Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Kỷ niệm về những lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tiến Sĩ Ngữ Văn Nicôlai Niculin

Tôi và Yuri Cuznhexôv được đưa tới một phòng ngủ rộng rãi với chăn đệm tuyệt vời, nơi mà ngày trước chỉ có các viên tướng toàn quyền Pháp ở Đông Dương mới được sử dụng. Tới lúc đó tôi hết sức ngạc nhiên về tất cả những gì đã diễn ra với mình. Cuộc gặp gỡ tuyệt vời đó với Bác Hồ đã đem lại cho tôi niềm vui và sự khai ngộ, cảm hóa chúng tôi bởi lòng nhân hậu, sự quan tâm của con người vĩ đại mà chúng tôi đã quen nhìn qua chân dung và phim ảnh tài liệu.

Từ những năm 1970-2000, Nicôlai Niculin là Tiến sĩ Ngữ văn, chuyên gia cao cấp của Liên Xô và Liên bang Nga về văn học Việt Nam. Nhân kỷ niệm lần thứ 120 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã in bài viết này trong sách “Người Nga nói về Hồ Chí Minh” xuất bản 2010 ở Moskva. Nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 100 năm Người ra đi tìm đường cứu nước, chúng tôi xin chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Nga bài viết của ông.

Vào một ngày hè đẹp trời năm 1954, tôi được mời tới gặp Alêxanđr Anđrêevich Lavrisev – người vừa được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đại sứ dáng người cao, hơi mập, tiếp tôi rất lịch sự, chăm chú nhìn tôi, rồi hoàn toàn bất ngờ là đến cuối cuộc đàm luận ông thân mật và cởi mở mỉm cười với tôi. Những câu hỏi và câu trả lời cô đọng, ngắn gọn diễn ra trong vòng năm phút. Tôi đã sống và có thể nói là rất mê say Việt Nam, nên khi nói về đất nước này, đặc biệt là với Đại sứ, thì đó là một niềm hứng thú lớn với tôi. Tôi bước ra ngoài phòng khách, một phút sau người thư ký của Đại sứ xuất hiện. “Anh sẽ đến Việt Nam” – anh tươi cười nói với tôi.

Bác Hồ với thiếu nhi Liên Xô khi Bác thăm đất nước Lênin – 1957.

Còn tôi thì thật bàng hoàng vì hạnh phúc quá bất ngờ. Người thư ký bắt chặt tay tôi: “Chúc may mắn! Anh sẽ được nhìn thấy đất nước của Hồ Chí Minh. Tôi cũng rất muốn, nhưng… Tôi khuyên anh một điều: Trong những cuộc gặp gỡ với Hồ Chí Minh sắp tới, mà anh sẽ luôn luôn được gặp, hãy tự nhiên, chân thành, giản dị và hoạt bát như hôm nay với đồng chí Đại sứ. Chúc lên đường may mắn!”.

Ngày 29/10/1954, hai tuần rưỡi sau khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Đại sứ đầu tiên của Liên Xô đã tới thủ đô cổ kính của Việt Nam. Dọc đường suốt từ biên giới Việt – Trung đến Hà Nội là những cổng chào cao bằng tre được dựng lên, bên trên là những băng rôn chữ vàng trên nền vải đỏ thắm chào mừng lãnh đạo, nhân dân Liên Xô, Tòa đại sứ đầu tiên của Liên Xô ở Việt Nam và vị Đại sứ đầu tiên A.A.Lavrisev.

Tới Thủ đô, một cuộc mittinh nhanh gọn chào đón đã diễn ra. Chúng tôi được đưa về nơi ăn chốn ở và làm việc. Nhưng Đại sứ quán thì sửa chữa chưa xong. Mà ngày 7/11, ngày kỷ niệm lần thứ 37 Cách mạng Tháng Mười vĩ đại – ngày quốc lễ của nhân dân Liên Xô thì đang đến gần.

Dĩ nhiên là tất cả mọi người đều nghĩ rằng, trong tình hình quốc tế như thế này không thể chỉ tổ chức kỷ niệm trong khuôn khổ tiếp khách ngoại giao hạn hẹp, mà cần phải tổ chức với quy mô lớn và trọng thể. Bởi vì đó không chỉ là uy tín của Nhà nước Xôviết. Trong những ngày đó, báo chí phương Tây rất muốn mô tả cuộc sống của những người tham gia kháng chiến trở về Hà Nội và ban lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam như ở trong một pháo đài bị bao vây không thể hoạt động bình thường và cả với các cơ quan nhà nước cũng như các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài.

Theo tôi nhớ thì lúc đó, đầu tháng 11/1954, ngoài Đại sứ quán Liên Xô ở Hà Nội còn có Đại sứ quán nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và còn có khá nhiều phái đoàn đại diện từ Ấn Độ, Canada, Ba Lan đến Việt Nam theo Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Do vậy, Đại sứ quán Liên Xô dù thế nào thì cũng phải được tổ chức tốt theo các điều luật và nghi thức ngoại giao quốc tế, và tiếp đón trọng thể trên diện rộng với các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, với Ủy ban quốc tế giám sát thực hiện Hiệp định Giơnevơ cũng như với các nhà ngoại giao quốc tế.

Bác Hồ gặp gỡ các chuyên gia Liên Xô sang giúp Việt Nam năm 1960.

Rõ ràng là những buổi tiếp như vậy trên phương diện chính trị không thể tiến hành giống như những hoạt động thông thường, làm quen theo nghi thức bình thường để thắt chặt mối hợp tác quốc tế. Mà buổi tiếp khách trọng thể của Đại sứ quán Liên Xô cần phải thực hiện một vai trò quan trọng khác nữa. Nó sẽ phải là một sự kiện thể hiện khẳng định vị thế mới của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trẻ tuổi trên trường quốc tế, vị thế ổn định vững chắc của nó ở miền Bắc Việt Nam. Và một sự trùng hợp thật đặc biệt mang tính biểu tượng là ngày lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười.

Điều hiển nhiên là toàn bộ nhân viên của Đại sứ quán đều tham gia công tác chuẩn bị. Vấn đề địa điểm tổ chức buổi tiếp khách nhanh chóng được quyết định: Cả ban lãnh đạo Việt Nam và Đại sứ quán Liên Xô đều nhất trí chọn hội trường rộng rãi của Câu lạc bộ quốc tế cạnh Phủ Chủ tịch. Việc này đã được sắp xếp xong. Tuy nhiên vấn đề là sẽ có hàng trăm vị khách mời và sẽ tổ chức bữa tiệc chiêu đãi lớn, mà khu nhà bếp nơi đây chật hẹp quá, bất lợi.

Thì bỗng nhiên có một đề xuất rất hay mà khó có ai nghĩ tới (mà theo tôi chắc là của Hồ Chí Minh). Có lẽ đây là một việc “chưa từng có trong lịch sử” mà không một nước nào hay một ai nghĩ ra. Trong các hồi ức của mình tôi thường phải dùng cụm từ “chưa từng có trong lịch sử”. Vì quả thực đây là một quãng thời gian thật đặc biệt mà chúng tôi lúc đó mới bắt đầu nhận thấy. Nhận thức rõ điều này không phải để ngạc nhiên hay giải trí, mà là để hiểu rõ hơn nữa quá khứ, hiện đại và hình dung cho mình cả tương lai.

Một đề nghị khác thường đã được đưa ra: dùng phòng bếp tầng trệt của Dinh Chủ tịch để làm nơi nấu nướng vì tại đây đã có đầy đủ tiện nghi, cho dù đã cũ. Dinh thự này trước đây là nơi làm việc của các viên toàn quyền Pháp, do đó mà khu bếp của viên toàn quyền rất rộng rãi và thoáng đãng.

Người chủ mới của dinh thự này là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ núi rừng Việt Bắc trở về Hà Nội, vẫn với thói quen khiêm tốn và bản tính giản dị, tính dân chủ tự nhiên, sự tinh tế và văn hóa ứng xử cao mang tính truyền thống của Việt Nam nên Người không muốn làm việc tại các gian phòng sang trọng của dinh thự này mà chỉ dùng làm nơi tiếp khách và tổ chức các sự kiện trọng đại của nhà nước. Còn chính Chủ tịch thì sống và làm việc tại một ngôi nhà khiêm tốn trong khu vườn cách đó không xa.

Vậy là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho phép sử dụng nhà bếp của Dinh Chủ tịch làm nơi Đại sứ quán Liên Xô chuẩn bị tiệc chiêu đãi khách vào ngày 7/11 tới. Người đầu bếp của Đại sứ quán Xôviết là chị Nhina Yanôvna chỉ huy nhóm đầu bếp giỏi của Việt Nam. Chị còn trẻ, đầy sức sống, nhân hậu và đáng yêu, cởi mở, dáng người hơi cao và mập như nhiều đầu bếp khác.

Nhưng lại có một trục trặc bất ngờ: Chị Nhina không biết một ngoại ngữ nào, còn các người Việt phụ giúp chị thì không biết tiếng Nga. Nhưng đã nhanh chóng tìm ra cách giải quyết. Đã có hai chàng trai được đưa tới giúp chị: đó là thực tập sinh Nicôlai Niculin và tùy viên Yu.Cuznhexôv. Phải công nhận rằng, chúng tôi rất sẵn sàng vào nhà bếp với tâm trạng rất hào hứng, nhưng cũng rất lo lắng vì vốn tiếng Việt còn hạn chế, nhất là những từ và thuật ngữ về món ăn Việt Nam với chúng tôi hoàn toàn còn chưa biết.

Tuy nhiên những lo lắng của chúng tôi là vô ích. Trong gian bếp rộng của Dinh Chủ tịch, dù mọi người chưa biết tiếng của nhau nhưng lại tràn ngập bầu không khí sôi nổi, hiểu biết lẫn nhau và háo hức làm việc. Chị Nhina đã quen dần và giải thích, hướng dẫn cho các bạn Việt Nam chủ yếu bằng cử chỉ, động tác. Còn các bạn Việt Nam thì đã học được một số từ tiếng Nga cần thiết.

Nhina Yanôna cũng đã đạt được mấy thành công bước đầu về tiếng Việt. Khi chị nói được những từ “tot lam” hay “khong tot”, “them ơt”, “them nươc”… thì ai cũng hiểu được và không ai để ý tới những lỗi phát âm. Tôi và Yu.Cuznhexôv bị cuốn hút vào công việc không chỉ với vai trò phiên dịch mà còn là người giúp việc nấu nướng. Tất cả cùng làm việc vui vẻ và thân mật.

Thế rồi tới gần 1 hay 2 giờ đêm, Bác Hồ nhẹ nhàng bước vào nhà bếp. Tôi nghĩ rằng các vị Tổng thống của các nước rất ít, thậm chí là chẳng bao giờ xuống nhà bếp. Nhưng đây lại chính là vị Chủ tịch của nhân dân – Bác Hồ! Đây quả thật là một sự kiện rất bất ngờ đối với chúng tôi – những cán bộ của Đại sứ quán Liên Xô và cả các đầu bếp Việt Nam. Và chúng tôi đã đi hết từ bất ngờ này đến ngạc nhiên khác.

Nói hay không thì ai cũng thấy rằng, sự xuất hiện của Bác Hồ ở đây chứng tỏ rằng cuộc tiếp khách ngày mai có ý nghĩa rất trọng đại.

Hôm đó không phải là lần đầu tôi được gặp Hồ Chí Minh. Cuộc gặp lần đầu của tôi với Người là trước đó một ngày, ngày 5 tháng 11, khi Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tất cả các nhà ngoại giao của Đại sứ quán Liên Xô. Lúc đó tôi đang là thực tập sinh nên không có trong danh sách được mời và chỉ nhận được giấy mời trước buổi tiếp 30 phút.

Những dòng chữ vàng lấp lánh duyên dáng ghi trong thiếp mời: “Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rất hân hạnh mời thực tập sinh N.I.Niculin tới dự buổi tiếp đón nhân dịp Đại sứ Liên Xô đến Việt Nam”.

Cụm từ “rất hân hạnh” là một nghi thức ngoại giao bình thường. Nhưng khi nó được kết hợp với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh thì âm hưởng của nó thiêng liêng biết bao. Buổi tiếp diễn ra dưới hình thức chiêu đãi chính thức cùng với việc trao đổi diễn từ của hai bên. Là thành viên trẻ nhất trong đoàn Đại sứ quán Xôviết, tôi ngồi cách xa Hồ Chí Minh, nhìn Người trò chuyện với A.A.Lavrisev và các chiến hữu của mình.

Còn bây giờ thì trong nhà bếp của Dinh Chủ tịch là một Bác Hồ hoàn toàn khác. Bác mặc chiếc áo cổ bẻ đã bạc màu, miệng ngậm điếu thuốc lá, mỉm cười sảng khoái và đôn hậu. Bác Hồ đi quanh khắp bếp, bắt tay chào bếp trưởng Nhina Yanovna, tôi và Yuri Cuznhexôv. Bác chăm chú nhìn khắp gian bếp, hỏi thăm công việc chuẩn bị tới đâu. Được biết rằng tất cả công việc đã hoàn tất, Bác gật đầu hài lòng và ân cần nhìn chúng tôi với ánh mắt của một người cha.

– Các cháu có chỗ ngủ đâu chưa? – Bác Hồ đột nhiên hỏi chúng tôi thật ân cần và đơn giản.

Bối rối trước sự quan tâm chu đáo của vị Chủ tịch tới tiện nghi sinh hoạt của mình, chúng tôi thưa rằng sẽ đi bộ về nơi ở của mình.

– Không được, giờ đã muộn rồi, – Chủ tịch dịu dàng nói. – Ở Dinh Chủ tịch vẫn còn chỗ cho hai chàng trai Xôviết đấy! Thành phố đã vào đêm yên tĩnh nhưng cần nên cảnh giác. Các chú hãy thu xếp chu đáo cho hai thanh niên này nhé! Người nói và gật đầu với mấy cán bộ cùng đi.

Cũng như khi đi vào đây, Người thư thả nhìn tất cả khắp lượt rồi đi ra khỏi nhà bếp.

Tôi và Yuri Cuznhexôv được đưa tới một phòng ngủ rộng rãi với chăn đệm tuyệt vời, nơi mà ngày trước chỉ có các viên tướng toàn quyền Pháp ở Đông Dương mới được sử dụng. Tới lúc đó tôi hết sức ngạc nhiên về tất cả những gì đã diễn ra với mình. Cuộc gặp gỡ tuyệt vời đó với Bác Hồ đã đem lại cho tôi niềm vui và sự khai ngộ, cảm hóa chúng tôi bởi lòng nhân hậu, sự quan tâm của con người vĩ đại mà chúng tôi đã quen nhìn qua chân dung và phim ảnh tài liệu. Trong tôi trào dâng lòng biết ơn về sự quan tâm mà Bác Hồ đã dành cho chúng tôi. Chiều hôm sau, ngày 7/11, tôi lại được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh ở cửa vào Câu lạc bộ quốc tế, nơi sắp diễn ra buổi tiếp khách trọng thể. Người đã nhận ra tôi và chào tôi như gặp người quen cũ.

