Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Nói thật, làm thật để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên

Những ngày áp Tết Nhâm Thìn vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng đã ban hành Nghị quyết: Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay và các bài phát biểu khai mạc, bế mạc Hội nghị của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thu hút sự quan tâm đặc biệt, sự kỳ vọng lớn lao của toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta.

Từ khi  thành lập đến nay, Ðảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta đứng lên đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, giành chính quyền, thiết lập Nhà nước dân chủ nhân dân, tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thống nhất đất nước, đưa đất nước ta từng bước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Ðảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Quá trình lãnh đạo cách mạng biết bao thăng trầm, lúc thuận lợi, lúc khó khăn, lúc thành công, có lúc vấp phải những khuyết điểm sai lầm, nhưng Ðảng ta đã dũng cảm nhận rõ những sai lầm ấy và được nhân dân tha thứ, bởi vì Ðảng ta trước sau như một tuyệt đối trung thành với dân tộc với giai cấp (như trong cải cách ruộng đất hoặc sau năm 1975…). Ðại hội Ðảng lần thứ VI với sự chuyển biến mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới, Ðảng ta mở ra một bước ngoặt xây dựng đất nước trong hòa bình, với những tiền đề mới để đến Ðại hội lần thứ VII đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Và từ đó, qua năm kỳ Ðại hội, đến Ðại hội XI, Cương lĩnh 91 được bổ sung và phát triển. Trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo chiến lược; hoạch định đường lối, xây dựng củng cố đội ngũ, Ðảng đã làm nhiều việc với nhiều quyết định đúng đắn cho nên đất nước ta, dân tộc ta ngày càng phát triển, được nhân dân ta và bạn bè thế giới khâm phục. Tuy nhiên, đánh giá về sự phát triển và sự trưởng thành của Ðảng, đối chiếu với bản chất Ðảng, yêu cầu nhiệm vụ cách mạng đang diễn ra trong nước và trên thế giới thì còn những khuyết điểm, thậm chí có những khuyết điểm nghiêm trọng, nổi lên là công tác xây dựng Ðảng chưa tương xứng với vị trí, vai trò của một đảng cách mạng tiền phong cầm quyền.

Phải nói ngay rằng những vấn đề Nghị quyết nêu lên là rất đúng, rất trúng, vì tình hình thực tế trong Ðảng ta, nếu tính từ năm 1991 đến nay không lúc nào Ðảng  không đề cập vấn đề xây dựng, củng cố đảng, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Ðảng: Hội nghị Ðại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Ðảng tháng 1-1994, Ðảng ta đã chỉ ra bốn nguy cơ lớn đe dọa tới sự tồn vong của Ðảng và chế độ ta, trong đó tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, cửa quyền thiếu ý thức phục vụ nhân dân của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là nguyên nhân bên trong làm cho bộ máy Ðảng và Nhà nước suy yếu, niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, với chế độ bị xói mòn. Ðến văn kiện các Ðại hội VIII, IX, X, XI những vấn đề này tuy có thực hiện, có thu được những kết quả nhưng tình hình chuyển biến rất chậm, một số mặt còn có những diễn biến phức tạp và nghiêm trọng hơn. Ngay Văn kiện Ðại hội XI của Ðảng cũng nêu: “tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp”, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Ðảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định và phát triển của đất nước. Trong nội bộ Ðảng, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp.

Tình trạng tiêu cực hiện nay trong Ðảng đang diễn ra đúng như Nghị quyết đề cập. Chúng ta không thể xem thường, đó là vấn đề cấp bách nhất phải tập trung giải quyết và phải giải quyết cho bằng được. Mục tiêu, phương châm và các giải pháp thực hiện được xác định trong Nghị quyết là đầy đủ. Có nghĩa là Nghị quyết T.Ư 4 đã xem mạch bắt đúng bệnh, kê đúng đơn thuốc. Vấn đề còn lại là có dám uống thuốc đắng để chữa bệnh hay không. Có theo phác đồ điều trị là bệnh nào thuốc nấy, đau ở đâu chữa ở đó hay không? Ðau ở não bộ, lại chữa ở chân tay là sai, hậu quả sẽ khôn lường.

Chúng ta cần phải làm rõ: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị là gì? Nghiêm trọng đến mức nào? Tôi cho rằng, BCH T.Ư, trước hết là Bộ Chính trị, Ban Bí thư và đội ngũ cán bộ chủ chốt của các Ðảng bộ trực thuộc Trung ương cần tự phê bình và phê bình để làm rõ có hay không có sự mơ hồ, dao động về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta? Có hay không tình trạng nói và viết thì tỏ ra kiên định mục tiêu và con đường đi lên CNXH; vững vàng trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng khi lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối thì làm ngược lại. Từ đó, cần phải soi rọi mọi chủ trương, chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội đã đề ra, đã thấm nhuần đến đâu bản chất tốt đẹp của CNXH mà toàn Ðảng, toàn dân ta đang xây dựng? Sự suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, như Nghị quyết T.Ư đề cập dẫn đến sự suy thoái trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống. Phải chăng đó là sự suy thoái từ ý thức hệ, là sự phai nhạt lý tưởng XHCN. Làm gì và làm thế nào để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, tiếp tục kiên định con đường phát triển đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH mà Cương lĩnh 1991 đã xác lập và được bổ sung, phát triển năm 2011?

Sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên với các biểu hiện phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc là tàn dư của chế độ phong kiến. Ðảng ta vẫn thường xuyên đấu tranh ngăn chặn, nhưng làm chưa đến nơi đến chốn. Do vậy, căn bệnh cá nhân chủ nghĩa đã trở nên trầm trọng ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Do quyền lực chi phối dẫn đến tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy huân chương, chạy tội… Quyền và tiền tài gắn liền với nhau. Tiền tài, danh lợi đã biến cán bộ, đảng viên thoái hóa thành tù binh của nó. Vậy làm gì và làm thế nào để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp?

Về mặt tổ chức, Ðảng xác định nguyên tắc tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình là nguyên tắc tối thượng của một Ðảng kiểu mới, nhờ đó Ðảng ta đã vượt qua mọi thử thách, thật sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân, mới phòng tránh được bệnh cá nhân chủ nghĩa, quan liêu xa rời quần chúng, mới phát huy được dân chủ, Ðảng ngày càng vững mạnh trong sạch. Bác Hồ đã nói, trong Ðiều lệ Ðảng đã xác định như vậy. Trong mỗi con người đảng viên vẫn có hai mặt – mặt tích cực là chủ yếu, là cơ bản nhưng có cả mặt tiêu cực, tùy ở động cơ giác ngộ lý tưởng, ở sự rèn luyện trong thực tiễn cuộc sống mà mức độ tích cực hoặc tiêu cực cao hay thấp, ít hay nhiều, chính vì vậy mà Ðảng ta lấy tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển. Nếu như trong từng tổ chức và trong mỗi cá nhân đều nhận thức đúng và nghiêm túc chấp hành các nguyên tắc trên thì sức chiến đấu của Ðảng ngày càng cao, những tiêu cực sẽ được khắc phục hiệu quả, chủ nghĩa cá nhân không thể làm mục ruỗng được nhân cách của người cách mạng.

Trong quá trình tham gia cách mạng, mỗi tổ chức, mỗi đảng viên đều được Ðảng phân công nhiệm vụ công tác nhất định, khi thực hiện có ưu điểm, có khuyết điểm, có đúng có sai, tất nhiên đúng nhiều hơn, không thế thì làm sao cách mạng phát triển và có được thành quả như ngày nay, ta có quyền tự hào nhưng không được chủ quan, tự mãn. Thấy sai phải nghiêm chỉnh khắc phục. Người đảng viên chân chính là người biết nghe lời nói thẳng, biết nghiêm túc nhìn ra cái sai của mình và quyết tâm khắc phục, gần gũi nhân dân, học tập dân, nếu xa dân, xa thực tiễn, xa phong trào cách mạng thì người đó không phải là người đảng viên chân chính.

Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình hiện nay, có hiện tượng chỉ nói cái hay và nói đi nói lại, còn cái dở thì cứ giấu và giấu thật kỹ, né tránh, có khi ở dưới báo cáo lên, nhưng rồi để vào “im lặng đáng sợ”, “tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lạiể. Cho nên đã nói đến vấn đề cấp bách thì phải có biện pháp cấp bách để giải quyết, nói là củng cố, chấn chỉnh thì mọi người đảng viên phải tự “củng cố, tự chấn chỉnh” mình trước. Tự phê bình và phê bình như là người rửa mặt; là đảng viên, kể cả đảng viên thường hay đảng viên cấp cao trước hết mình phải nhìn lại mình, cái gì ưu thì phát huy, cái gì khuyết điểm thì sửa chữa. Ðồng thời phải giúp đồng chí mình sửa chữa, có ưu thì mình nói cho đồng chí biết, có khuyết thì giúp cho đồng chí nhận ra.

Ðối với tổ chức thì phải tôn trọng giữ vững và chấp hành nguyên tắc một cách triệt để, từ đảng viên thường cho đến các đồng chí lãnh đạo cấp cao, mà trước hết phải từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành T.Ư Ðảng – Bộ Tham mưu tối cao của Ðảng, vì đây là một Ðảng duy nhất cầm quyền, Bộ Tham mưu tối cao ở đây là Ban Chấp hành Trung ương trong đó Bộ Chính trị phải là mẫu mực thực thi những nguyên tắc này. Bản thân Trung ương cũng như các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải làm rõ vì sao tình hình suy thoái trong Ðảng kéo dài và khắc phục mãi chưa được? Trách nhiệm của Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư như thế nào, đã rút ra được những kết luận gì, bài học gì về tình hình Ðảng hiện nay và biện pháp khắc phục ra sao?

Ðảng ta là Ðảng duy nhất cầm quyền, cho nên dù chỉ là một vài hiện tượng cá biệt hoặc một bộ phận không nhỏ suy thoái nhưng mà tính chất nghiêm trọng và tác hại của nó ảnh hưởng lớn đến uy tín của toàn Ðảng, đến vị trí, vai trò của đảng  cầm quyền, nhất là những đảng viên giữ trọng trách cao trong Ðảng, trong bộ máy Nhà nước mà hư hỏng thì tác hại sẽ rất lớn. Một đảng viên ở dưới thôn mà hư hỏng thì chỉ ảnh hưởng đến thôn đó, còn một người đứng đầu tổ chức đảng, đứng đầu một cơ quan nhà nước, thì ảnh hưởng đến cả quốc gia, dân tộc. Nghĩa là tính chất, tác hại sẽ khác nhau. Cho nên trong tự phê bình, phê bình, cấp trên phải làm gương trước “trên trước dưới sau”, “đã tắm thì phải biết gội đầuể. Tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân chủ trong Ðảng. Bác Hồ đã căn dặn “Trong Ðảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Ðảngể. Chúng ta chưa làm được bao nhiêu so với những điều Bác đã căn dặn. Ở cấp chiến lược, cần phải trả lời câu hỏi các chủ trương, đường lối chính sách do Ðảng ban hành đã thật sự là kết tinh trí tuệ của tập thể chưa? Chúng ta đã thật sự dân chủ trong tự phê bình và phê bình chưa hay chỉ là hình thức, không thực chất do sợ bị trù dập. Làm thế nào để thực hành dân chủ rộng rãi trong hoạch định đường lối, chính sách; dân chủ trong tự phê bình và phê bình; dân chủ trong việc bố trí, sắp xếp cán bộ một cách công khai, minh bạch? Vậy nên Trung ương Ðảng phải có những kế hoạch thật cụ thể để thực hiện nghiêm túc các vấn đề đã nêu trên.

Về xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng. Tôi cho rằng, vấn đề then chốt để thực hiện tốt nhiệm vụ này là ở chỗ phải xây dựng các quy chế, quy định phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu để khuyến khích đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ðồng thời ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện độc đoán chuyên quyền, thiếu trách nhiệm trước Ðảng, trước dân; tình trạng tranh công đổ lỗi cho nhau của không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Khi nói đến việc củng cố, chỉnh đốn Ðảng, trong Di chúc Bác Hồ có nói, sau chiến tranh việc trước tiên là củng cố lại Ðảng. Chúng ta đã làm theo di huấn của Bác Hồ về vấn đề này, nhưng làm chưa đến nơi đến chốn, cho nên những tiêu cực trái với bản chất cách mạng của Ðảng vẫn đang hoành hành trong nội bộ Ðảng ta. Khi nói đến củng cố Ðảng hoặc chỉnh đốn Ðảng thì người đảng viên của Ðảng từ cấp cao đến cơ sở, người đảng viên trước hết phải tự rà soát mình, củng cố mình, cái tốt thì phát huy, cái xấu thì phải gột rửa cho bằng được. Về tổ chức thì từ chi bộ, đảng bộ, xã, huyện, tỉnh, thành phố, trung ương, Ban cán sự đảng các cấp… tự mình cũng phải chỉnh đốn bản thân mình. Làm như thế là đúng bài bản. Nhưng tình hình Ðảng ta lúc này phải tập trung làm trước hết cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành. Trung ương phải phất cao ngọn cờ tự chỉnh đốn, tự củng cố bản thân mình; trong đó Bộ Chính trị đi tiên phong, đối chiếu với nguyên tắc tổ chức của Ðảng, với chức năng, trọng trách của cấp Trung ương, của Bộ Chính trị, của Ban Bí thư để soi rọi vào công việc mình đã làm, đang làm; mối quan hệ với quần chúng nhân dân, quan hệ trong nội bộ Ðảng; xem xét tinh thần tự phê bình và phê bình, tính chiến đấu của mỗi thành viên đã cao chưa hay là có gì nể nang, dĩ hòa vi quý như nhận định trong Văn kiện Ðại hội XI của Ðảng.

