Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đánh giá và sử dụng cán bộ

Xây dựng đội ngũ cán bộ là một nội dung lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Suốt cuộc đời, Người không ngừng chăm lo bồi dưỡng, huấn luyện đội ngũ cán bộ cho Đảng đủ Đức và Tài để phục vụ sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH.

Theo Người, ”cán bộ là gốc của công việc”, do đó Người yêu cầu ”phải biết rõ cán bộ” và ”hiểu biết cán bộ” để có kế hoạch bồi dưỡng, huấn luyện, sử dụng phù hợp. Đánh giá đúng cán bộ tức là xác định chính xác ai tốt ai xấu, ai mạnh chỗ nào, yếu chỗ nào, khả năng hoàn thành công việc đến đâu, quan hệ với quần chúng ra sao để từ đó ”tìm thấy những nhân tài mới… những người hủ hoá cũng lòi ra”

Cán bộ là con người, vì vậy người cán bộ luôn chịu sự tác động của hoàn cảnh lịch sử, xã hội nên khi đánh giá cán bộ, Hồ Chí Minh luôn đặt cán bộ trong mối quan hệ toàn diện, nhiều chiều, phát triển và không định kiến ”một người cán bộ khi trước có sai lầm, không phải sẽ sai lầm mãi. Cũng có cán bộ đến nay chưa bị sai lầm nhưng chắc gì sau này không bị sai lầm? Quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi người không phải luôn luôn giống nhau… lúc cách mạng lên cao thì hăng hái, lúc cách mạng gặp khó khăn thì đâm ra hoang mang” hoặc ”nhận xét cán bộ không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc mà phải xét kỹ cả toàn bộ công việc của cán bộ”. Theo Người, phải lấy tiêu chuẩn để đánh giá ”cán bộ nào, phong trào ấy”. Một người cán bộ tốt phải là người có đủ đức và tài, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đức là đạo đức cách mạng, là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tài là người có khả năng hành động, làm việc mang lại hiệu quả cao. Đức và tài phải thống nhất với nhau trong đó ”Đức là gốc”.

Một điều quan trọng nữa là người đánh giá cán bộ. Để đánh giá đúng, đòi hỏi người đánh giá phải công tâm, vô tư, khách quan. Do đó, bản thân người đánh giá cũng phải ”tự sửa mình” để “nếu không biết sự phải trái của mình thì không thể nhận rõ cán bộ tốt hay xấu”. Đặc biệt đánh giá cán bộ phải dựa vào dân, lấy ý kiến của dân, đem ra tập thể bàn bạc và đi đến thống nhất.

Đánh giá đúng cán bộ để Đảng có kế hoạch huấn luyện cán bộ vì ”cán bộ là tiền vốn của Đảng”, ”công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc, càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Sử dụng cán bộ thế nào? Theo Hồ Chí Minh, trước hết phải xác định đúng yêu cầu của công việc, ”công việc yêu cầu cán bộ” và khi bố trí, sử dụng phải tránh sự thiên vị cá nhân. Dùng người là cả một khoa học và nghệ thuật, do đó, nếu bố trí đúng sẽ phát huy mặt mạnh của cán bộ, thúc đẩy được phong trào và còn hạn chế được mặt yếu, mặt dở của họ. Người chỉ ra những khuyết điểm khi sử dụng cán bộ, người quản lý hay mắc phải đó là ”ba ham”. ”Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài. Ham dùng những kẻ nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực. Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình không hợp với mình”.

Người căn dặn 5 vấn đề mà người cán bộ lãnh đạo phải thực hiện khi dùng người:

”Mình phải độ lượng, vị tha thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công -vô tư, không có thành kiến, khiến cán bộ không bị bỏ rơi”; ”Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi những người mình không ưa”; ”Phải có tính chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ”; ”Phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt”; ”Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình”.

Đồng thời, Hồ Chí Minh nhắc nhở phải mạnh dạn cất nhắc cán bộ và thường xuyên luân chuyển cán bộ, chống bệnh ích kỷ, địa phương, kéo bè, chia rẽ phái này phái kia ”phải kết thành một khối không phân biệt, không kèn cựa và giúp đỡ nhau thì công việc mới chạy”. Trong quá trình sử dụng cán bộ phải thường xuyên đánh giá để kịp thời uốn nắn, sửa chữa khuyết điểm cho cán bộ và bố trí lại cán bộ khi cần thiết.

Thực tế, trong cuộc đời làm cách mạng, Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta di sản quý báu đó là khoa học và nghệ thuật về đánh giá và sử dụng cán bộ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ có nội hàm hết sức phong phú nên cần được nghiên cứu ở nhiều phương diện. Song, cần khẳng định: Đánh giá cán bộ, sử dụng cán bộ là cả một vấn đề khoa học và nghệ thuật, và phải luôn ghi nhớ lời Bác dạy: “Công việc thành hay bại đều từ cán bộ mà ra”.

Đình Thanh

dalat.gov.vn

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ HỌC TẬP

1. Dân tộc Việt Nam được ngợi ca là một dân tộc hiếu học. Tinh thần hiếu học (ham học hỏi và hiểu biết) thể hiện xuyên suốt trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Hồ Chí Minh có những đề cập thiết thực, cụ thể về sự học. Song bao trùm lên tất cả vẫn là tinh thần mới mẻ, nhân văn: học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Tinh thần đó được thể hiện trên mấy nét sau.

Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng việc học tập giáo dục, xem đó là phương cách để kiến thiết Tổ quốc, mang lại đời sống tốt đẹp cho nhân dân.

Trong thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên vai trò quan trọng của sự học và thế hệ trẻ đối với tiền đồ đất nước: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(1). Trong hoàn cảnh nước nhà đang thực hiện phong trào xóa nạn mù chữ (chống giặc dốt), Người đã viết bài “Chống nạn thất học”, trong đó đề cao vai trò của sự hiểu biết ở mọi người đối với việc xây dựng đất nước: “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” (2). Sự học, trình độ học vấn liên quan đến vận mệnh dân tộc, thể hiện sự mạnh, yếu của một dân tộc: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” (3). Nói chuyện tại lớp học chính trị của các giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc, Người đã nhấn mạnh lợi ích của việc đào tạo con người trên tinh thần một câu nói của người xưa “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Trồng cây là một việc làm rất cụ thể, dễ dàng, còn trồng người là một sự nghiệp vinh quang và rất đỗi gian nan, có liên quan đến sự tồn vong và tương lai dân tộc.

Thấy được vai trò của giáo dục, đào tạo, của nhân tố con người, ngay trong buổi đầu mới giành được độc lập, một trong sáu vấn đề cấp bách cần làm ngay, thì vấn đề quan trọng thứ hai, Người đã đề cập là diệt giặc dốt. Người cho rằng, giặc dốt và giặc ngoại xâm đi liền với nhau, dựa vào nhau để nô dịch dân ta. Coi trọng sự học, giáo dục và đào tạo, trọn đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở vì sự nghiệp đào tạo thanh niên, đào tạo, bồi dưỡng con người. Trong Di chúc cuối đời, Người tha thiết dặn dò “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

Hai là, mục đích của sự học theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

Từ việc coi trọng tầm quan trọng của sự học đối với tiền đồ quốc gia, dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến coi mục đích của sự học là để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Trong lịch sử, mỗi một chế độ xã hội khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển và nhận thức, con người đề cao sự học không giống nhau. Dân tộc Việt Nam trong thời đại phong kiến đã từng bị ảnh hưởng bởi quan niệm “học nhi ưu tắc sĩ” (học để làm quan), cái học đó đã đào tạo ra một tầng lớp quan lại bằng con đường khoa bảng; xã hội nông nghiệp đề cao cái học để “vinh thân phì gia”, một người làm quan cả họ được nhờ. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức được lợi ích của việc học lớn hơn nhiều. Học để “phụng sự” tức là làm việc, là lãnh nhận sứ mệnh trước quốc dân, đồng bào, là cống hiến, đặt cái lợi nhân quần của Tổ quốc, nhân dân lên hết thảy. Đó là ý nghĩa đích thực của sự học theo quan điểm khoa học và cách mạng, tiến bộ và nhân văn. Ở cương vị Chủ tịch Đảng, Chủ tịch Nước, đi nhiều, hễ có dịp là Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nói với nhân dân về lợi ích của sự học mới, về ý nghĩa của sự học cao cả ấy.

Trong lời ghi ở trang đầu Quyển sổ vàng của trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, Người viết: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”…(4). Phát biểu trong Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập, năm 1950, Hồ Chí Minh đặt câu hỏi: học để làm gì? và Người đã nói nhiều về mục đích của sự học, song đúc kết lại vẫn là để làm việc, để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Nói chuyện tại Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc (1956), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Dạy và học phải theo nhu cầu của dân tộc, của Nhà nước. Thầy dạy tốt, trò học tốt, cung cấp đủ cán bộ cho nông nghiệp, công nghiệp, cho các ngành kinh tế và văn hóa. Đó là nhiệm vụ vẻ vang của các thầy giáo, cô giáo”(5). Trong thư gửi các học sinh trường Sư phạm miền núi Trung ương nhân dịp khai giảng (1955), Người viết: “Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tập để sau này góp phần vào việc mở mang quê hương của mình và việc xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”(6). Trong thư gửi các cháu lưu học sinh Việt Nam học ở Mát-xcơ-va, Người căn dặn: “Các cháu học kỹ thuật và học tiếng Nga cần nhận rõ mình học cốt để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Học ngành nào cũng cần phải căn cứ vào nhu cầu của Tổ quốc, của nhân dân mà định, không thể tùy theo sở thích của riêng mình” (7). Trong một lần khác, nói chuyện tại Lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I, ngày 12-6-1956, Người nói: “Mục đích của giáo dục bây giờ là phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc…” (7). Có thể thấy, xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh không có cái học nào hơn sự học để làm người, giúp đời, phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Đó cũng chính là cái học của người cách mạng, của đạo đức xã hội chủ nghĩa, của những con người thấm đẫm trong mình lý tưởng cộng sản.

