Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Hiệp định Paris và sáng tạo trong đường lối ngoại giao

(Chinhphu.vn) – Nói về sự thành công của Hiệp định Paris, Đại sứ Dương Văn Quảng, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của LHQ (UNESCO) khẳng định chúng ta đã tạo dựng được một mặt trận nhân dân thế giới, đoàn kết tất cả các lực lượng chính trị tiến bộ ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa.

Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Mỹ tại Phòng họp Trung tâm Hội nghị quốc tế Paris, ngày 13/5/1968 (đoàn Việt Nam phía bên phải). Ảnh tư liệu

Theo Đại sứ Dương Văn Quảng, trong mối tương quan giữa Việt Nam và Mỹ vào năm 1973, việc ký kết Hiệp định Paris là một bước ngoặt quyết định cho những sự kiện diễn ra sau đó.

Sáng tạo trong đường lối ngoại giao

Hiệp định Paris hội tụ đủ các điều kiện kể cả về chiến lược, quân sự, chính trị lẫn ngoại giao cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1975, thể hiện rất rõ một quyết định đúng đắn về mặt chiến lược của Việt Nam. Đó là chiến lược giành thắng lợi từng bước tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự và ngoại giao.

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Việt Nam đã biết cách xây dựng ngoại giao thành một mặt trận và đây là một sự sáng tạo. Ngoại giao đã thể hiện được vai trò chủ động của mình, góp phần quan trọng tiến tới kết thúc cuộc chiến tranh một cách thuận lợi nhất.

Hiệp định Paris còn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, đó là quy định các điều khoản liên quan đến chính trị, các lực lượng chính trị, tổng tuyển cử và việc thành lập cơ cấu chính quyền tại miền Nam Việt Nam. Theo Đại sứ Dương Văn Quảng, các diễn biến lịch sử cách đây 40 năm cho thấy Hiệp định Paris đã tạo mọi tiền đề để chúng ta kết thúc cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vào năm 1975.

Đề cập những khó khăn và thuận lợi của chúng ta khi tiến hành các cuộc đàm phán, Đại sứ Dương Văn Quảng cho biết trong bối cảnh quốc tế phức tạp, quan hệ giữa các nước lớn cũng như nội bộ từng khối, đặc biệt trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ trước với trật tự thế giới chia làm hai cực mang tính đối kháng trên mọi khía cạnh, nhưng Việt Nam đã có những thuận lợi nhất định khi tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhất là khi mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”.

Ba thuận lợi khi hội đàm tại Paris

Paris là nơi hội tụ 3 điều kiện để trở thành nơi thích hợp tiến hành đàm phán. Đó là cộng đồng người Việt đông đảo luôn ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc, trong đó có rất nhiều sinh viên đi từ miền Nam sang Pháp du học. Tại Pháp, họ đã nhận thức rõ được tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đã gia nhập phong trào của những người Việt Nam yêu nước. Vì vậy, đóng góp của cộng đồng người Việt tại Pháp là vô cùng to lớn.

Thứ hai là vai trò của Đảng Cộng sản Pháp (PCF), một lực lượng chính trị rất mạnh ở Pháp lúc bấy giờ. Ngoài sự giúp đỡ về vật chất rất to lớn mà PCF dành cho đoàn Việt Nam tham gia đàm phán, PCF còn có vai trò tích cực trong việc tập hợp các lực lượng chính trị và nhân dân Pháp ủng hộ cuộc kháng chiến của ta và phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. PCF còn là cầu nối giữa Việt Nam và Pháp vì hai nước lúc bấy giờ chưa có quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ.

Một nguyên nhân nữa là vai trò của dư luận. Không ở đâu có khả năng tập hợp được dư luận và thông tin một cách nhạy bén như ở Paris, địa điểm có thể ví như đầu não thông tin của thế giới lúc bấy giờ. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam luôn chiếm gần một nửa thời lượng thông tin thời sự quốc tế, đặc biệt là giai đoạn cuối của tiến trình đàm phán Hiệp định Paris.

Thực tế, Việt Nam đã tận dụng được Paris như là một đầu não thông tin để tuyên truyền tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và tính phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược, từ đó tập hợp được lực lượng và dư luận thế giới ủng hộ Việt Nam.

Nguyễn Chiến
chinhphu.vn

Tôn vinh hai đoàn đại biểu quân sự đấu tranh thi hành Hiệp định Paris

(Chinhphu.vn) – Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vừa đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đại biểu trên được Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam-Bộ Quốc phòng tổ chức ngày 20/4 tại Hà Nội.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai Đoàn đại biểu quân sự. – Ảnh: QĐND

Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập ngày 28/1/1973, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Quân ủy Miền.

Quán triệt tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, trong suốt 823 ngày đêm hoạt động, từ khi thành lập đến khi kết thúc nhiệm vụ (30/4/1975), hai đoàn đại biểu quân sự đã dũng cảm kiên cường, mưu trí, sáng tạo, tranh thủ dư luận và dựa vào pháp lý của Hiệp định Paris để đấu tranh, vạch trần âm mưu và lên án các hành động phá hoại Hiệp định Paris của quân Mỹ-ngụy trước cộng đồng quốc tế; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh buộc những lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam, đánh dấu mốc lịch sử sau 115 năm, kể từ năm 1858, đất nước sạch bóng quân xâm lược.

Đây là yếu tố quan trọng nhất làm chuyển biến so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta, để tiến đến giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Biểu dương tinh thần đấu tranh kiên quyết, tỉnh táo, khôn khéo, sáng tạo cùng với những thành tích xuất sắc, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ con người Việt Nam của hai đoàn đại biểu quân sự, Chủ tịch nước nêu rõ, việc thành lập hai đoàn đại biểu quân sự là sự kiện có ý nghĩa chiến lược, là sách lược sáng suốt của cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta trên mặt trận ngoại giao quân sự.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, đây cũng là bài học vô cùng quý báu trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật đấu tranh ngoại giao quân sự của Đảng.

Trong tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, những kinh nghiệm và bài học quý báu trong đấu tranh ngoại giao của hai đoàn đại biểu quân sự của ta trong thi hành Hiệp định Paris vẫn còn nguyên giá trị, cần tiếp tục được phát huy trong thời kỳ mới, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; tạo nên sức mạnh tổng hợp giữ vững hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước.

Thanh Hà
chinhphu.vn

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam

(Chinhphu.vn) – Đây là chủ đề của Hội thảo khoa học cấp nhà nước về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tổ chức sáng 28/11 tại Hà Nội.

Hội thảo khoa học cấp nhà nước “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” –  tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam. – Ảnh: VGP/Việt Hà

Hội thảo do Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức.

Cách đây 40 năm (tháng 12/1972), đế quốc Mỹ  đã mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội và các thành phố lớn ở miền Bắc với ý đồ làm xoay chuyển tình thế trên bàn đàm phán Hiệp định Paris.

Với ý chí  quyết chiến, quyết thắng, quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược này, bắn rơi nhiều máy bay, trong đó có trên 30 máy bay B52, giáng cho Mỹ một đòn chí mạng, buộc chúng phải ký Hiệp định Paris, rút hết quân viễn chinh về nước, làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho cuộc kháng chiến của ta. Chiến thắng B52 trên bầu trời Thủ đô đã trở thành trận quyết chiến lịch sử, được mệnh danh là “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Chỉ đạo Hội thảo khẳng định chiến thắng 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

66 tham luận tập trung khẳng định và làm sáng tỏ thêm bối cảnh, âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ trước khi ký Hiệp định Paris; sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch 12 ngày đêm, tinh thần chiến đấu kiên cường, mưu trí, dũng cảm, sự linh hoạt, sáng tạo của bộ đội phòng không – không quân, của quân và dân miền Bắc, trực tiếp là quân và dân Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác…

Hội thảo góp thêm tiếng nói khẳng định tầm vóc, ý nghĩa,  những kinh nghiệm và bài học lịch sử của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, vận dụng và phát huy những bài học kinh nghiệm vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trung tướng Mai Quang Phấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ  nhiệm Tổng cục Chính trị  khẳng định, chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” là một mốc son chói lọi, là biểu tượng của ý chí kiên cường, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam. Đây là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, của “thế trận phòng không nhân dân”, kế thừa và phát triển truyên thống nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại mới.

