Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh là người sáng lập và lãnh đạo Đảng ta. Trong công tác xây dựng đảng, Người đặc biệt coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ. Hồ Chí Minh gọi tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng, là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng Cộng sản thành một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân, vừa phát huy sức mạnh của tập thể phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng đã đề ra.

Hồ Chí Minh cho rằng dân chủ và tập trung là hai mặt có quan hệ gắn bó và thống nhất với nhau trong một quá trình tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dân chủ vừa là bản chất, vừa là động lực, mục tiêu của xã hội mới mà Đảng ta lãnh đạo nhân dân xây dựng nên. Dân chủ trong Đảng là tất cả đảng viên đều được tự do bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề trong sinh hoạt đảng để góp phần thống nhất về quan điểm, chủ trương trong lãnh đạo, chỉ đạo; để xây dựng nghị quyết, đưa được nghị quyết vào cuộc sống. Vì vậy, dân chủ phải đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung. Phải tránh dân chủ theo kiểu tùy tiện, phân tán, vô tổ chức, dân chủ hình thức. Những kiểu dân chủ như thế là rất nguy hại, làm suy giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mỗi tổ chức đảng.

Về tập trung, Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong Đảng phải thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động. Biểu hiện của tập trung là thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên… Tập trung trên cơ sở phát huy dân chủ chứ không phải tập trung quan liêu, độc đoán, chuyên quyền.

Hiểu và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ làm cho Đảng ta ngày càng vững mạnh, thống nhất trong tư tưởng và hành động “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”(1).

Tập trung dân chủ phải được quán triệt và thực hiện trong từng đảng viên, trong các tổ chức đảng để Đảng ta hoàn thành sứ mệnh lịch sử của một Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, cùng với nguyên tắc tập trung dân chủ, Người còn đề cập tới nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đây là biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ trên phương diện lãnh đạo, quản lý.

Hồ Chí Minh khẳng định: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung”(2). Theo Hồ Chí Minh thì một người dù tài giỏi đến mấy cũng không thể nào thấy hết mọi mặt của một vấn đề, càng không thể thấy hết được mọi việc, hiểu hết được mọi chuyện. Vì vậy, để lãnh đạo được sát, đúng cần phải có sự tham gia ý kiến của nhiều người. Nhiều người thì nhiều kiến thức, người thấy mặt này, người thấy mặt kia, do đó hiểu được toàn diện, mọi vấn đề. Khi tập thể đã bàn bạc kĩ lưỡng, kế hoạch đã được định rõ thì giao cho một người phụ trách chính. Làm như vậy thì kế hoạch mới được thực hiện đầy đủ, tránh dựa dẫm, chồng chéo nhau, công việc mới đạt kết quả cao. Khi đánh giá công việc mới có cơ sở để biểu dương những người làm giỏi, phê bình những người làm kém, mới xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân. “Lãnh đạo mà không tập thể thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không có cá nhân thì sẽ đi đến tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”(3).

Thấm nhuần Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày thành lập đến nay luôn luôn tuân thủ và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, hoạt động và sinh hoạt đảng. Chính điều đó đã tạo nên sức mạnh để Đảng ta khi mới 15 tuổi với 5.000 đảng viên đã lãnh đạo nhân dân ta làm Cách mạng Tháng Tám thành công. Cùng với sức mạnh đó Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên những chiến công hiển hách đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, và hiện nay đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôn hiểu rõ bản chất và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng chính là làm cho Đảng ta luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trung thành và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, góp phần làm tốt hơn nữa công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay.

………………………………………………….

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 5, tr.553.
(2), (3). Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr.505.
Nguyễn Khánh Ly
Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Nghệ An

xaydungdang.org.vn

Hồ Chí Minh và sự lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười – từ góc nhìn văn hóa

Trong sự tiến triển của lịch sử loài người, thang giá trị cao nhất là sự giải phóng dân tộc và con người. Con đường cách mạng Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lựa chọn theo ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười, đã ngời lên những biểu hiện văn hóa: vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc cho con người Việt Nam, vì hòa bình và hữu nghị giữa các nước. Sự lựa chọn đó đang được nhân dân ta tiếp tục thực hiện thắng lợi trong những điều kiện lịch sử mới.

Picture1.jpg

1. Với vị thế địa kinh tế – chính trị của đất nước, qua hàng ngàn năm lịch sử, đấu tranh sinh tồn, dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã đắp xây nên một truyền thống văn hóa tôn vinh những giá trị hướng tới và thực hiện sự giải phóng và phát triển của dân tộc và con người Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước – nhân văn là một truyền thống kép trong văn hóa Việt Nam, luôn tôn vinh những giá trị giải phóng và phát triển dân tộc đi đôi với giải phóng và phát triển con người phù hợp với sự tiến hóa của dân tộc và nhân loại.

Đây chính là bí quyết thắng lợi trong bảo tồn, phát triển dân tộc của ông cha ta và cũng là bí quyết thành công của các nhà chính trị nước ta trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam: thắng lợi của tất cả những cuộc đấu tranh bảo tồn nền độc lập dân tộc, xây dựng chế độ mới đều phải gắn liền với sự giải phóng con người Việt Nam và ngược lại. Giá trị của dân tộc gắn chặt với những giá trị về con người phải được hiện hữu trong tất cả chiến lược bảo tồn dân tộc và phục hưng đất nước.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dưới sự thống trị tàn bạo của thực dân phương Tây, khát vọng giải phóng khỏi áp bức, bóc lột dân tộc và con người Việt Nam cực kỳ mạnh mẽ, đã làm nổ ra hàng loạt cuộc khởi nghĩa và thúc đẩy nhiều nhà cách mạng Việt Nam tìm tòi con đường cứu nước cứu dân.

Với ý chí cứu nước, cứu dân, hành trang lên đường của các nhà cách mạng, trong đó có Hồ Chí Minh, không có gì hơn là truyền thống văn hóa dân tộc với những giá trị đã làm nên bí quyết của cha ông ta trong bảo tồn dân tộc cũng như thành công của các nhà chính trị Việt Nam trước đó. Họ đều nhận thấy những hạn chế của phương thức cứu nước cũ và đều vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, đi ra nước ngoài hy vọng tìm ra con đường mới cứu nước, cứu dân. Việc ra đi tìm đường cứu nước đó, có động lực thúc đẩy của văn hóa truyền thống và đáp ứng sự đòi hỏi của thực tiễn Việt Nam.

Tuy nhiên, con đường mà các nhà cách mạng tiền bối như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu…thâu nhận là mới với lịch sử Việt Nam, với dân tộc ta, nhưng đã lỗi thời trong sự phát triển của nhân loại. Các cuộc cách mạng có giá trị lịch sử to lớn nhưng không tương thích với giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam về dân tộc và con người, đã bị chính những giá trị truyền thống này vượt qua. Đó là sự “không đến nơi”, như Hồ Chí Minh sau này đã viết về cách mạng Mỹ, Anh, Pháp – các cuộc cách mạng tư sản điển hình nhất lúc đó. Sự không tương thích về các giá trị văn hóa là điều giải thích căn cốt nhất cho việc khó thâm nhập và sự thất bại của con đường cách mạng tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ. Giá trị lớn nhất có thể kể tới của các cuộc cách mạng tư sản khi vào Việt Nam là nó cũng tạo ra một phong trào dân tộc bùng phát, nuôi dưỡng liên tục ngọn lửa cách mạng cứu nước ở nước ta, tạo cơ sở cho việc thâm nhập của con đường cách mạng – với những giá trị mới – tương thích với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Đó là sự chối từ của văn hóa Việt đối với những giá trị được diễn đạt rất hay nhưng vẫn ẩn chứa nội dung áp bức dân tộc và con người của cách mạng tư sản. Tuy nhiên, văn hóa Việt Nam vẫn tiếp nhận một số giá trị chọn lọc mà nhân loại có được qua các cuộc cách mạng này.

Đây cũng là câu trả lời tại sao, sau gần mười năm gian khổ đi khắp thế giới tìm đường cứu nước, cứu dân, Hồ Chí Minh vẫn từ chối con đường cách mạng tư sản.

2. Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh về Pháp. Theo như Người viết: “Khi Cách mạng Tháng Mười nổ ra ở nước Nga, tôi sống ở Pháp. Lúc đó, tôi chưa hiểu ý nghĩa của cuộc Cách mạng Nga. Trình độ tiếng Pháp của tôi còn kém và nhận thức chính trị của tôi còn bị hạn chế. Tôi mới chỉ là một người yêu nước có tinh thần cách mạng và một người chống chủ nghĩa thực dân…”(1).

Hồ Chí Minh cũng có nhận xét chung rằng, đến “Năm 1919, nhân dân thuộc địa chưa biết cuộc cách mạng Nga, biết được một ít thì lại bị tuyên truyền của đế quốc xuyên tạc… Do đó tất cả đều bị bài hát tự do của tổng thống Uyn-xơn mê hoặc. Cũng như dân tộc Triều Tiên, Ai Cập, Xy-ri và các dân tộc bị áp bức khác, một số những người quốc gia Việt Nam trẻ tuổi gửi một bản yêu cầu cho Hội nghị hoà bình ở Véc-xây. Họ nhận được những bức thư rất hay của các phái đoàn hứa sẽ “chú ý xem xét”. Thế là hết”(2). Và “những nhà cách mạng cuồng nhiệt theo chủ nghĩa Uyn-xơn”, theo Hồ Chí Minh, đã bị hoà ước Véc-xây “như gáo nước lạnh giội lên đầu” (3).

Giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc đã giúp cho Hồ Chí Minh quan sát thực tiễn và thấy rõ các cuộc cách mạng tư sản là “không đến nơi” và phát hiện thấy “sự mê hoặc của chủ nghĩa tự do Uyn-xơn” và sự hứa hẹn của các nước đế quốc là “trò lừa bịp”- như Người viết trong tác phẩm Đường cách mệnh – cũng như khi thấy rằng “trong tất cả những lời phát biểu” của các đại biểu của Quốc tế thứ hai, “đã ra sức lảng tránh vấn đề vận mệnh của các dân tộc thuộc địa”, Hồ Chí Minh đã đoạn tuyệt con đường cách mạng tư sản, đoạn tuyệt ảnh hưởng của Quốc tế hai để hướng tới ánh sáng mới, con đường cách mạng mới, vì giải phóng dân tộc và con người của Cách mạng Tháng Mười.

Hồ Chí Minh đã viết rằng, “Những người vô sản Pháp đã giúp”(4) Người hiểu rõ ý nghĩa vĩ đại của những sự kiện lịch sử diễn ra ở nước Nga, thấy rõ “cuộc Cách mạng Tháng Mười đã chiếu rọi ánh sáng mới vào lịch sử loài người”(5) và chỉ ra con đường đúng đắn cho những người cách mạng của các dân tộc bị áp bức. Mặc dầu vậy, như Người viết, phải “nhờ kết quả thử nghiệm cũng như nhờ sự nghiên cứu sâu sắc” những nhà cách mạng này mới “đến với chủ nghĩa Mác hoặc như bản thân họ gọi là chủ nghĩa Lê-nin”(6).

Những kết quả thử nghiệm và những nghiên cứu sâu sắc ấy là gì để những nhà cách mạng ở các nước thuộc địa trong đó có Hồ Chí Minh lựa chọn chủ nghĩa Lê-nin và con đường Cách mạng Tháng Mười?

Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cách mạng Tháng Mười với kết quả của nó “đã đánh dấu việc mở đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử loài người”, kỷ nguyên này được xác định với những biểu hiện sau đây:

Một là, “đã mở đường đi đến những thắng lợi mới của giai cấp công nhân trong cuộc sống xã hội”(7).

Hai là, đã xóa bỏ đi hiện tượng “quần chúng lao động là những người sáng tạo ra tất cả mọi của cải thì bị dìm trong đói khổ và ngu dốt, hai cái đó là số phận khốc hại và lâu đời của đại bộ phận loài người. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, nhân dân lao động đã bắt tay vào xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa không có bóc lột và áp bức dân tộc”(8).

Ba là, “đã chứng tỏ có khả năng lật đổ nền chuyên chính của bọn bóc lột, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, một xã hội bảo đảm cho đất nước phát triển rực rỡ một cách nhanh chóng chưa từng thấy, đưa quần chúng lao động đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng”(9).

Bốn là, “đã mở ra thời đại của một chính sách ngoại giao mới, chính sách hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc”(10).

Với sự nhìn nhận của Hồ Chí Minh, bên cạnh thắng lợi có ý nghĩa vạch thời đại đã được chỉ rõ trên đây, Cách mạng Tháng Mười còn “đem lại cho nhân dân tất cả các dân tộc quyền tự quyết và những phương tiện thực tế để thực hiện quyền đó”,.. đã “tạo điều kiện cho sự liên minh tự nguyện giữa các dân tộc tự do trên cơ sở bình đẳng hoàn toàn về quyền lợi”(11), “làm cho các dân tộc thuộc địa – từ trước đến nay rời rạc với nhau – hiểu biết nhau, và đoàn kết với nhau, do đó đặt cơ sở cho một khối liên hợp tương lai giữa các nước phương Đông, khối liên hợp đó là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”, “làm cho đội tiên phong của giai cấp vô sản các nước thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho một sự hợp tác thật sự sau này, chỉ có sự hợp tác đó mới có thể bảo đảm cho giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng” (12).

Với vị trí, vai trò đó, như Hồ Chí Minh viết: Cách mạng Tháng Mười “đã mở một thời đại mới của lịch sử loài người, thời đại công nông đấu tranh giành quyền làm chủ vận mạng của mình; thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên giành lấy tự do độc lập; thời đại thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc; thời đại suy sụp và tan rã của chủ nghĩa đế quốc, thực dân; thời đại mà chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã thành lý trí và lương tâm của mọi người tiến bộ trên thế giới”.(13)

Nhờ nghiên cứu kết quả thử nghiệm và nghiên cứu sâu sắc về lý luận cũng như “thích tham dự vào các cuộc tranh luận sôi nổi” trong Đảng Xã hội Pháp, “thích đọc các tác phẩm của V.I. Lê-nin về các vấn đề thuộc địa” mà tại Đại hội Tua năm 1920, Hồ Chí Minh đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ ba, khẳng định sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Đó là sự lựa chọn lý tính, vì như Người viết: “Lúc đó, tôi đã nắm vững tiếng Pháp và đã có thể tiến hành tự học chính trị một cách sâu sắc và có thể hiểu rõ các vấn đề quốc tế”(14).