Sau một thời gian tiến hành tự phê bình và phê bình, củng cố chấn chỉnh trong nội bộ, Trung ương sẽ rút kinh nghiệm triển khai xuống cấp tỉnh. Làm tốt ở hai cấp này sẽ thông báo kết quả đến toàn Ðảng, toàn dân, đồng thời cũng là gắn với việc chuẩn bị Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ XII.

Chúng ta đã nhiều lần xây dựng, củng cố, chỉnh đốn Ðảng, những kết quả thu được đã thúc đẩy đất nước phát triển và củng cố niềm tin của nhân dân, nhưng những hạn chế khuyết điểm trong Ðảng chậm được khắc phục cũng ảnh hưởng rất lớn đến lòng tin của dân và lòng tin của chính ngay trong nội bộ Ðảng. Vì vậy, lần này Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy phải tiên phong đi trước trong xây dựng củng cố Ðảng, nếu làm tốt, thành công thì niềm tin của toàn Ðảng và nhân dân sẽ nâng lên, nếu làm không tốt, làm nửa vời thì tác hại sẽ rất lớn, không thể lường hết được.

Hơn lúc nào hết, toàn Ðảng ta, từ Trung ương đến chi bộ, mọi cán bộ, đảng viên nghiêm túc tự phê bình và phê bình với tinh thần “Phải trái phân minh, nghĩa tình trọn vẹn” để giải quyết thật tốt những vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng đã được Nghị quyết T.Ư 4 đề ra.

Tôi hoan nghênh Báo Nhân Dân mở chuyên mục “Những việc cần làm ngay về xây dựng Ðảng” và kêu gọi đồng chí, đồng bào cả nước tích cực tham gia chuyên mục này để hiến kế, hiến công xây dựng Ðảng ta ngày càng trong sạch, ngày càng vững mạnh.

LÊ KHẢ PHIÊU
Nguyên Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng

nhandan.com.vn

Bác Hồ với vấn đề dân chủ nội bộ

Bác Hồ rất chú trọng làm cho sinh hoạt của các cơ quan phải tuân thủ một chế độ chặt chẽ mà Bác là người gương mẫu thực hiện. Trong những năm cuối đời, sức khỏe Bác yếu dần, tuy nhiên, Bác rất cố gắng tham gia đều đặn các sinh hoạt ấy.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước thường xuyên thuyết phục Bác là sẽ có cách làm việc chu đáo với Bác để Bác góp ý kiến về các vấn đề phải thảo luận ở cơ quan lãnh đạo, chủ yếu thuyết phục Bác không phải dự đều các kỳ họp. Nhưng Bác không chấp nhận và luôn luôn giữ đúng chế độ sinh hoạt.

Trong các kỳ họp của cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Bác luôn luôn chăm lo phát huy đến mức cao dân chủ nội bộ, để mọi người đều góp được ý kiến. Đối với những đồng chí hay nói nhiều, nói dài thì Bác nhẹ nhàng nhắc: “Chú để cho các đồng chí khác có cơ hội nói”.

Đồng chí Phạm Văn Đồng kể lại: “Trong các kỳ họp Bộ Chính trị, nhiều khi Bác có những gợi ý để chúng tôi thảo luận. Song cũng có trường hợp sau khi nêu ra, Bác thấy chúng tôi do dự, có ý không tán thành, thì Bác nói ngay: “Mình có ý kiến như vậy, nếu các chú thấy không được, thì mình rút”. Bác nói những lời này một cách rất hồn nhiên không gợi một chút khó chịu nào và chúng tôi cũng quen với phong cách cực kỳ cao quý của vị lãnh tụ tối cao và người thầy của tất cả chúng tôi. Tôi nghĩ đây là bài học lớn về tinh thần dân chủ nội bộ, ý thức tập thể và sinh hoạt lành mạnh của các tổ chức từ trên xuống dưới”.

Trong Di chúc Bác căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Tư tưởng và phong cách dân chủ của Bác là những bài học quý soi sáng cho công cuộc đổi mới hiện nay, nhất là trong việc khắc phục khuyết điểm, sai lầm nhằm tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, nêu cao và thực hiện từng bước quyền làm chủ của nhân dân lao động.

Đỗ Ngọc Uẩn
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

baobacninh.com.vn

Bầu cử ở Việt Nam: “Dân chủ hình thức” hay dân chủ thực chất

Thực hiện nghĩa vụ công dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II (ngày 8/5/1960) tại tiểu khu Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội - Ảnh: tư liệu

Bản chất của luận điệu chống đối này là lợi dụng những quan điểm của Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam trong quá trình phát triển đường lối đổi mới, nhất là trên phương diện chính trị, để loại bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam, đưa Việt Nam sang mô hình chính trị phương Tây, lệ thuộc vào nước ngoài. Theo những kẻ chống đối lại Nhà nước Việt Nam hiện này thì: “Việt Nam phải thực hiện ngay tam quyền phân lập”, và muốn vậy phải “trưng cầu dân ý có sự giám sát của Liên hợp quốc về Điều 4, Hiến pháp 1992” – về vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Và rằng, ở Việt Nam làm gì có dân chủ trong bầu cử, ứng cử – đó là cơ chế “Đảng cử – dân bầu”, là “dân chủ trình diễn”…; phải sửa đổi hệ thống bầu cử, tạo điều kiện cho tất cả mọi người được ứng cử tự do…

Vậy nội dung, bản chất của hệ thống bầu cử Việt Nam như thế nào – xét về mặt lý luận, pháp lý và thực tiễn? Hệ thống bầu cử ở nước ngoài ra sao, phải chăng Việt Nam nhất thiết phải thay đổi mô hình dân chủ theo phương Tây?

Trước hết phải nhắc lại lịch sử để những kẻ đang cố tình bôi nhọ ĐCS Việt Nam và những người nhẹ dạ, cả tin hiểu rằng, chế độ cộng hòa, Hiến pháp dân chủ, nhà nước pháp quyền, quyền công dân và quyền con người ra đời ở Việt Nam là thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, do ĐCS Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Trên 80 năm thống trị của thực dân Pháp, 30 năm chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, trong vùng chúng chiếm đóng trên đất nước này, làm gì có bầu cử, ứng cử thật sự, làm gì có Hiến pháp, có quyền công dân và quyền con người, làm gì có tự do ngôn luận, báo chí. . . Lúc đó sao không thấy các “đại gia” phương Tây chia sẻ các giá trị dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. Đến nay, họ và những kẻ tay sai lại lên giọng dạy bảo dân chủ, nhân quyền cho các quốc gia, thậm chí còn can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Những động thái chính trị của phương Tây ở Ai Cập, Bắc Phi và nhiều quốc gia Trung Đông khác trong những ngày qua cho thấy, “diễn biến hòa bình” không phải là “con ngáo ộp” của những người làm chính trị ở Việt Nam, mà là một thực tế đang diễn ra sôi động trên chính trường quốc tế. Nói cách khác, những gì phương Tây đã và đang làm không phải vì dân chủ, nhân quyền đích thực cho nước khác, dân tộc khác, mà vì những lợi ích chính trị – kinh tế mà họ đang theo đuổi.

Hệ thống chính trị nói chung, hệ thống bầu cử nói riêng trên thế giới hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào chế độ chính trị được hình thành trong lịch sử và ý chí của nhân dân các nước. Hệ thống bầu cử ở những nước theo thể chế liên bang (như: Hoa Kỳ, Ố-xtrây-li-a…) khác với các quốc gia theo thể chế hệ thống hành chính tập trung, thống nhất. Về kỹ thuật cũng có nhiều mô hình khác nhau: mô hình bầu cử ở các quốc gia theo chế độ đa đảng (lấy việc bầu cho đại diện của mỗi đảng làm tiêu chí khác với các quốc gia bầu cử theo tỷ lệ cử tri và theo địa bàn hành chính; mô hình bầu cử trực tiếp khác với mô hình bầu cử gián tiếp – thông qua đại cử tri… Hệ thống bầu cử được các nhà nghiên cứu xem là có nhiều ưu điểm là hệ thống bầu cử theo nguyên tắc đa số, trực tiếp. Nguyên lý của hệ thống này đơn giản, đó là ứng cử viên (hoặc đảng phái chính trị) nào thu được nhiều phiếu hơn sẽ trúng cử.

Khi nói đến bầu cử, ứng cử ở một quốc gia có dân chủ, công bằng hay không? người ta phải xem xét toàn bộ hệ thống bầu cử, ứng cử và nhất là kết quả của hệ thống đó được áp dụng vào bối cảnh đặc thù về lịch sử và văn hóa chính trị của một quốc gia – dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại như thế nào, chứ không thể chỉ nhìn vào một yếu tố nào đó để khái quát đánh giá. Hệ thống bầu cử của Việt Nam ra đời từ khi ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Hiến pháp và Luật Bầu cử Việt Nam quy định: cử tri bầu đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Phù hợp với nguyên tắc “phổ thông”, số lượng đại biểu của mỗi địa phương tỷ lệ với số cử tri của địa phương đó. Các cử tri được bầu cử trực tiếp các đại diện của mình ở các cơ quan dân cử từ cấp cơ sở đến Quốc hội.

Là một quốc gia có nhiều dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến điều này. Điều 10 Luật Bầu cử Việt Nam quy định: “Số đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số do Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến theo đề nghị của Hội đồng dân tộc của Quốc hội, bảo đảm để các thành phần dân tộc thiểu số có số đại biểu thích đáng”. Thực hiện quy định này trong nhiều nhiệm kỳ qua, tỷ lệ đại biểu thuộc dân tộc thiểu số luôn luôn cao hơn tỷ lệ dân số. Nhiệm kỳ khóa XI, số đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm 17,2%; nhiệm kỳ khóa XII, chiếm 17,6%; trong khi đó, tỷ lệ 53 dân tộc thiểu số chỉ chiếm 13% dân số Việt Nam.

Phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội, nâng cao vai trò của Phụ nữ, Điều 10a, Luật Bầu cử Việt Nam quy định: “Số đại biểu Quốc hội là Phụ nữ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bảo đảm để Phụ nữ có số đại biểu thích đáng“. Theo Báo cáo của Quỹ phát triển Phụ nữ Liên hợp quốc (UNIFEM), tỷ lệ đại biểu Quốc hội nữ của Việt Nam (Khóa XII) cao hơn nhiều nước ở khu vực Đông Nam Á. Trong khi tỷ lệ nữ là đại biểu Quốc hội ở Việt Nam là: 25,8%, thì tỷ lệ đó ở Thái Lan là 11,7%, Ma-lai-xi-a là 23,7%, In-đô-nê-xi-a là 11,6%, Xinh-ga-po là 24,8%, Lào là 25,2%, Cam-pu-chia là 19,5%…