Dấu tích một thời bom đạn có thể bị phai mờ theo quy luật của thời gian, nhưng tầm vóc và ý nghĩa của “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vẫn mãi âm vang trong tâm trí của mỗi con người Việt Nam nói riêng và nhân loại tiến bộ nói chung. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ đây vẫn nguyên vẹn giá trị để nghiên cứu, vận dụng cho sự nghiệp xây dựng lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Việt Hà
chinhphu.vn

Ra mắt cuốn sách “Đối mặt với B.52”

(Chinhphu.vn) – Nhân dịp kỉ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, ngày 4/12, NXB Trẻ và công ty Tomorrow Media đã tổ chức ra mắt cuốn sách “Đối mặt với B.52”.

Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2010 đến tháng 9/2012, nhóm tác giả biên soạn cuốn sách đã tiến hành các cuộc gặp gỡ, ghi lại hồi ức của 116 nhân chứng về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ trên không. Đó là chân dung của một Hà Nội đối mặt với B -52, những đau thương mất mát, những cách thích ứng khó tin của người Hà Nội…

Với 3 phần, cuốn sách đi theo mạch thời gian từ thời điểm miền Bắc chống chiến tranh phá hoại, dựng lại bối cảnh sống của người Hà Nội những năm 1966-1972 và quá trình Quân chủng Phòng không-Không quân nghiên cứu cách đánh B.52.

Tiếp theo là quãng thời gian 12 ngày đêm không quên của những người dân ở lại Thủ đô Hà Nội trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không.

Phần III là câu chuyện của Hiệp định Paris dưới tác động của Điện Biên Phủ trên không cũng như điểm quá trình đàm phán gần 5 năm của cuộc chiến ngoại giao gian khổ, lâu dài hiếm có để có được hòa bình lập lại trên miền Bắc.

Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, nhờ cách làm sáng tạo của nhóm tác giả, đây là cuốn sách thú vị và sinh động viết về lịch sử.

Minh Anh
chinhphu.vn

Mốc son không phai mờ trong lịch sử dân tộc

QĐND – Cách đây đúng 40 năm, ngày 27-1-1973, tại Pa-ri, “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, gọi tắt là Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, đã được ký kết. Đây là một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Hiệp định Pa-ri là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới. Nguồn: Internet

Trong lịch sử đấu tranh của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài như Hội nghị Pa-ri (từ ngày 15-3-1968 đến 27-1-1973). Ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Pa-ri là cuộc đấu trí, cuộc thử thách quyết liệt về bản lĩnh giữa nền ngoại giao cách mạng non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới. Những ngày tháng đấu trí cam go, quyết liệt ấy là một trong những hoạt động ngoại giao to lớn, quan trọng của Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, thu hút sự chú ý của dư luận thế giới, đưa cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên bàn thương lượng đến thắng lợi.

Hiệp định Pa-ri thắng lợi là kết quả tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Hiệp định đã buộc Mỹ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Với Hiệp định Pa-ri, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, tạo thời cơ thuận lợi cho mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”, theo đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc ký Hiệp định Pa-ri là tiền đề tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975.

Vượt lên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình và công lý, là di sản quý báu của phong trào giải phóng dân tộc nhằm mục tiêu thoát khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Để đi đến thắng lợi có tính bước ngoặt này, nhân tố quyết định là sự lãnh đạo sáng suốt, đầy trí tuệ và bản lĩnh của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đề ra đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đường lối quốc tế độc lập tự chủ, đúng đắn sáng tạo. Vận dụng khéo léo nghệ thuật “Đánh kết hợp với đàm”, hoạt động ngoại giao đã góp phần tranh thủ dư luận thế giới, cô lập kẻ thù, hỗ trợ chiến trường và ngược lại, chiến thắng trên chiến trường đã hỗ trợ to lớn cho công tác vận động quốc tế trong các cuộc đàm phán, buộc địch xuống thang từng bước, làm thay đổi so sánh lực lượng, thế trận trên chiến trường.

Cội nguồn của thắng lợi Hội nghị Pa-ri là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ chân lý “Không gì quý hơn độc lập tự do” của dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hiệp định Pa-ri năm 1973 phản ánh xu thế thắng lợi cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi nhưng cũng không kém phần phức tạp. Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”. Sự hình thành của mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam đã thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, kết hợp ngoại giao Nhà nước với ngoại giao nhân dân. Chính vì thế, Hiệp định Pa-ri còn là kết quả tất yếu của sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ toàn thế giới.

Có thể nói, Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri mãi mãi đi vào trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và nền ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh nói riêng như một dấu son không bao giờ phai mờ.

40 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song những bài học của cuộc đấu tranh ngoại giao trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Đó là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng; là bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc; là bài học về tầm quan trọng của thực lực kết hợp với chủ động, sáng tạo; là bài học về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; là bài học về xây dựng lực lượng, về sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực.

Trong một thế giới đầy biến động hiện nay, bài học về ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế cần được phát huy hơn bao giờ hết. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, trong bất kỳ tình huống nào, việc bảo vệ độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ mãi mãi là nguyên tắc bất di bất dịch. Lợi ích của quốc gia, của dân tộc là trên hết. Và trong thời kỳ hiện đại, tinh thần, bản lĩnh sáng tạo, linh hoạt cần phải phát huy hơn nữa.

Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Pa-ri là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế, đồng thời vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

QĐND
qdnd.vn

Đóng góp của lực lượng Công an nhân dân vào thắng lợi của Hội nghị Paris về Việt Nam

(ĐCSVN) – Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết là “thắng lợi rất to lớn của cuộc kháng chiến oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam”. Thắng lợi đó là sự kết tinh của quá trình đấu tranh đầy cam go, thử thách của nhân dân ta và các lực lượng vũ trang trên cả 3 mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao.

Lực lượng công an nhân dân đã đóng góp không nhỏ
vào thành công của Hội nghị Paris về Việt Nam
(Ảnh tư liệu)

Cách đây 40 năm, ngày 27-1-1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết tại thủ đô Paris, nước Cộng hòa Pháp. Đây là văn bản pháp lý quốc tế có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của nhân dân, quân đội ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu. Trong lịch sử đấu tranh của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài, gay cấn, phức tạp và giành thắng lợi toàn diện cả mục tiêu đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao như tại Hội nghị Paris. Nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới “đánh cho Ngụy nhào” như lời dạy và lời tiên đoán vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuối cùng đã giành thắng lợi trọn vẹn thống nhất đất nước vào ngày 30-4-1975.Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết là “thắng lợi rất to lớn của cuộc kháng chiến oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam”. Thắng lợi đó là sự kết tinh của quá trình đấu tranh đầy cam go, thử thách của nhân dân ta và các lực lượng vũ trang trên cả 3 mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao và chủ trương sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta “vừa đánh vừa đàm” trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị Paris là một cuộc đấu trí, đấu mưu, đấu lực, đấu pháp hết sức gay go giữa ta và Mỹ trên nhiều phương diện. Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam đã đóng góp một phần quan trọng vào thắng lợi đó. Nhờ nắm chắc tình hình, luôn cảnh giác cao độ, vận dụng sáng tạo các biện pháp nghiệp vụ, đồng thời biết tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng tiến bộ Pháp và kiều bào cho nên công tác đảm bảo an ninh và bảo vệ phái đoàn đàm phán đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của Hội nghị Paris.