3. Không thâu nhận học thuyết và mô hình cách mạng tư sản, không đi theo con đường của Quốc tế hai, nhưng Hồ Chí Minh lại nhanh chóng tán thành Quốc tế ba, tiếp nhận con đường Cách mạng Tháng Mười, con đường cách mạng vô sản vì giá trị thực tiễn của cuộc cách mạng này.

Sự lựa chọn con đường cách mạng của Hồ Chí Minh chính là sự lựa chọn của chính văn hóa truyền thống Việt Nam, là sự tương thích giữa giá trị văn hóa dân tộc với các giá trị mới của nhân loại mà cuộc cách mạng vô sản theo con đường của Cách mạng Tháng Mười đem lại về giải phóng dân tộc và giải phóng con người, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Sự nhìn nhận của Hồ Chí Minh về giá trị của Cách mạng Tháng Mười như đã trình bày trên đây và sự lựa chọn của Người dựa trên nền tảng văn hóa Việt Nam, nhu cầu thực tiễn của nhân dân Việt Nam theo thời đại mới được vạch ra sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười làm cho cách mạng Việt Nam có đủ yếu tố thiên thời – địa lợi – nhân hòa.

Đó là sự phù hợp với sự tiến hóa của thời đại mới: giải phóng dân tộc và con người trên một cấp độ mới cao hơn – là cơ sở tạo ra sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và thời đại (thiên thời).

Đó là sự đáp ứng được giá trị văn hóa và nhu cầu của dân tộc Việt Nam nên được nhân dân Việt Nam nhanh chóng tiếp nhận, đi theo, tạo cơ sở cho hình thành tối đa lực lượng đoàn kết dân tộc để tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới vì con người (địa lợi).

Đó là sự phù hợp với sự phát triển của văn minh nhân loại, đáp ứng yêu cầu thường trực của các dân tộc về vấn đề giải phóng dân tộc và con người, tạo ra cơ sở cho sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh cho khát vọng độc lập dân tộc và vì tự do – hạnh phúc của dân tộc Việt Nam.

Thiên thời, địa lợi, nhân hòa – đó là độ cao vô cùng của thế và sức mạnh vô tận của lực cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam (nhân hòa).

Lựa chọn con đường cách mạng là lựa chọn con đường phát triển của dân tộc, của đất nước Việt Nam. Tính đúng đắn của sự lựa chọn con đường cách mạng phụ thuộc vào sự phù hợp với văn hóa và đòi hỏi thực tế của dân tộc và chỉ khi đã được dân tộc Việt Nam tiếp nhận, đồng thời nó phải phù hợp với trình độ phát triển mới và xu thế tiến lên của loài người và được biểu hiện bằng sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới.

Bởi vậy, sự lựa chọn con đường cho cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh theo con đường của Cách mạng Tháng Mười là tất yếu và đúng đắn.

Lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản, nhưng ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cần phải vận dụng, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam” để hoạch định con đường cách mạng phù hợp với điều kiện Việt Nam và thời đại mới và chỉ có như vậy mới đáp ứng được sự phù hợp với yêu cầu về văn hóa và thực tiễn của dân tộc.

Từ năm 1924, khi trả lời phỏng vấn báo Unita (I-ta-li-a), Người đã nói: “chúng tôi tiếp tục đi theo con đường cách mạng Tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được”(15).

Sau này, Người viết: “Tất cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát khỏi áp bức bóc lột, được sống sung sướng tự do, tức là thực hiện chế độ cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước phải tùy theo điều kiện thiết thực của mình mà tiến dần” (16).

Xuất phát từ điều kiện thiết thực của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã vạch ra Chính cương vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ ra con đường cách mạng nước ta là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(17). Sau này, Người phân tích rõ rằng: “Tính chất thuộc địa và phong kiến của xã hội cũ Việt Nam khiến cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”, xây dựng chính trị và kinh tế dân chủ mới… Bước thứ hai là tiến lên chủ nghĩa xã hội, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản”(18).

Với con đường đó, cách mạng Việt Nam đã thắng lợi và như Hồ Chí Minh viết: “con đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam chính là theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga”(19).

Con đường cách mạng vì độc lập – tự do – hạnh phúc cho dân tộc và con người Việt Nam, vì hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc vẫn là con đường văn hóa nhất và mãi là con đường thắng lợi của cách mạng nước ta.

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, t 8, tr 440
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 3, tr 33 – 34
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 2, tr 390
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 440
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 558
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t 2, tr 390
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 558
(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 559
(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 560
(10) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 560
(11) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 565-566
(12) Hồ Chí Minh: Sđd, t 1, tr 302
(13) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 635
(14) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 441
(15) Hồ Chí Minh: Sđd, t 1, 482
(16) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 209
(17) Hồ Chí Minh: Sđd, t 3, tr 1
(18) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 209
(19) Hồ Chí Minh: Sđd, t 11, tr 495

Phạm Hồng Chương
PGS.TS, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

hochiminhhoc.com

Mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng biện chứng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp là một trong những nhân tố đảm bảo thành công của cách mạng Việt Nam, một trong những đóng góp xuất sắc của Người vào kho tàng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Quá trình hình thành tư tưởng về vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc của Hồ Chí Minh đã gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Như mọi người đều thấy rõ, trước khi học thuyết Mác – Lênin được truyền bá vào Việt Nam thì các phong trào yêu nước của người Việt Nam chống thực dân Pháp liên tục nổ ra, nhưng kết cục đều thất bại. Nguyên nhân quan trọng nhất khiến cho các phong trào đó thất bại chính là do bế tắc về đường lối, mặc dù các bậc lãnh tụ của những phong trào yêu nước ấy đã dành nhiều tâm huyết cho sự nghiệp của mình, nhưng do họ không nhận thức được xu thế của thời đại, nên không thấy được giai cấp trung tâm của thời đại lúc này là giai cấp công nhân – giai cấp đại biểu cho một phương thức sản xuất mới, một lực lượng tiến bộ xã hội. Do đó, mục tiêu đi tới của những phong trào ấy không phản ánh đúng xu thế vận động của lịch sử và thời đại, nên không thể đem lại kết quả và triển vọng tốt đẹp cho sự phát triển của xã hội Việt Nam.

Trước yêu cầu bức xúc của vấn đề giải phóng dân tộc, từ chủ nghĩa yêu nước, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước. ”Công lao to lớn đầu tiên của Bác đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam là đã tìm ra con đường cứu nước, khai phá con đường giải phóng dân tộc và các dân tộc bị áp bức trên thế giới”.

Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, qua khảo sát thực tế ở các nước trên các châu lục Âu, Phi, Mỹ và ngay cả trên đất Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra nhận xét: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân là nguồn gốc mọi sự đau khổ của công nhân, nông dân lao động ở cả “chính quốc” cũng như ở thuộc địa. Nghiên cứu các cuộc cách mạng dân chủ tư sản Mỹ (1776); Pháp (1789), Nguyễn Ái Quốc nhận thấy các cuộc cách mạng này tuy nêu khẩu hiệu ”tự do”, ”bình đẳng”, nhưng không đưa lại tự do, bình đẳng thực sự cho quần chúng lao động. Người viết: Tiếng là cộng hoà, dân chủ kì thực trong thì nó bóc lột công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Tuy khâm phục các cuộc cách mạng ấy, nhưng Nguyên Ái Quốc cho rằng đó là cách mạng chưa đến nơi. Vì thế, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia hoạt động đấu tranh trong phong trào giải phóng của các dân tộc bị áp bức, phong trào giải phóng giai cấp công nhân ở các nước tư bản. Chính vì vậy mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến với cách mạng Tháng Mười Nga, đến với V.I. Lênin; như một tất yếu lịch sử. Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi là một sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng trong quá trình hoạt động tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc. Đặc biệt, sau khi đọc ”Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã thấy rõ hơn con đường đúng đắn mà cách mạng Việt Nam sẽ trải qua. Người khẳng định: ”Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”; rằng: ”Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Kết luận trên đây của Nguyễn Ái Quốc là sự khẳng định một hướng đi mới, nguyên tắc chiến lược mới, mục tiêu và giải pháp hoàn toàn mới, khác về căn bản so với các lãnh tụ của các phong trào yêu nước trước đó ở Việt Nam; đưa cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, tức là sự nghiệp cách mạng ấy phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng. Vì vậy, con đường phát triển tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng XHCN. Người chỉ rõ: ”Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”.

Trong quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã đấu tranh và chỉ đạo giải quyết mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, bền bỉ chống các quan điểm không đúng về vấn đề dân tộc và thuộc địa, đã phát triển lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay từ khi hoạt động trong phong trào công nhân ở Pháp, Người đã nhận thấy một hố sâu ngăn cách giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động ”chính quốc” với giai cấp công nhân và nhân dân lao động thuộc địa. Đó là chủ nghĩa sô-vanh nước lớn của các dân tộc đi thống trị và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi đối với các dân tộc bị thống trị.

Trong Đại hội Tua, thành lập Đảng Cộng sản Pháp (1920), Nguyễn Ái Quốc đã kêu gọi những người xã hội ủng hộ phong trào giải phóng ở các thuộc địa và lên án phái nghị viện đi theo đường lối cơ hội của Đệ nhị quốc tế, theo đuổi bọn thực dân phản động, từ chối yêu cầu giải phóng của các dân tộc thuộc địa. Trong nhiều tham luận tại các Đại hội quốc tế và các bài viết, Nguyễn Ái Quốc đã bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, phê bình một cách kiên quyết và chân thành những sai lầm, khuyết điểm của các Đảng Cộng sản chính quốc. Các Đảng Cộng sản này, tuy thừa nhận 21 điều kiện của Quốc tế cộng sản, trong đó Điều 8 quy định các Đảng Cộng sản ở chính quốc phải ủng hộ và hoạt động một cách thiết thực giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc; nhưng trên thực tế hoạt động rất ít, do không nhận thức đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập, trong ”Chính cương vắn tắt” do Nguyên Ái Quốc khởi thảo đã khẳng định: ”Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Như vậy là, lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam, với Hồ Chí Minh, sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng XHCN. Cuộc cách mạng này kết hợp trong bản thân nó tiến trình của hai sự nghiệp giải phóng: giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân và giải phóng giai cấp khỏi ách áp bức bóc lột. Vấn đề dân tộc được giải quyết trên lập trường của giai cấp công nhân – điều đó phù hợp với xu thế thời đại và lợi ích của các giai cấp và lực lượng tiến bộ trong dân tộc. Sức mạnh đi tới thắng lợi của cách mạng Việt Nam không phải là cái gì khác mà là mục tiêu dân tộc luôn thống nhất với mục tiêu dân chủ trên cơ sở định hướng XHCN. Đặc điểm nổi bật của cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân triệt để, tạo tiền đề cho bước chuyển sang thời kỳ quá độ lên CNXH; tức là, cách mạng XHCN là bước kế tiếp ngay khi cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thắng lợi và giữa hai cuộc cách mạng này không có một bức tường nào ngăn cách. Đây là quan điểm hết sức căn bản của tư tưởng Hồ Chí Minh: chỉ có hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc mới có điều kiện để tiến lên CNXH và chỉ có cách mạng XHCN mới giữ vững được thành quả cách mạng giải phóng dân tộc, mới mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân, mới có độc lập dân tộc thực sự.

Như chúng ta đều biết, Hồ Chí Minh đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ đó, Người đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, trong sự thống nhất với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Bởi vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đúng như Ph. Ăng-Ghen đã nói: Những tư tưởng dân tộc chân chính… đồng thời cũng là những tư tưởng quốc tế chân chính. Sự phát triển tự tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ đạo sự phát triển của thực tiễn cách mạng Việt Nam, trong sự thúc đẩy lẫn nhau giữa dân tộc và giai cấp, ý thức giác ngộ về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc là tiền đề quyết định nhất, cũng là động lực chủ yếu để Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và tiếp thu quan điểm mác-xít về giai cấp. Đó chính là nhân tố đảm bảo tính khoa học và cách mạng cho sự phát triển tinh thần dân tộc đúng đắn ở người chiến sĩ cộng sản Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp, gắn bó hữu cơ giữa hai quá trình đấu tranh cách mạng: giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản không phải chỉ là chứng minh cho sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà còn là sự phát triển sáng tạo và có giá trị định hướng rất cơ bản. Qua thực tiễn đấu tranh và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, luôn bám sát đặc điểm thực tiễn Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm các nước khác, Hồ Chí Minh đã có những giải pháp đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng đòi hỏi của lịch sử, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; đó cũng chính là nguồn gốc sức mạnh của cách mạng nước ta trong suốt bảy thập kỷ qua. Bởi lẽ:

Một là, cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay muốn thành công triệt để nhất định phải đi theo quỹ đạo và là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản. Cuộc cách mạng đó phải đưa vào lực lượng của nhân dân, nòng cốt là liên minh công nông, do chính Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ, nếu chỉ đưa vào lực lượng của riêng giai cấp công nhân, thậm chí cả giai cấp nông dân là hoàn toàn không đủ, mà theo Người, chỉ có phát động cả dân tộc tham gia mới biến sức mạnh dân tộc thành lực lượng vô địch.

Hai là, cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ dân tộc (mâu thuẫn địa chủ – nông dân, mâu thuẫn tư sản – vô sản) không tách rời cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với các thế lực đế quốc xâm lược. Ở giai đoạn đầu của cách mạng, cần đặt vấn đề dân tộc, độc lập dân tộc lên trên hết. ”Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. ”Chính lập trường và lợi ích giai cấp công nhân đòi hỏi trước hết phải giải phóng dân tộc”. Ở đây rõ ràng cái giai cấp được biểu hiện ở cái dân tộc, cái dân tộc được giải quyết theo lập trường giai cấp công nhân, chứ đâu phải là “hy sinh cái nọ cho cái kia” như có người từng cố chứng minh.

Ba là, cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản ở chính quốc như ”hai cánh của một con chim”, phải thực hiện sự liên minh giữa vô sản ở chính quốc với vô sản và nhân dân các nước thuộc địa thì cách mạng mới thắng lợi. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không phụ thuộc một chiều vào cách mạng vô sản ở chính quốc, mà có thể và phải chủ động tiến lên giành thắng lợi, thậm chí có thể giành thắng lợi trước, từ đó góp phần tích cực hỗ trợ cho cách mạng ở các nước tư bản. Đó là nhận định hết sức đúng đắn, táo bạo và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Đáng tiếc là có lúc quan điểm này của Hồ Chí Minh không được một số người, trong đó có một vài người của Quốc tế cộng sản cũng không thừa nhận.

