Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 12: Tượng đồng bia đá

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 12: Tượng đồng bia đá.

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập cuối: Chuyện chưa nói hết

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 13: Chuyện chưa nói hết.

Bài học về thống nhất chỉ đạo chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968

Sau thất bại của cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, kế hoạch “ bình định” chiến lược của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn bị phá sản một bước quan trọng. Đầu năm 1967, trên cơ sở phân tích, đánh giá, tình hình mọi mặt và diễn biến thực tế chiến trường, Quân ủy Trung ương (QUTƯ) và Bộ Tổng Tư lệnh (BTTL) Quân đội nhân dân Việt Nam nhận thấy một tình thế mới có lợi cho ta, bất lợi cho địch đã xuất hiện. Kế hoạch chiến lược Đông Xuân 1967-1968 lập tức được khởi thảo nhằm chớp thời cơ đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước tiếp tục phát triển.

Liên tục trong tháng 5 và tháng 6 năm 1967, Bộ Chính trị (BCT) Ban Chấp hành Trung ương (BCHTƯ) Đảng, khóa III đã hai lần tổ chức hội nghị để đánh giá tình hình, xem xét dự thảo chiến lược Đông Xuân 1967-1968, đề ra chủ trương: trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất để giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn, bằng cách quyết tâm chỉ đạo việc tổ chức các trận đánh tiêu diệt từ 3 đến 5 lữ đoàn Mỹ, 3 đến 5 sư đoàn quân ngụy Sài Gòn.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết tháng 6-1967 của Hội nghị BCT, Bộ Tổng Tham mưu (BTTM) đã nhanh chóng cử cán bộ tới các chiến trường, các mặt trận để chỉ đạo thí điểm cách đánh tiêu diệt gọn các đơn vị quân đội Mỹ, nhằm đánh giá khả năng tác chiến của quân và dân ta trước một đối thủ “được trang bị tận răng” như quân đội Mỹ; đồng thời, thăm dò phản ứng đối phó và thực lực của địch. Trong khi BTTM đang chỉ đạo cách đánh thí điểm trên chiến trường thì tháng 7-1967, tại Tổng hành dinh, BCT đã có cuộc họp với lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường, với các ngành, các cấp có liên quan để cùng bàn bạc, cân nhắc, từng bước hoàn chỉnh chủ trương chiến lược đã xác định.

Từ kết quả các hội nghị trên, từ thực tế “Tổ kế hoạch” của BTTM  được BCT giao cho lựa chọn hai khả năng tác chiến (từ tháng 6-1967 đến thời điểm này) chưa tìm ra phương án tối ưu; thì vào lúc đó, một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt trong BCT, QUTƯ đưa ra chủ trương: đột ngột chuyển hướng tiến công chiến lược của ta từ rừng núi, nông thôn đánh thẳng vào sào huyệt địch ở đô thị trên toàn miền Nam. Thế là, ngay lập tức, kế hoạch mà BTTM đang triển khai được hình thành lại.

Tháng 10-1967, trong 5 ngày (từ 20 đến 24-10), BCT họp bàn cụ thể hơn về chủ trương và kế hoạch chiến lược năm 1968. Đây là Hội nghị rất quan trọng để quyết định kế hoạch tiến công Tết Mậu Thân lịch sử.

Sau khi nghe Dự thảo kế hoạch chiến lược Đông-Xuân-Hè 1967-1968 do đồng chí Văn Tiến Dũng thay mặt QUTƯ trình bày, Báo cáo về tình hình địch của Cục 2, về Tình hình ta của BTTM, về Kế hoạch tác chiến của các mặt trận…, BCT nhận định: Mỹ đang thất bại lớn, có tăng quân cũng không giải quyết được gì, mà tình hình càng bế tắc, càng bị cô lập thêm, mâu thuẫn càng sâu sắc. Tuy vậy, Mỹ còn rất ngoan cố… đang cố gắng tăng cường lực lượng để giữ cho tình hình không xấu đi, ta nên chớp thời cơ bất ngờ và đồng loạt đánh mạnh vào các đô thị trên toàn miền Nam.

Phải thấy rằng, đây là một quyết định rất táo bạo, rất sáng tạo của Đảng ta. Nếu chỉ căn cứ vào tương quan lực lượng quân sự thuần túy giữa hai bên trên chiến trường lúc ấy sẽ không có chủ trương táo bạo này. Toàn bộ ý định chiến lược được giữ hết sức nghiêm mật (không đưa ra bàn ở Trung ương; ngay trong BTTM cũng chỉ những người được phân công trực tiếp làm kế hoạch mới biết).

Ngày 28-12-1967, BCT họp phiên đặc biệt, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, chính thức thông qua kế hoạch chiến lược năm 1968. Tháng 1-1968, Hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ 14 họp, đã thông qua Nghị quyết tháng 12-1967 của BCT, thực hiện Tổng công kích- Tổng khởi nghĩa (TCK-TKN) trên toàn miền Nam.

Để thực hiện quyết tâm chiến lược này, BCT chỉ rõ: trên mặt trận ngoại giao cần có những phương pháp và hình thức đấu tranh thích hợp và “phải mở đường cho địch đi vào thương lượng theo hướng có lợi nhất cho ta1. Đồng chí  Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất BCHTƯ Đảng- lưu ý rằng: mặc dù quân Mỹ đang bị động, đang lâm vào thế khó khăn, “nhưng nó là kẻ mạnh, nên ta phải biết thắng nó”. Muốn thế, chúng ta không thể đánh theo lối cũ “mà phải chuyển qua một giai đoạn mới, tức là giai đoạn TCK-TKN, buộc nó phải đi đến ngồi với ta, thương lượng với ta2.

Để hiểu rõ hơn phương châm chiến lược mà Đảng ta xác định cho Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chúng ta nhìn lại một cách khái quát tình hình quân sự, chính trị, ngoại giao của chúng ta từ 1965 đến 1968.

Về quân sự: trong khói lửa chiến tranh ác liệt, quân và dân ta trên cả hai miền Nam-Bắc vẫn bền gan chiến đấu, giữ vững chiến lược tiến công, làm thất bại một bước quan trọng các mục tiêu chiến lược trong cuộc “chiến tranh cục bộ” và “chiến tranh phá hoại” của Mỹ, khiến cho Mỹ không thể dễ dàng đạt được mục tiêu chiến lược đề ra ban đầu là “giành thắng lợi trong thời gian ngắn”.

Về chính trị, ngoại giao: nếu như phía chính quyền Mỹ chịu sức ép của phong trào phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam ngày càng tăng ở trong nước và trên thế giới, thì phía chúng ta cũng đang ở vào giai đoạn phức tạp là phải tính toán sao cho vừa giữ được độc lập chủ quyền, vừa tranh thủ được sự ủng hộ tối đa của bạn bè quốc tế. Do vậy, từ cuối năm 1966, đầu năm 1967, BCT đã chủ trương tạo điều kiện mở ra cục diện vừa đánh vừa đàm. Thấm nhuần chủ trương đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (1-1967), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh phát biểu: “ Để đánh bại kẻ thù hết sức ngoan cố và xảo quyệt là đế quốc Mỹ xâm lược, ta phải giữ vững quyết tâm cao độ, nắm vững phương châm chiến lược, đồng thời phải biết cách đánh thắng địch, vận dụng sách lược khôn kéo, thắng từng bước”3. Đó là điều giải thích, vì sao nếu như từ năm 1966 trở về trước, lập trường của phía Việt Nam là Mỹ phải rút hết quân ra khỏi miền Nam, chấm dứt hoàn toàn mọi hành động chống phá miền Bắc trước khi có bất cứ cuộc nói chuyện nào giữa hai bên thì tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, Đảng ta bắt đầu hé mở khả năng phía Việt Nam sẽ đi vào đàm phán với Mỹ, nếu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, chứ chưa bao gồm điều kiện Mỹ phải rút hết quân ra khỏi miền Nam như trước đây. Tuy nhiên, lường trước những vấn đề nảy sinh, Hội nghị Trung ương 13 cũng đã nêu rõ, phải có kế hoạch vận động, giải thích, thuyết phục… Những nước XHCN anh em có thể nghĩ là ta “thương lượng non”, do đó tỏ thái độ trực tiếp hoặc gián tiếp không đồng tình với ta; hoặc quá nặng về đàm phán đi đến thúc ép ta sớm đi đến giải pháp chính trị trong khi tình hình chưa chín muồi; cần hết sức tránh không để kẻ thù lợi dụng sự bất đồng về sách lược giữa nước ta và các nước anh em.

Trước thiện chí hòa bình của Việt Nam, phía Mỹ không những không đáp lại mà còn đòi ta “phải có đi, có lại”, đưa ra điều kiện buộc ta phải công khai cam kết không được lợi dụng việc Mỹ ngừng ném bom để chi viện cho miền Nam. Đó là sự mặc cả trớ trêu, bất công, lộn sòng giữa người bị xâm lược và kẻ đi xâm lược, thể hiện rõ việc Mỹ vẫn ôm mộng xâm lược miền Nam. Xem thư của Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 8-2-1967, thấy rõ sự ngoan cố đó.