Vậy là, tiếp thu tinh thần hiếu học của cha, ông, song đến lượt mình, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, cái học của dân tộc Việt Nam, của người Việt Nam đã mang nội dung ý nghĩa mới, học không phải vì cái cá nhân chật hẹp “vinh thân phì gia”, mũ cao áo dài, cân đai võng lọng, mà học có một mục đích, ý nghĩa cao đẹp, tràn đầy lý tưởng nhân văn cao cả, để làm người, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm lợi cho dân, cho nước. Chính thấm nhuần lý tưởng học đó mà hàng vạn thanh niên trí thức dưới chế độ mới, kể cả những trí thức được đào tạo ở Pháp (chế độ thực dân cũ) đã ra sức phấn đấu học hỏi, nắm bắt khoa học, kỹ thuật phục vụ sự nghiệp kháng chiến và xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nhiều người đã từ bỏ trời Tây hoa lệ, trở về sống đồng cam cộng khổ, cùng nhân dân phục vụ kháng chiến, kiến quốc, tiêu biểu như: bác sĩ Đặng Văn Ngữ, kỹ sư Phạm Quang Lễ (anh hùng Trần Đại Nghĩa) và nhiều trí thức dưới chế độ cũ đã sẵn sàng ra gánh vác việc nước, như: Tiến sĩ Nho học Huỳnh Thúc Kháng, nhân sĩ Vũ Đình Hòe…

Ba là, bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về tự học, học để đạt được tri thức đúng đắn phụng sự công cuộc đấu tranh cách mạng, vì sự vẻ vang của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước từ buổi nhân dân, đất nước còn đắm chìm trong đêm đen nô lệ, Người không có điều kiện để được học hành trong các trường lớp chính thống. Người sớm dấn thân vào lao động và tranh đấu, nhưng bản thân đã có ý thức học tập từ rất sớm. Người đã từng kể lại: “…Vào trạc 13 tuổi, lần đầu tiên tôi đã được nghe những từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái. Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”. Đó cũng là nguyên nhân Người đi về phía trời Tây để học hỏi, tìm con đường khả dĩ cứu nước, cứu dân.

Trong hoàn cảnh lao động kham khổ, thiếu thốn, có những lúc bị tù đày, Người luôn có ý thực tự học, tự bồi dưỡng, từ ngoại ngữ, đến các tri thức văn hóa, khoa học. Đi đến đâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều học và sử dụng được ngoại ngữ, thông hiểu văn hóa để hòa nhập và hoạt động. Không được đào tạo một cách bài bản, chính thống qua trường lớp, cấp học, nhưng những tri thức Người có được hết sức sâu sắc và toàn diện. Người còn căn dặn cán bộ phải học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Chính nhờ học qua sách báo, qua bè bạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp cận với chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó là vào năm 1920, ở Paris, Nguyễn Ái Quốc, được một người bạn cho xem “Luận cương Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa ” đăng trên báo Nhân đạo, đã giác ngộ: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Từ đó, Người tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế thứ Ba, vì đã chỉ ra cho Người con đường tranh đấu cho độc lập tự do của dân tộc mình.

Tinh hoa sự học của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thẩm thấu và tỏa ra ở cốt cách văn hóa thanh cao, lịch thiệp, trong trí thông minh xuất chúng, ở lối ứng xử tinh tế, hấp dẫn. Tất cả nhờ Người luôn ý thức tự học và hành. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tâm đắc câu nói của Lê-nin: Học, học nữa, học mãi và chính Người cho rằng, học để tiến bộ mãi!

Nhờ học thấu đáo, năng lực tự học xuất chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh hội tụ được những tinh túy văn hóa Đông, Tây, đem hết tài học, lực học, kiến thức phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của nhân dân. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hợp Quốc đã tôn vinh Người là: Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới. Người là biểu tượng đỉnh cao của đạo đức và trí tuệ Việt Nam ngời sáng.

2. Tinh thần học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân của Hồ Chí Minh trong trong giai đoạn cách mạng mới

Việt Nam có khoảng 86 triệu người, có hàng triệu trí thức và hàng vạn học sinh, sinh viên. Đó là một lực lượng đông đảo đang đi tiên phong trong học tập và nghiên cứu khoa học và công nghệ, là một nguồn sức mạnh cho đất nước phát triển, vươn xa. Tuy nhiên, trong thực tế, theo nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội, nhân văn, sự học hôm nay dưới ảnh hưởng mặt trái của kinh tế thị trường, đang bộc lộ nhiều vấn đề đáng quan ngại như học thực dụng, học chỉ để du học, để tìm việc tốt, kiếm tiền nhiều, vị trí nhiều lợi ích…; sự học coi nhẹ về đạo đức, nhân văn (biểu hiện ở kết quả học và thi các môn: văn học, lịch sử, địa lý…); về lý luận, phương pháp luận… Không ít người có tư tưởng lệch lạc về sự học: nạn chạy bằng, mua điểm, những biểu hiện coi nhẹ đạo đức học đường, thiếu tôn sư, trọng đạo… đang gây nên những bức xúc trong nhân dân. Những biểu hiện đó ít nhiều làm băng hoại giá trị của sự học, đang bị cộng đồng xã hội lên án và dư luận đòi hỏi phải có những chấn chỉnh về mục đích, chương trình, phương pháp dạy và học.

Nghiên cứu và ngẫm lại tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học, về mục đích học tập trong bối cảnh hôm nay, nhiều quan điểm, luận điểm của Người vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự và khoa học mới mẻ, có thể giúp ích cho chúng ta xây dựng một xã hội học tập lành mạnh và tiến bộ. Trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước ta, việc học là một phương thức quan trọng để hội nhập, bởi chỉ có giáo dục, đào tạo có chất lượng mới tạo ra con người, đội ngũ có năng lực phục vụ sự hội nhập ấy. Nhiều chuyên gia giáo dục của thế giới khuyến cáo Việt Nam phải đầu tư và cải cách mạnh mẽ hơn nữa trong giáo dục, chỉ có thắng trong giáo dục mới có thể thắng trong kinh tế. Tinh thần học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân chính là học để xây dựng đất nước, chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, vươn lên văn minh hiện đại. Tinh thần đó cần được phát huy, khơi gợi trong cán bộ, học sinh và nhân dân sao cho biến xã hội ta thành một xã hội thực sự học tập, một cộng đồng luôn ham học hỏi và hiểu biết, có trí tuệ, tài năng và nhân cách.

Tinh thần học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều điểm trùng khớp với tinh thần của Unesco (Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục của Liên Hợp Quốc), khi Liên Hợp Quốc đề ra mục tiêu của học tập là học để hiểu biết, để chung sống, để làm việc và làm người. Tinh thần đó của Người đã bắt nhịp với thời đại và có dịp tỏa sáng cùng thời đại. Tư tưởng cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học tập để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân như vậy dẫn đến hệ quả tất yếu là, phải học thường xuyên, học suốt đời. Điều đó hoàn toàn thích ứng với một xã hội năng động và phát triển nhanh trong thế giới hôm nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập để phụng sự Tổ quốc và nhân dân hoàn toàn có khả năng khuyến khích sự học tiến bộ, đáp ứng yêu cầu của nền “kinh tế tri thức” đang phát triển, đòi hỏi thực học, trí tuệ, mà Việt Nam là một đất nước đang chuyển đổi và bước đầu tiếp cận với nền kinh tế ấy. Học để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo tinh thần Hồ Chí Minh chỉ có thể phát huy trên cơ sở một thái độ học tập tích cực và sáng tạo, có phương pháp, tự nỗ lực không ngừng. Sự học đó khác xa với cái học nệ cổ của phong kiến, cái học siêu hình, không thực tế của lối học kinh viện; sự học đó cũng khác xa với cái học cá nhân, tự kiêu, tự mãn, tự phụ; sự học đó đối lập với cái học cá nhân chủ nghĩa không biết đến nhân quần xã hội.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta có thể học tập vô số điều, nhưng trong bối cảnh, vận hội mới của đất nước, cần phải học và thực hành tinh thần học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Chỉ với một thái độ học tập tích cực, đúng đắn và nhân văn như vậy, mỗi người Việt Nam mới có thể góp sức học và sức làm việc của mình để dân tộc có thể sánh vai các quốc gia, dân tộc khác, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

(1) Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2000, t.4, tr.33.
(2), (3) Sđd, t.4, tr.36; tr.8.
(4) Sđd, t.5, tr.684.
(5), (7), (8) Sđd, t.8, tr.138; tr.25-26; tr.183.
(6) Sđd, t.7, tr.496.

Phạm Xuân Hoàng Trường ĐH Lâm nghiệp Nguồn: Cải cách hành chính.gov.vn

dostquangtri.gov.vn

Một lãnh tụ vĩ đại, thiên tài

Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hóa. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam 2 giai cấp mới: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.

Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời.

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, một địa phương có truyền thống yêu nước. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc, Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, Người càng yêu nước, thương dân sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Vốn có tư chất thông minh, tinh thần ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi ý định tìm hiểu “cái gì ẩn giấu sau” những từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789, thành tựu văn minh, tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác đã thúc đẩy Người muốn đến tận nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Hành trình tìm đường cứu nước và những chuyển biến trong nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc

Khi ra nước ngoài, hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”, đó là dự định đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Ngày 5-6-1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tréville”, từ Bến cảng Nhà Rồng của thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp.

Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…). Gần 10 năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ…

Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Người kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Sống hòa mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp. Ngày 18-6-1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. 8 yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình (Còn tiếp).

Nguồn: baobinhduong.org.vn (TT)

tuoitrebinhduong.vn

Quê hương Nghệ An trong lòng Chủ tịch Hồ Chí Minh

(Congannghean.vn)Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, người đã lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bão tố thác ghềnh, đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Người được tôn vinh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Hơn 42 năm Người đã đi xa nhưng tư tưởng, tình cảm của Bác Hồ luôn sống mãi với Đảng bộ và nhân dân Nghệ An.

Quê hương – Cội nguồn tư tưởng Hồ Chí Minh

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho nguồn gốc là nông dân, thân phụ của Người – cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là một nhà nho yêu nước thương dân, thân mẫu của Người – cụ Hoàng Thị Loan là một người phụ nữ đảm đang hội tụ các đức tính công, dung, ngôn, hạnh. Thân mẫu và thân phụ ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng yêu nước thương dân, ảnh hưởng sâu sắc đến tình cảm, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nghệ An – quê hương của Người có nhiều anh hùng nổi tiếng trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm như Mai Thúc Loan, Phan Bội Châu… mảnh đất có truyền thống hiếu học đã hun đúc nên tư tưởng nhân văn cao cả Hồ Chí Minh. Từ nhỏ Người đã hiểu nỗi nhục mất nước, chứng kiến bao tội ác của bọn thực dân Pháp đã thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước.

Ngày 05/6/1911, Người đã lên tàu La-tút-sơ Tê-rê-vin bôn ba hải ngoại, đi nhiều nơi, ở nhiều nước, làm nhiều nghề nhưng trong lòng của Người luôn đau đáu về quê hương đất nước, đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.