Còn việc người ta nói rằng ở Việt Nam “đảng cử dân bầu”, bầu cử ở Việt Nam chỉ là “dân chủ hình thức, dân chủ trình diễn”, “hầu hết đại biểu dân cử đều là đảng viên ĐCS Việt Nam thì sao có dân chủ được?”.Quả thật đây là một cách lập luận điển hình cho tư duy dân chủ, nhân quyền nhập ngoại. Thử hỏi ở quốc gia nào mà không có vận động bầu cử của các đảng phái chính trị, không có “đảng cử, dân bầu” ? Lấy hệ thống bầu cử ở Mỹ làm một ví dụ. Ở quốc gia này, cuộc bầu cử Tổng thống có tới hai chiến dịch bầu cử: Chiến dịch vận động bầu của hai đảng Dân chủ và Cộng Hòa, kéo dài tới 6 tháng để lựa chọn đại biểu của mỗi đảng. Chiến dịch thứ hai mới là vận động tranh cử của các ứng cử viên Tổng thống. Hai chiến dịch vận động rầm rộ, tốn kém này thu hút sự quan tâm của nhân dân tới cả năm. Đương nhiên đảng nào, ứng cử viên nào có nguồn lực dồi dào, nhất là được giới truyền thông ủng hộ nhiều thì có lợi thế hơn và ngược lại. Còn về sự quan tâm của cử tri, ở Mỹ, có nhiều người dân không đi bỏ phiếu. Theo Duoglas K. Stevenson trong chuyên khảo: “Cuộc sống và các thể chế ở Mỹ”: Cuộc bầu cử năm 1988 chỉ có 57,4% người đăng ký tham gia bầu cử. Trong số đó chỉ có 86,1% người đi bỏ phiếu. Như vậy. trên thực tế chưa đến 50% số người có quyền công dân đi bỏ phiếu. Lại nói về tính ưu việt và khiếm khuyết của hệ thống bầu cử. Thử hỏi những ai đang vận động cho thể chế bầu cử của Hoa Kỳ, họ nghĩ như thế nào về hệ lụy của thể chế đại cử tri? Đó là trường hợp xảy ra vào cuộc bầu cử năm 2000: trong cuộc bầu cử này, đại diện của đảng Dân chủ – ông Al Gore giành được 48,38% số phiếu phổ thông toàn quốc, cao hơn đối thủ là ông George Bush – đại diện của đảng Cộng hòa chỉ giành được 47,87% số phiếu bầu. Mặc dù vậy, theo thể chế bầu cử của quốc gia này, ông Bush vẫn trúng cử Tổng thống vì ông có số phiếu đại cử tri cao hơn ông Gore. Một vấn đề khác liên quan đến sự công bằng của bầu cử ở đây là thể chế liên bang. Sở dĩ ông Bush thắng cuộc là vì ông đã giành chiến thắng trước ông Gore ở bang Florida. Chúng ta không chỉ trích hệ thống bầu cử ở Hoa Kỳ, mà chỉ muốn nói rằng, không có bất cứ một hệ thống bầu cử nào là hoàn hảo. Tuy vậy, như nhà triết học Heghen đã nói: “cái tồn tại là cái hợp lý”, hệ thống bầu cử của Hoa Kỳ được hình thành trên ba trăm năm, gắn liền với văn hóa chính trị của dân tộc Mỹ, nó được nhân dân Mỹ chấp nhận. Tương tự như vậy, ở nhiều quốc gia phát triển, như: Anh, các nước Bắc Âu…, bên cạnh quyền uy của Nhà nước, Nghị viện, Chính phủ, Thủ tướng, Tòa án…, còn có vai trò của Nhà vua, Hoàng tộc, cho dù vai trò đó là nhỏ bé, thậm chí chỉ là hình thức. Ở Việt Nam, hệ thống chính trị, thể chế bầu cử, ứng cử, pháp luật…, của quốc gia ra đời sau thắng lợi của cuộc cách mạng do ĐCS Việt Nam lãnh đạo, nó không thể không để lại dấu ấn của ĐCS Việt Nam, không thể không phản ánh văn hóa chính trị được hình thành trên một nửa thế kỷ qua, trong đó có hệ thống bầu cử, ứng cử – vai trò của chính quyền các cấp, Mặt trận Tổ quốc – trong hiệp thương, dự kiến – định hướng cơ cấu đại biểu thuộc các nhóm xã hội yếu thế như phụ nữ, dân tộc thiểu số, hình thức tiếp xúc cử tri…

Tin rằng những người cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, thông minh để hiểu rằng, họ phải làm gì để giữ vững niềm tin của nhân dân đối với mình, nhưng chắc chắn đó không phải là biện pháp du nhập mô hình dân chủ, nhân quyền của phương Tây, mà các thế lực thù địch đang cố tình gieo rắc, áp đặt./.

(Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân)

cpv.org.vn

Gần dân và vì dân mới là đại biểu của dân

Tư tưởng ấy không mới, nhưng luôn có tính thời sự như một lời nhắc nhở vừa ân cần vừa bắt buộc, đối với mỗi cán bộ trong chế độ ta. Còn nhớ, thời thuộc Pháp, nhà yêu nước và cách mạng Nguyễn Ái Quốc, bằng nhãn quan chính trị sắc bén đã vạch trần bản chất chuyên chế, tùy tiện trong cách thức quản lý, cai trị của bọn thực dân. Ở đó, người bản xứ thì bị trói tay chân, phải gánh chịu thói tùy hứng, chuyên quyền của các quan cai trị người Pháp, và thói tham lam của bọn làm tôi tớ ngoan ngoãn. Nguyễn Ái Quốc nêu một ví dụ. Vị Công sứ, đứng đầu mỗi tỉnh phía Bắc, có toàn quyền cai quản mọi mặt, từ tư pháp, thuế vụ, sinh mệnh, tài sản của người bản xứ. Ông ta, đặc biệt còn “cai quản” cả việc bầu cử những người cầm quyền bản xứ nữa. Xem ra, quan lại bấy giờ không gần dân và vì dân một chút nào cả!

Tưởng ấy không mới, nhưng luôn có tính thời sự như một lời nhắc nhở vừa ân cần vừa bắt buộc, đối với mỗi cán bộ trong chế độ ta. Còn nhớ, thời thuộc Pháp, nhà yêu nước và cách mạng Nguyễn Ái Quốc, bằng nhãn quan chính trị sắc bén đã vạch trần bản chất chuyên chế, tùy tiện trong cách thức quản lý, cai trị của bọn thực dân. Ở đó, người bản xứ thì bị trói tay chân, phải gánh chịu thói tùy hứng, chuyên quyền của các quan cai trị người Pháp, và thói tham lam của bọn làm tôi tớ ngoan ngoãn. Nguyễn Ái Quốc nêu một ví dụ. Vị Công sứ, đứng đầu mỗi tỉnh phía Bắc, có toàn quyền cai quản mọi mặt, từ tư pháp, thuế vụ, sinh mệnh, tài sản của người bản xứ. Ông ta, đặc biệt còn “cai quản” cả việc bầu cử những người cầm quyền bản xứ nữa. Xem ra, quan lại bấy giờ không gần dân và vì dân một chút nào cả!

Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu cử Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh tư liệu: H.T (st)

Cách mạng tháng Tám thành công. Vai trò nhân dân thay đổi, quan niệm về vị trí, sức mạnh của họ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ, đại ý dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra! Chính vì hiểu và tin dân, nên ngay từ đầu khóa I Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946), trong diễn văn khai mạc, Bác khẳng định: “Từ giờ về sau, Quốc hội và Chính phủ còn có những gánh nặng nề, phải bước qua nhiều sự khó khăn, nhưng tôi chắc rằng quốc dân sẽ nhất trí, dựa vào sức đoàn kết mà làm việc, và như thế thì dù khó khăn đến đâu kháng chiến sẽ thắng lợi và kiến quốc sẽ thành công!”. Dự đoán của Bác về vận mệnh đất nước còn nhiều gian nan trắc trở, quả không sai. Giành được độc lập nhưng thực dân Pháp quay trở lại, chúng ta còn phải làm thêm một Điện Biên Phủ nữa, người Pháp mới thực sự đầu hàng. Miền Bắc hòa bình, nhưng còn đó miền Nam sau vĩ tuyến 17. Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước phải kéo dài đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Bác Hồ không còn vào vui với miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, nhưng sinh thời, vào những thời điểm cầm trên tay lá phiếu bầu cử Quốc hội ở miền Bắc, mỗi người dân đều háo hức hướng về Người và các đồng chí:Đêm tháng năm trống cờ bay bổng

Ta ghi vào lá phiếu của ta những dòng hy vọng:

Hồ Chí Minh

Lê Duẩn, Trường Chinh…
Ôi cái tên những người Cộng sản
Nghe dặt dìu tên núi tên sông
Tên viết bằng chữ đỏ chiến công
Những cái tên, trong lòng ta, đã thành câu hát…

(Chính Hữu-“Lá phiếu hôm nay”, 1960)

Hiểu dân tin dân, đánh giá cao tiềm lực của nhân dân nên mỗi bận bị “xa dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất buồn phiền! Đồng chí Hoàng Hữu Kháng, một chiến sỹ nhiều năm bảo vệ Bác cho tới lúc Người qua đời, kể lại mẩu chuyện Bác Hồ đi bỏ phiếu bầu cử HĐND Thành phố Hà Nội, vào tháng 4-1969. Bấy giờ Người đã yếu, phải chọn nơi bỏ phiếu nào không ảnh hưởng đến sức khỏe của Bác. Khảo sát nhiều nơi, thấy hòm phiếu ở Nhà Thuyền (Hồ Tây), lối đi vào hòm phiếu không phải lên xuống, lại yên tĩnh, khí hậu mát mẻ là tốt hơn cả. Địa điểm thế là ổn, còn thời gian? Cuối cùng, chọn phương án bảo vệ Bác đi bỏ phiếu vào buổi chiều, cử tri vắng vẻ, tránh căng thẳng cho vị Chủ tịch nước. Chuẩn bị xong tất cả, mời Bác lên xe và mọi việc đều được tiến hành theo đúng kế hoạch. Khi xe về đến Phủ Chủ tịch, Bác bước xuống đi bộ về nhà. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng từ xe khác cũng kịp xuống, bước theo Bác. Vừa đến bên, Bác quay lại hỏi:

– Chú Kháng, chú có biết vì sao Nguyễn Hải Thần bị dân khinh, dân ghét không?

Nghe Bác hỏi vậy, ông Kháng chột dạ. Trấn tĩnh lại, ông nhớ năm 1945, mỗi lần Nguyễn Hải Thần đi đâu là bọn lính bảo vệ ngồi trên xe, tay lăm lăm chĩa súng ra ngoài. Có hẳn một khẩu trung liên đặt trên nóc xe luôn sΩn sàng nhả đạn, khiến ai trông thấy cũng chướng mắt, coi thường… Nghĩ đến đó, ông Kháng trả lời Bác:

– Thưa Bác, vì bọn bảo vệ Nguyễn Hải Thần nhố nhăng quá?

Nghe xong Bác hỏi tiếp:

– Chú có biết, ai bảo vệ an toàn cho Bác không?

Thực tế công tác bảo vệ Bác trong bấy nhiêu năm đã khiến ông Kháng nói ngay:

– Thưa Bác, Nhân Dân ạ!

Trả lời vậy, nhưng ông Kháng vẫn chưa rõ “trục trặc” ở khâu nào khiến Bác không vui lòng? Phải một thời gian sau, một đồng chí trực tiếp bảo vệ ngồi cùng xe với Bác nói lại, ông Kháng mới ngộ ra, là do hôm nọ nơi đến bỏ phiếu Bác thấy vắng cử tri quá. Bảo vệ an toàn cho Bác mà vô tình thiếu niềm tin vào dân, xa dân, là trái với quan điểm quần chúng của người cán bộ cách mạng.

Sự việc ngỡ như nhỏ bé, tình cờ kể trên xẩy ra vào tháng 4, thì đến ngày 02 tháng 9 năm đó Bác Hồ đi xa. Những ngày tháng 5 này, toàn Đảng toàn quân và toàn dân ta đang tích cực chuẩn bị cho bầu cử Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp (2011 – 2016). Ứng cử viên đang tích cực tiếp cận người dân, nêu chương trình hành động, lắng nghe nguyện vọng, hứa hẹn những việc sẽ làm… Đấy là điều cần nhưng chưa đủ. Gần dân khi mình cần dân thì không khó, cái khó gấp nhiều lần, thử thách gấp nhiều lần là gần dân để vì dân. Bởi, như Bác kêu gọi toàn dân đi bỏ phiếu năm 1946: “Những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền Độc lập của tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào.” Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Để nâng cao chất lượng Đại biểu Quốc hội, cần tạo cơ chế giúp cho mỗi đại biểu gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri.

Xem ra, ý nghĩa câu chuyện Bác Hồ đi bỏ phiếu ở hòm phiếu Nhà Thuyền, Hồ Tây – Hà Nội, và niềm day dứt của người bảo vệ Bác năm nào, mãi tới hôm nay còn có sức lan tỏa…

K.H
Nguồn: Báo Nghệ An

baodientu.chinhphu.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân do dân vì dân

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02/9/1945 tại Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Từ đó khai sinh ra nước Việt Nam mới. Ngày 03/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra với Chính phủ 1 trong 6 nhiệm vụ cấp bách là: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để sớm có Nhà nước lập hiến do dân bầu ra. Thực hiện lời đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 06/01/1946 nước ta tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I thành công tốt đẹp. Tiếp đó, ngày 02/3/1946 Quốc hội họp phiên đầu tiên và bầu Người làm Chủ tịch Chính phủ. Đây là các đại biểu Quốc hội của nhân dân, do nhân dân bầu có đầy đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết mọi vấn đề nội trị và ngoại giao của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bác Hồ trong một chuyến về thăm bà con nông dân năm 1956 (T-TNN st)

Ngay từ buổi đầu Bác Hồ đã khẳng định “Nước ta là nước dân chủ”, nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Nhà nước là của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, thực hiện dân chủ với đa số nhân dân và chuyên chính với thiểu số phản động chống lại nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ xã đến Trung ương do dân cử ra. Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Chính đó là điểm khác nhau về bản chất giữa nhà nước dân chủ của ta và nhà nước của các giai cấp bóc lột.