Vì thế, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 là để giải bài toán lịch sử nêu trên. Nghiên cứu kỹ Biên bản Hội nghị BCT bàn về kế hoạch chiến lược mùa thu: TCK-TKN Đông-Xuân-Hè 1967-1968, Nghị quyết của cơ quan chỉ đạo chiến lược cũng như một số bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội lúc bấy giờ, chúng ta nhận thấy, chủ trương chiến lược táo bạo của Nghị quyết tháng 12-1967 của BCT thực hiện TCK-TKN có sự thống nhất cao của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước và quân đội. Tựu trung, các đồng chí đã hoàn toàn nhất trí với chủ trương TCK-TKN, nhằm vào toàn bộ mục tiêu hiểm yếu của địch trên chiến trường; đặc biệt là với cách đánh hiểm, đánh vào yết hầu, đánh vào “tim óc” của địch vào thời điểm nhạy cảm nhất trong đời sống chính trị nước Mỹ, buộc giới lãnh đạo Mỹ phải xuống thang, ngồi vào bàn đàm phán, mở ra một giai đoạn mới- giai đoạn vừa đánh vừa đàm, nhằm kết thúc cuộc chiến tranh theo truyền thống Việt Nam.

Tết Mậu Thân 1968 và tác động rộng lớn của nó đã hiện thực hóa mục tiêu chiến lược này của cơ quan chỉ đạo chiến lược ta về các mặt sau:

– Phơi bày toàn bộ quá trình thất bại của Mỹ trên chiến trường cả về quân  sự, chính trị; sự bất lực của một đạo quân đông tới gần một triệu rưởi, được trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại (bậc nhất lúc bấy giờ) trước sức tiến công mãnh liệt và cách đánh hiểm đầy sáng tạo của quân và dân ta.

– Làm lộ rõ những sai lầm về chiến lược cũng như cách thức điều hành chiến tranh của giới lãnh đạo Oa-sinh-tơn và của giới tướng lĩnh Mỹ trên chiến trường.

– Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 còn là sự biểu dương ý chí, nghị lực, sức mạnh và nghệ thuật điều hành chiến tranh của Bộ Thống soái Việt Nam; qua đó, làm bộc lộ những giới hạn trong sức mạnh quân sự, kinh tế của Mỹ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chiến lược toàn cầu mà Mỹ đã theo đuổi từ lâu.

– Vì những lẽ đã nêu, cho dù Mỹ là một nước lớn, một nước chưa hề bại trận trong lịch sử 200 năm lập nước, nhưng sự kiện Tết Mậu Thân 1968 đã gây  chấn động dữ dội giữa lòng nước Mỹ, khiến cho đông đảo các tầng lớp xã hội Mỹ- kể cả các quan chức cấp cao, các nghị sĩ, các tập đoàn tài phiệt đầy thế lực phải thay đổi quan điểm, không còn hậu thuẫn cho chính sách xâm lược của chính quyền Giôn-xơn nữa.

– Tất cả những gì diễn ra trong Tết Mậu Thân 1968 đã khiếnTổng thống Mỹ L.Giôn-xơn, vào đêm 31-3-1968, chẳng những phải công khai tuyên bố: Mỹ đơn phương chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc (từ vĩ tuyến 20 trở ra), sẵn sàng cử đại diện đi vào đàm phán với chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, mà hơn thế, còn quyết định rút dần quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam khi chưa một mục tiêu nào của cuộc chiến tranh này được thực hiện. Việc trút bỏ gánh nặng chiến tranh xuống vai chính quyền và quân đội Sài Gòn- một lực lượng vốn đã bại trận trước khi quân Mỹ buộc phải tham chiến và ngày càng phụ thuộc vào sự hiện diện của quân Mỹ thì, về thực chất đã làm cho Mỹ phải phụ thuộc vào chính kẻ đã và đang phụ thuộc vào mình. Với tất cả các lý do đó, cho dù sau Tết Mậu Thân 1968, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta vẫn phải kéo dài và rất quyết liệt (phải 5 năm sau quân Mỹ mới rút hết và 7 năm sau ngụy quyền Sài Gòn mới sụp đổ hoàn toàn), nhưng với quyết định ngày 31-3-1968 của Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn, về thực chất, số phận cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ đã được định đoạt.

Bài học về sự thống nhất  chỉ đạo chiến lược trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 vẫn mang giá trị thời sự trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của chúng ta, khi mà tình hình chính trị, quân sự, kinh tế thế giới và khu vực còn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều thách thức, nguy cơ, nhiều nhân tố gây mất ổn định như hiện nay.

Đại tá, PGS, TS. HỒ KHANG
Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
tapchiqptd.vn

____________________

1, 2 – ĐCSVN- Văn kiện Đảng, Toàn tập, Tập 29 , Nxb CTQG, H. 2004, tr. 63; tr. 23.

3 – Văn kiện Đảng, Sđd, Tập 28, tr. 124;125.

“Cầu hàng không” Xuân Mậu Thân 1968 – Khúc tráng ca bất tử

QĐND – Thật kỳ diệu! Tôi đã thốt lên như vậy khi nghe trọn câu chuyện tái hiện ký ức thực hiện nhiệm vụ tuyệt mật, thiết lập “cầu hàng không” chi viện cho chiến trường miền Nam Tết Mậu Thân 1968 của Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Tường Long, nguyên kỹ sư hàng không thuộc Trung đoàn 919, Quân chủng Phòng không-Không quân. Từ ký ức của Anh hùng Nguyễn Tường Long kết hợp với tư liệu của Thiếu tướng Phan Khắc Hy, nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Không quân, nguyên Phó tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, chúng tôi có dịp hiểu rõ hơn những trang sử bi hùng của “cầu hàng không” Tết Mậu Thân 1968.

Kế hoạch quan trọng tối mật

Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Tường Long giờ đây đã yên nghỉ trong cõi vĩnh hằng. Ông qua đời năm 2008. Cuộc gặp gỡ với tôi trước ngày định mệnh mấy tuần là lần cuối cùng ông tiếp xúc với báo chí. Dường như ông đã tiên liệu trước sự ra đi vĩnh viễn của mình vì tuổi già, bệnh tật, nên đã chủ động đến gặp tôi. Ông mang theo bản tư liệu chép tay được trình bày khá ngắn gọn nhưng đầy đủ. Đó là những gì ông nhớ được về nhiệm vụ tối mật, cải tiến máy bay vận tải IL-14 do Liên Xô sản xuất thành máy bay ném bom, thiết lập “cầu hàng không” chi viện chiến trường miền Nam Tết Mậu Thân 1968. “Đây là dấu ấn sâu sắc nhất trong đời quân ngũ của tui. Tui đã ghi tóm tắt tất cả vào đây. Cháu cần gì thêm thì cứ hỏi. Thời gian đã qua lâu rồi nhưng tui vẫn nhớ rành rẽ mọi việc. Tui sẽ kể hết cho cháu nghe, kẻo rồi không còn dịp để mà kể nữa”, ông đã nói với tôi như vậy.

Phi công Nguyễn Văn Bang, một trong những cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Ảnh tư liệu.

Để chuẩn bị cho Chiến dịch Mậu Thân 1968, thực hiện chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu; Quân chủng Phòng không-Không quân, Bộ tư lệnh Không quân đã giao cho Trung đoàn 919, trực tiếp là Ban Kỹ thuật của Nguyễn Tường Long nhiệm vụ tối quan trọng và tuyệt mật: Nghiên cứu cải tiến một số loại máy bay hiện có phục vụ nhiệm vụ chiến đấu, ném bom, chi viện cho chiến trường miền Nam. Cuộc thử nghiệm được bắt đầu với loại máy bay vận tải IL-14. Ông là người lãnh trách nhiệm nghiên cứu, lập phương án cải tiến trình cấp trên phê duyệt. Thời gian gấp rút. Nhiệm vụ cấp bách. Nguyễn Tường Long hối hả tìm tài liệu kỹ thuật tiếng Nga về loại máy bay này để nghiên cứu, nhưng chẳng khác gì “mò kim đáy bể”. May mắn là sau đó, Tường Long tìm được một tài liệu quân sự tiếng Đức dịch từ tiếng Nga. Như vớ được vàng, người kỹ sư trẻ và các cộng sự chụm đầu, ngày quên ăn, đêm quên ngủ, dồn tâm lực, trí tuệ nghiên cứu toàn diện đặc tính kỹ, chiến thuật của máy bay IL-14 để tìm phương án cải tiến. Lúc bấy giờ, những chiếc máy bay IL-14 của ta khi đưa từ Liên Xô về, phải gửi tại sân bay Tường Vân (Trung Quốc). Ngay lập tức, các phi công của Trung đoàn 919 đã sang Tường Vân lái ba chiếc về sân bay Gia Lâm phục vụ việc nghiên cứu, cải tiến.

Sau nhiều ngày đêm liên tục miệt mài, Nguyễn Tường Long và các kỹ sư đã tìm ra “mã khóa” để biến máy bay vận tải chở quân IL-14 thành chiến đấu cơ bắn pháo cối, ném bom. Trọng tâm của kế hoạch cải tiến là phần khoang bụng và hai cánh của máy bay. Các kỹ sư đã tháo dỡ hết các ghế ngồi và phụ kiện dùng để chở người, tính toán sức nâng, cân đối lực cản của gió và tính năng hoạt động trên không của phương tiện để gắn vào đó một khối lượng vũ khí tương ứng. Tận dụng phần gờ hai bên dãy ghế ngồi, Nguyễn Tường Long đã “chế” thành vị trí gắn vũ khí và lắp được 60 quả đạn cối 120mm. Tiếp đó là “mổ bụng” máy bay, tạo cửa cho đạn cối thoát ra khi phi công thao tác chiến đấu trên không. Hai cánh của máy bay cũng được nắn lại để gắn các giá treo bom, đủ khả năng mang theo ba quả bom loại 100kg.