Bác Hồ với quê hương

Dù bận trăm công nghìn việc, Người chưa về thăm quê được, nhưng Người luôn viết thư thăm hỏi động viên tỉnh nhà, xã nhà và mỗi khi có các đồng chí lãnh đạo tỉnh, cán bộ ở quê ra công tác ở Hà Nội, Người gặp gỡ ân cần, hỏi thăm về quê hương.

Ngày 14/6/1957, Người mới về thăm quê hương với nỗi niềm xúc động: “Người ta về thăm quê thì mừng mừng tủi tủi. Tôi về thăm quê thì chỉ thấy mừng mừng!’, “Là vì: bây giờ nước ta được độc lập tự do, nhân dân được sống cuộc sống hạnh phúc, ai cũng có cơm ăn áo mặc, các cháu được học hành”. Nhân dịp này Người đọc hai câu thơ thật xúc động:

“Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”

Các nơi Người đến thăm, Người đều ân cần căn dặn, phải đoàn kết xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền đoàn thể và ra sức tăng gia sản xuất, thực hành cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Người chỉ ra nhiệm vụ trước mắt và phương hướng hoạt động lâu dài để quê hương giành nhiều thắng lợi.

Người căn dặn và nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Khi nói chuyện với cán bộ tỉnh Nghệ An, Người khẳng định: “Nghệ An có truyền thống cách mạng…” và Người dặn dò: “Hôm nay Bác giao cho các cô, các chú có những nhiệm vụ khó khăn nhưng các cô, các chú quyết tâm sẽ làm được…”, “Tất cả cái gì thuộc về quốc kế dân sinh ở Nghệ An là các cô, các chú phụ trách. Muốn làm như thế phải nắm vững nguyên tắc gì? Một là nguyên tắc đoàn kết nội bộ. Hai là nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Như vậy là phải dân chủ nội bộ, muốn dân chủ nội bộ thì cần gì nữa, phải phê bình và tự phê bình”.

Bác khen ngợi những thành tích đã đạt được và nhắc nhở đồng bào và cán bộ phải ra sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, các ngành nghề khác. Bác căn dặn bộ đội, công an, dân quân tự vệ, cán bộ, công nhân, thanh niên, phụ nữ.

Đối với công nhân Bác căn dặn thêm: “Công nhân là giai cấp lãnh đạo góp phần xây dựng XHCN ở miền Bắc, là cơ sở cho việc đấu tranh thống nhất nước nhà. Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo phải làm thế nào cho xứng đáng, lãnh đạo để mọi người tin cậy”.

Bác về thăm quê Làng Sen ngày 09/12/1961, Người không quên lối cũ vườn xưa, nhớ cụ Thuyên bạn học đi câu cá thuở còn nhỏ, nhớ từng kỷ vật thiêng liêng của gia đình, nhớ về thầy giáo, bà con láng giềng.

Bác giành tình cảm đặc biệt cho quê hương, khen ngợi những tiến bộ của xã nhà, huyện nhà, tỉnh nhà. Chỉ ra những yếu kém, khuyết điểm, nguyên nhân cần khắc phục như “củng cố và phát triển hợp tác xã cho tốt, làm ngày công cho nhiều, xã viên thu nhập cao, văn hóa tốt, trật tự trị an tốt” và “tốt ở đây không phải là làm nhà khách cho tốt, nước trà cho nhiều mà khi có khách các chú đưa họ đến xem cái tốt”.

Tấm lòng của Bác đối với Nghệ An thật là sâu nặng. Trong các bức thư, các bài viết, bài nói chuyện hay những bức điện gửi về cho quê hương đã nói lên tấm lòng sâu nặng của Người đối với quê hương. Người chỉ mong muốn, “đồng bào cán bộ cần phải có quyết tâm phấn đấu xây dựng tỉnh ta thành một trong những tỉnh khá nhất của miền Bắc”. Bác Hồ đã đi xa, nhưng những lời căn dặn của Bác vẫn còn vang vọng.

“Còn non, còn nước, còn người
Đánh thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.

Người đã giành muôn vàn tình thân yêu cho đồng bào đồng chí, riêng tỉnh Nghệ An, Bác đã giành những lời tâm huyết trong bức thư gửi về cho Đảng bộ Nghệ An ngày 21/7/1969.

Nghệ An đã đạt được những thành tựu quan trọng. Hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo và thực hiện mong ước của Người trước lúc đi xa “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Kỷ niệm 50 năm Bác Hồ về thăm quê lần thứ 2 (ngày 09/12/2011), Đảng bộ và nhân dân Nghệ An luôn khắc ghi lời căn dặn của Người và nguyện nỗ lực phấn đấu xây dựng tỉnh Nghệ An thành một trong những tỉnh khá nhất như Bác hằng mong muốn.

Nguyễn Bá Hòe

congannghean.vn

Tinh thần quốc tế trong sáng

Trong thời kỳ mới của cách mạng, nguồn lực quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước chính là mở rộng tình đoàn kết quốc tế, quan hệ hợp tác cùng có lợi, chủ động, tích cực hội nhập, như Đảng ta đã khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế… Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực” (Văn kiện Đại hội X của Đảng. Tr. 112. NXB CTQG – Hà Nội – 2006).

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Trong những tác phẩm, bài nói, bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói đến các phẩm chất đạo đức. Từ thực tế của con người và xã hội Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát thành những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức cách mạng việt Nam. Đó là: Trung với nước, hiếu với dân; Yêu thương con người; Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; Tinh thần quốc tế trong sáng. Trong những chuẩn mực trên, trong xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, phẩm chất đạo đức “Tinh thần quốc tế trong sáng” có vai trò vô cùng quan trọng. Tinh thần quốc tế trong sáng là phẩm chất, là yêu cầu đạo đức của mỗi người Việt Nam trong mối quan hệ rộng lớn, vượt qua phạm vi quốc gia, dân tộc. Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở các điểm sau:

1. Đó chính là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước trong cuộc đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc.

Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đến nhiều nước trên thế giới, các nước tư bản cũng như thuộc địa. Người đã chứng kiến cảnh cùng cực của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đồng thời cũng thấy rõ cảnh sống xa hoa của bọn tư sản.

Thực tế sinh động đã giúp Người đồng cảm và nhận thức rõ: Nơi đâu cũng có người nghèo như ở xứ mình, dù ở các nước thuộc địa hay chính quốc, họ đều bị áp bức, bóc lột tàn nhẫn bởi chủ nghĩa thực dân tàn ác. Người đi tới kết luận: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tính hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản” (Bài Đoàn kết giai cấp của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Le Paria số 25 tháng 5-1924). Kết luận này cho thấy nhận thức của Hồ Chí Minh về ý thức dân tộc và ý thức giai cấp đã từ tầm nhìn quốc gia tới tầm nhìn quốc tế. Kết luận trên cũng là sự khởi đầu của tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh – đoàn kết với những người lao khổ, cần lao trên thế giới, luôn gắn liền lợi ích dân tộc với lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia với lợi ích quốc tế.

Tháng 6-1919, khi gửi tới Hội nghị “hòa bình” Vécxây “Bản yêu sách của nhân dân An Nam”, lần đầu tiên xuất hiện trên vũ đài quốc tế, Hồ Chí Minh đã thể hiện tư tưởng sát cánh cùng các dân tộc bị áp bức đấu tranh cho sự bình đẳng, hợp tác quốc tế. Mười năm vận động, trải nghiệm ở nhiều nước, Hồ Chí Minh đã sớm xác định, cuộc đấu tranh của Việt Nam, cũng như cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức là bộ phận của cách mạng vô sản thế giới. Từ lời phát biểu đầu tiên tại Đại hội Tua (12-1920) trở đi, Người luôn khẳng định cuộc cách mạng của các dân tộc bị áp bức đều có quan hệ với nhau. Nói về sự liên minh đoàn kết đấu tranh của nhân dân lao động ở các nước thuộc địa, khi đó Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, các nước thuộc địa và phụ thuộc muốn được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa tư bản thì chỉ bằng cách đoàn kết chặt chẽ để chống kẻ thù chung. Cũng là một người dân thuộc địa, Người thấy được khả năng, sức mạnh đoàn kết của các dân tộc thuộc địa và tin tưởng vào thắng lợi trong cuộc đấu tranh của họ.

2. Tinh thần quốc tế trong sáng còn là vì mục tiêu chung “Bốn phương vô sản đều là anh em”.

Hành trình qua các nước vào những năm đầu của thế kỷ XX giúp Hồ Chí Minh nhận thấy rằng phải có được quan hệ hợp tác giúp đỡ giữa cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa. Ngay từ năm 1921, Người khẳng định thực dân đế quốc là kẻ thù của nhân dân thuộc địa và cũng là kẻ thù của nhân dân lao động chính quốc. Bởi vậy, để chống lại kẻ thù chung, đạt tới mục tiêu giải phóng thân phận nô lệ và bị bóc lột, đòi hỏi sự đoàn kết liên minh chặt chẽ nhân dân lao động ở thuộc địa và chính quốc. Điểm mới và sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Người đã chứng minh được bọn đế quốc không chỉ áp bức bóc lột nhân dân các nước thuộc địa, mà còn thống trị nhân dân lao động và giai cấp vô sản chính quốc. Người đã ví chủ nghĩa đế quốc giống như “con đỉa hai vòi”. Một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc, một vòi bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Muốn giết con vật ấy, phải đồng thời cắt cả hai vòi, nếu chỉ cắt một vòi thì vòi còn lại tiếp tục hút máu và vòi bị cắt tiếp tục mọc ra. Vì thế, nhiệm vụ chống chủ nghĩa tư bản, đánh đổ chúng là nhiệm vụ của cả nhân dân lao động chính quốc và thuộc địa. Nhiệm vụ đó đòi hỏi phải đoàn kết cả hai lực lượng nói trên.

3. Từ những năm hai mươi của thế kỷ XX, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, từ thành quả của Cách mạng tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra giữa các quốc gia, giữa các dân tộc ở các châu lục cần có sự hợp tác giúp đỡ và học hỏi lẫn nhau. Sức mạnh của mỗi nước có một phần quan trọng tuỳ thuộc vào các mối liên kết và hiểu biết lẫn nhau. Từ đó Người luôn khẳng định những cuộc cách mạng của các dân tộc bất kỳ gần hay xa, to hay nhỏ đều có quan hệ với nhau. Từ năm 1924, Người đã trở thành một trong những cán bộ châu Á đầu tiên thực thi nhiệm vụ liên kết giữa các dân tộc châu Á với phong trào cách mạng vô sản thế giới.

