốn phương trời,
Bác thương nhớ từng bụi sim cằn cỗi
Mỗi nhành là quê mình xanh tiếng gọi
Lúc trở về đất mẹ Bác trồng cây.

(Trúc Cương)

Hình ảnh Bác Hồ – người trồng cây vĩ đại là một hình tượng đẹp, gần gũi và sống động trong mỗi người dân Việt Nam. Từ hình ảnh ấy, nhiều nhà thơ đã viết nên những dòng chữ mộc mạc, thành kính và chan chứa yêu thương:

…Bác để lại đây Di chúc màu xanh,
Mà rễ đã ăn sâu vào lòng đất.
Bao thế hệ sẽ đi trong bóng mát,
Cho lẽ sống của Người thấm mãi hồn ta…

(Ngô Quân Miện – Di chúc màu xanh)

Trong công cuộc gieo trồng vĩ đại
Bác để lại cho chúng ta
Bao thế hệ người, bao thế hệ cây
Thịnh ngàn xuân tô điểm nước non này.

(Trinh Đường – Về Đào Xá)

Trồng cây nhớ Bác quá chừng,
Ngẩn ngơ sắc biếc chín tầng mây xanh…
…Bác ươm thế hệ con người
Cây xuân thắng giặc, cây đời dựng xây

(Phạm Đình Ân – Khúc hát trồng cây)

Côn Sơn từ sau lần đón Bác
Yêu kính Người đất dệt áo xanh
Màu xanh Côn Sơn – màu của Ức Trai xưa
Màu xanh Côn Sơn – thương nhớ Bác Hồ…

(Khúc Hà Linh – Màu xanh Côn Sơn)

Từ tầm nhìn kết đọng của nhân dân
Trên đỉnh cao hàng ngàn năm lịch sử
Bác trồng ở Niu-đê-li Ấn Độ
Cây đại của tình thương
Trồng ở Liên Xô, Xê-vat Xtôpôn
Vượt bão tuyết, cây sồi cao khỏe mãi…

(Phạm Xuân Hạt – Màu xanh của một Di chúc)

Bác trồng một nhánh đa con
Nay trăm cành lớn tán tròn xum xuê
Trưa hè bóng mát chùm che
Chăm con người giữa bốn bề tươi xanh…

(Hồng Nguyệt Cầm – Cây đa Bác Hồ)

Bác chẳng làm bóng cả trên cao
Đi dưới cây vẫn thắm lòng ơn Bác
Người dạy chúng con biết tự làm bóng mát
Để chở che cho trưa nắng đời mình…

(Vũ Đình Minh – Đi trong bóng mát của Người)

Những đoạn thơ trích dẫn trên không chỉ là cảm xúc riêng của các nhà thơ mà còn là sự đồng cảm của các thi sĩ với tấm lòng của nhân dân ta đối với sự nghiệp “trồng cây, trồng người” do Bác Hồ khởi xướng. Lời dạy của Bác về lợi ích trồng cây và ý nghĩa của Tết trồng cây đến nay vẫn vẹn nguyên ý nghĩa, đã có hàng ngàn những cây đa xanh và nhiều loài cây khác toả bóng theo lời kêu gọi trồng cây của Người.

Càng thấm thía lời dạy của Bác, chúng ta càng ý thức việc trồng cây, gây rừng phải trở thành một chiến lược của đất nước. Thiên nhiên là người mẹ, là cái nôi xanh của sự sống, con người cần giữ gìn và sống hoà hợp cùng thiên nhiên, yêu nước cũng chính là yêu những hàng cây, những cánh rừng xanh của Tổ quốc chúng ta.

Nếu ai đã từng đi qua vùng đất xám bạc màu ở miền Đông Nam bộ, đi dọc bãi cát duyên hải miền Trung, rồi lên vùng cao nguyên đất đỏ ba dan của Tây Nguyên hùng vĩ, lại trở ra vùng mỏ Đông Bắc, ngược lên vùng giấy, sợi Hàm Yên… chúng ta đều có chung cảm tưởng:

Nhà lá Bác đến muôn nơi,
Ở đâu cũng để cho đời màu xanh…

Mai Trang

xaydungdang.org.vn

Những năm Thìn của Bác Hồ

Năm Nhâm Thìn 1892, cậu Sinh Cung mới 2 tuổi, ở với mẹ là bà Hoàng Thị Loan tại quê ngoại – làng Hoàng Trù, xã Chung Cự ngày xưa.

Năm Giáp Thìn 1904, cậu Sinh Cung 14 tuổi, có tên Nguyễn Tất Thành do cha đặt khi làm lễ “vào làng” ở Kim Liên, quê nội. Sau khi cha đỗ Phó bảng, được làng cấp đất, xuất quỹ làm cho một ngôi nhà. Đây là ngôi nhà và khoảnh vườn hiện nay đang được bảo tồn ở Kim Liên.

Trong năm này Nguyễn Tất Thành được cha gửi đến học chữ Hán với một nhà nho thanh bạch và là một thầy đồ hay chữ – cụ Trần Thân ở làng Ngọc Đình cùng xã. Thầy thường khuyên học trò:

“Độc thi môn tâm tự vấn/Hào vô kim hắc chi tâm” (nghĩa là: Đọc thơ cần phải tự vấn lương tâm của mình/Đừng mảy may để cho vàng (tiền tài) làm dơ bẩn tấm lòng).

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hoan, Nguyễn Tất Thành chỉ học với thầy Trần Thân ít lâu rồi theo cha đi nhiều nơi trong tỉnh và ra Thái Bình trong dịp cha đi tìm những người cùng chí hướng để bàn luận về thời cuộc. Những chuyến đi này đã giúp Tất Thành mở rộng tầm nhìn để nghĩ suy. Không riêng đất Nam Đàn, đất Nghệ An mà ở đâu người dân trong nước cũng lao động cần cù, cũng lam lũ khổ cực trong kiếp đời nô lệ, lầm than và âm ỉ những đốm lửa căm hờn chờ dịp là bùng lên thành ngọn lửa. Một câu hỏi: “Làm thế nào dân ta thoát khỏi khổ đau cùng cực” dường như dần nhen nhóm trong tâm trí của Người.

Năm Bính Thìn 1916, sau khi rời Sài Gòn đi làm phụ bếp trên một con tàu sang Pháp (năm 1911), Nguyễn Tất Thành sang nước Anh, làm thợ quét tuyết lấy tiền sinh sống và chú tâm vào việc học tiếng Anh. Những ngày tháng lao khổ đã giúp Nguyễn Tất Thành có vốn kiến thức vô cùng quý giá để sau này dấn thân vào con đường của nhà chính trị chuyên nghiệp tầm cỡ quốc tế. Đó là: 1) Hiểu biết về đời sống của thợ thuyền ở một nước tư bản sớm phát triển nhất Tây Âu để có cơ sở thực tiễn sau này đọc và hiểu sâu sắc tác phẩm “Tình cảnh của giai cấp công nhân ở Anh” của Ph.Ăng-ghen. Từ đó hình thành một lập luận khoa học, một khẩu hiệu cách mạng vĩ đại, tiếp nối tư tưởng của ba nhà cách mạng tiền bối C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lê-nin: “Lao động toàn thế giới đoàn kết lại!” trên báo “Người cùng khổ” (Le Paria) trong mấy năm sau đó, khi hoạt động ở Pháp. 2) Sử dụng thông thạo tiếng Anh mà chúng ta được biết tới trình độ của Người qua những bức thư giao dịch với người Mỹ và quân đồng minh đầu năm 1945.

