Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Nghĩ tiếp về lời Bác Hồ: Đảng ta là đạo đức, là văn minh

Trong lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao/Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình/Đảng ta là đạo đức, là văn minh.  Khái niệm văn minh mà Bác dùng theo tôi hiểu tương ứng với khái niệm trí tuệ, năng lực nhận thức quy luật và hành động cách mạng đúng đắn mà hiện nay chúng ta đang dùng. Để là đội quân tiên phong chỉ có đạo đức thôi chưa đủ, tuy đạo đức là yêu cầu tiên quyết nhưng còn phải có năng lực, trí tuệ, phải biết phân tích chính xác tình hình, đề ra đường lối, chủ trương sát đúng, tổ chức được phong trào thực tiễn, đưa cách mạng tiến lên. Yêu cầu này là chung cho toàn Đảng, cho mọi tổ chức đảng, đến từng đảng viên.

Nhìn lại suốt chặng đường 80 năm qua, tuy cũng có lúc mắc phải sai lầm, khuyết điểm, nhưng về cơ bản, Đảng ta là “đạo đức và văn minh”, đủ tư cách lãnh đạo giai cấp và dân tộc, đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ngày nay, trong điều kiện hoà bình, nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, dễ xuất hiện xu hướng không đúng trong việc xem xét mối quan hệ đức-tài trong xây dựng Đảng; dễ đề cao kiến thức năng lực, coi nhẹ đạo đức cách mạng. Thực tiễn xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới chứng minh rằng, đạo đức vẫn là cái gốc; đương nhiên, đạo đức không tách rời mà gắn liền với năng lực và hiệu quả thực tế trong công việc, và suy cho cùng, năng lực và hiệu quả công việc cũng chính là đạo đức. Đạo lý Việt Nam vẫn luôn tin cậy và coi trọng những người lãnh đạo có đạo đức. Tham ô, lãng phí, quan liêu đang là thách thức hàng đầu đối với chế độ ta. Ở đó có vấn đề năng lực quản lý, nhưng chủ yếu và trước hết là vấn đề đạo đức của những đảng viên cầm quyền. Chừng nào chúng ta không đẩy lùi những tệ nạn này thì uy tín chính trị của Đảng và Nhà nước ta sẽ bị xói mòn nghiêm trọng. Có thể nói rằng “diễn biến hoà bình”, trong đó tự diễn biến bắt nguồn từ sự vô đạo đức, sự thối nát, mọt ruỗng của những kẻ thoái hoá trong bộ máy công quyền đã làm giảm nghiêm trọng lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Điều này thật nguy hiểm.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đạo đức của Đảng đã giải quyết một cách đúng đắn, khoa học mối quan hệ giữa lợi ích của Đảng, của dân với lợi ích cá nhân. Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần và chế độ sở hữu dưới nhiều hình thức, thì những chuẩn mực giá trị cụ thể của đạo đức cách mạng, về lối sống… chắc chắn không thể giữ nguyên như thời chiến tranh hay như thời cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp. Tuy nhiên, công cuộc xây dựng đất nước hôm nay càng cần đạo đức cách mạng hơn bao giờ hết, với những tiêu chuẩn chặt chẽ và việc thực hiện là cả một cuộc đấu tranh gian khổ đối với mỗi tổ chức đảng cũng như đối với mỗi đảng viên. Không củng cố và tăng cường được nền đạo đức đó thì Đảng ta sẽ khó có thể giữ được vai trò tiên phong của giai cấp, của dân tộc. Vì thế Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”mà Đảng ta phát động có ý nghĩa hết sức lớn lao trong giai đoạn này.

Từ yêu cầu phát triển xã hội, công tác xây dựng đảng càng phải nêu cao khẩu hiệu tri thức hoá Đảng và Đảng Cộng sản phải là Đảng của trí tuệ. Tất cả đảng viên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ kiến thức về mọi mặt thì mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Lẽ đương nhiên, xã hội đi lên, mặt bằng dân trí của xã hội nâng cao thì mặt bằng học vấn của đội tiên phong cũng phải tăng lên. Nhưng không được phiến diện, cực đoan; không rơi vào chủ nghĩa hình thức và nhất là coi thường những tiêu chuẩn cơ bản của một Đảng trí tuệ. Tình trạng chạy bằng cấp, làm bằng giả hoặc bằng tuy thật mà kiến thức không tương ứng đã làm mất uy tín của Đảng. Đào tạo cán bộ lãnh đạo đảng khác với đào tạo lãnh đạo các ngành khác. Rất có thể một cấp uỷ có rất nhiều người có bằng đại học, hoặc hơn thế nữa, nhưng lại chưa chắc đã có trí tuệ lãnh đạo cao. Tri thức đó phải được sử dụng trong thực tiễn lãnh đạo.

Với bất cứ một tổ chức đảng nào, dù là ở Trung ương hay cơ sở, lãnh đạo tốt  phải ra quyết định đúng, phải tổ chức thực hiện tốt, trong đó nhất thiết phải biết kiểm tra công việc, biết uốn nắn, xử lý những thiếu sót, sai lầm. Để có quyết định đúng thì phải nắm vững chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững điều kiện thực tiễn, có sự vận dụng sát, đúng, linh hoạt. Đảng phải thu thập được nhiều thông tin, đảng viên và nhất là người lãnh đạo phải am hiểu kiến thức về nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, phải biết tổ chức tập hợp trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, nhất là giới trí thức để cân nhắc lựa chọn phương án thích hợp. Cần hiểu rằng, việc ra quyết định của cấp lãnh đạo ngày nay chịu nhiều sức ép hơn trước. Sự phân hoá về kinh tế, sự phân tầng về xã hội tạo ra sự phức tạp trong đánh giá tình hình và nhu cầu xã hội. Tất cả những điều đó đòi hỏi Đảng phải nâng cao trí tuệ; dừng lại là tụt hậu.

Đảng phải thể hiện trí tuệ không chỉ trong lý luận mà phải thể hiện trong hành động, tính khoa học và nghệ thuật tổ chức công việc, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện những mục tiêu trước mắt và lâu dài của cách mạng. Khi có quyết định đúng rồi, còn phải biết tổ chức công tác thực tiễn, đưa quyết định vào cuộc sống. Công việc đó cũng thuộc phạm trù trí tuệ của Đảng. So với thời kỳ chưa có chính quyền, thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc thì công tác tổ chức thực tiễn của Đảng ta ngày nay phức tạp hơn về nhiều mặt, đòi hỏi Đảng càng phải có đạo đức và trí tuệ hơn.

Năm 2010 là năm diễn ra nhiều sự kiện trong đại của đất nước, năm diễn ra đại hội các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Mỗi chúng ta đều có quyền tự hào “Đảng ta thật là vĩ đại” như Bác Hồ đã tổng kết. Nhưng để làm tròn nhiệm vụ của một Đảng đạo đức, Đảng văn minh, thì mỗi đảng viên chúng ta cần phải học tập thật nhiều: Học không bao giờ cùng; học mãi, tiến bộ mãi; càng tiến bộ càng thấy phải học thêm, như điều Bác hằng mong muốn.

Thân Minh Quế Nguyên Phó trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bắc Giang

xaydungdang.org.vn

Triển lãm ảnh Bác Hồ trong những ngày đầu năm mới

(Dân trí) – Gần 100 bức ảnh quý trong hàng triệu khoảnh khắc đời thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được trưng bày trong triển lãm tại trung tâm thành phố Vinh, thu hút nhiều người dân đến xem.


Cụ Nguyễn Thị Tỵ xúc động khi ngắm những bức ảnh hết sức dung dị của Bác Hồ vào dịp đầu năm mới

Tại Quảng trường Hồ Chí Minh (thành phố Vinh, Nghệ An) đang trưng bày gần 100 bức ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với một chặng đường phát triển của lịch sử dân tộc. Triển lãm về Bác Hồ do Sở VH-TT&DL Nghệ An phối hợp với Ban quản lý Quảng trường Hồ Chí Minh và tượng đài Bác Hồ thực hiện. Hai khu vực triển lãm với 3 chủ đề: Bác Hồ – Người là niềm tin tất thắng; Bác Hồ – người cha thân yêu của quân đội nhân dân Việt Nam và Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Trời rét cộng với mưa phùn cũng không thể ngăn bước chân của hàng ngàn người dân đến Quảng trường Hồ Chí Minh du xuân và dâng hoa dưới chân tượng đài Bác Hồ. Khu vực diễn ra triển lãm cũng là điểm nhấn “níu chân” du khách. Cụ Nguyễn Thị Tỵ (phường Trường Thi, thành phố Vinh) năm nay đã 81 tuổi nhưng còn rất minh mẫn. Dò bàn tay xương xẩu trên từng bức ảnh, cụ thuật lại cho người bạn già của mình nội dung của từng bức.

“Tôi vinh dự được gặp Bác Hồ 2 lần, một lần là Bác về thăm làng nuôi dưỡng trẻ em miền Nam tập kết ra Bắc, lần thứ 2 là lần Bác Hồ nói chuyện với nhân dân thành phố Vinh tại sân vận động thành phố. Giờ già rồi, không thể nhớ chính xác là năm nào nữa nhưng tôi vẫn còn nhớ như in hình ảnh Bác Hồ ân cần, trìu mến thăm hỏi đồng bào quê nhà và căn dặn mọi người phải hăng say sản xuất xây dựng đất nước, đóng góp sức người, sức của để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, cụ Tỵ xúc động nhớ lại.

Bác Hồ tặng quà Tết và nói chuyện với các chiến sĩ đoàn không quân Sao Vàng Tết năm 1967

Nhân dịp xuống thành phố Vinh chơi Tết cùng gia đình cô con gái, bác Trần Mạnh Cung (huyện miền núi Tân Kỳ, Nghệ An) cùng con cháu dạo quanh quảng trường Hồ Chí Minh. Dừng lại thật lâu bên những bức ảnh hết sức đời thường của vị cha già dân tộc, bác Cung rưng rưng nước mắt: “Mỗi bức ảnh là một tư liệu quý về Bác Hồ. Trong những ngày đầu xuân năm mới, hoạt động ý nghĩa này cũng là một cách để giáo dục lớp trẻ thêm quý trọng và biết ơn công lao của Bác Hồ đối với sự trường tồn của đất nước”.

Triển lãm cũng thu hút nhiều bạn trẻ tham gia. Em Nguyễn Thị Ngọc – học sinh lớp 12, Trường THPT Nghi Xuân (huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh) cũng các bạn trong lớp du xuân sang thành phố Vinh và chọn Quảng trường Hồ Chí Minh là điểm dừng chân đầu tiên. Ngọc tâm sự: “Xem những bức ảnh về Bác Hồ trong cuộc triển lãm đầu năm mới này giúp chúng em hình dung rõ hơn về đạo đức, nhân cách của Bác Hồ. Có những bức ảnh chúng em đã được thấy trong sách nhưng cũng có những bức ảnh lần đầu tiên chúng em mới được thấy”.

Một số hình ảnh tại triển lãm ảnh về Bác Hồ diễn ra tại thành phố Vinh do PV Dân trí ghi lại vào chiều mồng 3 Tết:


Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa


Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu phụ nữ dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Lao động Việt Nam, tháng 2/1951


Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 923


Bác Hồ trò chuyện với các chiến sĩ Điện Biên 1954


Thăm cánh đồng HTX Hùng Sơn, huyện Đại Từ, Thái Nguyên vào mùa gặt năm 1954


Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 938


Chủ tịch Hồ Chí Minh tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam, tháng 9/1960


Người thăm bệnh xá Vân Đình, tỉnh Hà Tây vào ngày 20/4/1963


Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn đại biểu các dân tộc tỉnh Hà Giang về thăm Hà Nội vào ngày 25/11/1965


Bác Hồ tăng gia lao động tại Việt Bắc.


Triển lãm thu hút nhiều người tới xem.

Hoàng Lam

dantri.com.vn

Bác Hồ với công tác thanh niên

“Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội” – Hồ Chí Minh

Chăm lo cho thế hệ thanh niên là một trong những vấn đề mà Bác Hồ rất quan tâm, bởi lẽ thanh niên là thế hệ trẻ, năng động và là thế hệ kế thừa sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác (19/5/1890 – 19/5/2010), chúng tôi tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thanh niên.

Người luôn nhìn nhận, đánh giá khả năng cách mạng to lớn của thanh niên: “… Với một thế hệ thanh niên hăng hái, kiên cường, chúng ta nhất định thành công trong nhiệm vụ bảo vệ và thống nhất Tổ quốc” và “… Bác rất tự hào, sung sướng và thấy như mình trẻ lại, thấy tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc, vẻ vang” [1, tr.133].