Trong những năm tháng nhân dân Việt Nam đấu tranh giành độc lập và bảo vệ nền độc lập của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm chăm lo phát triển tình hữu nghị giữa Việt Nam với các nước ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh để mở rộng quan hệ quốc tế của Việt Nam và tranh thủ, khẳng định sự ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Đồng thời, Hồ Chí Minh còn luôn nhắc nhở nhân dân Việt Nam về những nhiệm vụ đối với cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân các nước này. Hồ Chí Minh tha thiết với độc lập tự do của dân tộc mình, cho nên cũng rất trân trọng độc lập tự do của các dân tộc khác. Bởi thế, Người hết sức căm giận trước bất cứ một hành động xâm lược nào và cho rằng: giúp đỡ một dân tộc khác bảo vệ độc lập tự do của họ cũng chính là bảo vệ lợi ích của đất nước mình, “giúp bạn là tự giúp mình”. Đây chính là một bước phát triển mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế. Vì lẽ đó, Người luôn động viên nhân dân Việt Nam vừa tiến hành sự nghiệp bảo vệ độc lập tự do của dân tộc mình, vừa thực hiện sự giúp đỡ vô tư chí tình, chí nghĩa đối với các dân tộc anh em.

Sự đoàn kết ấy là nhằm những mục tiêu lớn của thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là hợp tác hữu nghị với tất cả các nước, các dân tộc. Sự đoàn kết ấy dựa trên cơ sở bình đẳng và kết hợp giữa lợi ích quốc gia với lợi ích quốc tế.

4. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Trong bài “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế” (1953), Người đã nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần Quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hoà bình thế giới”. Nếu tinh thần yêu nước không chân chính và tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn đến chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hoặc chủ nghĩa bành trướng bá quyền, kỳ thị chủng tộc… Những khuynh hướng sai lệch ấy có thể dẫn đến chỗ phá vỡ một quốc gia dân tộc hay một liên bang đa quốc gia dân tộc, phá vỡ tình đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chung, thậm chí có thể đưa đến tình trạng đối đầu đối địch. Đây là một thực tế đã diễn ra ở châu Âu và nhiều khu vực trên thế giới hiện nay.

Có thể nói tinh thần quốc tế trong sáng trong đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ tình thương yêu đối với con người; vì mục tiêu giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, mang lại tự do và bình đẳng thực sự cho con người. Từ chủ nghĩa quốc tế trong sáng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng và xây dựng nên tình đoàn kết quốc tế rộng lớn của nhân dân Việt Nam với các dân tộc trên thế giới, góp phần vào những thắng lợi to lớn của nhân dân Việt nam và nhân dân thế giới.

Trong thời kỳ mới của cách mạng, nguồn lực quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước chính là mở rộng tình đoàn kết quốc tế, quan hệ hợp tác cùng có lợi, chủ động, tích cực hội nhập, như Đảng ta đã khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế… Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực” (Văn kiện Đại hội X của Đảng. Tr. 112. NXB CTQG – Hà Nội – 2006). Nguyễn Thuý Đức – Bảo tàng Hồ Chí Minh

Nguồn: baotanghochiminh.vn

tuoitrebinhduong.vn

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng văn hóa

Bác Hồ đi thăm bà con nông dân tỉnh Tuyên Quang trong cải cách ruộng đất

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như việc vận dụng tư tưởng của Người trong mọi lĩnh vực của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, với sự đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cách mạng cũng như những con người Việt Nam mới luôn là vấn đề thời sự, thể hiện tính cần thiết, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục đào sâu suy nghĩ, kiên trì phấn đấu và noi theo. Đó là sự nghiệp của toàn Đảng, của hệ thống chính trị, nhằm góp phần xây dựng thành công một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

1 – Vị trí của vấn đề đạo đức trong văn hóa nói chung

Văn hóa, theo định nghĩa chung nhất, là những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo nên trong tiến trình lịch sử. Còn theo cách hiểu thông thường nhất, đó là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, bao gồm cả tư tưởng xã hội, tri thức xã hội, đạo đức xã hội, đời sống và lối sống xã hội…

Không phải đến bây giờ, mà ngay từ lâu, khi Đảng ta mới thành lập và khi nhà nước cách mạng mới ra đời, Bác Hồ đã khẳng định rằng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Có nghĩa, đạo đức chỉ là một bộ phận của văn hóa chứ không phải là toàn bộ nền văn hóa. Tuy nhiên, đó là bộ phận có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Bởi lẽ, khi xem xét trình độ văn hóa của một xã hội, người ta không thể không nói đến con người trong xã hội, mà nói đến con người thì không thể không nói đến đạo đức. Tư tưởng xã hội và đạo đức xã hội đều có vai trò quyết định đối với hành vi của con người trong xã hội. Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc sống và hành động được dư luận xã hội thừa nhận. Những tiêu chuẩn, nguyên tắc đó quy định, điều chỉnh hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Như vậy, đạo đức cũng chính là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đó mà có. Trong các quan hệ xã hội, những vấn đề thuộc về dân tâm, dân ý, dân trí, dân quyền, và dân sinh …, đều thuộc về và là sự biểu hiện của văn hóa một xã hội, mà mức độ biểu hiện cao hay thấp tùy thuộc một phần quan trọng vào đạo đức.

2 – Vị trí của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh

Đại hội IX của Đảng ta đã đưa ra một mệnh đề cấu thành định nghĩa rất chuẩn xác về tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu không phải dưới góc độ những ý kiến, những suy nghĩ riêng lẻ, cụ thể, mà trong sự tổng hợp có tính hệ thống, tức là nghiên cứu dưới góc độ một học thuyết chính trị – cách mạng. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa lại là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu, một mẫu mực tuyệt vời về đạo đức, không chỉ đạo đức của con người xã hội mà còn là đạo đức của một lãnh tụ cách mạng, suốt đời hy sinh, phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Tuy nhiên, nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nghiên cứu những phẩm chất cao quý thể hiện trong cuộc sống của Người, mà còn là nghiên cứu những quan điểm của Người về đạo đức, những quan điểm đó đã, đang và sẽ còn chỉ đạo dài lâu cho sự nghiệp của Đảng ta xây dựng văn hóa dân tộc nói chung và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng.

Xuyên suốt các tác phẩm của Người, từ “Đường Cách mệnh” (1927), “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Cần, kiệm, liêm, chính” (1949) cho đến “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969) và bản Di chúc của Người (1969), ta thấy toát lên tinh thần và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.

Khái niệm đạo đức, được Hồ Chí Minh tập trung đề cập trong các tác phẩm của Người là đạo đức của xã hội mới, cao hơn nữa là đạo đức cách mạng, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Những phẩm chất đạo đức cao quý chung nhất, cơ bản nhất mà Người nêu lên đối với cán bộ cách mạng:

Một là: Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Không phải một lần mà rất nhiều lần, không phải đối với một số đối tượng nhất định mà đối với rất nhiều đối tượng khác nhau, Người luôn luôn nhắc nhở rằng, điều chủ chốt nhất của đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, là trung với nước, hiếu với dân.

Hai là: Nhân, nghĩa, trí, dũng. Nhân là thật thà yêu thương, giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn sàng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không ngại cực khổ, không sợ uy quyền. Nghĩa là ngay thẳng, không có tà tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Trí là đầu óc trong sạch, sáng suốt, dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng, biết xem người, xét việc,… Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa; cực khổ khó khăn có gan chịu đựng; có gan chống lại vinh hoa phú quý không chính đáng; nếu cần, có gan hy sinh cả tính mạng mình…

Ba là: Cần, kiệm, liêm, chính. Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm; thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta… Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của của nhân dân, của nước, của bản thân mình, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi; không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén lu bù… Liêm là luôn luôn tôn trọng, gìn giữ của công và của dân; phải trong sạch, không tham lam; không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình… Chính “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”. Đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa chữa điều dở… Đối với người thì không nịnh hót cấp trên, không xem khinh người dưới; luôn luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà… Cần, kiệm, liêm, chính luôn luôn đi liền với chí công, vô tư, tức là hết lòng chăm lo công việc chung, không tơ hào, tư lợi.

Trung, hiếu, nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đều là những khái niệm vốn có từ Nho học và đạo đức từ lâu đời của ông cha ta, song đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đổi mới và phát triển, thậm chí có những khái niệm đổi mới hẳn về nội dung, như xưa kia là trung với vua, hiếu với cha mẹ, nay là trung với nước, hiếu với dân. Do đó, những phẩm chất đạo đức được Người nêu lên chính là những phẩm chất của đạo đức mới, của con người mới và nền văn hóa mới. Nó là sự kết hợp tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa đạo đức của nhân loại.

Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn có tầm sâu rộng hơn, vượt qua khuôn khổ quốc gia để tạo nên sự kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, xem “bốn phương vô sản đều là anh em”…

3 – Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) của Đảng ta nêu rõ rằng, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những nội dung cơ bản của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng yêu cầu: đưa các nhân tố văn hóa, tinh thần thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, ghi rõ: “Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa, phải xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước…” và khẳng định rằng: “Đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình”. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa yêu cầu: “Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân”. Kết luận của Hội nghị Trung ương 10, khóa IX, nhấn mạnh: Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước. Trong Diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Đảng, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng yêu cầu phải phấn đấu để mỗi tổ chức đảng và đoàn thể, mỗi cơ quan nhà nước đều là “một tấm gương văn hóa trong xã hội”.