Năm Mậu Thìn 1928, Nguyễn Tất Thành đã có tên là Nguyễn Ái Quốc. Cuối năm 1927 và đầu năm 1928 Nguyễn Ái Quốc hoạt động trong Quốc tế Nông dân ở Béc-lin và tìm đường về nước để gây dựng phong trào cách mạng.

Đây là những năm rất khó khăn của Nguyễn Ái Quốc trong quan hệ với Quốc tế Cộng sản. Ngày 12-4-1928, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản trình bày hoàn cảnh hiện tại của mình. Thư có đoạn:

“Hiện nay tôi ở trong hoàn cảnh khó khăn không chịu nổi:

1- Chờ đợi vô thời hạn (tôi chờ chỉ thị đã 4 tháng)

2- Không có gì để sống

Vậy tôi yêu cầu các đồng chí cho tôi càng sớm, càng tốt những chỉ thị chính xác về những gì tôi phải làm và bao giờ thì tôi có thể lên đường?”(1). Ngày 28-4, Người nhận được thông báo Ban Phương Đông đã quyết định gửi cho Nguyễn Ái Quốc tiền đi đường và một phần trợ cấp cho 3 tháng đầu.

Vượt qua nhiều khó khăn, nguy hiểm bởi sự theo dõi và kiểm tra của bọn mật thám quốc tế, Nguyễn Ái Quốc đã từ Béc-lin qua Thụy Sĩ, I-ta-li-a rồi đi tàu thủy Nhật Bản đến Xiêm (Thái Lan) để về gần Tổ quốc.

Tháng 7-1928, Nguyễn Ái Quốc xuất hiện ở Bản Đông thuộc huyện Phi-chit, tỉnh Phít-xa-nu-lốc miền trung Thái Lan. Nơi đây là một làng Việt kiều chừng vài chục gia đình đã có những tổ chức cách mạng như Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí, Hợp tác xã, Hội Việt kiều thân ái từ năm 1926. ít lâu sau, Người cùng một số cốt cán rời lên bản U-đon thuộc đông bắc Thái Lan để xây dựng cơ sở cách mạng. Trên đường đi bộ, vượt qua núi cao sông suối, chân phòng rộp rớm máu, Người vẫn động viên mọi người: “Thiên hạ vô nan sự, nhân tâm tự bất kiên” (không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền). Đây là câu nói bất hủ mà sau này trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác đã dạy thanh niên, rồi trở thành khẩu hiệu hành động, ý chí, bản lĩnh của các thế hệ cách mạng Việt Nam, thành sức sống của cả một dân tộc để “Đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”. Thời gian ở U-đon, Nguyễn Ái Quốc đã đến Noọng Khai gặp một số cán bộ hoạt động ở Viêng Chăn sang để tìm hiểu tình hình phong trào ở Lào và đặt mối liên hệ nhằm đẩy mạnh cuộc vận động cách mạng trong nước.

Năm Canh Thìn 1940, Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Côn Minh (Trung Quốc) và trực tiếp chỉ đạo xây dựng cơ sở, đào tạo cán bộ chuẩn bị cho các hoạt động ở trong nước trước tình hình thế giới đang có nhiều biến chuyển theo hướng có lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày 20-6-1940, sau khi nghe tin Pa-ri bị quân Đức chiếm, Người triệu tập cuộc họp, phân tích tình hình và nhận định: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(2). Ngày 22-9, Người nhận định cụ thể hơn: “Đồng minh sẽ thắng. Nhật, Pháp ở Đông Dương chóng chày sẽ bắn nhau. Việt Nam sẽ giành được độc lập”(3). Đây chính là nhận định thể hiện nhãn quan chính trị và tầm nhìn chiến lược chỉ đạo sáng suốt, đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc giúp cho Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là đồng chí Trường Chinh, thảo luận ra các chỉ thị, nghị quyết về xây dựng tổ chức, xây dựng lực lượng, lãnh đạo chuẩn bị quần chúng tiến hành khởi nghĩa vũ trang khi thời cơ đến để phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền, trong đó có Chỉ thị nổi tiếng “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12-3-1945).

Sống dưới hai tầng áp bức của Pháp và Nhật, nhân dân Việt Nam vô cùng cực khổ. Năm 1940, thực dân Pháp bắt lính người Việt Nam đi đánh nhau với quân Thái Lan. Phong trào chống chiến tranh, phản đối bắt lính đã lan rộng và sôi nổi trong binh lính người Việt và nhân dân Nam kỳ. Trước tình hình đó, tháng 7-1940, Xứ ủy Nam kỳ quyết định khởi nghĩa trước khi xin chỉ thị của Trung ương. Biết tin này Nguyễn Ái Quốc đã nhận định: “Tình hình chung thế giới và Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay đã nổ ra rồi, thì cần tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào”(4). Những sự kiện trên cho phép chúng ta hiểu thêm nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nắm vững thời cơ, phát động quần chúng và chuẩn bị lực lượng chính trị-quân sự để khởi nghĩa giành chính quyền của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Năm Nhâm Thìn 1952, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đang có nhiều chuyển biến tích cực. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những bài nói, bài viết rất quan trọng không chỉ có ý nghĩa chỉ đạo trong thời gian đó mà ngày nay vẫn là những chỉ dẫn rất cơ bản và thiết thực. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:

“Lê-nin dạy chúng ta đoàn kết toàn dân và đoàn kết giai cấp để chiến thắng kẻ thù…

Lê-nin dạy chúng ta đối với mọi việc phải xem xét kỹ lưỡng mọi mặt, không nóng nảy, hấp tấp. Song khi định kế hoạch hẳn hoi rồi thì phải quả quyết thực hiện cho kỳ được.

Lê-nin dạy chúng ta giản đơn và khiêm tốn, trong sạch và chính trực.

Lê-nin dạy chúng ta không sợ gian nan, cực khổ và tin chắc vào lực lượng quần chúng,..

Đối với tệ tham ô hủ hóa, Lê-nin rất nghiêm khắc. Có một lần, tòa án Mát-xcơ-va xử nhẹ một vụ ăn hối lộ, Lê-nin liền viết một bức thư: “Không xử bắn bọn ăn hối lộ mà xử nhẹ như thế, là một việc xấu hổ cho những người cộng sản, những người cách mạng…”.

Lê-nin dạy chúng ta yêu Tổ quốc và yêu nhân dân một cách thiết tha, không bờ bến, và ghét cay ghét đắng kẻ địch của Tổ quốc, của nhân dân, đồng thời gắn liền tinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế.
Lê-nin dạy chúng ta phải thật thà tự phê bình và phê bình để đoàn kết chặt chẽ và tiến bộ mãi.

Lê-nin dạy chúng ta tuyệt đối tin tưởng vào Đảng, vào tương lai của cách mạng và Tổ quốc, vào lực lượng vô cùng to lớn của nhân dân”(5).