Thanh niên là đối tượng quần chúng đặc thù của Đảng, họ có những yêu cầu lợi ích chính đáng như học tập, việc làm, vui chơi giải trí lành mạnh, tình yêu, gia đình… Bác dạy: “Phải quan tâm đến đời sống, công tác và học tập của thanh niên” [2, tr.32]. Người cho đây là cách tốt nhất để củng cố mối liên hệ giữa các tổ chức thanh niên với đông đảo quần chúng. Vì vậy, Người căn dặn: “Cần phải đi sâu vào đời sống, hiểu rõ tâm lý của các lớp thanh niên và giúp đỡ họ giải quyết vấn đề một cách thiết thực” [2, tr.185]. Đây chính là tiền đề, là một trong những điều kiện hết sức quan trọng để định ra chiến lược, đường lối, nội dung giải pháp giáo dục bồi dưỡng và tổ chức thanh niên thành lực lượng chính trị hùng hậu kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp của Đảng và dân tộc.

Dù đi xa nhưng Người đã để lại cho mọi đối tượng, thành phần trong xã hội những lời căn dặn rất chân thành, đặc biệt là đối với thanh niên:

– Một là: Phải luôn luôn nâng cao chí khí cách mạng “Trung với nước hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành khó khăn nào cũng vượt qua kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Không sợ gian khổ hy sinh, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất và anh dũng chiến đấu, xung phong đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

– Hai là: Phải tin tưởng sâu sắc ở lực lượng và trí tuệ của tập thể của nhân dân, tăng cường đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau. Nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do.

– Ba là: Luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản dị. Chống kiêu căng tự mãn, chống lãng phí xa hoa. Thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp nhau cùng tiến bộ mãi.

– Bốn là: Ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân.

– Năm là: Luôn luôn chú ý dìu dắt và giáo dục thiếu niên nhi đồng, làm gương tốt về mọi mặt cho đàn em noi theo.

Đối với tổ chức Đoàn thanh niên, tổ chức của những người thanh niên Việt Nam, Người chỉ ra rằng muốn xây dựng và phát triển Đoàn thành một lực lượng vững chắc trước hết phải đoàn kết, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp thanh niên để vừa hoàn thành tốt vai trò “tiếp sức cách mạng cho lớp trước”, vừa “phụ trách giáo dục lớp sau”. Luận điểm quan trọng xuyên suốt của Người là cần đưa thanh niên vào các loại hình tổ chức thích hợp để ai cũng được giáo dục, rèn luyện, trưởng thành. Bác đặt ra yêu cầu cho tổ chức Đoàn các cấp “phải nghiên cứu tìm ra những hình thức, phương pháp thích hợp để Đoàn kết và Tổ chức Thanh niên một cách rộng rãi, vững chắc” [3, tr.485].

Để làm được điều này cần có một đội ngũ cán bộ có tâm huyết, kỹ năng và trình độ. Cán bộ làm công tác thanh niên không chỉ học tập kỹ năng vận động đối tượng, mà còn phải học văn hoá, chính trị, kỹ thuật, “Cần phải học lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày”. Bác còn dạy: “Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân” [4, tr.65].

Bác luôn nhắc nhở việc kết hợp học tập trong trường lớp với học tập thực tiễn, nhất là học tập kinh nghiệm của quần chúng. Yêu cầu quan trọng bậc nhất đối với đội ngũ cán bộ làm công tác thanh niên mà Bác đặt ra là “gương mẫu về mọi mặt”. Yêu cầu này đang ngày càng trở nên cấp thiết và để thực hiện được chúng ta cần phải quan tâm đến những vấn đề sau:

Vai trò của thanh niên đối với xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”, tuổi trẻ là lực lượng quyết định vận mệnh của dân tộc, sự phát triển của đất nước. Người sớm phát hiện được và tin tưởng ở tiềm năng, sức mạnh to lớn của thế hệ trẻ trong cuộc đấu tranh cách mạng và sự phát triển xã hội. Người nhận thấy tuổi trẻ Việt Nam là lực lượng đông đảo, hùng hậu, dũng cảm; có những ưu thế nổi trội: trẻ, khoẻ, chiếm số đông trong xã hội, hăng hái nhiệt tình, nhanh nhạy trong tiếp thu cái mới. Thế hệ trẻ tiêu biểu cho sức sống, sức phát triển của dân tộc, nếu được chăm sóc, rèn luyện có thể đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Về chức năng, nhiệm vụ của Đoàn, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đoàn thanh niên là cánh tay và đội hậu bị của Đảng, là người phụ trách dìu dắt nhi đồng” [5, tr.190]. Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, Đoàn thanh niên cần phải thường xuyên quan tâm công tác xây dựng Đoàn vững mạnh, Đoàn phải tìm ra nhiều phương thức hoạt động để tổ chức, tập hợp rộng rãi thanh niên. Đoàn phải chăm lo giáo dục cho họ, đào tạo họ trở thành người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Vấn đề giáo dục thanh niên

Tin tưởng vào bản chất và sức mạnh của thanh niên nhưng phải giáo dục họ để họ trở thành lực lượng kế tục sự nghiệp cách mạng. Theo Người, thanh niên phải được giáo dục vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Một tư tưởng hết sức ngắn gọn nhưng cũng hết sức đầy đủ. Với một tầm nhìn chiến lược, ngày 22 tháng 7 năm 1926, Người đã viết thư gửi Ủy ban Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin xin phép gửi một số thiếu nhi Việt Nam sang Liên Xô học tập “để các em được tiếp thu một nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa tốt đẹp”.

Thanh niên phải được giáo dục một cách toàn diện, Người yêu cầu: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất” [6, tr.372]. Người đặc biệt coi trọng giáo dục đạo đức, xem đó là cái nền tảng của con người cách mạng.

Tiếp đến là giáo dục lý tưởng cách mạng, “Những người Cộng sản chúng ta không được một phút nào quên được lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới” [5, tr.621].

Phương pháp giáo dục thanh niên

Người cho rằng, học phải đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với xã hội. Học phải có suy nghĩ, thực hành, thí nghiệm. Giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội. “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển cũng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [7, tr.293].

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn đánh giá cao vai trò của gia đình trong việc giáo dục thanh niên. Điều đáng lưu ý là, Người coi việc giáo dục thanh niên là cả một khoa học, Người nói: “Óc của người tuổi trẻ trong sạch như một tấm lụa trắng. Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh. Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ” [5, tr.213]. Điều đó đòi hỏi giáo dục thanh niên phải có nội dung, chương trình phù hợp. Người cũng đã chỉ rõ những nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ đối với mỗi cấp học. Đối với thanh niên, Người yêu cầu phải tự giác, tự động, “Cần phải làm đầu tàu, gương mẫu trong phong trào thi đua yêu nước. Đâu Đảng cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên” [5, tr.306].

Người cũng nghiêm túc chỉ rõ bệnh ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, anh hùng của thanh niên. “Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình… Chống thói quen xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng xa xỉ. Chống cách sinh hoạt ủy mị. Chống kiêu ngạo, giả dối khoe khoang”. “Thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi ích gì cho người” [7, tr.445].

Thấm nhuần lời dạy của Bác, ngày nay hơn lúc nào hết, khi toàn Đảng toàn dân ta đang thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, các thế hệ thanh thiếu niên cần ra sức rèn luyện, học tập nâng cao mọi mặt trình độ, kiến thức, làm chủ khoa học công nghệ, đặc biệt là trau dồi, tu dưỡng đạo đức cách mạng, trở thành những người “Vừa hồng vừa chuyên” như lời Bác dạy, để xứng đáng là những chủ nhân của đất nước trong thời kỳ mới./.

ThS. Võ Trà Nam
Bí thư Đoàn TNCS Trường Đại học Thủ Dầu Một


Tài liệu tham khảo:
1. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 2 (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
2. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 4 (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
3. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 7 (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
4. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 12 (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
5. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 10 (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
6. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 11 (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
7. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 9 (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội

tdmu.edu.vn

Cuốn sách “Trong chiến khu Việt cộng” của nhà báo Madeleine Riffaud

Trên giá sách ở phòng làm việc tầng 2 Nhà sàn của Bác Hồ trong Khu di tích Phủ Chủ tịch có một cuốn sách viết bằng tiếng Pháp: Dans lé maquis “Viet Cong”, tạm dịch là: “Trong chiến khu Việt Cộng”.

Cuốn sách dày 267 trang, khổ 20x14cm, do Nhà xuất bản René Julliard Paris xuất bản năm 1965. Cuốn sách đã được kiểm kê và có số BTHCM 881/G-695, và cũng đã được nghiên cứu, xác định, xây dựng hồ sơ khoa học. Hồ sơ khoa học của cuốn sách đang được lưu tại kho tư liệu phòng Sưu tầm – Kiểm kê – Tư liệu của Khu di tích Phủ Chủ tịch.

Theo như Hồ sơ khoa học, tác giả cuốn sách này là chị Madeleine Riffaud, một đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp, là phóng viên của báo “Nhân đạo”- cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp, đã từng đến việt Nam nhiều lần. Những lần đến Việt Nam chị đều được gặp gỡ và “phỏng vấn” Bác Hồ. Nhưng như chị đã từng viết về Người:… “Cứ mỗi buổi sáng, tôi hy vọng làm một cuộc phỏng vấn, nhưng không sao làm được. Tôi là nhà báo mà lại bị phỏng vấn, tôi phải trả lời hàng loạt, liên tiếp những câu hỏi về miền Nam Việt Nam mà từ lâu Bác Hồ không được đặt chân đến đấy; về Đảng Cộng sản Pháp… Tôi phải cung cấp cho Người tin tức về những bạn bè cũ của Người ở Pháp và ở châu Âu…”.

Ngày 5-10-1987, trong đợt công tác tại Việt Nam, chị đã đến Khu Di tích Phủ Chủ tịch và đã giúp cán bộ của Khu Di tích xác minh cuốn sách của chị. Hôm ấy chị kể: Chị được gặp Bác Hồ lần đầu tiên ở Hội nghị Fontainebleau – Pháp năm 1946. Lúc đó chị đang tập sự nghề báo tại toà báo “Chiều nay” (Ce soir) và được bà André Viollis – tác giả cuốn sách nổi tiếng “Đông Dương kêu cứu” giới thiệu chị với Bác Hồ. Lúc đó Bác Hồ bảo chị “làm nghề báo là nghề chân chính” và động viên chị: “Bây giờ cháu hãy học làm việc, học tập khi nào trở thành nhà báo, cháu hãy đến Việt Nam, Bác sẽ đón tiếp cháu như con gái của Bác”.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, năm 1955, lần đầu tiên chị Madeleine Riffaud đến Việt Nam để làm phóng sự về Việt Nam. Năm ấy chị cũng được gặp Bác Hồ và được Bác tiếp tại nơi ở của Người.

Cuối năm 1964, chị có dịp trở lại Hà Nội, được gặp Bác Hồ và sau đó vào miền Nam Việt Nam để trực tiếp tìm hiểu cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam Việt Nam. Chị là nữ phóng viên nước ngoài đầu tiên được đi theo cuộc chiến đấu của các chiến sĩ quân giải phóng trong các bưng biền “Việt Cộng”. Chị cho chuyến đi ấy là món quà quý, là niềm vinh dự mà Bác Hồ tặng cho chị và là sự tỏ lòng quý trọng nước Pháp, nhân dân Pháp mà Bác Hồ rất hiểu và rất yêu mến.

Không phụ lòng Bác, kết quả của chuyến đi trong các các bưng biền Việt Công của chị, khi trở về Pháp chị đã cho ra đời tác phẩm “Trong chiến khu “Việt Cộng”. Cuốn sách của chị đã được tổ chức Quốc tế các nhà báo tặng giải thưởng năm 1966.

Vào năm 1966, khi giặc Mỹ ngày càng leo thang và mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, dùng máy bay đánh phá Hà Nội, Hải phòng và nhiều thành phố khác, những con đê hiền lành cũng trở thành mục tiêu bắn phá của chúng. Trong hoàn cảnh đó chị lại đến Việt Nam, suốt hai tháng 7 và 8 năm 1966 chị đã đến khắp những nơi bị máy bay Mỹ bắn phá: Từ Hà Nội, Hải Phòng đến Sơn La, Lai Châu, Thanh Hóa, Quảng Bình… Sau chuyến đi đó chị lại có một tác phẩm nữa là “Au nord Việt Nam. Ecriet sous les bombes” tạm dịch là “Ở miền Bắc Việt Nam viết dưới bom đạn”. Cuốn sách cũng được xuất bản tại Paris năm 1967. Tên tuổi của chị được độc giả khắp năm châu biết đến.