Sau khi cải tiến, IL-14 trở thành chiến đấu cơ đa năng, vừa ném bom, vừa phóng đạn cối, vừa chở quân nhảy dù và hàng chi viện. Kế hoạch cải tiến, nâng cấp một loạt máy bay IL-14 và máy bay AH2 được triển khai gấp rút, kịp chuẩn bị cho chiến dịch chi viện. Riêng loại máy bay AH2, sau khi cải tiến, mỗi chiếc lắp được 10 quả cối 120mm.

Trong khúc tráng ca…

Nhật ký chiến tranh của Thiếu tướng Phan Khắc Hy có nhiều trang ghi chép tỉ mỉ diễn biến của nhiệm vụ thả dù tiếp tế bộ binh và tấn công một số mục tiêu mặt đất ở phía Nam Vĩ tuyến 17 trong Chiến dịch Mậu Thân 1968. Sau khi đã chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, vũ khí trang bị, đúng ngày 27 Tết Mậu Thân (nhằm ngày 26-1-1968), thực hiện chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu, Chính ủy Không quân Phan Khắc Hy và Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân Nguyễn Văn Tiên trực tiếp xuống Trung đoàn 919 để phổ biến nhiệm vụ tuyệt mật, tổ chức cho các phi đội cất cánh chi viện bộ binh và tấn công mục tiêu của kẻ thù ở bên kia Vĩ tuyến 17. Các lực lượng bảo đảm cho “cầu hàng không” cũng được triển khai gấp rút, bí mật lập sở chỉ huy không quân ở Quảng Bình.

Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Tường Long, người trực tiếp cải tiến máy bay IL-14 (chụp năm 2008).

Vào thời khắc miền Nam tổng tiến công, đêm Ba mươi rạng sáng Mồng Một Tết Mậu Thân, lực lượng không quân Trung đoàn 919 gồm các phi đội thực hiện nhiệm vụ chi viện cũng đã sẵn sàng chờ lệnh cất cánh. Thiếu tướng Phan Khắc Hy nhớ lại: “Vào thời điểm đó, thời tiết miền Bắc đột ngột chuyển biến rất xấu. Mây dày đặc, nhiệt độ xuống thấp, mặt khác hệ thống phòng ngự của địch cả trên đất liền và trên biển được tăng cường tối đa. Tình hình hết sức khó khăn”.

Nhiệm vụ cất cánh không thể chậm trễ hơn được nữa. Một phương án táo bạo nhưng cần thiết được thông qua. Các máy bay T.14 (ký hiệu chỉ máy bay IL-14 cải tiến) sẽ cất cánh từ sân bay Gia Lâm, bay ở tầm thấp vòng qua không phận Lào để vào Huế, nhằm tránh sự phát hiện của ra-đa đối phương. Tối Mồng 10 Tết Mậu Thân (nhằm ngày 7-2-1968), các chuyến bay lần lượt nhận lệnh cất cánh. Vì thời tiết xấu, tổ bay đánh đồn Mang Cá không tìm thấy mục tiêu. Hai chiếc đã bay trở ra cửa biển Cửa Việt (Quảng Trị) và bắn chìm một tàu chiến của địch, bắn hai tàu khác bị thương rồi về sân bay Gia Lâm hạ cánh an toàn; còn chiếc của ông Chuyền trên đường quay về thì bị bắn thủng thùng chứa nhiên liệu nên phải hạ cánh khẩn cấp xuống Thanh Hóa. Riêng tổ bay do đồng chí Phan Kế làm cơ trưởng đã mãi mãi không trở về.

Liên tiếp những ngày sau đó, các tổ bay thực hiện nhiều đợt xuất kích nữa. Theo lời kể của Thiếu tướng Phan Khắc Hy thì có tất cả 12 tổ bay cất cánh đi làm nhiệm vụ trong 4 đêm, bao gồm cả bay chiến đấu và bay tiếp vận.

Trong câu chuyện với chúng tôi lúc còn sống và tư liệu chép tay để lại, Anh hùng Nguyễn Tường Long nhắc nhiều đến người đồng đội gần gũi, thân thiết, đó là phi công Nguyễn Văn Bang (trong chiến dịch “cầu hàng không” nói trên, phi công Nguyễn Văn Bang là phi đội trưởng). Trong quá trình Ban Kỹ thuật nghiên cứu, cải tiến máy bay, trước nhiều ý kiến bày tỏ sự lo ngại kế hoạch không thành công, làm hỏng máy bay, phi công Nguyễn Văn Bang là người động viên, ủng hộ Nguyễn Tường Long hết mình. Anh nói với Tường Long: “Cậu cứ làm đi. Nếu phải chết vì bay thử nghiệm máy bay cải tiến của cậu thì tớ cũng sẵn sàng”.

Sau một vài chuyến đầu cất cánh tìm diệt mục tiêu trên bộ không đạt kết quả như mong muốn, Nguyễn Văn Bang đã đề xuất và được cấp trên chấp thuận, chuyển hướng đánh mục tiêu trên biển, cụ thể là nhắm vào các chiến hạm của Mỹ. Nguyễn Tường Long và Nguyễn Văn Bang đã bàn bạc, tính toán kỹ lưỡng phương án đánh sao cho mục tiêu phải bị tiêu diệt và máy bay phải an toàn. Cách đánh được thống nhất, đưa máy bay vào độ cao trên 100m, mục tiêu nằm trong tầm bắn thì cắt bom, phóng hỏa lực rồi nhanh chóng thoát lên cao. Tầm 11 giờ 30 phút đêm 12-2-1968, ba tổ bay lần lượt cất cánh nhưng sau đó chỉ có một tổ trở về. Hai tổ, trong đó có tổ bay của Nguyễn Văn Bang bị mất liên lạc. Các nguồn tin sau đó cho biết, các phi công của chúng ta sau khi đã trút bom và hỏa lực vào mục tiêu đối phương, đã anh dũng hy sinh. Nhưng hy sinh do va vào núi cao hay trúng hỏa lực địch bị rơi xuống biển, thì đến nay vẫn còn là một ẩn số.

Không thấy đồng đội đưa máy bay trở về, lòng dạ Tường Long như có lửa đốt. Ngày hôm sau, Tường Long dò sóng ra-đi-ô, tình cờ nghe được một bản tin nước ngoài cho biết, có hai tàu trong hạm đội của Mỹ bị đánh phá hư hỏng nặng, phải gấp rút kéo sang vùng biển Phi-líp-pin để sửa chữa.

Chiến dịch “cầu hàng không” kết thúc. Chúng ta đã đưa được hàng chục tấn hàng đến địa điểm tiếp vận, phá hủy một số mục tiêu quan trọng của địch. 32 cán bộ, chiến sĩ của 4 tổ bay thuộc Trung đoàn 919 đã anh dũng hy sinh. Năm 2006, qua thông tin của quần chúng, cơ quan chức năng đã phát hiện được vị trí rơi của 1 trong 4 chiếc máy bay nói trên tại vùng rừng núi huyện A Lưới (Thừa Thiên-Huế) và đã tiến hành cất bốc được một phần hài cốt, làm lễ an táng cho các liệt sĩ. 3 chiếc máy bay còn lại cùng các cán bộ, chiến sĩ hy sinh đến nay vẫn chưa tìm được tung tích.

Bài, ảnh: HOÀNG MAI
qdnd.vn

Tin “mật” sau Mậu Thân

QĐND – Ngày 12-6-1965, tại Sài Gòn, Hội đồng quân lực Việt Nam Cộng hòa họp, ra quyết định phế truất Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, giải tán Chính phủ dân sự của Thủ tướng Phan Huy Quát, lập ra Ủy ban lãnh đạo quốc gia do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch và Ủy ban hành pháp Trung ương do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đứng đầu. Lúc bấy giờ, so với Kỳ (vai trò như Thủ tướng) thì Thiệu (vai trò như Tổng thống) khá mờ nhạt, vậy mà anh Hai Nhạ (tức Vũ Ngọc Nhạ, Cơ cán đi sâu kiêm Tổ trưởng Tổ điệp báo chiến lược của ta) vẫn chỉ đạo tôi tìm cách tiếp cận, bám sát Thiệu, bởi theo anh, đây mới là kẻ về lâu dài sẽ giữ vị trí trung tâm của chế độ Sài Gòn. Thực tế sau này đã chứng tỏ nhận định của anh Hai Nhạ là hoàn toàn chính xác…

Nhiệm vụ anh Hai Nhạ giao là thế, nhưng thực hiện lại chẳng hề dễ dàng, vì tôi chỉ là Tổng thư ký Tổng đoàn công-kỹ nghệ, đã không có tiếng tăm gì đáng kể trong giới chính trị, quân sự ở Sài Gòn, lại còn mang vết tù cũ dưới thời Ngô Đình Diệm. Tôi loay hoay mất mấy tháng trời mà công việc vẫn chưa tiến triển. Tới cuối năm 1965, nhờ sự thu xếp của anh Hai Nhạ, tôi mới được Trần Ngọc Nhuận (một linh mục rất thân cận với Thiệu, là Chánh xứ nhà thờ Phát Diệm ở quận Phú Nhuận và là người thuộc khối Công giáo miền Bắc di cư vào Nam) dẫn tới gặp Thiệu. Không rõ anh Hai Nhạ đã nói với Trần Ngọc Nhuận những gì mà vị linh mục chống Cộng khét tiếng này chỉ trịnh trọng giới thiệu với Nguyễn Văn Thiệu rằng tôi là một “nhân vật quốc gia kỳ cựu, có uy tín cao, quan hệ rộng” rồi chào Thiệu ra về, để tôi ở lại ngồi nói chuyện riêng với Thiệu.