Tết Nhâm Thìn 1952 cách đây tròn 60 năm, tình hình đất nước nay có nhiều đổi thay, nhiều nhiệm vụ cụ thể hiện nay đã khác nhưng tinh thần bài nói chuyện của Người nhân dịp tết Nhâm Thìn năm ấy về chống những trở ngại cố hữu trong quản lý kinh tế-tài chính thì vẫn còn nguyên tính thời sự. Đó là chống các bệnh quan liêu, nạn tham ô, lãng phí. “Tham ô và lãng phí đều do bệnh quan liêu mà ra. Vì vậy từ nay toàn thể đồng bào, toàn thể chiến sĩ, toàn thể cán bộ phải xem quan liêu, tham ô, lãng phí là những tội lỗi đối với Tổ quốc, đối với đồng bào. Người phạm tội đã đành, người thấy những tội ấy mà không nêu ra, cũng như có tội. Vì vậy bộ đội, cơ quan, đoàn thể và nhân dân phải tổ chức một phong trào thật thà tự phê bình và phê bình từ cấp trên xuống, từ cấp dưới lên, toàn dân đều hăng hái tham gia, để giáo dục nhau, để cùng nhau tẩy trừ ba nạn kia, để dọn đường cho thắng lợi mới”(6). Vấn đề tự phê bình, phê bình, chỉnh đốn Đảng là vấn đề cốt tử trong công tác xây dựng đảng, là vấn đề suốt đời Hồ Chí Minh quan tâm, chăm lo để Đảng ta thật trong sạch, vững mạnh. Trong nhiều năm qua, Đảng ta thực hiện nhưng chuyển biến chậm. Nguyên nhân có nhiều nhưng chúng ta chưa chú ý đến cách làm, phương pháp mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra: 1) Tự phê bình và phê bình phải có “trọng tâm”. 2) Phải “đánh thông tư tưởng” để “kiểm thảo công việc” nghiêm túc chứ không phải chung chung, qua loa chiếu lệ. 3) “Kiểm thảo phải khởi đầu từ cấp trên, dần dần đến cấp dưới. Cán bộ cấp trên làm gương mẫu thật thà tự phê bình, phải hoan nghênh và khuyến khích mọi người phê bình mình, tức là phải thực hiện dân chủ rộng rãi. Từ trên xuống và từ dưới lên”(7). Người đặc biệt lưu ý cán bộ cao cấp: “Cán bộ quyết định mọi việc. Các đồng chí đều là cán bộ cao cấp, đều giữ những trách nhiệm quan trọng. Công việc thành hay là bại một phần lớn là do nơi tư tưởng đạo đức, thái độ và lề lối làm việc của các đồng chí”(8). Xuân mới đã về, nhớ Bác, nhân dân chân thành mong mỏi các đồng chí lãnh đạo cấp cao ghi tạc lời dạy trên của Người để làm tròn trọng trách xây dựng Đảng.

Lâu nay Đảng ta lấy tư tưởng của Bác để xác định mục tiêu xây dựng nước Việt Nam thành một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhân dịp đầu xuân chúng ta vui mừng phát hiện thêm được một tư tưởng lớn nữa của Người về mục tiêu xây dựng đất nước là: “Dân giàu nước sang”(9). Nước sang theo Bác là một nước nhân dân không chỉ giàu có mà còn sang trọng, lịch thiệp, từ trẻ đến già, từ cán bộ đến dân thường, ai ai cũng là người tử tế, có lòng tự trọng cao, biết tự hào, tự tôn dân tộc, biết xấu hổ, có đạo đức, văn hóa, thanh lịch và giàu lòng nhân ái.

Năm Giáp Thìn 1964, cuộc kháng chiến giành độc lập thống nhất đất nước của nhân dân ta đang bước sang giai đoạn gay go quyết liệt. Đầu năm mới Bác gửi thư chúc tết đồng bào chiến sĩ cả nước. Cuối thư Người có thơ chúc:

“Bắc Nam như cội với cành
Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng.
Rồi đây thống nhất thành công
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà.
Mấy lời thân ái nôm na
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân”.

Trong năm này Người tập trung sức lực lãnh đạo Bộ Chính trị bàn sâu vào mấy nhiệm vụ:
1) Lãnh đạo tốt hơn cuộc vận động “Ba xây, ba chống” (nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu).

2) Chấn chỉnh việc chỉ đạo cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp. Người lưu ý ban chỉ đạo vấn đề xóa bỏ “nạn cường hào mới” ở một số hợp tác xã, có như vậy mới chống được bệnh quan liêu.

3) Bàn về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người nhắc nhở miền Bắc phải chuẩn bị để đối phó với tình hình xấu nhất vì âm mưu của Mỹ đánh phá miền Bắc là vấn đề chiến lược chứ không phải sách lược. Ngày 9-11-1964, Người cùng Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn, Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh đi thăm Đoàn không quân Sao Đỏ bảo vệ Thủ đô. Người nói: “Tổ tiên ta ngày xưa đã có những chiến công oanh liệt trên sông, trên biển như Bạch Đằng, Hàm Tử; trên bộ như Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa. Ngày nay, chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi… Nghệ thuật đánh địch của Việt Nam rất độc đáo. Vũ khí trong tay người Việt Nam dù thô sơ cũng giành được hiệu suất cao. Phải phát huy cách đánh truyền thống của ta. Không ngại quân địch hiện đại. Hãy bắt chước chiến sĩ, đồng bào miền Nam, nắm thắt lưng địch mà đánh”(10). Tháng 9, Người cử Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Thiếu tướng Lê Trọng Tấn vào Nam. Trong bữa cơm tiễn đưa, Người nói: “Đánh Pháp đã khó, đánh Mỹ càng khó hơn. Đảng và Chính phủ giao cho các chú vào trong đó cùng với đồng bào miền Nam đánh Mỹ cho kỳ thắng lợi. Gặp đồng bào thì nói: “Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến đồng bào miền Nam”(11).

4) Người phát động phong trào thi đua yêu nước: “Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt”. Trong năm này, Quốc hội khóa III, phiên họp thứ nhất bầu Người tái giữ chức Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người cảm ơn Quốc hội đã tín nhiệm và hứa sẽ luôn cố gắng để làm tròn trách nhiệm.

Có ai ngờ được năm này lại là năm Thìn cuối cùng trong cuộc đời Bác. Nhưng cũng chính năm Thìn này, nhà chiến lược thiên tài Hồ Chí Minh đã chuẩn bị mọi vấn đề cần thiết để quân dân ta tiếp tục chiến đấu và chiến thắng, để Bắc – Nam thống nhất một nhà. Nhiều điều Người chỉ ra Đảng và nhân dân ta đã làm được xuất sắc. Nhưng cũng còn nhiều điều Người dặn năm xưa vẫn đang còn đó, đang nhắc nhở chúng ta phải học và nhất là phải làm sao cho xứng đáng là những hậu duệ kế thừa sự nghiệp cao cả của Người. Hãy phấn đấu trung thành và trung thực để hiện thực hóa mong mỏi cháy bỏng suốt cuộc đời Bác: “Dân giàu nước mạnh thì ta vui lòng”(12).
——
(1) Hồ Chí Minh-Biên niên tiểu sử, NXB CTQG, H.1993, tập 1, tr.296. (2) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 2, tr.98. (3) Sđd, tr.101. (4) Sđd, tr.107. (5) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.1995, tập 6, tr.386-387. (6) Sđd, tập 6, tr.394-395. (7) Sđd, tr.412-413. (8) Sđd, tr.480. (9) Sđd, tr.439. (10) Sđd, tr.152-153. (11) Sđd, tr.134. (12) Sđd, tr.89.

xaydungdang.org.vn

Hai bài thơ chúc Tết năm Thìn của Hồ Chủ Tịch

Dù bận trăm công nghìn việc nhưng suốt 22 xuân truyền thống của dân tộc – kể từ năm 1947 đến năm 1969, mỗi dịp Tết đến xuân về, Bác Hồ thường có thơ chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước. Đây vừa là lời kêu gọi, động viên, khích lệ tinh thần đồng bào cả nước cùng kiều bào ta ở nước ngoài cùng cố gắng, ra sức thi đua lao động sản xuất, chiến đấu, vừa là mừng xuân mới. Cứ đến thời khắc chuông đồng hồ điểm 12 tiếng đêm giao thừa, mỗi người dân đất Việt lại chăm chú nghe lời thông báo của phát thanh viên đài Tiếng nói Việt Nam: “Trân trọng mời đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ở nước ngoài lắng nghe thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh…”. Giọng nói của Bác Hồ ấm áp và gần gũi biết bao!