Với lòng biết ơn sâu sắc và tất cả tấm lòng yêu mến đất nước Việt Nam, kính yêu Bác Hồ, chị đã gửi tặng Bác Hồ những cuốn sách viết về Việt Nam của mình.

Cuốn sách “Trong chiến khu “Việt Cộng” chị gửi kính biếu Bác Hồ tháng 9/1965 với lời đề tặng, tạm dịch là: “Kính tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh – với sự biết ơn sâu sắc và tất cả tấm lòng yêu mến của tôi đối với Người, với Đảng và nhân dân của Người đang chiến thắng chống những tên phát xít mới.

Ký tên: M. Riffaud
Paris, tháng 9/1965”

Cũng theo lời kể của chị, cuốn sách này chị đã gửi qua đoàn Đại biểu của Đảng Lao động Việt Nam lúc đó, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Lê Đức Thọ dẫn đầu sang thăm Pháp. Chiều 8-9-1965 đoàn đã đến thăm toà soạn báo Nhân Đạo, cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp. Trong buổi tiếp đoàn, chị Madeleine Riffaud cung có mặt. Đoàn ta đã trao quà cho tòa soạn, và nhân dịp này chị Madeleine Riffaud đã gửi cuốn sách của mình kính biếu Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đoàn của đồng chí Lê Đức Thọ. Sau ngày đoàn về nước 23-9-1965, cuốn sách đã được gửi đến tay Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã đọc và để lại bút tích ở các trang 15,16, 229 đến 232 của cuốn sách với các dấu (/) bằng bút bi mực màu đỏ. Cách đánh dấu này của Bác, theo các nhân chứng lịch sử như đồng chí Vũ Kỳ, đồng chí Cù Văn Chước… có nghĩa là “chú ý”. Riêng từ trang 229 đến trang 232 còn gấp mép sách một cách chủ ý là để giở dễ dàng khi cần xem lại. Qua nội dung cuốn sách và những bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu lại trên sách cho thấy tình cảm chứa chan giữa tác giả cuốn sách và nhân dân miền Nam Việt Nam. Thời gian tác giả đi và viết tác phẩm này (cuối 1964, đầu 1965) là thời kỳ bắt đầu kết thúc chiến tranh cục bộ, trong 2 tháng chị đã theo chân các chiến sĩ liên lạc luồn lách qua đồn bốt địch, thâm nhập khu giải phóng, theo sát các cuộc chiến đấu của bộ đội đến tận cửa ngõ Sài Gòn, chứng kiến những thắng lợi giòn giã của quân dân miền Nam đánh trận Bình Giã, diệt và làm tê liệt những đòn phản kích của quân Mỹ, nguỵ. Chị yêu mến mọi người và được mọi người yêu mến. Những trang có bút tích bằng bút bi mực màu đỏ của Bác Hồ, những trang Người đánh dấu là những trang nói đến kế hoạch Xtalay Taylo (kế hoạch Mỹ giúp Diệm bình định miền Nam trong 18 tháng) đã bị thất bại, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mácnamanra vạch kế hoạch nhằm bình định lấy 2 tỉnh không nổi, cuộc chiến càng nóng bỏng hơn đến sát cửa ngõ Sài Gòn. Rồi phong trào đào ngũ, trốn bắt lính của binh lính nguỵ và thanh niên miền Nam Việt Nam. Nhiều lính nguỵ và thanh niên miền Nam trốn lính lại chạy ra vùng giải phóng và nhập vào quân giải phóng…

Cuốn sách của chị Madeleine Riffaud được đài báo các nước tư bản lúc đó ca ngợi là viết giản dị, không thiếu những ghi chép nên thơ, đã làm sống lại trước mắt mọi người một bức tranh thực tế mà mọi người ít biết đến và duy nhất riêng chị đã tạo ra một loại hình văn học và cuối cùng chị đã thành công hoàn toàn.

Sách của chị Madeleine Riffaud là những cuốn sách của một tác giả có tình cảm nồng nàn và chân thành với cách mạng Việt Nam, với nhân dân Việt Nam, với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Chúng đã góp phần xứng đáng và việc giới thiệu rộng rãi trong dư luận Pháp và thế giới về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, thức tỉnh được sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cách mạng Việt Nam. Năm 1969, chị sang Việt Nam và lần đó chị lại được gặp Bác Hồ. Bác đã nói chuyện về hai cuốn sách của chị, Người đã tỏ ra hài lòng với những sách báo do chị viết vì nó đã tập hợp được nhiều tin tức, các nước tư bản đã phải in sách của chị. Lần gặp ấy, Bác đã không phê bình chị nữa vì lúc này chị đã nắm được nghề làm báo và Bác đã coi chị như là một chiến sĩ của đội quân tóc dài Việt Nam.

Lần được gặp Bác 1954, chị được Bác tặng 2 tấm lụa Hà Đông. Chị đã cắt thành áo theo kiếu các cô gái Việt Nam vẫn mặc. Và mỗi lần sang thăm Việt Nam chị vẫn mặc những chiếc áo lụa Bác đã tặng chị. Ngày 5-10-1987, chị bảo chiếc áo chị đang mặc là mảnh vải cuối cùng trong 2 tấm lụa Hà Đông ấy. Lần gặp ấy tuy Bác mệt nhưng rất vui, Bác bảo năm 1969 là năm kỷ niệm ca sỹ Môrixơ Sơvaliê 80 tuổi, Bác muốn chị gửi cho Bác một đĩa hát thu những bài hát về thành phố Pari của ca sĩ này. Về nước chị đã tìm và gửi đãi hát cho Bác. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, chị nhận được một lá thư từ một phóng viên thường trực tại Việt Nam báo tin “Bác Hồ đã nhận được các đĩa hát, Bác đã nghe lại các bài hát đó một cách thích thú, Bác rất vui lòng”. Những câu chuyện này đã được chị viết trong bài báo “Bác Hồ ra đi giữa mùa thu” đăng trên báo trước ngày tổ chức Lễ tang của Chủ tịch Hồ Chí Minh (9- 9-1969).

Sự tồn tại của cuốn sách “Trong chiến khu Việt Cộng” ở vị trí vốn có của nó đã góp phần không nhỏ cho việc nghiên cứu về Bác Hồ, về Khu Di tích Phủ Chủ tịch. Qua Hồ sơ khoa học của cuốn sách có thể biết thêm những tình cảm của nhân dân thế giới, nhân dân Pháp, của nhà báo tài ba M. Riffaud đối với Bác Hồ và ngược lại. Cuốn sách của chị cũng góp phần cho việc nghiên cứu lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hào hùng của nhân dân Việt Nam, về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ quên “chị Tám” cái tên thân thương đồng bào miền Nam gọi chị dịp chị sống cùng họ “trong bưng biền Việt Cộng”. Chị sống mãi trong trái tim những người Pháp và những người Việt Nam yêu nước. Được biết năm 2008, tổng thống Pháp Nicolas Sarcozy đã quyết định tặng Huân chương quốc công hạng nhất đế cho chị. Nước Pháp tôn vinh chị và đang gấp rút hoàn thành một bộ phim tư liệu về chị – nữ nhà báo anh hùng của nhân dân Pháp./.

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Noi gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành (Bác Hồ)

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục.

Trong cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những thời điểm trực tiếp là nhà giáo. Từ tháng 9-1910 đến trước tháng 2-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết. Sau khi đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, trong những năm 1925 – 1927, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp mở các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên, thiếu niên Việt Nam yêu nước; trực tiếp lãnh đạo và là giảng viên chính của các khóa học.

Thông qua các bài giảng và thảo luận ở tổ, nhà giáo Nguyễn Ái Quốc phân tích, so sánh làm cho học viên nhận thức sâu sắc tính chất triệt để, đến nơi đến chốn của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga so với các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ, từ đó lựa chọn con đường của cách mạng Việt Nam: Ðộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người luôn chăm lo việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho cách mạng; tổ chức và chỉ đạo từng bước xây dựng nền giáo dục cách mạng, nhằm thực hiện công cuộc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.

Quá trình từ nhà giáo yêu nước Nguyễn Tất Thành, đến nhà giáo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, khi đã là người cộng sản, cũng chính là quá trình nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh phấn đấu không mệt mỏi để tự học, khổ luyện trong mọi khó khăn, gian khổ để rèn luyện đạo đức, ý chí cách mạng và qua đó sự sáng tạo của Người bộc lộ sáng ngời trên mọi lĩnh vực công tác.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành- Hồ Chí Minh tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo.

Ðạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu và xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Ðặt đạo đức ở vị trí là gốc, là nguồn, là nền tảng của người cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên tự tu dưỡng đạo đức về mọi mặt để làm gương giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, công an, thanh niên, thiếu nhi, giáo viên, học sinh và sinh viên, v.v.

Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm là nét đẹp trong văn hóa phương Ðông và văn hóa Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và trở thành nguyên tắc chỉ đạo xây dựng đời sống mới và rèn luyện hằng ngày của Người. Lời nói phải đi đôi với việc làm, thì mới đem lại hiệu quả thiết thực cho chính bản thân mình và có tác dụng đối với người khác. Do đó, Bác Hồ căn dặn: “… một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” (1).

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục; Yêu nghề, yêu ngành, yên tâm công tác, mô phạm trong quan hệ với nhân dân, đồng nghiệp và người học, thương yêu học sinh và sinh viên; Ðoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ, thật thà phê bình, đấu tranh, ngăn chặn nhà giáo vi phạm pháp luật và quy định nghề nghiệp. Thầy giáo, cô giáo phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu hậu lạc”, nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh còn nêu tấm gương sáng ngời về tu dưỡng đạo đức suốt đời. Hằng ngày, Người chăm lo tu dưỡng bản thân, ung dung tự tại, lạc quan, yêu đời, không chủ quan, tự mãn, thắng không kiêu, bại không nản. Ðồng thời, Người còn đề xuất  nhiều phong trào quần chúng rộng rãi để rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, bộ đội, công nhân, nông dân, thanh – thiếu nhi. Trong ngành giáo dục, Bác Hồ đã khởi xướng phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” từ năm 1961 và trở thành truyền thống của nhà giáo, học sinh và sinh viên từ đó đến nay.

Tự học là quá trình tự thân vận động của mỗi người để tích lũy những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm lịch sử – xã hội mà nhân loại tích lũy được trong quá trình phát triển, biến nó thành kinh nghiệm và kỹ năng riêng cho cá nhân mỗi người. Ngoài những tri thức ban đầu học được ở các thầy giáo khi còn nhỏ ở quê và khi còn trên ghế nhà trường ở Huế, thì suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tri thức, kiến thức có được chủ yếu là do tự học và bản thân không ngừng tự học.

Mục tiêu và động cơ học tập được Bác Hồ xác định rõ: Học để biết, học để làm việc, học để làm người, học để chung sống, học để phục vụ Tổ quốc và nhân dân, học để thực hiện nhiệm vụ cách mạng do Ðảng và nhân dân giao phó, học để phục vụ nhân loại. Do đó, Bác Hồ rất chủ động và tự giác trong học tập.

Nguyễn Ái Quốc tự học ở sách báo, học ở bạn bè và những người cùng hoạt động, học ở trên tàu, học ở thực tiễn cách mạng của nhân dân lao động trên thế giới, học mọi nơi và mọi lúc, v.v. Người đã khắc phục mọi khó khăn, tự lao động nuôi sống bản thân, hoạt động cách mạng và học tập, tìm lấy phương pháp tự học, tự nghiên cứu để học ngoại ngữ, văn hóa, chính trị, quân sự và các lĩnh vực mà Người quan tâm.

Ngày nay, sự tự học của nhà giáo vừa là quá trình để tự hoàn thiện mình vừa là tấm gương cho học trò. Học tập để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, ngoại  ngữ và nghiệp vụ để phục vụ công tác và hoạt động giáo dục. Rèn luyện và sáng tạo nên phương pháp tự học, năng lực tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức khoa học, công nghệ và nghệ thuật sư phạm.

Sáng tạo là đổi mới, là tạo nên những sự vật mới, giá trị mới tốt đẹp hơn. Cách mạng là sáng tạo và sáng tạo là bản chất của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cho chúng ta tấm gương sáng ngời về sự sáng tạo. Sáng tạo về phương pháp tự học, sáng tạo về phương pháp lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng, sáng tạo trong các hoạt động thực tiễn hằng ngày.

Nhờ đó, Người đã kế thừa và phát triển được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thụ được tinh hoa văn hóa của nhân loại; tiếp nhận, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Ngày nay, sáng tạo của nhà giáo là sự đổi mới, là tạo ra cái mới trong hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục, góp phần  nâng cao chất lượng giáo dục. Các nhà giáo chân chính đều sáng tạo không ngừng trong các hoạt động của mình. Sáng tạo trong vận dụng tri thức và công nghệ mới vào quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Chế tạo đồ dùng dạy học mới, hoặc cải tiến đồ dùng dạy học đã có phù hợp với điều kiện cụ thể của bài dạy, lớp học và người học.