Nhắc lại các nghị quyết nói trên để thấy rõ tính bức bách của nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay; cũng là để thấy rõ rằng muốn xây dựng được tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết phải xây dựng được các phẩm chất đó trong các tổ chức của Đảng và bộ máy của Nhà nước…

Đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức mà chúng tôi vừa đề cập, ta càng thấy rõ vai trò quan trọng biết dường nào của đạo đức cách mạng trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung, và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng. Không phải ngẫu nhiên trong Di chúc Người nói về Đảng và đặc biệt nhấn mạnh vấn đề đạo đức: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Những lời dạy của Bác Hồ về đạo đức cách mạng, đối với Đảng ta, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, ngày nay vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi; nhất là những phẩm chất trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân, về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, về đảng viên đi trước, làng nước theo sau… là không bao giờ cũ. Nếu có cái gì gọi là cũ thì đó chính là nhận thức của chúng ta về các lời dạy của Bác không đến nơi, đến chốn, không thật đầy đủ và nhuần nhuyễn, nhất là chúng ta nói mà không đi đôi với làm, hoặc nói nhiều làm ít, khiến cho đời sống văn hóa trong Đảng, nhất là đời sống về đạo đức, có những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII, đòi hỏi phải khắc phục bằng được tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức và lối sống trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, một căn bệnh nguy hiểm đang đục khoét cơ thể sống của Đảng ta. Trong cuộc chiến đấu sinh tử này, mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta càng phải đề cao trách nhiệm tu dưỡng và thực hành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

Theo Hà Đăng
(Tạp chí Cộng sản tháng 8-2005)

dalat.gov.vn

Lời dặn của Bác đã đi sâu vào hàng vạn trái tim

Chúng tôi về Nông trường Đông Hiếu vào một chiều cuối năm, Giám đốc Nông trường ông Thiếu Văn Anh tiếp chúng tôi thân tình và cởi mở, ông nói rất vui: “Cán bộ công nhân viên nông trường Đông Hiếu cũng như người dân Phủ Quỳ đang nô nức chuẩn bị lễ kỷ niệm lớn nhân 50 năm ngày Bác Hồ về thăm nông trường”.

Ngày ấy, về thăm Nông trường Đông Hiếu – một trong những lá cờ đầu trong sản xuất nông nghiệp của miền Bắc, Bác đã đi thăm các cơ sở sản xuất của nông trường, gặp gỡ nói chuyện thân tình với hơn một vạn cán bộ và nhân dân huyện Nghĩa Đàn.

Mọi người còn nhớ mãi lời dặn dò của Bác: “Mỗi một công nhân, mỗi một cán bộ cần đề cao tinh thần làm chủ, làm chủ nước nhà, làm chủ nông trường… Các nông trường có nhiệm vụ đoàn kết và tìm cách giúp đỡ đồng bào địa phương, vì vậy đồng bào địa phương cần đoàn kết với nông trường học tập cách lao động của nông trường xây dựng hợp tác xã cho tốt. Đời sống xã viên ngày càng ấm no, thế là XHCN”.

Đã 5 thập kỷ trôi qua, Nông trường Đông Hiếu cũng đã trải qua biết bao thăng trầm, vượt qua nhiều khó khăn thách thức vươn lên phát triển bền vững theo lời Bác dặn. Trong cơ chế nền kinh tế thị trường nghiệt ngã, cán bộ và công nhân viên đoàn kết phấn đấu không mệt mỏi gặt hái được nhiều thành tích đáng phấn khởi.

Qua việc chuyển đổi cơ chế mới, xóa bỏ quan liêu bao cấp, hiện nay nông trường thực hiện kinh doanh sản xuất bằng hình thức khoán đất cho người lao động. Với tổng diện tích quản lý 1.300 ha đã giao cho hơn 400 gia đình công nhân.

Đến năm 2010, tổng sản phẩm xã hội đạt hơn 400 tấn mủ cao su và gần 300 tấn cà phê, chưa kể các sản phẩm cam, mía và chăn nuôi… Ước đạt giá trị trên đất xấp xỉ hơn 22 tỷ đồng.

Nông trường đang tổ chức 8 đội sản xuất, trong đó nhiều đội làm kinh tế giỏi như đội Đồng Quang, với sản lượng kinh doanh cây cao su và cà phê gần 100 ha nhiều năm đạt và vượt chỉ tiêu.

Ông Nguyễn Xuân Lương, đội trưởng đội Đồng Quang cho biết: “Các gia đình công nhân trong đội Đồng Quang không còn gia đình nào nghèo đói mà phần đông là kinh tế khá giả. Ngoài nguồn thu từ cà phê, cao su còn có các khoản thu khác như trồng mía, chăn nuôi cũng ngót nghét 50 triệu đồng/năm”.

Chúng tôi đi tham quan khu vực sản xuất, trước mắt hiện ra những cánh rừng cao su xanh ngát, mênh mông, phía Bắc nông trường những vùng cà phê trĩu quả nối nhau hút tầm mắt.

Gặp ông Phan Minh Hảo, công nhân nông trường thuộc đội Đồng Quang, ông nói: “Trước đây, công nhân chúng tôi thích trồng cà phê. Cây cà phê trồng trên đất đỏ Phủ Quỳ thơm ngon ít nơi sánh kịp. Đến mùa thu hoạch, các thương gia từ Buôn Mê Thuột ra thu mua đưa vào Đắc Lắc, cà phê Đông Hiếu trở thành thương hiệu cà phê Tây Nguyên. Nhưng trồng cà phê không kinh tế bằng cây cao su. Tuy nhiên, trồng cao su vốn lớn hơn, nhưng hiện nay kinh tế gia đình đã khá hơn, các gia đình công nhân nhận đất khoán của nông trường đang chuyển hướng sang trồng cây cao su. Cây cao su có chu kỳ kinh tế kéo dài trên dưới 50 năm nhất định sẽ đem lại lợi nhuận kinh tế lớn hơn”.

Ông nói tiếp: “Hiện nay vấn đề người dân bức xúc là tại vùng trồng cà phê, cao su có nạn tranh mua cướp bán do một số đầu nậu ôm hàng. Đã lắm lúc xảy ra tranh chấp, xô xát phải gọi lực lượng công an tới mới giải quyết được…”.

Trao đổi về việc đảm bảo an ninh trật tự tại Đông Hiếu, lãnh đạo nông trường cho biết: “Để làm kinh tế tốt phải gắn liền với việc làm tốt công tác an ninh trật tự để bảo vệ cây trồng tại nông trường cho công nhân có điều kiện thâm canh. Chúng tôi thường xuyên mời Công an huyện về mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho anh em bảo vệ cũng như xây dựng lực lượng công nhân làm nhiệm vụ dân phòng. Biết kết hợp với Công an xã Đông Hiếu và Công an huyện để xây dựng mạng lưới đảm bảo ANTT, cũng như phát động người dân tự nguyện tố giác tội phạm thì địa bàn mới trong sạch, công nhân và nông dân mới yên tâm lao động sản xuất”.

Nhờ lấy dân làm gốc, địa bàn Nông trường Đông Hiếu gần đây đã đẩy lùi được tệ nạn trộm cà phê, cam và mủ cao su… Bên cạnh đó, nông trường còn tổ chức cho các gia đình công nhân cam kết với chính quyền địa phương “nói không với ma túy và các tệ nạn xã hội”. Nhờ vậy, tuy là trung tâm buôn bán thương mại nhưng khu vực Đông Hiếu hiện tại ANTT khá lành mạnh.

Dẫu biết rằng thời kỳ đất nước mở cửa, hội nhập kinh tế toàn cầu hóa, bên cạnh những thành tích đã đạt được, Nông trường Đông Hiếu vẫn còn những việc làm phải trăn trở với lời căn dặn của Bác trước lúc Người đi xa.

Lê Hoa

congannghean.vn

Đẩy mạnh giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên

(ĐCSVN)- Mỗi một giai cấp trong lịch sử, mỗi một dân tộc, một cộng đồng dù lớn, hay nhỏ đều có giá trị và chuẩn mực đạo đức riêng. Đạo đức thuộc phạm trù ý thức xã hội, cũng như các loại hình thái ý thức xã hội khác, nó được hình thành và phát triển trên một cơ sở kinh tế – xã hội nhất định và điều kiện lịch sử nhất định.

Đạo đức của giai cấp vô sản – đạo đức cộng sản – được hình thành và phát triển trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp những người lao động, giải phóng dân tộc và nhân loại khỏi áp bức, bất công. Đạo đức ấy tác động góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh đó. Lênin cho rằng đạo đức cộng sản góp phần cải tạo xã hội cũ và xây dựng một xã hội mới tốt đẹp. Trên ý nghĩa đó đạo đức mang tính cách mạng.

Nhận thức vai trò chủ động, tích cực của đạo đức, ngay khi chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 1927 trong tác phẩm Đường kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đặt lên trang đầu nội dung về tư cách một người cách mệnh. Có thể coi đó là chuẩn mực đầu tiên cần có cho những ai bước vào con đường cách mạng. Tư cách ấy có 3 nhóm vấn đề: tự mình phải làm gì; đối với người phải thế nào; làm việc phải như thế nào. Trong 14 điểm tự mình phải làm gì rất đáng chú ý như: Giữ chủ nghĩa cho vững; không hiếu danh, không kiêu ngạo; nói thì phải làm; ít lòng tham muốn về vật chất; cần kiệm; vị công vong tư … Có ý nghĩa sâu sắc, bền vững. Nhiều thế hệ các chiến sĩ cách mạng, những đảng viên cộng sản đã giữ vững khí tiết cộng sản, ý chí đấu tranh trên nền đạo đức đó.

Ngay từ khi đi tìm đường cứu nước và chuẩn bị thành lập Đảng, chính Nguyễn Ái Quốc là hiện thân của những tư cách đạo đức đó. Mùa xuân năm 1930 Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam. Từ đó Đảng được trang bị lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, những tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc và cả đạo đức mới – đạo đức cách mạng.

Với thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền ở Việt Nam. Ngay sau đó, trong bộ máy chính quyền cách mạng các cấp đã xuất hiện những tiêu cực, những căn bệnh cần phải loại trừ. Trong thư gửi chính quyền các cấp ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những căn bệnh như: Trái phép, Cậy thế, Hủ hoá, Tư túng, Chia rẽ, Kiêu ngạo. Người nhấn mạnh: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa, nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc vô cùng khó khăn gian khổ đặt ra những yêu cầu nghiêm khắc về tu dưỡng đạo đức cách mạng. Trong tác phẩm sửa đổi lối làm việc (10-1947) Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiêm khắc chỉ ra những khuyết điểm, sai lầm của một số cán bộ, đảng viên với các bệnh tham nhũng, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi địa phương chủ nghĩa, bè cánh cá nhân… Người nhấn mạnh 5 đức tính tốt cần rèn luyện đó là: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Đó là đạo đức cách mạng.
Sau ngày miền Bắc được giải phóng (1954) và tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đảng cầm quyền đứng trước những nhiệm vụ mới mẻ, nặng nề. Điều đó đòi hỏi cán bộ, đảng viên của Đảng phải có trình độ học vấn và lý luận nhất là lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội, hiểu biết về kinh tế, nắm bắt quy luật và đặc điểm thực tiễn. Mặt khác phải tu dưỡng đạo đức nhiều hơn để khắc phục những nguy cơ của Đảng cầm quyền. Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm quan trọng: Đạo đức cách mạng. Người nêu rõ, đạo đức cách mạng là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”.