– Cháu trẻ quá!

Người nói với tôi như với người thân, rồi tới gặp vị Đại sứ

Hồng Nhật (Dịch từ nguyên bản tiếng Nga)

cand.com.vn

Bác Hồ rất yêu âm nhạc

Báo Việt Nam Độc Lập, số 117, ra ngày 1/2/1942, khoảng một năm sau ngày Bác Hồ trở về nước sau 30 năm bôn ba đi tìm đường cứu nước, có đăng bài ca đội tự vệ, do Bác sáng tác. Toàn văn bài ca như sau:

I

Gươm dao ta
Đem mài đi!
Mài cho bén,
Mài cho sắc
Nhật ta đâm,
Pháp ta chặt.

II

Sắp hàng ra!
Xung phong lên!
Người ta đông
Sức ta bền
Việc giải phóng,
Nhất định nên.

Đáng chú ý là lời dẫn của tác giả về cách hát: chia người làm hai tổ. Bốn câu trên tổ A hát trước, hát giọng cao (nếu có phụ nữ, thì phụ nữ là tổ A). Tổ B hát giọng thấp, theo sau. Ví dụ:

Tổ A hát: Gươm dao ta
Tổ B hát: Gườm dào tà.

Những chữ sắc, bén, đông, bền phải hát dài như: bé-én, sắ-ắc, đô-ông, bề-ền. Hai câu dòng sau cùng (ở mỗi đoạn) thì cả hai tổ đều hát như nhau. Chữchặt và chữ nên phải hát rất mạnh.

Vào thời gian ấy phần lớn người dân Việt Nam còn mù chữ, nói chi tới những chuyện “cao siêu” như biết đọc ký âm pháp. Nhưng do yêu cầu cần có những bài hát cách mạng, những bài thơ cách mạng dễ đọc, dễ hát, dễ phổ biến, nên mặc dù không phải là một nhạc sĩ chuyên nghiệp, Bác Hồ đã sáng tác bài thơ để hát (theo cách nói của Lữ Huy Nguyên) này để động viên, khuyến khích tinh thần cách mạng của bà con ta.

Trong lời ghi chú của tác giả bài thơ để hát này đã ghi những yếu tố âm nhạc, mà ngày nay người ta dùng những danh từ âm nhạc để diễn tả như:

– Cao độ: giọng cao, giọng thấp.

– Trường độ: những từ cần được kéo dài ra khi đọc hoặc hát như: bén-bé-én, sắc-sắ-ắc, đông-đô-ông, bền-bề-ền.

– Cường độ: chữ chặt và chữ nên phải hát rất mạnh.

– Hòa âm: hát bè.

– Cấu trúc của bài ca rất gọn gàng, câu ngắn chỉ ba chữ, dễ học, dễ nhớ.


Bác chơi guitar ở Hải Phòng (1963). Ảnh: TL.

Chúng tôi cũng muốn nói ngay rằng, Bác là người thuộc khá nhiều bài hát của nước Nga cách mạng, của Liên Xô. Đầu những năm 60 của thế kỷ trước, báoSao Đỏ của Hồng Quân Liên Xô từng tường thuật buổi gặp mặt giữa Bác và đồng chí Nguyên soái Liên Xô Kli-men Vô-rô-si-lốp (1881-1969), người mà Bác đã có dịp quen biết từ năm 1924, trong lần đầu tiên tới Liên Xô. Trong buổi tới thăm đó, hai vị lãnh tụ cao niên đã cầm tay nhau, say sưa hát những bài ca cách mạng của Liên Xô từ những năm 20, 30 của thế kỷ trước.

Còn chị An-na Xta-xi-a Va-xi-lốp-na và anh Đmi-tri Gri-gô-ri-ê-vích Đi-ô-mi-nưi, những công dân của Liên Xô, đã tâm sự: Năm 1960, trong dịp sang Mát-xcơ-va dự lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, Bác Hồ đã có thư mời anh chị và cháu I-ra-ska, con gái của anh chị và là con đỡ đầu của Bác Hồ, tới gặp mặt. Cuộc gặp gỡ ấm cúng đó đã diễn ra vào ngày 13/11/1960 tại một biệt thự cổ kính ở phố A-lếch-xây Tôn-xtôi. Chị An-na kể lại:

Bác Hồ nói tiếng Nga thoải mái, tự nhiên như người Nga chúng ta vậy. Người biết nhiều thứ tiếng và coi tiếng Nga là tiếng mà người cách mạng nào cũng nên biết, vì đó là tiếng nói của Lê-nin. Người cũng biết những bài hát Nga. Người và chúng tôi đã cùng nhau hát bài Ca-chiu-sa và Chiều ngoại ô Mát-xcơ-va(1).


Bác cùng các em thiếu nhi Liên Xô. Ảnh: TL.

Chúng ta ai cũng biết những năm tháng sống và hoạt động ở Paris vào những năm cuối thập kỷ 1 và đầu thập kỷ 2 – thế kỷ 20, ngoài giờ làm việc, Bác đã tham gia những câu lạc bộ và vào các thư viện đọc sách để nâng cao trình độ về văn học, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật… Chính vì thế Bác đã tích lũy được một khối lượng kiến thức rộng lớn về nhiều mặt, về nhiều bộ môn nghệ thuật.

Bà Giô-tơ-vôn – phu nhân của cố Chủ tịch Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức, Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Dân chủ Đức Ôt-tô Grốt-tơ-vôn – đã có một bài hồi ký vô cùng xúc động về Bác Hồ của chúng ta vào tháng 5/1975 (do Trần Đương ghi), trong đó có một đoạn như sau: “… Bác và nhà tôi đã trao đổi rất nhiều về nghệ thuật. Tôi còn nhớ, một buổi tối, khi Bác tới, nhà tôi mời Bác nghe một đĩa hát thu bản nhạc giao hưởng số 9 của Bít-tô-ven sáng tác trong những năm 1822-1824. Sự xúc động lộ rõ trên gương mặt Bác. Trong những phút này, tôi lại thấy đôi mắt Bác mơ màng, tư lự, đúng là đôi mắt của nhà nghệ sĩ giàu cảm xúc. Nhìn gương mặt ấy, người ta có thể liên tưởng đến Lê-nin khi nghe bản nhạc Áp-pa-xi-ô-na-ta cũng của Bít-tô-ven. Khi bản nhạc vừa dứt, Bác thong thả nói:

– Quả đúng như Bít-tô-ven có lần nói: “Âm nhạc cần phải làm cho ngọn lửa từ trong tâm hồn kiên cường bừng cháy!”.

Người Việt Nam ta chắc ai cũng đã một lần nhìn thấy tấm ảnh nổi tiếng của nhà nhiếp ảnh Lâm Hồng Long: Bác Hồ chỉ huy dàn nhạc giao hưởng Việt Nam trong lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (1930-1960). Tôi là người may mắn chứng kiến cảnh tượng tuyệt vời ấy trong đêm hôm đó tại vườn Bách Thảo (Hà Nội).


Bác bắt nhịp bài ca Kết đoàn. Ảnh: Lâm Hồng Long.

Khi dàn nhạc giao hưởng gồm 120 nhạc công và đội đồng ca gồm hơn 800 diễn viên là thanh niên, học sinh, sinh viên Hà Nội đang sẵn sàng biểu diễn thì Bác Hồ và các vị khách quốc tế xuất hiện trước khu vực sân khấu. Tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay như những đợt sóng truyền từ khu vực này đến khu vực khác.

Bác từ từ bước lên sân khấu, mượn nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu chiếc đũa chỉ huy trước con mắt tò mò và ngạc nhiên của mọi người, rồi Bác hỏi các nhạc công và các diễn viên: “Các cháu đã sẵn sàng chưa?” – mọi người vui vẻ trả lời: “Thưa Bác, đã sẵn sàng”. Bác nói tiếp: “Bây giờ chúng ta cùng hát và cùng biểu diễn bàiKết đoàn, chúng ta là sức mạnh!”. Mọi người chăm chú nhìn vào cánh tay chỉ huy của Bác. Sau một tích tắc im lặng, Bác vung cây đũa chỉ huy lên!… Và nhà nhiếp ảnh Hồng Long đã chớp được phút giây tuyệt vời đó!

Tôi cứ tưởng đó là bức ảnh duy nhất chụp Bác chỉ huy dàn nhạc, dàn đồng ca. Không phải! Gần đây, Trung Quốc phát hành một cuốn ảnh tuyệt đẹp và quý hiếm về Bác Hồ tại Trung Quốc và Hồng Kông. Trong tập ảnh cũng có một tấm ảnh chụp Bác Hồ đang “cầm càng” chỉ huy các thanh niên Trung Quốc hát. Quả là hết sức thú vị! Như vậy là Bác Hồ cũng phải biết cả bài hát Trung Quốc nữa. Có biết hát thì mới “cầm càng” được bài hát đó chứ? Tôi cứ tò mò muốn biết: đó là bài hát nào?


Bác cùng với thiếu nhi Trung Quốc. Ảnh: TL.

Một con người trong vòng 30 năm từng bôn ba khắp năm châu bốn biển, đã tích lũy cho mình một vốn văn hóa sâu rộng của cả Đông lẫn Tây, nhưng trong lòng vẫn đau đáu nhớ một giọng ru con của bà mẹ Việt Nam, nhớ từng câu Kiều. Thật xúc động khi đọc những dòng hồi ức sau đây của đồng chí Trần Lam, người từng hoạt động với Bác trong những ngày Người sống ở Thái Lan (1929): “Có một lần đi đến nửa đường thì trời tối. Bác và tôi ghé vào một nhà kiều bào người Bắc làm thợ mộc. Anh chị thợ mộc đón tiếp rất tử tế. Cơm nước xong, hai bác cháu nghỉ thì cũng vừa lúc chị thợ mộc ru cháu bé ngủ. Giọng chị ngâm Kiều rất hay, hai bác cháu lắng nghe, rồi ngủ đi bao giờ không biết. Sáng hôm sau, lúc đi đường, với một giọng âu yếm, Bác bảo tôi: Xa nhà chốc mấy mươi niên/ Tối qua nghe giọng mẹ hiền ru con!”.

Sau này, khi tuổi đã cao, Người vẫn còn nhớ từng câu dân ca, từng làn điệu hát phường vải mà Người từng được nghe, từng nhập tâm từ những ngày thơ ấu. Chị Minh Huệ, một diễn viên văn công, nhớ lại: “Khi Người về thăm quê hương xứ Nghệ sau hơn nửa thế kỷ xa cách, trong phần biểu diễn văn nghệ để chào mừng Bác, tôi đã thưa với Bác:

– Thưa Bác, bây giờ cháu xin hát điệu ru em, dân ca miền Trung theo lời cũ ạ.

Tôi cất giọng:

– A ờ ơ… Ru em em ngủ cho muồi

Bác sửa lại:

– Ru tam tam théc cho muồi (“tam” là tiếng miền Trung dùng để chỉ “em”, “théc” là “ngủ”).

Tôi hát lại:

– Ru tam tam théc cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

Bác sửa lại:

– Để “mạ” chứ không phải để “mẹ”.

Tôi sung sướng hát tiếp:

– Để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau chợ Sải, mua cầu chợ Dinh.

Bác cười, ân cần sửa nốt:

– Mua cau Cam Phổ chứ không phải chợ Sải.(2)

Người không chỉ nhớ những làn điệu dân ca ở quê hương xứ Nghệ, Người còn yêu thích những làn điệu dân ca ở các vùng quê khác nhau của đất nước ta. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã kể lại trên báo Văn Nghệ số 36 (tháng 10/1952) câu chuyện sau đây: “Giữa hai phần nói chuyện về: “cách viết” tối 17/8/1952, trong giờ nghỉ anh chị em hò những điệu hò bình dân, ca những lời ca dân tộc cò lả, hò giã gạo, chèo, ngâm thơ. Thỉnh thoảng Bác hỏi: – Cô, chú nào ngâm sa mạc? Bác thích nghe những điệu quen thuộc, nhẹ nhàng đó”.


Bác Hồ tại phòng khách Phủ Chủ tịch. Ảnh TL.

Bác không chỉ yêu mến những làn điệu dân ca của nước ta, Bác còn yêu thích cả những nhạc cụ dân tộc nữa. Nghệ sĩ sáo Đinh Thìn, diễn viên Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam, người đã nhiều lần biểu diễn cho Bác Hồ nghe, đã kể lại câu chuyện thú vị sau đây: “Hôm đó Bác tiếp khách riêng của Bác. Trong phòng người nghe không đông lắm, tôi thổi bài Nhớ về Nam. Bác ngồi ngay trước mặt tôi. Bác nghe chăm chú. Thổi xong tôi cúi đầu chào, định quay về chỗ ngồi, thì Bác đứng dậy, Bác cầm xem chiếc sáo của tôi, Bác hỏi:

– Chiếc sáo này cháu tự làm lấy hay mua?

– Thưa Bác cháu làm lấy ạ.

– Tự làm như thế là giỏi. Làm sáo khó lắm không cháu? Trong kháng chiến chống Pháp, Bác thấy các chú bộ đội làm sáo nhanh lắm. Đi hành quân, đi tập đều mang theo, thổi rất vui…

Bác để sáo lên miệng thổi. Không khí trong phòng bấy giờ như ngưng đọng lại, mọi người nín thở chờ đợi tiếng sáo của Bác. Bác lắng hơi, nhẹ thổi. Hơi chạy vào trong ống sáo, thoát ra các ngón tay của Bác, gợi thành một làn điệu dân ca. Bác thổi vừa dứt, tiếng vỗ tay trong phòng rộn lên, vừa ngạc nhiên, vừa sung sướng. Bác bỏ ống sáo xuống, lấy dáng điệu, cúi chào như một diễn viên thực thụ. Tiếng vỗ tay, tiếng cười vui vẻ lại vang lên. Bác cũng vui vẻ cười”.

Cụ Hoàng Đạo Thúy, một nhà trí thức lớn của ta, từng giữ trọng trách Cục trưởng Cục Thông tin Liên lạc, Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Thi đua Toàn quốc, có lần kể lại chuyện thời ở chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp:

“Một lần, Cụ Hồ tóm lấy cánh tay tôi:

– Tối hôm nay, cụ tổ chức lửa trại nhé!

– Cụ cho lệnh tổ chức, tôi xin làm. Nhưng thưa cụ, ở lửa trại thì người giữ lửa có quyền to lắm, ai cũng phải nghe đấy.

– Nhất định thế!

Bọn chúng tôi vẫn có cái thói cứ hay “chọc” Cụ một cách kính mến, không dám làm Cụ bí, vì Cụ có bí bao giờ đâu, nhưng để xem Cụ đối phó thế nào, rồi ngồi cười cùng nhau, lý thú về cách trả lời của Cụ. Cụ cũng hiểu thế và mỉm cười.