Xuân Nhâm Thìn (năm 1952):

Những vần thơ giản dị như đang truyền đến toàn dân sức sống, lòng tin và niềm vui của mùa xuân:

“Xuân này, Xuân năm Thìn
Kháng chiến vừa sáu năm
Trường kỳ và gian khổ
Chiến thắng trăm phần trăm
Chiến sĩ thi giết giặc
Đồng bào thi tăng gia
Năm mới thi đua mới
Thắng lợi ắt về ta
Mấy câu thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”.

Xuân Nhâm Thìn 1952
Hồ Chí Minh (1)

Lúc này, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân cả nước đã trải qua được sáu năm gian khổ và đã thu được nhiều thắng lợi to lớn. Với hai chiến dịch Hòa Bình (mùa xuân), Tây Bắc (mùa đông), quân ta áp đảo quân Pháp, giữ vững và phát triển mạnh thế chủ động chiến lược. Bác Hồ với vai trò một vị tổng chỉ huy tối cao đã thấy trước cuộc chiến sẽ trăm phần trăm thắng lợi. Bác đã hô hào đồng bào và chiến sĩ hãy tích cực thi đua nhiều hơn nữa, mỗi người làm tròn nhiệm vụ của mình để góp phần vẻ vang trong cuộc đại thắng của dân tộc.

Năm 1952 là năm khởi đầu cho giai đoạn chuyển tiếp chiến lược, chuẩn bị cho công cuộc “tổng phản công” trên khắp các mặt trận. Toàn quân và toàn dân dốc sức tổng lực hướng về tiền tuyến, mở chiến dịch Đông Xuân 1953-1954 và đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954 chấn động địa cầu, đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ trên đất nước Việt Nam, mở ra phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa bị áp bức trên toàn thế giới.

Xuân Giáp Thìn (năm 1964):

Sau vòng quay tuần hoàn của 12 con giáp, Xuân Giáp Thìn là thời điểm năm thứ tư của thời kỳ miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Cách mạng nước ta có nhiệm vụ vừa xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, vừa phải chống Mỹ cứu nước ở Miền Nam. Thư chúc Tết năm 1964 của Bác Hồ nhắn gởi nhân dân như sau:

“Bắc Nam như cội với cành
Anh em ruột thịt đấu tranh một lòng
Rồi đây thống nhất thành công
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà
Mấy lời thân ái nôm na
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”.

Xuân Giáp Thìn 1964
Hồ Chí Minh (2)

Vui Xuân, nhưng Bác Hồ luôn luôn nhắc nhở đồng bào và chiến sĩ cả nước hãy đoàn kết một lòng để thực hiện thành công cuộc kháng chiến cứu nước, thống nhất nước nhà. Bắc Nam sum họp là ước nguyện của cả dân tộc. Ứơc nguyện của người cha già dân tộc, của cả đất nước sau 21 năm đã thành hiện thực. Ngày nay, cả dân tộc ta đang bước vào một giai đoạn mới, giai đoạn phấn đấu đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Chúng ta cùng tin tưởng rằng, với những phẩm chất quý báu, với truyền thống tốt đẹp của một dân tộc anh hùng, chúng ta sẽ làm tốt những gì mà sinh thời Bác Hồ hằng mong muốn…

—————–
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, tr. 390.
(2) Sách đã dẫn, tập 11, tr.187.

Phan Quán
286 Phan Bội Châu, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

xaydungdang.org.vn

Ký ức về chị ruột Bác Hồ

Bà Thanh và chiến sĩ Loan năm 1949 (Họa sỹ Lê Dũng Cường vẽ theo ảnh tư liệu gia đình).

LTS. Nhân dịp Xuân Mới, nhớ về Bác kính yêu, nhớ về những năm tháng hào hùng nhưng gian nan của đất nước,Thế Giới & Việt Nam xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc ký ức không phai mờ của BS. Nguyễn Thị Thùy Loan, nữ chiến sĩ của Đại đội quân y dã chiến thuộc sư đoàn 304, tham gia đánh quân Pháp ở chiến trường Liên khu 4 – người may mắn được chị ruột của Bác Hồ, Bà Nguyễn Thị Thanh cho ở cùng nhà, chăm sóc và chỉ bảo trong những ngày đầu tham gia Cách mạng.

Mỗi khi mùa Xuân đến, là lúc người ta thường nghĩ về quá khứ, về những vùng đất mình đã đi qua với những kỷ niệm đáng nhớ. Gần đây, tôi mới có dịp về lại quê hương và Nam Đàn (Nghệ An) nơi tôi từng ở đó với một người đặc biệt cách đây hơn nửa thế kỷ.

Tôi tham gia các hoạt động yêu nước từ những ngày đầu Cách mạng tháng Tám (khi đang học tại Trường nữ sinh Đồng Khánh Huế) rồi đi bộ đội. Năm 1949, khi 21 tuổi, là nữ chiến sĩ của Đại đội quân y dã chiến thuộc Trung đoàn 9, sư đoàn 304, đánh quân Pháp ở chiến trường Liên khu 4. Khi đó, để tránh máy bay địch, bảo toàn cán binh cùng phương tiện quân y, thuốc men nên cứ khoảng 7-8 ngày chúng tôi lại phải hành quân chuyển địa điểm mới. Một lần, đơn vị hành quân suốt đêm, đến gần 2 giờ sáng thì tới địa phận thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Đơn vị quyết định trú quân lại và tôi được xếp ở nhà bà Nguyễn Thị Thanh. Đại diện địa phương cho biết đó là nhà chị ruột Hồ Chủ tịch và phụ trách Hội Mẹ chiến sĩ vùng.

Đặt ba lô xuống cạnh cột nhà, tôi liền hỏi thăm sức khỏe bà Thanh, thấy bà chừng hơn 60 tuổi, mắt sáng, người hơi gầy, giọng nói ấm, thân tình, dễ mến. Nhà bà Thanh chỉ là một ngôi nhà nhỏ, lợp tranh đơn sơ, mộc mạc như bao ngôi nhà của đồng bào miền Trung lúc đó. Ngôi nhà này do bộ đội Quân khu 4 dựng giúp để bà trông coi đất đai bên nội – họ Nguyễn Sinh. Bao quanh vườn rộng là hàng rào bằng cây dâm bụt. Trong nhà, mọi thứ được sắp xếp ngăn nắp, đồ đạc rất ít, ngoài cái rương nhỏ, còn có kim, chỉ khâu để trong cái đĩa cũ xếp trên rương. Quần áo mắc trên đinh đóng vào cột nhà. Chỗ ngủ chỉ có 1 cái chõng tre đã lên màu vàng bóng, vì thế tối đến, hai bác cháu phải ngủ chung.