Bốn là, sau khi giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị ngoại bang, khỏi chế độ thuộc địa, dân tộc vừa được giải phóng phải quá độ lên CNXH và trong bước quá độ ấy phải tự mình tìm tòi con đường, phương thức riêng phù hợp với tình hình và đặc điểm đất nước, tránh giáo điều, dập khuôn những hình thức, bước đi, biện pháp của nước khác.

Trong thực tiễn công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN hiện nay, việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hố Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp càng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng hết sức cấp thiết. Bởi vì, thực tế cho ta bài học là, có thời kỳ, khi triển khai các nhiệm vụ xây dựng CNXH, đã có lúc Đảng ta phạm sai lầm nóng vội, chủ quan, duy ý chí, quá nhấn mạnh vấn đề giai cấp nên đã xem nhẹ vấn đề dân tộc trong việc hoạch định và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, dẫn đến lợi ích các giai cấp, tầng lớp không được tính đến đầy đủ và kết hợp hài hoà, sức mạnh dân tộc không được phát huy như một trong những động lực chủ yếu nhất. Nhưng ngay sau đó, Đảng ta đã kịp thời khắc phục có hiệu quả cả về phương điện nhận thức lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn về vấn đề này.

Tuy thế, trong những năm gần đây, ở nước ta đã nảy sinh ý kiến cho rằng: mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp luận chứng trong chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ đúng với một số nước khác nào đó, còn ở Việt Nam vốn là nước thuộc địa, nửa phong kiến, vấn đề dân tộc bao giờ cũng chi phối, khi nào Đảng nhấn mạnh vấn đề giai cấp thì đều dẫn đến sai lầm. Từ đó, họ đề xuất ý kiến theo hướng nhấn mạnh một chiều vấn đề dân tộc, tách vấn đề dân tộc khỏi vấn đề giai cấp, hạ thấp ý nghĩa quan trọng, bức thiết của vấn đề giai cấp, không lấy quan điểm giai cấp làm quan điểm cơ sở lập trường để xem xét, giải quyết vấn đề dân tộc. Theo họ, nước ta hiện nay chỉ nên đề ra và giải quyết những vấn đề dân tộc, còn vấn đề giai cấp không nên đặt ra. Mục tiêu ”dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” được họ đồng tình, thưng giải thích theo hướng phi giai cấp, nghĩa là không nhất thiết phải theo định hướng XHCN. Thực chất là họ bác bỏ đường lối giải quyết vấn đề dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân. Quan điểm nêu trên đi ngược với con đường mà Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn, và rõ ràng là không phù hợp với thực tiễn của lịch sử cách mạng Việt Nam. Thực tiễn đó đã chỉ ra rằng, trong bất cứ giai đoạn nào, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đều phải kết hợp nhuần nhuyễn lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc; trong chủ nghĩa yêu nước Việt Nam luôn luốn gắn bó hữu cơ với lý tưởng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nền độc lập thật sự của dân tộc; tự do, sự giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc của nhân dân chỉ có thể đạt được một cách bền vững trong sự nghiệp cách mạng theo mục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân. Bởi vậy, ngay từ khi khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta đã xác định rõ: đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là quan niệm đúng đắn hơn về CNXH và thực hiện mục tiêu ấy bằng những hình thức; bước đi và biện pháp phù hợp. Nói cách khác, giữ vững định hướng XHCN là nguyên tắc cơ bản của quá trình đổi mới.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, Đảng ta đã ngày càng cụ thể hoá và hoàn thiện đường lối đổi mới toàn diện, mà thực chất là nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp trong công cuộc xây đựng CNXH ở nước ta.

Văn kiện của Đảng ta tại Đại hội lần thứ IX đã xác định rõ: “mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây đựng và bảo vệ Tổ quốc được sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”.

Nhìn lại lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ XX, một thế kỷ vận động và phát triển mau lẹ và phức tạp của tình hình quốc tế, chúng ta càng thấy sự đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp.

Vấn đề đó đã được kiểm nghiệm bằng thực tế, cả trong chiến tranh ác liệt lẫn trong những khó khăn của hoà bình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh đang thể hiện giá trị trường tồn nhất là trong bối cảnh các dân tộc đang đứng trước những thách thức cực kì nguy hiểm khi các thế lực hiếu chiến dựa vào tiềm lực quân sự hiện đại tiến hành chiến tranh xâm lược những nước có chủ quyền, bất chấp luật pháp.

Điều đó càng cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu, học tập, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp trong tình hình mới, làm cơ sở vững chắc cho việc vận dụng, hoạch định, tổ chức và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, để đưa dân tộc ta vượt qua mọi thử thách, vững bước trong quá trình xây dựng một đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

GS.VS Nguyễn Duy Quý
(Tạp chí Quốc phòng toàn dân)

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân Việt Nam – di sản có ý nghĩa cách mạng trong lĩnh vực quân sự

Cách đây 62 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Đáp lại Lời kêu gọi của Người, toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt gái, trai, già, trẻ, dân tộc, đảng phái, tôn giáo đã đứng lên, không sợ hy sinh, không quản gian khổ, với mọi thứ vũ khí có trong tay, quyết giành lại độc lập cho dân tộc. Với chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống lại hai đế quốc to, Việt Nam đã làm nên một cuộc cách mạng thực sự trong lĩnh vực quân sự. Đó là chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, mà tác động của nó còn ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến nghệ thuật quân sự thế giới trong thế kỷ XXI.

203.jpgBác Hồ trong chiến dịch biên giới 1950 Ảnh: Tuấn Anh

Trong hơn một thập niên vừa qua, trên thế giới có hàng loạt bài viết, chuyên đề, các công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học cấp quốc gia và quốc tế bàn về chủ đề cuộc cách mạng mới trong quân sự. Nhiều chuyên gia quân sự trên thế giới cho rằng, cách mạng mới trong quân sự không chỉ xuất phát từ các thành tựu trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự mà còn là sự phát triển có tính cách mạng trong nghệ thuật quân sự.

Xét về phương diện đó, với chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống lại hai đế quốc to, Việt Nam đã làm nên một cuộc cách mạng thực sự trong quân sự. Đó là chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh mà tác động của nó còn ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến nghệ thuật quân sự thế giới trong thế kỷ XXI.

Nguồn gốc và cơ sở quan trọng nhất của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại mới là tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối quân sự của Đảng ta, kế thừa, phát triển học thuyết quân sự Mác – Lê-nin, một học thuyết mang tính tổng hợp, coi sức mạnh quân sự gắn liền với chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học và kỹ thuật v.v..

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng tài tình học thuyết quân sự Mác – Lê-nin vào điều kiện và hoàn cảnh cách mạng Việt Nam. Những nội dung cơ bản của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, trên những nét khái quát, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau.

Đảng lãnh đạo cách mạng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc đánh thắng kẻ thù xâm lược

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy sức mạnh cứu nước phải là sức mạnh của toàn dân, sức mạnh của cả dân tộc. Dưới sự chỉ đạo sáng suốt và tầm nhìn xa, Đảng ta đã đưa ra ba quyết định có ý nghĩa lịch sử. Một là, quyết định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang và kêu gọi cả nước đứng lên tổng khởi nghĩa, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hai là, quyết định kêu gọi cả nước đứng lên kháng chiến chống Pháp, đưa cuộc kháng chiến trường kỳ chống đế quốc Pháp đến thắng lợi, giải phóng một nửa đất nước, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Ba là, quyết định kêu gọi cả nước đứng lên kháng chiến chống Mỹ, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

225.jpgChiến tranh toàn dân toàn diện

Muốn đánh thắng những kẻ địch hung bạo, mạnh hơn ta gấp bội về kinh tế, quân sự, khoa học và công nghệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương phải tiến hành chiến tranh toàn diện, trong đó mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già trẻ, gái trai, bất kỳ giàu nghèo, lớn nhỏ đều phải trở thành chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ quy luật tất yếu: bảo vệ đất nước luôn luôn gắn liền với xây dựng đất nước, động viên toàn dân kháng chiến luôn luôn đi đôi với bồi bổ sức dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trường thực hiện kháng chiến toàn diện bằng sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao, lấy đấu tranh quân sự là chủ chốt, là trực tiếp quyết định.

Gắn chặt tiến tuyến với hậu phương

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xác định rõ mối quan hệ biện chứng giữa tiền tuyến với hậu phương. Trong khi nêu khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, Đảng ta đồng thời đã đề ra nhiệm vụ xây dựng hậu phương vững mạnh về mọi mặt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào thi đua ái quốc. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Đảng ta và Bác Hồ đã phát động quần chúng thực hiện giảm tô và cải cách ruộng đất, xây dựng và củng cố hậu phương, tạo nên khí thế mới và sức mạnh mới, góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi vĩ đại trên mặt trận Điện Biên Phủ.

Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã trở thành hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam, trở thành căn cứ địa cho cả nước, đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây dựng miền Bắc, coi miền Bắc là cái nền, cái gốc của cuộc đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà. Bác chỉ rõ, mọi việc chúng ta làm ở miền Bắc đều nhằm tăng cường lực lượng của miền Bắc vào miền Nam. Bác xác định rõ mối quan hệ biện chứng giữa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Quá trình lịch sử trên 30 năm kháng chiến chứng tỏ rằng, chiến tranh ngày càng mở rộng, quy mô ngày càng lớn, mức độ ác liệt ngày càng tăng, thì vai trò của hậu phương ngày càng to lớn. Rõ ràng, hậu phương vững mạnh về mọi mặt là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi trong chiến tranh.

Nắm chắc ý đồ của địch, quán triệt quan điểm đánh lâu dài

Trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng nói chung và chỉ đạo chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm chắc tình hình để phân tích cục diện trong nước và trên thế giới, đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch trong từng giai đoạn của cách mạng nói chung, trong từng giai đoạn chiến tranh nói riêng, từ đó đề ra chiến lược, sách lược đúng đắn để chỉ đạo cuộc kháng chiến trường kỳ, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi từng bước và ngày càng to lớn.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta khẳng định chiến lược đánh lâu dài nhằm làm thất bại chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương trường kỳ kháng chiến, vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng, tích luỹ kinh nghiệm để đủ sức đánh bại quân địch. Trong trường kỳ kháng chiến, Bác rất coi trọng giành cho được những thắng lợi liên tiếp, dù nhỏ, vừa góp gió thành bão đưa kháng chiến tiến lên, vừa để nuôi dưỡng chí khí cách mạng, tinh thần kiên trì chiến đấu của đồng bào và chiến sĩ.

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, Đảng ta một lần nữa lại đề ra chiến lược đánh lâu dài với lời kêu gọi của Bác: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác có thể bị tàn phá. Nhưng nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, cả nước một lòng, quyết đánh lui kẻ địch từng bước, đánh đổ chúng từng bộ phận, tiến tới hoàn toàn đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại

125.jpgBác Hồ và đội OSS Ảnh: Tuấn Anh

Ngay từ buổi đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy rõ mối quan hệ hữu cơ giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả, giữa tinh thần tự lực tự cường của dân tộc với việc tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, sự giúp đỡ quốc tế. Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Phải luôn luôn nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, giữ gìn và phát triển tình hữu nghị với các nước xã hội chủ nghĩa anh em; hết lòng ủng hộ phong trào giải phóng của các dân tộc; đoàn kết với giai cấp công nhân và nhân dân toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc do Mỹ cầm đầu, đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”.

Tinh thần cách mạng tiến công

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương, cách mạng là tiến công. Khởi nghĩa và kháng chiến là tiến công. Tiến công vào mọi kẻ thù của dân tộc, tiêu diệt chúng để giành lại độc lập và tự do. Tiến công vào chế độ cũ, dựng nên chế độ mới, xoá bỏ mọi sự áp bức bóc lột, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc. Muốn đưa cách mạng, đưa kháng chiến đến thắng lợi, phải tiến công liên tục, tiến công kiên quyết.

Khi chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, Bác đưa ra quyết tâm “Dù phải đốt cháy dãy Trường Sơn, chúng ta cũng phải giành lấy độc lập”.  “Hễ còn một tên lính thực dân trên đất nước Việt Nam thì cứ đánh, đánh cho đến thắng lợi hoàn toàn”. Đến cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Bác ra lời kêu gọi: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”. Đó là tinh thần kiên quyết tiến công của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta, của toàn quân và toàn dân ta trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng và chiến tranh cách mạng.

Tư tưởng chiến lược tiến công là định hướng cơ bản của hành động. Về quân sự, hình thức tác chiến chủ yếu là tiến công, nhưng trong điều kiện cụ thể nhất định, có thể áp dụng hình thức tác chiến phòng ngự tạm thời để chuẩn bị tiến công. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Bất kỳ hoà bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”. “Phải luôn luôn giành lấy chủ động”.

Nếu hành động tiến công là biện pháp chủ yếu để giành chủ động, thì quyền chủ động là sự thể hiện cao nhất của tư tưởng chiến lược tiến công, của quyền làm chủ trên chiến trường và trong toàn bộ cuộc chiến tranh cách mạng. Tư tưởng chiến lược tiến công thể hiện tinh thần cách mạng triệt để của giai cấp công nhân.

Xây dựng quân đội cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề xây dựng quân đội cách mạng. Người đã trực tiếp chỉ đạo việc tổ chức các đội tự vệ và dân quân và sáng lập ra Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rất sâu sắc rằng, muốn giải phóng dân tộc, phải dùng bạo lực cách mạng, sức mạnh của quần chúng được tổ chức lại là cơ sở cho bạo lực cách mạng, lấy lực lượng chính trị của quần chúng làm cơ sở, coi đó là nguồn sức mạnh vô tận. Từ đó, quy luật của bạo lực cách mạng ở nước ta ngày càng phát huy tác dụng mạnh mẽ. Bác chỉ rõ đường lối tổ chức của các lực lượng vũ trang cách mạng là, trên cơ sở phát triển lực lượng vũ trang quần chúng mạnh mẽ và rộng khắp, cần ra sức xây dựng quân đội nhân dân chính quy và hiện đại.