Ðổi mới phương pháp giảng dạy, áp dụng công nghệ thông tin vào bài giảng. Kịp thời phát hiện và xử lý tốt các tình huống sư phạm. Biết phát hiện và bồi dưỡng những người học có năng khiếu, học giỏi, đồng thời biết bồi dưỡng và phụ đạo những người học yếu kém. Ðổi mới, cải tiến phương pháp quản lý nhà trường, quản lý học sinh, sinh viên và người học, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo.

Mỗi nhà giáo thường xuyên rèn luyện đạo đức, năng lực tự học và sáng tạo theo gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh sẽ là bước đột phá, góp phần xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong sạch và vững mạnh, tạo động lực thúc đẩy đổi mới mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới.

BBT

phutho.edu.vn

Tình cảm của Bác Hồ đối với thanh niên Việt Nam

Sinh thời, Bác Hồ luôn quan tâm đến thanh niên, học sinh, sinh viên. Trong Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán năm 1946, Người viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội“. Bác đánh giá cao vai trò của thanh niên với tư cách là một lực lượng hăng hái trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà. Phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên” và “Thanh niên ta rất hăng hái. Ta biết hợp lòng hăng hái đó lại và dìu dắt đúng đắn thì thanh niên sẽ thành một lực lượng rất mạnh mẽ“. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Trong thư gửi cho học sinh nhân ngày khai trường mùa thu năm 1945, Bác Hồ đã dạy: “Từ giờ phút này trở đi, các cháu được hưởng một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam… Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu“.

Trong những ngày đêm ác liệt, bộn bề công việc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nhưng khi được tin học sinh Vũ Chí Thành, đội viên đội cảm tử quân, hy sinh ở Hà Nội ngày 20/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh liền viết thư chia buồn với bác sĩ Vũ Đình Tụng, cha của liệt sĩ với những lời cảm động và đầy khích lệ: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi: vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn sống mãi với non sông Việt Nam…”.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, vừa mới trở về thủ đô Hà Nội, tuy bận trăm công nghìn việc, Bác Hồ vẫn theo dõi các hoạt động của tuổi trẻ và phong trào thanh niên, học sinh, sinh viên. Ngày 18/12/1954, Bác đã đến thăm các thầy, cô giáo và học sinh các trường Nguyễn Trãi, Trưng Vương, Chu Văn An. Tại đây, Bác đã khẳng định: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc. Dân tộc bị nô lệ thì thanh niên cũng bị nô lệ. Dân tộc được giải phóng thì thanh niên mới được tự do. Vì vậy, thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc… Ngày nay ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò người chủ thì phải học tập“.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đoàn được triệu tập từ 25/10/1956 đến 4/11/1956 tại Hà Nội, Bác Hồ đã đến dự. Tại Đại hội, Người ân cần căn dặn đoàn viên, học sinh, sinh viên là: “Muốn đoàn kết củng cố và phát triển thì tất cả đoàn viên phải làm gương mẫu:

– Phải giữ vững đạo đức cách mạng: phải khiêm tốn, cần cù hăng hái, dũng cảm. Phải tránh tư tưởng kiêu ngạo, công thần, tự tư, tự lợi.

– Phải xung phong trong mọi công tác; xung phong là phải đi trước, làm trước để lôi cuốn quần chúng, chứ không phải là xa rời quần chúng.

– Phải cố gắng học tập chính trị, văn hoá, nghề nghiệp để tiến bộ mãi, để sẵn sàng trở thành cán bộ tốt, đảng viên tốt.

– Phải rèn luyện thân thể cho khoẻ mạnh, khoẻ mạnh thì mới đủ sức để tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ những công việc ích nước, dân“.

Sự quan tâm chăm sóc và những lời dạy bảo ân cần, sâu sắc của Bác Hồ kính yêu đã làm các đại biểu hết sức xúc động và thấm thía. Đại hội đã hứa với Bác sẽ ra sức thực hiện tốt những lời Bác dạy, quyết phấn đấu không mệt mỏi cho lý tưởng độc lập, tự do, thống nhất nước nhà và xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Bác đã chỉ cho thanh niên nước ta.

Bước sang năm 1960, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III được tổ chức từ ngày 23/3 đến 25/3/1961 tại Hà Nội. Đại hội đã vinh dự được đón Bác Hồ và đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn đến thăm và nói chuyện. Người ân cần chỉ ra cho toàn thể cán bộ, đoàn viên và thanh niên phương hướng tu dưỡng rèn luyện về mọi mặt công tác của Đoàn: Thanh niên “cần phải làm đầu tàu, làm gương mẫu trong phong trào thi đua yêu nước. Phải thực hiện khẩu hiệu: “Đâu Đảng cần thì thanh niên có, việc gì khó có thanh niên làm“. Bác dạy: “Thanh niên phải cố gắng học… Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có học thức. Cần phải học văn hoá, chính trị, kỹ thuật. Cần phải học lý luận Mác- Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày… Học đi đôi với hành“. Những lời dạy bảo quý báu của Bác Hồ tại Đại hội thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Bác đối với vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ hậu bị cho Đảng.

Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, thanh niên miền Bắc thực hiện phong trào “Ba sẵn sàng“. Bác Hồ luôn theo dõi sự phát triển của phong trào “Ba sẵn sàng“, Người kêu gọi thanh niên, học sinh, sinh viên: “Các cháu thanh niên, gái cũng như trai, hãy thực hiện tốt “Ba sẵn sàng”, xung phong dâng tất cả tinh thần và lực lượng của tuổi trẻ cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, cho Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội“. Khi tuổi trẻ lập được chiến công, Bác khen ngợi: “Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu thanh niên trong cả nước… các cháu là thế hệ anh hùng trong thời đại anh hùng. Bác mong các cháu đều xứng đáng là những anh hùng trong sự nghiệp cách mạng tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc và xây dựng xã hội mới“. Tại lễ kỷ niệm lần thứ 35 ngày thành lập Đoàn (26/3/1966), Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước (Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng)… đã đến với tuổi trẻ. Bác Hồ dạy: “Với một thế hệ thanh niên hăng hái và kiên cường chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Vì vậy, Bác rất tự hào, sung sướng và thấy mình trẻ lại, thấy tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang“. Tuân theo lời Bác dạy, nhân ngày truyền thống vẻ vang của Đoàn, Ban Chấp hành trung ương Đoàn đã ra lời kêu gọi đoàn viên, thanh niên phát huy khí thế “Ba sẵn sàng“, hăng hái tiến lên hàng đầu trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, quyết tâm đem lá cờ trăm trận trăm thắng của Đảng và Bác Hồ vĩ đại đi tới đích thắng lợi cuối cùng.

Năm 1969, dù sức khoẻ đã yếu, Bác Hồ vẫn thường xuyên theo dõi tin tức hoạt động học tập và lao động tại các nhà trường. Người rất vui khi biết học sinh Việt Nam trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt vẫn cố gắng học tập và lao động sản xuất. Chiều 19/05/1969, sau khi các thầy thuốc kiểm tra xong sức khoẻ, Bác ngồi viết thư khen các cháu học sinh thôn Phú Mẫn, Yên Phương, Bắc Ninh. Bức thư có đoạn: “Bác rất vui lòng biết các cháu vừa học tập tốt vừa tham gia sản xuất tốt… Các cháu là những người chủ tương lai của nước nhà. Bác mong các cháu luôn luôn cố gắng hơn nữa. Bác cũng mong các cháu thiếu niên ở những địa phương khác làm theo các bạn nhỏ ở hợp tác xã măng non Phú Mẫn“.

Ngày Quốc khánh 2/9 năm 1969 là ngày toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và tuổi trẻ cả nước chịu một tổn thất lớn lao, không thể bù đắp: Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam qua đời. Vĩnh biệt chúng ta, Bác Hồ đã để lại cho thanh niên Việt Nam “muôn vàn tình thân yêu“. Người đánh giá: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ” và căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết“.

Trải qua 80 năm đấu tranh oanh liệt, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và đoàn viên, thanh niên Việt Nam luôn được sự lãnh đạo chăm sóc trực tiếp của Đảng và Bác Hồ. Đánh giá đúng đắn khả năng cách mạng to lớn của thanh niên, Đảng ta và Bác Hồ kính yêu đặc biệt quan tâm tổ chức, bồi dưỡng đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên thành đội quân xung kích của cách mạng, lực lượng hậu bị của Đảng nhằm kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp của giai cấp và dân tộc. Từ “Bức thư tâm huyết” gửi thanh niên Việt Nam hồi đầu thế kỷ đến lời “Di chúc” cuối cùng, Bác Hồ luôn giành cho thanh niên, học sinh, sinh viên Việt Nam tình cảm thương yêu trìu mến và sự chăm sóc ân cần lớn lao.Tình cảm của Bác Hồ đối với thanh niên nước ta như cha đối với con, Bác đối với cháu. Công ơn của Người và của Đảng đối với thanh niên Việt Nam như trời cao biển rộng. Tên tuổi, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người mãi mãi khắc sâu trong muôn triệu trái tim của các thế hệ thanh niên nguyện chiến đấu và chiến thắng dưới ngọn cờ vẻ vang của Người.

Nguyễn Quang Tuấn

vinhuni.edu.vn

Lời phát biểu của Hồ Chủ tịch trong phiên họp bế mạc hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Chiều ngày 27 tháng 12 năm 1965

Các đồng chí,

Hội nghị Trung ương lần này đã kết thúc thắng lợi. Các đồng chí đã hoàn toàn nhất trí về nhận định tình hình, về phương châm, nhiệm vụ chung và phương châm, nhiệm vụ cụ thể của từng miền Nam – Bắc.

Qua những ý kiến của các đồng chí đã phát biểu ở hội nghị, thấy nổi bật lên hai điểm quan trọng:

– Ta quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược;

– Ta nhất định thắng.

Mỹ là một nước đế quốc lớn nhất, giàu nhất, mạnh nhất trong phe đế quốc chủ nghĩa. Nước ta chỉ có hơn 30 triệu dân, lại nghèo, nhưng chúng ta dám đánh đế quốc Mỹ và nhất định đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Đế quốc Mỹ có hải, lục, không quân nhiều, có vũ khí tốt, nhưng chúng đã bị nhân dân Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba… đánh bại, thì nhất định chúng cũng sẽ bị nhân dân ta đánh bại trong âm mưu xâm lược Việt Nam.

Tuy nhiên, đế quốc Mỹ với bản chất xâm lược, hiếu chiến và ngoan cố của một tên trùm đế quốc, nó sẽ không chịu thất bại một cách dễ dàng, cho nên chúng ta phải hết sức cảnh giác với những hành động “chó dại cắn càn” của chúng.

Đế quốc Mỹ sẽ tìm đủ mọi cách để bao vây miền Nam. Về vấn đề này, chúng ta phải tính đến những khả năng xấu nhất để có kế hoạch đối phó một cách chủ động.

Địch có thể bắn phá thành phố Hải Phòng, Hà Nội và mở rộng việc bắn phá ra nhiều nơi khác ở miền Bắc. Địch bắn phá ở đâu, chúng không nói cho ta biết trước, cho nên bất cứ ở đâu, bất kỳ lúc nào, chúng ta cũng phải tích cực chuẩn bị sẵn sàng để đánh bại mọi âm mưu tăng cường và mở rộng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Nếu ta chuẩn bị tốt thì khi có việc xảy ra, sẽ tránh được thiệt hại, cán bộ và nhân dân không dao động, hoang mang. Việc chuẩn bị phải tích cực, nhưng phải có kế hoạch, có giải thích, đừng làm cho quần chúng hoảng hốt, lo sợ rồi đi mua sắm tích trữ vải, muối, dầu…, gây khó khăn cho nhân dân và Nhà nước.