Ngày 3-2-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Người cho rằng: “Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”. “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và kỷ luật”. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ.

Trong bản Di chúc lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Làm theo Di chúc của Người, trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn chú trọng đổi mới, chỉnh đốn Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Quan điểm nhất quán của Đảng là coi trọng đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đảng viên cả về đức và tài trong đó đức là gốc.

Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam (4-2006) nhấn mạnh nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng nhằm đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Nội dung xây dựng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng được Đại hội đề cập toàn diện từ nâng cao trình độ trí tuệ, lý luận, bản lĩnh chính trị đến đổi mới tổ chức, bộ máy, công tác cán bộ, từ thực hiện tốt nhất những nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng đến kiện toàn và đổi mới tổ chức hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, từ đổi mới phương thức lãnh đạo đến nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Chất lượng đội ngũ đảng viên thể hiện ở trình độ học vấn, hiểu biết lý luận, ở năng lực tổ chức thực tiễn, năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, ở khả năng, trình độ chuyên môn cao và ở phẩm chất, đạo đức tốt. Rèn luyện về phẩm chất đạo đức, nâng cao đạo đức cách mạng trở thành yêu cầu và nội dung rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đại hội X cũng thẳng thắn chỉ ra rằng “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ công chức diễn ra nghiêm trọng”.

Để khắc phục tình trạng đó, đẩy mạnh công tác xây dựng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã và đang kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, tệ quan liêu, vô cảm, vô trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức. Từ ngày 1-6-2006 Luật Phòng, chống tham nhũng, lãng phí có hiệu lực, là cơ sở pháp lý quan trọng để chống tham nhũng, lãng phí có hiệu quả. Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X (7-2006) đã ra nghị quyết Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Trung ương Đảng nhấn mạnh quan điểm, vừa tích cực, chủ động phòng ngừa, vừa kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, trong đó phòng ngừa là chính. Làm sao để tệ nạn tham nhũng, lãng phí bị đẩy lùi, không còn diễn ra nữa. Đó là mong muốn của toàn Đảng, toàn dân. Các giải pháp cơ bản đã được đề ra. Trong các giải pháp đó, vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là rất quan trọng và cần thiết và phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, sâu sắc.

Ngày 7-11-2006 Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 06-CT/TƯ về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Toàn Đảng thực hiện Chỉ thị đó với đợt sinh hoạt chính trị học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh từ ngày 3-2-2007. Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra những nội dung, tiêu chuẩn của đạo đức cách mạng để mọi đảng viên, cán bộ phấn đấu, rèn luyện, mà chính Người là hiện thân và nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng.

Đạo đức Hồ Chí Minh trước hết là Người đã suốt đời “hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”, là tận trung với nước, tận hiếu với dân. Độc lập cho Tổ quốc, hạnh phúc cho đồng bào là mục tiêu phấn đấu của Người. Ham muốn tột bậc của Người là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một ngày mà đất nước chưa độc lập, thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày Bác ăn không ngon, ngủ không yên. Người đau nỗi đau của nhân dân, vui niềm vui và hạnh phúc của nhân dân. Yêu nước, thương dân, một lòng tận tụy vì nước, vì dân, mở lòng mình hoà vào cuộc sống của nhân dân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là ý chí, nghị lực vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chấp nhận mọi hiểm nguy với niềm tin vào tương lai của cách mạng, của đất nước, dân tộc, tin vào con người. Đó là một con người mà uy vũ không thể khuất phục, gian khó chẳng thể chuyển lay, vật chất không thể cám dỗ. Ở Hồ Chí Minh sáng ngời lý tưởng cộng sản, phấn đấu cho một xã hội tốt đẹp, công bằng, căm ghét những gì xấu xa, hư hỏng. Người kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, vì chủ nghĩa cá nhân là nguồn gốc của mọi tiêu cực và những căn bệnh xấu, chủ nghĩa cá nhân làm tha hoá con người:
Hồ Chí Minh đã sống “một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”. Người là hiện thân của lòng nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, của “muôn vàn tình thân yêu” để lại cho muôn đời con cháu. Người là bậc đại trí, đại nhân, đại dũng nhưng lại vô cùng khiêm tốn, giản dị, càng vĩ đại vì giản dị. Người luôn luôn sống như một người bình thường, hoà đồng, gần gũi với nhân dân và không chấp nhận bất cứ một đặc ân, đặc quyền, đặc lợi gì cho riêng mình, không ham danh lợi, chức vụ, tiền tài. Hồ Chí Minh không có của cải, tài sản riêng và trên ngực không một tấm Huân chương, “một đời thanh bạch chẳng vàng son”.

Hồ Chí Minh là mẫu mực về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Suốt đời Người học tập và làm việc không mệt mỏi để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Trí tuệ Hồ Chí Minh là kết quả của sự học tập, nghị lực tự học phi thường, học từ thực tiễn, từ sách vở, từ giá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại. Người vừa lao động vừa hoạt động cách mạng. Khi ở cương vị lãnh đạo cao nhất vẫn tiết kiệm từng đồng tiền, hạt gạo, từng mẩu giấy, mẩu bút chì, tranh thủ từng phút, từng giờ cho công việc. Ở Hồ Chí Minh là sự công minh, chính trực, không thiên tư, thiên vị, đồng thời chứa chan tình yêu thương đối với gia đình, họ hàng, quê hương, xứ sở, một con người trung hiếu vẹn toàn.

Đạo đức Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa nói và làm. Người coi trọng công việc thực tế mà nói ít. Đã nói là phải làm. Người trân trọng, khích lệ những điều tốt đẹp những gương người tốt việc tốt. Người phê phán thói ba hoa, nói suông, hứa suông mà không làm hoặc nói hay mà làm dở, nói một đằng làm một nẻo. Người kết hợp mật thiết giữa lý luận với thực tiễn, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn Việt Nam và luôn luôn tổng kết thực tiễn để trở thành lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên ý nghĩa đó, đạo đức đúng như Lênin nói đã góp phần cải tạo, đẩy lùi cái xấu và xây dựng một xã hội tốt đẹp.

Học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh chắc chắn làm cho Đảng ta, Nhà nước ta mạnh lên, chế độ ta và mỗi con người tốt đẹp thêm lên và tin rằng sẽ ngăn chặn, đẩy lùi được tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và mọi thói hư, tật xấu khác làm cho công cuộc đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa có thêm nhiều thành tựu mới, thực hiện thành công nguyện ước của Bác Hồ.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc

dalat.gov.vn

Cuộc hành trình của thời đại

ảnh minh hoạ

Ngày 5-6 cách đây 100 năm, Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước. Thế giới kính trọng ghi nhận: “Hồ Chủ tịch, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Từ những năm 1920, trên nhiều diễn đàn, Hồ Chí Minh được xem như biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước, là một chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giải phóng dân tộc, chống áp bức bất công. Con đường cứu nước của Người là một sáng tạo, một khát vọng cao cả. Người đem hết nghị lực cho công cuộc giải phóng công – nông. Từ con đường cứu nước độc đáo, sáng tạo của mình, Người đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Qua 30 năm bôn ba khắp thế giới, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, Người không chỉ làm giàu trí tuệ, bản lĩnh của mình mà còn kiến tạo cho Việt Nam và thế giới một tương lai mới, một tương lai của hòa bình, hữu nghị, hợp tác. Dù đi qua con đường cứu nước đầy những gian nan, trắc trở nhưng Người vẫn bình tĩnh, vững vàng, chịu đựng một cách kiên cường, tự tại, bao dung. Người vừa bình dị vừa cao cả. Người là một tấm gương cho đức hy sinh vì dân, vì nước; là niềm tin, chỗ dựa của đất nước, của dân tộc. Di sản tư tưởng của Người là cứu cánh đưa Đảng thoát khỏi cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối trong những năm cuối thế kỷ XX. William J.Duiker, giáo sư sử học Mỹ, tác giả tập Ho Chi Minh a life, Hyperion, một cuốn tiểu sử được coi là đầy đặn nhất đã được xuất bản ở Mỹ năm 2000, cho rằng con đường cứu nước Hồ Chí Minh là sự tìm lại cho Việt Nam một “quốc thể”, “một là độc lập dân tộc, hai là công bằng xã hội và kinh tế”. Con đường cứu nước của Hồ Chí Minh thiên tài “ở chỗ đã kết hợp được những giá trị của phương Tây với những giá trị của CNXH vào Việt Nam”.

Con đường cứu nước Hồ Chí Minh thể hiện một trí tuệ Hồ Chí Minh, từ lúc tìm đường, lựa chọn con đường đến sự dung hợp một cách xuất sắc giữa chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa dân tộc và kiên trì đến cùng để thực hiện lý tưởng giải phóng dân tộc, làm cho mọi người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành; xây dựng một đất nước công bằng, dân chủ, văn minh. Con đường cứu nước Hồ Chí Minh là sự sáng tạo của một nhà tư tưởng thông thái, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, kế thừa xuất sắc những giá trị, tư tưởng tiến bộ dân chủ tư sản của phương Tây, đã thực tiễn hóa lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin bằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Ngày nay, nhiều học giả, nhà nghiên cứu phương Tây vẫn tiếp tục hành trình nghiên cứu, tìm hiểu lại con đường cứu nước Hồ Chí Minh. Bà Dominique de Miscault, Tổng Biên tập tạp chí Viễn cảnh Pháp – Việt, nói về con đường cứu nước Hồ Chí Minh: “Hồ Chủ tịch rất am hiểu về đất nước và dân tộc mình, một người yêu chuộng hòa bình, một học giả tiến bộ. Người đã chiến đấu và cuộc chiến đấu do Người lãnh đạo đã tạo nên sự vĩ đại của dân tộc Việt Nam, vì dân tộc này đã chiến thắng. Đây là di sản diệu kỳ nhất mà Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam”.

Nguồn: baobinhduong.org.vn (TT)

tuoitrebinhduong.vn

Tư tưởng đoàn kết quân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(Congannghean.vn) – Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mối quan hệ quân dân là mối quan hệ đặc biệt, “quan hệ cá nước”. Trong đó, “nhân dân là nền tảng, là cha là mẹ của bộ đội” (Hồ Chí Minh toàn tập. T5).

Quân đội muốn hoàn thành được nhiệm vụ cao cả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó thì phải gắn bó mật thiết máu thịt với nhân dân. Bởi vì, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng mọi sức mạnh đều ở nhân dân, từ cơm ăn, áo mặc, xe cộ đi lại đến vũ khí đánh giặc đều do mồ hôi công sức nhân dân mà có.