223.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì dân mà chiến đấu, cho nên đi đến đâu đều được dân tin, dân phục, dân yêu. Người nói: “Trung với nước, hiếu với dân là một bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”. “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân dựa trên những nguyên tắc cơ bản của một quân đội cách mạng. Chỉ thị của Bác nêu rõ: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để thành lập một đội quân đầu tiên cần phải duy trì các lực lượng vũ trang địa phương”.

Từ những ngày ấy, Bác đã phác hoạ một lực lượng vũ trang nhân dân đông đảo gồm có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và các tổ chức, dân quân tự vệ. Trong suốt quá trình chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa và tiến hành kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Bác hết sức coi trọng vai trò chiến lược của dân quân tự vệ, là lực lượng vô địch của toàn dân tộc. Vô luận kẻ địch hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó đều phải tan rã. Bác đã sớm thấy rõ vai trò chiến lược của đội quân chủ lực. Quân đội là công cụ của nhà nước vô sản chuyên chính. Bởi vậy, Bác Hồ luôn luôn coi trọng việc phát huy bản chất cách mạng và tăng cường sức chiến đấu của quân đội, coi trọng vấn đề không ngừng nâng cao chất lượng của quân đội.

Trong lãnh đạo chiến tranh, theo yêu cầu của nhiệm vụ và khả năng của đất nước, Bác và Trung ương Đảng đã chủ trương không ngừng động viên sức người, sức của, phát triển số lượng của cả ba thứ quân; đưa bộ đội chủ lực từ mấy trăm người, mấy nghìn người lúc đầu lên đến hàng vạn, hàng mấy chục vạn người trong kháng chiến chống Pháp, hàng trăm vạn người trong kháng chiến chống Mỹ. Số lượng và chất lượng đều là những nhân tố tạo nên sức mạnh chiến đấu. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển quân đội về số lượng, Bác Hồ và Đảng ta đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng về mọi mặt của quân đội. Quân đội càng phát triển về số lượng thì nâng cao chất lượng càng trở nên bức thiết. Chất lượng của quân đội là một vấn đề chiến lược, có ý nghĩa quyết định.

Không coi nhẹ vai trò của kỹ thuật

Con người và kỹ thuật là hai nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. Con người là nhân tố quyết định. Kỹ thuật là yếu tố rất quan trọng. Trên bước đường tiến lên chính quy hiện đại, vũ khí và trang bị của quân đội ta ngày càng nhiều, trình độ hiện đại ngày càng cao, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng lớn. Bác thường xuyên nhắc nhở cán bộ và chiến sĩ phải coi trọng kỹ thuật, phải ra sức học tập để làm chủ kỹ thuật. Bác nói: “Giác ngộ chính trị thì cố nhiên cần rồi… nhưng lại phải có văn hoá, kỹ thuật để sử dụng máy móc ngày càng tinh vi”. Khen ngợi một số đơn vị có thành tích tốt về cải tiến kỹ thuật, Bác cho rằng: “Đó là bước đầu tiên trên con đường muôn dặm của cách mạng kỹ thuật”.

Cán bộ có vai trò quyết định

Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ vai trò rất quan trọng của cán bộ. Người nói, cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Trong những năm lãnh đạo công việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Việt Bắc, Người luôn luôn nhắc nhở: “Muốn cho phong trào phát triển vững mạnh thì phải khéo phát hiện những phần tử trung kiên, đào tạo thành cán bộ nòng cột cho các tổ chức cứu quốc”. Khi đề ra chủ trương tổ chức các đội tự vệ chiến đấu, Bác nhấn mạnh: “Phải lựa chọn những phần tử hăng hái nhất, đưa những người có phẩm chất và năng lực ra làm chỉ huy, đội trưởng”. Quân đội là một tổ chức có trình độ tập trung và kỷ luật cao, có trách nhiệm, làm việc dũng cảm và khó khăn; thắng hay bại trong chiến đấu không những liên quan đến sự phát triển của phong trào cứu quốc, mà có ảnh hưởng đến xương máu của chiến sĩ. Vì vậy, khi đề ra chủ trương thành lập đội quân giải phóng, Người đã tự mình chọn lựa các cán bộ chỉ huy đầu tiên, căn dặn phải tuyển lựa các chiến sĩ có tinh thần chiến đấu cao, và được rèn luyện thử thách trong thực tiễn đấu tranh cách mạng.

224.jpg

Chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là một pho kinh nghiệm phong phú, vô giá, không chỉ đối với chúng ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay và trong tương lai, mà còn đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới đứng lên giải phóng khỏi ách cai trị, chiếm đóng và áp bức từ bên ngoài.

Đã có không ít đoàn đại biểu quân sự các nước đến Việt Nam để học tập kinh nghiệm về chiến tranh nhân dân, còn viện nghiên cứu quân sự của các nước đế quốc đã dày công nghiên cứu về chiến tranh nhân dân Việt Nam để rút ra bài học, nhằm tránh thất bại trong các cuộc chinh phục thuộc địa ở nhiều nơi trên thế giới!/.

Nguyễn Đình Chiến
Thiếu tướng, TS. Viện Chiến lược quân sự

hochiminhhoc.com

Giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình

Nếu tính từ tác phẩm “Đường Kách mệnh” viết năm 1927, lần đầu tiên Hồ Chí Minh bàn về vấn đề tự phê bình và phê bình của người cách mạng cho đến tác phẩm cuối cùng là “Di chúc”, Người đã công bố khoảng 200 bài nói, viết về xây dựng Đảng, trong đó sử dụng 90 lần thuật ngữ tự phê bình và phê bình, 67 lần thuật ngữ phê bình và tự phê bình. Ở Người, tự phê bình và phê bình đã trở thành một phẩm chất trong nhân cách và là một đặc trưng trong phong cách lãnh đạo. Dù ở cương vị lãnh đạo cao nhất, Người vẫn thực hành tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, nêu tấm gương sáng về đức tính trung thực, thẳng thắn cho cán bộ, đảng viên noi theo.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới tự phê bình và phê bình. Người coi tự phê bình và phê bình là “vũ khí rất cần thiết và sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm”[1], là “thang thuốc” tốt nhất để chữa trị các “chứng bệnh” do chủ nghĩa cá nhân gây ra.

Qua nghiên cứu những tác phẩm của Hồ Chí Minh, vấn đề tự phê bình và phê bình là một cống hiến quan trọng của Người trong bảo vệ và phát triển lý luận Mác-Lênin; là nét đặc sắc trong tư tưởng của Người về xây dựng Đảng mác-xít; là vũ khí lý luận sắc bén đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các tiêu cực trong xã hội; với văn phong giản dị, trong sáng chúng ta thấy toát lên bản chất nhân văn mác-xít, “chủ nghĩa nhân đạo hiện thực”.

Thực chất của tự phê bình và phê bình là xây dựng, là vươn tới sự hoàn thiện, hoàn mỹ, là thúc đẩy sự tiến bộ, là cách mạng và khoa học trong cấu trúc nhân cách của mỗi con người. Hồ Chí Minh luôn xem xét con người trong tính đa dạng của các quan hệ xã hội, trong tính cách, khát vọng, phẩm chất, khả năng; trong hoàn cảnh xuất thân, điều kiện sống, làm việc,… Theo Người trong hoạt động thực tiễn, ai cũng có ưu điểm và khuyết điểm, chỉ khác nhau ở mức độ, trạng thái biểu hiện mà thôi: “Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không kiên quyết sửa nó đi”[2].
Hồ Chí Minh không trừu tượng hoá con người, mà xét họ trong môi trường sống cụ thể và tự phê bình và phê bình được ví như “thang thuốc” thần diệu, có tác dụng chữa khỏi bệnh, đồng thời bồi bổ để người ta sống cao đẹp hơn. Thông qua tự phê bình và phê bình mà mỗi cá nhân, mỗi tổ chức ngày càng hoàn thiện, tạo ra sự biến đổi về chất, tạo ra sức mạnh nội sinh trong mỗi tổ chức, mỗi con người; mọi sự kìm nén, ức chế được giải toả, luồng sinh khí mới sẽ sưởi ấm “cái tâm” của mỗi người, để họ không ngừng phấn đấu, vươn lên.

Vì vậy, về bản chất, tự phê bình và phê bình là cách mạng và khoa học; là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tình cảm và lý trí, giữa cái riêng và cái chung; là sự đấu tranh giữa mặt tốt và mặt xấu, đúng và sai, cao cả và thấp hèn,… trong mỗi con người, mỗi tổ chức cho đến toàn xã hội, qua đó đi đến những giá trị chân, thiện, mỹ .

Đối tượng trực tiếp của tự phê bình và phê bình là “Phê bình việc làm (nhận thức, hành vi và việc làm không đúng), chứ không phải phê bình người”[3]. Người chỉ rõ cần tránh hiện tượng: “Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù tiểu khí”[4]. Những việc làm sai trái, những suy nghĩ lệch lạc, sai lầm khuyết điểm của cá nhân hay tổ chức đều phải được phê bình nghiêm túc và “phải lập tức sửa chữa”.

Tự phê bình và phê bình những nhận thức, hành vi và việc làm không đúng trong tư tưởng tự Hồ Chí Minh khác về bản chất với tư tưởng phê phán và trừng trị, lợi dụng phê bình để thổi phồng hoặc bóp méo sự thật, định kiến, ghen ghét, ganh tỵ, trù dập, hạ thấp con người, phê bình theo kiểu “chụp mũ”, quy kết hay “bới lông, tìm vết”. Theo Người, tự phê bình và phê bình là sự mổ xẻ một căn bệnh mang ý nghĩa như là sự khởi nguyên của một quy trình chữa lành con bệnh, làm cho con người tồn tại và phát triển khoẻ mạnh; khi mà tìm ra nguyên nhân vì sao mắc sai lầm, khuyết điểm? ảnh hưởng đến công việc như thế nào, làm thế nào để sửa chữa. Người nói: Tự phê bình và phê bình cốt để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, để tư tưởng và hành động được đúng hơn, và tốt hơn, để làm việc có hiệu quả hơn, để gần nhau hơn, để đoàn kết và thống nhất nội bộ. Tự phê bình và phê bình thúc đẩy sự phát triển toàn diện con người, tránh cho con người không rơi vào cái “tôi” vị kỷ, thấp hèn, đố kị, nhỏ nhen.

Tự phê bình và phê bình là một nghệ thuật về phép ứng xử giữa người với người. Hồ Chí Minh sử dụng thuật ngữ “khéo dùng cách phê bình và tự phê bình”[5] hàm chứa phương pháp, nghệ thuật khi phê bình. Theo Người, “Ta phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa”[6].
Tư tưởng “khéo dùng cách phê bình và tự phê bình” của Hồ Chí Minh do quan điểm dân chủ và nhân đạo chi phối. Tư tưởng đó thể hiện quan điểm biện chứng trong đánh giá con người, biết phối hợp hài hòa giữa tình-lý trong hành vi và thái độ ứng xử giữa con người với nhau. “Khéo” trước hết phải được thể hiện trong ngôn ngữ nói: là sự chuẩn mực và mô phạm, sự thẳng thắn và chân thành của người phê bình. Người căn dặn: “phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc….”[7]. “Khéo” là sự kết hợp giữa các biện pháp giáo dục từ trên xuống và từ dưới lên, từ nội bộ Đảng đến ngoài xã hội. Nhưng trên hết là sự giúp đỡ, cảm hóa, thức tỉnh lương tâm để mọi người vươn lên tự khẳng định mình. “Khéo” là sự kết hợp giữa lý trí và tình cảm, phải hiểu cặn kẽ các nhân tố khách quan, chủ quan, “phải nghiêm chỉnh, chắc chắn, phụ trách nói có sách, mách có chứng. Phải phê bình với tinh thần thành khẩn xây dựng “trị bệnh cứu người ” chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm”[8].

“Khéo” sử dụng vũ khí tự phê bình và phê bình thì tác dụng cảm hóa, lan tỏa rất lớn. Tính hiệu quả của phê bình được khẳng định khi đối tượng của phê bình trở thành đồng chủ thể tự phê bình, tự kiểm tra. Ngược lại, tự phê bình và phê bình không “khéo” sẽ gây hiệu ứng tiêu cực, thậm chí là có hại.

Hiện nay, nhận thức về tự phê bình và phê bình còn những lệch lạc, tác động nguy hại đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng đoàn kết trong đơn vị, ảnh hưởng xấu đến sự tiến bộ của cá nhân cũng như tập thể. Như: Một là, nể nang, né tránh, ngại va chạm, làm qua loa đại khái, trông trước, ngó sau, hùa theo số đông hoặc đón ý cấp trên, dĩ hoà vi quý. Hai là, cơ hội, lợi dụng phê bình để công kích những người mình không ưa, kéo bè, kết cánh, gây mất đoàn kết nội bộ. Cả hai khuynh hướng này đều làm mất đi tính nhân văn trong tự phê bình và phê bình. Điều đó giải thích tại sao thời gian qua hoạt động tự phê bình và phê bình ít hiệu quả, như Nghị quyết Đại hội X của Đảng tổng kết: “Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình trong các cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên chưa đạt yêu cầu đặt ra, chưa tạo được chuyển biến cơ bản, chưa góp phần ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu ”[9].

Thiết nghĩ, để nâng cao chất lượng, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đòi hỏi mỗi cán, bộ đảng viên phải thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình. Nhận thức rõ vai trò, mục đích, nội dung, phương pháp tự phê bình và phê bình; mở rộng thông tin, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật. Đặc biệt, việc tìm hiểu và quán triệt giá trị nhân văn trong tự phê bình và phê bình gắn với nội dung Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là thiết thực góp phần hoàn thiện nhân cách của mỗi cán bộ, đảng viên; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng đơn vị ngày càng vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 10, tr.614
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 4, tr.166
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr. 323
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.258
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.265
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.244
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.232
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 10 tr.614
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn qốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr 267.