Phải động viên, giáo dục toàn Đảng, toàn dân đoàn kết chặt chẽ. Các cấp, các ngành và các cán bộ, đảng viên ta cần phải thực hiện đúng các chính sách của Đảng và Nhà nước để đoàn kết và động viên được mọi người phấn khởi và hăng hái tham gia chống Mỹ, cứu nước.
Chúng ta phải biến nghị quyết của Trung ương thành sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân. Muốn vậy, phải làm cho mọi người tin là ta nhất định thắng, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai nhất định thua; phải làm cho mọi người phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ gian khổ, đem hết sức mình để làm tốt nhiệm vụ vừa sản xuất, vừa chiến đấu, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Trước mắt, chúng ta phải chú ý làm tốt những việc sau đây:

– Phải khắc phục tư tưởng chủ quan khinh địch. Vừa qua, có nơi vì chủ quan khinh địch, và vì thiếu tinh thần trách nhiệm đầy đủ trước nhân dân, cho nên đã không tích cực giải thích, hướng dẫn và giúp đỡ cho nhân dân làm tốt công tác sơ tán và phòng không nhân dân, do đó địch đã gây ra cho ta những thiệt hại mà đáng lẽ có thể tránh được, hoặc giảm bớt được. Các địa phương cần rút kinh nghiệm việc chỉ đạo công tác sơ tán và phòng không nhân dân để sang năm tới làm tốt hơn nữa công tác này. Nơi nào có khuyết điểm, cấp uỷ cần phải kiểm thảo sâu sắc và có thể tự phê bình trước nhân dân. Nhân dân nghe Đảng, làm theo sự chỉ dẫn của Đảng, cho nên – là những người thay mặt Đảng ở địa phương – các cấp uỷ đảng phải quan tâm hơn nữa đến việc bảo vệ tính mạng và tài sản cho nhân dân.

– Chúng ta phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân, nhất là đời sống của các cháu, của các gia đình thương binh, liệt sĩ, đời sống của nhân dân ở những vùng bị địch bắn phá nhiều, ở những nơi mà vụ mùa vừa qua thu hoạch kém…

Vừa qua, ở những vùng bị địch bắn phá nhiều, có nơi thiếu cả kim, chỉ khâu, dầu đốt, giấy viết… Do việc vận tải hàng hoá để cung cấp cho những nơi này có khó khăn, cho nên đồng bào ở đây phải chịu đựng những thiếu thốn; nhưng nếu các ngành và các cấp uỷ đảng quan tâm hơn nữa đến đời sống của nhân dân và cùng với nhân dân bàn cách khắc phục thì chắc chắn sẽ có cách giảm bớt được khó khăn.

Hiện nay, các trại sơ tán của các cháu, có nơi mỗi tháng, mỗi cháu phải đóng góp 15đ00, có nơi 20đ00. Những gia đình cán bộ, công nhân ít con và tiền lương tương đối khá thì còn có thể gửi con đến trại sơ tán được; nhưng những gia đình đông con, thu nhập thấp thì làm thế nào có đủ tiền gửi con vào trại sơ tán các cháu, chưa kể đến những chi tiêu tốn kém về việc đi lại thăm nom con…

Nhất định chúng ta phải tổ chức tốt việc sơ tán các cháu, bảo vệ và nuôi dưỡng tốt các cháu, vì các cháu là những vốn quý nhất của đất nước. Chúng ta phải có biện pháp chăm nom, săn sóc các cháu, giúp đỡ những gia đình thu nhập thấp và đông con. Nhà nước có thể tăng thêm quỹ phúc lợi để giải quyết vấn đề này, nhưng điều chính vẫn là phải biết dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân và biết cách tổ chức cho tốt.

– Phải động viên công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân khác tích cực tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Không những chúng ta phải có chính sách tiết kiệm tiêu dùng, mà cần phải hết sức chú trọng tiết kiệm trong việc dùng vật tư của Nhà nước, tiết kiệm sức người, sức của của nhân dân. Hiện nay việc sử dụng sức người, sức của còn lãng phí nhiều, nghe thấy rất đau xót. Làm lãng phí sức người, sức của như vậy là có tội với đồng bào. Các cấp, các ngành và mỗi cán bộ, đảng viên cần phải nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm trong việc sử dụng sức người, sức của của nhân dân.

Hiện nay có cán bộ, đảng viên ta vẫn còn chưa có ý thức tiết kiệm trong việc sử dụng của công, như có cán bộ cao cấp muốn “tiết kiệm” cho mình đã dùng xe ôtô của Nhà nước để chở củi cho gia đình. Đó là chủ nghĩa cá nhân, ôtô của Nhà nước là để phục vụ cho người cán bộ đi làm việc, chứ không phải để phục vụ cho công việc nội trợ của các bà, các cô là vợ con của cán bộ cao cấp!

– Phải tăng cường công tác phòng gian và giữ bí mật. Hiện nay, việc phòng gian và giữ bí mật của ta còn kém. Vì sao có trường hợp kho tàng của ta vừa chuyển đến nơi này thì máy bay địch đến bắn phá ngay nơi ấy? Rõ ràng là có gián điệp đã báo cho địch. Vì sao có những việc rất bí mật chỉ bàn trong các cấp uỷ của Đảng, nhưng lại lọt ra ngoài? Rõ ràng là ý thức giữ gìn bí mật của cán bộ, đảng viên ta còn kém… Chúng ta phải hết sức đề cao cảnh giác, phải tăng cường công tác phòng gian và giữ bí mật. Cán bộ và nhân dân ta rất tốt, cho nên ta nhất định làm được việc này. Trong kháng chiến, ta có khẩu hiệu “ba không” (không nghe, không nói, không biết), bây giờ ta cũng phải làm thế nào nêu được những khẩu hiệu thích hợp, những khẩu hiệu giản đơn để cho cán bộ và đồng bào dễ nhớ, dễ hiểu và dễ làm. (Trước hết, chúng ta phải giữ bí mật những điều đã bàn và quyết định trong Hội nghị Trung ương lần này).

– Cần phải tăng cường công tác kiểm tra đôn đốc và đề cao kỷ luật của Đảng và Nhà nước. Cần giáo dục cho cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật trong việc chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Những ngành và những địa phương có đồng chí Uỷ viên Trung ương phụ trách cần phải gương mẫu trong việc này.

Vừa qua có hiện tượng: Thủ tướng, Phó Thủ tướng đã ra lệnh, nhưng cấp dưới không thi hành mà cũng không có kỷ luật. Có cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và Nhà nước làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích vật chất và quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng cũng chưa bị xử phạt kịp thời… Như vậy là kỷ luật chưa nghiêm. Chúng ta cần phải chú ý hơn nữa đến việc giáo dục ý thức tổ chức, kỷ luật trong Đảng và phải thực hiện đúng chính sách khen thưởng và kỷ luật của Đảng và Nhà nước.

– Vừa qua, các ngành và các địa phương đều có những đơn vị sản xuất và chiến đấu là điển hình tốt. Cần phải rút kinh nghiệm và phổ biến rộng rãi những kinh nghiệm tốt của các điển hình ấy.

Ở tỉnh Quảng Bình, có đồng bào theo đạo Thiên chúa đã nói: “sống theo Đảng, chết theo Chúa”. Câu nói ấy là tổng kết một nhận thức rất đúng tâm trạng của những đồng bào theo đạo có tinh thần yêu nước, họ theo Đảng nhưng vẫn tin Chúa. Chúng ta cần phải biến câu nói ấy thành khẩu hiệu để giáo dục và động viên đồng bào có đạo hăng hái tham gia sản xuất và chiến đấu.

Nghe báo cáo của Tỉnh uỷ Quảng Bình, thấy vừa qua sở dĩ tỉnh Quảng Bình trong hoàn cảnh có khó khăn mà đã đạt được những kết quả tốt về sản xuất và chiến đấu, chủ yếu là do cấp uỷ và cán bộ, đảng viên đã biết đi sát dân, mọi việc đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân, dựa vào dân và bàn bạc với dân. Các nơi khác cũng có thể làm tốt được như tỉnh Quảng Bình, nếu biết đi đúng đường lối quần chúng, biết giáo dục, động viên và tổ chức quần chúng thực hiện đúng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Vừa qua, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tỉnh Quảng Bình có nhiều cố gắng và đã đạt được những thành tích tốt về sản xuất và chiến đấu; nhưng nghe nói đã có tư tưởng tự mãn, chủ quan. Làm tốt, được Đảng và Chính phủ khen, được các địa phương khác học tập kinh nghiệm thì lại càng phải cố gắng nhiều hơn, nếu tự mãn với những thành tích đạt được là đã bắt đầu xuống dốc, cho nên cần phải khắc phục tư tưởng tự mãn, chủ quan…

– Chúng ta phải chú ý phát triển Đảng và Đoàn Thanh niên Lao động. Hiện nay có nhiều người xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu và phục vụ sản xuất, chiến đấu. Chúng ta cần phải đưa những người ấy vào Đảng, vào Đoàn để tăng thêm sức chiến đấu của Đảng và của Đoàn Thanh niên Lao động. Các cấp uỷ cần phải chú trọng hơn nữa đến công tác xây dựng đảng và cần phải khắc phục tư tưởng phong kiến hẹp hòi, những nhận thức không đúng về “liên quan” trong việc phát triển Đảng và Đoàn Thanh niên Lao động. ở những nơi có nhiều đảng viên già và đảng viên lâu năm như tỉnh Nghệ An, nghe nói có những đảng viên già vì có tư tưởng bảo thủ, gia trưởng, cho nên đã cản trở bước tiến bộ của những đảng viên mới, đảng viên trẻ. Cần phải giúp đỡ những đồng chí ấy phát huy ưu điểm và sửa chữa bệnh bảo thủ, công thần.

– Về vấn đề quốc tế: Đảng ta đã và đang đem hết sức mình hoạt động cho mục đích đoàn kết quốc tế, đoàn kết Xô – Trung.

Vừa qua, do đường lối và thái độ đoàn kết, đấu tranh của Đảng ta đúng, cho nên Đảng nào cũng có cảm tình với Đảng ta, tỏ tình đoàn kết với Đảng ta và nhân dân ta. Chúng ta phải thực hiện đúng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 của Trung ương. Sắp tới, Bộ Chính trị sẽ bàn kỹ một số vấn đề quốc tế quan trọng, rồi báo cáo với Trung ương. Những vấn đề chưa được kết luận, chúng ta cần phải hết sức thận trọng trong mọi lời nói và việc làm, nếu không sẽ ảnh hưởng không tốt.

Quân và dân ta rất anh hùng (các đảng anh em ta và các nước cũng nhận định như thế).

Chúng ta đã giành được những thắng lợi rất to lớn. Ta càng đánh càng mạnh. Các nước anh em giúp đỡ ta. Nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ cũng đồng tình và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ, quyết tâm làm đúng nghị quyết của Trung ương, không sợ gian khổ, hy sinh thì nhất định chúng ta đánh thắng được giặc Mỹ xâm lược, giải phóng được miền Nam, bảo vệ được miền Bắc, thống nhất được nước nhà.

Thay mặt Trung ương, Bác nhờ các cô, các chú chuyển lời chào thân ái của Trung ương đến các cụ phụ lão, các cháu thiếu niên, nhi đồng, đến bộ đội và đồng bào các địa phương.

Cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta nhất định thắng!

Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Nam – Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà!

Năm mới, chúc các đồng chí mạnh khoẻ!

Hồ Chí Minh toàn tập,
xuất bản lần thứ hai,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2002, t.11, tr.571-577.

dangcongsan.vn

Phim tài liệu “Việt Nam – Hồ Chí Minh” hút khán giả

Đĩa phim tư liệu "Việt Nam-Hồ Chí Minh." (Nguồn: TT&VH)

Công ty Cổ phần nghe nhìn Thăng Long vừa ra mắt đĩa VCD/DVD bộ phim tài liệu đặc biệt “Việt Nam-Hồ Chí Minh” (thời lượng 57 phút), do Xí nghiệp phim Tài liệu và Khoa học Trung ương sản xuất năm 1985.

Bộ phim do nghệ sĩ nhân dân Đào Trọng Khánh viết kịch bản và đạo diễn; quay phim Lê Mạnh Thích, Lưu Ngọc Hà, với sự đóng góp tư liệu của nhiều nhà điện ảnh, nhiếp ảnh, nhà viết sử, nhà văn, nhà báo trong và ngoài nước.

Phim tài liệu “Việt Nam-Hồ Chí Minh” đã đạt giải Bông sen Vàng của Hội Điện ảnh Việt Nam năm 1985.

Bà Nguyễn Thị Kim Ngà – Phó Giám đốc Công ty Cổ phần nghe nhìn Thăng Long cho biết: Đây là một bộ phim tài liệu quý giá, một thiên anh hùng ca về truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Với hình ảnh, tư liệu chân thực, chắt lọc; lời bình súc tích mang dấu ấn sử thi, bộ phim tái hiện một chặng đường dài của lịch sử Việt Nam kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (năm 1857) cho đến khi Việt Nam kết thúc cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, xây dựng nền hòa bình, độc lập dân tộc.

Giá trị của bộ phim không chỉ dừng lại ở sự tái hiện khách quan, sống động các sự kiện mà còn tìm cách lý giải nguyên nhân, đúc kết thành bài học từ truyền thống lịch sử và thực tiễn đấu tranh cách mạng.