Đại sứ Mỹ Bân-cơ (bên trái) từng trao tận tay Nguyễn Văn Thiệu bản khuyến cáo “7 biện pháp đối phó với Cộng sản” sau Tết Mậu Thân. Ảnh tư liệu.

Sau lần gặp đầu mang tính xã giao, tôi còn gặp riêng Nguyễn Văn Thiệu vài lần nữa, khi thì ở Dinh quốc khách trên đường Tú Xương, khi thì ở Dinh Gia Long, có lúc lại ở tư thất của Thiệu trong khu cư xá Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn. Sự trao đổi giữa hai bên càng lúc càng cởi mở. Do nghĩ tôi là người được phe Công giáo giao nhiệm vụ duy trì quan hệ với Thiệu và bí mật yểm trợ Thiệu trong một số hoạt động “tế nhị” nên Thiệu rất muốn thông qua tôi để giành lấy sự ủng hộ mạnh mẽ hơn của phe Công giáo, đặc biệt là trong cuộc bầu cử Tổng thống Việt Nam Cộng hòa sẽ diễn ra vào ngày 3-9-1967. Thiệu ngỏ ý, nếu “các cha” hỗ trợ Thiệu trong việc thu hút sự tín nhiệm của Mỹ thì Thiệu sẽ sẵn sàng nghe theo khuyến cáo của “các cha”. Thậm chí, vì nghi ngờ phe Công giáo ủng hộ liên danh “Người gieo mạ” của Trần Văn Hương và Mai Thọ Truyền hơn là ủng hộ liên danh “Dân chủ” của Thiệu-Kỳ nên Thiệu đã nhờ tôi “dàn xếp” để nếu thất cử thì ông ta vẫn có thể lui về nắm quân đội trên cương vị Tổng tư lệnh hoặc Tổng trưởng Quốc phòng.

Sau khi Thiệu đắc cử Tổng thống vài tuần, cũng nhờ sự thu xếp của anh Hai Nhạ mà tôi được mời vào Phủ Tổng thống làm Công cán ủy viên. Ngay lần đầu tiên đến gặp Tổng thư ký Phủ tổng thống là Nguyễn Văn Hướng (tức Mười Hướng, Mười Lễ, đảng viên Đại Việt kỳ cựu, từng làm Xứ bộ trưởng Xứ bộ Nam Việt của Đại Việt), tôi đã đề nghị không phổ biến công khai chức danh Công cán ủy viên Phủ Tổng thống của tôi, tạo điều kiện cho tôi tiếp tục ngồi vững ở vị trí Tổng thư ký Tổng đoàn công-kỹ nghệ, làm bình phong cho các hoạt động chính trị, kinh tế… để hậu thuẫn Thiệu và Hướng. Vốn có ý gờm tôi do nghĩ tôi là người thân cận lâu năm của Thiệu, được Thiệu gài vào Phủ Tổng thống để kiềm chế Hướng nên Hướng đồng ý ngay. Do đó, về cơ bản tôi không phải chịu sự phân công, điều hành một cách sít sao của Hướng và của Mai Quốc Đống (sĩ quan quân đội biệt phái, Đổng lý văn phòng Tổng thư ký) như những người khác trong Phủ Tổng thống.

Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Xuân Hòe (thời trẻ).

Theo chỉ đạo của anh Hai Nhạ, tôi đã tích cực mở rộng, đi sâu quan hệ, bước đầu thu thập được một số tin tức, tài liệu có giá trị từ Lưu Vĩnh Lữ (sĩ quan quân đội biệt phái, Bí thư của Hướng), Uông Ngọc Thạch (bác sĩ, phụ tá của Thiệu, đặc trách báo chí và thông tin), Nguyễn Duy Xuân (thạc sĩ, cố vấn của Thiệu về kinh tế, từng làm Tổng giám đốc Việt tấn xã, Tổng ủy trưởng Hợp tác và nông tín, Tổng trưởng Kinh tế), Tôn Thất Cư (Đổng lý văn phòng Bộ phát triển sắc tộc), Khương Hữu Điều (Phụ tá Tổng trưởng Kinh tế), Đặng Văn Sung (Thượng nghị sĩ, Trưởng khối Dân chủ-xã hội ở Thượng viện), Nguyễn Mậu (Hạ nghị sĩ, Chủ tịch Ủy ban quốc phòng của Hạ viện)…

Ngay sau khi sự kiện Tết Mậu Thân nổ ra, anh Hai Nhạ đã tới tận nhà tôi, chỉ đạo tìm mọi cách thu thập tin tức, tài liệu về nhận định tình hình và âm mưu, thủ đoạn đối phó của địch, cả về ngắn hạn, trung hạn lẫn dài hạn. Thấy trong bối cảnh nước sôi lửa bỏng mà tôi lại năng tới Phủ Tổng thống hơn trước, nhóm Thiệu, Hướng, Đống, Lữ… cho rằng, tôi đang lo lắng cho sự an nguy của chế độ Việt Nam Cộng hòa, nhưng chúng đâu ngờ mối quan tâm lớn nhất của tôi lúc này là thực hiện yêu cầu điều tra của cơ quan tình báo cách mạng.

Buổi sáng hôm ấy, chừng một tuần sau Tết Mậu Thân, chiến sự còn đang diễn ra ác liệt ở ngay sát Sài Gòn, tiếng bom, đạn vẫn ì ùng dội về, tôi đang ngồi tại bàn làm việc của mình trong Dinh Độc Lập, chăm chú đọc xấp tài liệu vừa mượn được từ Lưu Vĩnh Lữ thì Nguyễn Văn Hướng bước vào phòng, trên tay cầm một tờ giấy. Thấy tôi, Hướng tỏ ra mừng rỡ, vui vẻ cất tiếng chào rồi bước tới, trịnh trọng chìa tờ giấy về phía tôi, cười nói:

– Anh Hòe à, đây là bản khuyến cáo của phía Mỹ về một số phương cách đối phó cấp thời đối với cuộc Tổng tấn công từ phía cộng sản. Ông Đại sứ Bân-cơ vừa trực tiếp ngồi trực thăng bay từ Tòa đại sứ sang đây, trao tận tay Tổng thống Thiệu. Ông Bân-cơ vừa ra về là ông Thiệu gọi ngay tôi lên, đưa cho, bảo đem về nghiên cứu gấp rồi báo cáo lại thật cụ thể với ông ấy. Ngặt nỗi tôi không rành Anh ngữ. Vậy nhờ anh dịch giúp luôn, sẵn giấy bút đây tôi sẽ ghi chép lại cẩn thận. Chỉ có một trang này thôi, lại hết sức quan trọng, anh dịch kỹ càng cho nhé!

Miệng mỉm cười đáp “vâng”, tay nhận tờ tài liệu mà tim tôi đập thình thịch. Tôi thoáng nghĩ: “Ồ, thứ mà anh Hai Nhạ yêu cầu đây rồi!”. Nhìn lướt qua, tôi thấy nội dung tài liệu chỉ gồm vài chục dòng với 7 đầu mục tương ứng 7 biện pháp đối phó cấp thời mà Mỹ chỉ đạo Thiệu khẩn trương tập trung lực lượng và phương tiện để tổ chức thực hiện. Trong lúc Hướng quay qua lấy giấy bút, tôi đã dồn hết tâm trí để đọc, nhờ đó gần thuộc nội dung tài liệu. Khi dịch cho Hướng chép, tôi chẳng những nói to từng chữ, nhắc lại từng câu mà chốc chốc còn ngưng ngang, mượn việc giải thích về thuật ngữ, ý tứ cho Hướng hiểu để khắc sâu trong óc mình. Xong xuôi, tuy rất sốt ruột, chỉ muốn bay ngay về báo cáo anh Hai Nhạ, nhưng để Hướng khỏi nghi ngờ, tôi vẫn ngồi lại một lúc nữa. Nhìn vào, ai cũng nghĩ tôi đọc tài liệu. Thực ra thì tôi đang “tua” lại trong đầu những nội dung vừa dịch cho Hướng…

Khi tới gặp anh Hai Nhạ, theo yêu cầu của anh, tôi đã chép lại bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt các nội dung nói trên. Sau này, khi có dịp đối chiếu, tôi rất vui vì mình đã không để sót một câu chữ nào.

Vậy là tình báo của ta đã nắm được nguyên văn một tài liệu tuyệt mật do phía Mỹ gửi cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, trước khi trang tài liệu ấy được dịch và chuyển lại cho ông ta…

VŨ SÁNG Ghi theo lời kể của Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Xuân Hòe
qdnd.vn

Dâng Người tiếng hát mùa Xuân

Những ngày đầu năm 2013, tiếp nối thành công Chương trình “Vang câu Quan họ bên Lăng Bác Hồ” của Đoàn Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội biểu diễn Chương trình “Dâng Người tiếng hát mùa Xuân” đã đọng lại những tình cảm sâu đậm về Đảng, Bác Hồ, về mùa Xuân đất nước và hình ảnh người nghệ sỹ – chiến sỹ “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng đồng bào và bầu bạn quốc tế đến tham quan khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ hơn 12 giờ, gần 3 tiếng nữa mới đến giờ biểu diễn, mà hơn 70 cán bộ, giảng viên, học viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội đã có mặt ở khu vực vườn tre phía Nam Lăng Bác. Dù những buổi hợp luyện trước tại Trường đã thuần thục, nhưng đến đây, bên Lăng Bác Hồ ai nấy đều bồi hồi xúc động. Thiếu tá Hồ Hoàng Hà, Giảng viên của Nhà trường, người dẫn chương trình, bày tỏ: “Được biểu diễn trước hàng tre bên Lăng Bác Hồ làm chúng tôi cảm xúc trào dâng. Dường như mình hát cho Bác nghe. Dường như hát ở nơi đây mỗi nghệ sỹ mới bộc lộ được những điều sâu kín, thiêng liêng để dâng lên Bác, mà bình thường mình không thể nói lên lời. Chỉ thông qua nghệ thuật, chúng tôi mới diễn tả được. Bởi Bác là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, nhưng thân thiết như người cha trong mỗi chúng tôi”.