Ths. Đàm Trọng Tùng
Học viện Kỹ thuật quân sự

xaydungdang.org.vn

Nguyễn Ái Quốc và con đường đi đến thắng lợi của Đảng

Nguyễn Ái Quốc, ra nước ngoài chỉ với hai bàn tay trắng cùng tinh thần yêu nước, thương dân và với một trí tuệ thiên tài, một nghị lực phi thường, một ý chí quyết tâm tìm ra con đường cứu nước, cứu dân.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam chìm đắm trong “đêm trường nô lệ”, nhân dân Việt Nam sống rên xiết dưới gót giày của quân xâm lược. Một số phong trào yêu nước của các sĩ phu phong kiến thức thời và trí thức Tây học diễn ra mạnh mẽ nhưng đều thất bại. Sự thất bại này là do thiếu đường lối cứu nước khoa học và cách mạng nên không phát huy được nội lực, ý chí độc lập, khát vọng tự do của dân tộc.

Trong bối cảnh lịch sử ấy, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết định đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc đúng đắn cho nhân dân Việt Nam.

Khi học ở Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành tiếp cận lịch sử, văn hóa, văn minh phương Tây, quan tâm tìm hiểu các cuộc cách mạng tư sản diễn ra ở Hà Lan, Anh, Mỹ và nhất là cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789. “Tự do – bình đẳng – bác ái” là những ngôn từ đẹp đẽ và cũng là khát vọng đặc biệt hấp dẫn đối với Người. Đó là quyền sống chân chính của mỗi dân tộc, mỗi con người nhưng sao các nước văn minh phương Tây lại xâm chiếm và nô dịch phương Đông qua chiêu bài khai hóa văn minh? Với nhãn quan chính trị sắc bén vượt thời đại, Nguyễn Tất Thành quyết định ra nước ngoài – sang phương Tây, nước Pháp – nơi mở đầu cuộc cách mạng tư sản điển hình, lại là nước đang cai trị Việt Nam để tìm hiểu.

Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba, nhận làm phụ bếp trên con tàu A-mi-ran La-tu-sơ Tơ-rê-vin của hãng Năm Sao rời cảng Nhà Rồng đi Mác-xây (Pháp). Hơn mười năm sau, chính Nguyễn Tất Thành với tên mới là Nguyễn Ái Quốc đã trả lời nhà báo, nhà thơ Nga Ô-xip Man-den-stam rằng: Vào trạc tuổi mười ba, lần đầu tiên tôi được nghe những từ “Tự do – bình đẳng – bác ái”. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế và từ thuở ấy, tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi.

Chuyến đi lịch sử của Nguyễn Ái Quốc sang phương Tây khác xa với các vị tiền bối. Cụ Phan Bội Châu ra nước ngoài với 3.000 đồng do Duy Tân hội quyên góp. Cụ Phan Châu Trinh đến Pháp bằng chiếc vé mời của Hội Nhân quyền Pháp. Với Nguyễn Ái Quốc, ra nước ngoài chỉ với hai bàn tay trắng cùng tinh thần yêu nước, thương dân và với một trí tuệ thiên tài, một nghị lực phi thường, một ý chí quyết tâm tìm ra con đường cứu nước, cứu dân.

Bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu những cuộc cách mạng thế giới đã giành thắng lợi như cách mạng tư sản Mỹ năm 1776, cách mạng nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789 và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Người rất khâm phục tinh thần cách mạng ở những nước này nhưng thấy không thể đi theo cách làm của họ. Bởi vì, theo Người: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(1).

Năm 1917, Người trở lại Pháp tham gia phong trào công nhân Pháp. Tháng 11 năm đó, diễn ra một sự kiện rung chuyển thế giới, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử xã hội loài người: Cách mạng tháng Mười Nga giành thắng lợi, đưa học thuyết cách mạng của C.Mác từ sách vở trở thành hiện thực đầu tiên, đưa cách mạng thế giới bước sang thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Ba năm sau, tại Thủ đô Pa-ri diễn ra cuộc gặp lịch sử giữa Nguyễn Ái Quốc và Chủ nghĩa Mác-Lênin qua Bản Sơ thảo lần thứ nhất “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo Nhân đạo của Đảng xã hội Pháp. Luận cương của V.I.Lênin đã chỉ ra con đường cứu nước giải phóng dân tộc, nên “Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(2).

Giữa năm 1923, Người rời Pháp sang Liên Xô. Ở đây, Người tiếp thu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm hiểu kinh nghiệm cuộc Cách mạng Tháng Mười và tham gia vào Quốc tế Cộng sản. Trong cuốn sách Đường Kách mệnh, Người viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(3). “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(4). Và “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức”(5).

Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời nước Nga Xô viết trở về Quảng Châu – Trung Quốc trên cương vị và nhiệm vụ mới: phiên dịch cho đồng chí Bô-rô-din – cố vấn Liên Xô bên cạnh Chính phủ Quốc dân đảng, vừa phụ trách mục tuyên truyền của tờ báo Ca-non Ga-zet-te bằng tiếng Anh của Trung ương Quốc dân đảng. Về gần Tổ quốc là điều kiện thuận lợi để Người truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Người tiếp xúc với những thanh niên yêu nước hăng hái nhất trong nhóm Tâm tâm xã như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong… Trên cơ sở đó, tháng 5-1925, Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên – tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí Trung Quốc, Hội bí mật đưa một số thanh niên trong nước sang Quảng Châu tham gia các lớp học chính trị; ra tờ báo Thanh niên in bằng giấy sáp, bí mật gửi về nước để truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào đấu tranh của công nhân và quần chúng nhân dân. Qua đó, Người tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập một đảng mác-xít ở Việt Nam.

Cuối năm 1929, đầu năm 1930, ba tổ chức cộng sản lần lượt ra đời ở Việt Nam đã khẳng định bước phát triển quan trọng của phong trào cách mạng Việt Nam. Song một nước có ba tổ chức cộng sản cùng hoạt động sẽ không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thống nhất về tư tưởng và hành động. Trước yêu cầu lịch sử đặt ra, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam – Hội nghị từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930 tại Hương Cảng – Trung Quốc.

Hội nghị thông qua Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Cương lĩnh đã chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi chủ nghĩa thực dân Pháp và phong kiến tay sai, giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày. Lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một cương lĩnh chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế thời đại. “Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta là nông dân. Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình”(6).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, liên tiếp giành nhiều thắng lợi.

Năm 1939, đại chiến thế giới II bùng nổ, quân Pháp đầu hàng phát-xít Nhật. Chúng cấu kết chặt chẽ với nhau đàn áp phong trào cách mạng và tăng cường bóc lột nhân dân thuộc địa, làm cho nhân dân Việt Nam “một cổ hai tròng”. Các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương… liên tiếp diễn ra nhưng bị dìm trong bể máu, nhiều cán bộ lãnh đạo của Đảng và hàng ngàn quần chúng ưu tú đã bị bắt, giết hại và tù đày…

Được sự nhất trí của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc rời Mát-xcơ-va với nhiệm vụ đến Trung Quốc để công tác trong Đảng Cộng sản Đông Dương.

Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về tới cột mốc 108 trên biên giới Việt – Trung (thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng). Sau một thời gian khảo sát, nghiên cứu, đánh giá đặc điểm tình hình, từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, tại Khuổi Nậm-Pác Bó-Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Hội nghị đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”. Vì vậy “bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập”(7). Đây là sự chuyển hướng quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, đồng thời đáp ứng đòi hỏi, nguyện vọng của nhân dân là giành độc lập dân tộc, thoát khỏi ách nô lệ. Tư tưởng này không những khắc phục quan điểm không đúng về đấu tranh giai cấp, mà còn tạo điều kiện cho tư tưởng giải phóng dân tộc của Bác tiếp tục phát triển, đem lại thắng lợi cho cách mạng Việt Nam.

Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh – một chủ trương mang tính chiến lược, sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhằm đoàn kết hết thảy các lực lượng yêu nước trong một mặt trận để cứu nước, giải phóng dân tộc. Ở Lào cũng thành lập mặt trận Ai Lao độc lập đồng minh và Cam-pu-chia thành lập mặt trận Cao Miên độc lập đồng minh… thể hiện rõ nét chính sách “dân tộc tự quyết”, hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, giai cấp, các dân tộc Đông Dương, hợp với cuộc đấu tranh chung của toàn thế giới chống phát-xít xâm lược, bảo đảm cho cách mạng Đông Dương thành công.

Trước sự biến đổi sâu sắc của tình hình thế giới và trong nước, bên cạnh việc dự báo thời cơ khởi nghĩa, Đảng và Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đưa ra một sách lược cần kíp là chuẩn bị lực lượng và đưa Đảng vào hoạt động bí mật. Bên cạnh Mặt trận Việt Minh, các đội Cứu quốc quân I, II, III, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời. Dù non trẻ, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng đã liên tiếp đánh thắng hai trận Phai Khắt và Nà Ngần. Cùng với chiến thắng đó, những thắng lợi của Cứu quốc quân, các đội du kích, tự vệ ở các địa phương đã góp phần củng cố, mở rộng khu căn cứ cách mạng Cao-Bắc-Lạng, Thái-Hà-Tuyên và động viên toàn dân đẩy mạnh phong trào đấu tranh, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.

Chiến tranh thế giới II bước vào giai đoạn kết thúc. Ngày 9-5-1945, phát-xít Đức đầu hàng đồng minh. Đêm 13-8-1945, ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 – hiệu triệu toàn dân đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(8). Lúc này Bác đang ốm nặng. Ở lán Nà Lừa đã căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, cả dân tộc muôn người như một vùng lên “chớp thời cơ ngàn năm có một” giành chính quyền về tay mình.

Ngày 15-8-1945, phát-xít Nhật đầu hàng đồng minh. Ngày 19-8-1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23-8, Thừa Thiên Huế giành được chính quyền, vua Bảo Đại thoái vị và nộp ấn kiếm cho cách mạng. Ngày 25-8, nhân dân Sài Gòn-Gia Định giành được chính quyền… Hành động vùng dậy “lay trời chuyển đất” của hàng triệu quần chúng, tạo nên một ưu thế áp đảo, giáng một đòn quyết định vào tất cả cơ quan đầu não của bọn việt gian, làm tê liệt mọi sự kháng cự của các thế lực thù địch, chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra trang sử mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là thắng lợi đầu tiên của một nước thuộc địa nửa phong kiến do đảng cộng sản lãnh đạo, là thắng lợi của đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi này đã tạo ra thế và lực mới, quyết định tiến trình đi lên của dân tộc Việt Nam; là nền tảng vững chắc đoàn kết, huy động sức mạnh của cả nước đồng lòng chung sức làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; anh dũng kiên cường, bền bỉ đấu tranh hơn hai thập kỷ, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam vào mùa xuân năm 1975, thu non sông về một mối, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

______

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 2, tr.274. (2) Sđd, tập 10, tr.127. (3) Sđd, tập 2, tr.268. (4) Sđd, tập 9, tr.314. (5) Sđd, tập 10, tr.128. (6) Sđd, tập 10, tr.9. (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, NXBCTQG, H.2000, tr.55, tr.536. (8) Sđd, tập 3, tr.554.

Phạm Thị Nhung
Trường Sỹ quan Lục quân 2

xaydungdang.org.vn

“Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” để thực hiện “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, người cán bộ, đảng viên muốn xứng đáng với vai trò tiền phong, được nhân dân tin yêu và kính phục, thì phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, chống lại sự suy thoái về đạo đức và lối sống bằng phương thuốc đặc trị – đó là “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

 1. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một mẫu mực của tấm gương đạo đức cách mạng “tận trung với nước, tận hiếu với dân”. Quyết tâm và dũng khí đấu tranh của Người xuất phát từ tấm lòng yêu mến nhân dân, “sức mạnh và uy tín to lớn của Người cũng bắt nguồn từ sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân”[1] và “điều mà Người đã truyền bá, đó cũng là hình ảnh một con người mới, vì mọi người mà phục vụ; điều mà Người khắc sâu trong cả một dân tộc, đó là nền đạo đức trong sáng, một nền đạo đức cao quý mà không có nó thì mọi cuộc cách mạng đều sẽ không thành”[2].

Đặc biệt quan tâm đến vấn đề rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và sự nêu gương của những người cách mạng, không chỉ nói về đạo đức cách mạng, yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thường xuyên phấn đấu rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta còn luôn gương mẫu thực hành đạo dức cách mạng, thống nhất nguyên tắc “nói đi đôi với làm”. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, người cán bộ, đảng viên muốn xứng đáng với vai trò tiền phong, được nhân dân tin yêu và kính phục, thì phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, chống lại sự suy thoái về đạo đức và lối sống bằng phương thuốc đặc trị – đó là “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Mùa xuân năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (Báo Nhân dân đăng ngày 3-2-1969, số 5409), chào mừng 39 năm ngày thành lập Đảng. Trong tác phẩm này, khi khẳng định về Đảng cầm quyền trong sạch vững mạnh “là đạo đức, là văn minh”, là hiện thân của “danh dự và lương tâm của dân tộc”, Người viết: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”[3]. Thực tiễn cho thấy, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và thực hiện thống nhất nước nhà, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đã không ngừng phấn đấu, sẵn sàng hy sinh tất cả vì thắng lợi của cách mạng, vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Trên mọi lĩnh vực sản xuất, chiến đấu, nghiên cứu khoa học, v.v.. cán bộ, đảng viên đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt, lãnh đạo đã gương mẫu đi đầu, trở thành mực thước cho nhân dân noi theo. Những người con ưu tú đó của dân tộc và của Đảng đã thấm nhuần “tư cách người cách mạng”, nên “nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào vì có những người con xứng đáng như thế”[4].

Tuy nhiên, trong những năm tháng cả nước cùng đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược đó, “tâm lý thời bình”, bệnh “ham danh lợi”, cùng những tệ nạn vốn là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân đã trở thành kẻ địch thứ ba luôn ẩn náu trong mỗi con người, là đồng minh của hai kẻ địch (chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù số một nguy hiểm; thói quen cố hữu là kẻ địch to thứ hai), đang làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng. Vì thế, trong tác phẩm này, Người nói: vì cá nhân chủ nghĩa mà không ít người mang trong mình những căn bệnh, những thói hư, tật xấu, “không lo mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”; “ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa”; “tham danh trục lợi”; “tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền”,“xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh” mà trở thành xa lạ với nhân dân; “không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu khó học tập để tiến bộ”[5] nên trở thành người “thoái bộ”. Họ không thích tự phê bình và phê bình, sợ mất thể diện trước quần chúng, nên phạm nhiều sai lầm, khuyết điểm.