Để phục vụ mặt trận đấu tranh ngoại giao, ngay từ phiên họp đầu tiên của Hội nghị, ngày 13-5-1968, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn đã cử một số cán bộ, chiến sĩ có trình độ và kinh nghiệm làm công tác an ninh và bảo vệ phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoạt động tại Hội nghị và sau đó hơn 40 lượt cán bộ chiến sĩ công an được cử tới Paris để làm công tác bảo vệ an ninh và cảnh vệ cho cả hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tham dự Hội nghị. Với phương châm: Công tác an ninh phải đảm bảo tuyệt đối an toàn, dựa vào sức mình là chính, đồng thời làm tốt công tác ngoại giao vận động kiều bào, lực lượng Công an đã thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh cho cả hai đoàn tại nơi ở, nơi làm việc, hội họp, đảm bảo an toàn tuyệt đối về người cũng như các tài liệu bí mật quốc gia liên quan đến đàm phán; bảo vệ an toàn những chuyến đi lại từ Hà Nội đến Paris và ngược lại của các đồng chí Cố vấn Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh, Xuân Thuỷ và nhiều cuộc đi thăm các nước của bà Nguyễn Thị Bình – đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam v.v…

Thông qua công tác xây dựng cơ sở trong các tổ chức Việt kiều yêu nước, qua công tác trinh sát, tình báo, ta nắm được danh sách phái đoàn và ý đồ của Mỹ đến đàm phán tại Hội nghị Paris. Những tin tức đó được kịp thời báo cáo với lãnh đạo Đảng để có chủ trương, biện pháp chỉ đạo đấu tranh trên bàn Hội nghị. Trong quá trình diễn ra Hội nghị, lực lượng bảo vệ đã thường xuyên nêu cao cảnh giác, giữ vững kỷ luật, tham mưu cho lãnh đạo, hướng dẫn cho các thành viên trong đoàn đảm bảo cho hoạt động của đoàn tuân thủ nghiêm ngặt những nội quy, quy định về quan hệ, đi lại, tiếp xúc, giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, các quy định về bảo vệ cơ quan phái đoàn, bảo vệ tài liệu, giữ gìn bí mật về chủ trương, đường lối của Đảng. Trong hoạt động nghiệp vụ, lực lượng an ninh đã chủ động bố trí những buồng BHP (“buồng hạnh phúc”), BBM (buồng bí mật), thậm chí nhiều vấn đề không được trao đổi bằng miệng mà phải viết ra giấy, khi cần thiết phải trao đổi ngoài sân hoặc trong vườn khuôn viên biệt thự… Vì vậy, mọi thông tin hoạt động đàm phán của phái đoàn ta, các bí mật tin tức, biện pháp đấu tranh ngoại giao của Đảng và Chính phủ đều giữ được bí mật đến phút cuối cùng, khiến cho địch luôn bị bất ngờ, đối phó bị động.

Ở những địa điểm phái đoàn ta hội họp, nơi làm việc, nghỉ ngơi, lực lượng Công an Việt Nam đều phối hợp với lực lượng Cảnh sát, An ninh và các lực lượng tiến bộ của nước Cộng hòa Pháp lập kế hoạch bảo vệ tuyệt đối an toàn cả trên đường di chuyển và ở nơi làm việc. Đặc biệt, tổ Tình báo F68 đã có những thành tích xuất sắc trong việc bảo vệ an toàn phái đoàn ta tại Hội nghị. Bằng trí tuệ sắc sảo, sự nhạy cảm, khôn khéo, thông qua công tác trinh sát kỹ thuật nghiệp vụ, lực lượng công an đã phát hiện và vô hiệu hóa các phương tiện kỹ thuật nghe, chụp ảnh trộm của đối phương. Khi Hiệp định Paris chuẩn bị được ký kết, qua công tác tình báo, lực lượng công an nắm được âm mưu của Mỹ muốn thay đổi một số nội dung trong dự thảo Hiệp định. Những tin tức trên đã được kịp thời báo cáo với lãnh đạo Đảng để có chủ trương và biện pháp đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận những điều khoản đã thỏa thuận tại Hội nghị. Tuy số lượng cán bộ, chiến sĩ làm công tác bảo vệ Hội nghị không nhiều, nhưng do biết dựa vào tập thể, tranh thủ được sự đồng tình và giúp đỡ của Chính phủ và các lực lượng tiến bộ Pháp, đồng thời biết phát huy tác dụng các biện pháp nghiệp vụ nên lực lượng Công an Việt Nam đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27-1-1973.

Hội nghị Paris về Việt Nam kết thúc đã 40 năm và đã để lại những bài học vô cùng quý giá. Những bài họcđó vẫn còn giữ nguyên giá trị thời sự và thiết thực đối với lực lượng Công an nhân dân trong tình hình thế giới đầy biến động và phức tạp hiện nay. Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27-1-1973 – 27-1-2013), lực lượng Công an nhân dân tự hào, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi tới của dân tộc, quyết tâm phát huy tinh thần và bài học của Hội nghị Paris trong công tác, chiến đấu, xây dựng lực lượng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động bất ngờ và chủ động hội nhập quốc tế nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Bình Ban (Viện Lịch sử Công an, Bộ Công an)
cpv.org.vn

Điện Biên Phủ trên không: Gặp phi công mở màn chiến thắng

(ĐVO)- Chiều ngày 23/12/1972, phi công Nguyễn Văn Nghĩa là người đã bắn hạ chiếc F-4 đầu tiên của Không quân Mỹ trong chiến dịch. Chiến công này có ý nghĩa khai thông thế bế tắc, giải quyết vấn đề tâm lý cho không quân sau 5 ngày không bắn hạ được chiếc máy bay nào.

Sau sự kiện đó, Không quân Nhân Dân Việt Nam liên tiếp lập được nhiều chiến công bắn hạ nhiều máy bay Mỹ trong đó có 2 chiếc B-52.

 Phi công Nguyễn Văn Nghĩa.

Phi công Nguyễn Văn Nghĩa.

Dù đã ở tuổi 66 nhưng người phi công anh hùng năm xưa vẫn còn rất phong độ, trông ông không già đi nhiều so với 40 năm trước. Tuy vậy, phi công Nguyễn Văn Nghĩa vẫn còn nhớ như in những ngày tháng chiến tranh vô cùng ác liệt và đối với những người như ông đó là những năm tháng không thể nào quên.

Kể về trận chiến lịch sử của mình, Đại tá phi công Nguyễn Văn Nghĩa nhớ lại, đêm ngày 18/12/1972 khi Mỹ mở màn chiến dịch Linebacker-II, phi công cất cánh làm nhiệm vụ đánh B-52 đầu tiên là Trần Cung nhưng không phát hiện được B-52. Tiếp đó đến phi công Phạm Tuân, Vũ Đình Rạng lần lượt cất cánh những cũng không tiếp cận được B-52.

Từ ngày 18-22/12/1972 đã 5 ngày trôi qua nhưng không quân không bắn được chiếc máy bay nào của Mỹ lại phải chịu tổn thất 1 máy bay. (Trong cả chiến dịch, Không quân Nhân dân Việt Nam tổn thất 3 máy bay, 2 phi công hy sinh – PV).

“Toàn bộ không quân chúng tôi rất nóng ruột, bộ đội phòng không đã bắn rơi rất nhiều máy bay Mỹ trong khi bộ đội không quân chưa lập được chiến công nào”, phi công Nguyễn Văn Nghĩa chia sẻ cảm xúc lúc đó.

Chớp thời cơ diệt địch

Ngày 23/12/1972, đến lượt ông được lệnh cất cánh, bay ở vị trí phi đội trưởng. Bay cùng có phi công Lê Văn Kiền. Khi đó, đài chỉ huy mặt đất thông báo có 4 tốp F-4 ở xung quanh, khoảng 24 chiếc ở cự ly khoảng 40km.