Theo Bác Hồ, Nhà nước ta là nhà nước của dân vì “tất cả quyền hành trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”… “nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân, nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”. Các vị đại diện của dân, do dân cử ra chỉ là thừa ủy nhiệm của dân, chỉ là “công bộc của dân”. Bác Hồ phê phán những vị đại diện lầm lẫn sự ủy quyền đó với quyền lực cá nhân: “cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải cậy thế với dân”.

Theo Bác Hồ, Nhà nước do dân, là nhà nước do dân lựa chọn bầu ra, do dân ủng hộ giúp đỡ, đóng thuế để nhà nước chi tiêu, hoạt động, do dân phê bình xây dựng. Cho nên Bác Hồ luôn yêu cầu: Tất cả các cơ quan nhà nước phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và sự giám sát, kiểm tra, kiểm soát của nhân dân.

Về Nhà nước vì dân, theo Bác Hồ, chỉ có nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức xây dựng mới có thể là nhà nước vì dân. Nhà nước vì dân là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của dân, không có đặc quyền, đặc lợi, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, trong sạch vững mạnh. Bác Hồ yêu cầu “việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại cho dân ta phải hết sức tránh”. Vì vậy cán bộ nhà nước phải là đầy tớ của dân, đồng thời là người lãnh đạo hướng dẫn nhân dân. Bác dạy: “người thay mặt đều phải đủ cả đức và tài, vừa hiền lại vừa minh”.

Nhận thức về nhà nước của dân, do dân, vì dân cũng cần thấy rõ sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nhà nước dân chủ của ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời, tồn tại và phát triển đến ngày nay là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ với sự hy sinh xương máu của bao thế hệ trước và sau Cách mạng Tháng Tám. Khi nhà nước vừa ra đời phải đảm nhận nhiệm vụ lịch sử tổ chức cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ của dân tộc để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ lợi ích của nhân dân, của dân tộc, giữ vững nền độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội của đất nước. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

HOÀNG KIM

binhthanh.hochiminhcity.gov.vn

Bác Hồ với việc thực hành dân chủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt những viên gạch đầu tiên cho một xã hội bình đẳng, dân chủ và dày công vun đắp xây dựng một Nhà nước Việt Nam thật sự của dân, do dân và vì dân.

Trong bộn bề công việc năm đầu của chính quyền nhân dân non trẻ, Bác Hồ vẫn đặt lên hàng đầu công tác bầu cử Quốc hội (cuộc tổng tuyển cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1946).

Nêu cao việc thực hiện quyền làm chủ

Kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân đi bỏ phiếu, Bác nói: Trước hết, tôi xin tóm tắt Luật Bầu cử của ta thật là dân chủ. Tất cả các công dân gái cũng như trai, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, tự do lựa chọn người thay mặt mình.

Bác phân tích rõ cho đồng bào biết, tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể nhân dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, hễ là công dân Việt Nam thì đều có 2 quyền đó. Vì lẽ đó, cho nên tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ đoàn kết.

Trải qua hơn 65 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tính dân chủ đoàn kết hay chính là dân chủ XHCN được Đảng, Nhà nước ta hết sức coi trọng, mở rộng và phát huy mạnh mẽ và đó cũng là bản chất tốt đẹp của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước.

Đây cũng chính là luận điểm khẳng định những vấn đề chủ yếu nhất, cốt lõi nhất của nền dân chủ XHCN, bản chất và vai trò của nền dân chủ ấy, sự trung thành với chủ nghĩa Marx-Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thời đại và thực tiễn Việt Nam.

Có thể nói, thực hiện quyền dân chủ là một quá trình vận động gian khó và lâu dài, cả hệ thống chính trị và từng người dân phải góp công sức, trí tuệ từ nhận thức về quyền dân chủ, nâng cao trình độ để có thể thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực hành quyền dân chủ.

Kêu gọi, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình khi bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên, Bác nói: Chúng ta hãy thúc những người lừng khừng đến trước thùng phiếu. Có quyền mà không tìm cách dùng quyền cho sáng suốt, ấy là tự mình hủy quyền của mình.

Đại biểu hãy luôn giữ lòng hăng hái ra sức giúp ích nước nhà

Bác đã phân tích rất rõ với những người ra ứng cử đại biểu Quốc hội, nếu trúng cử thì phải ra sức cố gắng làm việc cho xứng đáng với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc. Người không trúng cử cũng không nên ngã lòng. Mình đã có lòng hăng hái với nước với dân thì hãy luôn luôn giữ vững lòng hăng hái đó. Dù ở trong Quốc hội hay ở ngoài Quốc hội, mình cũng cứ ra sức giúp ích nước nhà. Lần này không được trúng cử thì ta cứ giúp làm cho nhân dân nhận rõ tài đức của ta, thì lần sau nếu ta ứng cử, nhân dân nhất định bầu ta.

Bác nói, tất cả đại biểu Quốc hội hứa với đồng bào là được cử vào Quốc hội để làm đại biểu Quốc hội, không phải là để làm quan, không phải là để ngồi trên ăn trốc, mà làm người đày tớ tuyệt đối trung thành của đồng bào.

Theo Bác, làm việc nước là hy sinh, phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung của dân tộc. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu. Ngày bầu cử không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy.

Khi phân tích sâu sắc giá trị của lá phiếu cử tri, Bác nói, lá phiếu của người cử tri tuy khuôn khổ nó bé nhỏ, nhưng giá trị của nó thì vô cùng lớn. Nhân dân ta đã trải qua biết bao gian khổ, hy sinh biết bao xương máu trong cuộc cách mạng đánh đổ thực dân và phong kiến mới giành được nó. Nó chứng tỏ chế độ dân chủ và tự do của Nhà nước ta và quyền làm chủ thật sự của mỗi người công dân ta. Vì vậy, đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người cử tri. Phải đi bỏ phiếu để tự mình lựa chọn những người xứng đáng thay mặt mình trong Quốc hội.

Những lời nói của Người cách đây hơn 65 năm vẫn đang vang vọng trong không khí toàn Đảng, toàn dân đang nô nức chuẩn bị cho việc bầu cử Quốc hội khoá XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 hôm nay: “Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta vì ngày mai là ngày tổng tuyển cử. Ngày mai dân ta sẽ lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình và gánh vác việc nước… Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.

Theo Chinhphu.vn

doanhnghieptrunguong.vn

Anh bưu tá 2 lần chở Bác Hồ về thăm quê

(Nguoiduatin.vn) – Là nguyên thủ quốc gia, thế nhưng khi về thăm quê, Chủ tịch Hồ Chí Minh có khi lại chỉ đi chiếc ô tô giản dị do một người bưu tá điều khiển.

Ông Nguyễn Đình Ngọc, người có vinh dự được Bác 2 lần ngồi trên chính chiếc ô tô do mình cầm lái kể lại dù đã hơn 50 năm kể từ lần đầu tiên được gặp Bác nhưng với ông, đó là kỷ niệm và niềm vinh dự lớn nhất trong cuộc đời.

Ông Ngọc (bên phải) kể chuyện 2 lần chở Bác về thăm quê cho con trai nghe

Vị lãnh tụ giản dị

Ông Nguyễn Đình Ngọc sinh ra và lớn lên tại Thọ Hạc, Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là phường Điện Biên, TP Thanh Hoá). Năm 1946 ông vào quân ngũ và học lái xe. Đến năm 1953, ông được điều động lái xe chở hàng chi viện phục vụ chiến trường Điện Biện Phủ. Trong giai đoạn này, ông còn vinh dự được Chính phủ giao chở đoàn công tác của Ấn Độ sang thực hiện Hiệp định Giơnevơ ở Việt Nam.

Sau khi giải phóng Điện Biên Phủ, ông Ngọc được điều chuyển về Nghệ An lái xe cho Tỉnh uỷ, với nhiệm vụ vận chuyển công văn, thư từ hoả tốc đến các vùng. Cũng từ đó, anh về sinh sống cùng vợ con ở khối 4, phường Lê Lợi (TP Vinh).

Ông Ngọc kể: Ngày 13/6/1957, Tỉnh uỷ họp phiên đột xuất và thông báo sáng mai (tức 14/6) tỉnh sẽ đón một cán bộ cao cấp của trung ương tại sân bay Vinh. Tất cả thông tin về chuyến đi này được tuyệt đối giữ bí mật, kể cả danh tính của vị lãnh đạo ấy. ông Ngọc được giao nhiệm vụ lái xe phục vụ và bảo vệ vòng ngoài.

Giờ G đã đến, tất cả thực hiện đúng nhiệm vụ đã được phân công. Khi chiếc máy bay trực thăng hạ cánh, ai nấy đều hồi hộp. Một người đàn ông mang bộ ka ki bạc màu bước ra cầu thang máy bay. Dù chưa một lần gặp mặt, nhưng ai nấy đều nhận ra đó là Bác Hồ. Tất cả chạy ùa về phía Bác. Bác bắt tay, ôm hôn mọi người và bất ngờ bước lên chiếc xe commăngca cũ kỹ của ông Ngọc chứ không phải chiếc xe chở khách chuyên dụng sang trọng hơn mà Tỉnh uỷ Nghệ An đã chuẩn bị trước đó.

“Lúc đó xe cộ đông đúc và lộn xộn. Vui và hồi hộp quá, tôi quên mất nhiệm vụ cấp trên giao mà chỉ biết thực hiện theo mệnh lệnh của Bác. Theo lời Bác, tôi cho xe chạy thẳng về trung tâm TP Vinh. Những chiếc xe khác cứ chạy theo phía sau, các cận vệ tỏ ra lo lắng. Bác bảo tôi chở Bác tham quan một vòng để vẫy chào bà con 2 bên đường và đi về thăm quê hương Kim Liên (Nam Đàn). Thông qua hệ thống phát thanh nên hầu hết người dân Nghệ An, Hà Tĩnh đều đã biết Bác Hồ về thăm quê nên người ở dọc tuyến đường từ Vinh lên Kim Liên cứ nườm nượp từng đoàn người”, ông Ngọc kể lại.

Ông Ngọc cho biết, là người rất cẩn thận, giữ an toàn nên trên quãng đường, Bác không nói chuyện với lái xe mà chỉ vẫy tay chào nhân dân 2 bên đường đứng đón Bác. Nghe tin Bác về quê, ai ai cũng náo nức, phấn khởi chờ Bác từ rất sớm. Trong một buổi sáng tháng 6 nắng chan hoà, với bộ quần áo ka ki, đôi dép cao su mòn gót, Bác tươi cười vẫy chào nhân dân. Cả rừng người hò reo mừng đón Bác.

Câu chuyện xúc động

Khi về tới quê, một vị lãnh đạo tỉnh mời Bác đi vào nhà khách mới được xây dựng, nhưng Bác ngăn lại: “Bác xa nhà, xa quê đã lâu rồi nên phải về thăm nhà trước đã. Nhà khách là dành để tiếp khách, cho khách ở. Chứ Bác là người nhà chứ có phải là khách đâu!”.

Ông Nguyễn Đình Ngọc bên chiếc xe đã 2 lần chở Bác Hồ về thăm quê

Đến trước chiếc cổng tre dẫn lối đi vào nhà ngang thấy hàng chữ ghi trên tấm bảng nhỏ “Nhà Bác Hồ”, Bác liền quay lại bảo: “Viết thế này là chưa đúng. Đây là nhà cụ Phó Bảng chứ có phải là nhà của Bác Hồ đâu”. Đúng như Bác nói, ngôi nhà này chính dân làng Kim Liên đã góp công, góp sức dựng mừng quan Đại khoa Nguyễn Sinh Sắc nhân dịp ông thi đậu Phó bảng khoa thi Hội năm Tân Sửu 1901.

Rồi Bác bước vào trong và tiếp tục phê bình: “Các chú mở lối như thế này là sai. Cổng nhà cụ Phó Bảng ở hướng Đông, chứ đâu phải chỗ này”. Điều này cho thấy trí nhớ của Bác rất tốt. Đã 50 năm Bác bôn ba khắp nơi, nay mới trở về thăm quê, thăm nhà lần đầu nhưng Bác vẫn không quên bất cứ điều gì ở đây.

Bác đứng tần ngần, nhìn bao quát 2 ngôi nhà và chỉ cho những người đi theo, đâu là nơi trồng cây ổi, chỗ nào có cây thanh yên… đã mọc trên mảnh vườn xưa của nhà Bác. Bác đi vào nhà, đi đến đâu Bác chỉ cho mọi người vị trí đặt, để các đồ vật. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức của Người.

Bác lại đi ra sân, đứng ngắm lại ngôi nhà đã gắn bó một giai đoạn rất quan trọng trong cuộc đời Bác. Ngôi nhà này là nơi chứng kiến quá trình lao động, học tập và trưởng thành của Bác; là nơi ghi dấu những cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước, về nhận thức xã hội và ghi dấu những hoạt động cứu nước bước đầu của Người.