Những tệ nạn nghiêm trọng này, một mặt, làm rạn nứt khối đại đoàn kết thống nhất trong Đảng, làm giảm đi nguồn sức mạnh của Đảng, tlàm mất đi tính tiền phong của đội ngũ cán bộ đảng viên và đe dọa sự tồn vong của một Đảng cầm quyền. Mặt khác, cho thấy nhiệm vụ cấp bách và thường xuyên “phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”[6] trên tinh thần “phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng” và “phải hoan nghênh khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên”. Không chỉ nhấn mạnh, coi tự phê bình và phê bình là phương thuốc đặc hiệu để chữa bệnh “cá nhân chủ nghĩa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đồng thời khẳng định rằng: tự phê bình và phê bình một cách chân thành trên cơ sở của tình đồng chí thương yêu lẫn nhau theo một “chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”[7] là những yêu cầu bắt buộc để một Đảng Mácxít luôn trong sạch, vững mạnh.

Luôn lo lắng và quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, bận tâm và trăn trở về nhiệm vụ trọng yếu này, mùa xuân cuối cùng cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã để lại một di huấn thiêng liêng cho toàn thể cán bộ, đảng viên của Đảng, đó là tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Hàm ý sâu sắc trong di huấn của Người là Đảng không chỉ thực hiện tuyên truyền về đạo đức cách mạng chung chung không thôi, mà Đảng thường xuyên “phải bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật” cho cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ lãnh đạo chủ chốt. Vì rằng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, Đảng không chỉ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng bằng đường lối, chủ trương đúng, Đảng còn lãnh đạo cách mạng bằng sự mực thước và nêu gương của đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng. Cho nên, trong mọi hoàn cảnh, thì, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, hướng lòng mình đến chí công vô tư là “một cách tốt nhất để xây dựng Đảng”, thiết thực làm cho Đảng xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc.

2. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: vì sa vào chủ nghĩa cá nhân nên một số cán bộ, đảng viên đã thoái hóa, biến chất, kéo bè kéo cánh, vi phạm kỷ luật Đảng,v.v.. gây mất đoàn kết trong Đảng, từ đó làm giảm sút niềm tin của nhân dân với Đảng. Và 43 năm sau khi Người viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, tình trạng “cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ…” đã ngày càng trở nên trầm trọng.

Nhất là khi “công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”; khi “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”, thì rất kịp thời và “đặc hiệu”,Nghị quyết số 12-NQ/TW – Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI): “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã ra đời vào mùa xuân năm 2012.

Từ những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trong tác phẩm này và từ nội dung của Nghị quyết cho thấy, trong bối cảnh mới, những vấn đề quan trọng: “Học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, chỉnh đốn tổ chức – là những việc cần kíp của Đảng”[8] càng trở nên có ý nghĩa thời sự. Theo đó, để Nghị quyết số 12 đi vào cuộc sống, thì một nhiệm vụ vừa xuyên suốt và cấp bách cần phải thực hiện là phải “kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng”.

Để Đảng Cộng sản Việt Nam phát huy được sức mạnh nội lực của trí tuệ và đạo đức, ngày một trưởng thành và vững mạnh, hoàn thành nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó; để cán bộ, đảng viên thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân thì mỗi người phải không ngừng học tập, thực hiện việc rèn luyện theo 4 nguyên tắc đạo đức cách mạng, làm theo tấm gương của Bác Hồ – tấm gương của một người luôn xa lạ với mọi thứ chủ nghĩa cá nhân. Đó là, cùng với việc phải luôn Nói đi đôi với làm, “cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”[9]; “đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”, cán bộ, đảng viên- nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chủ chốt phải thấm nhuần, thực hiện sự Nêu gương về đạo đức.  một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền, nên “lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng”. Trong quá trình triển khai thực hiện, chú trọng giải pháp Xây đi đôi với chống, kết hợp giữa Xây và chống, để đồng thời với việc xây dựng và thực hiện những chuẩn mực đạo đức cách mạng là việc kiên quyết phòng chống và đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, nhằm vừa nhân rộng cái tốt, vừa phê phán, loại bỏ dần cái xấu. Và để mỗi người thật “ít lòng ham muốn về vật chất”, thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, đời tư trong sáng, thì nhất định Phải tu dưỡng suốt đời. Vì nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh thì “trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, có đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.

Làm tốt theo 4 nguyên tắc Người từng chỉ rõ này và “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, khách quan, không nể nang, né tránh” theo tinh thần của Nghị quyết số 12, trong toàn Đảng phải thực hiện nghiêm túc “nguyên tắc tập trung dân chủ” để Đảng ta luôn thống nhất trong tư tưởng, ý chí và hành động; phải nghiêm khắc và chân thành “tự phê bình và phê bình” – “cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”. Quan trọng nhất, cần thiết nhất, phải làm thật tốt, thật hiệu quả “công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống” của cán bộ, đảng viên nói chung và “nêu gương những việc làm đúng, gương người tốt” của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt nói riêng, để “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, thì nhất định sẽ góp phần ngăn chặn và xóa đi “môi trường để chủ nghĩa cá nhân vụ lợi, thực dụng phát triển”; để mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần “công bình, chính trực” khi thực hiện chức trách người “công bộc” của nhân dân; gần gũi, lắng nghe và gắn bó mật thiết hơn với nhân dân – “xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”./.

TS. Văn Thị Thanh Mai


[1] Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb.KHXH, H,1990, tr.120.
[2] Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, H,1971, , t.III, tr.90
[3], [4], [5], [6], [7], [9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, t.12, tr.438, 438, 438-439, 439,439 439,
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập,Sđd, t. 6, tr.167

Theo Tạp chí tuyên giáo, Thứ Tư 01/2/2012

tuyengiao.vn

Xuân Nhâm Ngọ và tác phẩm ‘Lịch sử nước ta’ của Bác Hồ

TS. CHU ĐỨC TÍNH (Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Những trang vàng của lịch sử dân tộc Việt Nam ở thế kỷ 20 được tiếp nối một cách sinh động hơn, đặc biệt hơn bởi được lưu giữ về cuộc đời, sự nghiệp của người Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Nhưng đứng ở góc độ sử học, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ làm rạng danh những trang vàng đó, mà Người còn là một sử gia lớn. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ 20, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã lấy các đề tài lịch sử để sáng tác các tác phẩm lớn, như: Kịch Con rồng tre, Lời than vãn của bà Trưng Trắc… để tuyên truyền thức tỉnh đồng bào trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Bác Hồ làm việc trong hang đá ở Việt Bắc năm 1951. Ảnh tư liệu

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, mùa xuân năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người đã về sống và làm việc tại hang Pác Bó – Cao Bằng. Ý thức sâu sắc mục đích của việc học tập, nghiên cứu lịch sử để tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, từng bước đưa họ vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, cuối năm 1941, Người đã viết cuốn Lịch sử nước ta. Ðây là tập diễn ca lịch sử gồm 208 câu lục bát, phần kết có 30 mốc lịch sử dân tộc quan trọng.

Tác phẩm Lịch sử nước ta do Việt Minh tuyên truyền Bộ ấn hành ra mắt lần đầu tiên giữa ngàn trùng Pác Bó tháng 2-1942, vào đúng dịp Tết Nguyên đán Nhâm Ngọ. Và Xuân Nhâm Thìn năm nay (2012), vừa tròn 70 năm ra đời tác phẩm.

Chỉ với 208 câu thơ lục bát, Nguyễn Ái Quốc đã chọn lọc, xác định giới thiệu những nhân vật, những sự kiện chân thực khách quan đủ để khôi phục chính xác bức tranh hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc với những nét cơ bản về truyền thống yêu nước, đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Mở đầu tác phẩm, Bác đánh giá cao vấn đề nghiên cứu lịch sử nguồn gốc dân tộc và tự hào về truyền thống tốt đẹp của tổ tiên:

“Dân ta phải biết sử ta

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam…”.

Ðọc tác phẩm, chúng ta nhận thấy lịch sử dân tộc không còn là lịch sử của các triều đại với vai trò tuyệt đối của các vua chúa, mà là lịch sử của quần chúng nhân dân ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi thành phần:

“Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn”.

Quan trọng nhất là Lịch sử nước ta đã vận dụng sáng tạo quan điểm duy vật mác-xít khi bình luận, giải thích sự kiện, nhân vật, phá tan các quan điểm duy tâm, thần bí, các tư tưởng “thiên mệnh”, “ngụy”, “chính thống”… trong các sách sử thực dân, phong kiến…

Ôn lại lịch sử dân tộc, Lịch sử nước ta đã giúp người đọc nắm được bài học kinh nghiệm cốt tử, như Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định ở hai câu thơ kết thúc phần diễn ca của tác phẩm:

“Dân ta xin nhớ chữ đồng
Ðồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.

Tin tưởng vào truyền thống của dân tộc và sức mạnh đoàn kết của toàn dân sẽ đưa cuộc đấu tranh đến bến bờ thắng lợi, nên kết thúc tác phẩm Nguyễn Ái Quốc đã tiên đoán một dấu mốc lịch sử quan trọng: “1945, Việt Nam độc lập”.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh viết cuốn Lịch sử nước ta, trước hết, làm tài liệu học tập cho cán bộ trong các lớp huấn luyện ở chiến khu, đồng thời, với mục đích phổ biến rộng rãi trong nhân dân, để giáo dục và ôn lại truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc. Người khẳng định từ nam phụ lão ấu, người bình dân hay tầng lớp phú hào, quý tộc đều có lòng yêu nước nồng nàn, anh dũng chống ngoại xâm, để giành lấy độc lập cho nước nhà. Qua đó, Người động viên, khích lệ nhân dân ta phát huy truyền thống yêu nước, nâng cao lòng tự hào dân tộc và tinh thần đoàn kết đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập tự do.

Cũng như chùm các bài ca viết cùng thời gian nhằm tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, khi viết cuốn Lịch sử nước ta theo diễn ca lịch sử, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đặc biệt chú ý đến đặc điểm của một số tác phẩm diễn ca lịch sử dân tộc viết bằng chữ Nôm từ thế kỷ 17. Các tác giả của những tác phẩm đó dù mang quan điểm sử học phong kiến nhưng cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc truyền thống yêu nước của dân tộc. Quan trọng nhất là tác phẩm của họ đạt thành công lớn trong việc chuyển tải tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, có sức sống rộng rãi trong quần chúng bằng hình thức dân gian truyền miệng, lưu truyền từ đời này qua đời khác.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chọn thơ ca làm phương tiện thể hiện và chuyển tải những kiến thức lịch sử cơ bản cho người dân vì thực tế đất nước ta khi đó, có hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ và còn trong đói nghèo. Ðồng thời, Người cũng hiểu sâu sắc rằng, thơ ca rất gần gũi, quen thuộc với người dân nước Việt, nhờ đặc tính có vần, có điệu nên dễ thuộc, dễ nhớ, dễ đi sâu vào lòng người.

Nghiên cứu và hiểu rõ hoàn cảnh lịch sử Việt Nam lúc đó, càng nhận thức hết giá trị thực tiễn lớn lao của tác phẩm Lịch sử nước ta. Tác phẩm đã khéo kết hợp được hai yêu cầu khoa học và nghệ thuật dưới hình thức thơ lục bát rất quen thuộc với nhân dân ta. Lời thơ ngắn gọn, dung dị, dễ hiểu, nhưng rất súc tích, giúp người đọc ôn lại lịch sử vẻ vang của dân tộc và nhận thức đúng đắn lịch sử của đất nước. Về phương pháp viết sử, Nguyễn Ái Quốc đã chọn lọc sự kiện, tài liệu chứ không sa đà vào các chi tiết lịch sử. Quan trọng nhất là Nguyễn Ái Quốc đã chú trọng nhận định, đánh giá khái quát các sự kiện và nhân vật lịch sử tiêu biểu.

Ðể giới thiệu tác phẩm Lịch sử nước ta tới đồng bào, đồng chí, trong bài viết “Nên học sử ta”, đăng trên báo Việt Nam độc lập (số 117, ngày 1-2-1942) lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh mục đích nên học lịch sử dân tộc và khẳng định lịch sử  nước ta dạy cho ta bài học: “lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do”. Cuối bài này có ghi thêm “Vừa mới xuất bản quyển “Sử nước ta” bằng thơ. Hay lắm, giá mỗi quyển 1 hào ai muốn mua hỏi cán bộ địa phương”.

Sau đó, tác phẩm trên được tái bản nhiều lần. Hiện nay, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam còn lưu được một số bản in cuốn Lịch sử nước ta xuất bản năm 1942, 1947 và 1949. Năm 1977, tác phẩm này đã được in trong cuốn Thơ ca cách mạng ở Việt Bắc của Vũ Châu Quán – Triều Ân – Hoàng Quyết (Nxb Văn hóa dân tộc). Ðến năm 1983, Lịch sử nước ta mới được chính thức in trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, có nội dung đúng như văn bản do Việt Minh tuyên truyền Bộ xuất bản tháng 2-1942.

Sau tác phẩm Lịch sử nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục khai thác các đề tài lịch sử dân tộc phục vụ cho nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền các tầng lớp nhân dân thêm yêu mến các bậc tiền nhân, trân trọng các di sản và truyền thống dân tộc. Ðặc biệt hơn cả là vào các dịp đầu xuân, Người gửi tới đồng bào, chiến sĩ cả nước những bài thơ chúc Tết độc đáo. Nhưng Lịch sử nước ta mãi mãi là một tác phẩm giá trị cả ở góc độ sử học và văn học, có vị trí quan trọng trong kho tàng lịch sử và văn học mà Người đã để lại. Lịch sử nước ta đã in sâu vào tâm trí của nhiều đồng bào, đồng chí. 70 năm đã trôi qua kể từ lần đầu tiên tác phẩm Lịch sử nước ta được xuất bản, đến nay có những người thuộc thế hệ những năm tháng đó vẫn còn thuộc lòng toàn văn hoặc từng đoạn của tập diễn ca này. Ðây chính là bài học kinh nghiệm quý giá đối với những người làm công tác biên soạn sách giáo khoa lịch sử các cấp phổ thông hiện nay.

Xuân Nhâm Thìn này, trong bối cảnh toàn Ðảng, toàn quân và toàn dân ta đang tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, không gì thiết thực hơn đối với những người làm công tác giáo dục, giảng dạy, nhất là ở bộ môn Lịch sử, chính là học tập và làm theo phương pháp viết và dạy lịch sử của Bác Hồ. Ðó là điều hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học sử đối với thế hệ trẻ ngày nay.

tutuonghochiminh.vn

Đánh giá cán bộ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong công tác xây dựng Đảng, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng là nhiệm vụ hết sức quan trọng, đây là nhiệm vụ mang tính chính trị, khoa học và nhân văn.