Dang nguoi tieng hat mua xuan1Các nghệ sỹ, ca sỹ chụp ảnh lưu niệm cùng các đại biểu tới tham dự buổi biểu diễn 

Chương trình được tổ chức vào chiều thứ Bảy, ngày 02/02/2013, nhưng dưới hàng ghế đại biểu có sự hiện diện của các đồng chí: Thiếu tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thủ trưởng Cục Tuyên huấn; Lãnh đạo Ban Quản lý Lăng, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp đối với các hoạt động văn hoá nghệ thuật ở Lăng Bác và đông đảo khán giả là các cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ bên Lăng Bác Hồ, cùng đồng bào, khách quốc tế tham quan khu vực Lăng.

Mở đầu chương trình, dàn Quân nhạc đã vang lên các ca khúc “Chào mừng Đảng Cộng Sản Việt Nam”; “Việt Nam ơi mùa xuân đến rồi”; “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người”; “Việt Nam trên đường chúng ta đi” và “Việt Nam quê hương tôi”, của các nhạc sỹ: Đỗ Minh; Huy Du; Trần Kiết Tường và Đỗ Nhuận. Tiếng kèn trầm bổng, hào hùng vang lên những giai điệu ca ngợi Đảng, Bác Hồ, ca ngợi quê hương đất nước, đã bừng lên sức Xuân và gieo vào lòng người niềm tin về mùa Xuân tươi đẹp của dân tộc.

Những tràng pháo tay rộn vang cổ vũ, nhưng chưa san lấp được khoảng cách không gian giữa các nghệ sỹ với khán giả. Bởi đây mới là buổi biểu diễn thứ hai của các nghệ sỹ, ca sỹ ở các đoàn nghệ thuật, nên đồng bào và du khách quốc tế còn phần nào e ngại. Sau khi Thiếu tướng, Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đức Trịnh, Hiệu trưởng Nhà trường phát biểu: “Năm tới Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội sẽ phối hợp với Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tiếp tục tổ chức các chương trình văn hóa văn nghệ ở Lăng Bác Hồ. Đây là hoạt động văn nghệ quần chúng, nên mọi người hãy tiến lại gần và có thể giao lưu, múa cùng nghệ sỹ”, mọi người đều cảm nhận thật gần gũi, cùng xích lại gần hơn, để cảm nhận rõ hơn những tiết mục biểu diễn của các nghệ sỹ, ca sỹ.

Tiếp nối phần nhạc dân tộc với các tiết mục: Hòa tấu: “Nhã nhạc cung đình Huế”; đọc tấu sáo: “Cánh chim tự do” và đọc tấu đàn bầu “Cung đàn đất nước” do dàn nhạc dân tộc, cùng các nghệ sỹ Vàng Minh Dương và Thu Thủy  thể hiện. Vẫn ca khúc ấy, rất đỗi quen thuộc, mà hôm nay, giữa không gian Quảng trường Ba Đình lịch sử, lòng người bỗng thấy dạt dào, xao xuyến, rưng rưng. Trong niềm vui đó, chị Phạm Thanh Hằng, ở Ba Đình Hà Nội đã chia sẻ : “Lời ca, tiếng hát của các ca sỹ đã giúp tôi hiểu thêm về Đảng, về Bác Hồ, về con người và đất nước. Tôi thật sự tự hào mình là người Việt Nam. Và thông qua những chương trình như thế này, tôi cảm nhận mọi người càng thêm tin yêu đất nước chúng ta”. Ông Nguyễn Bá Tống, đến từ Phú Thọ mong muốn: “Văn hoá văn nghệ giúp tôi tinh thần thoải mái hơn, sức khoẻ tốt hơn. Tôi mong muốn mỗi tháng ít nhất được xem một chương trình văn nghệ bổ ích như thế này”. Không chỉ đồng bào trong nước, mà nhiều du khách nước ngoài chưa hiểu rõ tiếng tiếng Việt, chưa hiểu hết những nét đẹp truyền thống văn hoá của Việt Nam, nhưng qua giai điệu các bài hát và ngôn ngữ của âm nhạc, họ đều chăm chú dõi theo và trầm trồ khen ngợi.

Sôi động với những bài ca: “Chúng con canh giấc ngủ cho người”; “Anh hùng Núp”; “Tình ca Tây Nguyên”; “Bài ca người lính”; “Vệt nắng”; “Chuyện đời lính”; “Nắng thao trường”, do các ca sỹ trẻ : Minh Thế; Thúy Hà ; Mai Trang; Đông Hùng và dàn nhạc dân tộc thể hiện, đã tạo nên một âm hưởng mới, âm hưởng khát vọng của tuổi trẻ về mùa Xuân, về cuộc sống và nhiệm vụ của những người chiến sỹ. Vừa được hát cho Bác và mọi người nghe, nghệ sỹ Mai Trang – Giảng viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội bồi hồi xúc động: “Đây là một vinh dự đặc biệt, đối với bất cứ ca sỹ, nghệ sỹ nào cũng mong muốn được hát cho Bác nghe và được đem nét đẹp truyền thống văn hoá của đất nước mình phục vụ đồng bào, khách quốc tế”. Nghệ sỹ Mai Trang còn mong muốn có nhiều chương trình giao lưu văn nghệ giữa các chiến sỹ làm nhiệm vụ bên Lăng Bác và học viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội.

Tiết mục song ca “Mừng Xuân mới” do Mai Trang cùng Đông Hùng và dàn nhạc thể hiện đã khép lại chương trình nghệ thuật “Dâng Người tiếng hát mùa Xuân”. Hơn một giờ đồng hồ, các đại biểu và khán giả được đắm mình trong không gian nghệ thuật tràn ngập âm hưởng của mùa Xuân, lay động lòng người của dàn quân nhạc, nhạc cụ dân tộc và những lời ca, tiếng hát của các giảng viên, sinh viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội. Chương trình nghệ thuật“Dâng Người tiếng hát mùa Xuân” thực sự là món quà tinh thần giàu ý nghĩa, một chương trình nghệ thuật đích thực cả về âm nhạc lẫn thị giác dành cho khán giả, nhân dịp “Mừng Đảng, mừng Xuân” của đất nước. Thay cho lời kết, đồng chí Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảm ơn Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, các đại biểu, các ca sỹ, nghệ sỹ cùng đồng bào, khách quốc tế và chúc : “Cán bộ, giảng viên, học viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội tiếp tục thành công trên con đường hoạt động nghệ thuật và nhiệm vụ “trồng người”, ươm nhiều tài năng nghệ thuật phục vụ Quân đội, phục vụ đất nước và thường xuyên đến biểu diễn tại khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh”./.

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

Bức huyết thư gửi tới Bác Hồ của người tử tù chỉ huy biệt động Sài Gòn

Việt Nam - Hồ Chí MinhĐó là liệt sỹ anh hùng Nguyễn Đình Chính – người chỉ huy mưu trí can trường của Ban Công tác Một – tiền thân lực lượng biệt động Sài Gòn ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Một người tử tù với 2 bản án tử hình trong hầm tối đã viết huyết thư gửi lên Bác Hồ và trên pháp trường đã ra cho kẻ địch ba điều kiện: Không cần trói, không cần bịt mắt và được hát Quốc ca. 15 năm sau cũng tại trường bắn này đã xuất hiện liệt sỹ anh hùng Nguyễn Văn Trỗi với tư thế hiên ngang bất tử như thế. Liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi thì cả nước đã biết, còn liệt sỹ anh hùng Nguyễn Đình Chính – người lãnh đạo tiền thân của biệt động Sài Gòn nức tiếng thì bao điều vẫn còn bỏ ngỏ…

Tung hoành giữa Sài Gòn

Liệt sỹ anh hùng Nguyễn Đình Chính sinh ra ở làng Nguyễn, huyện Đông Hưng, Thái Bình, sau lên sinh nhai ở Thị trấn Đáp Cầu, Bắc Ninh. Tháng 4 năm 1944, anh vào Sài Gòn làm tại Xưởng Sửa chữa tàu Ba Son của Hải quân Pháp. Chỉ mấy tháng làm lính, Chính đã nhận ra cái “vỏ” bình đẳng trong Hải quân Pháp và anh đã cùng thầy đội Thăng – người thường đứng về lính thợ Việt Nam thực hiện kế hoạch đánh chìm chiến hạm Su – ren của Pháp. Tiếc rằng kế hoạch đang tiến hành thì bị lộ, thầy đội Thăng bị bắt còn Nguyễn Đình Chính bị địch truy nã.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Nguyễn Đình Chính được cách mạng giao nhiệm vụ huấn luyện 2 Tiểu đoàn dân quân địa phương để lùng bắt những ổ cướp trong vùng Lộc Ninh, Dầu Tiếng. Khi tiếng súng kháng chiến chống thực dân Pháp bắt đầu, anh trở về mặt trận Lái Thiêu là Trưởng ban Ban Võ khí, rồi làm Trưởng ban Ban Công tác Một – đơn vị tiền thân của biệt động giữa sào huyệt giặc Pháp ở Sài Gòn. Ban Công tác Một do Nguyễn Đình Chính chỉ huy chiến đấu trong hoàn cảnh vũ khí cực kỳ thiếu thốn. Có súng lại không đạn, lựu đạn làm ra nhiều nhưng nổ ít, có khi ném trúng địch rồi, lựu đạn không nổ, địch quay ra tấn công lại. Nhưng dưới sự chỉ huy tài trí, dũng cảm của anh, tinh thần chiến đấu kiên cường của toàn Ban, đơn vị đã chiến đấu nhiều trận và lập nhiều chiến công làm nức lòng nhân dân Sài Gòn, làm cho kẻ thù khiếp sợ, báo hiệu cuộc kháng chiến chống Pháp quyết liệt đã bắt đầu ngay tại sào huyệt của chúng.