Mùa đông năm 1949 rét lạ thường, như cắt da thịt. Hai bác cháu dùng rơm đánh thành 2 chiếc nệm ghép với nhau trải lên chõng. Bà Thanh nằm trên nệm rơm, đắp chiếc chăn dạ đã sờn, còn tôi đắp chiếc chăn trấn thủ bộ đội và mặc thêm áo quần cho ấm.

Buổi tối, sau một ngày ra Bệnh xá quân y chăm sóc thương bệnh binh, và có khi còn tập văn nghệ đến muộn, khi tôi về thì bà Thanh đã ăn tối xong, ngồi trên võng chờ tôi như mẹ chờ con. Gian bếp nhỏ luôn được Bà Thanh dọn dẹp tinh tươm: 3 ông đầu rau sạch sẽ, cạnh là 2 chiếc nồi nhỏ, xa một chút có 2 cái bát, 2 thìa, bó đũa con, đôi đũa cả, con dao cau xếp vào cái rổ vừa, trên úp một cái sàng cũ. Sau bếp có bồ cào, cuốc, lưỡi hái, dây thừng… móc lên tường bếp. Ngoài bếp có chiếc vại làm bể cạn đựng nước mưa. Buổi tối bà Thanh thường thắp đèn dầu đến chừng 7 giờ rồi tắt đèn. Nằm trên chõng, bà hay kể cho tôi nghe chuyện đời một cách giản dị, dí dỏm chứ không theo kiểu răn dạy. Nhờ bà Thanh, tôi biết khá nhiều về phong tục, tập quán, danh lam, thắng cảnh xứ Nghệ; hiểu được cách sống đậm nghĩa tình, đùm bọc nhau của người dân quê bà. Bà hay hát cho tôi nghe điệu ví dặm đặc sắc mà tôi vẫn nhớ: “Mùa đông tháng giá. Sang mùa hạ nắng nồng. Em đắp chiếu nằm không… Bốn mùa cứ buồn tênh. Bao giờ hết buồn tênh?”… Cuối các câu chuyện bà hay nhấn mạnh một điều gì đó. Ví dụ: Ở đời quý nhất là thiện lương, thương người. Làm gì cũng phải nghĩ đến điều đó. Chắc do vậy, bà còn làm thêm thuốc Nam để giúp đỡ người nghèo khi ốm đau. Bà hay kể về cụ Phan Bội Châu và luôn nhắc câu châm ngôn cụ Phan tâm niệm: Lòng thành thật có thể xẻ đôi được vàng đá…

Có lần, tôi mạnh dạn hỏi về Bác Hồ, người mà bà Thanh hay gọi bằng cái tên gần gũi ở nhà là cậu Thành, bà chỉ xa xăm: Cậu nớ suốt đời vì việc nước, việc công, xa quê hương, chòm xóm, người thân… rồi bà nhìn ra phía chân trời xa. Bà cho biết tháng 10/1946 bà có ra Hà Nội thăm cậu Thành. Cuộc gặp đó thấm đẫm tình chị em sau 34 năm kể từ khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Cuộc gặp này sau đó, nhà thơ Huy Cận có miêu tả trong bài thơ “Hai chị em”: Chị đến thăm em là Chủ tịch/ Cho em thân thiết một bu gà/ Chị em băm bốn năm xa cách/ Chuyện nước, tình quê:“Chị đó a?”. Bà Thanh còn kể cho tôi nghe những kỷ niệm từ thuở nhỏ, bà là chị cả nên hay bế cậu Thành để ru em ngủ. Bà nói sau này trưởng thành, cậu Thành vẫn nhớ những lời ru, những làn điệu dân ca như hát ví, hát phường vải…

Biết cha tôi là Nguyễn Văn Lanh, một trong những thẩm phán đầu tiên của chính quyền cách mạng mới mất trên đường công tác năm 1948, các chị em tôi đều tham gia kháng chiến, mẹ tôi ở xa… nên bà càng thương tôi hơn. Hồi đó, đang tuổi ăn ngủ nên tôi ngủ rất say, nhưng luôn thức dậy từ khoảng 5h sáng. Thế nhưng khi dậy, đã thấy bà Thanh ở dưới bếp, có hôm luộc ngô, rang cơm mà không có mỡ hoặc luộc khoai. Bà luôn cẩn thận để phần cho tôi vào một cái bát nhỏ, đậy lại cho nóng rồi đi làm đồng, giống như các bà con nông dân bình thường khác.

Mãi sau này có dịp tìm hiểu, tôi mới biết bà Nguyễn Thị Thanh (1884-1954), hiệu Bạch Liên nữ sĩ, từng tham gia chống Pháp trong mạng lưới “Việt Nam Duy tân Hội” của cụ Phan Bội Châu và từng bị địch giam tại nhà lao Quảng Ngãi năm 1918… Biết vậy, tôi càng thấm thía với cách ứng xử đầy tình người, giản dị, thân tình của bà – một người phụ nữ am hiểu sử sách, truyền thống quê hương; truyền thống gia đình, sớm dấn thân vào con đường đấu tranh vì nghĩa lớn của dân tộc.

Tôi ở nhà bà Thanh khoảng chục hôm rồi lại hành quân đi tiếp. Hôm chia tay, ngày thường bà nói năng rành rẽ, có lúc nghiêm trang, nhưng hôm ấy bà ăn trầu nhiều hơn, nói ít hơn… Khi tôi chào tạm biệt, bà ôm lấy tôi thật chặt, nước mắt bà chảy ướt cả má tôi… Bà âu yếm nói đứt quãng: Gắng lên con nhé. Nhớ giữ ấm, mùa đông khi tắm giặt, nhớ ngậm củ gừng để tránh rét, tránh cảm. Hơn 60 năm trôi qua, nhưng những hình ảnh về bà Thanh, những cử chỉ mộc mạc mà ân cần như của một người mẹ quê dành cho con gái sẽ theo tôi suốt đời – ơi người mẹ xứ Nghệ yêu thương của tôi.

Nguyễn Thị Thùy Loan

tgvn.com.vn

Bốn chữ “thật” trong Di chúc Bác Hồ

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm thực hiện bản Di chúc lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi có vài suy nghĩ khi đọc lại Di chúc của Người (đoạn văn Bác dặn mỗi đảng viên và cán bộ…). Theo đó, Bác muốn dặn chúng ta nhiều điều, nhưng vốn ở Người nói và viết rất ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, mà văn phong đã được cân nhắc từng câu, từng chữ trong nhiều đêm ngày.

Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên cứu quốc lần II nhiệt liệt chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm (2-11-1956) – Ảnh tư liệu

Khi nói về Đảng, Bác viết hai vấn đề quan trọng nhất là: Đoàn kết và đạo đức cách mạng. Ba cụm từ “Đoàn kết chặt chẽ”, “Đoàn kết nhất trí”, “Đoàn kết thống nhất” là rất cụ thể, dễ nhớ để thực hiện. Không cần ví dụ, chắc chúng ta đều thấy rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết.