“Ý định của chúng là muốn dồn các tiêm kích MiG-21 của ta vào ở giữa để tiêu diệt. Tôi nhanh chóng lấy tốc độ và tiếp cận tốp F-4 phía bên phải, phi công số 2 tiếp cận tốp bên trái. Ngay lập tức, tốp F-4 phía sau cũng nhanh chóng ập đến. Trong thâm tâm tôi đã xác định trước tình huống này sẽ rất kịch tính, cả đôi bên đều ở rất gần nhau, ai bóp cò nhanh hơn người đó sẽ thắng”, Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa hồi tưởng.

Bằng kỹ thuật và kinh nghiệm, ông đưa được một chiếc F-4 vào tầm ngắm bằng máy ngắm cơ học. “Thời gian ở đây chỉ có thể tính bằng giây, mình phải vừa chuẩn bị tấn công cũng vừa phải chuẩn bị để phòng thủ”, ông bồi hồi nhớ lại.

Khi ông đưa chiếc F-4 phía trước vào tầm ngắm thì chiếc F-4 phía sau cũng nhanh chóng tiếp cận để ngắm bắn. Do đó, khi chiếc F-4 phía trước ở cự ly khoảng 1.200-1.300 mét, tương đối tốt đối với tên lửa K-13, ông lập tức phóng tên lửa về phía chiếc F-4 thì khoảng vài giây sau đó 2 quả tên lửa từ chiếc F-4 phía sau cũng lao đến.

“Nhanh chóng tôi thực hiện một động tác ngoặt đột ngột để thoát ra khỏi đường ngắm của tên lửa. Phi công số 2 bay cùng tôi hô lớn trên radio “cháy rồi” chiếc F-4 bốc cháy và rơi xuống khu vực Lào Cai”, Đại tá Nghĩa kể lại.

Khi thực hiện động tác ngoặt đột ngột thoát khỏi tầm ngắm  tên lửa của F-4, ông cũng ngắm được một chiếc F-4 khác ở phía trước nhưng do ở cự ly quá gần nên không xác định được điểm nổ. Trong khi đó, đài chỉ huy mặt đất ra lệnh “đánh nhanh rút nhanh” nên ông cùng phi công số 2 lập tức thoát khỏi đội hình F-4 và bay về hướng sân bay Đa Phúc.

Hạ cánh an toàn trong “mưa đạn” của F-4

Tuy nhiên, các sân bay xung quanh như Đa Phúc, Gia Lâm, Kép đều bị Không quân Mỹ phong tỏa triệt để. Đài chỉ huy thông báo cho tôi và phi công số 2 bay ra khu vực Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc ở độ cao thấp và thoát ra bằng dù.

Lúc đó trong thâm tâm tôi suy nghĩ, máy bay của mình không bị bắn hay bị trục trặc gì, tại sao mình phải từ bỏ nó? Bên cạnh đó, việc thoát ra bằng dù cũng chưa chắc đã an toàn bởi Mỹ có thể bắn vào dù. (Chính sách vô nhân đạo này của Không quân Mỹ nhằm tiêu hao lực lượng phi công tinh hoa nhưng ít ỏi của Không quân Nhân dân Việt Nam – PV).

Chưa hết, nếu tiếp đất bằng dù an toàn thì cơ hội tiếp tục chiến đấu trong 12 ngày đêm gần như bằng 0, bởi các phi công khi thoát ra ngoài bằng dù đều phải trải qua quá trình phục hồi sức khỏe từ 3-4 tháng.

Khi đó, ông liên lạc về sở chỉ huy và hỏi xem đường lăn của sân bay cũng như ụ chứa máy bay có bị đánh phá hay không, sở chỉ huy thông báo đường lăn không bị đánh phá. Vì vậy, ông quyết định hạ cánh trên đường lăn, một là thành công để tiếp tục được chiến đấu, hai là chấp nhận hy sinh trong trường hợp máy bay gặp sự cố hoặc bị bắn trong quá trình tiếp đất.

“Tôi thông báo trên radio cho sở chỉ huy và cả số 2 của tôi là “số 1 sẽ hạ cánh trên đường lăn”, còn số 2 có hạ cánh theo hay không là tùy thuộc vào đồng chí ấy. Rất may mắn là tôi đã hạ cánh an toàn, máy bay không gặp bất kỳ trục trặc nào”, ông kể lại.

Sau khi hạ cánh hạ cánh thành công, trên đường lăn ông gọi trên radio, “số 1 gọi số 2”, phía bên kia trả lời, “số 2 nghe tốt”. “Nghe tốt” có nghĩa là an toàn. “Trong thâm tâm tôi rất vui sướng, phi công số 2 cũng hạ cánh an toàn trên đường lăn, mặc dù các tốp F-4 phía sau vẫn bắn phá ác liệt bằng pháo 20 mm nhưng cả 2 máy bay đều được đưa về căn cứ an toàn”, Đại tá Nghĩa kể lại..

Chiến công nối tiếp chiến công

Đối với ông đó là một kỷ niệm không thể nào quên, là niềm vinh dự, tự hào lớn nhất trong cuộc đời, đó là đã khai thông được thế bế tắc cho không quân trong 12 ngày đêm. Ngày sau đó, cũng ngày 23/12/1972, phi công Trần Việt – nay là Phó Tư lệnh quân chủng Phòng không -Không quân – cất cánh bắn hạ thêm một chiếc F-4 khác.

Đến ngày 27/12/1972 biên đội bay của phi công Đỗ Bá Lanh và Dương Bá Khá cất cánh bắn hạ thêm một chiếc F-4. Đến đêm 27 rạng sáng ngày 28/12/1972 phi công Phạm Tuân bắn rơi tại chổ một chiếc B-52. Chiều 28/12/1972 biên đội bay Lê Văn Kiều và Hoàng Tam Hùng bắn rơi một chiếc F-4.

Đêm 28/12/1972 phi công Vũ Xuân Thiều bắn rơi thêm một chiếc B-52 khác, đêm 29/12/1972 phi công Bùi Doãn Độ bắn rơi thêm một chiếc F-4 và đây là chiếc cuối cùng do không quân bắn hạ trong 12 ngày đêm.

Trong 12 ngày đêm, Không quân Nhân dân Việt Nam bắn hạ được 7 máy bay, trong đó có 2 chiếc B-52, cùng với bộ đội phòng không và toàn quân, toàn dân ta bẽ gãy cuộc tập kích đường không quy mô lớn nhất của Mỹ từ sau chiến tranh thế giới thứ 2.

Với quy mô chiến dịch lớn như vậy nhưng chỉ kết thúc trong 12 ngày đêm, theo cá nhân tôi đó là một “kỳ tích” của toàn quân và toàn dân ta. Phòng không không quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bắn rơi 81 máy bay các loại trong đó có 34 chiếc B-52.

Phi công Nguyễn Văn Nghĩa và đồng đội (người thứ hai, từ trái qua phải, hàng sau).Phi công Nguyễn Văn Nghĩa và đồng đội (người thứ hai, từ trái qua phải, hàng sau).

Đại tá phi công Nguyễn văn Nghĩa sinh ngày 3/5/1946 tại Quảng Ngãi.

Ngày 1/7/1965, ông trúng tuyển phi công tiêm kích. Từ tháng 9/1956-4/1968, ông học lái MiG-21 tại Liên Xô.

Sau khi tốt nghiệp, ông về nước nhận nhiệm vụ tại đại đội 2 Trung đoàn tiêm kích 921 đoàn Sao Đỏ.

Từ năm 1973-1975 ông là phi đội trưởng các phi đội 3, 9, 11 Trung đoàn tiêm kích 927, đoàn Lam Sơn.

Ông là phi công Việt Nam đầu tiên lái máy bay MiG-21 số hiệu 5033 hạ cánh xuống sân bay Đà Nẵng vào năm 1975.

Ông cũng là phi công Bắc Việt Nam đầu tiên cất cánh trên tiêm kích F-5 của Mỹ thu được sau chiến tranh, sau đó ông đã huấn luyện cho một số phi công khác sử dụng máy bay F-5 tham gia trong chiến dịch biên giới Tây Nam.