Mọi người đã ngồi quanh đống lửa. Tôi châm lửa và tuyên bố:

– Thi hành quyền lực của trùm lửa trại, tôi xin đề nghị Cụ Chủ tịch hát mở đầu cuộc vui.

Mọi người nhìn cả về phía Cụ. Cụ nhẹ nhàng đứng dậy, vừa đi quanh vừa hát:“Anh hùng xưa nhớ hồi là hồi niên thiếu/Dấy binh lấy lau làm cờ/Quên mình là mình giúp nước…”.

Già trẻ ai nấy con mắt long lanh, nhìn âu yếm Cụ Chủ tịch của mình, mà như thế là cuộc lửa trại vui lên…”

Chúng ta đã rất quen với hình ảnh Bác Hồ tặng hoa cho những diễn viên có những tiết mục hát, múa, chơi đàn, thổi sáo, ngâm thơ…, thường chỉ là một bông hồng, một nụ hôn thân thiết, nhưng đã làm cho các diễn viên trong và ngoài nước nhớ suốt đời.

Chính do tâm hồn nghệ sĩ và lòng yêu âm nhạc của Bác mà ngày nay chúng ta được thưởng thức rất nhiều câu thơ và những đoạn văn, những lời phát biểu có nhắc tới âm nhạc, giàu chất thơ, chất nhạc.

Sau này, trong tác phẩm Nhật ký trong tù, đã bao nhiêu lần Bác nói về lời ca, câu hát, điệu nhạc, những thứ đã động viên tinh thần, nghị lực của Bác trong những giờ phút khó khăn, gian khổ nhất, khi cái chết kề bên. Trong ngục tù u ám của huyện Tĩnh Tây, Người vẫn thấy có những lúc khắp nơi “vang tiếng dân ca, rộn tiếng ngâm”. Người viết về bạn tù thổi sáo:

Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu
Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.

(Nam Trân dịch)

Mặc dù tay bị trói, chân bị còng, nhưng Người vẫn nghe tiếng chim hót:“Oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần” (Đêm ngủ ở Long Tuyền);“Mặc dù bị trói chân tay/ Chim ca rộn núi, hướng bay ngát rừng/ Vui say ai cấm ta đừng/ Đường xa âu cũng bớt phần quạnh hiu” (Trên đường – Nam Trân dịch).

Về việc chọn Quốc ca thì theo Bác Quốc ca phải sâu sắc về nội dung và đẹp về lời ca. Bác đồng ý chọn bài Tiến quân ca, một bài hành khúc nghiêm trang, hào hùng, nhịp lại thong thả, dễ hát. Bác tham gia ý kiến sửa lại lời ở một số câu cho chính xác hơn, đẹp hơn, phù hợp với Quốc ca như: Đoàn quân Việt Minh… sửa là Đoàn quân Việt Nam…Thề phanh thây uống máu quân thù sửa lại là Đường vinh quang xây xác quân thù.


Tiến quân ca – Quốc ca Việt Nam.

Ngày 2/9/1945, Tiến quân ca được vang lên tại Quảng trường Ba Đình, trong ngày Bác đọc Tuyên ngôn Độc lập, trở thành Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa(3).

Nhạc sĩ Trần Hoàn đã viết một ca khúc rất đẹp Lời Bác dặn trước lúc đi xamà chúng ta ai cũng yêu thích. Nội dung bài hát dựa vào một câu chuyện có thật: Ngày 27/8/1969, sức khỏe của Bác đã kém lắm, nhưng Bác vẫn giữ yên lặng, không hề rên la kêu đau. Khoảng 9 giờ sáng, y tá Nguyễn Thị Oanh đưa thuốc vào mời Bác uống và nhẹ nhàng cắt móng tay cho Bác, Bác đã hỏi chuyện cô và bảo cô hát cho Bác nghe. Y tá Nguyễn Thị Oanh đã hát bài Chiến sĩ quân y làm theo lời Bác, Bác nhìn Oanh âu yếm, khích lệ. Oanh đã hát tiếp bài dân ca Quan họ Bắc Ninh Người ơi, Người ở đừng về, nghe xong Bác rất hài lòng, mỉm cười và bảo đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác, tặng một bông hoa cho Oanh. Đó là bông hoa cuối cùng của Bác tặng một ca sĩ nghiệp dư, trước lúc Bác vĩnh viễn ra đi(4)

Có một chuyện liên quan tới lòng yêu âm nhạc của Bác Hồ mà mãi tới tháng 9/1969, chúng ta mới được biết qua bài báo của nhà báo Pháp nổi tiếng, bà Ma-đơ-len Ríp-phô (Madeleine Riffaud), người con gái đỡ đầu của Bác, đăng trên báo L’Humanité ngay sau ngày Bác mất. Bà Ma-đơ-len Ríp-phô kể rằng: Có một lần Bác Hồ bảo tôi: “Con ạ, nếu con muốn làm vui lòng Bác thì hãy gửi cho Bác cái đĩa hát có những bài trước đây của Mô-rít Sơ-va-li-ê (Maurice Chevalier). Hồi ở Paris xưa kia Bác vẫn thường nghe, hồi ấy con còn chưa ra đời”.

Trở về nước, bà tìm mãi những đĩa hát ấy mà không thấy. Mãi tới dịp kỷ niệm thượng thọ 80 tuổi Mô-rít Sơ-va-li-ê, người ta mới tái bản những đĩa hát đó. Bà mua ngay và gửi biếu Bác Hồ. Hai ngày sau khi Bác qua đời, Ma-đơ-len Ríp-phô nhận được một bức thư của Tê-ô Rông-cô, phóng viên thường trú của báoNhân Đạo tại Hà Nội. Lá thư được viết trước đó ba tuần, trong đó kể rằng: “Bác Hồ đã nhận được cái đĩa hát. Bác đã nghe các đĩa đó rất thích thú và rất hài lòng”.

Năm 1946, khi Bác Hồ sang thăm chính thức nước Pháp theo lời mời của chính phủ Pháp, các cháu thiếu nhi con em Việt kiều mang hoa tới tặng Người và hát những bài hát Việt Nam mà các cháu mới học được để chào mừng Bác. Bác rất xúc động và hỏi các cháu:

– Các cháu có biết bài Quốc ca của Pháp không?

Các em đồng thanh trả lời:

– Thưa Bác có ạ.

– Thế thì các cháu hát xem nào!

Và bài Marseillaise đã hùng dũng vang lên trong căn phòng qua giọng hát trong trẻo của các cháu.

Trở lại với câu chuyện về đĩa hát của Mô-rít Sơ-va-li-ê. Cuối cùng bài báoBác Hồ vĩnh biệt chúng ta giữa những ngày thu, Ma-đơ-len Ríp-phô đã xúc động thốt lên: “Chúng tôi tự hào rằng đồng chí Hồ Chí Minh yêu mến nhân dân Pháp. Vì thế chúng tôi càng thấy rõ trách nhiệm của mình trước những nỗi đau mà nước Việt Nam đang phải chịu đựng. Chúng tôi thề sẽ xứng đáng với tình bạn của một trong số những nhà cách mạng vĩ đại nhất của thời đại hiện nay, chúng tôi sẽ ra sức chiến đấu bên cạnh nhân dân Việt Nam”.


(1) Những người con đỡ đầu của Bác Hồ (Trần Đương), NXB Quân Đội Nhân Dân, tr.57.
(2) Bác Hồ với văn nghệ sĩ, tr.231-232.
(3) Chuyện kể về Bác Hồ, tập 1, NXB Nghệ An, tr.133-135.
(4) Chuyện thường ngày của Bác Hồ (Hồng Khanh), NXB Thanh Niên, tr.201.

honvietquochoc.com.vn

Những lời phát biểu của Hồ Chủ Tịch đối với Quảng Bình

Ở miền Bắc có những đơn vị dân quân già như ở Thanh Hoá đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Có những trung đội dân quân toàn là các cháu gái nông thôn đã bắn rơi máy bay Mỹ. Đặc biệt là có cháu Nguyễn Thị Xuân 19 tuổi, ở tỉnh Quảng Bình, một mình dùng súng bộ binh với hơn 20 viên đạn đã bắn rơi máy bay phản lực của Mỹ…

(Trích trong bài nói của Hồ Chỉ tịch tại cuộc mít tinh Kỷ niệm ngày thành lập Quân đội và Ngày toàn quốc kháng chiến 19 và 22-12-1967)

… Phải ra sức phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm, lại phải phân phối cho công bằng hợp lý, từng bước cải thiện việc ăn, mặc, ở, học, phục vụ sức khoẻ và giải trí của nhân dân. Đặc biệt chú trọng các vùng bị chiến tranh tàn phá, các cháu mồ côi, các cụ già yếu và gia đình các liệt sĩ, thương binh, bộ đội, thanh niên xung phong.

Trên miền Bắc nước ta, rất nhiều xã và hợp tác xã đã có thành tích khá về mặt này như xã Nhân Trạch (tỉnh Quảng Bình).

(Trích thư Hồ Chủ Tịch gửi Đảng Lao động Việt Nam, Nghệ An ngày 21-7-1969)

…Phòng không nhân dân, cũng là việc rất cần thiết để bảo vệ tính mạng và tài sản của đồng bào. Việc này có nơi như Vĩnh Linh, Quảng Bình v.v… làm được tốt. Nhưng có nơi còn chủ quan, làm một cách qua loa. Có nơi thì dùng cách quan liêu, mệnh lệnh. Những nơi đó cần phải sửa chữa ngay.

(Trích bài nói chuyện tại Hội Nghị tổng kết ba năm xây dựng chi bộ và đảng bộ cơ sở “bốn tốt”năm 1966)

…Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được. Vừa rồi báo Nhân dân có đăng câu chuyện về phòng không. Có mấy đồng chí cán bộ xã ngồi bàn với nhau. Phòng không là phải đào hầm, xây hầm, tốn mấy vạn viên gạch, mấy nghìn cây tre, và mấy trăm đồng nữa. Chi phí lớn quá và khó thực hiện. Nhưng có một cô kỹ sư có ý kiến là cần đưa ra quần chúng bàn bạc tham gia. Sau đó mời quần chúng lại, nói rõ âm mưu của địch là hiện nay nó bắn lung tung như thế, ta phải đào hầm hố để ẩn nấp. Vậy ta nên đào như thế nào? Thế là quần chúng giơ tay hưởng ứng. Người thì xin góp mấy chục viên gạch, người thì xin góp mấy tấm ván, người thì xin góp mấy cây tre… chỉ trong hai ngày là họ làm xong tất cả các hầm trú ẩn ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, do đi theo đường lối quần chúng mà nhân dân đào được hàng nghìn cây số hào, hàng chục vạn hầm. Cho nên việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt. Các đồng chí ở Quảng Bình nói rất đúng:

Dễ mười lần không dân cũng chịu,

Khó trăm lần dân liệu cũng xong.

Ở Thái Bình, Quảng Bình và một số nơi khác đang tiến hành việc “bình công”, “báo công”. Qua bình công, báo công, ai làm được gì tốt, ai không làm hoặc làm xấu mọi người đều biết. Đó mới thực sự dân chủ, đó là cách phê bình, tự phê bình rất tốt. Làm như vậy quần chúng tự giáo dục cho nhau và giáo dục cho cán bộ nữa.

(Trích bài nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện ngày 18-1-1967)

… Trong cuộc chống Mỹ, cứu nước hiện nay, các bà mẹ chiến sĩ đã khuyến khích con cháu của mình vào bộ đội đánh giặc, cứu nước, còn ân cần nuôi nấng, giúp đỡ bảo vệ cán bộ và chiến sĩ khác như con cháu mình. Thí dụ: Bà mẹ Suốt ở Quảng Bình đã xông pha bom đạn, không sợ sóng to, gió lớn, suốt ngày đêm chèo thuyền đưa bộ đội và cán bộ qua sông để chiến đấu.

(Trích bài nói chuyện nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam, ngày 20-10-1966)

quangbinh.gov.vn

Thư của Hồ Chủ tịch gửi Hội nghị cán bộ y tế đầu năm 1955

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân, trong đó, những người đau ốm, bệnh tật là những người được quan tâm nhất. Người đã viết nhiều bức thư gửi ngành y tế khuyên người thầy thuốc cần nâng cao y đức để chăm sóc, cứu chữa cho người bị bệnh, người bị thương. Trong Hội nghị Cán bộ y tế được tổ chức từ ngày 21/2 đến 02/3/1955 tại Thủ đô Hà Nội vào đúng ngày 27/02/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Hội nghị. Trong thư, Người nhắc nhở cán bộ y tế phải đoàn kết và thắt chặt đội ngũ, phải nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân, thương yêu nhân dân như ruột thịt. Người đã nhắn nhủ trách nhiệm của các cán bộ là phải “thương yêu người bệnh” và coi họ như người thân của mình. Người còn căn dặn phải xây dựng được một nền y học dựa trên nguyên tắc: khoa học, dân tộc và đại chúng.

Do ý nghĩa sâu sắc của bức thư này, ngày 06/02/1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 39/HĐBT lấy ngày 27/02 hàng năm làm “Ngày Thầy thuốc Việt Nam” và cũng kể đó, ngày 27/02 đã trở thành ngày truyền thống của ngành Y tế.

Hiện nay, bức thư này đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, trong Phông Bộ Y tế, hồ sơ 142, tờ số 04. Nhân dịp kỷ niệm 55 năm “Ngày Thầy thuốc Việt Nam” (27/02/1955 – 27/02/2010), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu toàn văn bức thư này.

THƯ CỦA HỒ CHỦ – TỊCH
GỬI
HỘI – NGHỊ CÁN – BỘ Y – TẾ ĐẦU NĂM 1955
GỬI HỘI – NGHỊ CÁN – BỘ Y – TẾ

Bác thân ái chúc các cô (nghe nói có nữ bác-sĩ ở Nam về?) các chú vui vẻ mạnh khỏe, hăng hái trao đổi kinh-nghiệm, bàn định kế hoạch cho thiết thực, và làm việc cho tiến bộ.

Bác góp vài ý-kiến sau đây để giúp các cô các chú thảo-luận:

– Trước hết là phải thật thà đoàn kết – Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích.

Đoàn kết giữa cán-bộ cũ và cán-bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y-tế – từ các bộ-trưởng, thứ-trưởng, bác-sĩ, cho đến các anh chị em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y-tế, trong việc phục vụ nhân dân.

– Thương yêu người bệnh – Người bệnh phó thác tính mạng của họ nơi các cô các chú. Chính phủ phó thác cho các cô các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe của đồng-bào. Đó là một nhiệm-vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán-bộ cần phải thương yêu săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. “Lương-y phải như từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng.

– Xây dựng một nền y-học của ta – Trong những năm nước ta bị nô lệ, thì y-học cũng như các ngành khác đều bị kìm hãm. Nay chúng ta đã độc lập tự do, cán-bộ cần giúp đồng-bào, giúp Chính-phủ xây dựng một nền y-tế thích hợp với sự nhu cầu của nhân dân ta. Y-học càng phải dựa trên nguyên-tắc: khoa-học, dân tộc và đại chúng.

Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh-nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y-học, các cô các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc “đông” và thuốc “tây”.

Mong các cô các chú cố gắng thi đua, làm tròn nhiệm vụ.

Chào thân ái và thành công

2-55
HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Lan Phương – Trung tâm Lưu trữ quốc gia III

archives.gov.vn

Một số hình ảnh của Bác Hồ với nhân dân Quảng Bình

Website Quảng Bình xin trân trọng giới thiệu một số hình ảnh quý báu của Bác Hồ với quân và dân Quảng Bình.


Ảnh Bác Hồ tặng quân và dân Quảng Bình nhân dịp sinh nhật 19-5-1968


Bác Hồ trên lễ đài tại sân vận động Đồng Hới ngày 16-6-1957


Bác Hồ trên lễ đài tại sân vận động Đồng Hới -1957


Bác Hồ nói chuyện với mẹ Suốt tại Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền Bắc năm 1966


Bác Hồ với anh hùng Nguyễn Thị Kim Huế năm 1968


Bác Hồ với Đoàn văn công Quảng Bình

quangbinh.gov.vn

Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người

Khi những cơn mưa đầu mùa bắt đầu kéo về xua tan cái oi bức, nóng nực của khí trời mùa hạ 2010; khi những con ve sầu bắt đầu râm ran trong vòm lá, người người lại nô nức đón chào kỉ niệm lần thứ 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh- Vị Cha già kính yêu của dân tộc (19- 5- 1890 và 19- 5- 2010).

Chiều nay, bước trên đường phố Long Xuyên tôi nghe tâm hồn mình xao xuyến lạ. Còn đôi ngày nữa thôi, cả nước lại hân hoan đón chào sinh nhật Bác Hồ- Người đã hy sinh cả đời mình cho non sông, đất nước. Cuộc đời và tấm gương đạo đức của Bác là nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ sáng tác. Tôi thích nhất là bài “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” của nhạc sĩ Trần Khiết Tường

“Tôi hát ngàn lời ca bao la hơn những cánh đồng.
Mênh mông hơn mặt biển Đông, êm đềm hơn những dòng sông” 

Bài hát được cất lên với những giai điệu nhẹ nhàng mà da diết lòng người. Lời ca có một sức mạnh diệu kỳ, lời ca thâu tóm những mênh mông của đất trời, sông núi. Không chỉ có thế, lời bài ca được tác giả hình tượng hóa lên một cách đẹp đẽ lạ thường:

“Tôi hát ngàn lời ca nồng nàn hơn nắng ban mai, đẹp tình hơn cánh hoa mai” 

Những gì tinh tuy nhất, đẹp đẽ nhất, nên thơ nhất trong cuộc sống đã được tác giả khắc họa vào ca khúc của mình. Lời ca đã vượt lên trên tất cả, nó nồng nàn hơn ánh nắng ban mai, đẹp tình hơn cả những cách mai vàng rộn sắc hương. Trần Khiết Tường đã phả vào ca khúc của mình một luồng sinh khí của thiên nhiên đất nước. Phải chăng tâm hồn tác giả đang phơi phới, tác giả cất cao giọng hát, thả rộng hồn mình vào giữa sắc nước mây trời. Đâu là động lực để tác giả yêu đời, yêu cuộc sống đến thế:

“Hùng thiêng hơn núi sông dài là một niềm tin Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người là một niềm tin Hồ Chí Minh” 

Nếu ở những giai điệu ban đầu ta cảm nhận được một Trần Khiết Tường đang yêu đời, yêu cuộc sống, đang say sưa cất cao giọng hát thì đến đây ta hiểu được tại sao tác giả mở rộng hồn mình với thiên nhiên đến thế!

“Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người là một niềm tin Hồ Chí Minh” 

Hồ Chí Minh- Người đã đem đến cho tác giả một nguồn cảm hứng bất tận, một niềm tin vững chắc vào cuộc sống. Lời bài hát cứ láy đi láy lại cụm từ “Hồ Chí Minh”, “niềm tin” làm cho bài hát càng thêm sức sống. Phải chăng Hồ Chí Minh là một biểu tượng, là niềm tin vững chắc không riêng gì tác giả mà là của toàn thể nhân dân Việt Nam và nhân loại?!

Bác Hồ đang chỉ huy dàn nhạc

Bác Hồ nói chuyện với các chiến sĩ tại Đền Hùng

Trong công cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc, gian khổ hiểm nguy từng giây từng phút đe dọa nhưng người chiến sĩ cách mạng luôn kiên trì gìn lòng, không khuất phục trước quân thù. Họ vẫn luôn giữ vững một niềm tin tất thắng ở ngày mai. Họ tin tưởng vào Đảng, vào tài lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ. Lời của Người là lời của non sông đất nước, là hồn thiêng sông núi.

“Trên cánh đồng miền Nam đau thương mây phủ chân trời.
Khi ca lên Hồ Chí Minh, nghe lòng phơi phới niềm vui” 

Khi Trần Khiết Tường viết ca khúc “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” chính là lúc nhân dân miền Nam đang ra sức đánh Mỹ cứu nước. Nhân dân đang sống trong cảnh gông cùm của gót giày xâm lược, đau thương trùm phủ chân trời.

Mặc dù đau thương, mặc dù sống trong cảnh chinh chiến nhưng nhân dân ta luôn giữ vững niềm tin, niềm vui vẫn hiện mãi trên môi khi “ca lên Hồ Chí Minh”. Nhắc đến Bác, nghĩ về Bác lòng ta càng thêm yêu đời.

“Trên xóm làng miền Nam hình Người như tiếng quân ca, giục lòng vươn cánh bay xa.
Vùng lên giải phóng quê nhà là một niềm tin Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người là một niềm tin Hồ Chí Minh”

Bác Hồ –  Vị lãnh tụ – người cha vĩ đại
sẽ sống mãi trong mỗi trái tim Việt Nam

Bác Hồ là một vị thuyền trưởng tài ba ngày đêm “lèo lái con thuyền cách mạng” đi đến bến bờ. Hình ảnh của Người như tiếng quân ca, giục lòng người hướng về tương lai tươi với nền hòa bình cho đất nước. Nhân dân nghe lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác vùng lên đấu tranh giải phóng quê nhà với niềm tin tất thắng.

Nay bác đã mãi mãi đi xa để lại cho cháu con nghìn tiếc nuối “Bác đã lên đường theo tổ tiên. Mác- Lênin thế giới người hiền”. Con cháu nguyện lòng nhớ mãi ơn Người sẽ luôn gắng sức làm theo lời Người dạy để “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” như lòng Bác mong đợi.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ BÁC KÍNH YÊU

danang.violet.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương nỗ lực thực hiện các biện pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, đẩy lùi nạn đói năm 1945

Trên cương vị là người đứng đầu Chính phủ cách mạng lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem đói nghèo cũng là một thứ giặc nguy hiểm như giặc dốt và giặc ngoại xâm.

Theo Người: “Nước nhà đã giành được độc lập tự do mà dân vẫn còn đói nghèo cực khổ thì độc lập tự do không có ích gì”. Trước tình hình này, Chính phủ đã đưa ra chủ trương phải diệt “giặc đói” và có nhiều sáng kiến được thực hiện. Nhờ đó, nguy cơ “giặc đói” đã được giảm dần, song để xoá bỏ nạn đói từ gốc, điều cơ bản là phải phát triển sản xuất.

Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945, Người đã nêu sáu vấn đề cấp bách trong đó cứu đói là một trong sáu nhiệm vụ khẩn cấp hàng đầu. Người nói: “Nhân dân đang đói… Hơn hai triệu đồng bào chúng ta đã chết đói … Những người thoát chết đói nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm thế nào cho họ sống”.

Người đã nêu ra biện pháp khắc phục: “Tôi đề nghị với Chính phủ là phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất…”. Trong bài viết “Gửi nông gia Việt Nam” in trên báo “Tấc đất” (12/1945) (Một tờ báo ra đời nhằm tuyên truyền, vận động, hướng dẫn nhân dân tăng gia sản xuất), Bác nói: “Thực túc thì binh cường. Cấy nhiều thì khỏi đói. Chúng ta thực hiện tấc đất tấc vàng thì chúng ta quyết thắng lợi trong hai việc đó. Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do độc lập”.

Để tăng gia sức sản xuất nông sản, cuối năm 1945, Bộ trưởng bộ Quốc dân kinh tế đã ra một loạt các bản Nghị định, Thông tư, Thông cáo về vấn đề này, đó là Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp (26/10/1945), Nghị định số 41 BKT bắt buộc các điền chủ có ruộng đất giồng mầu phải khai với Uỷ ban Nhân dân hàng xã (15/11/1945), Thông tư số 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu (21/11/1945), Thông cáo về việc hô hào các nhà tư bản đem tiền gửi vào các Nông phố Ngân quỹ, Nghị định liên bộ số 103 (Nội vụ và Canh nông) thiết lập một tiểu ban canh nông tại mỗi tỉnh, phủ, huyện, châu, xã (20/11/1945).

Dưới đây là các văn bản được đề cập:

Nguồn: Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.

Các văn bản đã tập trung vào những vấn đề lớn cần giải quyết nhằm chấn hưng nông nghiệp, đó là: tình thế hiện thời, cảnh quẫn bách của nông dân, những ruộng hoặc đồn điền vô chủ và vấn đề di dân.

Về tình thế hiện thời, Chính phủ xác định: một nạn đói thảm khốc vừa qua, một nạn đói khác lại đang sắp hoàn hành, tám tỉnh Bắc bộ bị lụt, “làm thiệt hại ước chừng 27 vạn 4 nghìn tấn thóc chiêm, tiếp theo nạn hạn – nạn hán đã kéo dài từ hai tháng nay, vụ mùa sắp tới đây, tại Bắc bộ, rất đáng lo ngại: 60 phần trăm mùa màng chắc chắn bị hỏng, vì lẽ thiếu nước, hay côn trùng cắn hại bông lúa.”(1) “còn trong Nam Bộ vì giá gạo năm ngoái quá rẻ, nên ít nhiều điền chủ không chịu cày cấy. Và hiện nay đồng bào ta đang kháng chiến với bọn thực dân Pháp nên số thóc gạo sản xuất sẽ lại hao hụt nhiều. Việc tiếp tế cho Trung và Bắc Bộ sẽ gặp nhiều sự khó khăn hoặc có thể bị gián đoạn.”(2)

Dân quê nghèo thì yên chí rằng số thóc gạo của nhà giầu (điền chủ Pháp kiều hoặc Việt Nam) sẽ đem chia cho dân cày cấy.

Các chủ ấp, chủ đồn điền thì hồi hộp e sợ, không biết cày cấy có được gặt không, bỏ vốn ra khai khẩn có được thu lợi không. Đến những người có ít ruộng cũng có những mối lo ngại như vậy…”(3)

Chừng ấy khó khăn đã đẩy chúng ta vào tình thế: “nếu ta không tìm ngay phương sách cấp cứu đem ra thi hành cấp tốc, thì e rằng nạn đói sẽ không tránh khỏi và sẽ khủng khiếp hơn là nạn xâm lăng hiện thời của bọn thực dân Pháp tại Nam Bộ.”

Chính phủ đã chỉ đạo Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, huyện, xã kế hoạch giải quyết: “là tăng gia sức sản xuất nông sản bằng kế hoạch chấn hưng nông nghiệp”.(4)

Về tâm lý bấp bênh của nông dân cũng như của các chủ ấp, chủ đồn điền làm cho họ chưa thực sự muốn bắt tay vào cày cấy thì Chính phủ đưa ra những quyết sách rất rõ ràng để trấn an như sau:

“ Những điền sản và hoa lợi không bị đem chia. Ai cày cấy sẽ được gặt, ai giồng giọt sẽ được thu hoa lợi;

Nông dân phải bình tĩnh nghĩ đến nạn đói rét sắp tới mà cố làm ăn, không nên vì thời cuộc mà sao nhãng việc cày cấy, giồng giọt…

Uỷ ban Nhân dân cần phải để ý, bài trừ những tin đồn nhảm phản đối chính sách khuyến nông của Chính phủ; và hết sức tuyên truyền cổ động để nông dân từ nghèo đến giầu ai cũng yên lòng làm ăn, tin ở Chính phủ và nhiệt tâm hợp tác với các cơ quan của nha Nông Mục Thuỷ Lâm.”(5)

Về cảnh quẫn bách của nông dân, Bộ trưởng bộ Quốc dân kinh tế đưa ra phương án giải quyết là “khuyến khích” và “giúp đỡ”:

“Khuyến khích dân quê và thành thị nên ra sức giồng giọt, không nên bỏ một tấc đất nào… Thứ gì ăn được nên cố sức giồng… Phải làm cho dân hiểu rằng từ nay đến tháng tư, tháng năm… nhiều tỉnh đồng bào thiếu ăn nhiều lắm. Một mảnh đất giồng bột, giồng sắn… cũng sẽ cứu được bao mạng người.”

“Giúp đỡ nông – dân bằng mọi phương – diện.Để giúp vốn cho nông dân, các nông phố, ngân hàng và bình dân ngân quỹ đã được lệnh cho nông dân vay dễ dàng và nhanh chóng hơn trước… Uỷ ban Nhân dân nên cổ động để các nhà tư bản đem gửi tiền vào bình dân ngân quỹ, vì đó là một cách gián tiếp giúp nông dân có vốn cày cấy.”(6)

“Dùng tiền như thế, các nhà tư bản sẽ vừa làm trọn nghĩa vụ của mình đối với đồng bào, lại vừa có lời nữa, là vì đến kì hạn thu lại vốn, người gửi tiền sẽ được hưởng một số lãi tính như sau này…”(7)

“… Chính phủ có thể khuyến khích các nhà giầu có sẵn giống cho nhà nghèo vay, hoặc khuyên các điền chủ nên gieo nhiều mạ chiêm để sau này bán cho nơi thiếu. Ở một vài nơi khó khăn, Chính phủ có thể đảm nhận công việc vay ở những nơi thừa rồi cho vay lại những nơi thiếu… Để ngăn ngừa nạn dịch trâu bò, sở thú y đã tìm cách cấp tốc chế thuốc tiêm trừ dịch. Nhưng ta cũng nên phái ngay những nhân viên chuyên môn đi các nơi truyền bá những môn vệ sinh thường thức để phòng bệnh đó hoặc để ngăn ngừa các bệnh đó đỡ bành trướng.”(8)

Để khẩn cấp đẩy lùi nạn đói, một trong những việc làm được coi trọng trước mắt nữa là “cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng mầu”: “…giồng màu…quốc dân có thêm thực phẩm thay thóc gạo để ăn và sống qua được mấy tháng giêng, hai, ba, tư là những tháng giáp hạt đáng lo ngại nhất.”(9)

Ngoài ra, Chính phủ chỉ thị cho các huyện lỵ, phủ lỵ hay tỉnh lỵ nên “thành lập một hoặc nhiều khu giồng màu công cộng, mục đích để thu hoa lợi dùng vào việc tiếp tế hoặc cứu tế”.(10)

Đối với những ruộng hoặc đồn điền vô chủ, Uỷ ban Nhân dân sẽ giảm cho họ 25% số thóc thu được giữ lại làm của công dưới sự kiểm soát của một “Uỷ ban điều tra về đồn điền và đất hoang” sẽ lập ra sau này… “Còn số thóc tá điền được hưởng, Uỷ ban nhân dân có nhiệm vụ ra lệnh cho người khác phải trọng quyền lợi của họ. Vì rằng nếu tá điền không được hưởng số thóc đó thì họ sẽ không trông nom và vụ sau khó có người cày cấy”

“… Các ruộng đất có thể cấy vụ chiêm này hoặc giồng màu nhưng hiện nay hãy còn bỏ hoang vì chủ ruộng đã xiêu bạt phương xa hoặc đã chết rồi thì Chính phủ cho các nông dân còn ở lại mà có sẵn vốn để làm ăn, được phép cày cấy giồng giọt. Chính phủ coi họ như đã mua mầu những ruộng đó trong hạn một năm nhưng không phải trả tiền chỉ phải khai trước với Uỷ ban Nhân dân địa phương.