Trước ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, trong một lần trò chuyện với đồng chí Võ Nguyên Giáp ở Pắc Bó (Cao Bằng), Bác nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng: “Phải biết dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được”.

Đó chính là nền tảng ban đầu cho vấn đề đoàn kết quân – dân. Ngay trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Bác cũng đã nêu rõ: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”.

Những ngày đầu thành lập, những người đứng đầu Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân hỏi Bác: Đội tuyên truyền hoạt động theo kế hoạch của liên tỉnh, khi tới địa phương thì quan hệ thế nào? Bác nói: “Thống nhất chỉ đạo cả chủ lực và địa phương. Ba lực lượng ấy đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với nhau…”. Đó cũng chính là phương châm mà quân đội ta đã thực hiện trong suốt hai cuộc kháng chiến lâu dài.

Trong hồi ký “Một lòng theo Bác”, Thượng tướng Chu Văn Tấn có viết: Bác căn dặn rằng: “Cán bộ không được tự kiêu, tự mãn như ông tướng, mà phải khiêm tốn… Phải lấy dân làm gốc như cá dựa vào nước tùy theo lực lượng của quần chúng mà nâng dần lên; Phải gương mẫu, chịu hi sinh gian khổ, đi đầu trong mọi khó khăn…”. Bộ đội về Bắc Sơn, Vũ Nhai đánh giặc, tới Đông – Ngàn, thấy quần chúng đông nghịt như hội, hát si, hát lượn… Hỏi ra thì biết, nhân dân tổ chức si lượn để che mắt địch, đón bộ đội.

Trong điều kiện hiện nay của đất nước ta, nhắc lại tư tưởng của Bác về vấn đề đoàn kết quân dân vẫn là điều vô cùng cần thiết và quan trọng. Để thực hiện tốt tư tưởng trên của Người và không ngừng tăng cường, củng cố, phát triển mối quan hệ máu thịt này, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đang ra sức thi đua và thực hiện tốt những vấn đề lớn theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quân dân.

Người khẳng định: “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do nhân dân đẻ ra, vì nhân dân mà chiến đấu” (Hồ Chí Minh toàn tập. T5). Người luôn nhắc nhở, giáo dục cán bộ, chiến sĩ phải hiểu rõ: nhân dân là nền tảng, là gốc rễ sinh ra quân đội. Muốn quân đội vững mạnh thì phải dựa vào cái gốc, cái nền tảng ấy: “Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 2, Bác đã có thư gửi đồng bào, chiến sĩ và nêu rõ: “… Chúng gây nên chiến tranh… muốn chia rẽ dân ta… Trước sự xâm lược dã man đó, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta đã đoàn kết thành một bức tường đồng, kiên quyết giữ gìn Tổ quốc, nhờ tinh thần đoàn kết, ý chí quật cường đó, mà hai năm kháng chiến… lực lượng của địch thì ngày càng hao mòn, ta thì càng đánh càng hăng, càng mạnh… Hãy tin tưởng vào vận mệnh lớn lao của Tổ quốc, tin tưởng vào sức đoàn kết, chiến đấu của ta… Tướng sĩ ở mặt trận, đồng bào ở hậu phương, ai nấy đều phải đoàn kết chặt chẽ… thì cuộc trường kì kháng chiến của ta nhất định thành công” (Hồ Chí Minh toàn tập, T4).

Bác dạy: “Mình đánh giặc là vì dân, nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân mà mình phải có trách nhiệm phụng sự nhân dân” (HCM toàn tập.T6). “Phải giúp đỡ nhân dân bất kì việc to, việc nhỏ” … Đó là điều “Thương dân, trọng dân, tốt với dân”. Có vậy, mới gắn bó chặt chẽ được với nhân dân, mới được dân tin, dân phục, dân yêu.

Quán triệt, thấm nhuần và tiếp thu tư tưởng đoàn kết quân dân của Hồ Chủ tịch, 67 năm qua, những thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã kế tiếp chăm lo xây dựng, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết quân dân. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, mối quan hệ quân dân cá nước, đoàn kết gắn bó keo sơn đó đã phát huy được sức mạnh hiệu quả của nó.

Nguyễn Thanh

congannghean.vn

Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh qua tác phẩm “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo hai vấn đề lớn liên quan nguy cơ của Ðảng cầm quyền. Một là, sai lầm về đường lối của Ðảng, và hai là, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Bước chân vào con đường hoạt động cách mạng, Bác Hồ quan tâm hàng đầu tới việc giáo dục đạo đức cho mọi người Việt Nam yêu nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.

Theo Người, tư cách của người cách mạng là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp các thế hệ người Việt Nam vững tin đi vào con đường cách mạng và đưa sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản đến thắng lợi cuối cùng. Bởi vì, đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng. Mọi việc thành hay bại, chủ yếu là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không. Ðạo đức cách mạng không chỉ tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù, mà còn là thước đo lòng cao thượng của con người.

Bác Hồ quan tâm đạo đức cách mạng một cách nhất quán, xuyên suốt từ những năm hai mươi đến tận cuối đời. Người đặc biệt chú trọng cả hai mặt lý luận và thật sự thực hành đạo đức của cán bộ, đảng viên từ khi Ðảng ta trở thành Ðảng cầm quyền. Tại sao như vậy? Bởi vì trong điều kiện Ðảng cầm quyền thì cán bộ, đảng viên dễ mắc bệnh quan liêu, nhũng lạm. Trong điều kiện Ðảng cầm quyền, hệ thống chính trị là tấm gương của xã hội. Gương sáng thì dân soi, gương mờ làm lòng dân không yên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo hai vấn đề lớn liên quan nguy cơ của Ðảng cầm quyền. Một là, sai lầm về đường lối của Ðảng, và hai là, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tóm lại, Ðảng cầm quyền liên quan vận nước. Ðảng và mỗi cán bộ, đảng viên vui với mỗi bước phát triển, đi lên của đất nước và phải chịu trách nhiệm trước những lời kêu ca, phàn nàn của dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh có nỗi quan tâm lớn từ khi Ðảng ta trở thành Ðảng cầm quyền, bởi sứ mệnh nặng nề của Ðảng là làm cho dân tự do, hạnh phúc sau khi giành được độc lập dân tộc. Người chú trọng giáo dục việc nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Nâng cao đạo đức cách mạng, trước hết là nâng cao nhận thức và thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân. Trong điều kiện Ðảng cầm quyền, Ðảng có quyền lực chính trị, lãnh đạo xã hội và hệ thống chính trị. Vì vậy, Ðảng phải nâng cao ý thức phục vụ nhân dân. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, thanh niên…, cùng với những đức tính cần cù, tiết kiệm, chính trực, thì phải trong sạch, không tham lam tiền của, đặc biệt không tham địa vị, quyền hành, vì địa vị quyền hành dẫn tới lợi ích vật chất. Là cán bộ, đảng viên thì phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước lợi ích cá nhân. Nêu cao ý thức phục vụ nhân dân là đạo đức đẹp đẽ nhất của mỗi cán bộ, đảng viên. Ðặc biệt, trên cơ sở nhận thức Ðảng cầm quyền, nhưng dân là chủ, là gốc; Ðảng cầm quyền cho dân làm chủ, cán bộ đảng viên phải có ý thức chịu trách nhiệm trước nhân dân. Vì Ðảng, Nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, như cách nói của Bác Hồ.

Chống suy thoái về đạo đức là chống lười biếng, xa xỉ, quan liêu và đặc biệt là chống sự nhũng lạm. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, là cán bộ, công chức Nhà nước thì dù ít, dù nhiều đều có quyền hành. Cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Có quyền mà thiếu lương tâm, không chịu tu dưỡng rèn luyện thì dễ trở nên hủ bại, dễ biến thành sâu mọt, dễ “dĩ công vi tư”. Vì vậy, tham nhũng theo tinh thần Hồ Chí Minh là bệnh của những người có quyền lực, lạm dụng quyền lực cộng với lòng tham để nhũng nhiễu dân. Muốn chống tham nhũng, phải chống cả xa xỉ, vì xa xỉ mà sinh ra tham nhũng. Mà chống tham nhũng trước hết là chống tham quyền. Chống tham nhũng phải bằng giáo dục, công tác tư tưởng. Nhưng chỉ có giáo dục đạo đức không thôi thì không thể xóa bỏ được tham nhũng, mà phải kết hợp chặt chẽ với pháp luật, mà quan trọng là tính khoa học và minh bạch của bộ máy; đồng thời phải dùng cả “pháp trị” với tính nghiêm minh của pháp luật, phép nước theo tấm gương Hồ Chí Minh.

Chống suy thoái về đạo đức, đặc biệt phải tập trung chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi vì chủ nghĩa cá nhân là một loại giặc, đồng minh với các loại giặc khác. Muốn chống các loại giặc khác, trước hết phải chống giặc trong lòng, tức chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh khác nhau. Nó không chỉ ảnh hưởng tới từng cá nhân, đối với dân tộc, mà còn làm mất niềm tin của nhân dân đối với Ðảng. Nói ngắn gọn, theo quan điểm Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là một trở lực trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, là đối lập với chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là chà đạp lên lợi ích cá nhân.

Giờ đây, trong bối cảnh tình hình mới, việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức trở thành một nhu cầu cấp bách và có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chứa đựng một ý nghĩa sâu xa về lý luận và thực tiễn, tiếp tục soi sáng công cuộc đổi mới đất nước.

PGS,TS Bùi Ðình Phong

dalat.gov.vn

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng qua một số tư liệu gốc tại bảo tàng cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới đã về với cõi vĩnh hằng được gần 38 năm. Người ra đi, nhưng đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một di sản vô cùng to lớn – đó là tư tưởng về đạo đức cách mạng.

Có thể nói rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng được bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, nền đạo đức đã được hình thành hàng ngàn năm suốt chiều dài lịch sử dân tộc và kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông cũng như tinh hoa đạo đức của nhân loại và dựa trên nền tảng tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Song, với tư duy độc lập và sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những giá trị đạo đức của quá khứ, đề xuất những tư tưởng đạo đức mới, phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Thông qua các tác phẩm, các bút tích gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, chúng ta có thể nhận thấy trong lĩnh vực đạo đức cách mạng, Người thường sử dụng nhiều khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo đức đã có từ trước như: trung, hiếu, nhân, nghĩa, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đã có trong Nho giáo từ mấy trăm năm trước Công nguyên; hoặc các khái niệm tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái… xuất hiện tại Tây Âu từ thời Hy-La cổ đại. Song Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “Việt Nam hóa” thành các khái niệm đơn giản dễ hiểu, dễ thực hiện và gần gũi hơn với cán bộ và nhân dân lao động.