Từ năm 198,2 ông chuyển lên làm cán bộ Sư đoàn Không quân 370 với cương vị bí thư Đảng ủy. Từ năm 1992 ông giữ chức Hiệu trưởng Trường Hàng Không Việt Nam, ông là người có công lớn trong việc xây dựng Học viện hàng không Việt Nam và cũng là giám đốc đầu tiên của học viện.

Từ tháng 4/2007, ông nghỉ hưu. Tháng 8/2007, ông được bầu giữ chức Chủ tịch Câu lạc bộ Hàng không Việt Nam cho đến nay.

Quốc Việt
baodatviet.vn

Nghệ thuật đàm phán ngoại giao ở Pa-ri

QĐND – Cuộc đàm phán Pa-ri và Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam là thành công lớn nhất trong lịch sử ngoại giao của dân tộc thời đại Hồ Chí Minh. Là một trong số ít những nhân chứng còn lại từ cuộc đàm phán lịch sử này, nhà ngoại giao Nguyễn Khắc Huỳnh đã chia sẻ với chúng tôi những bài học thực tiễn quý báu về đấu tranh ngoại giao khi đó.

Nhà ngoại giao Nguyễn Khắc Huỳnh.

Mặt trận thứ hai

Có thể nói, cuộc đấu tranh ngoại giao trong suốt quá trình đàm phán ở Pa-ri giữ một vai trò hết sức quan trọng. Nếu nói quân sự là mặt trận thứ nhất, mặt trận quyết định, thì ngoại giao là mặt trận thứ hai, mặt trận mang ý nghĩa chiến lược. Để phát huy được ý nghĩa chiến lược này, ta cần xác định rõ ngoại giao có nhiệm vụ gì và đàm phán Pa-ri để thực hiện điều gì?

Đương nhiên, không phải đàm phán với Mỹ là có thể ký ngay hiệp định chấm dứt chiến tranh và bắt Mỹ rút quân được. Vì vậy, ta phải dùng đàm phán để tấn công, lên án Mỹ, cô lập, làm rối loạn hậu phương địch để phục vụ cuộc chiến đấu của quân đội ta, cổ vũ cho quân đội ta đánh mạnh. Mấu chốt ở đây là ngoại giao phải song song, phải bám sát với chiến trường. Khi quân đội có chiến thắng thì làm sao phát huy thắng lợi đó trên bàn ngoại giao.

Ngược lại, khi quân ta gặp khó khăn, ngoại giao phải đỡ lấy để Mỹ không lấn tới. Ví như những năm 1969, 1970 và 1971, lực lượng ta bị tổn thất: Đất mất, dân mất, quân chủ lực phải tránh sang Lào, sang Cam-pu-chia… Ba năm đó, ngoại giao cũng cầm cự, nhưng cầm cự không có nghĩa là nhân nhượng. Nghệ thuật là ở chỗ cầm cự mà vẫn phải tấn công địch, vẫn phải lên án, đòi địch rút quân. Ta đã từng đề nghị Mỹ rút quân trước 31-12-1971, rồi dăm ba bữa lại đưa ra đề nghị khác. Cả thế giới theo dõi những đề nghị đó. Nhưng trên thực tế, ta đề nghị mang tính tấn công thế thôi chứ làm sao ép nó rút quân trước ngày 31-12-1971 được. Khi ấy, ta chưa đủ mạnh để ép nó rút quân trước ngày 31-12-1971. Ta đề nghị “cò cưa” như thế để biểu thị có thiện chí và vẫn giữ vững lập trường, chủ trương, nhưng cũng đồng thời là để chờ quân ta giành chiến thắng trên chiến trường quân sự.

“Biết địch biết ta, trăm trận không thua”

Người xưa có câu: “Biết địch biết ta, trăm trận không thua”. Hiểu và đoán biết trước được ý đồ của địch cũng là một trong những nghệ thuật quan trọng của ngoại giao. Nếu đoán biết được Mỹ làm gì, đánh chỗ nào, lập luận nó thế nào thì ta sẽ tìm được cách đối phó. Với việc Mỹ đòi miền Bắc rút quân, đòi đàm phán không điều kiện, đòi ở trên thế mạnh, ngoại giao ta phải đàm phán làm sao đánh bại các thủ đoạn đó để bảo vệ lẽ phải của ta, để tranh thủ sự ủng hộ của thế giới.

Ta cũng biết chắc rằng, trên chiến trường, ta chưa thể đánh thắng Mỹ chỉ trong một ngày, một tháng, một năm. Mà chiến tranh phải kéo dài nhiều năm. Cho nên, ta chủ trương suy tính làm sao kéo dài được đàm phán mà địch lại không thể đổ lỗi cho ta được. Ta tính trước, khi nào cần kéo dài, ta kéo dài. Khi nào cần đi sâu, đi vào thực chất, ta sẽ đi vào đàm phán thực chất. Những bước đi của người đàm phán giống hoàn toàn như người đánh trận. Do vậy, thời cơ là yếu tố quyết định thắng bại. Ngoài thận trọng, khéo léo, ta cũng phải linh hoạt nắm bắt cơ hội. Biết dân Mỹ quan tâm tới 300 tù binh toàn sĩ quan cao cấp “con ông cháu cha”, ta nắm lấy thời cơ này để tranh thủ được dư luận Mỹ. Ta cân nhắc khi nào dân Mỹ “sôi sục” về vấn đề thả tù binh nhất, khi nào Quốc hội Mỹ họp bàn về vấn đề này thì đó cũng là lúc ta ấn định thời hạn thả tù binh.

Đề cao Mặt trận

Tại Pa-ri, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là một bên đàm phán chính thức, ngồi cùng đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa đàm phán song phương với Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Có một điều nổi bật, thể hiện rõ chính sách ngoại giao khôn khéo và sáng suốt của Việt Nam trong những năm đàm phán Pa-ri, đó là trong những phiên họp 4 bên, đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa thường nhường quyền phát ngôn đối với tất cả các vấn đề liên quan đến hiệp định hòa bình cho đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Kể cả thứ tự phát biểu cũng ưu tiên đoàn Mặt trận giải phóng trước.

Có thể hiểu điều này từ câu phân tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ta vừa có ngoại giao của Việt Nam dân chủ cộng hòa, vừa có ngoại giao của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Vừa là hai mà là một, vừa là một mà lại là hai. Hai khối đó phải kết hợp chặt chẽ với nhau”. Ta chủ trương, Mặt trận Dân tộc phải được coi như người phát ngôn về những đề nghị hòa bình được đưa ra. Bởi trong việc tranh thủ dư luận, đấu tranh lên án tấn công Mỹ thì phái đoàn của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam là rất quyết liệt, mạnh mẽ, rất có tác dụng. Với chính sách ngoại giao hòa bình trung lập, tiếng nói của Mặt trận Dân tộc giải phóng dễ đi vào lòng người. Thêm vào đó, khi ở diễn đàn đàm phán công khai, ta nhường quyền và sức mạnh tấn công địch cho Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, có nghĩa là ta tôn trọng và đề cao vị thế của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Đó là một đặc thù, một ưu thế mà không nước nào trên thế giới có được trong cùng một hoàn cảnh đất nước bị chia cắt.

Bài và ảnh: NGỌC THƯ
qdnd.vn

Hiệp định Paris và tấm lòng bè bạn

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (27.1.1973 – 27.1.2013)

Trong gần 5 năm đấu tranh gian nan trên bàn đàm phán, ngoài nỗ lực của toàn dân tộc Việt Nam, không thể không kể đến sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Những ngày này, hàng chục vị khách quốc tế – nhân chứng của sự kiện 40 năm trước – có mặt tại Hà Nội, cùng nhân dân Việt Nam kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris.