Học tập tư tưởng của Bác và thực tế cho ta thấy,trongcông tác tổ chức cán bộ nói chung và trong việc nhận xét đánh giá cán bộ, thìcông tác đánh giá cán bộ là khâu quan trọng nhất và cũng khó nhất, bởi nếu đánh giá đúng, sử dụng đúng, bố trí phù hợp thì sẽ có tác động tích cực trong thực hiện nhiệm vụ; nếu làm không đúng qui trình, không đánh giá mang tính tập thể, thì dễ phiến diện hoặc không chính xác, đánh giá không đúng, sẽ dẫn đến bố trí sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm không có hiệu quả,có những lúc ảnh hưởng đến công tác tổ chức cán bộ;xét về khía cạnh tâm lý, thì nó hết sức nhạy cảm, vì nó tác động trực tiếp đến con người, tác động về sinh mệnh chính trị.Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác đánh giá cán bộ; Người có những nhìn nhận hết sức thấu đáo, chí tình về mỗi người, Người đã nhìn nhận đặt “tên” cho mỗi đồng chí theo tính cách, chí hướng cách mạng từ đó mỗi người và mọi người nhìn nhận thấy như vậy là đúng; Người đã chỉ ra rằng mỗi người đứng đầu, mỗi tổ chức để nhận xét, đánh giá cán bộ thấu tình, đạt lý phải có sự nhìn nhận và có phương pháp; Người viết “Kinh nghiệm cho biết: mỗi lần xem xét lại nhân tài, một mặt tìm thấy những nhân tài mới, một mặt khác thì người hủ hóa cũng lòi ra”(1). Chúng ta thấy rằng thực hiện việc nhận xét đánh giá cán bộ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều mặt và khía cạnh như, vị trí, mối quan hệ của người được đánh giá với tập thể, với cấp ủy, với cán bộ lãnh đạo; về trình độ, sự nhìn nhận và uy tín của người đứng đầu tập thể, cơ quan,…Trong quá trình thực hiện nhận xét, đánh giá cán bộ mỗi cấp, mỗi ngành với qui trình làm thì tuân thủ theo qui định; song vấn đề đặt ra là tất cả những đánh giá về cán bộ đã thật sự khách quan, công tâm và vô tư chưa? Hay thường nói “nặng” về ưu điểm; nói “nhẹ” phê bình chung chung về khuyết điểm, tồn tại; tập thể tham gia nhận xét, đánh giá đã thật sự khách quan, vô tư và công tâm không; có nhìn nhận thật sát, thật đúng với bản chất của cá nhân được đánh giá và có khuyến khích cho tập thể nhận xét, đánh giá hay không? và mọi người có nói hay chỉ “im không nói”? hay “im lặng để xem”. Một biểu hiện khác nữa trong đánh giá cán bộ là “dễ” với người, để người “dễ” với mình; hoặc nhận xét cán bộ là dựa theo ý, theo nhìn nhận của thủ trưởng cơ quan, đơn vị, nếu lãnh đạo nhận xét, góp ý thẳng thắn thì cán bộ sẽ được tập thể góp ý một cách chân tình; hoặc ngược lại nếu đối tượng được góp ý, phê bình bị lãnh đạo chỉ trích gay gắt, thì cán bộ đó có thể sẽ có những nhận xét chưa thật xác đáng. Một khía cạnh khác cũng có thể xảy ra trong nhận xét, đánh giá cán bộ là có những người trên cương vị của mình “tài” không bao nhiêu nhưng lại sống cơ hội, làm việc khéo che đậy tồn tại, nhược điểm…thì được “coi” là cán bộ tốt, “mẫn cán”; ngược lại có những người thật sự có năng lực nhưng sống không “biết”, ngay thẳng và cương trực, thì ít được quan tâm.

Mỗi chúng ta, đều nhận thức và thấy rằng Đảng đã xác định: Xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Thực hiện nhiệm vụ chính trị đó, công tác cán bộ có ý nghĩa quyết định, vì “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cách mạng nói chung và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng phát triển kinh tế, ổn định an ninh chính trị thì đòi hỏi việc nhận xét, đánh giá cán bộ phải làm chặt chẽ, chính xác; có như vậy mới củng cố và làm vững tin trong nhân dân đối với Đảng và công cuộc xây dựng đưa đất nước đi lên Chủ nghĩa xã hội.

Vậy nhận xét, đánh giá cán bộ như thế nào là đúng?

Chúng ta cần nhận thức và quán triệt rằng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quan điểm, nguyên tắc yêu cầu chung về đánh giá cán bộ do Đảng đã qui định. Để nhìn nhận đúng, đánh giá chính xác Đảng đã chỉ đạo, lãnh đạo các cơ quan chức năng đi sâu nghiên cứu, hoàn thiện và cụ thể hóa công tác nhận xét, đánh giá cán bộ từng lĩnh vực, từng thời điểm, từng giai đoạn để ngày càng đáp ứng tốt hơn việc thực hiện nhiệm vụ mỗi ngành, mỗi địa phương. Tuy nhiên, để sát yêu cầu từng loại và cụ thể ở từng địa phương, từng ngành, tùy địa bàn, nhiệm vụ cụ thể thì có sự linh hoạt qui định những điều kiện cần ở mỗi cán bộ phải có để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Việc đánh giá cán bộ, một nguyên tắc cơ bản có thể nói là “bất dy bất dịch” phải khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển; để thực hiện tốt nguyên tắc này đòi hỏi những cơ quan, cán bộ có trách nhiệm thực hiện phải nhìn nhận, đánh giá cán bộ có phương pháp khoa học, logic; phân biệt được hiện tượng với bản chất, có sự phân tích biện chứng để đánh giá đúngbố trí sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm có hiệu quả, có tác dụng tích cực trong việc thực hiện nhiệm vụ.

Công tác đánh giá cán bộ trong những năm qua, được các địa phương, đơn vị thực hiện thường xuyên nghiêm túc theo quy chế, quy định định kỳ; cán bộ diện đánh giá hàng năm là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp từ tỉnh đến cơ sở, đã gắn đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý với đánh giá cán bộ, công chức và  phân loại đảng viên hàng năm. Cán bộ cấp nào quản lý thì cấp đó cho ý kiến kết luận đánh giá xếp loại cán bộ. Những cán bộ có dư luận của quần chúng về đạo đức, phẩm chất, về năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành, được cấp uỷ có thẩm quyền gợi ý để cán bộ đó kiểm điểm, liên hệ trong đánh giá có khuyết điểm hay không khuyết điểm để kết luận đúng sai, nếu có vi phạm thì phải xử lý theo quy định. Với động thái này đã có tác dụng tích cực đến đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, có sự rèn luyện, tu dưỡng trong công tác, sinh hoạt.

Tiêu chí đánh giá cán bộ được cụ thể thành các tiêu chí:

– Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định đường lối đổi mới; nhận thức và chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

– Thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao theo yêu cầu về thời gian khối lượng, chất lượng; tinh thần trách nhiệm, hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ.

– Ý thức tổ chức kỷ luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, tinh thần tự phê bình và phê bình. Tinh thần thái độ công tác, phục vụ nhân dân; giữ gìn và bảo vệ đoàn kết trong nội bộ.

– Tinh thần học tập, tự nghiên cứu nâng cao trình độ, năng lực công tác.

– Gương mẫu về đạo đức lối sống, thực hiện các nghĩa vụ của công chức, không vi phạm những điều cán bộ đảng viên không được làm…

Đối với cán bộ diện đề bạt, bổ nhiệm làm cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, khi hết thời gian bổ nhiệm đều thực hiện việc đánh giá để bổ nhiệm lại theo quy định. Những cán bộ được đánh giá chưa hoàn thành nhiệm vụ hoặc vi phạm chính sách, pháp luật thì không bổ nhiệm lại, đã có tác dụng thiết thực, đánh giá đúng, sát thực đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở từng địa phương, đơn vị.

Trên đây là những ý kiến cá nhân xin đưa ra trao đổi, mong rằng khi mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý trong quá trình thực thi chức trách cố gắng tu dưỡng, rèn luyện tiếp tục thực hiện chức trách, nhiệm vụ ngày một tốt hơn để đưa tỉnh Bình Định hội nhập phát triển nhanh, mạnh và vững vàng hơn./.

Võ Xuân – Ban Tổ chức Tỉnh ủy  (Cập nhật ngày 05-07-2011)

snv.binhdinh.gov.vn

Học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân trong giai đoạn hiện nay

Hiện nay, trong công cuộc đổi mới, thực hiện Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế có nhiều thuận lợi to lớn, nhưng cũng lắm nguy cơ, thách thức phức tạp, hơn lúc nào hết chống chủ nghĩa cá nhấn là vấn đề đã và đang đặt ra bức thiết cho quá trình xây dựng phát triển đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình xây dựng, phát triển hội nhập ngày càng sâu và toàn diện vào nền kinh tế thế giới, những mặt trái của cơ chế thị trừơng xuất hiện ngày càng nhiều và tinh vi hơn tác động mạnh đến việc xây dựng phát triển kinh tế, tác động đến công tác xây dựng Đảng, tác động trực tiếp vào đội ngũ đảng viên và cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Trong quá trình thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh việc ngăn chặn, chống CNCN đã và đang là vấn đề cấp bách của toàn xã hội. Chúng ta thấy rằngviệc xây dựng qui chế, qui định, kû c­¬ng, kû luËt ngày càng chặt chẽ và được chú ý nhưng việc thực hiện ch­ưa thật sự được mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực và mỗi cán bộ đảng viên tuân thủ một cách nghiêm túc và triệt để.

Để nhận diện ra được, đề ra biện pháp đề phòng và chống một cách triệt để nhất, chúng ta phải nhìn nhận CNCN nó như thế nào?

Dưới góc độ tìm hiểu, nghiên cứu xin nêu ra một số hình thức biểu hiện của Chủ nghĩa cá nhân.

CNCN biểu hiện dưới nhiều hình thức, trong mọi khía cạnh, mọi lĩnh vực, nhưng tựu trung có thể thấy, người mang tư tưởng CNCN là muốn mọi người vì mình, muốn mình là “trung tâm”, “trong đầu luôn thể hiện cái tôi là trên hết” và không muốn ai hơn mình; đòi hưởng thụ, đòi thỏa mãn ham muốn cá nhân; không muốn khổ trước, sướng sau mọi người. Bác Hồ đã chỉ ra “Họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi, họ muốn lựa chọn công tác theo ý thích cá nhân mình, không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ. Họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng” từ những phân tích đó Bác cũng chỉ ra những ai như thế, những cá nhân có tư tưởng như vậy là bị CNCN thao túng “dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng cho cách mạng” từ đó chúng ta thấy rằng trong nền kinh tế thị trường, những mặt trái của cơ chế sẽ tác động vào mỗi người trong từng lúc, từng nơi, tác động vào mọi ngõ ngách cuộc sống, nếu không có quan điểm lập trường vững vàng, thì không sao tránh khỏi, sẽ bị sa ngã là điều tất yếu.

CNCN còn là thái độ kiêu ngạo, công thần, quan liêu, Bác chỉ ra: một số ít đảng viên bị CNCN trói buộc…họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; họ không tự phê bình hoặc phê bình không thật thà, nghiêm chỉnh; họ sợ tự phê bình sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng, họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng. Ta thấy, tự cá nhân những cán bộ như vậy đã đánh mất niềm tin của mọi người. Bản thân những người đó tự xem mình cái gì cũng giỏi, xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy thiên hạ, họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Những người như vậy còn tự cho mình được quyền hành động tự do, vô tổ chức, Bác nêu rõ: những đối tượng cán bộ như thế làm giảm sút niềm tin, ngăn trở sự nghiệp của Đảng, cản trở bước đi lên của Cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, đó là tình trạng không chấp hành chỉ thị, nghị quyết, trên bảo dưới không nghe; hoặc mặc dù được phổ biến quán triệt vì sự nghiệp chung, tổng thể, nhưng khi thực hiện lại nửa vời, làm qua loa, đại khái, chiếu lệ. Như phân tích, CNCN có lúc biểu hiện một cách tinh vi, kín đáo, nhưng cũng có những lúc thể hiện một cách trắng trợn, lộ liễu, từ đó Bác nói: CNCN nó làm cho một số cán bộ, đảng viên xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách, kỷ luật của Đảng; làm cho một số cán bộ, đảng viên tha hóa, mất phẩm chất, đạo đức. Dẫn đến đẻ ra hàng trăm thứ “bệnh nguy hiểm”: bè phái, quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, tham ô, lãng phí…dẫn đến mất lòng tin của dân đối Đảng, đối với chế độ.

Để chống lại CNCN,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng: Đối với tự mình, đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ; phải tìm tòi, học hỏi cầu tiến bộ; đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người. Đối với công việc; việc gì cũng phải điều tra cho rõ ràng, xem xét kỹ, khi thực hiện phải làm đến nơi đến chốn, chống tư tưởng nửa vời, được chăng hay chớ, trước hết phải nghĩ cho kỹ, có việc làm trước mắt có hiệu quả, nhưng về sau không có lợi. Đối với đồng chí phải thân ái với nhau, không che đậy những điều dở; học lấy cái tốt; không tranh giành ảnh hưởng của nhau; không ghen ghét đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị…Đối với nhân dân, phải biết lắng nghe và cố gắng nghe được nhiều thứ, phải hiểu được nguyện vọng của nhân dân, biết được sự cực khổ của dân; phải tôn kính dân, phải làm gương, mọi cán bộ phải lấy dân làm gốc. Trong giai đoạn hiện nay tỉnh Bình Định đã và đang cùng cả nước bước vào hòa nhập với nền kinh tế thế giới thì mỗi cán bộ, công chức, mỗi đảng viên phải thật sự xây dựng là người “trung thành, sáng tạo, tận tụy, gương mẫu” nghĩa là:

Thứ nhất: Trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam; kiên định lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nói và làm đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất, đạo đức, nhận thức chính trị của người cán bộ, công chức, viên chức; tích cực đấu tranh phê bình và tự phê bình.