Sau đó Bác nói đến đạo đức cách mạng: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên cán bộ phảithật sự thấm nhuần đạo đức cách mạngthật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Người đã nhìn thấy điều này và dặn dò: Phải làm tốt công tác chỉnh đốn Đảng, phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa cá nhân, vì chính nó là mẹ đẻ thói hư, tật xấu như lười biếng, quan liêu, tham ô, lãng phí, kèn cựa địa vị, chia rẽ… là kẻ thù của đạo đức cách mạng. Trong mỗi con người có thiện, có ác. Chăm chỉ, tiết kiệm, đoàn kết, trung thành, làm việc có ích cho dân… là điều thiện, là đạo đức cách mạng. Lười biếng, lãng phí, tham ô, mua danh, bán chức, làm hại xã hội… là điều ác, là chủ nghĩa cá nhân, là kẻ thù ta phải tiêu diệt. Nghĩa là phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự làm điều thiện, bỏ điều ác.

Xét cho cùng, có “cần” mới có “kiệm”, mới có “liêm”, mới có “chính”; có “liêm chính” mới có chí công vô tư.

Bác dặn muốn giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, thì mỗi cán bộ, đảng viên phải trong sáng, phải làm điều thiện, bỏ điều ác, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, phải đảng viên đi trước, làng nước theo sau, sẽ đoàn kết được trong Đảng, trong dân.

Cuối cùng Bác dặn: Phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đây là điều cốt yếu bao trùm, vì tham ô, lãng phí, kèn cựa địa vị, quan liêu… không thể gọi là công bộc, là đầy tớ của dân được.

Bác dạy: Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ ta không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân (Hồ Chí Minh toàn tập T2, trang 557-558).

Những điều cốt yếu này chính là những bài học lớn, sáng chói trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

TRẦN VE – Báo Quân đội nhân dân

tuoitre.vn

Kỷ niệm đi chợ Tết cùng Hồ Chủ tịch

“Để tìm hiểu đời sống người dân, 30 Tết năm 1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh hóa trang thành công nhân đang cùng con cháu đi chợ Đồng Xuân sắm Tết. Đi chợ về, Bác rất vui”, ông Lê Minh Thưởng, người cận vệ năm xưa kể lại.

Ông Lê Minh Thưởng bên 5 cây thị già được vinh danhÔng Lê Minh Thưởng cũng là chủ nhân của 5 cây thị già được vinh danh “Cây di sản Việt Nam”.
Ảnh:Nguyên Khoa.

Tốt nghiệp trường Trung cấp Công an, năm 1960 chiến sĩ Lê Minh Thưởng được điều về Hà Nội bảo vệ Đại hội Đảng lần thứ ba. Sau đó, một số lính trẻ được lựa chọn ở lại làm cận vệ cho Hồ Chủ tịch, trong đó có Lê Minh Thưởng.

Nhiệm vụ đầu tiên của chiến sĩ Thưởng là túc trực 24/24h trên con đường dẫn vào nhà sàn nơi Hồ Chủ tịch ở, tuyệt đối không để xảy ra bất cứ sự cố nào. Đêm đến, ngồi dưới nhà sàn canh giấc ngủ cho Chủ tịch, để khi cần Người chỉ cần gọi “cúc cu” (cách gọi quen thuộc của Chủ tịch khi cần gọi cận vệ từ thời ở ATK) là sẵn sàng có mặt.

Ông Thưởng kể, hàng đêm Hồ Chủ tịch thường ngủ rất ít vì phải thức rất khuya để làm việc, nhưng sáng hôm sau lại dậy rất sớm để cổ vũ, nhắc nhở mọi người tập thể dục. Hằng ngày Chủ tịch sang Văn phòng Trung ương làm việc, tiếp đón khách và các đoàn đại biểu, tối về tiếp tục làm việc đến khuya. Thời gian rỗi Chủ tịch đọc sách, câu cá. Đội cảnh vệ 7 người liên tục túc trực bên cạnh.

Đã bước qua tuổi 70, nhưng người cận vệ năm xưa vẫn nhớ như in cảm xúc lần đầu tiên được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hôm đó, đúng vào ca trực của Lê Minh Thưởng, trời mưa gió sấm chớp, vừa nghe “cúc cu, cúc cu…”, ông liền đi như chạy đến chỗ Chủ tịch đang làm việc, trống ngực đập liên hồi. “Khi tôi bước vào chào, Bác quay lại nhìn. Tự nhiên mọi sự hồi hộp tan biến, thay vào đó là cảm giác gần gũi, tự tin như mình đang nói chuyện với người thân vậy”, ông Thưởng nhớ lại.

Ông Thưởng (áo trắng, ôm bé gái ngồi cạnh Bác Hồ) trong bức hình chụp chung với Bác và bộ chính trị. Ảnh: Nguyên Khoa chụp lại tư liệuÔng Thưởng (áo trắng, ôm bé gái ngồi cạnh Hồ Chủ tịch) trong bức hình chụp chung với
Chủ tịch và Bộ chính trị. Ảnh tư liệu.

Kỷ niệm đáng nhớ nhất của người công an xứ Nghệ với Hồ Chí Minh là lần được đi chợ Đồng Xuân vào dịp Tết. Để tìm hiểu đời sống của đồng bào và việc đảm bảo hàng hóa chuẩn bị phục vụ Tết của nhà nước, một tuần trước Tết Quý Mão (1963), Hồ Chủ tịch nhắc Văn phòng Chủ tịch nước báo cho Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn rằng Tết này Người muốn thăm chợ Đồng Xuân – khu thương mại sầm uất, nhộn nhịp nhất Hà Nội.

Lãnh đạo Bộ Công an đã giao Cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ) lên các phương án bảo vệ tuyệt đối an toàn khi Hồ Chủ tịch đi chợ Tết Đồng Xuân. Sau khi nghiên cứu, Cục Cảnh vệ lựa chọn phương án hóa trang Chủ tịch thành người công nhân đi sắm Tết.

30 Tết năm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất vui và bảo cận vệ hóa trang cho mình. Người đeo kính trắng mắt tròn, mặc quần áo cũ đã sờn màu bạc, khoác chiếc áo mưa vải bạt có vài chỗ đã sờn, cổ quàng chiếc khăn len màu tối để che bớt chòm râu, đầu đội mũ trắng, chân mang tất màu cỏ úa, dép cao su đen như một người công nhân già đang cùng 2 người con, cháu xách làn đi chợ sắm đồ Tết.

Thong dong vào chợ, đến trước cửa hàng lương thực, thực phẩm có đề hai tấm biển “tem phiếu” và “tự do”, Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng lại suy nghĩ một chút rồi bước tới tấm biển có đề chữ “tự do” và hỏi cô bán thịt “mánh thịt ni răng nấy?”. Người bán thịt ngạc nhiên không hiểu, anh em cận vệ vội vàng chen ngang không để người bán hàng kịp nhận ra tiếng Hồ Chí Minh.

Sau đó Hồ Chủ tịch và các cận vệ tiếp tục đi xem các quầy hàng phục vụ Tết. Đến khu vực bán hoa tươi cạnh mấy ông đồ già đang ngồi viết câu đối, Chủ tịch ngồi xuống hỏi giá một bó huệ trắng. Sau khi cô bán hàng đáp 5 hào, các cảnh vệ phải chạy đến trả giá 2 hào với mong muốn cô ấy sẽ không bán bó hoa huệ để Chủ tịch và mọi người đi khỏi chợ. Khi Chủ tịch đi rồi, ông Vũ Kỳ nói Lê Minh Thưởng lại mua bó hoa huệ trắng mang về.