Thị trưởng Choisy le Roi Daniel Davise: Choisy le Roi là nơi phái đoàn Việt Nam đã làm việc trong những ngày diễn ra Hội nghị Paris. Tòa nhà trường Đảng Cộng sản Pháp tại phố Maurice Thorez được dành riêng cho phái đoàn Việt Nam ở miễn phí trong gần 5 năm. Chúng tôi đã làm mọi điều có thể, từ việc cử người bảo vệ và nấu ăn cho phái đoàn Việt Nam, trong suốt thời gian đàm phán căng thẳng về lập lại hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Nhiều cán bộ của Hội đồng Thị chính Choisy le Roi và các đảng viên Đảng Cộng sản Pháp đã nhiệt tình giúp đỡ cả về tinh thần lẫn vật chất cho 2 phái đoàn Việt Nam…

Hiện nay, các tài liệu, hình ảnh, hiện vật, băng ghi hình… từ các buổi đàm phán tại Hội nghị Paris đều được lưu giữ cẩn thận. Đặc biệt chúng tôi còn có những cuốn phim tài liệu dài về phái đoàn đàm phán Việt Nam. Đến thời điểm này, tại thành phố vẫn còn rất nhiều nhân chứng sống. Căn phòng nơi diễn ra hội nghị cùng những hiện vật trong đó vẫn được giữ gìn nguyên vẹn.

Cô gái Mỹ cắm hoa vào họng súng của lính cảnh vệ Quốc gia như một biểu tượng mong muốn hòa bình ở Việt Nam

Nguyên Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Ramsey Clark: Đây là lần thứ 2 sau năm 1970 chúng tôi đến Việt Nam, bởi trước đó, đến Việt Nam chúng tôi bị coi là phản bội đất nước. Nhưng cần khẳng định một điều, chúng tôi – những người yêu chuộng hòa bình đã luôn đấu tranh để ủng hộ các bạn. Khi Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam, thì ở Mỹ cũng có cuộc chiến tranh của những người yêu chuộng hòa bình. Hàng ngàn người Mỹ đã bị bắt và buộc tội vì gây mất trật tự để ủng hộ Việt Nam. Hội nghị Paris kéo dài, chúng tôi đã rất lo lắng. Một số người trong nhóm chúng tôi còn sang tận Paris gặp bà Nguyễn Thị Bình để được thông tin về tình hình đàm phán. Sau khi Hiệp định Paris được ký, chúng tôi cùng các bạn cũng phải mất 2 năm đấu tranh để biến nó thành hiện thực, bao gồm điều khoản cung cấp hỗ trợ để hoàn gắn vết thương chiến tranh, chấm dứt sự hỗ trợ của chính quyền Mỹ cho Thiệu. Chúng tôi đã thông qua nhiều hiệp hội những người bạn của Mỹ đấu tranh, quyên góp ủng hộ các bạn Việt Nam thời kỳ này…

Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt Helene Luc: Trong suốt thời gian diễn ra cuộc đàm phán, rất nhiều người Pháp thuộc nhiều tôn giáo, đảng phái chính trị khác nhau, đặc biệt là những người đấu tranh cho hòa bình đã đến nơi ở của phái đoàn Việt Nam để bày tỏ sự ủng hộ. Có thể nói, Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành ủng hộ, giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ. Hiệp định Paris cũng củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa; đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp là một phần của lịch sử kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam, tiếp tục đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhà ngoại giao Nguyễn Khắc Huỳnh, thành viên đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris: “40 năm đã trôi qua, độ dài thời gian cho phép chúng ta có thể nhìn lại rõ hơn tính chất cuộc đấu tranh tại bàn đàm phán và đánh giá sâu hơn về ý nghĩa của Hiệp định Paris đối với vận mệnh đất nước và sức mạnh ngành ngoại giao Việt Nam. Cuộc đàm phán Paris để lại rất nhiều bài học. Có người coi các bài học này có thể ghi lại thành một pho từ điển. Xin nêu 3 bài học có nhiều ý nghĩa cơ bản và thực tiễn. Thứ nhất, đề cao chính nghĩa dân tộc và ngọn cờ hòa bình, đánh mạnh vào chỗ yếu của đối phương làm chiến tranh phi nghĩa và gây tội ác. Thứ hai, kết hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự, gắn đàm phán với chiến trường, với tình hình nội bộ của Mỹ và tình hình quốc tế. Thứ ba, độc lập tự chủ, đoàn kết quốc tế là bảo đảm cơ bản có thành công của ngoại giao và đàm phán”.

PV ghi
daibieunhandan.vn

40 năm Hiệp định Paris: Gặp các nhân chứng lịch sử

Bà Nguyễn Thị Bình gặp gỡ các nhân chứng lịch sử. (Ảnh: Thế Anh/TTXVN)

Nằm trong chương trình hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris (27/1/1973-27/1/2013) do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam tổ chức, ngày 27/1, tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh ở Thành phố Hồ Chí Minh, khoảng 50 đại biểu quốc tế cùng các nhân chứng lịch sử của Việt Nam đã tham dự hội thảo bàn tròn “Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử.”

Cùng dự có bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và đại diện lãnh đạo Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam; lãnh đạo Thành ủy, Ủy ban Nhân dân và đông đảo đại diện các tầng lớp nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Việt Nam mãi mãi không quên sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế

Tại hội thảo, các đại biểu quốc tế và trong nước đã cùng nhau ôn lại ý nghĩa lịch sử của quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Paris, sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế đối với nhân dân Việt Nam trong cả cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Đánh giá về những giá trị của Hiệp định Paris đối với Việt Nam, bà Hélene Luc, Chủ tịch danh dự Hội hữu nghị Pháp-Việt, chia sẻ: “Chiến thắng đó là nhờ lòng dũng cảm của nhân dân Việt Nam, cùng sự thống nhất, đoàn kết quốc tế và nhất là sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước. Thành phố Choisy-le-Roi có vinh hạnh đón đoàn Việt Nam, nhiệm vụ của chúng tôi là làm cho thế giới thấy rằng xung quanh phái đoàn Việt Nam là tình thương yêu, tình đoàn kết quốc tế, Việt Nam không cô đơn.”

Ở góc nhìn bao quát hơn, bà Men Sam An, Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ vì hòa bình và phát triển Vương quốc Campuchia cho rằng Hiệp định Paris được ký kết không chỉ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam mà ở cả ba nước Đông Dương.

Theo bà Men Sam An, qua câu chuyện từ cha mẹ mình và những ấn tượng sâu sắc khi bộ đội Việt Nam đến giúp ngôi làng của bà có hòa bình, bà đã quyết định tham gia quân đội nhân dân Việt Nam.

Nhiều câu chuyện, kỷ niệm, cảm xúc về cuộc đàm phán, ký kết Hiệp định Paris, cũng như trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, đã được bạn bè quốc tế chia sẻ tại hội thảo.

Đại biểu Rabin Deb, Bí thư Ban Thường vụ Tổ chức Hòa bình và Đoàn kết toàn Ấn; bà Hyun Soonhye, vợ nhà văn Oda Makoto (Nhật Bản); ông Ramsey Clark, nguyên Bộ trưởng Tư pháp Mỹ… cũng đã chia sẻ về những hoạt động, việc khởi xướng và phát động các phong trào phản đối chiến tranh tại Việt Nam, sự quyên góp về vật chất cũng như tinh thần ủng hộ nhân dân Việt Nam trong quá trình đàm phán, đấu tranh thống nhất đất nước.

Phía về Việt Nam, nhiều nhân chứng lịch sử như ông Hà Văn Lâu, Phó trưởng đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Paris, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; bà Phan Thị Quyên, vợ anh hùng, liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi… cũng đã chia sẻ những kỷ niệm, câu chuyện xúc động trong quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Paris và tình hình thực tế tại Việt Nam trong những năm tháng chống chiến tranh tại Việt Nam.

Thay mặt người dân Việt Nam gửi lời cám ơn đến các đại biểu quốc tế, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, bày tỏ: “Tôi muốn thông qua các bạn gửi đến hàng triệu người trên thế giới, từ châu Âu, châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh và cả nước Mỹ, lời cảm ơn đã đồng hành cùng chúng tôi trong cuộc trường chinh 20 năm. Có thể nói, nhiều bạn bè trên thế giới đã đi cùng chúng tôi chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng. Mãi mãi nhân dân Việt Nam không bao giờ quên bạn bè đã giúp chúng tôi.”