Bộ phim cũng khơi gợi niềm tự hào dân tộc, khẳng định công lao to lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng, để có được một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, sánh vai với các cường quốc năm châu ngày hôm nay.

Là một công ty chuyên kinh doanh băng đĩa thị trường, nhưng với việc phát hành VCD/DVD phim tài liệu này, công ty rất tự tin bởi cách đây ba năm, họ đã ra mắt DVD “Hồ Chí Minh- Chân dung một con người” đến nay đã bán hết 2 vạn bản.

Riêng với VCD/DVD “Việt Nam-Hồ Chí Minh,” chỉ sau ba ngày phát hành (từ 16/4) công ty đã bán hết 6.000 bản.

“Vì sức đặt hàng đột biến, chúng tôi đang tiếp tục in tiếp để đưa ra thị trường,” bà Ngà chia sẻ.

Bộ phim quả thực đang là một món quà vô cùng ý nghĩa đối với đông đảo người con đất Việt, các em học sinh, du khách quốc tế… đặc biệt trong những ngày đại lễ của dân tộc sắp đến gần./.

(TT&VH/Vietnam+)

nhoNguoicha

nhoNguoicha

Đặc trưng dân chủ Hồ Chí Minh

Những ngày ở Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự chẻ củi, nấu ăn.

Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là giá trị văn hóa chính trị quý báu của Đảng, của dân tộc ta. Học tập và làm theo phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là nội dung cơ bản trong đổi mới công tác lãnh đạo, quản lý hiện nay.

Phong cách lãnh đạo là mẫu hành vi thể hiện bản sắc nhân cách người lãnh đạo trong mối quan hệ biện chứng với môi trường. Lý luận khoa học và thực tiễn đã chứng minh, trong quá trình lãnh đạo, quản lý, người lãnh đạo có thể sử dụng phối hợp, linh hoạt, sáng tạo nhiều phong cách lãnh đạo (độc đoán, dân chủ, tự do), trong đó phong cách dân chủ là phong cách có nhiều thành công nhất.

V.I Lênin đã đề xuất phong cách lãnh đạo xã hội chủ nghĩa (được gọi là phong cách Lê-nin-nít), trong đó nhấn mạnh tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, tính nguyên tắc đảng, giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng; có lý tưởng cộng sản, ý thức trách nhiệm trong nhân cách; làm việc theo quan điểm khoa học và văn hóa, đảm bảo tính chuyên nghiệp và thông thạo… Như vậy, V.I.Lênin đã nhấn mạnh tính chất cộng sản của phong cách lãnh đạo dân chủ. Phong cách Lê-nin-nít là phong cách dân chủ kiểu mới – dân chủ cộng sản – dân chủ thực sự của đông đảo quần chúng nhân dân mà nòng cốt là giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản.

Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo phong cách Lê-nin-nít vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, mang bản sắc văn hóa Việt Nam. Đó là phong cách dân chủ Việt Nam – dân chủ Hồ Chí Minh.

Hiện nay, một số người cho rằng Hồ Chí Minh có nhiều phong cách lãnh đạo như quần chúng, dân chủ, thiết thực, giản dị, khoa học… Theo chúng tôi, Hồ Chí Minh luôn quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo phong cách dân chủ cộng sản của V.I.Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, tạo nên đặc trưng, những nét độc đáo, đặc sắc trong phong cách dân chủ của Người.

Dân chủ Hồ Chí Minh là dân chủ quần chúng. Quần chúng là nguồn gốc, là mục đích của phong cách dân chủ Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh luôn sâu sát, quan hệ mật thiết với quần chúng, nắm bắt sâu sắc tình hình thực tế, nhất là thực tế đời sống, thực tế tâm lý, văn hóa của họ để quan tâm, chăm lo lợi ích chính đáng và thiết thực của họ. Người luôn tâm niệm: “Làm sao cho dân ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”, “ Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc đều vì lợi ích của quần chúng. Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không phù hợp với quần chúng, thì phải bỏ đi hoặc sửa lại,…”.

Bản chất dân chủ Hồ Chí Minh, trước hết là tình thương yêu bao la và niềm tin tưởng vô tận đối với quần chúng. Hồ Chí Minh đến với quần chúng một cách tự nhiên, bình dị với nụ cười hiền hậu, giọng nói ấm áp và vòng tay rộng mở thể hiện lòng nhân ái bao la, sự quan tâm, tôn trọng, đồng cảm đến mức thấu cảm – hòa đồng với họ. Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: Quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; Hồ Chí Minh có lòng tin vô tận đối với quần chúng, luôn chăm lo tăng cường mối liên hệ mật thiết với quần chúng và coi đó là nguồn sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của cách mạng. Theo Người, chúng ta phải biết rằng: lực lượng của dân chúng nhiều vô kể. Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết, có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Không có thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra; “ Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”(1).

Dựa vào quần chúng để lãnh đạo, quản lý, nhằm phục vụ lợi ích quần chúng là đặc trưng cơ bản, thể hiện đặc trưng bản chất của phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh. Lòng thương yêu bao la, niềm tin tưởng vô tận đối với quần chúng, lý tưởng cộng sản – tất cả vì lợi ích chính đáng và thiết thực của quần chúng ở Hồ Chí Minh đã làm cho tác phong, phương pháp Hồ Chí Minh trở thành phong cách dân chủ Hồ Chí Minh, thể hiện bản sắc nhân cách hết sức cao đẹp của Người.

Dân chủ Hồ Chí Minh là dân chủ có sự lãnh đạo của Đảng. Khi đề ra đường lối, chính sách, giải quyết nhiệm vụ chính trị, theo Hồ Chí Minh, cần phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng, phải dùng kinh nghiệm dân chúng để thêm cho kinh nghiệm của mình. Người nhấn mạnh, mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng. “1. Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng. 2. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(2).

Tuy nhiên, dân chủ của quần chúng nhân dân, theo Người, phải có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, thống nhất của Đảng theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Trong Di chúc để lại, Người dạy: “Đảng ta là Đảng cầm quyền… Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Người lý giải: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là dân chủ tập trung. Làm việc mà không theo đúng cách đó, tức là làm trái dân chủ tập trung”(3). Tập trung trong lãnh đạo, theo Người là thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương, tất cả mọi đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết của tổ chức đảng; là cá nhân phụ trách (phát huy tinh thần trách nhiệm, lý tưởng cộng sản, tính quyết đoán và năng lực tư duy của người lãnh đạo). Dân chủ trong lãnh đạo phải mở rộng và thực hành dân chủ trong Đảng, làm cơ sở mở rộng, phát huy dân chủ ngoài xã hội; là tập thể lãnh đạo (phát huy trí tuệ, kinh nghiệm của tập thể). Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc một số mặt của một vấn đề. Vì vậy phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm, người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy mặt khác của vấn đề đó. Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt thì vấn đề mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm. Do vậy, nếu lãnh đạo không tập thể thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc.

Tuy nhiên, tập thể lãnh đạo phải luôn đi đôi với cá nhân phụ trách – tập trung, bởi như Người dạy: Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi thì cần phải giao cho một người hoặc nhóm ít người phụ trách (cấp ủy, thường vụ và người đứng đầu cấp ủy cấp trên) theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy.

Dân chủ dẫn tới tập trung là đảm bảo tính kỷ luật, sự đoàn kết thống nhất trong lãnh đạo. V.I Lênin từng dạy: Phải làm cho ý chí hàng ngàn người phục tùng ý chí một người. Phát huy dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng là đặc trưng cơ bản, thể hiện nội dung phong cách dân chủ Hồ Chí Minh. Bằng cách phát huy dân chủ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đảng ta lãnh đạo và tổ chức thành công 12 kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội, thực hiện tốt công tác đánh giá, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ, làm cho hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh, chất lượng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng được nâng cao, những người thực sự có tài, có đức luôn được trọng dụng và tôn vinh.

Dân chủ Hồ Chí Minh là dân chủ có tư duy, có trí tuệ. Khi đề ra đường lối, chính sách, chỉ thị, giải quyết mọi công việc, nhiệm vụ, Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ tình hình thực tế, nhất là thực tế tâm lý của quần chúng; lắng nghe mọi ý kiến (tư duy, trí tuệ) của quần chúng; kế thừa, vận dụng tinh hoa văn hóa nhân loại như nho học, phật giáo, lão giáo, chủ nghĩa tam dân (Trung Quốc), thuyết bất bạo động của Găng-đi (Ấn Độ), chủ nghĩa nhân văn Pháp, đặc biệt là học thuyết Mác-Lênin để tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo. Người căn dặn: “Gặp mỗi vấn đề, ta phải đặt câu hỏi: Vì sao có vấn đề này ? Xử trí như thế này, kết quả sẽ ra sao ? Phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy”(4). Dân chủ có tư duy, trí tuệ là nét đặc sắc, độc đáo của phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh.

Bằng cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trong phát huy dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đảng ta sáng tạo ra nhiều phương pháp và nghệ thuật quân sự chưa hề có trong từ điển cũng như lịch sử quân sự thế giới để đánh bại kẻ thù xâm lược, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, thống nhất nước nhà. Cũng chính bằng cách lãnh đạo này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng ta đã sáng tạo ra con đường phát triển đất nước: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước kinh tế kém phát triển, không kinh qua chủ nghĩa tư bản, bằng cách dựa vào sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc, kinh nghiệm và trí tuệ quần chúng, thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế, tăng cường an ninh-quốc phòng, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, phong cách lãnh đạo dân chủ Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, luôn định hướng, dẫn đường cho việc tìm tòi, sáng tạo các giải pháp lãnh đạo, quản lý có hiệu quả, bền vững trên mọi lĩnh vực. Học tập và làm theo phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là nội dung cơ bản trong đổi mới công tác lãnh đạo, quản lý hiện nay. Quán triệt và vận dụng sáng tạo phong cách dân chủ Hồ Chí Minh, đã được thể hiện trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng. Đó là dựa vào nhân dân để phát huy quyền làm chủ, có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trên cơ sở tri thức khoa học công nghệ hiện đại, lý tưởng cộng sản, tinh thần trách nhiệm, tính quyết đoán của người lãnh đạo, của cấp ủy và thường vụ các cấp, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

————————–

(1), (2), (3), (4). Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H. 2002, Tập 5, tr 293; 297 – 298; 505; 239.
TS. Nguyễn Liên Châu. Số nhà 15, ngõ 24, đường Xuân Diệu, TP. Hà Tĩnh

xaydungdang.org.vn

Nhận thức mới về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, CNXH không phải là một mô hình đã hoàn chỉnh, một công thức bất biến, nên xây dựng CNXH phải thiết thực, phù hợp với điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận dụng quy luật một cách sáng tạo, tránh giáo điều, rập khuôn máy móc…

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là một trong những bài học kinh nghiệm lớn xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “Chỉ có CNXH mới bảo đảm cho dân tộc ta có độc lập, tự do thực sự, đất nước phát triển phồn vinh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc”.

Tuy nhiên, quan điểm “bất biến” đó cũng như kho tàng lý luận về CNXH luôn luôn được Đảng ta không ngừng suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để bổ sung, vận dụng kể cả trong lý luận và thực tiễn sao cho ngày một sâu sắc hơn, đúng bản chất hơn.

Tại Hội nghị Trung ương 9, khóa VI (tháng 8-1990), Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nói: “Lúc này, chúng ta chưa có đủ cơ sở để vẽ ra toàn bộ bức tranh của xã hội tương lai một cách hoàn chỉnh. Nhưng chúng ta có thể vạch ra những nguyên tắc, phương pháp lớn cho thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta… Sau này khi thực tiễn bộc lộ những vấn đề mới, qua tổng kết, Cương lĩnh sẽ không ngừng được bổ sung và hoàn chỉnh từng bước”.

Với quan điểm đó, một trong những bài học kinh nghiệm rút ra sau hơn 60 năm cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh năm 1991 viết: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH. Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng CNXH, bảo vệ Tổ quốc vẫn là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ hữu cơ với nhau. Toàn Đảng, toàn dân tiếp tục nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau”. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã tổng kết bài học của hơn 80 năm cách mạng Việt Nam, tiếp tục khẳng định bài học: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH – ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”.

Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng đã khẳng định, làm rõ bài học kinh nghiệm “nắm vững độc lập dân tộc và CNXH” được xây dựng trên nền móng của Tư tưởng Hồ Chí Minh và mối quan hệ sống còn giữa “độc lập dân tộc” và “chủ nghĩa xã hội”; đáng chú ý là bỏ hai từ “vẫn là” và trong phần mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh đã bổ sung thêm nội dung “bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình” để khẳng định mạnh mẽ, dứt khoát quan điểm, mối quan hệ của hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiểu sâu sắc, quán triệt cho rõ Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và CNXH có ý nghĩa rất quan trọng để đưa Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng vào cuộc sống, nhất là phân tích nội hàm “mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc” sẽ càng thấy rõ quan điểm của Đảng ta về “hòa hiếu””, về “môi trường hòa bình; đối tác, đối tượng…”. Đây là cơ sở, là nền móng để Đảng ta hoạch định đường lối lãnh đạo trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH, được thể hiện trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng như Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020 và Báo cáo chính trị khóa X trình bày tại Đại hội XI.

Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, CNXH không phải là một mô hình đã hoàn chỉnh, một công thức bất biến, nên xây dựng CNXH phải thiết thực, phù hợp với điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận dụng quy luật một cách sáng tạo, tránh giáo điều, rập khuôn, máy móc… mà cơ sở để hướng tới, xem xét, đánh giá chính là những điều kiện về kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa… Theo Người: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, CNXH trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc”. Và để xây dựng được CNXH thì phải có độc lập dân tộc, chỉ có độc lập dân tộc mới có cơ sở để thực hiện những mục tiêu tốt đẹp “vì con người” vì “tiến bộ xã hội” của CNXH.

Thấm nhuần Tư tưởng của Người, trên cơ sở Cương lĩnh 1991, Đảng ta tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và từng bước hoàn chỉnh thêm nhận thức về con đường đi lên CNXH.

Để thực hiện được mục tiêu đó (đồng nghĩa với thực hiện Tư tưởng của Người) – như Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên CNXH là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo ra sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nước ta đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại công cuộc xây dựng đất nước ta, cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản”.

Phân tích sâu sắc những điểm mới của Đảng trong bài học “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH” sẽ giúp mỗi cán bộ, đảng viên nhìn lại chính mình, khắc phục những tư tưởng chủ quan, nóng vội, coi “con đường đi lên CNXH rải đầy hoa hồng” mà một thời chính chúng ta đã từng nhầm tưởng; đồng thời trang bị kiến thức, hiểu biết, củng cố trận địa tư tưởng để vững bước đi lên trên con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chọn – xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

PGS.TS Nguyễn Viết Thông
Tổng thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương

xaydungdang.org.vn

Đạo đức là cái gốc của người Cách mạng

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm thấy nguy cơ đối với Đảng cầm quyền, không những là “bệnh quan liêu hách dịch, vênh váo lên mặt quan cách mệnh”, “đè đầu cưỡi cổ dân” mà cả nhiều thói xấu khác, rất dễ nảy sinh trong cán bộ, đảng viên, nhất là trong những người có chức, có quyền, như bệnh địa vị, công thần, cục bộ địa phương, bè phái; cái thói chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp…, lo chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị và công tác của mình mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn việc công v.v…

Rõ ràng khi cách mạng đã giành được chính quyền và khi từ chiến tranh chuyển sang hòa bình xây dựng, những yêu cầu về đạo đức đối với cán bộ, đảng viên càng đòi hỏi phải tăng cường rèn luyện và tu dưỡng để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến công tác xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng. Trước lúc đi xa, Người viết trong Di chúc: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng; thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Lời căn dặn cuối cùng của Người đã nói vắn tắt cái điều cốt tử nhất trong xây dựng Đảng cầm quyền, nó quyết định vận mệnh của Đảng, của Nhà nước, vận mệnh của cả chế độ – đó là đạo đức cách mạng. Theo Người, đạo đức là cái “gốc” của người cách mạng. Người nói thật dễ hiểu, nhưng là cả một chân lý tuyệt đối: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, cao quý của đạo đức cách mạng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì đạo đức cách mạng nói tóm tắt là:

– Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt.

– Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc.

– Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ.

– Nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Phải đoàn kết nhất trí, chống bè phái, cục bộ.

– Luôn hòa mình với quần chúng, tin tưởng quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng; tổ chức quần chúng thành một khối đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng; tuyên truyền, huy động quần chúng hăng hái thực hiện tốt các chính sách và Nghị quyết của Đảng. Cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt lời nói đi đôi với việc làm; phải có ý thức tổ chức, kỷ luật v.v…

Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu tấm gương chói lọi của đạo đức cách mạng cho tất cả chúng ta học tập, noi theo.

Bác nói: Có đạo đức cách mạng thì khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt, chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Đó là biểu hiện của đạo đức cách mạng. Người còn nói: Đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bĩ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn rèn luyện mình để trở thành người có đạo đức cách mạng. Theo đó, Người đã làm giàu truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam bằng sự kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông, những tinh hoa đạo đức nhân loại; tấm gương đạo đức của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã nêu cho Người một mẫu mực về sự giản dị và sự khiêm tốn cao độ, Người đã học tập và hành động bởi các tấm gương ấy, với nếp sống giản dị, coi khinh sự xa hoa, yêu lao động, đồng cảm sâu sắc với người cùng khổ, hướng cuộc đấu tranh của mình vào công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Song, ngày nay một bộ phận không nhỏ trong cán bộ, đảng viên đã trượt ngã vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân, vi phạm đạo đức cách mạng, không thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã trở thành những phần tử quan liêu, xa dân, ức hiếp quần chúng, tham nhũng, hối lộ, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Cần luôn luôn ghi nhớ lời nhắc nhở cực kỳ sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Đảng ta vừa là đạo đức vừa là văn minh”, là người khởi xướng và lãnh đạo mọi sự đổi thay của đất nước qua các giai đoạn lịch sử của cách mạng. Muốn tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến đến đích cuối cùng, trước hết Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn.

Tự đổi mới, tự chỉnh đốn là khẳng định sự vận động nội tại của Đảng cầm quyền trong quá trình lãnh đạo cách mạng, là sự nhận diện đúng quy luật vận động, phát triển của Đảng. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng vào cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải tăng cường học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cũng đồng nghĩa với việc làm những phẩm chất chung, cơ bản nhất của đạo đức cách mạng là: Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, là phẩm chất thường trực trong cuộc sống hằng ngày, phải trở thành giá trị bất biến trong mọi môi trường, mọi hoàn cảnh, mọi cơ chế kinh tế của người cán bộ, đảng viên. Điều đó cũng lý giải vì sao sự suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay có nguyên nhân chủ yếu từ sự suy thoái ở phẩm chất này. Do vậy, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải không ngừng tu dưỡng đạo đức suốt đời; phải nêu gương về đạo đức, trở thành tấm gương sáng để quần chúng noi theo, để quần chúng tin yêu, mến phục.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi sáng trong cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

quangbinh.gov.vn

Vấn đề chế độ dân chủ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ góc nhìn triết học

Nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh ta thấy rất rõ quan điểm của Người về ba giai đoạn trên con đường phát triển của cách mạng Việt Nam: giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, chế độ dân chủ nhân dân là bước phủ định triệt để những tàn tích của chế độ cũ – chế độ thực dân, phong kiến, đồng thời đó cũng là bước khẳng định – xác lập những cơ sở, nền tảng cho chế độ xã hội mới ở trình độ phát triển cao hơn là chủ nghĩa xã hội. Chế độ dân chủ nhân dân là một giai đoạn tất yếu trên con đường phát triển của xã hội Việt Nam.

134.jpgChính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ảnh: Tuấn Anh

I. Chế độ dân chủ nhân dân là sự phủ định triệt để chế độ thực dân, phong kiến

Trong bài nói tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam mới (ngày 03-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những nhiệm vụ cấp bách cần phải tiến hành: Thứ nhất, dưới chế độ thực dân, để phục vụ mục đích chính trị và quân sự, thực dân, đế quốc Pháp – Nhật đã “gây nạn đói” cho nhân dân ta nhằm làm cho dân ta chết, còn dưới chế độ mới, chúng ta “phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất,, và mở “cuộc lạc quyên” để “làm thế nào cho họ sống”; thứ hai, dưới chế độ thực dân, nạn dốt là “một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta”, nhằm làm cho dân tộc ta yếu, còn dưới chế độ mới, chúng ta “mở một chiến dịch chống nạn mù chữ” vì chúng ta muốn dân tộc ta mạnh; thứ ba, dưới chế độ thực dân và chế độ quân chủ phong kiến, “nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ”, còn dưới chế độ mới, nhân dân ta được hưởng mọi quyền tự do dân chủ, trước hết là tham gia cuộc “TÔNG TUYÊN CỬ” với chế độ phổ thông đầu phiếu và thông qua Quốc hội được lập nên bằng tổng tuyển cử mà xây dựng một bản Hiến pháp dân chủ; thứ tư, chế độ thực dân “dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác”, còn chế độ mới “phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”, vì vậy, chúng ta “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CÂN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”; thứ năm, chế độ thực dân thực hiện “một lối bóc lột vô nhân đạo” bằng thuế thân, thuế chợ, thuế đò, còn chế độ ta “bỏ ngay ba thứ thuế ấy” vì chế độ ta là chế độ nhân đạo; thứ sáu, chế độ thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, còn chế độ ta thì thực hiện “tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết”.

Trong bài nói quan trọng trên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến sự đối lập giữa cái mới và cái cũ. Đó là sự đối lập giữa “sống” và “chết”, giữa “phát triển” và “phản phát triển”, giữa “quyền” và “vô quyền”, giữa “lành mạnh” và “hủ hóa”, giữa “nhân đạo” và “vô nhân đạo”, giữa “đoàn kết” và “chia rẽ”. Có thể nói, đó là những sự đối lập triệt để và toàn diện. Trong nhiều bài nói, bài viết khác sau đó, khi đề cập đến những đặc điểm của chế độ xã hội mới, Hồ Chí Minh cũng sử dụng phương pháp đối lập như trên. Chẳng hạn, trong Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (tháng l0-1945), Hồ Chí Minh viết: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”. Ở đây, đặc điểm “công bộc của dân” của chế độ dân chủ nhân dân là sự đối lập với bản chất “đè đầu dân” của chế độ xã hội cũ.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chế độ dân chủ nhân dân được tuyên bố ra đời, trở thành một tồn tại hiện thực. Song, đó chưa phải là nột hiện thực hoàn toàn, đầy đủ. Đầu năm 1946, Hồ Chí Minh nói: “Bộ máy thống trị cũ đã hủy bỏ, nhưng nền nếp dân chủ mới chưa hoàn toàn”. Sự tồn tại của chế độ xã hội mới là một quá trình. Đó là một quá trình mà trong đó một số phương diện của chế độ xã hội cũ vẫn còn tồn tại (chẳng hạn như ban đầu là sự tồn tại của giai cấp địa chủ và quan hệ địa chủ – nông dân) và vì thế cuộc đấu tranh giữa cái mới đang hình thành với cái cũ vẫn còn tồn tại diễn ra quyết liệt. Chính trong cuộc đấu tranh ấy, cái mới nếu có đủ sức mạnh sẽ chiến thắng cái cũ và vì thế tự khẳng định mình thực sự là cái mới. Chiến thắng của những nội dung mới làm cho sự tồn tại của chế độ xã hội mới trở thành tồn tại hoàn toàn, đầy đủ. Ba giai đoạn trong quá trình hình thành và phát triển của sự vật mới như trên đã được nhà biện chứng lỗi lạc của nhân loại là G.V.F. Hê-ghen khái quát bằng bộ ba khái niệm: thực tại, tồn tại – cho – cái khác và tồn tại – cho – bản thân. V.I. Lê-nin đặc biệt đánh giá cao bộ ba khái niệm nói trên, coi đó là sự thể hiện biện chứng của tư tưởng phản ánh được biện chứng khách quan của hiện thực. Và rõ ràng, Hồ Chí Minh đã tư duy về chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam theo phương pháp tư duy biện chứng như thế cho dù Người không sử dụng các khái niệm của Hê-ghen.

Có thể thấy, với Hồ Chí Minh, những đặc điểm của chế độ xã hội mới được xác lập trong tư tưởng trước hết thông qua phương pháp tư duy chuyển hóa những đặc điểm của chế độ xã hội cũ thành mặt đối lập của nó. Đây chính là phương pháp tư duy biện chứng. Lê-nin đã đánh giá rất cao tư duy biện chứng của Xpi-nô-da khi ông này nêu lên mệnh đề: “Omnis determinatio est negatio” (mọi sự quy định là sự phủ định). Với phương pháp tư duy như thế, quá trình xây dựng (quy định) chế độ dân chủ nhân dân trong hiện thực được tư duy trước hết là quá trình vượt bỏ (phủ định) một cách triệt để và toàn diện những đặc trưng bản chất của chế độ thực dân, phong kiến.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chế độ 1 dân chủ nhân dân trước hết là bước phủ định triệt để những tàn tích của chế độ cũ – bước phủ định đã được khởi đầu và hoàn thành một phần trong Cách mạng Tháng Tám.