Trong buổi sáng mùa hè đặc biệt ấy, ngay trước sân nhà mình, Bác đã xúc động nói: “Tôi xa quê đã 50 năm rồi. Thường tình người ta xa nhà, lúc trở về thì mừng mừng tủi tủi. Nhưng tôi không tủi mà chỉ thấy mừng. Bởi, khi tôi ra đi, nhân dân ta còn nô lệ, bị bọn phong kiến đế quốc đè đầu cưỡi cổ. Bây giờ tôi về thì đất nước đã được giải phóng, nhân dân đã được tự do”.

Gần 4 năm sau, ngày 8/12/1961, Bác Hồ lại về thăm quê lần thứ 2. Đảng bộ và nhân dân Nghệ An tiếp tục được đón Bác tại sân bay Vinh trong niềm vui vô bờ. Lần này, ông Ngọc được lãnh đạo tỉnh tin tưởng giao nhiệm vụ tháp tùng Bác. ông Ngọc còn nhớ rất rõ, đó là chiếc máy bay mang ký hiệu BS 58482. Lần về thăm quê này, Bác tóc đã bạc hơn.

“Gặp ai Bác cũng dặn dò. Bác căn dặn phải siêng năng lao động sản xuất, phải yêu nước. Không ai ngờ đó cũng là lần cuối cùng Bác trở về nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình”, ông Ngọc kể.

Khi bài viết này lên trang thì nhân vật Nguyễn Đình Ngọc vì tuổi cao sức yếu đã qua đời. Trong lần gặp chúng tôi cuối cùng để cung cấp tư liệu cho bài viết, ông Ngọc bồi hồi: “Chỉ là một anh bưu tá, đưa thư, trước đó tôi chưa bao giờ dám tin một ngày được gặp Bác. Vậy mà đã 2 lần tôi có vinh dự được lái xe chở Bác về thăm quê. Vinh dự này không phải ai trong đời cũng 1 lần có được”.

Phan Xuân Hồng

nguoiduatin.vn

Gia đình hai đời tổ chức lễ giỗ Bác Hồ

(Nguoiduatin.vn) – Trọn 42 năm kể từ ngày Bác mất, có một gia đình vẫn thầm lặng tự tổ chức lễ giỗ cho Bác suốt quãng thời gian qua. Đó là gia đình của cụ Cao Văn Đằng (SN 1922, ngụ tại khóm 9, thị trấn Càng Long, tỉnh Trà Vinh), một người nông dân nghèo, chất phát mà người dân quanh đây thường gọi với cái tên là “ông Hai con trai Bác Hồ”.

Giờ đây, tuy cụ Hai không còn nữa nhưng mỗi năm đến ngày 2/9, các con của cụ vẫn đều đặn thắp nén nhang và nấu một ít món ăn dâng lên Bác để bày tỏ lòng thành kính.

Cô Mừng thắp nén nhang cho Bác Hồ trong lễ giỗ

Chiếc radio kỷ niệm

Con đường vào nhà cụ rất khó đi và khá vòng vèo, thế nhưng năm nào cũng thu hút hơn 100 người đến dự lễ giỗ tại căn nhà nhỏ này. Ngày trước, cụ Hai tham gia làm công tác hậu cần, dân quân, tiểu tổ nông hội đi vận động tiếp tế cho quân ta thời kháng chiến chống Pháp. Bốn người con trai đầu của cụ cũng nối gót cha tham gia cách mạng, nhưng một người đã nằm xuống trong một cuộc kháng chiến chống Mỹ. Lúc đó, bà con trong vùng ai cũng bỏ nhà tránh bom đạn của giặc. Duy nhất còn lại mình cụ bám trụ lại để dự trữ lúa gạo nuôi quân.

Cô Cao Thị Mừng (57 tuổi), người con thứ 5 của cụ Hai lấy trong tủ ra cho tôi xem một cái radio đã cũ. Cô chia sẻ: “Hồi trước cha tôi đi cuốc mướn hai công khoai, bán thêm một tạ heo, một bầy gà vịt mới có tiền mua cái radio này với giá 7.200 đồng. Tại ổng mê nghe tin tức lắm, ngày nào cũng kè kè cái radio bên tai”.

Cũng nhờ chính chiếc radio này mà cụ Hai hay tin Bác mất. Chiều ngày 3/9/1969, đài phát thanh Hà Nội loan tin về sự ra đi của Bác, nghe tin này, cụ Hai đã khóc rất nhiều. Mặc dù chưa một lần được gặp mặt Bác, nhưng qua những thông tin từ báo đài, ông rất ngưỡng mộ về sự giản dị và tài giỏi, thương nước thương dân của Bác.

Cô Cao Thị Rành (50 tuổi), người con thứ 8 của cụ chia sẻ: “Cha tôi thương Bác lắm. Để thể hiện tấm lòng của mình, cha tôi bắt đầu để râu giống Bác, đi dép cao su. Hễ có ai khen cha tôi giống Bác là ổng vui cả buổi trời”.

Ngày cụ Hai còn sống, dù Bảo tàng Trà Vinh đã nhiều lần ngỏ ý mang chiếc radio và một cái gầu tát nước mà ngày xưa ông bắt cá làm giỗ cho Bác về trưng bày nhưng cụ Hai không đồng ý. Từ giường bệnh, ông cụ lòm còm bước lại đến ôm chiếc radio và cái gầu vào lòng, vì đối với cụ, đây là những kỹ vật thiêng liêng, quý giá, không gì có thể sánh bằng cho dù nó đã hỏng suốt mười mấy năm nay.

Lừa lính ngụy đốt nhang lạy Bác

Sau khi Bác mất, cụ Hai lập ngay một bàn thờ nhỏ và giấu kín trong nhà để giặc không phát hiện. Vì không có hình của Bác nên cụ lấy một con tem kháng chiến có hình của Bác để thờ. Cụ tính từng ngày cúng thất, cúng 49, 100 ngày cho Bác, đầy đủ lễ tiết như người thân trong gia đình.

Cụ Hai bên chiếc radio kỷ niệm

Ngày đó, gia đình còn khó khăn nên có gì cụ cúng nấy, có cá bắt cá, có gà làm gà. Lần đầu tiên giỗ Bác, lấy lý do đám giỗ bố, cụ đã mời bọn lính Ngụy đến dự rất đông, còn các anh bộ đội sắm vai con cháu trong nhà. Thấy lính Ngụy đốt nhang lạy Bác, ông cụ cười thầm trong bụng.

Sau khi đi giỗ về, bọn lính Ngụy sinh nghi nên bắt cụ Hai về đồn chất vấn. Tuy nhiên, vì không đủ chứng cứ, bọn chúng đành phải để ông cụ ra về.

Ấm ức vì không thể kết tội cụ Hai, tên đồn trưởng quyết định cho lính đến mai phục bắn cụ cho hả tức. Núp trong một bụi cây, nhìn thấy cụ đang đặt dĩa khoai lang lên bàn thờ và thắp nén nhang, bọn lính bắn một phát đạn vào cánh tay phải của cụ.

Cô Mừng nhớ lại: “Lúc đó nghe tiếng sung trước nhà, tôi sợ quá, chạy ra thì thấy cha đang giữ lấy cánh tay đầm đìa máu. Tôi vội vàng lấy chiếc xe đạp ra kêu cha lên chở đi nhà thương nhưng cha một mực không chịu. Cha nói, tụi lính Ngụy đang nghi ngờ mà bây giờ đi nhà thương cho tụi nó giết chết cả nhà nên tôi đã đưa cha đi trạm xá mổ vết thương lấy viên đạn ra”. Vì chậm trễ làm máu chảy rất nhiều nên sau hôm đó, tay phải cụ Hai không còn hoạt động bình thường được nữa.

Sau ngày giải phóng, ông Hai liền đóng một cái tủ nhỏ làm bàn thờ Bác và đặt trang trọng giữa nhà, nơi thường dành thờ cúng tổ tiên.

Muốn giỗ cùng ngày với Bác

Bệnh tật đã dần dần cướp đi sức khỏe cụ Hai. Sau bao nhiêu năm bị bệnh gan hành hạ, cụ Hai quyết định về nhà để được gần Bác, được lo cơm nước, thắp nhang cho Bác mỗi ngày.

Cô Mừng bên di ảnh cụ Hai 

Đến giữa tháng 9 năm ngoái, cụ Hai đã ra đi, 10 ngày sau đám giỗ của Bác. Cô Mừng nghẹn ngào tâm sự: “Trước lúc mất, mắt cha tôi cứ nhìn chăm chăm vào bàn thờ Bác. Ông dặn, sau này nếu có làm giỗ cho ông thì làm chung ngày giỗ với Bác Hồ. Nên năm sau tụi tôi sẽ tổ chức chung một ngày cho ông vui lòng”.

Gia đình cụ Hai mỗi năm có đến sáu cái giỗ nhưng giỗ của Bác luôn luôn là giỗ lớn nhất. Trước giỗ 2 ngày, các con cụ đã bắt tay vào công việc làm đồ ăn. Cô Mừng chia sẻ: “Hồi đó làm giỗ đơn giản lắm, chỉ có mấy anh chị em trong nhà thôi, nhưng bây giờ thu hút càng ngày càng đông người, có năm tiếp hơn cả chục bàn nên phải chuẩn bị nhiều hơn, sợ khách lại mà không đủ đồ ăn thì ngại lắm”.

Ngày đầu tiên, các con cụ Hai từ phương xa trở về quây quần lại gói bánh tét, bánh ít biếu tặng khách. Ngày thứ hai, mọi người tiếp tục làm heo, gà, vịt để đúng ngày 2/9 bà con lại chung vui. Tất cả đồ ăn nấu giỗ đều do tự tay các con cụ nuôi trồng vì như thế vừa đỡ chi phí vừa đảm bảo vệ sinh an toàn cho mọi người.

Trong bàn ăn, các con cụ Hai không quên dọn thêm một bộ chén đũa, vì mọi người biết, dù có đi đâu thì ngày này, chắc chắn cụ Hai sẽ về dự giỗ Bác Hồ.

Chị Nguyễn Thị Hoa sáng sớm đã đi mua trái cây rồi lặn lội từ huyện Vũng Liêm (Vĩnh Long) đến nhà cụ Hai dự giỗ. Chị chia sẻ: “Tôi đến đây lần này là được 4 lần rồi. Hồi đó nghe người ta nói nhiều về ông nên tôi rất tò mò và tìm đến đây dự giỗ. Tôi không phải bà con gì của ông Hai hết vậy mà gia đình ông vẫn đón tiếp niềm nỡ. Riết rồi cũng thành quen, năm nào tôi cũng dành chút thời gian xuống thắp cho Bác nén nhang”.

Anh Lê Văn Ngoan, Bí thư thị trấn Càng Long nhận xét: “Đây là một việc làm hết sức ý nghĩa nên tôi rất trân trọng tấm lòng của chú Hai. Sau khi xuống Đền thờ Trà Vinh là tôi tranh thủ qua nhà chú Hai. Việc làm này tưởng chừng đơn giản nhưng không phải ai cũng có thể làm được”.

Sau khi cụ Hai qua đời, các con cụ tiếp tục tự tổ chức lễ giỗ cho Bác Hồ. Vì đó không những là tâm nguyện của cụ Hai mà còn là ý muốn của các con cụ, để mọi người có dịp thể hiện tấm lòng của mình đối với vị cha già của dân tộc.

Đỗ Dũng

nguoiduatin.vn

Kiều nữ Thành Nam lần đầu gặp Bác

(Nguoiduatin.vn) – “Thế cháu là nông dân, mặc áo dài đi cày, áo quấn vào cày, cháu cày làm sao?”. Câu hỏi của Bác làm nữ đại biểu Quốc hội thẹn thùng, mặt nóng như đổ lửa.

Với bất cứ ai, được trực tiếp nhìn thấy Bác một lần trong đời là niềm hạnh phúc lớn. Riêng đối với bà Nguyễn Thị Kim Dung – Nguyên cán bộ Ban Tổ chức Thành ủy Nam Định, nguyên đại biểu Quốc hội khóa III – niềm hạnh phúc đó thật to lớn vì bà không chỉ được gặp Bác hai lần mà còn được Người trò chuyện và dạy bảo.

Bà Nguyễn Thị Kim Dung thời trẻ

Sinh năm 1937 tại xã Hải Quang (Hải Hậu), bà Kim Dung cùng gia đình chuyển tới sống tại xã Nam Phong vào năm 1963. Một năm sau, bà được Mặt trận Tổ quốc tỉnh Nam Định giới thiệu ra ứng cử rồi được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa III. Tại kỳ họp thứ nhất ở Thủ đô Hà Nội, bà và các đại biểu trẻ vinh dự được vào gặp Bác ở vườn cây gần nơi Bác ở.