Về đến nhà, vừa xuống xe Hồ Chủ tịch nở nụ cười rất tươi và nói: “Hôm nay bác cháu ta đi chợ Tết xem được nhiều, hiểu được dân tình ăn Tết sung túc, vui vẻ mà không bị lộ, nhưng lại không mua được gì…”. Ông Vũ Kỳ vội báo cáo mua được bó hoa huệ trắng. Lúc đó, ông Thưởng nhanh nhẹn mang bó hoa lại, nhìn thấy Chủ tịch cười vui và khen: “Các chú sáng tạo đấy, như thế là trọn vẹn!”.

Hồi tưởng lần đi chợ Tết Đồng Xuân, ông Thưởng tâm sự: “Nếu để Bác mua hàng thì nhiều người tinh ý sẽ nhận ra Bác Hồ với chất giọng Nghệ và đôi mắt sáng cùng chòm râu bạc. Khi đó người dân đi chợ sẽ chạy đến để được ngắm nhìn Bác, gây náo loạn”.

Ông Lê Minh Thưởng luôn nâng niu, trân trọng những kỉ vật thời kì làm cận vệ của Bác Hồ. Ảnh: Nguyên KhoaÔng Thưởng luôn nâng niu những kỷ vật thời kỳ làm cận vệ của Hồ Chủ tịch.
Ảnh: Nguyên Khoa.

Ông Thưởng còn nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cận vệ không được làm náo loạn bằng việc chạy môtô dẹp đường mà chỉ cần hóa trang cho thật tự nhiên và tốt nhất là đi bộ, nói chuyện. Với anh em cận vệ, Hồ Chủ tịch luôn xưng chú: “Các chú là công an, biết thì nói không biết thì hỏi, đừng làm thinh”. Và Người thẳng thắn phê bình, chỉ ra những gì được và chưa được để anh em rút kinh nghiệm.

Nhắc đến những kỷ niệm với Chủ tịch Hồ Chí Minh, ánh mắt người công an năm xưa ánh lên vẻ tự hào rồi ngấn lệ: “Được làm cận vệ của Bác là niềm vinh hạnh lớn nhất đời tôi. Gần Bác, tôi cũng như các chiến sĩ học được rất nhiều điều về cuộc sống, đó là sự kiên trì, nhẫn nại, chịu khó, chịu khổ, biết quan tâm đến mọi người. Bác mất, cả dân tộc, cả thế giới tiếc thương, còn với mỗi người cận vệ chúng tôi thì như mất đi một cái gì đó quá lớn”.

Sau khi Hồ Chủ tịch mất, vẫn với vị trí là chiến sĩ cảnh vệ, ông Lê Minh Thưởng và đồng đội đã cùng tôn tạo, mở rộng thêm ao cá Bác Hồ. Mặc dù sau đó được chuyển về làm ở nhiều địa phương, nhưng năm nào ông Thưởng cũng ra Hà Nội để được đến ngôi nhà sàn năm xưa.

Nguyên Khoa

vnexpress.net

Chuyện Tết của Bác Hồ

Báo tin tức – Bác Hồ muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam đi vào cõi vĩnh hằng cách đây đã hơn 40 năm. Nhớ đến Bác, mỗi người dân Việt Nam lại nhớ đến những bài thơ chúc Tết của Người mang những tư tưởng lớn, hoài bão lớn và tình cảm sâu nặng đối với đồng bào, chiến sỹ trong thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Tuy nhiên, còn những chuyện vô cùng cảm động về đời sống của Bác trong những ngày Tết đoàn tụ của mọi gia đình Việt Nam thì rất ít người biết đến.

Bác Hồ nói chuyện với các cháu thiếu nhi trong dịp Người về thăm và chúc Tết đồng bào tỉnh Hà Bắc (Xuân Đinh Mùi, 9/2/1967). Ảnh: Tư liệu

Xin hãy bắt đầu bằng Tết kháng chiến chống Pháp đầu tiên – Tết Đinh Hợi năm 1947. Năm 1946, mặc dù là một năm được mô tả như ngàn cân treo sợi tóc, nhưng nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác, toàn dân ta đã vượt qua khó khăn, thử thách và vững bước đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ để rồi đi tới “9 năm làm một Điện Biên…” như lịch sử đã khẳng định. Theo quyết định của TW, Bác rời Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến và đêm 13/1/1947, Người đã tới thôn Phú Đa, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây. Kể từ ngày rời Hà Nội, đây là điểm dừng chân thứ tư của Bác trên đường trường kỳ kháng chiến. Bác ở đây tổng cộng 21 ngày và cũng tại đây, cùng với việc viết thư, điện gửi những người đứng đầu nhà nước và Chính phủ Pháp vừa thuyết phục, vừa đấu tranh nhằm không để cuộc chiến tranh Pháp- Việt xảy ra, Người đã làm bài thơ chúc Tết lần đầu tiên đọc trên sóng phát thanh đêm giao thừa năm ấy.

Ở đây, trong điều kiện khó khăn và thiếu thốn không thể kể hết, hàng ngày Bác vẫn làm việc và sinh hoạt theo một nếp rất khoa học và chính xác về thời gian đối với từng việc, từng giờ mà Người đã định trước. Chiều 21/1 tức 30 Tết, từ Cần Kiệm, Bác đi Phủ Quốc Oai dự phiên họp tất niên của Chính phủ, sau đó đến Đài Tiếng nói Việt Nam hiện sơ tán ở Chùa Trầm (Chương Mỹ) để đọc thơ chúc Tết. Trời bắt đầu đổ mưa từ trước giờ Ngọ nên đường rất trơn, xe chở Bác chỉ đi được một đoạn thì bị tụt một bánh xuống ruộng. Mấy người phục vụ phải chia nhau vào xóm tìm người ra khênh xe giúp. Kéo được xe lên và đến được địa điểm họp dự họp xong, lúc 22 giờ rưỡi Bác đi đến Đài phát thanh. Lúc này trời càng mưa to, đường lầy và trơn hơn đoạn đến Phủ Quốc Oai. Nhưng xe vẫn lăn bánh trong màn mưa và gió lạnh hun hút thổi. Đọc thơ chúc Tết xong, Bác rời Đài ra về lúc 0 giờ 45 phút. Trời vẫn tiếp tục mưa và mưa ngày càng xối xả. Xe lại sa lầy, anh em phải xuống đẩy. Về cách nhà chừng 2 km, xe tụt cả hai bánh xuống ruộng. Không mượn được người khênh xe vì đang là giao thừa, Bác nói lái xe ngủ lại trông xe, còn mấy Bác cháu cùng xắn quần đội mưa cuốc bộ về nhà “xông đất”. Về đến nhà trời đã gần sáng rõ. Sau khi nghe đồng chí Vũ Kỳ đọc 2 bài báo của Butbiên, Bác mới đi nghỉ. Nhưng chưa đầy 7 giờ, Bác đã ngồi khai bút bằng việc sửa cuốn “Vấn đề du kích” Người đã soạn trước đó.