II – Chế độ xã hội chủ nghĩa ra đời từ trong chế độ dân chủ nhân dân

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan hệ giữa chế độ dân chủ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa thể hiện trên hai phương diện.

Thứ nhất, theo Hồ Chí Minh: chế độ dân chủ nhân dân chưa phải là chế độ xã hội chủ nghĩa. Điểm khác căn bản chính là ở vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất. Trong chế độ dân chủ nhân dân, chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất của thiểu số ngùơi bị phủ định để xác lập chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất của đa số người. Quan điểm trên của Hồ Chí Minh được thể hiện rõ, chẳng hạn trong luận điểm về so sánh chế độ sở hữu tư liệu sản xuất trong chế độ dân chủ nhân dân với chế độ sở hữu tư liệu sản xuất trong chê độ xã hội chủ nghĩa: CANH GIẢ HỮU KỲ ĐIỀN” nghĩa là dân cày có ruộng. “Phải chăng đó là một chủ nghĩa cộng sản, hoặc chủ nghĩa xã hội? Không phải. Chủ nghĩa xã hội hoặc cộng sản là không có chế độ tư hữu. Trái lại “canh giả hữu kỳ điền” là làm cho hàng chục triệu dân cày thành tư hộ đều có ruộng, đều có quyền sở hữu ruộng đất… Dân cày có ruộng chỉ là một chính sách dân chủ”.

Tất nhiên, còn có những sự khác biệt khác nữa, những đâu là sự khác biệt về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và đi liền với nó là các loại hình kinh tế là sự khác biệt chủ yếu. Trong tác phẩm Thường thức chính trị (năm 1953), khi đề cập tới đặc điểm kinh tế trong các “đặc điểm của dân chủ mới”, Hồ Chí Minh đã chỉ ra “năm loại kinh tế,,: A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân). B- Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội). C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội). D- Tư bản của tư nhân. E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh). Năm loại kinh tế này dựa trên nhiều loại hình sở hữu tư liệu sản xuất khác nhau, và vì thế nó vẫn khác với kinh tế xã hội chủ nghĩa, dù rằng những mầm mống xã hội chủ nghĩa về kinh tế đã xuất hiện. Nói theo ngôn ngữ ngày nay thì kinh tế dân chủ nhân dân là kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể nói như vậy bởi chính Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát trên theo hướng xã hội chủ nghĩa chứ không phải theo hướng chủ nghĩa tư bản”.

Quan điểm về sự khác biệt giữa chế độ dân chủ nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa cũng được Đảng ta khẳng định. Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam tại Đại hội II (năm 1951) nói rõ: Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân “không phải là cách mạng dân chủ tư sản lối cũ cũng không phải là cách mạng xã hội chủ nghĩa mà là một thứ cách mạng dân chủ tư sản lối mới tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, không phải trải qua một cuộc nội chiến cách mạng”. Sự khác biệt giữa chế độ dân chủ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, cũng như quá trình tiến triển từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa còn được luận chứng rõ hơn trong Luận cương cách mạng Việt Nam do đồng chí Trường Chinh trình bày tại Đại hội II của Đảng.

Thứ hai, chế độ dân chủ nhân dân không phải là chế độ xã hội chủ nghĩa, nhưng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam lại ra đời từ trong chế độ dân chủ nhân dân. Đây là quan điểm rất cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng ta đều biết rõ, quan điểm chính thức của Đảng ta là từ năm 1954, miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh cũng nhất trí với quan điểm như vậy. Bước vào thời kỳ quá độ, tức là bắt tay “xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội”. Tuy nhiên, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đây là quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ trong chế độ dân chủ nhân dân. Từ năm 1945 cho đến lúc Hồ Chí Minh qua đời, Người luôn khẳng định chế độ ta là chế độ dân chủ nhân dân, đặc biệt là về phương diện chính trị. Trong những năm 1954 – 1955, Hồ Chí Minh nhiều lần nói rõ: “chế độ ta là chế độ dân chủ”, hay “nước ta là nước dân chủ”. Đến những năm 1964 – 1965, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục khẳng định “Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ. Rõ ràng là, chế độ xã hội chủ nghĩa là giai đoạn phát triển cao hơn chỉ có thể ra đời từ cái khác nó – từ chế độ dân chủ nhân dân. Hay nói cách khác, chế độ dân chủ nhân dân là giai đoạn phát triển thấp hơn nhất định sẽ chuyển hóa thành cái khác nó – chế độ xã hội chủ nghĩa trong quá trình vận động khách quan của mình. Đây là một quan hệ biện chứng và quan hệ này thể hiện “lôgic đặc thù” trong sự vận động, phát triển của xã hội Việt Nam. Sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa từ cái khác của nó chính là một bước chuyển về chất trong quá trình vận động và phát triển của xã hội Việt Nam. Chúng ta thấy rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã phản ánh xã hội Việt Nam hiện đại trong trạng thái vận động qua hai bước chuyển. Bước chuyên thứ nhất gắn liền với sự thành công của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của chế độ dân chủ nhân dân. Bước chuyển thứ hai chính là sự chuyển hóa từ chế độ dân chủ nhân dân sang chế độ xã hội chủ nghĩa. Toàn bộ quá trình vận động của xã hội trải qua những bước chuyển về chất như thế nhằm hướng tới một trình độ phát triển cao hơn – chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Đi sâu hơn nữa vào tư tưởng Hồ Chí Minh về quá trình chuyển hóa từ chế độ dân chủ nhân dân sang chế độ xã hội chủ nghĩa, ta thấy nổi lên mấy quan điểm sau:

Một là, Việt Nam tiến dần lên chủ nghĩa xã hội từ trong chế độ dân chủ nhân dân – chế độ dân chủ nhân dân ở trình độ phát triển cao. Trình độ phát triển cao của chế độ dân chủ nhân dân thể hiện trước hết ở sự tiến bộ trong năng lực làm chủ của người dân, ở việc hoàn thiện bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật với tư cách là

những công cụ quyền lực của nhân dân và cùng với những bước phát triển về phương diện chính trị, sự phát triển của chế độ dân chủ nhân dân còn thể hiện trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội… Và đặc biệt là sự phát triển trong lĩnh vực kinh tế.

Hai là, bước chuyển từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa là bước chuyển về chất, vì thế không thể làm mau, không thể một sớm một chiều, mà là cả một quá trình với nhiều bước đi. Quá trình đó dài hay ngắn, điều đó tùy thuộc vào sự nỗ lực của toàn thể nhân dân. Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định quan điểm này, chẳng hạn: “Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dân dần”; “Nói tóm lại, tiến lên chủ nghĩa xã hội, không thể một sớm một chiều”…

Ba là, tiến lên chủ nghĩa xã hội từ chế độ dân chủ nhân dân là một công trình cải tạo và xây dựng khổng lồ, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, các quan hệ của đời sống xã hội. Khi nhấn mạnh một đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa là “mọi tư liệu sản xuất là của chung”, thì sự cải tạo đầu tiên chính là nhằm vào quan hệ sản xuất. Việc Hồ Chí Minh đặt vấn đề cải tạo quan hệ sản xuất theo hướng xóa bỏ các hình thức tư hữu, làm cho hình thức công hữu chiếm địa vị độc tôn trong quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất khi bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự thật. Tuy nhiên, cần lưu ý là, đồng thời với quan điểm trên, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh, thậm chí nhấn mạnh nhiều hơn, đến một vấn đề kinh tế có liên quan, đó là vấn đề mục đích của cải tạo quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất vấn đề tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, hay nói cách khác là vấn đề phát triển sản xuất.

Cải tạo quan hệ sản xuất không phải là mục tiêu, mà chỉ là phương thức để phát triển sản xuất, qua đó thực hiện mục tiêu “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần” cho nhân dân. Thực vậy, trong toàn bộ quá trình tư duy về chế độ dân chủ nhân dân, Hồ Chí Minh đã luôn coi phát triển sản xuất là động lực trong phát triển xã

hội. Hồ Chí Minh viết: “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là hai việc then chốt để khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, để cải thiện dần đời sống của nhân dân, để củng cố miền Bắc, tranh thủ miền Nam, để tăng cường lực lượng đấu tranh thống nhất nước nhà. Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là hai việc cần thiết nhất để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến dần lên chủ nghĩa xã hội”. Lôgic của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở đây rất rõ ràng. Mục tiêu là cái quyết định, còn phương thức là cái bị quyết định. Phương thức nào phù hợp, giúp đạt được mục tiêu thì lựa chọn, còn phương thức nào không phù hợp, cản trở quá trình đến mục tiêu thì ta không lựa chọn hoặc từ bỏ. Chính quan điểm về mối quan hệ giữa đặc trưng mục tiêu và đặc trưng phương thức của Hồ Chí Minh đã cung cấp cơ sở phương pháp luận quan trọng để Đảng ta có những điều chỉnh kịp thời về phương thức thực hiện mục tiêu, mở ra thời kỳ đổi mới.

Bốn là, để bảo đảm cho sản xuất phát triển và quá trình chuyển biến từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa được diễn ra ổn định, vấn đề củng cố chính quyền là rất quan trọng. Hồ Chí Minh viết: “nhiệm vụ chúng ta phải ra sức củng cố chính quyền nhân dân và củng cố những tổ chức của nhân dân ở các địa phương. Bởi vì nếu chính quyền nhân dân và tổ chức nhân dân ở các địa phương lỏng lẻo thì những chính sách của Đảng và của Chính phủ đưa ra thi hành không đến nơi đến chốn. Cho nên phải củng cố chính quyền nhân dân, củng cố các tổ chức của nhân dân, trong đó phải đặc biệt chú ý tổ chức công an và dân quân du kích, vì công an, dân quân du kích có nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh ở địa phương. Có giữ gìn trật tự trị an, nhân dân mới an cư lạc nghiệp, tăng gia sản 1 xuất”.

Củng cố chính quyền nhân dân trước hết là củng cố và tăng cường địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản – “đội tiên phong của nhân dân lao động”. Củng cố chính quyền nhân dân, sử dụng chính quyền nhân dân như là công cụ quyền lực của nhân dân để bảo đảm sự ổn định cho phát triển kinh tế, xã hội là quan điểm thể hiện tính biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế.

Năm là, quá trình chuyển biến từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, những biến chuyển của các lĩnh vực khác đều phải xoay quanh kinh tế mà cụ thể là phải góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Về văn hóa, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Văn hóa phải phục vụ sản xuất tiết kiệm, phục vụ nhân dân, phục vụ đoàn kết, phục vụ Tổ quốc. Cần xây dựng và phát triển thuần phong mỹ tục . . . Thuần phong mỹ tục là đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau sản xuất, tiết kiệm, vì vậy nên cần phát triển thuần phong mỹ tục”. Về giáo dục: “Thanh toán nạn mù chữ là bước đầu nâng cao trình độ văn hóa. Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Trong giáo dục, cần đặc biệt chú ý đến giáo dục thế hệ trẻ. Giáo dục thế hệ trẻ chính là một phương thức xây dựng xã hội tương lai ngay từ hiện tại. Đây là quan điểm thường trực trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tất cả đều do và vì phát triển sản xuất. Quan điểm coi sản xuất là nền tảng, là động lực cho sự vận động và phát triển của xã hội của Hồ Chí Minh chính là quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Bản thân Hồ Chí Minh cũng ý thức rất rõ về điều này. Người thấy rõ sự gặp gỡ của chủ nghĩa Mác – Lê-nin với quan điểm đề cao lao động trong truyền thống Việt Nam: Bác chỉ nói một điểm rất đơn giản “có thực mới vực được đạo” đó là duy vật, đó là gốc của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Muốn ăn là phải sản xuất… Đảng ta không phải là đảng làm quan mà Đảng phải lo đời sống cho nhân dân, trước mắt là sản xuất. Rõ ràng là trong hiện thực, sản xuất là nền tảng của đời sống xã hội, và khi hiện thực ấy được khái quát thành lý luận, thì nó trở thành quan điểm “gốc” của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, của tư tưởng Hồ Chí Minh. Không xuất phát từ quan điểm “gốc” này để nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh thì rất dễ chệch hướng.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chế độ dân chủ nhân dân không chỉ là bước phủ định triệt để những tàn tích của chế độ thực dân, phong kiến, mà còn là môi trường, điều kiện để chủ nghĩa xã hội có thể ra đời từ đó, trong đó.

Theo Tạp chí Cộng sản

hochiminhhoc.com