… Các đồn – điền giồng cây lâu năm như chè, trầu, cao su… nếu có những đồn – điền hạng này vô chủ thì phải có những phương pháp bảo thủ không nên để cho dân chúng phá hoại. Uỷ ban Nhân dân nên giải thích cho dân hiểu rằng những nông sản này là những tài nguyên của nước mình. Giữ được, nước ta sẽ có hàng bán ra nước ngoài để mua hàng khác, dân ta sẽ có công việc làm…”(11)

Đối với vấn đề di dân, Chính phủ yêu cầu: “Muốn cứu những miền đói, ta có thể vận tiền, vận thóc ở các nơi khác đến tiếp tế cho họ. Nhưng ta cũng có thể đem dân đói đến những nơi có đồn điền bỏ hoang. Số thóc hoặc hoa lợi U.B.N.D thu được từ trước hoặc sắp thu được sẽ đem cứu tế hoặc cho vay để làm vốn lúc đầu. Ruộng bãi, thì đã có sẵn để họ có thể sinh nghiệp được ít nhất là một năm. Nhà ở, họ cũng có thể có sẵn ở các ấp hoặc các đồn – điền ấy. Vậy chỉ cần cấp cho họ ít lương ăn đường và ít nông – cụ.

Như vậy ta sẽ giúp cho dân nghèo có công ăn việc làm trong lúc đói kém và khiến cho ruộng nương đồi bãi bớt hoang phế trong lúc chờ đợi.”(12)

Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp; Nghị định số 41 BKT bắt buộc các điền chủ có ruộng đất giồng mầu phải khai với Uỷ ban Nhân dân hàng xã; Thông tư số 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu; Thông cáo về việc hô hào các nhà tư bản đem tiền gửi vào các Nông phố Ngân quỹ, Nghị định liên bộ số 103 (Nội vụ và Canh nông) thiết lập một tiểu ban canh nông tại mỗi tỉnh, phủ, huyện, châu, xã thực sự có ý nghĩa hết sức to lớn trong bối cảnh lúc bấy giờ. Các văn bản trên cơ sở phân tích thấu đáo, đánh giá sâu sắc tình hình thực tiễn đã vạch ra được những biện pháp tháo gỡ khó khăn. Nhờ đó trở thành kim chỉ nam định hướng cho các tỉnh, huyện, xã trong khôi phục nông nghiệp, cải thiện đời sống nông dân, đẩy lùi nguy cơ một nạn đói mới đang đến gần.

Nhờ đó, chúng ta đã thu được kết quả lớn chỉ sau một thời gian ngắn. Nhiều quãng đê bị vỡ đã được gia cố lại, đắp thêm một số đê mới. Cho đến đầu năm 1946, công tác đê điều đã hoàn thành. Vụ thu lúa chiêm năm 1946 ở Bắc Bộ đã tăng hơn vụ chiêm năm 1945 khoảng 100.000 tấn. Vụ mùa năm 1946 ở Bắc Bộ đã sản xuất trên một diện tích 890.000 ha với sản lượng 1.155.000 tấn lúa. Nạn đói bị đẩy lùi, đời sống nhân dân dần dần được ổn định. Đây “thực là một kì công của chế độ dân chủ”.(13)

Thật vậy, với tay người Việt Nam, sỏi đá đã thành cơm, rừng rậm thành vườn… (14)

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của mặt trận nông nghiệp. Những năm gần đây, trên con đường hội nhập và phát triển, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vấn đề an ninh lương thực vẫn luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nhờ đó, nông nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện và to lớn: kinh tế nông nghiệp phát triển, đời sống nông dân được cải thiện, diện mạo nông thôn thay đổi rõ rệt./.

Th.S Nguyễn Hồng Nhung – Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I

Chú thích

1.Thông tư 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 147.
2.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 115.
3.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 115.
4.Thông tư 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 147.
5. Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 115
6.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 115
7.Thông cáo của bộ Quốc dân Kinh tế về việc hô hào các nhà tư bản đem tiền gửi vào các Nông phố Ngân quỹ. Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 148.
8.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 115 – 116.
9.Thông tư 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 147.
10.Thông tư 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 147.
11.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 116.
12.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 116.
13.Võ Nguyên Giáp, Báo Cứu quốc, ngày 5/9/1946, dẫn theo Lê Mậu Hãn, Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập III, NXB Giáo dục, 2005, tr. 30.
14.Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Giáo sư Nhà giáo Nhân dân Trần văn Giàu, NXB Giáo dục, 1996, tr.300.

archives.gov.vn

Bác Hồ viết lịch sử và chúc Tết bằng thơ

“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

Đó là yêu cầu trên hết mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ngay từ dòng đầu tiên của cuốn Lịch sử nước ta. Tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho nền khoa học xã hội và nhân văn nước nhà, đặc biệt là nền sử học và địa lý Việt Nam ngay cả khi đất nước còn chìm trong đêm đen nô lệ.

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển tìm đường cứu nước, Bác trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Sống và làm việc tại hang Pắc Bó (Cao Bằng), công việc đầu tiên Người bắt tay thực hiện là dịch từ tiếng Nga sang tiếng Việt cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Bôn-sê-vích (Nga), viết Địa dư nước ta – cuốn địa lý Việt Nam đầu tiên bằng thơ lục bát, khẳng định cương vực lãnh thổ đất nước. Sao cho “Dân ta phải biết nước ta, một là yêu nước, hai là trí tri” (trí tri nghĩa là hiểu biết). Sau Địa dư nước ta, Bác Hồ viết tiếp cuốn Lịch sử nước ta. Đó là tập diễn ca lịch sử gồm 208 câu lục bát, phần kết có 30 mốc lịch sử quan trọng, trong đó Người tiên đoán “năm 1945, nước nhà độc lập”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Lịch sử nước ta, trước hết, nhằm làm tài liệu học tập cho cán bộ trong các lớp huấn luyện ở chiến khu và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, để giáo dục, động viên mọi người phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, góp phần chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại năm 1945. Cuốn Lịch sử nước ta được Bộ Tuyên truyền của Việt Minh xuất bản tháng 2-1942.

Với thực trạng Việt Nam lúc đó có trên 90 phần trăm dân số mù chữ, Hồ Chí Minh đã sáng suốt chọn thơ ca làm phương tiện thể hiện và chuyển tải những kiến thức lịch sử cơ bản cho người dân. Bởi Người hiểu sâu sắc rằng, thơ ca rất gần gũi, quen thuộc với người dân nước Việt, nhờ đặc tính có vần, có điệu nên dễ thuộc, dễ nhớ, dễ đi sâu vào lòng người.

Từ năm 1942 đến năm 1969, sau Lịch sử nước ta, hằng năm vào dịp đầu Xuân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều viết tiếp Lịch sử nước ta dưới dạng độc đáo là thư và thơ chúc tết, Người đã để lại cho kho tàng lịch sử và văn học Việt Nam một gia tài quý báu gồm hai mươi sáu bài thơ và năm mươi tám bức thư, điện chúc Tết, ba tập diễn ca lịch sử và địa lý.

Viết lịch sử đất nước, dân tộc bằng thơ và thư chúc Tết, Chủ tịch Hồ Chí Minh ý thức rằng từ thuở xa xưa, chúc Tết là một trong muôn vàn nét đẹp truyền thống trong ứng xử của người dân Việt Nam.

Hằng năm vào những ngày đầu Xuân, dù giàu, nghèo, sang, hèn, nhà nhà, người người đều chúc nhau với những lời tốt đẹp nhất để vượt qua mọi khốn khó, trở ngại trên đường đời và mơ ước về một cuộc sống thanh bình, ấm no, hạnh phúc. Đó cũng là dịp để mỗi thành viên trong gia đình nhớ tới những người thân đi xa và tưởng niệm ông bà, tổ tiên cùng những người thân yêu đã khuất.

Hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất trân trọng, nâng niu, gìn giữ và ra sức phát huy những nét đẹp trong truyền thống văn hóa đó của dân tộc.

Thư và thơ chúc Xuân là hai thể loại được

Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng để viết sử, do ưu thế về khả năng chuyển tải tư tưởng, tình cảm một cách ngắn gọn, sinh động và súc tích, trở thành cuốn Biên niên lịch sử đất nước sống động, vô giá.

Tư tưởng chung nhất trong thư và thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên hết là lời chúc tốt lành, vừa là lời kêu gọi hết thảy cán bộ, chiến sĩ, đồng bào hăng hái thi đua hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của từng năm, từng thời kỳ để cùng nhau mau chóng đưa nước nhà đến độc lập, thống nhất, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc.

Khởi đầu từ tập diễn ca Địa dư nước ta, viết năm 1941 ở Pác Bó, đến Xuân Nhâm Ngọ (năm 1942), giữa núi rừng Việt Bắc ngút ngàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ Mừng Xuân, chúc đồng bào đoàn kết, nước nhà mau được độc lập. Đó không chỉ là khát vọng của cả dân tộc, mà Người đã chủ động dự báo lịch sử, đón đầu thời cơ một cách tài tình:

“Chúc đồng bào ta đoàn kết mau,
Chúc Việt Minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong năm nay,
Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới!”

Bài “Chào Xuân” năm Giáp Thân (năm 1944) đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một bức thư chúc Tết, trở thành câu đối sắc sảo, dự báo chiến thắng của phe Đồng minh trước trục phát-xít:

“Rót cốc rượu Xuân, mừng cách mạng.
Viết bài chào Tết, chúc thành công!”

Xuân Bính Tuất (năm 1946) – Tết Độc lập cũng là Tết Kháng chiến đầu tiên sau gần một thế kỷ bị thực dân Pháp đô hộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ và toàn thể đồng bào chúc Tết các chiến sĩ Quyết tử yêu quý ngoài mặt trận, trên chiến lũy Sài Gòn, Hà Nội, với lời ước hẹn sắt son:

“Bao giờ kháng chiến thành công,
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.
Tết này ta tạm xa nhau,
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy”;

Với đồng bào cả nước, Người chúc mừng và khẳng định:

“Trong năm Bính Tuất mới,
Muôn việc đều tiến tới.
Kiến quốc mau thành công!
Kháng chiến mau thắng lợi
Việt Nam độc lập muôn năm!”

Với Nam Bộ trên tuyến đầu chống Pháp xâm lược, món quà Xuân mà Người thay mặt Chính phủ trao tặng là danh hiệu vẻ vang “Thành đồng Tổ quốc”.

Xuân Đinh Hợi (năm 1947), lời chúc Xuân của Người mang âm hưởng của khẩu hiệu hành động:

“Trường kỳ kháng chiến nhất định
thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định
thành công!”

Trong những bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1948 đến năm 1954, Người luôn khẳng định lòng tin son sắt vào thắng lợi cuối cùng, đồng thời động viên hết thảy đồng bào, chiến sĩ cả nước hăng hái thi đua cứu quốc, đưa kháng chiến đến thắng lợi. Những vần thơ chúc Xuân ngắn gọn của Người diệu kỳ thay đã trở thành phương thức, những khẩu hiệu nổi tiếng, đi vào lịch sử kháng chiến, gây xúc động và cuốn hút lòng người như vần thơ chúc Xuân Kỷ Sửu (năm 1949):

“Người người thi đua,
Ngành ngành thi đua,
Ta nhất định thắng!
Địch nhất định thua!”

Trong những mùa Xuân: Canh Dần (năm 1950), Tân Mão (năm 1951), Nhâm Thìn (năm 1952), bên cạnh những bài thơ mừng Xuân mới, Bác Hồ còn viết thư chúc Tết nhằm động viên được cao nhất sức người, sức của cho tiền tuyến, đặc biệt ở những thời điểm bước ngoặt của cuộc kháng chiến như mùa Xuân năm 1951:

“Xuân này kháng chiến đã năm Xuân.
Nhiều Xuân thắng lợi càng gần thành công.
Toàn dân hăng hái một lòng.
Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời”.

Suốt mười năm cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Bảo vệ miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, ủng hộ đồng bào miền Nam đấu tranh cho thống nhất nước nhà, những bài thơ Xuân và thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều hướng vào mục tiêu động viên hết thảy đồng bào, chiến sĩ cả nước thi đua xây dựng cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam và sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trong thư chúc mừng năm mới Bính Thân (năm 1956), thêm một lần Bác khẳng định:

“Miền Bắc thi đua xây dựng,
Miền Nam giữ vững thành đồng
Quyết chí bền gan phấn đấu
Hòa bình, thống nhất thành công”.

Với niềm tin son sắt vào thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, Xuân Tân Sửu (năm 1961), Người hướng tầm nhìn của muôn người tới tương lai xán lạn:

“Mừng Việt Nam, mừng thế giới!
Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh”.

Xuân Giáp Thìn (năm 1964) là năm thứ tư của kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất ở miền Bắc (1960 – 1965). Những năm tháng đồng bào miền Nam anh dũng chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn ra sức động viên đồng bào, chiến sĩ cả nước thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

“Bắc Nam như cội với cành,
Anh em ruột thịt đấu tranh một lòng.
Rồi đây thống nhất thành công,
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà.
Mấy lời thân ái nôm na,
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”.

Năm 1965, khi đế quốc Mỹ ồ ạt đem quân vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, những vần thơ chúc Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng về đồng bào, chiến sĩ ở cả hai miền Nam – Bắc, hết lòng động viên phong trào chống Mỹ, cứu nước của cả dân tộc. Vào đúng năm này, Người bắt tay viết Di Chúc, sau những vần thơ chúc Xuân:

“Chào mừng ất Tỵ Xuân năm mới,
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi,
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi,
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới,
Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi,
Đấu tranh anh dũng, cả nước một lòng,
Chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi!
Hòa bình thống nhất ắt hẳn thành công”.