Thứ hai:Nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào hoạt động thực tiễn. Tìm  tòi nghiên cứu, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, công nghệ; việc với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao nhất. Tích cực học tập, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm chủ các thiết bị khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong quá trình thực thi công vụ.

Thứ ba:Khi thực thi công vụ phải tận tụy hết mình, thực hiện mình vì mọi người; không lợi dụng vị trí, chức vụ được giao gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân. Nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “cán bộ là công bộc của nhân dân”. Hoàn thành tốt công việc được giao với chất lượng tốt nhất, đảm bảo thời gian, tiến độ theo yêu cầu nhiệm vụ.

Thứ tư:Gắn bó mật thiết với nhân dân, đồng nghiệp; sống trong sạch, lành mạnh, giản dị, tiết kiệm. Tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước và hành động cách mạng. Đoàn kết xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh; xây dựng gia đình văn hóa; kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tham nhũng, lãng phí, cửa quyền, quan liêu và các tệ nạn xã hội; tích cực tham gia các hoạt động xã hội.

Chúng ta thấy rằng trong quá trình lãnh đạo xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội Đảng ta đã, đang và rất coi trọng quán triệt học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh về chống CNCN; đây là nhiệm vụ cực kỳ bức thiết, có ý nghĩa to lớn nhiều mặt và là một công việc tất yếu của cách mạng. Không thể khác – nếu muốn giữ vững là một Đảng chân chính của giai cấp công nhân, để xây dựng thành công CNXH; bởi vậy hơn lúc nào hết, mỗi đảng viên, cán bộ phải triệt để chống CNCN, đem hết toàn tâm, toàn trí và toàn lực cống hiến xây dựng đất nước nói chung và tỉnh Bình Định đi lên.

Với nhìn nhận của cá nhân về những biểu hiện của Chủ nghĩa cá nhân và những nghiên cứu để góp phần chống tư tưởng CNCN trong giai đoạn hiện nay; xin nêu ra để cùng nghiên cứu, trao đổi.

Tôn Võ Xuân – Ban Tổ chức Tỉnh ủy  (Cập nhật ngày 29-09-2011)

snv.binhdinh.gov.vn

Nghĩ về tình cảm của Bác Hồ với Phụ nữ Việt Nam

Suốt cả cuộc đời mình, Bác đã để lại cho đời nhiều thứ quý giá, trong đó có một suối nguồn tình cảm sâu nặng nghĩa tình, nâng niu quý trọng mà Bác đã dành cho nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam.

443.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hội nghị phụ nữ tham gia công tác chính quyền. Ảnh: Tuấn Anh

“Bác sống như trời đất của ta / Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa / Tự do cho mỗi đời nô lệ / Sữa để em thơ, lụa tặng già” (Bác ơi – Tố Hữu). Suốt cả cuộc đời mình, Bác đã để lại cho đời nhiều thứ quý giá, trong đó có một suối nguồn tình cảm sâu nặng nghĩa tình, nâng niu quý trọng mà Bác đã dành cho nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam.

Còn nhớ, trong những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, trong những vấn đề Người quan tâm, Người đặc biệt chú ý đến trẻ em và phụ nữ ở các thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng, Người cho đó là những lớp người khổ nhất trong những người khổ cực.

Người căm ghét bọn thống trị luôn “đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người phụ nữ… và xúc phạm tới phong hóa, trinh tiết và đời sống của họ” (Bản án chế độ thực dân). Mỗi một phụ nữ, một trẻ em bị đánh, bị giết đều làm tác giả đau đớn. Người đã từng thốt lên: “Một em bé bị lột trần truồng, một thiếu nữ ruột gan lòi ra, cánh tay trái cứng đờ giơ nắm tay lên chĩa vào ông trời vô tình”.

Có gì xúc động hơn, khi thấy nỗi lòng Người đồng cảm với nỗi lòng của những người mẹ mất con, người vợ mất chồng trong vụ Pháp giết hại những người Việt Nam tại Khám lớn Sài Gòn. Người đã từng lên tiếng vạch trần những hành động dã man của lũ mặt người dạ thú với những người phụ nữ “Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược của bọn người xâm lược…”, chúng “mắng một phụ nữ Nam An là con đĩ, con bú dù… Ngay giữa chợ Bến Thành ở Sài Gòn… bọn gác chợ người Âu cũng không ngần ngại dùng roi gân bò, dùi cui đánh người phụ nữ bản xứ…”.

Có phải chăng đó chính là tình cảm, là động lực giúp Người vượt qua mọi khó khăn gian khổ trong cuộc hành trình 30 năm trời tìm đường cứu nước để rồi, khi trở về đất Mẹ, Người không phút ngơi nghỉ để cùng Ðảng và nhân dân ta làm nên sự tích thần kỳ: Lật nhào chế độ phong kiến thực dân, dựng nên một nước Việt Nam độc lập dân tộc và dân chủ tiến bộ.

Ngay trong cuộc Tuyển cử phổ thông đầu phiếu ngày 6-1-1946, Người vui sướng nhận ra rằng “Phụ nữ là tầng lớp đi bỏ phiếu hăng hái nhất”. Sau khi đã trở thành Chủ tịch nước, Người vẫn luôn hướng tình cảm của mình đối với những người phụ nữ. Năm 1952, nhân kỷ niệm Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế phụ nữ, Người đã gửi thư ngợi khen: “Non sông gấm vóc Việt Nam do Phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Những năm tháng tại đầu nguồn Pác Bó, trong diễn ca “Lịch sử nước ta”, Người đã khẳng định: “Phụ nữ ta chẳng tầm thường / Ðánh Ðông, dẹp Bắc làm gương để đời”; “Hai Bà Trưng có đại tài / Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian / Ra tay khôi phục giang san / Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta”. Và hình ảnh Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng cũng được Người khắc họa: “Tỉnh Thanh Hóa có một bà / Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi / Tài năng dũng cảm hơn người / Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương”. Người từng căn dặn: “Hai Bà Trưng để lại cho phụ nữ Việt Nam một truyền thống vẻ vang là dũng cảm kháng chiến…”, thì: Phụ nữ Việt Nam ta cũng phải xứng đáng là con cháu Hai Bà.

Và vì thế Người luôn tự hào rằng “Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng… Phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng”, Cả trong kháng chiến chống Pháp. Rồi chống Mỹ “ta cũng có nhiều anh hùng là phụ nữ”. “Từ trước đến nay phụ nữ Việt Nam ta có rất nhiều đóng góp cho cách mạng, phụ nữ ta rất đáng kính, phụ nữ ta đã có nhiều tiến bộ”. Tuy nhiên, “Bác còn mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơn nữa”.

Người còn chỉ ra rằng “Hiện nay, trong các ngành, số phụ nữ tham gia còn ít. Ðảng và Chính phủ rất hoan nghênh, sẵn sàng cất nhắc và giao cho phụ nữ những chức trách quan trọng”. Muốn vậy, bản thân phụ nữ phải: Gắng học tập, chính trị, học tập văn hóa kỹ thuật; nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ XHCN; Hăng hái thi đua thực hiện “Cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình”. Chúc chị em phụ nữ cố gắng học tập, tiến bộ nhiều, tiến bộ mãi để xứng đáng làm chủ nước nhà” (Bài nói chuyện tại Ðại hội phụ nữ tích cực Thủ đô lần thứ hai-8-3-1960).

Với Người, việc cất nhắc và giao trọng trách cho phụ nữ phải gắn liền với việc giải phóng phụ nữ, bởi “Ðể xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”. Thế nhưng “Muốn làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ ta phải xóa bỏ cái tâm lý tự ti…phải có ý chí tự cường tự lập”. Bởi vậy, những gì trái với quy tắc nam nữ bình đẳng Người đều có thái độ kiên quyết phản đối.

Chuyện rằng, tháng 1-1963, trong phiên họp của Bộ Chính trị để bàn về những vấn đề quan trọng của cách mạng, Người đã đọc một bức thư của một phụ nữ trong cuộc họp này, đó là bức thư một nữ cán bộ cách mạng ở Vĩnh Phúc bị chồng đối xử đánh đập tàn tệ mà không được chính quyền đoàn thể can thiệp, cán bộ đảng viên thì lẩn tránh. Bác xem đó là tội ác, là tàn dư còn lại tồi tệ nhất của chế độ cũ và yêu cầu cuộc họp ưu tiên giải quyết trường hợp này trước.

Những người phụ nữ Việt Nam thật sự xúc động và tri ân Người khi biết rằng, vào những năm tháng cuối cùng của đời mình, Người đã để lại cho chúng ta bản Di chúc quý giá, trong đó có những dòng viết riêng cho phụ nữ Việt Nam.

Sinh thời, bác Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại rằng: “Vào tháng 5-1968, Bác Hồ đọc lại bản Di chúc và thấy cần phải viết thêm mấy điểm về phụ nữ”. Thế rồi, trong bản Di chúc Bác viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Ðảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” (Di chúc). Chỉ thế thôi, nhưng đó vừa là tình cảm tràn đầy, vừa là huấn thị thiêng liêng của Bác.

Trong tác phẩm “Ðường Kách mệnh”, Bác cũng từng viết: “Ông Các Mác nói rằng: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi: “ông Lê-nin nói: Ðảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công…”. Ôi, những dấu ấn đó của Người vẫn còn in mãi trong ta…

 Nguyễn Thị Thọ.

hochiminhhoc.com

Tết trồng cây nhớ Bác Hồ

Ngày Tết ở nước ta có nhiều phong tục đẹp, nhưng có lẽ đẹp nhất là một phong tục mới ra đời cách đây hơn 50 năm, phong tục Tết trồng cây do Bác Hồ khởi xướng.

Đi thăm quốc gia nào, dù châu Á như Ấn Độ, châu Âu như Nga, Bác đều trồng cây lưu niệm. Nguyên thủ quốc gia nào đến thăm Việt Nam, Bác đều mời trồng cây. Nhớ miền Nam, Bác trồng dừa, vú sữa quanh nơi ở. Riêng với Hà Nội, Bác trồng nhiều cây nhất. Cây đa Bác trồng ở Đông Anh, ở xã Vật Lại (Ba Vì), ở công viên Thống Nhất giờ đã tỏa bóng mát xùm xòa. Cây đa ở công viên Thống Nhất, sau mấy chục năm đã tỏa bóng che mát một vùng bán đảo, tương lai không xa sẽ trở thành một cây đa đẹp vào loại nhất của Hà Nội.

Ngày 16/2/1969 (mồng 1 Tết Kỷ Dậu), Bác Hồ trồng cây ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). (Ảnh tư liệu).

Không chỉ trồng cây và vận động những người quanh mình trồng cây, ngay vào giữa thế kỷ XX, khi thế giới còn chưa thật chú ý tới lợi ích của cây xanh với bảo vệ môi trường và đời sống con người, Bác Hồ đã phát động Tết trồng cây trong toàn dân. Trong bài báo đăng trên báo Nhân Dân ngày 28-11-1959, chuẩn bị cho Tết trồng cây đầu tiên – Tết Nguyên đán năm 1960, Bác tính, miền Bắc (lúc đó) có 14 triệu người, trừ trẻ em dưới 8 tuổi, mỗi người ít nhất trồng một cây, sau năm năm có 90 triệu cây, nếu trồng cây nào tốt cây ấy, 5 năm sau là có cây ăn quả, cây có hoa, cây làm nhà. Với cách tính toán vừa thực tế vừa nhìn xa trông rộng đó, Bác đã tạo một phong tục mới, phong tục trồng cây ngày Tết mà chỉ Việt Nam mới có trong số hơn 200 quốc gia trên trái đất này.

Thực hiện lời Bác, cả miền Bắc và sau đó là cả nước năm nào cũng tổ chức Tết trồng cây. Đầu tiên chỉ là trồng cây lấy gỗ theo phương thức phân tán nhưng càng ngày, phong trào trồng cây càng đi vào chiều sâu. Trồng tập trung thành rừng, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, cây bóng mát giao thông, cây đô thị. Liên tục nửa thế kỷ, phong trào trồng cây nhân dân được khởi đầu vào mỗi dịp Tết mỗi năm đã trồng được hàng trăm triệu cây phân tán, hàng chục nghìn héc ta rừng, hình thành nên những vùng cây ăn quả như mận tam hoa ở Lào Cai, Sơn La; vải đường ở Hải Dương, Hưng Yên; cà phê ở Tây Nguyên; rừng ngập mặn ở miền tây Nam Bộ. Trong phong trào đó, năm nào Hà Nội cũng phát động Tết trồng cây làm theo lời Bác, nâng diện tích cây xanh trên đầu người tăng lên, chất lượng cây trồng tốt hơn, chủng loại cây cũng khoa học, hợp lý hơn. Cho đến nay, trừ những khu phố cổ, khu phố cũ cây trồng đã lâu năm, bắt dầu giai đoạn lão hóa nhanh, hầu hết các khu mới mở rộng đều có diện tích cho cây xanh tập trung, cây hè phố. Những đảo cây xanh và hồ nước quí giá như công viên Thống Nhất, công viên Thanh Nhàn, công viên Thủ Lệ, công viên Hòa Bình, công viên Mễ Trì ngày một nhiều. Thành phố cũng kiên quyết dành diện tích đáng kể cho cây xanh trong qui hoạch dài hạn. Nhiều khu nghỉ cuối tuần, khu sinh thái có cây xanh, hồ nước ở Ba Vì, Sóc Sơn cũng đang được xây dựng.

Nhưng do dân số tăng quá nhanh, công tác quản lý cây xanh còn thiếu người, thiếu thiết bị, thiếu vốn… nên áp lực về cây xanh của thành phố không ngừng tăng. Năm nay, chỉ riêng thành phố Hà Nội đã có kế hoạch trồng 1,2 triệu cây xanh, phấn đấu mỗi huyện, thị trồng từ 5 vạn đến 6 vạn cây, chủ yếu là cây bóng mát, cây ăn quả và 300 héc ta rừng, chăm sóc 9.000 héc ta rừng. Với số lượng cây xanh đô thị và cây lấy gỗ, cây ăn quả, cây cảnh đó, sau một vài thập kỷ, Hà Nội sẽ là một thủ đô xanh mát, sạch đẹp. Để có điều đó, Tết năm nay, mỗi người dân thủ đô, nhất là những người dân xa trung tâm hãy trồng ít nhất một cây và bảo đảm “trồng cây nào sống cây đó” như lời khuyên của Bác Hồ.

Nguồn: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Việt Nam – Hồ Chí Minh