Bà Nguyễn Thị Bình khẳng định: “Sự chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi, trong đó nhân tố quan trọng nhất là đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Việt Nam trong những năm tháng gian nan đó, cả triệu người như một và sự nghiệp của chúng tôi được phong trào thế giới với hàng triệu, hàng triệu người ủng hộ. Mong rằng các bạn luôn luôn nhớ Việt Nam và chúng ta cùng đoàn kết trên con đường đấu tranh cho hòa bình, cho tự do.”

Đoàn kết các dân tộc cho một thế giới hòa bình

Kết thúc hội thảo, bà Jeanne Ellen Mirer, Chủ tịch Hội Luật gia Dân chủ Quốc tế, đại diện cho các đại biểu quốc tế tham gia lễ kỷ niệm đã đọc Thông điệp đoàn kết của các đại biểu quốc tế.

Thông điệp nêu rõ các đại biểu quốc tế đã tập hợp tại Việt Nam để tôn vinh và chào mừng lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, mở đường cho thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam giải phóng và thống nhất đất nước sau nhiều thập niên chiến tranh xâm lược.

“Chúng tôi bày tỏ tinh thần đoàn kết nhiệt thành với nhân dân Việt Nam trong nỗ lực bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia, xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh, bình đẳng, dân chủ, văn minh và có điều kiện để phát triển trong một môi trường hòa bình, nơi nhân dân làm chủ vận mệnh và tài nguyên của mình,” thông điệp nhấn mạnh.

Thông qua thông điệp của mình, các đại biểu quốc tế đã bày tỏ lòng tôn trọng và ngưỡng mộ đối với nhân dân Việt Nam, những người đã chiến đấu anh dũng chống ngoại xâm, đặc biệt đối với những người đã hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Các đại biểu bày tỏ tình đoàn kết, chia sẻ đối với các nạn nhân chiến tranh, đặc biệt các thế hệ đến nay vẫn phải gánh chịu hậu quả của chất độc da cam.

Thông điệp có đoạn: “Là những người yêu chuộng hòa bình từ mọi nơi trên thế giới, chúng tôi rút ra những bài học kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, rằng các dân tộc bị áp bức và chiếm đóng có quyền kháng cự và đấu tranh vì tự do và quyền quyết định vận mệnh của mình không có bất kỳ sự can thiệp nào của nước ngoài. Bảo vệ chính các giá trị và nguyên tắc mà chúng tôi từng bảo vệ trong thời gian chiến tranh Việt Nam , chúng tôi tuyên bố đoàn kết với các dân tộc đang đấu tranh cho một thế giới hòa bình và một xã hội công bằng.

Từ Việt Nam, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi bày tỏ niềm tin tưởng rằng tấm gương Việt Nam sẽ cổ vũ các dân tộc trên thế giới đến thắng lợi cuối cùng”./.

Hoàng Anh Tuấn (TTXVN)
vietnamplus.vn

Thắng lợi của Hiệp định Pari là bài học về sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại

Trong thời gian diễn ra Hội nghị Pari về Việt Nam (1968 – 1973), bà Nguyễn Thị Bình (ảnh) đại diện cho đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) tham gia đàm phán trên bàn Hội nghị. Bà cũng là người phụ nữ duy nhất ký tên trong bản Hiệp định Pari cách đây 40 năm với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sau này, bà đảm nhận cương vị Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013), phóng viên báo Tin tức đã có cuộc gặp và phỏng vấn nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình về tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của Hiệp định Pari 40 năm về trước. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

´Là nữ bộ trưởng ngoại giao duy nhất trong Hội nghị Pari, xin bà cho biết cảm xúc của mình khi đảm nhận nhiệm vụ thiêng liêng nhưng cũng đầy khó khăn này?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Khi được giao nhiệm vụ đi Pari tham dự Hội nghị, tôi rất lo lắng, vì biết đây là nhiệm vụ rất quan trọng và rất khó khăn. Hơn nữa, tôi lại không phải là người được đào tạo bài bản ở trường ngoại giao, nên cũng khá lo lắng. Bởi tôi biết, tham gia một cuộc đàm phán tức là tham gia một cuộc đấu tranh chính trị là điều không đơn giản. Tuy nhiên, khi đó tôi nghĩ rằng, các đồng chí lãnh đạo đã cân nhắc khi cử tôi đi làm nhiệm vụ này, thì chắc các đồng chí nghĩ tôi có đủ điều kiện và khả năng đảm nhận công việc này nên tôi đã tự tin lao vào công việc, và thực tế là tôi cũng đã rất cố gắng.

´Trước khi Hiệp định Pari được ký kết năm 1973, thì thời gian đàm phán quyết định nhất là thời gian nào, thưa bà?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Cuộc đàm phán 4 bên ở Pari bao gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) Mỹ và Việt Nam Cộng hòa với mục đích nhằm tìm một giải pháp chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. Trong suốt thời gian gần 5 năm diễn ra cuộc đàm phán, có rất nhiều lúc căng thẳng. Nhưng căng thẳng nhất là vào những tháng cuối năm 1972. Lúc đó, tình hình chiến trường cũng tạo cho ta những điều kiện thuận lợi so với đối phương. Mặt khác, lúc bấy giờ Tổng thống Mỹ Nixon cũng sắp bước vào cuộc tổng tuyển cử thứ 2, nên phía Mỹ cũng muốn tỏ ra cuộc đàm phán Pari đã đi đến kết thúc, điều mà nhân dân thế giới nói chung và nhân dân Mỹ rất mong đợi, nên hai bên ta và Mỹ đã đi vào thương lượng thực chất (trước đó không phải thương lượng mà nói cho đúng là cuộc đấu tranh về chính trị, về lý lẽ trên bàn Hội nghị và trong dư luận quốc tế) để chấm dứt chiến tranh. Hai bên đã đi đến thỏa thuận về một dự thảo Hiệp định.

Tuy nhiên, phía Mỹ chưa phải là muốn chấm dứt chiến tranh thực sự, mà đó chỉ là ý đồ của Tổng thống Nixon, muốn cho mọi người thấy có thể chấm dứt chiến tranh để tranh thủ sự ủng hộ trong cuộc tổng tuyển cử ở Mỹ, do đó hai bên đã đi đến thỏa thuận một bản Dự thảo cơ bản Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình. Bởi vậy, ngay khi Tổng thống Mỹ Nixon đạt được mục đích là thắng cử ngày 4/11/1972, Mỹ đã lật lọng, đặt ra vấn đề xem xét lại Dự thảo Hiệp định Pari, gây sức ép buộc ta sửa đổi một số điều không có lợi cho Mỹ trong Dự thảo Hiệp định. Đỉnh điểm của sự ép buộc đó là cuộc không kích 12 ngày đêm bằng B52 vào Hà Nội. Sau khi thất bại, buộc phải ngừng ném bom B52 xuống Hà Nội ngày 30/12/1972, Mỹ đã đặt vấn đế quay lại bàn ngoại giao để bàn về Hiệp định Pari. Tôi cho rằng đó là giai đoạn hết sức căng thẳng. Nếu chúng ta không thắng ở trận Điện Biên Phủ trên không, chắc chắn sẽ rất phức tạp. Nhưng Mỹ đã thất bại hoàn toàn trên bầu trời Hà Nội, do đó Mỹ buộc phải đi đến ký kết Hiệp định cơ bản như Dự thảo hai bên đã thỏa thuận cuối năm 1972.