Nhìn chung, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng có thể khái quát thành bốn nội dung cơ bản, là : Trung với nước, hiếu với dân ; Yêu thương con người; Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư và tinh thần quốc tế trong sáng. Trong hàng trăm trang tư liệu gốc – các bản thảo quí hiếm của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đang có vinh dự được lưu giữ, thì hai nội dung được đề cập đến nhiều nhất, đó là Trung với nước, hiếu với dân và Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Phẩm chất trung, hiếu là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống của người phương Đông, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng và đưa vào đó những nội dung mới. Tư tưởng trung với nước, hiếu với dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh không những kế thừa giá trị của chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, mà còn vượt qua những hạn chế của truyền thống đó. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì trung với nước là trung thành với sự nghiệp cách mạng, với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nước ở đây là nước của dân, còn dân chính là chủ nhân đích thực của nước.

Như chúng ta đã biết, sau gần 30 năm bôn ba ở nước ngoài đi tìm đường cứu nước, tháng 1 năm 1941 trở về Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập báo Việt Nam Độc lập (số đầu tiên ra ngày 1-8-1941) để tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Thông qua những mẩu chuyện, những tin, bài ngắn, súc tích, dễ hiểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương những tấm gương người tốt, việc tốt, qua đó để giáo dục tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, tinh thần dám xả thân vì độc lập tự do của dân tộc. Trên báo Việt Nam độc lập, số 3 ra ngày 21-8-1941, ngay trên trang nhất, báo đã in trang trọng câu thơ: “Có Tổ quốc mới có ta; Nước là rất trọng ta là rất khinh” (Khinh là xem nhẹ – TVH). Còn trong một tài liệu khác dưới tiêu đề “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh” do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo (bản gốc hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam), Người kịch liệt phê phán những cán bộ miệng thì nói dân chủ, nhưng khi thực hiện công việc thì lại theo lối quân chủ và xa rời nhân dân. Người viết: Bệnh quan liêu mệnh lệnh từ đâu mà ra? Nguyên nhân bệnh ấy là:

Xa nhân dân: do đó mà không hiểu tâm lý của nhân dân, nguyện vọng của nhân dân.

Khinh nhân dân: cho là dân ngu khu đen, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị cao xa như mình.

Sợ nhân dân: Khi có sai lầm khuyết điểm thì lại sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân thì việc nhỏ mấy dễ mấy làm cũng không xong; có lực lượng nhân dân thì việc khó mấy to mấy cũng làm được.

Không hiểu biết nhân dân: họ quên rằng nhân dân cần trông thấy quyền lợi thiết thực, lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc, đối với dân không thể lý luận suông.

Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất, cải thiện sinh hoạt, để bồi dưỡng sức của sức người của nhân dân.

Cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra cách chữa bệnh quan liêu mệnh lệnh là phải theo đúng đường lối quần chúng và phải thực hiện tốt 6 điều:
Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình.

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

Tự mình phải làm kiểu mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo.

Thực ra tư tưởng Hồ Chí Minh về chống bệnh quan cách, ức hiếp nhân dân đã được Người cảnh báo từ trước cách mạng Tháng Tám 1945. Khi hình thành khu giải phóng, có một số cán bộ hống hách, ức hiếp, ăn chặn của dân, xa rời dân, báo Việt Nam độc lập đã có một loạt bài lên án các ông quan cách mạng tha hóa ấy.

“Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” là một phẩm chất đạo đức gắn liền với các hoạt động hàng ngày của mọi người. Nhưng đối với những người cách mạng, thì đây là một phẩm chất quan trọng nhất. Vì vậy, trong các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng phẩm chất này được đề cập đến nhiều nhất, thường xuyên nhất. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cần kiệm liêm chính, chí công vô tư có quan hệ mật thiết với nhau. Có khi Người coi cần kiệm như hai chân của con người, phải đi đôi với nhau, có khi Người coi cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính quan trọng của mỗi con người, mà thiếu một đức tính thì không thành người. Đức tính cần kiệm được thể hiện ngay trong các việc làm nhỏ nhất và thường nhật của Người. Trong hơn 300 bài báo, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đang lưu giữ bản gốc, thì có tới 90% bài viết Người sử dụng các mảnh giấy loại đã viết một mặt: như bản tin, giấy tiêu đề của Chủ tịch phủ in bằng tiếng Trung Quốc, thậm chí có những bản thảo bài báo ngắn khoảng gần 200 chữ, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng hai mảnh giấy nhỏ chắp lại. Trong một tài liệu dài 5 trang đánh máy do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào năm 1949 dưới tiêu đề “Kiểm điểm công việc của Đảng”, Người đã chỉ ra một số khuyết điểm của các đảng viên, như: Trong cuộc đấu tranh to lớn, lâu dài, gay go, ít nhiều đảng viên, ít nhiều nơi không tránh khỏi những khuyết điểm: chủ quan, hẹp hòi, mạo hiểm, hủ hóa, xa quần chúng, chủ nghĩa địa phương, không giữ kỷ luật, làm việc luộm thuộm, tự kiêu, tự mãn v.v…

Dù đó là chứng bệnh thanh niên (có lẽ từ bệnh thanh niên ở đây nên hiểu là bệnh ấu trĩ – TVH), nhưng từ nay Đảng đòi hỏi các Đảng viên phải kiên quyết tẩy cho kỳ sạch những bệnh ấy, vì nếu không trị cho khỏi hết thì nó có thể lây ra mà trở nên rất nguy hiểm cho Đảng. Sau đó Người viết tiếp: Mỗi một đảng viên phải kiên quyết thực hành những việc sau đây:

– Nghiên cứu chủ nghĩa (không hiểu chủ nghĩa thì như mò trong đêm tối).

– Gần gũi quần chúng (cách xa quần chúng, thì việc gì cũng không thành).

– Giữ nghiêm kỷ luật (kỷ luật không nghiêm thì lực lượng kém sút)

– Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư (không làm được như thế, thì không xứng đáng là người cộng sản).

Trong một số tài liệu khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng, người cán bộ phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, vì trách nhiệm trước nhân dân chính là một trong những thước đo quan trọng về phẩm chất đạo đức của mỗi cán bộ đảng viên. Dưới tiêu đề “Tinh thần trách nhiệm”, một bài báo được viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và lấy bút danh là C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lý giải về tinh thần trách nhiệm của người nấu bếp, của người cán bộ quân sự được thể hiện các công việc hàng ngày và cuối cùng Người kết luận: Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ. Cũng nằm trong phông tư liệu gốc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đang lưu giữ có một tập Bản thảo chương trình lớp huấn luyện bổ túc cấp xã do Bộ Nội vụ chuyển giao ngày 14-8-1958. Tập bản thảo dài 27 trang đánh máy trên giấy dó đã ngả màu. Đây là tập giáo trình do Bộ Nội vụ soạn thảo từ năm 1949 dùng để tập huấn bổ túc kiến thức lãnh đạo cho cán bộ cấp xã trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Điều đặc biệt là tập bản thảo này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc và sửa chữa trực tiếp. Tại mục D – Công việc lãnh đạo từ nay về sau phải như thế nào? của phần thứ V giới thiệu về “Phối hợp lãnh đạo”, trong dự thảo có 5 tiểu mục là: Nhận thức cho rõ vai trò lãnh đạo; Học tập nghiên cứu; Phải có tinh thần trách nhiệm; Cùng nhau bàn bạc để thống nhất ý chí; Theo dõi đôn đốc điều tra. Sau khi xem Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thêm một số ý vào các tiểu mục và bổ sung thêm 2 tiểu mục mới. Cụ thể như sau: Tiểu mục Học tập nghiên cứu, Người sửa thành Học tập phương pháp lãnh đạo; tiểu mục Cùng nhau bàn bạc để thống nhất ý chí, Người sửa thành “Cùng nhau bàn bạc thống nhất chủ trương hành động”; Còn 2 tiểu mục Chủ tịch Hồ Chí Minh mới thêm là: 6/-Kiểm thảo; 7/- Học hỏi thêm. Sau đó Người viết thêm: Bất kỳ công việc gì, còn một người dân chưa hiểu rõ, chưa làm đúng tức là lãnh đạo còn kém. Cuối cùng, trong phần câu hỏi thảo luận, Người viết : Muốn lãnh đạo: 1/- Người cán bộ hiểu thật rõ công việc; 2/- Phải tìm cách giải thích cho mọi người hiểu việc đó; 3/- Cán bộ phải xung phong gương mẫu.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, thì tự phê bình và phê bình là một nguyên tắc không thể thiếu được trong xây dựng nền đạo đức mới – đạo đức cách mạng. Trong một bài báo dưới tiêu đề Phê bình (bản gốc lưu tại BTCMVN viết là Fê bình), được viết vào năm 1951 đã đăng trên báo Nhân dân, số 16 ra ngày 12-7-1951, sau khi giải thích thế nào là phê bình, cách thức phê bình, mục đích phê bình, nguyên tắc phê bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực hành dân chủ… Không phê bình tức là bỏ mất một quyền dân chủ của mình. Song phê bình phải đường hoàng, chính đáng, tuyệt không nên “thầm thì thầm thụt”, viết thư dấu tên như một vài cán bộ Thái Nguyên đã làm – (Chữ Thái Nguyên trong bản gốc, khi đưa đi đăng báo đã sửa lại thành ở T.N) (9). Phần cuối bài báo Người viết: Người ta luôn luôn cần lửa và nước cho đời sống. Người cách mệnh và đoàn thể cách mệnh cần phê bình và tự phê bình cũng thiết tha như người ta cần lửa và nước – (Theo như bản gốc thì 2 từ lửa và nước trước khi đăng báo sửa thành không khí).

Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là một di sản tinh thần vô cùng quí báu của Đảng và dân tộc ta. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, vấn đề đặt ra không chỉ ở chỗ thừa nhận và khẳng định những giá trị thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh, mà một điều rất quan trọng là vận dụng và phát triển những giá trị tư tưởng đó vào sự nghiệp xây dựng đội ngũ cán bộ của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. Những tư liệu gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam là những di sản vật chất quí báu để góp phần nghiên cứu tư tưởng của Người.

Th.s Triệu Văn Hiển
(Giám đốc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)

dalat.gov.vn