Theo những cánh sóng báo tin thắng trận dồn dập, vần thơ chúc Xuân Đinh Mùi (năm 1967) của Bác Hồ vút lên, ngân dài, vang xa, rộn rã như khúc ca chiến thắng:

“Xuân về xin có một bài ca,
Gửi chúc đồng bào cả nước ta,
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi
Tin mừng thắng trận nở như hoa”.

Đặc biệt, Xuân Mậu Thân (năm 1968), đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người không chỉ gửi thư chúc mừng năm mới tới đồng bào, chiến sĩ cả nước, mà gửi cả bạn bè năm châu, bốn biển để nói lời cảm ơn và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ đế quốc Mỹ đưa quân trực tiếp vào xâm lược miền Nam và gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhưng nhân dân Việt Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết đánh Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua.
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên toàn thắng ắt về ta!”.

Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của Bác, ngay sau khi phát đi đã được phổ nhạc thành bài ca mang âm hưởng lạc quan, hào hùng, sang sảng như lời hịch, hàm chứa một nội dung lớn, mới mẻ, nâng tầm những định hướng và mục tiêu cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến đỉnh cao.

Năm 1969, cuộc chiến tranh giải phóng (1945 – 1975) của nhân dân ta bước sang năm thứ 24, cuộc kháng chiến chống Mỹ bước sang năm thứ 15, Bác Hồ ở độ tuổi 79. Với dự cảm hết sức chuẩn xác, tinh tế, Người chuẩn bị kỹ lưỡng, chu toàn mọi việc riêng, chung, trước lúc đi xa về cõi vĩnh hằng. Người đã hoàn chỉnh bản Di chúc.

Lúc này bệnh tình của Bác đã trở nên trầm trọng. Người đã phải khổ luyện hàng tháng trời và ra sức thuyết phục các bác sĩ đang chăm sóc sức khỏe cho Người, để có thể chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước như thông lệ hằng năm, để không ai biết được Người đang lâm bệnh nặng. Trong chúng ta chắc chẳng ai cầm lòng được, mỗi khi nhớ về phút giao thừa năm Kỷ Dậu (năm 1969). Dù lâm bệnh nặng là thế, Người vẫn làm thơ, viết hai thư, gửi ba bức điện chúc Tết tới nhà nhà, người người. Phút giao thừa như lặng đi khi Đài Tiếng nói Việt Nam vang lên lời chúc Xuân của Bác. Vẫn giọng trầm ấm, truyền cảm da diết của quê hương Xứ Nghệ, chứa đựng hết thảy tình thương bao la của Bác dành cho đồng bào, chiến sĩ cả nước, cho kiều bào ta ở nước ngoài và cho cả bạn bè khắp năm châu. Gói trọn tấm lòng nhân hậu của người cha, người bạn, trước lúc đi xa:

“Đồng bào và chiến sĩ yêu quý!

Năm 1968 là một năm quân dân cả nước ta chiến thắng rất oanh liệt…

Nhân dịp năm mới 1969, thay mặt nhân dân cả nước ta, tôi nhiệt liệt chúc mừng và cảm ơn các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước bầu bạn và nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã hết lòng ủng hộ và giúp đỡ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Tôi thân ái chúc đồng bào, chiến sĩ, cán bộ và bà con Hoa kiều cả hai miền Nam Bắc và kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới đoàn kết, chiến đấu, thắng lợi. Và có mấy lời mừng Xuân như sau:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào,
Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào!
Bắc Nam xum họp, xuân nào vui hơn!”

Sáu khổ thơ chúc Xuân cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay lập tức được phổ nhạc, theo cánh sóng Đài Tiếng nói Việt Nam đã bay cao, vang xa khắp mọi miền đất nước, đến cùng bạn bè xa gần khắp năm châu, bốn biển, trở thành Bản anh hùng ca sống mãi cùng năm tháng.

Từ Xuân Nhâm Ngọ (năm 1942) đến Xuân Kỷ Dậu (năm 1969), người Việt Nam may mắn có được trên một phần tư thế kỷ được Bác gửi thư chúc Tết và thơ mừng Xuân. Mỗi lá thư, vần thơ của Người là một bản tổng kết, một trang sử thi, địa lý, một bức tranh lịch sử về những sự kiện nổi bật, hay những chiến công vang dội của dân tộc, đất nước trong năm qua, đồng thời vạch ra phương hướng, sách lược và từng bước đi cụ thể cho năm mới.

Trong thư và thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại và tương lai luôn đan xen, quyện chặt vào nhau, dệt thành bức tranh lịch sử sống động về cuộc kháng chiến oanh liệt của nhân dân ta chống thực dân Pháp, chống phát-xít Nhật và đế quốc Mỹ xâm lược.

Hơn một phần tư thế kỷ, với hai mươi sáu khoảnh khắc mùa Xuân, cả Việt Nam luôn hướng về Việt Bắc – thủ đô kháng chiến, hướng về Thủ đô Hà Nội – trái tim của đất nước, được đón chờ phút giao thừa thiêng liêng, với lời chúc Xuân nồng ấm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thông lệ đó đã trở thành nhu cầu tình cảm và nỗi khát khao trong sâu thẳm tâm hồn của người dân Việt Nam. Qua rồi hơn bốn thập niên, dẫu không còn hạnh phúc được nghe Bác Hồ chúc Tết, nhưng cuốn Địa dư nước ta, Lịch sử nước ta, Thư và thơ chúc Tết cùng với Di chúc của Bác Hồ mãi mãi là những pho sử vàng cả về hình thức lẫn nội dung thể hiện.

Đinh Thu Xuân

tapchicongsan.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp thống nhất đất nước

Nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất đã gần 40 năm. Thành tựu vĩ đại này phải trả bằng trí tuệ và máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam. Mỗi chúng ta, những ai nhận mình là con dân nước Việt, con Lạc, cháu Hồng đều đã góp phần công sức vào thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại đó. Cần khẳng định rằng, Hồ Chí Minh là người đi tiên phong, người có công lao lớn nhất trong sự nghiệp này.

1.Hồ Chí Minh vạch trần chủ trương, chính sách, biện pháp chia cắt đất nước của các thế lực xâm lược và tay sai của chúng

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, trong nhiều tác phẩm bài nói, bài viết, đặc biệt là Bản án chế độ thực dân Pháp và những bài có tiêu đề Đông Dương, Hồ Chí Minh tố cáo chính sách “chia để trị” của Pháp đối với Đông Dương và Việt Nam. Cách đây hơn 70 năm, Hồ Chí Minh đã thấy rõ tâm địa thực dân: “Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi châm ngôn “chia để trị” của nó. Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói đã bị chia năm sẻ bảy. Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy, người ta hy vọng làm nguội tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng người An Nam và tạo ra những mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau. Sau khi đẩy họ chống lại nhau, người ta lại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại lập nên một “liên bang” gọi là “Liên bang Đông Dương”

Trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh một lần nữa vạch rõ những âm mưu thâm độc, “những luật pháp dã man” của thực dân Pháp: “Chúng lập ba chế độ khác nhau của Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết”. Cũng trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh khẳng định toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững độc lập thống nhất. Đối với Hồ Chí Minh, độc lập tự do gắn bó chặt chẽ với sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, Bắc, Trung, Nam là một, không thể phân chia.

Mấy ngày sau Tuyên ngôn độc lập, những binh lính Pháp đầu tiên đã quay lại Nam Bộ. Ngày 23-9-1945, quân đội Pháp được sự giúp đỡ của quân Anh đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Hành động quân sự này đi liền với âm mưu tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam. Hồ Chí Minh đã kịp thời phê phán những âm mưu, hành động đó và nhiều lần khẳng định: Nam Bộ là một bộ phận của nước Việt Nam, không ai có quyền chia rẽ, không một lực lượng nào có thể chia rẽ. Không chỉ ở trong nước mà ngay từ lần thăm nước ngoài đầu tiên, với tư cách là người đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới, Hồ Chí Minh cũng thẳng thắn vạch rõ âm mưu chia cắt đất nước của kẻ thù. Ngày 12-7-1946, trong cuộc họp báo tại Pháp, trả lời câu hỏi: “Nếu Nam Kỳ từ chối không sát nhập vào Việt Nam, Chủ tịch sẽ làm thế nào?”, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nam Kỳ cùng một tổ tiên với chúng tôi, tại sao Nam Kỳ lại không muốn ở trong đất nước Việt Nam”? Người Baxcơ, người Brơtôn không nói tiếng Pháp mà vẫn là người Pháp. Người Nam Kỳ nói tiếng Việt Nam, tại sao lại còn nghĩ đến sự cản trở việc thống nhất nước Việt Nam?”. Cũng trong cuộc họp báo này, Hồ Chí Minh một lần nữa nhắc lại quan điểm của Chính phủ và nhân dân Việt Nam về vấn đề Nam Bộ: Nam Bộ là đất Việt Nam “đó là thịt của thịt Việt Nam, máu của máu Việt Nam”1

Thất bại tại Điện Biên Phủ, thực dân Pháp buộc phải rút khỏi Việt Nam. Ngay trước khi Hiệp định Giơnevơ được ky kết, ngày 15-7-1954, báo cáo tại Hội nghị lần thứ sáu (khoá II), Hồ Chí Minh vạch rõ: “Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới, mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào”. Âm mưu chia cắt lâu dài đất nước của kẻ thù mới thâm độc, xảo quyệt hơn, trắng trợn, lộ liễu hơn. Nhưng tất cả mọi âm mưu thủ đoạn đó đều bị Hồ Chí Minh vạch trần, bác bỏ.

Khi leo thang đánh phá miền Bắc, nhà cầm quyền Mỹ giải thích rằng vì miền Bắc “xâm lược” miền Nam và chúng tiến công miền Bắc là để chấm dứt sự giúp đỡ, chi viện của miền Bắc đối với miền Nam! Trước sự giải thích theo lối nguỵ biện ấy, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đó là những luận điệu dối trá hòng lừa bịp nhân dân thế giới và che đậy hành động xâm lược của Mỹ. Cần nói rõ rằng, đánh đổ bọn xâm lược Mỹ để giữ làng, giữ nước, giành quyền quyết định lấy công việc nội bộ của mình,…đó là quyền thiêng liêng của mọi người Việt Nam ở miền Bắc cũng như ở miền Nam”. Hồ Chí Minh kiên quyết bác bỏ luận điệu của đế quốc Mỹ cho rằng miền Nam Việt Nam là nước láng giềng của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 18-11-1965, khi nhà báo Anh đặt câu hỏi: Xin Chủ tịch cho biết y kiến về việc Mỹ cho rằng họ ném bom miền Bắc là để Ngài ngừng ủng hộ cách mạng miền Nam, vì vậy Mỹ sẽ ngừng ném bom ngay tức khắc nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để cho nước làng giềng được yên, Hồ Chí Minh khẳng định: “Luận điệu cho rằng miền Nam của Tổ quốc chúng tôi là một nước “láng giềng” riêng biệt của miền Bắc là một luận điệu gian trá. Cũng như nói rằng những bang ở phía Nam là một nước riêng biệt với những bang ở phía Bắc của Hoa Kỳ”2

Như vậy, cả chủ nghĩa thực dân cũ lẫn chủ nghĩa thực dân mới đều thống nhất và có mục tiêu chung trong việc chia cắt lâu dài nước ta. Tất cả những âm mưu, thủ đoạn của chúng đều bị người anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh bác bỏ trên cơ sở nắm vững không chỉ truyền thống, lịch sử của Việt Nam mà cả truyền thống, lịch sử của chính các nước đi xâm lược.

Cần nói thêm rằng, âm mưu, hoạt động chia cắt đất nước của các thế lực xâm lược thường nhận được sự hỗ trợ của một số rất ít người trong nước. Tất cả những kẻ tiếp tay cho ngoại bang, đi ngược lại lợi ích của dân tộc và Tổ quốc, đều bị Hồ Chí Minh nghiêm khắc lên án và khép vào tội nặng nề nhất, nhục nhã nhất: tội theo giặc, bán nước cầu vinh

2. Hồ Chí Minh tiêu biểu cho ý chí và nguyện vọng thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam

Với Hồ Chí Minh, con đường độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp thống nhất đất nước. Đó là chân lý, là lẽ sống của mỗi người Việt Nam. Hồ Chí Minh vạch rõ: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam; sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Không chỉ với đồng bào Nam Bộ hay nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh mới bày tỏ y nguyện thống nhất đất nước của mình, mà trên nhiều diễn đàn quốc tế Người vẫn nhấn mạnh đến quan điểm đó. Tháng 2-1958, nói chuyện với Hội những người ấn, nghiên cứu các vấn đề quốc tế, tại ấn Độ, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Việt Nam là một dân tộc có chung một lịch sử, một thứ tiếng, một nền kinh tế và văn hoá. Nước Việt Nam là một khối thống nhất… Nguyện vọng tha thiết, y chí sắt đá của toàn dân Việt Nam là thực hiện thống nhất đất nước… Đấu tranh cho thống nhất là con đường sống của nhân dân Việt Nam”

Có thể nói, mối quan tâm thường xuyên, lớn nhất của Hồ Chí Minh trong quá trình hoạt động cách mạng là thống nhất đất nước. Hồ Chí Minh thể hiện sự quan tâm của mình đối với vấn đề Bắc Nam sum họp bằng những tình cảm rất đặc biệt.

Năm 1946, thời điểm chính quyền cách mạng non trẻ bị thù trong giặc ngoài đẩy vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” thì nguy cơ chia cắt đất nước cũng nghiêm trọng nhất. Trong điều kiện ấy, Hồ Chí Minh càng thể hiện ý chí quyêt tâm thống nhất đất nước của mình.

Sáng sớm ngày 31-5-1946, ngay trước khi lên đường sang Pháp, Hồ Chí Minh gửi tới đồng bào Nam Bộ bức thư, làm xúc động đồng bào cả nước. Bức thư viết: “Được tin tôi cùng Đoàn đại biểu qua Pháp để mở cuộc đàm phán chính thức, đồng bào cả nước, nhất là đồng bào Nam Bộ đều lấy làm bâng khuâng. Bâng khuâng vì chưa rõ tương lai của Nam Bộ sẽ như thế nào?..

Tôi xin đồng bào cứ bình tĩnh. Tôi xin hứa với đồng bào rằng Hồ Chí Minh không phải là người bán nước”4. Thật cảm động. Sau khi đi Pháp về, ngày 23-10-1946, Hồ Chí Minh lại tuyên bố với quốc dân đồng bào: “Không ai có thể chia rẽ con một nhà, không ai có thể chia rẽ nước Việt Nam ta… Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Thể hiện ý chí, nguyện vọng của toàn dân tộc, tư tưởng thống nhất đất nước được thể chế hoá trong bộ luật cao nhất của nhà nước Dân chủ Cộng hoà non trẻ. Điều 2 của Hiến pháp 1946, Hiến pháp do Hồ Chí Minh làm Trưởng ban soạn thảo và được Quốc hội thông qua ngày 9-1-1946 viết: “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia.”