´Xin bà cho biết, chúng ta đã đặt ra mục tiêu gì, đã đạt được gì từ Hiệp định Pari và đâu là nhân tố quyết định thành công trên bàn đàm phán?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Có thể nói, Hiệp định Pari là kết quả của cả một cuộc chiến đấu trường kỳ 20 năm của quân và dân ta. Từ sau chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, đến năm 1955 ta đã bắt đầu cuộc đấu tranh, nhưng đến năm 1959, chúng ta vừa đấu tranh vũ trang, đồng thời vừa kết hợp đấu tranh chính trị. Như vậy, kết quả của Hiệp định là kết quả của cả một cuộc đấu tranh kéo dài, một cuộc đấu tranh toàn dân, toàn diện. Thắng lợi đây là thắng lợi về quân sự, đồng thời là thắng lợi về chính trị và cũng là thắng lợi về ngoại giao. Nếu nói đâu là kết quả của thắng lợi thì phải nói về cả một cuộc đấu tranh lâu dài và thắng lợi trên các mặt trận để đi đến thúc ép Mỹ ký Hiệp định Pari.

´Theo bà, từ cuộc đàm phán đi đến ký kết Hiệp định Pari có thể rút ra những bài học quý báu nào cho công tác ngoại giao sau này?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Tôi nghĩ rằng, Hội nghị Pari trải qua hơn 4 năm, nếu nói cho đúng, trước đó chúng ta cũng đã quan tâm đến vấn đề đấu tranh trên mặt trận dư luận, ngoại giao, nhưng tập trung ở cuộc đàm phán 4 bên ở Pari. Với nhân dân ta nói chung, đặc biệt là các đồng chí làm công tác ngoại giao thì tôi nghĩ, cuộc đấu tranh ở Hội nghị cho chúng ta rất nhiều bài học quý báu, và những bài học đó vẫn có giá trị cho cả ngày nay và mai sau. Theo tôi, trước hết cuộc đấu tranh của chúng ta rất phức tạp, bởi tuy là cuộc đấu tranh giữa ta và Mỹ, nhưng cũng là mối quan tâm của nhiều nước lớn trên thế giới. Bài học đầu tiên từ Hội nghị trước hết là bài học về độc lập tự chủ. Chúng ta giữ vững nguyên tắc về độc lập tự chủ, chúng ta phải xuất phát từ lợi ích quốc gia của mình, phải biết là lực lượng mình như thế nào, đối phương như thế nào để quyết định từng bước đi và luôn luôn có sự kết hợp giữa chiến trường và trên mặt trận ngoại giao.

Bài học thứ 2 là chúng ta phải hết sức kiên định đối với lập trường nguyên tắc và mục tiêu chiến lược của chúng ta, tuy nhiên, trong sách lược phải biết mềm dẻo. Ví dụ, chúng ta đặt ra mục tiêu trong cuộc đàm phán hai yêu cầu: Yêu cầu thứ nhất là Mỹ phải rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam. Yêu cầu thứ 2 là phải bỏ chính quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, để nhân dân Việt Nam lựa chọn chính quyền của mình. Nhưng khi tình hình đến một mức nào đó, thì chúng ta tập trung vào một mục tiêu là Mỹ phải rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam. Vì chúng ta biết, khi Mỹ rút quân và chấm dứt sự can thiệp ở miền Nam Việt Nam, thì vấn đề miền Nam Việt Nam chúng ta sẽ có điều kiện giải quyết và giành được thắng lợi.

Một bài học lớn nữa là chúng ta biết kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Nghĩa là chúng ta phải trông vào sức mình, do đó về mặt chính trị, quân sự chúng ta đều hết sức cố gắng, nên chúng ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đồng thời, chúng ta cũng nhận thấy, trong một cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt, với một đối phương mạnh hơn chúng ta nhiều lần, thì chúng ta cũng phải biết trông vào sức mạnh đoàn kết quốc tế, và điều đó chúng ta đã làm được. Có thể nói, phong trào đoàn kết quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là phong trào đoàn kết quốc tế rộng lớn chưa từng có trong lịch sử. Đó chính là sức mạnh to lớn góp sức thêm vào cuộc đấu tranh, vào sức mạnh dân tộc của chúng ta, do đó mà chúng ta đã đạt được thắng lợi.

´Là người đã tham gia và đóng góp nhiều công sức trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, bà có nhắn nhủ gì với thế hệ trẻ hôm nay?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Trước hết, các thế hệ trẻ ngày nay cần thấy được giá trị của độc lập, tự do mà cha ông ta đã giành được. Các bạn trẻ hãy ghi nhớ, để các bạn có cuộc sống như ngày hôm nay là nhờ sự lãnh đạo tài tình của Đảng và trí tuệ của dân tộc Việt Nam trong suốt những năm tháng đấu tranh gian khổ. Đã có nhiều thế hệ cha, ông đã phải hy sinh, đổ xương máu trong mấy chục năm chiến tranh rất ác liệt để gìn giữ đất nước. Cũng chính từ những cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc ta mà thế giới đã biết đến, khâm phục và rất trọng thị đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam.

Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta chưa phát triển được theo cách như chúng ta mong muốn nên cần phải cố gắng rất nhiều. Thế hệ trẻ cần biết suy nghĩ và vươn lên. Bây giờ chưa phải là lúc mình hưởng thụ, mà phải tiếp tục sự nghiệp này như Bác Hồ đã nói: Mình có độc lập, có hòa bình, nhưng đất nước chưa phát triển, nhân dân chưa hạnh phúc, thì độc lập đó chưa có ý nghĩa đầy đủ. Nên bây giờ chúng ta phải tiếp tục một cuộc đấu tranh mới, cuộc đấu tranh này tuy không gian khổ, không chết chóc như trước, nhưng nó cũng đòi hỏi một sự phấn đấu, nỗ lực không phải chỉ của một số người, mà của cả nhân dân, cả dân tộc.

Xin cảm ơn nguyên Phó Chủ tịch nước vì cuộc trò chuyện này!

Phương Lan (thực hiện)
baotintuc.vn

Gặp gỡ nhân chứng Hiệp định Paris

Ngày 27/1, tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh (TP Hồ Chí Minh), Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị Việt Nam tổ chức Hội thảo bàn tròn “Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử”, nhân kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013).

Toàn cảnh hội thảo.

Bà Men Som Ol, Thượng nghị sĩ, Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ vì hòa bình và phát triển Vương quốc Campuchia, người đã từng tham gia lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, phát biểu tại hội thảo.

Bà Nguyễn Thị Bình (bên trái), Trưởng Phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, người đã đặt bút ký vào Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973, gặp gỡ các chứng nhân lịch sử trong nước và quốc tế.

Bà Võ Thị Thắng, người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu với “Nụ cười chiến thắng” trong tấm ảnh lịch sử thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phát biểu tại hội thảo.

Ông Andre Menras (tên Việt Nam là Hồ Cương Quyết), hiện là Ủy viên Ủy ban toàn quốc Hội Hữu nghị Pháp – Việt, Chủ tịch Hội Hữu nghị vì sự phát triển và trao đổi giáo dục Pháp – Việt, người đã công khai lao lên đầu tượng đài 2 lính thủy đánh bộ trước trụ sở Quốc hội chính quyền Sài Gòn để phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và tung truyền đơn đòi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Ông Ramsey Clark, cựu Bộ trưởng Tư pháp Mỹ (1967-1969) dưới thời Tổng thống L.B.Johnson, người đã lên tiếng phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và có nhiều đóng góp trong các hoạt động đoàn kết ủng hộ Việt Nam.

Bà Hélène Luc, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Pháp – Việt (chồng là cố Thị trưởng Paris, ông Choisy le Roi, đã có nhiều đóng góp cho các hoạt động đoàn kết hữu nghị với Việt Nam), giới thiệu bức ảnh tư liệu lịch sử của gia đình bà, trong ảnh là bà Nguyễn Thị Bình phát biểu trước hội nghị đàm phán 4 bên ở Paris; với mong muốn tặng lại bức ảnh này cho Bảo tàng Chứng tích chiến tranh Thành phố.

Chùm ảnh: Thế Anh – TTXVN
baotintuc.vn