Xin trích một số đoạn nhật ký được chép lại từ sổ tay ghi lại những trận đánh mà đơn vị Nguyễn Đình Chính trực tiếp thực hiện: “… Tên Cố vấn Hội đồng Nam Kỳ Bê-đi-a bị ám sát bằng lựu đạn ở góc đường Ta-be Véc-đoong. Lựu đạn nổ, tên này bị thương. Vụ ám sát tên Đông Phương Sóc, cảnh sát đặc biệt miền Đông “P.S.E” ở đường Nô-rô-đôm làm tên này bị thương. Một ổ phản động do tên Nguyễn Trọng Hiền cầm đầu bị giết trọn 5 mạng bằng dao găm ở 218 đường La-gơ-răng-đi-rơ. Tên Nguyễn Văn Khoa – nhân viên sưu tầm đặc vụ ở Ca-ti-na bị giết bằng dao găm ở đường Gác-sơ-ri. Tên Ba-lư – một tên khát máu ở Sở Liêm phóng Ca-ti-na bị quân ta vô tận nhà tước khí giới và đâm ba nhát dao. 30.000 lít xăng của địch bị tiêu hủy ở Nhà Bè. Hai Việt gian nghênh ngang qua cầu chữ Y làm tiền bị thủ tiêu… Đặc biệt trận đánh cách đây đúng 60 năm đêm 30 Tết  Đinh Hợi 1947, sau Ban Công tác nội thành Sài Gòn mà nòng cốt là Ban Một đã đồng loạt tiến công nhiều bốt Đồn cảnh sát địch. Ban công tác Một đã bất ngờ tập kích vào các bốt cảnh sát địch ở cầu Mac-ma-hông, cầu Kiệu, cầu Bông, cầu Thị Nghè… gây sự khủng khiếp trong hàng ngũ giặc…”

Theo bản cáo trạng của Toà án Pháp thì chưa đầy hai năm, Nguyễn Đình Chính đã chỉ huy và cùng Ban Công tác Một tham gia chiến đấu 57 trận lớn nhỏ giữa Sài Gòn, làm cho kẻ thù mất ăn mất ngủ, từng được giao trọng trách bảo vệ Khu trưởng Nguyễn Bình (Trung tướng Nguyễn Bình) giữa sào huyệt giặc.

Trưa 16 – 2 – 1947, Nguyễn Đình Chính cùng đồng chí Bát Tròn đã bị Mật thám Pháp bắt khi đến một cơ sở ở quận Phú Nhuận lấy tiền mua thuốc chạy chữa cho một trinh sát trẻ bị thương.

Được tin bắt được Nguyễn Đình Chính, cả bọn mật thám đến xem mặt anh. Tên Ba Danh – Chánh mật thám liên bang trực tiếp chỉ huy tra khảo. Hắn giở trò mua chuộc Chính hòng moi danh sách cán bộ chiến sỹ trong Ban Công tác Một, các ngoại kiều, trí thức, tư sản Việt Nam mà Trung tướng Nguyễn Bình đã gặp. Ba ngày đầu chúng bắt Chính ngồi xem chúng tra tấn Bát Tròn. Ngày thứ tư, hàng chục đứa dùng gậy, dùng búa thi nhau đánh, đánh để Chính khai và cũng để trả thù những cuộc tấn công do anh chỉ huy đánh thẳng vào lực lượng mật thám và cảnh sát địch. Chính đau quá chết ngất, tỉnh lại, chúng lại đánh tiếp. Chúng cùm tay, cùm chân, đóng hàm thiếc vào mồm để anh không chửi chúng được. Bọn Hải quân Pháp cũng đến kết hợp tra tấn. Song tất cả mọi kỹ thuật tra tấn hiện đại của người Pháp đều bất lực trước ý chí kiên cường, lòng trung thành tuyệt đối của Nguyễn Đình Chính. Trong lúc bị tra tấn, có cơ hội là Nguyễn Đình Chính lên án thực dân Pháp. Một lần, anh đã dùng cả hai tay bị còng đập vỡ mặt một tên mật thám. Suốt 3 tháng ròng tra tấn dã man không moi được gì, đầu tháng 5 năm 1947, địch buộc phải đưa Nguyễn Đình Chính vào Khám lớn Chí Hoà. Tại đây, anh đã cùng lực lượng xung kích dẹp nạn “đầu gấu” trong tù, làm cho không khí trong tù đỡ ngột ngạt hơn.

Tháng 10 năm 1947, Toà án binh thủy quân Pháp đã tuyên án tử hình Nguyễn Đình chính vì hai tội: “Âm mưu đánh đắm chiến hạm Su-ren của Pháp và tội đảo ngũ”. Tuyên án xong lập tức Nguyễn Đình Chính bị chúng đưa xuống hầm tử hình 18A – Khám lớn Chí Hoà. Ít lâu sau, thực dân Pháp còn mở tiếp một phiên toà để xử Nguyễn Đình Chính về tội “chống lại nhà cầm quyền Pháp, làm tan rã quân đội Pháp… phương hại đến an ninh quốc gia (!)” và tuyên tiếp bản án tử hình thứ hai. Tại phiên toà này, Nguyễn Đình Chính đã đanh thép đọc bản tự bào chữa bằng tiếng Pháp. Lời văn sâu sắc, giọng nói hùng hồn, Nguyễn Đình Chính đã biến pháp trường thành nơi tố cáo tội ác của thực dân Pháp và tay sai, chỉ ra tương lai tươi sáng của cuộc kháng chiến do Hồ Chủ tịch lãnh đạo. Sau này, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã viết: “Hồi tôi và anh Bình (Trung tướng Nguyễn Bình) ở căn cứ Vườn Thơm, đôi lần Nguyễn Đình Chính từ Sài Gòn ra báo cáo. Lực lượng võ trang của ta một hai năm đầu kháng chiến còn non trẻ, nhất là Thành phố đã bị chiếm như Sài Gòn, địch hơn hẳn ta về quân số và vũ khí, nhưng Chính nổi tiếng là một chỉ huy gan góc. Bị địch bắt, Chính chịu đựng mọi cực hình tra tấn. Các đồng chí cùng ở tù với Chính đều ca ngợi, kính phục. Anh ấy lạc quan cho tới khi ra pháp trường…”.

Trong những ngày đợi chờ lên đoạn đầu đài, Nguyễn Đình Chính đã chạy đua với thời gian: Tìm cách vượt ngục, viết huyết thư gửi lên Bác Hồ, hồi ký, nhật ký, viết báo, viết thư cho mẹ đẻ, cho người má nuôi, cho người yêu của mình là Nguyễn Thị Phẩm. Nguyễn Thị Phẩm cũng là một nữ biệt động Ban Công tác Một – người con quê hương Thái Bình. Trong cuộc chiến đấu ác liệt, tình yêu của họ đã nảy nở. Hai người yêu nhau, rất gần nhau mà không dám công khai báo cáo tổ chức, không dám làm đám cưới. Bởi như vậy, họ không được ở nội thành trực tiếp chiến đấu. Trong hai cuộc kháng chiến có những mối tình cao cả và thiêng liêng như thế!

Bức huyết thư từ hầm tối gửi tới Bác Hồ

Trong những ngày ở hầm tối Khám lớn Chí Hoà. Nguyễn Đình Chính đã nhờ người má nuôi tìm cách chuyển ảnh Bác Hồ vào trong hầm tối và nhờ má tìm cách chụp được bức hình của anh dưới địa ngục trần gian để gửi tới Bác. Tấm ảnh Bác Hồ đã vượt qua bao vọng gác nghiêm ngặt của nhà tù xuống hầm tối nơi giam giữ người tử tù Nguyễn Đình Chính. Đặc biệt ngay sau khi lĩnh tấm thẻ bài tử hình thứ hai, về đến hầm tối, trước tấm hình người Bác kính yêu, Nguyễn Đình Chính đã lấy máu viết liền 4 trang huyết thư gửi tới Bác Hồ, trong đó có đoạn : “Thưa Cha, con sung sướng vì Người Cha bất diệt sẽ nhận được vài hàng vĩnh biệt của đứa con yêu… Gần hai năm trời đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc, con, một chiến sỹ ly hương chỉ biết đem xương máu ra phụng sự Tổ Quốc. Con đã thi hành hết nhiệm vụ và bổn phận để xứng đáng là trai thời loạn, là con của Cha… Ngày chết của con lặng lẽ tới lúc nào? Con chưa hề thấy nao lòng với cái chết. Con thiết nghĩ đã là chiến sỹ thì chết ở cảnh nào cũng vì Tổ Quốc. Bao cái chết anh dũng của các chiến sỹ Việt Nam vẫn sáng tỏ và in sâu trong tâm trí con… Sau khi dừng bút con trịnh trọng đặt bức thư này trên bàn thờ Tổ Quốc, bày biện đơn sơ, quay mặt về hướng Bắc, gửi tới Cha tất cả lòng kính trọng của đứa con yêu sắp trả xong nợ nước..”