Quá xúc động và bỡ ngỡ vì lần đầu tiên trong đời được gặp Bác, bà không nghe thấy Bác gọi tên mình. Phải tới khi Bác gọi đến lần thứ ba và mọi người xung quanh nhắc, bà mới vội vàng đứng dậy, lúng túng đến nỗi để chiếc áo dài quấn vào ghế.

Bác nhìn bà đôn hậu rồi hỏi đùa: “Thế cháu là nông dân, mặc áo dài đi cày, áo quấn vào cày, cháu cày làm sao?”. Câu hỏi làm nữ đại biểu Quốc hội thẹn thùng, mặt nóng như đổ lửa. Thấy vậy, Bác nói ngay: “Thôi, Bác đùa đấy. Thế Chi bộ Vạn Phong và Đảng bộ Nam Phong vẫn 4 tốt chứ?”.

Sau khi trò chuyện, hỏi han, Bác cùng mọi người ra cửa Phủ Chủ tịch chụp ảnh kỷ niệm. Hôm đó, các đại biểu trẻ được về gặp Bác rất đông, ai cũng muốn được đi gần Bác. Các anh chị em khác chen nhau đi trước còn bà Dung đi sau.

Bỗng Bác dừng lại bên cạnh rồi nắm lấy tay bà nói: “Những thành tích của cháu đạt được, Bác rất hoan nghênh. Bác sẽ tặng cho cháu Huy hiệu của Bác. Cháu cố gắng học tập để có đủ trình độ làm tốt nhiệm vụ của nguời Đảng viên, người đại biểu Quốc hội nhưng Bác cũng phê bình cháu, cháu ít tuổi nhưng nhiều con. Cháu phải sinh đẻ có kế hoạch thì mới tiến bộ được”.

Những lời dạy bảo của Người làm bà vô cùng vui sướng và xúc động. Bà không ngờ một vị Chủ tịch nước bận trăm công nghìn việc như vậy mà lại có thể nắm rõ một cách tường tận thành tích của một Chi bộ, một Đảng bộ và hơn thế là cả lai lịch chi tiết của một đảng viên trẻ ở vùng quê như bà. Lời Bác như những lời dạy bảo chân tình của người ông nội, người cha đối với con, cháu trong nhà.

Bà Kim Dung được Bác nắm tay dẫn đi tiếp trên con đường rải sỏi, dưới hàng cây mát rượi. Trong bàn tay ấm áp của Người, bà cảm thấy như được truyền thêm sức mạnh để có thể vượt qua tất cả mọi khó khăn và sự khốc liệt của chiến tranh.

Trong lần chụp ảnh đó, Bác còn bảo với bà: “Cháu thấp, cháu đứng đằng trước để thợ chụp ảnh nhìn cho đẹp”. Khi lấy ảnh, bà mới biết được rằng mình được đứng ngay dưới chân Bác. “Trải qua mấy chục năm rồi nhưng thời khắc thiêng liêng đó vẫn không phai mờ trong ký ức của tôi” – Bà nói, tay nâng niu bức ảnh cũ đã sờn, khóe mắt ngấn lệ vì xúc động xen lẫn vẻ tự hào.

Bác Hồ tại Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần 3, tháng 5-1962

Sau lần gặp đó, vào năm 1968, bà được Đảng bộ tỉnh cử đi dự Hội nghị tổng kết công tác xây dựng Đảng 4 tốt toàn miền Bắc tại Hội trường Ba Đình. Đến giờ giải lao, các đại biểu xôn xao vì không thấy Bác đến dự.

Khi đang đứng ở hội trường, bà thấy đồng chí Lê Hoành – Chuyên viên Ban Tổ chức Trung ương – đến tìm và nói: “Bác đang hỏi cô. Cô về chụp ảnh với Bác”. Lúc gặp, Bác vẫy vẫy tay gọi bà đến bên và bảo: “Bác cháu ta ngồi xuống để chụp ảnh”.

Bà ngồi xuống ôm chân Bác như một đứa cháu nhỏ. Nhìn thấy Bác gầy và xanh, bà hỏi: “Thưa Bác, Bác có khỏe không ạ?”. Bác hiền từ nhìn bà và bảo: “Bác vẫn khỏe”. Bác còn quan tâm hỏi han bà rất nhiều về chuyện chồng con, cuộc sống gia đình… Bà không ngờ đó là lần cuối cùng bà được gặp Bác và được chụp ảnh chung với Bác.

Trong 8 năm làm đại biểu Quốc hội cũng như trong quá trình công tác và về địa phương nghỉ hưu sau này, bà vẫn luôn nhớ và làm theo lời Bác dặn: Phấn đấu rèn luyện phẩm chất lối sống để mãi là người đảng viên tốt được quần chúng tin yêu.

Năm 1993, bà nghỉ hưu nhưng vẫn tích cực tham gia hoạt động trong các tổ chức như Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Mặt trận Tổ quốc… Cách đây 2 năm, bà xin thôi giữ chức Chủ tịch Hội Khuyến học xã Nam Phong và bàn giao công việc cho người khác.

Trong cuộc sống hàng ngày, bà luôn xông xáo, miệng nói tay làm, sẵn sàng đi đầu giải quyết những vụ việc khó khăn, phức tạp ở địa phương với tinh thần “bất cứ lúc nào, bất cứ đâu cần là mình có mặt”.

Bà tâm niệm phải cố gắng làm tốt nhất những gì mình có thể, làm những gì có lợi cho Đảng, cho dân và rất tự hào đến nay vẫn giữ được cốt cách, đạo đức của người đảng viên. Điều hạnh phúc nhất của bà là cả 5 người con đều đã thành đạt và có gia đình êm ấm. ở bất kỳ vị trí nào, các con bà đều luôn phấn đấu để xứng đáng với truyền thống cách mạng của gia đình.

Bà Kim Dung chia sẻ, năm tới sẽ được nhận Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Bà cũng kể thêm, có một cán bộ trên Trung ương vừa tìm về xin mượn tấm huy hiệu mà Bác đã trao tặng cho bà cách đây gần 50 năm cùng tấm huy hiệu đại biểu Quốc hội để trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, bà quyết định xin giữ lại tấm Huy hiệu cao quý Bác tặng để làm kỷ niệm cho mình và cho con cháu sau này.

Hữu Chiến

nguoiduatin.vn

Tới Pác Bó ngẫm tầm vóc tư duy chiến lược của Người

Tác giả: VƯƠNG QUÂN HOÀNG

Cái sự “cuộc đời cách mạng thật là sang,” như tự nhủ ấy có lẽ là một cách tự nhắc nhở bản thân của Người về cái đích còn rất diệu vợi của cái ngày thành công.

Sáng 28-1-2011 (tức ngày 25 tháng Chạp) chúng tôi tiếp tục hành trình trên mảnh đất Cao Bằng, nơi biên cương tổ quốc để được đến với địa danh Pác Bó, khu di tích lịch sử ghi mốc những ngày đầu lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Việt Nam, tổ chức và lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.

…Càng đi trên con đường dẫn tới khu di tích Pác Bó, ta có cảm giác núi cao hơn, rừng bao phủ dày đặc hơn. Con đường có vẻ như hẹp lại – mặc dù rõ ràng là không phải như vậy. Tôi có cảm giác như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn để lại ở đây – hoặc tiếp tục trao cho nơi đây – rất nhiều năng lượng của Người, như thể Người chưa bao giờ nằm xuống vậy. Đó là cảm giác rất thực, thực đến mức càng cố gắng sử dụng ngôn ngữ để miêu tả, có lẽ càng làm cho điều ấy ít thực hơn đi.

Phiến đá bên đường ghi lại rằng, vào năm 1961 Hồ Chủ tịch đã trở lại thăm Pác Bó sau khi lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng 8 và Kháng chiến 1946-54 lẫy lừng bốn bể. Cờ hoa dọc hai bên con đường dẫn vào khu di tích – nơi nhiều hộ dân sinh sống làm sáng lên và ấm hơn cho vùng núi non hiểm trở nơi địa đầu tổ quốc.

Từ nơi này vào tới trung tâm của khu di tích không còn bao xa. Phía trong, đường bê tông đã trải tới tận sát những phiến đá đầu tiên dẫn vào lối nơi Người sống và làm việc từ cuối tháng 1 năm 1941, cái nơi mà Người tả rằng “cuộc đời cách mạng thật là sang,” mà đa số học sinh phổ thông đều thuộc, nhưng khó mà mường tượng ra sự sang trọng của “cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.”

Hang Pác Bó, nơi Bác Hồ đã từng làm việc.

Và đây cũng là lần đầu tiên tôi được tận mắt ngắm nhìn và sờ tay vào dòng suối Bác Hồ đặt tên Suối Lê Nin, chạy uốn quanh núi đá thấy ngay từ khi bước vào sân khu di tích – Núi Các-Mác (Karl Marx). Nhìn thấy “phong thủy” của sự lựa chọn sáng suốt của Già Thu thời ấy, tôi càng khẳng định đó là sự lựa chọn cho một năng lượng chiến đấu với những thách thức lớn của cả một dân tộc, cầu sự an bình, độc lập, hạnh phúc cho cả 3 miền đất nước. Có lẽ cảm nhận năng lượng ấy không khó.

Tôi có biết một giả thiết – cứ xem như được mật truyền – của nhà khoa học Nga tên là Ernest Muldashev, người được rất nhiều người Việt gần đây biết đến qua bản dịch tiếng Việt các cuốn sách “Chúng ta thoát thai từ đâu,” và “Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân,” và “Trong vòng tay Sambala.” Ông ấy có biện luận cho sự tồn tại và lý giải năng lượng của các ngọn núi lớn nơi Phật giáo Tây tạng phát triển là nhằm tiêu diệt cái ác, đem đến năng lượng thiện, sự cải hóa tâm tính con người… Nếu Muldashev có lý, thì lựa chọn 70 năm trước của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đối với vùng núi biên cương này chứa đựng sự thấu hiểu cao độ những nguyên lý năng lượng vũ trụ, sự hòa hợp năng lượng tự nhiên với tâm năng của ý chí Người nuôi dưỡng vượt mọi thách thức thời cuộc… Nói ngắn gọn, chúng ta bắt gặp tiên cảnh ở nơi đây.

Trộm nghĩ, với một tầm vóc tư duy lớn lao, những khao khát theo đuổi sự nghiệp giải phóng cả một dân tộc, thống nhất một đất nước chia cắt làm 3 miền kể từ 1884 bởi những các thế lực chính trị Pháp lần lượt cai trị An Nam, Già Thu không thể câu cá nơi đây để có sự thư thái, ung dung. Cái sự “cuộc đời cách mạng thật là sang,” như tự nhủ ấy có lẽ là một cách tự nhắc nhở bản thân của Người về cái đích còn rất diệu vợi của cái ngày thành công. Sử sách vẫn còn ghi đó, ngay khi vừa tới Pác Bó, Hồ Chủ tịch đã sớm phác họa con đường chiến lược lấy Cao Bằng với địa hình thuận lợi và phong trào cách mạng có chiều sâu trong nhân dân làm điểm bắt đầu, và huấn thị phải nhanh chóng chuyển biến được thuận lợi ban đầu này thành căn cứ để lan tỏa sức mạnh tới Bắc Kạn, Thái Nguyên, từ đó tiếp cận đồng bằng và triển khai sự liên kết lực lượng các mạng các vùng miền của Việt Nam.

Thẳng thắn mà nói, đời sống vật chất tiện nghi, văn hóa nghe nhìn, bấm nút rầm rộ đã phần nhiều cản trở chúng ta thoát khỏi sự hời hợt của những khái niệm không đầu không cuối. Trong khi đó, để thấu hiểu những phát biểu chiến lược này, cần phải quay ngược lại không thời gian của giai đoạn lịch sử ấy. Một người sâu sắc như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã biết rõ rằng, mỗi một bước đi chiến lược đều liên quan đến sinh mệnh đồng chí, đồng bào, đến sự tồn vong của một lực lượng non trẻ… và phép tính ấy còn phải vượt qua rất nhiều thử thách để đi từ một chốn tiên cảnh nơi hoang sơ trở thành phong trào cách mạng rộng khắp toàn quốc chỉ hơn 4 năm sau đó. Những bất trắc như thời kỳ ngục tù 1943 dưới tay quân Tưởng là một phần của những khó khăn Người đã dự liệu.

Không có cách nào để hiều điều ấy nếu chúng ta không chịu rời chăn ấm và phòng kín điều hòa, những bữa tiệc ngon để biết trong hang đá lạnh lẽo chừng hơn 10 mét vuông ở Hang Cốc Bó, Người và 5 đồng chí thuở ban đầu chỉ có ý chí và ngọn lửa sự nghiệp dân tộc làm hơi ấm tiếp sức. Rõ ràng cháo bẹ, rau măng ấy là những món sang nhất trên đời, một khi đó là nguồn năng lượng đem đến những kỳ tích dân tộc

Nơi nghỉ của lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam cũng chỉ đơn sơ với một tấm phản bằng gỗ như thế này mà thôi. Một nhân cách vĩ đại là thế, một tài năng lỗi lạc là thế, một sự nghiệp lớn lao bao trùm là thế, nhưng nhu cầu vật chất nào có là bao.