Việc ăn ở của Bác từ ngày sơ tán về đây rất khó khăn. Bác ở tại ngôi nhà của một nông dân nằm chơi vơi giữa sườn đồi. Nhà mới dựng cách đó chưa lâu, vách đất, mái lợp lá mía, gió mùa đông bắc hun hút thổi. Giữa cái lạnh đến ghê người, nhất là mỗi khi cơn gió lùa vào trong nhà, Bác vẫn thanh thản ngồi nghiên cứu và sửa tài liệu theo đúng kế hoạch Người tự đặt ra cho mình trong ngày mồng Một Tết. Bữa cơm của Bác trưa mồng Một Tết cũng giống như những ngày bình thường khác. Chưa đầy 2 bát cơm được đựng trong một âu nhỏ và được ủ nóng. Cơm độn với sắn khô được thái thành những lát nhỏ trộn với gạo và người nấu phải khéo lắm mới bảo đảm cả sắn, gạo cùng chín và dẻo. Thức ăn chỉ có 2 món, gồm mấy miếng thịt nạc rim và bát canh rau cải được mua ở chợ quê gần đấy. Đây là những món ăn rất quen thuộc đối với Bác khi còn ở Hà Nội. Với khẩu phần ăn quá đạm bạc ấy, anh em rất lo cho sức khỏe của Bác. Nhưng với Bác thì như Người nói: “Khó khăn, vất vả của Bác so với nhân dân và chiến sỹ là không đáng kể”.

Từ Tết kháng chiến chống Pháp đầu tiên, gần 20 năm sau Bác lại có một cái Tết chống Mỹ đầu tiên, tuy điều kiện có khác nhiều so với trước vì một nửa nước đã có hòa bình.

Đó là Tết Ất Tỵ năm 1965, Bác đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sỹ và công nhân sản xuất than tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh chỉ trước đó mấy tháng, vào ngày 5/8/1964, đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và đây là điểm máy bay Mỹ đã đánh phá. Không ngăn được ý định về cuộc đi thăm Tết này của Bác, nên tỉnh Quảng Ninh và các ngành có liên quan đã chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để đón Người. Hiểu điều đó, Bác đã nói với Bí thư Tỉnh ủy ngay lúc mới gặp: “Cố gắng kết thúc mít tinh sớm để mọi người về gia đình đón năm mới và tránh tình huống xấu có thể xảy ra”. Ở đây, Bác muốn nói đến khả năng máy bay Mỹ xâm nhập.

Chiều 1/2/1965, tức 30 Tết Ất Tỵ, Bác về tới Bãi Cháy và khách sạn mà tỉnh bố trí để Người nghỉ lại chỉ cách địa điểm máy bay Mỹ đã đánh phá ngày 5/8/1964 vài trăm mét. Buổi tối hôm đó, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh có ý định mời Bác dự bữa cơm tất niên với cán bộ chủ chốt của tỉnh và đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nhờ đồng chí Vũ Kỳ xin ý kiến Bác. Nghe xong, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ: “Chú cảm ơn tỉnh và nói Bác đã có cơm mang theo rồi. Bí thư và Chủ tịch muốn ăn cơm cùng Bác thì Bác mời”. Việc mang cơm theo mỗi khi đi làm việc với các địa phương từ lâu đã trở thành nếp quen vì Bác không muốn gây phiền hà và tốn kém cho địa phương. Tuy nhiên, bữa cơm chiều 30 Tết đó vì nể các đồng chí lãnh đạo tỉnh, Bác vẫn ngồi dự, nhưng Người vẫn ăn cơm và thức ăn mang theo từ Hà Nội. Bác còn vui vẻ gắp thức ăn của mình mời Bí thư Tỉnh ủy cùng “thưởng thức hương vị Hà Nội”.

Hơn 11 giờ đêm sau khi dự đón giao thừa với cán bộ chủ chốt của tỉnh, Bác về phòng nghỉ và cùng đồng chí Vũ Kỳ rà lại chương trình hoạt động của ngày mai. Xong công việc, Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ: “Hôm nay, các chú lại không mang cà dầm tương cho Bác”. Cà dầm tương mang đậm hương vị quê hương Nam Đàn là một trong bốn món ăn mặn không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của Bác. Và đã có lần khi nhận được một lọ cà dầm tương từ quê gửi ra biếu, Bác đã dặn anh em phục vụ: “Các chú ăn thịt, ăn cá, còn cà thì để phần Bác”. Hương vị “cà dầm tương” đã theo Bác cả khi Người nằm trên giường bệnh. Đó là sáng sớm 2/2/1969, Bác yêu cầu: “Sáng nay, các chú cho Bác một bát con cơm và mấy quả cà”.

Nói chuyện xong với đồng chí Vũ Kỳ, Bác lại ngồi chữa bài nói chuyện ở buổi mít tinh sáng mùng Một Tết cho tới 1 giờ sáng, Người mới đi nằm. Sáng mùng Một Tết, đồng chí Vũ Kỳ mời Bác ăn sáng, Người từ chối và chỉ uống một tách cà phê. Kết thúc cuộc mít tinh, Bác về lại khách sạn, đồng chí Vũ Kỳ mời Bác ăn điểm tâm với lý do chương trình đi thăm của Bác còn dài, Bác phải ăn một chút mới có sức làm việc hết buổi sáng. Bác không những không ăn, mà còn giục đồng chí Vũ Kỳ đi cho kịp thời gian. Bác rời Hòn Gai và về Uông Bí thăm các chuyên gia Liên Xô đang giúp ta xây dựng Nhà máy điện Uông Bí, thăm Đoàn địa chất số 3 đang thăm dò than ở khu vực này, thăm một gia đình nông dân ở HTX Khe Cát, nói chuyện với công nhân mỏ than Vàng Danh và nhân dân thị xã Uông Bí.

Kết thúc buổi sáng mùng Một Tết với một chương trình làm việc dầy đặc cho tới quá trưa Bác mới rời Uông Bí. Biết Bác đói và mệt vì cả buổi sáng chưa ăn gì, trong khi cường độ làm việc rất cao nên lúc chuẩn bị lên xe rời Uông Bí, đồng chí Vũ Kỳ nói nhỏ với đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đi cùng: “Chắc giờ này Bác đã đói và mệt. Đến chỗ nào thích hợp anh chủ động dừng và mời Bác ăn cơm”. Xe ra khỏi địa phận Quảng Ninh, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy xin phép Bác dừng lại ăn cơm và Người đồng ý. Bữa cơm trưa mùng Một Tết của mấy Bác cháu tại một trường học trên đường đi cũng vẫn là những món ăn mà Người thích được chuẩn bị từ khách sạn. Ngoài ra, còn có thêm hai món tôm, cá tươi do HTX nghề cá Hùng Thắng mới đánh được đêm qua gửi biếu Bác và được các đầu bếp ở khách sạn chế biến khá công phu. Người ăn rất ngon miệng và còn vui vẻ gắp thức ăn cho vợ và con đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đi cùng.

***

Bác đã đi vào cõi vĩnh hằng. Đón xuân Nhâm Thìn nhắc lại câu chuyện về Tết trên đây của Bác giúp mỗi người chúng ta hiểu thêm tình thương bao la và sự hy sinh lớn lao của Người đối với đồng bào, chiến sỹ thiêng liêng và cao quý đến nhường nào. Bác vĩ đại chính là từ những việc làm như thế.

Nguyễn Tử Nên

———————-

Ghi chú: Theo tư liệu của đồng chí Vũ Kỳ, nguyên Thư ký của Bác và có tham khảo thêm tư liệu từ hai cuốn sách: “Chuyện kể về Bác Hồ-Những chặng đường trường kỳ kháng chiến” của Huyền Tím và Tử Nên-NXB Chính trị Quốc gia năm 2000 và “Phong cách Bác Hồ” của Nguyễn Tử Nên – NXB Quân đội Nhân dân năm 2010.

bqllang.gov.vn