Sáng 9/2/1949, Giặc Pháp đã đem xử tử hình Nguyễn Đình Chính tại trường bắn Chí Hòa. Nguyễn Đình Chính lúc này mới 24 tuổi. Luật sư Nguyễn Chí Vịnh người đã có mặt trong trường bắn kể lại: “Nguyễn Đình Chính rất bình tĩnh ra ba điều kiện: Không cần bịt mắt, không cần trói và được hát Quốc ca”. Nguyễn Đình Chính đã ngã xuống và lặng lẽ hóa thân vào đất mẹ. 45 năm sau Đảng, Nhà nước mới truy tặng danh hiệu Anh hùng liệt sỹ cho anh. Tại thành phố mang tên Bác có một mái trường và một con đường mang tên Nguyễn Đình Chính và ở Thành phố Thái Bình quê hương cũng có một con đường mang tên anh.

Thật không ngờ 15 năm sau cũng tại trường bắn này lại xuất hiện người anh hùng với những hành động, lời nói hiên ngang bất khuất, một tình yêu lứa đôi sâu nặng, một tình yêu đất nước nồng nàn, một tấm lòng kính yêu Bác vô hạn. Đó chính là liệt sỹ Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi! Bất chấp mọi ngón đòn tra tấn dã man của kẻ thù Mỹ – Ngụy, Nguyễn Văn Trỗi vẫn giữ lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Trên pháp trường anh Trỗi đã bình thản nhìn thẳng vào mười họng súng của kẻ thù và trước khi hy sinh anh đã gọi Bác kính yêu: “Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”. Liệt sỹ Anh hùng Nguyễn Đình Chính, liệt sỹ anh hùng Nguyễn Văn Trỗi  – những liệt sỹ biệt động quả cảm anh hùng, sự tiếp nối tuyệt vời lòng kính yêu và ngưỡng vọng Bác Hồ .

Lã Quý Hưng
Theo Thaibinh.gov.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện nhỏ về Bác Hồ với Tết trồng cây

Những năm 60 của thế kỷ trước, tôi là cán bộ phòng tuyên truyền của Tổng cục Lâm nghiệp. Cứ mỗi độ Tết đến Xuân về, cán bộ tuyên truyền ngành lâm nghiệp chúng tôi lại bận rộn vô cùng. Đó là việc chuẩn bị cho “Tết trồng cây” do Bác Hồ khởi xướng.

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

Năm 1969, không ai ngờ đó là năm cuối cùng Bác Hồ đi trồng cây ở xã Vật Lại (Hà Tây cũ). Tôi là người được bác Nguyễn Tạo – Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp – cử đi đưa công văn lên Văn phòng Phủ Chủ tịch. Công văn báo cáo việc trồng cây của các tỉnh và kế hoạch phát động “Tết trồng cây”, đồng thời đề xuất, bố trí địa điểm để Bác chọn và đến trồng cây.

Năm ấy,  đọc xong  báo cáo của các tỉnh, Bác đề nghị ông Nguyễn Tạo mời Bí thư tỉnh Nghệ An cùng đến Phủ Chủ tịch để báo cáo  thêm những vấn đề xung quanh về “Tết trồng cây”. Thấy Bí thư Nghệ An xách chiếc cặp to, Bác hỏi luôn: “Cặp của chú đựng gì mà to thế?”. Đồng chí bí thư bị hỏi bất ngờ nên hơi lúng túng: “Dạ thưa Bác, cháu mang đủ tài liệu của tỉnh để báo cáo Bác”. Bác bảo: “Hôm nay Bác không hỏi chú  nhiều, mà chỉ hỏi một việc về Tết trồng cây của tỉnh chuẩn bị và đã thực hiện như thế nào”.

Nghe đến đây, Bí thư Nghệ An thở phào nhẹ nhõm, liền báo cáo Bác: “Thưa Bác, năm nay Nghệ An đã phát động “Tết trồng cây” sớm, hiện đã trồng được một triệu bảy nghìn sáu trăm tám mươi cây, và sau cấy,  chúng cháu sẽ trồng tiếp mười lăm nghìn cây nữa ạ!”. Nghe xong Bác khen: Tỉnh Nghệ An quê Bác trồng cây như thế là tốt. Nhưng Bác muốn hỏi, Nghệ An trồng hàng triệu cây, vậy có bao nhiêu cây chết, chú có cho đếm được không?

Đồng chí bí thư không trả lời được, Bác nói tiếp: Nghệ An cũng là quê Bác, các chú làm không tốt thì Bác vui sao được, các chú chỉ nghĩ đến thành tích mà không nghĩ đến hậu quả, thế cũng là chưa thật thà với nhân dân. Trồng cây nào phải sống tốt cây ấy, phải biết chăm sóc cây, không để lãng phí công sức và của cải vật chất. Vậy “Tết trồng cây” năm nay Nghệ An phải làm tốt hơn nữa để bác vui.

Đồng chí bí thư xin hứa thực hiện thật tốt lời dặn dò vừa thân tình vừa như phê bình nhẹ nhàng của Bác. Quay về phía đồng chí Nguyễn Tạo, Bác nói: Chú Tạo phát động báo chí viết bài chú ý đến việc trồng cây nào sống tốt cây ấy.

Mấy ngày sau, trên báo Nhân Dân đã có bài  “Trồng cây nào sống tốt cây ấy” của Bác. Xúc tiến những chỉ thị của Bác, một tuần sau, các báo đều đồng loạt có bài viết về “Tết trồng cây”, phát động phong trào “Ông trồng cháu chăm”, rồi hàng loạt tranh cổ động in ra với câu ca: “Mùa xuân là Tết trồng cây/ Vâng lời bác dạy ta gây nên rừng…”. Lúc đầu “Tết trồng cây” còn là phong trào quần chúng,  chưa có quy hoạch cụ thể, vì thế chất lượng cây trồng chưa cao, từng vùng chưa chọn giống cây phù hợp. Sau này khi đi kiểm tra, đồng chí Võ Nguyên Giáp thấy nhiều đồi cây ít được chăm sóc, vì thế đã đề xuất: Thà có một cánh rừng của nhân dân còn hơn để đồi trọc của Nhà nước. Và cũng chính vì ý kiến ấy mà một số chính sách của Nhà nước đã dần dần phù hợp với đời sống, nguyện vọng của nhân dân. Việc giao đất, giao rừng cho gia đình và tập thể hoặc cá nhân đã được thực hiện.

Tết này của năm Quý Tỵ – 2013, đã hơn nửa thế kỷ, lời kêu gọi của Bác Hồ và chính Bác phát động “Tết trồng cây” vẫn mãi còn giá trị và đã đi vào nếp sống thường nhật của nhân dân. Đó là nếp sống văn hóa đầy tính nhân văn, song rất hiệu quả về kinh tế. Tầm nhìn của Bác như đã thấy trước những nguy hại của hiệu ứng nhà kính, của nền công nghiệp hiện đại đang hủy hoại môi trường, và cũng vì thế mà Bác nói: Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ và chăm sóc.

Ấy thế mà nhiều cánh rừng của chúng ta hôm nay đang bị xâm hại, lâm tặc đang hoành hành, sự quản lý lỏng lẻo, thậm chí một vài nơi kiểm lâm còn tiếp tay cho lâm tặc phá rừng, đấy là tội ác! Giờ đây, mỗi lần Tết đến, chúng tôi lại càng nhớ những ngày đầu xuân được đi theo Bác trồng cây. Bác làm thơ, viết báo, lại còn  trực tiếp đi trồng cây, nói chuyện với nhân dân, vận động mọi người tham gia thiết thực “Tết trồng cây”. Tôi cũng được biết, câu thơ “ Mùa xuân là Tết trồng cây / Làm cho đất nước mỗi ngày một xuân”, sau Bác sửa thành “càng ngày càng xuân”. Nhớ lời Bác, chúng ta hãy giữ vững và phát huy nét đẹp ấy trở thành một mỹ tục làm cho “Tết trồng cây” như một ngày hội lớn và đó chính là chúng ta  đã biết “Học tập tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh” không trở thành hình thức.

TRẦN TRƯƠNG
baodanang.vn

Bác Hồ với báo Tết của thiếu nhi Hải Dương


Bác Hồ với thiếu nhi miền Nam Tết 1969.

Mùa Xuân này các bạn và các em có thể xem hàng trăm loại báo tết, trình bầy đẹp đẽ về hình thức, phong phú về nội dung, thể tài với nhiều khuôn khổ khác nhau theo tôn chỉ mục đích của mỗi tờ báo. Nhưng các bạn và các em khó tìm thấy một tờ báo ra đời cách đây hơn 60 năm của các em thiếu niên nhi đồng ở một tỉnh đồng bằng Bắc bộ. Tờ báo ấy bản in gốc nay chỉ còn ở Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam (Hà Nội). Đó là tờ báo “Xung phong” cơ quan ngôn luận của thiếu nhi yêu nước tỉnh Hải Dương – số tết Mậu Tý, khổ 20*16 dày 16 trang, do anh Quản Tập chủ biên.