Nhũ đá trong hang Cốc Bó được Người đặt tên “tượng Các Mác” như một minh chứng của trí tuệ phong phú, khởi nguồn cho những tư duy chiến lược, viễn kiến quốc gia mãi mãi sau này vẫn là bài học sống động của lịch sử Việt Nam.

Tôi chợt nhớ những vần thơ của Tố Hữu – không phải viết về Hồ Chủ tịch, mà trong bài thơ về anh hùng Nguyễn Văn Trỗi – nhưng lại hợp lý vô cùng khi suy ngẫm về tầm vóc và sự nghiệp của Người:

Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hóa thành bất tử
Có những lời hơn mọi bài ca
Có con người như chân lý sinh ra

Con người “như chân lý sinh ra” ấy có một cuộc đời giản dị tới mức những người bình thường sống trong xã hội chúng ta ngày hôm nay không sao hình dung được đó là cuộc sống của một lãnh tụ vĩ đại, một cuộc sống được đánh đổi bằng những năm tháng tuổi trẻ bôn ba, và sự đau đáu cả đời, hy sinh mọi thú vui cá nhân… Chỉ để thế này thôi sao?

Đầu năm 1941, Bác Hồ về nước, Người đã chọn bản Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) làm nơi khởi sự cho công cuộc cách mạng. Vào thời kỳ đó, lương thực có lẽ chỉ là ngô. Cảnh thiếu đói triền miên phổ biến với vùng cao đất nước này. Người về sống trong hang Cốc Bó, trước đó là kho trữ lương thực của ông Lý Quốc Sùng, người ban đầu chăm lo cuộc sống cho Người. Bác sống đạm bạc, với cháo ngô, măng và rau rừng như những người dân quanh đây. Bác sống ở Cốc Bó khoảng 2 tháng. Đến đầu tháng 4-1941, chuyển sang sống ở lán Khuổi Nặm. Chuyện kể rằng, có người cán bộ bẫy được con gà lôi đẹp, muốn giữ nuôi cảnh. Bác bảo: “- Nuôi gà lôi giải trí cũng thích, nhưng hiện nay lương thực rất thiếu thốn, cơm gạo chúng ta còn chưa đủ ăn thì các chú lấy gì để nuôi gà cảnh?”

Anh em có ý kiến rằng sẽ bắt sâu bọ để nuôi gà, Bác đồng ý, nhưng chỉ được vài bữa con gà gầy rộc. Cuối cùng, anh em đành xin phép thịt con gà ấy đi. Khi Bác nhất trí, mọi người nghĩ sẽ được bữa ngon, nhưng sau khi thịt lại chỉ được phép lấy bộ lòng để nấu một bữa tươi. Còn lại thì phải băm nhỏ toàn bộ để trộn muối và rang mặn, cất trữ trong ống tre ăn dần…

Năm 1942, Bác sang Trung Quốc để gặp gỡ với chính quyền Trung ương Tưởng Giới Thạch bàn về mối quan hệ giữa hai nước trong công cuộc chống Nhật. Không may, đi đến phố Túc Vinh, huyện Đức Bảo, Quảng Tây, Trung Quốc, Bác đã bị chính quyền địa phương Tưởng Giới Thạch bắt giữ. Chúng giải Bác đi qua hơn 30 nhà lao của 13 huyện thị Quảng Tây, Trung Quốc. Tháng 10-1943, mới được trả tự do. Tháng 10-1944, Bác quay trở lại Pác Bó. Khi này, sức khỏe đã giảm sút đi nhiều. Tuy vậy, Người vẫn kiên quyết từ chối những chế độ chăm sóc đặc biệt. Trong chữ “đặc biệt” ở đây chỉ là những bữa ăn có thêm chất mà thôi, chứ tuyệt nhiên chẳng có gì để so với những bữa tiệc hoành tráng, lãng phí, trang điểm bằng âm thanh “dzô dzô…” mà dân chớm có tiền của ở đô thị VN hiện đại ngày nay đãi nhau mỗi khi có cớ và cả không cớ.

Lại nói tới điều kiện, tôi vốn không tin rằng điều kiện vật chất là thứ phải có để cho con người có đủ năng lượng chinh phục khát khao. Giống như khi tôi lấy ví dụ rằng,(*) Louis Pasteur đã phát minh ra những thứ vĩ đại cho y học hiện đại (trong đó có vắc-xin chống bệnh dại) trong điều kiện nửa não đã teo, và nửa kia ngập trong bệnh tật, có nguy cơ dừng làm việc bất cứ lúc nào. Nhưng Pasteur xa quá, còn Hồ Chủ tịch thì ngay nơi đây, trong lịch sử đương đại của chính đất nước này.

Tôi đã thỉnh xin vị Thánh dân tộc để được ngồi thử vào chiếc “bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,” trong bộ dạng trang bị ấm áp của kẻ từ dưới xuôi lên, đã sẵn sàng chống chọi với cái rét vùng cao. Tuy thế, cái lạnh thấu xương vẫn cứ xuyên qua những lớp vải bảo vệ, như ngầm nhắc nhở rằng, ngủ quên trong sự ấm áp, hưởng thụ, có sức công phá và gây xói mòn nhanh chóng nghị lực, ý chí và cả đạo đức con người.

… Nhìn xuống dòng Suối Lê-Nin, vẫn thấy những đàn cá đang bơi trong nước lạnh. Những người ở đây nói, thường là cá chép. Nước suối Cao Bằng thật lạnh, tê buốt tay, và ta có thể mường tượng chỉ có những vĩ nhân với năng lượng mãnh liệt mới vừa chinh phục sự khắc nghiệt thời tiết để tạo dựng những viễn kiến lớn của tương lai một đất nước đang chìm trong kiếp nô lệ. Lại tự hỏi, không biết có bao nhiêu người được gọi là quan đầu tỉnh này, bộ kia… có thể tự mình rời bỏ những nơi ấm áp, để thấu hiểu nỗi khổ của thiên hạ, để chia sẻ nỗi đau của muôn dân, để thoát khỏi sự mụ mị của mâm cao, cỗ đầy, say đắm tửu sắc nơi phồn hoa đô thị (cho dù chỉ là sự phồn hoa giả tạo, cục bộ).

Khi cha tôi còn sống, tôi biết ông nhiều lần đã gặp Cụ Hồ, vì ông cũng là thiếu sinh quân từ khi còn nhỏ ở Liên Xô (chừng 10 tuổi hay hơn chút), mà Cụ Hồ có lịch sử quan hệ rất đặc biệt với Liên Xô, lãnh đạo Quốc tế Cộng sản, cũng như đặc biệt quan tâm đến thiếu nhi. Tôi có hỏi cha tôi về sự kiện Bác mất năm 1969, và hỏi cụ thể rằng: “Thế bố có khóc không?” Câu trả lời rất ngắn gọn: “Người Việt Nam, ai cũng khóc.” Và hàng triệu bạn bè khắp năm châu bốn bể cũng thương nhớ chia sẻ mất mát này. Giờ tôi lại tự hỏi, liệu nay còn được bao nhiêu người ở bậc sang trọng, quyền chức có thể khiến cho hàng chục triệu người Việt, và bạn bè khắp năm châu rơi lệ tiếc thương được nữa?

Trước khi rời khu di tích, chúng tôi tới thắp hương tưởng nhớ Hồ Chủ tịch ở khu tưởng niệm người, cách hang Cốc Bó không xa. Nơi đây, những cây trồng kính dâng người của lớp học trò xuất sắc như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã vượt lên trời cao, vững vàng trước nắng mưa, gió rét. Một cây lát hoa đã cao vài chục mét của ông Hồ Tế đã có vòng thân lớn khỏe… Dọc đường chúng tôi mới để ý, vùng này người dân trồng thật nhiều cây lát, dọc cả hai bên quốc lộ.

Hơn bao giờ hết, tôi ý thức được sự bé nhỏ của mình, khi đứng trước tầm vóc lớn lao của một nhân cách vĩ đại, một tư duy chiến lược xuyên không-thời gian mà Hồ Chủ tịch đã mang đến cho đất nước. Chỉ nguyên giao thông thôi, ta cũng nên hiểu rằng ngồi trên những chiếc xe hơi đời mới, tiện nghi không thiếu gì, bánh ngọt nước uống đủ cả, mà chúng ta vượt đèo tới nơi cũng ê ẩm cả người. Hãy nghĩ tới khi Người vượt núi rừng về đây, ở trong hang đá lạnh hơn 10 mét vuông, xung quanh rừng rậm chỉ có chồn sóc, rắn rết… mà nghĩ tới một tương lai độc lập dân tộc, để thấy chúng ta bé nhỏ nhường nào.

Vào lúc này đây, xin được dành phút giây này nhớ đến vị anh hùng dân tộc, Người đã mang lại sự toàn vẹn của tổ quốc Việt Nam hình chữ S thân thương, người cho tôi được nói mình là “người Việt Nam”.

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Câu chuyện “Bác Hồ về thăm làng Gốm” giờ mới kể

Sơ lược lịch sử Bát Tràng

Trước năm 1961 xã Bát Tràng là xã Quang Minh gồm 3 thôn Bát Tràng, Giang Cao và Kim Lan. Hiện nay xã Bát Tràng có 2 thôn :Giang Cao và Bát Tràng, thuộc huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội.

Theo cuốn lịch sử cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân xã Bát Tràng (1930 – 2000) thì diện tích toàn bộ xã là 164 ha với 1628 hộ và 6655 nhân khẩu. Về địa lý, xã Bát Tràng nằm bên tả ngạn sông Hồng, phía Bắc giáp xã Đông Dư , phía đông giáp xã Đa Tốn, phía nam giáp xã Xuân Quan (huyện văn giang, tỉnh Hưng Yên) Phía tây là sông Hồng. Xã Bát tràng cách trung tâm thành phố Hà Nội 12km.

Xã Bát tràng có làng nghề gốm sứ cổ truyền là làng Bát Tràng, cũng như mọi làng quê Việt Nam, làng Bát Tràng có nhiều công trình kiến trúc như đình, chùa, đền, miếu, văn chỉ… chứng minh cho một làng quê văn hiến. Làng Bát tràng từ xa xưa đã nổi tiếng là đất học, đất làng nghề có nhiều người đỗ đạt , khoa bảng . Văn Miếu Quốc Tử Giám, Văn miếu Huế và Văn Miếu Bắc Ninh ( trước 1961 làng Bát Tràng thuộc tỉnh Bắc Ninh) đã ghi danh các bậc đại khoa của làng Bát Tràng gồm một trạng nguyên , tám tiến sĩ, mười quận công. Đầu thế kỷ 20, xã Bát tràng có nhà chí sĩ cách mạng Phạm Văn Tráng tham gia Việt Nam Quang Phục Hội của cụ Phan Bộ Châu, cùng đồng đội tiêu diệt viên tuần phủ gian tỉnh Thái Bình và đã hi sinh anh dũng. Nhiều người làng Bát Tràng đã tham gia Việt Minh, cùng nhân dân nổi lên cưới chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Làng Bát tràng cũng là nơi in ấn bài hát tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao, sau này là Quốc ca của nước ta. trong kháng chiến chống pháp giữa vòng vây kìm kẹp của kẻ thù, người dân làng Bát Tràng vẫn hướng về Đảng và Bác Hồ kính yêu, không ngại hy sinh gian khổ, tích cực tham gia chiến đấu , phá tề trừ gian, chống giặc càn. trong kháng chiến chống Mỹ, dân quân tự vệ Bát tràng đã đánh trả máy bay Mỹ ném bom vào thôn bát tràng. Thanh niên Bát tràng đã xung phong vào bộ đội và đi khắp mọi miền Đất nước để bảo vệ Tổ quốc. Làng Bát tràng có nhiều Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các thương binh liệt sĩ trong 2 cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và chống Mỹ cứu nước nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tháng 8 năm 1958, TW Đảng và Chính phủ quyết định đào sông Bắc Hưng Hải nhằm phục vụ tưới tiêu cho 3 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ (Bắc Ninh, Hưng yên, Hải Dương). Do việc đào sông, xã Quang Minh được tách thành hai xã: Xã Bát Tràng và xã Kim Lan.

Để phục vụ cho đào sông Bắc Hưng Hải, phải di chuyển một nửa thôn Bát Tràng ra chỗ đất mới. Trong đó, có hơn 200 ngôi nhà cổ, một ngôi chùa, các lò nung đồ gốm sứ và các cơ sở sản xuất lâu đời…

Trong tình hình các hộ dân đã di chuyển ra chỗ ở mới, mới chỉ có một số hộ dân xây dựng được nhà cửa , còn một số hộ đang chuẩn bị xây dựng nơi ăn chốn ở và cơ sỏ sản xuất thì Bác Hồ về thăm làng gốm Bát Tràng.