Những năm tháng chống Mỹ cứu nước, cả dân tộc sống trong nỗi đau chia cắt, trong đó người đau đớn nhất là Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh nói: ở miền Nam mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi. Chính vì vậy mà Hồ Chí Minh cho rằng niềm vui lớn nhất của Người là niềm vui Bắc Nam sum họp. Tại Lễ bế mạc kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa III, Hồ Chí Minh đã đọc bốn câu thơ:

“Bảy mươi tư tuổi vẫn chưa già
Cố gắng làm tròn nhiệm vụ ta
Bao giờ Nam Bắc một nhà
Dân giàu nước mạnh thì ta vui lòng”

Tiếp tục ý tưởng và tư duy ấy, bài thơ chúc mừng năm mới cuối cùng, năm 1969 của Hồ Chí Minh được khép lại bằng hai câu thơ:

“Tiến lên! chiến sĩ đồng bào
Bắc – Nam sum họp xuân nào vui hơn”

Với Hồ Chí Minh, niềm vui chỉ trọn vẹn, nhiệm vụ trước Đảng, trước dân chỉ được coi là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khi Tổ quốc thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà. Vì vậy Hồ Chí Minh đã từ chối những phần thưởng cao quý nhất mà Tổ quốc và nhân dân trao tặng cho Người. Biết tin Quốc hội sẽ tặng mình Huân chương Sao vàng, huân chương cao quy nhất của Nhà nước ta, Hồ Chí Minh đã báo cáo với Quốc hội: Xin cho phép tôi chưa nhận huân chương ấy vì Tổ quốc ta hiện đang bị chia cắt làm đôi, hãy chờ “đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hòa bình thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi huân chương cao quy. Như vậy toàn dân ta sẽ sung sướng vui mừng”.5 Cũng với suy nghĩ ấy, Hồ Chí Minh đã từ chối những phần thưởng của bạn bè quốc tế. Nhân kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô quyết định tặng Người Huân chương Lênin. Nhận được tin này, ngày 6-11-1967, Hồ Chí Minh gửi điện tới Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô. Bức điện viết: “Tôi vô cùng cảm động và cám ơn các đồng chí”, nhưng lúc này “toàn quân và toàn dân Việt Nam chúng tôi đang phải hy sinh xương máu để đánh Mỹ, cứu nước. Vì lẽ đó…xin các đồng chí hãy tạm hoãn việc trao tặng phần thưởng cực kỳ cao quý ấy. Đến ngày nhân dân chúng tôi đánh đuổi được bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam, tôi sẽ đại diện cho toàn thể đồng bào tôi, trân trọng và vui mừng lãnh lấy Huân chương mang tên Lênin vĩ đại”

3. Để thống nhất đất nước phải kiên quyết chống xâm lược và bọn tay sai của chúng

Hồ Chí Minh cho rằng để “đánh thắng cái liên minh ghê gớm giữa thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai” trong âm mưu và hành động chia cắt đất nước, chúng ta quyết tâm chiến đấu, chấp nhận những hy sinh to lớn. Tháng 10-1945, nghĩa là khi nhân dân Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp được một tháng, Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ: “Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của đất nước. Dẫu có phải hy sinh đến nửa dân tộc, ta cũng quyết hi sinh”6

Với đế quốc Mỹ, kẻ thù mạnh hơn ta về nhiều mặt, chí quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh càng mạnh mẽ hơn. Đặc biệt khi Mỹ ồ ạt đưa hàng chục vạn quân Mỹ và chư hầu trực tiếp tham chiếm ở miền Nam, đồng thời dùng không quân và hải quân đánh phá ác liệt miền Bắc, kể cả thủ đô Hà Nội thì quyết tâm thắng Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của Hồ Chí Minh lại son sắt hơn bao giờ hết. Hồ Chí Minh khẳng định: đế quốc Mỹ “có thể đưa 50 vạn quân, một triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược miền Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay tăng cường đánh phá miền Bắc, chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc được Hồ Chí Minh thể hiện đậm nét trong Di chúc của Người. Dự đoán rằng cuộc chiến đấu càng gần thắng lợi càng nhiều gian khổ, hy sinh, trong Di chúc viết năm 1965, Hồ Chí Minh vẫn tin tưởng rằng: dù có phải hy sinh nhiều của, nhiều người, chúng ta nhất định đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào Nam – Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Đến Di chúc viết năm 1969, Hồ Chí Minh chốt lại: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn”.

Thực hiện Di chúc và khát vọng thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã đồng tâm hiệp lực “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, thu giang sơn về một mối. Cần khẳng định rằng thành tích lớn nhất, có ý nghĩa nhất mà Đảng Cộng sản và dân tộc ta kính dâng lên người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh là nước Việt Nam độc lập, thống nhất vào năm 1975, đúng như dự đoán của Người 15 năm trước đó – năm 1960./

Nguyễn Thu Hiền
Nhà Xuất bản Lý luận Chính trị

Chú thích:
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.4, tr.272.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.11, tr.546.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1996, t.8, tr.38.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.4, tr.246.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.11, tr.61-62.
6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.4, tr.79

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư của Hồ Chí Minh

Đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh có nội dung phong phú và rộng lớn, trong đó Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư là những phẩm chất không thể thiếu của người cách mạng, Người luôn coi đó là những phẩm chất phải luôn gắn liền với lời nói, việc làm, cử chỉ, hành động của mỗi cán bộ, đảng viên. Tháng 6-1949 với bút danh Lê Quyết Thắng, trong tác phẩm Cần, Kiệm, Liêm, Chính,Người đã giải thích rõ:

Cần: là cần cù, siêng năng, chăm chỉ, dẻo dai; lao động sáng tạo, có kế hoạch, có năng suất cao… Trái với Cần là lười biếng: biếng học, biếng làm, không chịu động não tư duy. Việc dễ thì dành cho mình, việc khó thì tìm cách lẩn tránh, đẩy cho người khác…

Kiệm: là “tiết kiệm, không xa xỉ, không lãng phí, không bừa bãi”(1) đó là tiết kiệm thời gian, tiền của; tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái lớn… Tiết kiệm nhưng không bủn xỉn: “Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng. Như thế mới đúng là Kiệm”(2). Trái với Kiệm là xa hoa, lãng phí, bừa bãi làm tốn thời gian, tiền của một cách vô ích.

Liêm: là “trong sạch không tham lam…”(3), “là không tham địa vị. Không ham tiền tài… chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”(4). Trái với Liêm “là tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng…”, “Cậy quyền, cậy thế mà đục khoét dân, ăn của đút hoặc trộm của công làm của tư”(5).

Chính: “là không tà…, là thẳng thắn, đứng đắn”(6). Việc gì cũng phải công minh chính trực; không tư ân, tư huệ, tư thù, tư oán… Trái với Chính là tà, là ác; là không thẳng thắn, không đứng đắn; là hủ hoá, xấu xa, kiêu ngạo…

Chí công vô tư: là không nghĩ đến mình trước, phải đặt lợi ích của cách mạng, của nhân dân, của Đảng, lên trên hết, trước hếtkhông kèn cựa về mặt hưởng thụ, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, mình vì mọi người, công tâm trong sáng. Đối lập với “Chí công vô tư” là “di công vi tư”, đó là chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, là một thứ vi trùng độc hại; là căn nguyên, gốc rễ đẻ ra hàng trăm thứ bệnh và thói hư tật xấu: Tham lam, kiêu ngạo, hiếu danh, óc địa phương hẹp hòi, kéo bè, kéo cánh, quan liêu, độc đoán, tham ô, tham nhũng…

Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư có mối quan hệ biện chứng, gắn bó mật thiết với nhau. Theo Bác: “Cần và Kiệm, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người. Cần mà không Kiệm, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”… Kiệm mà không cần thì không tăng thêm, không phát triển được”(7) . “Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần. Có Kiệm mới có Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam”(8). “Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới hoàn toànMột người có Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn”(9) . Bác nhấn mạnh: Cần, Kiệm, Liêm, Chính là vô cùng quan trọng và cần thiết; là nền tảng của đời sống mới; là cái cần để làm việc, làm người, làm cán bộ, phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại; là thước đo văn minh tiến bộ của một dân tộc. Người khẳng định: Một dân tộc biết Cần, Kiệm, Liêm, Chính “là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”(10). Cần, Kiệm, Liêm, Chính là đạo đức của một xã hội hưng thịnh: nếu không có những phẩm chất đó thì xã hội suy vong. Do đó, thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính sẽ dẫn đến Chí công vô tư. Ngược lại, Chí công vô tư, một lòng, một dạ vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ dễ thực hiện được Cần, Kiệm, Liêm, Chính và có được nhiều đức tính tốt khác. Kết quả: “Bộ đội sẽ đầy đủ, nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công, nước ta sẽ mau giàu mạnh ngang hàng với các nước tiên tiến trên thế giới”(11).

Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra những phẩm chất, những chuẩn mực đạo đức cách mạng mà điều rất quan trọng, rất thuyết phục là chính Người là hiện thân của những phẩm chất đó để chúng ta học tập.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, dù là người phụ bếp, đốt lò, rửa bát hay trên cương vị là đại biểu của Quốc tế cộng sản, Chủ tịch nước – Hồ Chí Minh luôn nêu cao lối sống cần kiệm, giản dị, không màng danh vọng, không ham của cải, không ham sự xa hoa, không chuộng những nghi thức sang trọng. Bác luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới đời sống của nhân dân. Bác nói: “Người ta ai cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhưng muốn phải cho đúng thời, đúng hoàn cảnh. Trong lúc nhân dân ta còn thiếu thốn mà một người nào đó muốn riêng hưởng ăn ngon, mặc đẹp, như vậy là không có đạo đức”(12). Trước cảnh dân đói năm 1945, Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào cả nước nhường cơm, sẻ áo cho nhau: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy, thì những người nghèo sẽ có bữa rau, bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói”(13). Bác đã gương mẫu nhịn ăn vào tối thứ 7, tự tay bỏ gạo vào hũ cứu đói dân nghèo. Chiếc áo lụa đồng bào tặng, Bác cũng cho đem bán lấy tiền mua áo ấm tặng cho chiến sỹ trong mùa đông giá rét. Số tiền tiết kiệm ít ỏi là tiền nhuận bút các báo gửi cho Bác, Bác cũng cho đem mua nước uống tặng các chiến sỹ trực phòng không trong những ngày hè nóng bức. Bác thường nói: chiến sỹ còn đói, khổ tôi ăn ngon sao được, chiến sỹ còn rách rưới mình mặc thế này cũng là đầy đủ lắm rồi.

Những cử chỉ cao đẹp đó không chỉ là tình cảm, tình thương bao la của Bác với đồng bào, chiến sỹ mà còn thể hiện sâu sắc những giá trị đạo đức cách mạng ở Hồ Chí Minh. Sự tiết kiệm, giản dị, thanh liêm được thể hiện đậm nét trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của Bác.

Về chi tiêu: Những năm hoạt động ở nước ngoài, Người đã tự thân lao động kiếm tiền để hoạt động cách mạng, chi tiêu rất tiết kiệm. Đến khi làm Chủ tịch nước, cả trong kháng chiến, cả trong hoà bình, Bác luôn cân nhắc kỹ càng việc không đáng tiêu thì một xu cũng không tiêu.

Về bữa ăn: Ông Đinh Văn Cẩn người nấu ăn cho Bác từ hồi ở chiến khu Việt Bắc đến những ngày cuối đời, kể lại: Bác quy định hồi đó mỗi bữa không quá 3 món, thức ăn đủ, tránh lãng phí. Bác ưa các món dân gian, dưa cà, mắm tép, cá kho. Khi đi công tác địa phương Bác dặn các đồng chí phục vụ chuẩn bị cơm nắm, thức ăn từ nhà hoặc mang nồi đi nấu cho tiết kiệm, tránh các nơi đón tiếp linh đình, tốn phí. Có lần Bác đến thăm một địa phương, các cụ mổ bò để đón, nhưng Bác nói:Các cụ đã mổ bò thì để các cụ và dân làng ăn, Bác cháu ta cứ ăn cơm đã mang theo.

Về trang phục: Bác thường xuyên mặc bộ kaky, đi dép lốp, dùng túi vải, mũ cát, đôi khi kể cả đi công tác ngoài nước.

Về ở: Bác không chọn dinh thự cao cấp, đầy đủ tiện nghi sang trọng mà lại ở trong gian nhà vốn là nơi ở của người thợ hoặc một căn nhà sàn, Bác sống giản dị đến giây phút cuối cùng của cuộc đời. Trước lúc đi xa Người còn căn dặn: Khi Bác qua đời chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân…

Tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng Cần, Kiệm, Liêm Chính, Chí công vô tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những giá trị đạo đức cao đẹp của thời đại. Trải qua thời gian và thử thách, trước những biến cố thăng trầm của lịch sử những phẩm chất đạo đức đó vẫn còn nguyên giá trị. Tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân.

PHẠM VĂN MINH
Khoa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Hoc viện Kỹ thuật quân sự

_____

(1-11) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.636, 640, 252, 643, 642, 639. (12) Sđd, tập 8, tr.392. (13) Sđd, tập 4, tr.31.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với thanh niên

Mọi quốc gia, dân tộc, nếu muốn ngày một phát triển và không tụt hậu, thì nhất định không thể không quan tâm đến vấn đề bồi dưỡng lực lượng kế cận. Tuy nhiên, nhận thức được ý nghĩa nhân văn sâu sắc của vấn đề quan trọng này lại tuỳ thuộc vào từng quốc gia, dân tộc. Trước nhữngvận hội mới của đất nước, có dịp đọc lại những trước tác Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta nói chung và thanh niên Việt Nam nói riêng, ôn lại những hồi ức và những kỷ niệm của các thế hệ thanh niên Việt Nam đã từng một lần được gặp Người càng thấy ý nghĩa lớn lao trước sự quan tâm của Người đối với thế hệ thanh niên Việt Nam. Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng thấy thiêng liêng và xúc động hơn trước lời căn dặn thiết tha, đầy trách nhiệm của người Cha già dân tộc trong bản Di chúc lịch sử: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”[1].