Bác Hồ về thăm làng gốm Bát Tràng

Sáng ngày 20-2-1959, nhân dân xã Quang Minh (Tên xã ở thời điểm đó) vô cùng phấn khởi được đón Bác Hồ về thăm làng Bát Tràng. Cùng đi với Bác có các cán bộ của xã và huyện. Rất đông dân làng nô nức đón Người, vô cùng sung sướng được ngắm nhan dung Bác và đi theo người đến thăm các nơi.

Trên đường vào thăm HTX sản xuất gốm sứ Minh Châu. Bác ghé thăm nhà ông lang Tự (Nguyễn Trọng Đức, đã mất vào năm 1983). Nhà ông Tự đã được di chuyển ra chỗ đất mới và xây dựng xong. Ông lang Tự và con trai đi làm vắng nhà, chỉ có 2 con gái, cô chị là Nguyễn Thị Trâm 13 tuổi., cô em gái Nguyễn Thị Oanh 9 tuổi đang chơi ngoài sân, theo Bác vào Nhà.

Bác hỏi:

– Ba mẹ đi đâu rồi?

– Thưa Bác, thầy cháu và anh cháu đi làm, u cháu đi chợ.

Bác ngắm, đọc bức hoành phi và đôi câu đối ở ngoài hiên nhà thờ. Bác bảo hai cô gái.

– Các cháu nói với ba mẹ là treo câu đối không đúng vị trí, phải đổi câu bên trái sang bên phải.

Bác xuống nhà dưới, mở lồng bàn để xem mâm cơm của gia đình.

Lúc đó chưa đến bữa ăn nên mâm cơm chỉ có bát rau muống luộc. Sau ngày Bác về thăm, ông Lang Tự đã treo lại câu đôi như lời bác dặn.

Bác rời nhà ông lang Tự, vào thăm HTX sản xuất gốm sứ Minh Châu. Thời gian đó HTX này là mô hình sản xuất gốm sứ tiến bộ nhất của làng Bát Tràng, có nội dung và hình thức gần giống như một công ty cổ phần ngày nay. Tiền thân của HTX là tập đoàn sản xuất Minh Châu được thành lâp bởi một số thợ làm thuê tập hợp nhau lại và đóng góp cổ phần. Ban đầu, tập đoàn chỉ có 30 người. Trong vòng 2 năm, tập đoàn này đã phát triển thêm được gần 50 người nữa. Tháng 10 năm 1957, tập đoàn chuyển thành HTX sản xuất Minh Châu. Tháng 8-1959, HTX hợp nhất với các xí nghiệp gốm công ty hợp doanh thành xí nghiệp sứ Bát Tràng. HTX sản xuất Minh Châu chỉ được thông báo vào hôm trước là sẽ có lãnh đạo của TW về thăm. Sáng hôm sau Bác đã về. Tất cả các xã viên đều sản xuất bình thường.

Bác đi qua khu bể lọc đất rồi vào khu sản xuất đứng xem anh Vũ Văn Vinh (sinh năm 1941, hiện nay đã 63 tuổi đã nghỉ hưu) in bát. Vì cảm động quá và còn ít tuổi nên anh Vinh in ra một bát còn hơi méo rồi đặt lên bàn sản phẩm.

Bác hỏi:

– Khi nung chín ra, bát có méo không?

– Thưa Bác, bát cũng méo ạ!

– Thế thì phải làm lại!

Bác quay sang chỗ anh Trần văn Tửu (sinh năm 1940, đã nghỉ hưu) đang tiện tiện bát (một công đoạn sản xuất sau khi in bát và để khô) và hỏi:

– Mỗi ngày cháu tiện được bao nhiêu cái bát?

Anh Tửu hồi hộp quá nên không trả lời được. Một anh cán bộ huyện trả lời.

– Thưa Bác , được 300 cái ạ!

– Như thế có ít không? Có thể gấp hai được không?

Rồi Bác đi ra sân, xem chị Nguyễn Thị Kiểm ( Gọi theo tên chồng là Định, năm nay 74 tuổi đã nghỉ Hưu dấn men phủ Bát . Lúc đó là mùa Xuân nhưng vẫn còn rét, công nhân phải đun nước nóng để pha vào huyễn dịch men sứ cho khỏi giá. Một cán bộ huyện Gia Lâm cầm chậu để đi lấy nước nóng.
– Để các công nhân làm, kẻo chú làm hỏng mất!

Chị Định còn mải ngắm Bác nên Bác nói:

– Cứ làm đi cháu, khéo không đổ vỡ.

Xem xong, bác hỏi chị Định:

– Các cháu làm thế này, thu nhập có cao không? Sản phẩm có chất lượng không?

Mọi người chỉ mải nhìn Bác nên không ai biết trả lời như thế nào.
Cuối cùng, Bác bá vai anh Phùng Ngọc Oanh (hiện 71 tuổi, đã nghỉ hưu) là chủ nhiệm HTX Minh Châu, căn dặn:

– Các cháu cố găng sản xuất hàng hoá sao cho nhiều, nhanh, tốt, rẻ để phục vụ nhân dân!

Bác Hồ rời khỏi HTX trong tiếng hô của mọi người

Hồ chủ tịch muôn năm!

Bác rẽ xuống thăm nhà ông Lang Xương (Lê Văn Xương đã mất) làm nghề Đông dược. Nhà ông lang Xương cũng đã được xây dựng xong ở chỗ đất mới.

Bác thấy trong nhà có mâm cơm, mổ lồng bàn ra xem. bác thấy cơm trắng, đậu rán, rau muống luộc, cà muối. Bác khen nhà có cơm ngon. Rồi Bác ngồi xuống phản gỗ, nói chuyện với ông lang. Bác thấy các lọ và hộp tủ đựng thuốc có dán nhãn tên thuốc bằng chữ Hán, Bác bảo:

– Chú phải dán tên thuốc bằng chữ Quốc ngữ ở dưới chữ Nho để khi chú đi vắng, người nhà bốc thuốc cứu người.

Bác lại hỏi:

– Chú có đắt hàng không?

– Thưa Bác, không được đắt lắm ạ!

Bác nói:

– Thế thì tốt, hàng thuốc mà đắt thì dân có nhiều người bệnh. Bác ngoặt sang một ngôi nhà 2 tầng gần đấy cũng đã được xây dựng xong.
Bác hỏi

– Đây là nhà ai?

Ông Trần Văn Tuý (nguyên Phó chủ tịch xã Bát Tràng đã mất)

– Thưa Bác, nhà ông Phạm Huy Giáp đi bộ đội về ạ!

Bác vào thẳng gian hàng giữa nhà và thấy chăn chiếu trên giường được xếp gọn gàng. bác hỏi bà Trần Thị Vinh (vợ ông Giáp, nay đã 83 tuổi):

– Gia đình ta có mấy người?

– Thưa Bác, có 5 người cháu, 2 vợ chồng và một mẹ già , tổng cộng là 8 người ạ!

Bác nói;

– Thế thì có quá nhiều con.

Ngày 2- 09 – 2002, gia đình ông Phạm Huy Giáp đã lập bia đá gắn và ở tường trước ngôi nhà mà Bác đã đến thăm để kỷ niệm ngày Bác về thăm Gia đình .

Ra khỏi nhà ông Giáp, Bác vào nhà bà Nguyễn Thị Bùi (gọi theo tên chồng là bà Tín, đã mất) chưa xây dựng xong nhà ở tại khu đất mới.

Bác hỏi:

– Sao cô chưa làm nhà?

– Thưa Bác, chưa có vôi ạ!

Thế là hôm sau, bà Tín có vôi làm nhà.

Cuối cùng, Bác trở lại để nói chuyện với dân làng. Trên khu đất có một đường goòng chạy đến cửa sông Bắc Hưng Hải để chở vật liệu và dụng cụ cho việc xây dựng cửa sông này. có một chiếc cầu cao bằng gỗ vượt qua đường gòong để anh chị em công nhân chất đồ xuống xe goòng. Dân làng muốn Bác Hồ đứng trên cầu vượt để nói chuyện với nhân dân.

Bác bảo các cán bộ lãnh đạo huyện và xã:

– Các cô chú cho Bác ra chỗ nào rộng!

Bác ra khoảng đất rộng trước HTX mua bán cho nhân dân trong xã (nay là Trạm Y tế thôn Bát Tràng), Anh Trần Văn Tửu vào một gia đình ở gần đó, mượn một cái bàn gỗ nhỏ , dài chừng 1,2m và cùng mấy người khiêng ra chỗ đất rộng để Bác đứng nói chuyện với dân làng. Mọi người đứng xung quanh Bác, yên lặng và trật tự để nghe Bác nói chuyện.

Bác hỏi thăm dân làng và nói:

– Nhà nước đào sông Bắc Hưng Hải làm mất đi một phần đất của làng Bát Tràng, các cụ và dân làng có vui lòng không hay không đồng ý? Việc di chuyển vừa qua, tình hình xây dựng nơi ăn chốn ở của các gia đình như thế nào? Làng Bát Tràng cũng như xã Quang Minh trong những năm qua hoạt động và công tác có thành tích ra sao?

Ai nghe cũng ngẩn người ra, không biết nói gì vì chỉ ngắm Bác và nghe Bác nói. Cụ Phùng Văn Chạnh (đã mất) thay mặt dân làng báo cáo:

– Dân làng sản xuất rất tốt, thành tích so với năm 1957-1958 gấp rưỡi, không ai bị đói, làng Bát tràng không những giải quyết việc làm cho dân mà còn cho cả bà con ở các nơi khác.
Bác bảo:

– Thế thì tốt, Bác nghe bác cáo dân làng đã chuyển một nửa làng ra khu đất mới. Vậy tất cả bà con đã xây dựng được nhà mới chưa?

– Thưa Bác, đã xây dựng được 80%. bà con phấn khởi, an tâm, không ai thắc mắc gì cả ạ!

– Dân làng đã phải giúp đỡ nhau để ai cũng làm nhanh được nhà mới.
Mọi người đồng thanh nói:

– Vâng ạ!

Bác Hồ căn dặn:

– Bát Tràng là một làng nghề phát triển. Các cô chú phải xây dựng đường sá rộng rãi để xe chở nguyên liệu về làng và chở hàng hoá đi, làng phải có giao thông thuận lợi . Bác căn dặn: “Làng Bát Tràng mới phải làm sao trở thành một làng kiểu mẫu của nước Việt Nam mới, nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa”.

Sau đó Bác chúc sức khoẻ các cụ và dân làng rồi ra xe, rời khỏi làng Bát Tràng. Theo lời Bác dặn, các gia đình ở các đường cái đều lùi vào nhà 1m, còn các gia đình ở đường phụ đều lùi vào 5 m. Một tuần sau đó, thư ký của Bác về hỏi ông Trần Văn Tuý xem nhân dân đã lùi nhà vào chưa? Ông Tuý đưa thư ký của Bác đi xác minh và công nhận dân làng đã làm đúng theo lời Bác!

Nguồn: Giang Thanh sưu tầm

battrangceramics.com.vn

Bài nói tại trường Cán bộ tự vệ

Lúc này, chúng ta không cần nói nhiều, mà phải làm cho thật nhiều. Nếu không bị uy hiếp, chúng ta không cần có tự vệ. Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình. Ta phải ngăn ngừa mọi sự uy hiếp. Về quân sự, Pháp có thể đánh vào thành phố ta. Về xã hội, có thể phát sinh ra trộm cướp. Về chính trị, có thể có những kẻ phản động phao đồn những tin nhảm để làm náo động lòng dân.

Các đồng chí đến đây theo lớp huấn luyện là học tập cách trị an về vật chất và tinh thần. Những kẻ mưu sự phá hoại đất nước chúng ta, có thể tuyên truyền, đồn phao để chia rẽ sự đoàn kết. Chúng hủ hoá chúng ta về vật chất, về sinh hoạt, văn hoá, chính trị. Bởi thế các đồng chí phải học tập thành cán bộ để đi trước sự bảo vệ: Bảo vệ nền độc lập tự do của mình. Không những thế, các đồng chí còn chỉ huy những anh em đi sau. Tóm lại, không những phải học cho biết kỹ thuật, mà còn phải học lý luận về đạo đức, tinh thần nữa.

Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.

Lãnh đạo về kỹ thuật chưa đủ. Còn phải lãnh đạo về tinh thần. Phải là người tuyên truyền. Phải là những người nói cho dân hiểu. Có phao đồn gì, phải giải thích cho dân. Có mệnh lệnh của Chính phủ, phải giải thích cho dân biết rõ tại sao Chính phủ đã ban bố mệnh lệnh đó.

Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hoá. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: quyết tâm, tín tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công.

Nói ngày 7-1-1946.
Báo Cứu quốc, số 136, ngày 8-1-1946


Hoàng Nhật Minh