Thấu hiểu sâu sắc rằng, lịch sử là sự tiếp diễn, kế tục giữa các thế hệ và đòi hỏi phải có sự chủ động, chuẩn bị, vun trồng “tinh thần và lực lượng” một cách chắc chắn, cho nên, từ khi còn hoạt động bí mật cho đến khi trở thành lãnh tụ của một Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn đánh giá một cách nghiêm túc, quan tâm một cách chu đáo đến vấn đề bồi dưỡng các thế hệ thanh niên Việt Nam. Dành nhiều tâm huyết cho thế hệ rường cột tương lai của nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh kỳ vọng và mong muốn tạo dựng đội ngũ cán bộ kế cận đầy sinh lực cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Bằng trái tim nóng của tuổi trẻ và những năm tháng thanh xuân sôi nổi, song cũng đầy gian truân của mình, người cộng sản Hồ Chí Minh đã nhận thức được vị trí và vai trò của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng một xã hội mới dân chủ và tốt đẹp. Vì vậy, sẽ không bất ngờ khi Hồ Chí Minh đánh giá đúng về thanh niên, tin tưởng vào thanh niên như Người đã từng tự tin vào chính tuổi trẻ, vào hoài bão lớn lao “giải phóng dân tộc, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân” của mình ngày nào. Luận giải được nội dung những luận điểm của Lênin: “Phải tổ chức và đoàn kết toàn thể thế hệ thanh niên, phải làm gương mẫu về giáo dục và lý luận trong cuộc đấu tranh này…mới có thể hoàn thành công cuộc xây dựng lâu dài của xã hội cộng sản chủ nghĩa”[2], từ khi còn hoạt động ở nước ngoài cho đến khi đã trở thành Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm: Muốn thức tỉnh một dân tộc, muốn tiến hành một cuộc đấu tranh để giải phóng, thì trước hết phải thức tỉnh thanh niên, vì thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc. Từ đó, Người đã đặt niềm tin tưởng vào thanh niên, coi vận mệnh của dân tộc, sự hưng thịnh hay suy vong của dân tộc Việt Nam tuỳ thuộc vào sự giác ngộ cách mạng và trách nhiệm của các thế hệ thanh niên. Dường như bằng tất cả tấm lòng mình, bằng chính những hoạt động không mệt mỏi của mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng loài người, Hồ Chí Minh đã “Gửi thanh niên An Nam” những lời nhắn nhủ: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám Thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”[3].

Sau đó, vận dụng sáng tạo học thuyết Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, trong quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng cộng sản – bộ tham mưu lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã hư­ớng vào thanh niên, đ­ưa họ đến với cách mạng. Người quan niệm, “dân tộc đ­ược giải phóng, thanh niên mới đư­ợc tự do. Vì vậy thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc”[4]. Thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (6/1925) mà nòng cốt là Cộng sản đoàn, trực tiếp mở lớp huấn luyện chính trị, ra báo Thanh niên, đào tạo nhiều thanh niên Việt Nam yêu nước trở thành những cán bộ cốt cán của Đảng ta và của phong trào cách mạng sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh góp phần hoàn thành nhiệm vụ “thức tỉnh dân tộc” hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc trong những năm 20 của thế kỷ XX.

Đồng thời, cũng trong thời gian ở Quảng Châu (1924-1927), với tầm nhìn chiến lược của một vị lãnh tụ, Người đã viết thư: gửi Uỷ banTrung ương thiếu nhi Liên xô và Thư cho đại diện đoàn Thanh niên cộng sản Pháp tại Quốc tế Thanh niên cộng sản, (22/7/1926) đề nghị giúp đỡ, để gửi một số thiếu niên Việt Nam trong số 7 thiếu niên do Người nuôi ở Quảng châu, sang Liên xô học tập, “để trở thành những chiến sĩ Lênin nít tí hon chân chính”, làm hạt nhân cho Đoàn thanh niên cộng sản sau này.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, vấn đề thanh niên, bồi dưỡng lực lượng thanh niên đã được Đảng ta quan tâm chu đáo. Nghị quyết của Đảng Cộng sản Đông Dương (1931) về việc tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản ra đời theo đề nghị của Hồ Chí Minh (dù lúc này Người vẫn đang hoạt động ở nước ngoài). Trong những năm tiếp đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: Thanh niên Việt Nam với tinh thần cách mạng, sự nhiệt tình phấn đấu, sự gan dạ và những tấm gương hy sinh dũng cảm trong tổ chức Đoàn Thanh niên cứu quốc đã góp sức vào thành công của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 lịch sử. Nước nhà giành được độc lập sau hơn 80 năm trời nô lệ đã mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do, đồng thời cũng mở ra cho thế hệ trẻ một tiền đồ rực rỡ đi cùng với những nhiệm vụ nặng nề.

Tin yêu và hy vọng ở thế hệ thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thanh niên là người chủ tư­ơng lai của nư­ớc nhà. Thật vậy, nư­ớc nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên” [5]. Để thanh niên có thể trở thành những ng­ười chủ xứng đáng, thực sự vừa hồng vừa chuyên để có thể hoàn thành những trọng trách mà cách mạng giao phó, bên cạnh việc tự trau dồi về mọi mặt của bản thân, thanh niên Việt Nam còn được Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm giáo dục, tổ chức, hư­ớng dẫn tập dượt làm việc, từng bước trở thành một “lực lượng to lớn và vững chắc”, dũng cảm đi đầu trong mọi nhiệm vụ đ­ược giao.

Sinh thời, dù rất bận, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành thời gian viết thư­ thăm hỏi, đến dự các hội nghị, đại hội, theo dõi các phong trào của thanh niên, Việt Nam, nhằm khuyến khích, đề cao những thành tích, những công việc mà thanh niên đã hoàn thành, đồng thời cũng nhẹ nhàng phê bình, chỉ ra những thiếu sót còn tồn tại. Người từng nói “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”. Trong Thư gửi thanh niên (4/1951), Người viết: “Huy hiệu của Thanh niên ta là: “Tay cầm cờ đỏ sao vàng”. ý nghĩa lớn lao của nó là: thanh niên phải xung phong là gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc”[6]. Mặt khác, trước những căn bệnh mà thế hệ thanh niên thư­ờng dễ mắc nh­ư: Thiếu thực tế, nóng vội, hình thức, hay bàng quan ỷ, v.v.., Chủ tịch Hồ Chí Minh thường có những chỉ bảo ân cần như chớ chủ quan, tự mãn,… Sẽ không ngẫu nhiên, khi Người chỉ ra và yêu cầu mỗi thanh niên gương mẫu, phải: Giữ vững đạo đức cách mạng; Xung phong trong mọi công tác; Cố gắng học tập chính trị, văn hoá, nghề nghiệp để tiến bộ mãi và rèn luyện thân thể cho khoẻ mạnh, v.v..tại Đại hội đoàn Thanh niên toàn quốc lần thứ II (2/11/1951).

Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã khẳng định: Thanh niên Việt Nam đã cùng các bậc đàn anh, thế hệ nọ nối tiếp thế hệ kia, tre già măng mọc, góp sức làm nên những kỳ tích của dân tộc Việt Nam trong công cuộc giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những Thanh niên Cứu quốc, Đoàn quân Nam tiến, đến phong trào Thanh niên ba sẵn sàng, và giờ đây là Thanh niên lập nghiệp, Thanh niên, học sinh, sinh viên tình nguyện hè, Tuổi trẻ với tư tưởng Hồ Chí Minh, v.v.. có thể thấy vai trò của thanh niên với sứ mệnh lịch sử: “lực lư­ợng kế tục và phát triển những thành tựu cách mạng của cha anh” trong tiến trình cách mạng. Được sự quan tâm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH, thanh niên Việt Nam đã đóng góp sức mình, phát huy vai trò “là ngư­ời tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là ng­ười phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tư­ơng lai – tức là các cháu nhi đồng”[7].

Từ những điều kiện cụ thể, những thế mạnh, sự hạn chế của lớp cán bộ cha anh và thế hệ thanh niên, để có sự đan xen giữa các thế hệ, để có thể nối tiếp nhau hoàn thành những trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng: thái độ đúng đắn nhất của lớp cha anh đối với thanh niên là phải thư­ơng yêu, giúp đỡ, phải độ lư­ợng và truyền kinh nghiệm cho họ. Còn thanh niên thì phải luôn kính trọng thế hệ già, luôn học hỏi ở các bậc đàn anh, ghi nhớ công lao và những gian khổ hi sinh của các bậc lão thành cách mạng. Đồng thời với việc đặt niềm tin ở thế hệ thanh niên, Ngư­ời luôn mong muốn và tạo mọi điều kiện để thanh niên đư­ợc chuẩn bị chu đáo, đ­ược học hỏi nhiều, tích luỹ tri thức cùng những bài học kinh nghiệm trong thực tiễn. Người quan niệm “con hơn cha là nhà có phúc”, nên từng nói rằng: “Nếu thế hệ già khôn hơn thế hệ trẻ thì không tốt, thế hệ già thua thế hệ trẻ mới là tốt”[8]. Trong thực tiễn, Người đã quan tâm bồi dưỡng và sử dụng, sử dụng thường xuyên, để thực hiện sự xen kẽ, kế tục giữa các thế hệ cách mạng và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau. Trước khi đi xa, Ngư­ời đã dặn lại việc cần thiết phải đào tạo bồi dưỡng lớp người kế tục sự nghiệp của cha anh và hy vọng của Ng­ười là sự nghiệp đào tạo đó phải cung cấp đư­ợc cho cách mạng Việt Nam một lực l­ượng kế cận hùng hậu, vừa hồng vừa chuyên, xứng đáng với yêu cầu và nhiệm vụ của cách mạng. Đó phải là “cánh tay phải và đội hậu bị vững mạnh” của Đảng.

Hơn lúc nào hết, công cuộc đổi mới đất nư­ớc, sự giao lư­u, hội nhập của Việt Nam với bạn bè quốc tế khi đã chính thức trở thành thành viên của WTO, tất yếu sẽ đem đến cho thế hệ trẻ Việt Nam nhiều cơ hội tích cực và cùng với nó, là những thách thức khó lường. Sự phát triển về mọi mặt của đời sống chính trị, văn hoá – xã hội trong nền kinh tế thị trường sẽ tác động đến mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên. Vì vậy, càng thấy giá trị nhân văn và ý nghĩa lớn lao trước những căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với thanh niên, đồng thời thấm nhuần sâu sắc ý nghĩa chính trị của cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đang được triển khai sâu rộng trên địa bàn cả nước.

Suy ngẫm từ chính những việc làm cụ thể và những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh dành cho thế hệ thanh niên Việt Nam, hướng về ngày kỷ niệm thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/2008), thiết thực kỷ niệm ngày sinh nhật Người (19/5/2008), các thế hệ thanh niên Việt Nam càng khôn nguôi nhớ lời Người tặng:

Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên./.

Tạ Quang Giảng
Đại học Nông nghiệp 1

Chú thích:
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, t12, tr. 510
(2) Lênin bàn về thanh niên, Nxb. Thanh Niên, H – Nxb. Tiến Bộ, M, 1981, tr 254
(3) Hồ Chí Minh, Sđd, t 2, tr133
(4) Hồ Chí Minh, Sđd, t 7, tr398
(5) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 8, tr. 185
(6) Hồ Chí Minh, Sđd, t 6, tr 197-198
(7) Hồ Chí Minh, Sđ d, t 10, tr 488
(8) Hồ Chí Minh, Sđ d, t 10, tr 465

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Đoàn kết theo Tư tưởng Hồ Chí Minh đang là đòi hỏi cấp thiết

Vĩnh biệt chúng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta bản Di chúc lịch sử. Trong đó, tư tưởng đoàn kết xuyên suốt cả Di chúc cũng như đã xuyên suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.

Tư tưởng đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm: Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế.

Mở đầu Di chúc, Người viết: “Trước hết nói về Đảng-Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và dân tộc ta”(1). Để giữ vững và phát huy truyền thống đó, “các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(2). Theo Người, đoàn kết trong Đảng là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân.

Một yếu tố cực kỳ quan trọng để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”, “mỗi đảng viên và cán bộ phải thưc sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là ngưòi đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(3). Và chỉ trên cơ sở đó, mới mở rộng dân chủ xã hội, tạo môi trường nuôi dưỡng sức mạnh đại đoàn kết-sức mạnh trường tồn của dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng, đoàn kết trong Đảng phải thể hiện ở tư tưởng và hành động, tư tưởng và hành động phải thống nhất. Đảng tuy có nhiều đảng viên, song khi tiến hành nhiệm vụ cách mạng thì chỉ như một người, trong Đảng không cho phép có tình trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng trước hết phải dựa trên nền tảng đường lối, quan điểm của Đảng. Người không chỉ kêu gọi, vận động toàn Đảng, toàn dân phải đoàn kết, mà chính Người là hiện thân của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, là linh hồn của sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Người đã tập hợp, cảm hóa mọi người bằng chính tấm gương cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, tận trung với nước, tận hiếu với dân, bằng tình thương yêu vô hạn đối với con người, trước hết là những người lao động. Sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, nói luôn đi đôi với làm và đạo đức, nhân cách của Người đã quy tụ mọi lực lượng trong xã hội, trở thành động lực, sức mạnh đoàn kết trong Đảng. Mong muốn cháy bỏng cuối cùng của Người là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(4).

Thực hiện tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân ta luôn luôn ghi nhớ Lời thề danh dự: “Hết lòng hết sức giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết toàn dân, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của giai cáp công nhân và dân tộc Việt Nam hoàn toàn thắng lợi”(5). Văn kiện Đại hội X của Đảng còn ghi rõ: “Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược nhất quán của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vữmg của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(6). Nghị quyết Đại hội còn nêu rõ: “Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu”(7). Đây là sự vận dụng và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết thống nhất của Đảng trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta. Là đảng cầm quyền, Đảng có đoàn kết thống nhất thì hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân, các dân tộc mới đoàn kết xung quanh Đảng. Đoàn kết của Đảng là tấm gương cho cả hệ thống chính trị, là nhân tố quyết định bảo đảm đoàn kết dân tộc.

Đoàn kết thống nhất của Đảng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải thật thà tự phê bình và phê bình để xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình phải thật thà, để gột rửa những tư tưởng, quan điểm, hành vi trái với bản chất của Đảng, vi phạm phẩm chất, đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, tự phê bình và phê bình còn là đấu tranh để nâng cao năng lực cầm quyền.

Tự phê bình và phê bình cần tiến hành từ trên xuống, từ dưới lên. Trong Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hiện nay, cần thực hiện tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng thường xuyên, liên tục, gắn kết quả tự phê bình và phê bình với chỉnh đốn Đảng, củng cố và tăng cường hệ thống chính trị. Mặt khác, công tác kiểm tra có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Kiểm tra giúp cho cấp ủy đảng kịp thời phát hiện và ngăn chặn nguyên nhân, xử lý hiện tượng mất đoàn kết, đồng thời biểu dương kịp thời và có biện pháp cụ thể, thiết thực giúp cho các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên không ngừng chăm lo vun đắp khối đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng còn cần có sự tham gia và giám sát của quần chúng và phải đạt tới mức độ làm rung động tình cảm cách mạng của đông đảo quần chúng.

Học tập, thấm nhuần, vận dụng và phát triển tư tưởng đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguyện vọng và trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân ta.
____

(1, 2, 3, 4, 5) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.1996, tập 12, tr.510, 511, 512, 518. (6, 7) Văn kiện Đại hội X của Đảng, NXBCTQG, H.2006, tr.40-41.

Nguyễn Xuyến

xaydungdang.org.vn