Báo “Xung phong” được in hai mầu đỏ và đen, ngoài bìa 1 có vẽ hình hai em bé, một nam, một nữ đứng bên nhau, bụ bẫm, xinh xắn tươi cười hướng về tương lai. Giữa bìa là cảnh một cây nêu bằng ngọn mác xuyên thủng tên thực dân Pháp mũi lõ. Phía xung quanh chân cây “nêu” là bầy các em nhỏ đang quây quần ríu rít. Phía xa nữa là cảnh làng quê lũy tre xanh, lô nhô cờ đỏ sao vàng.

Ngay tết năm ấy, báo vừa xuất bản xong hãy còn thơm mùi mực, các em bàn nhau gửi lên chiến khu Việt Bắc kính biếu Bác Hồ. Bác nhận được báo “Xung phong” đúng vào dịp Tết Nguyên đán năm đó. Đọc xong, Bác tự tay đánh máy vào tấm danh thiếp một bức thư trả lời bằng 8 câu thơ lục bát:

“Bác nhận được báo “Xung phong”
Cảm ơn các cháu có lòng gửi cho
Các cháu nghe bác dặn dò
Phải biết yêu nước, phải lo học hành.
Siêng làm việc, siêng tập tành
Phải giữ kỷ luật mới thành cháu ngoan.
Bác yêu các cháu muôn vàn
Bác gửi các cháu một ngàn cái hôn”.

Vậy là trong làng báo chí cách mạng Việt Nam nói chung và Lịch sử, danh mục báo chí ở Việt Nam, có thêm tư liệu về tờ báo“Xung phong”. Càng vinh dự đó là tờ báo yêu nước đầu tiên của trẻ em cấp tỉnh lại được Bác Hồ gửi thư khen, động viên các cháu. Xuân Mậu Tý (1948) các cháu kính biếu báo tết Bác, Bác tặng thơ các cháu, cả hai món quà đều ý nghĩa. Già yêu trẻ, trẻ kính già.

LÊ HỒNG THIỆN
baohaiduong.vn

Bác Hồ ở Cam Ranh năm ấy…

QĐND – Sau Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường về nước. Cùng về với Người trên chuyến tàu còn có 4 kỹ sư vừa tốt nghiệp xuất sắc tại Pháp, theo Người trở về phục vụ Tổ quốc. Đó là bác sĩ Trần Hữu Tước và các kỹ sư: Võ Quí Huân, Võ Đình Huỳnh và Phạm Quang Lễ. Ngày 18-10-1946, tàu đưa Bác Hồ tiến vào vịnh Cam Ranh. Cao ủy Pháp Đác-giăng-li-ơ đã đón Chủ tịch Hồ Chí Minh theo nghi lễ chính thức trên biển.

Tượng Bác Hồ ở Cam Ranh.

Gần đây, Giáo sư Hàm Châu sưu tầm được hồi ký của Giáo sư Trần Hữu Tước, người duy nhất được tháp tùng Bác Hồ sang chiến hạm gặp Cao ủy Pháp. Đọc những dòng hồi ký ấy, chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động về vận mệnh của Tổ quốc và tài ứng xử trước nguy nan của Bác Hồ:

“… Nước nhà độc lập rồi, mà giữa vịnh Cam Ranh, chiếc tuần dương hạm cỡ lớn, còn lại duy nhất trong Hạm đội Thái Bình Dương của Pháp, nằm ngạo nghễ ở đó, với cờ ba sọc bay phần phật trong gió Trường Sơn thổi ra như xua đuổi. Lại hai chiếc thủy phi cơ đang vè vè bay lượn chung quanh bảo vệ. Chúng chuẩn bị tiếp đón Bác rất trọng thể, đúng nghi thức để diễu võ dương oai…

Nghi lễ “đại kỳ”, khắp trên chiến hạm, tất cả các loại cờ đều treo; tất cả các đại bác, thần công, cao xạ, phóng lôi… đều giương cao nòng tua tủa. Và hai nghìn rưỡi thủy quân đồng phục trắng tinh, đứng nghiêm như những pho tượng đá, xếp trên bảy tầng tàu.

Đại Thủy sư Đô đốc, Đặc Cao ủy Pháp Đác-giăng-li-ơ, là con người hiếu cổ đang phục hồi tất cả những nghi thức thời oanh liệt của thủy quân Pháp xâm lược, dọc ngang trên các sông biển nước người.

Điện tín hiệu ước hẹn giờ sang mời Chủ tịch “phó hội”. Bác mượn ống nhòm, nhìn qua tình thế, rồi bình thản nói:

– Chỉ một mình chú Tước đi với Bác!

Vài giây hơi lạ, tôi giương hai mắt kính cận nhìn Bác. Bác nhắc lại:

– Phải, chỉ một mình chú thôi!

Xuồng máy tăng tốc, rẽ sóng lao về phía soái hạm. Đây là chiếc xuồng dùng để duyệt thủy quân, không mui, có chỗ tựa tay để đứng. Cách độ vài chục mét, loa phóng thanh gầm lên một khẩu hiệu, rồi vang lên ba lần: “Híp, híp, híp”. Tiếp theo sau là hai nghìn rưỡi cổ họng cùng hô to lên bảy lần: “Houra! Houra!”…

Đó là đại lễ đón Quốc trưởng…

Hồ Chủ tịch ung dung lẹ bước, trèo lên thang, tiến vào phía “viên môn” của soái hạm. Quả ông Đại Đô đốc này thích nghi lễ thật!

Lại một tiếng hô. Hai nghìn thủy quân to lớn, răm rắp đều bước nhanh dãn ra hai bên thảm đỏ. Đặc Cao ủy Pháp, người loắt choắt, tướng ngũ đoản, nụ cười cáo già trên môi, miệng toe toét với những vết nhăn nheo, bước ra niềm nở đón Hồ Chủ tịch. Hai bàn tay nhỏ, ngắn, xoe tròn lấy nhau, ông ta nói:

– Thưa Chủ tịch, thật tình đến tuổi tôi, mới được học một kinh nghiệm quý báu là tốt nhất đi đâu vẫn cần người thầy thuốc bên cạnh. Có phải không, thưa ông bác sĩ?

Bác trả lời gọn gàng:

– Sang thăm Đặc Cao ủy, nên đi với thầy thuốc!

… Viên Đặc Cao ủy lõi đời, sành sỏi đã nhận rằng, mình tiếp thu ngay bài học Bác vừa dạy cho. Trước nghi lễ rầm rộ, uy nghi đó, Bác chẳng coi ra gì, một mình “phó hội”, chỉ với người thầy thuốc, với mũ, gậy hằng ngày, như thể đi thăm người quen trong làng ngoài xóm, thế thôi!

Tiệc rất thịnh soạn, Chủ tịch ngồi đối diện với Đặc Cao ủy. Hai bên Bác là một vị tướng Tổng chỉ huy Lục quân Đông Dương và một vị Đô đốc Hải quân Pháp ở Thái Bình Dương. Lại cái tay ngắn củn, lại nụ cười muốn ra vẻ duyên dáng, viên Đại Đô đốc ngọt xớt:

– Kìa, thế là Chủ tịch được đóng khung giữa Lục quân và Hải quân rồi đấy.

Nhẹ nhàng cười, Bác đáp ngay:

– Đặc Cao ủy biết đấy, chính bức họa mới làm cho cái khung có giá trị.

Khắp bàn tiệc đều tán thưởng câu trả lời rất chí lý, chơi chữ Pháp tài tình của Bác: Đóng khung và cái khung.

Sau cuộc hội đàm, lúc bắt tay từ biệt, Bác chợt ôm hôn viên Đặc Cao ủy Pháp. Hắn ngạc nhiên chưa đầy nửa giây, rồi trấn tĩnh được ngay và cũng ôm Hồ Chủ tịch. Tất cả chung quanh đều sửng sốt, trơ mắt nhìn. Các nhà báo Pháp, chỉ toàn nhà báo Pháp thôi, chụp ảnh lia lịa, ghi ghi chép chép…

Lúc ra về, như để giải đáp một thắc mắc thầm kín của tuổi trẻ trong tôi, Bác nhẹ nhàng nói:

– Ôm hôn hắn cũng chẳng sao. Xã giao mà!

Xuồng nhỏ lướt trên làn sóng dập dềnh. Đứng ngay sau lưng Bác, nên có lúc như không thấy những người chung quanh. Trước mắt là núi non, biển cả. Quê hương bao la, hùng vĩ, phần phật gió Trường Sơn đã nổi, như cả dân tộc đang đứng lên, quật cường trong trận chiến cuối cùng; rồi chớp mắt nhìn lại, thấy Bác mảnh khảnh trong bộ quần áo bạc màu, tóc phong sương bao năm đang bay trong gió, đôi mắt sáng rực niềm tin tưởng và quyết tâm. Người đứng như pho tượng trước mặt xuồng, để chèo chống trong cơn sóng gió chưa từng có của đất nước…

Nhớ lại câu của Đặc Cao ủy trong bữa tiệc: “Chủ tịch thật quen với biển cả, có lẽ xin tặng Người danh hiệu “Người thủy thủ nhỏ” như quân đội Pháp đã quý mến tặng Napoléon cái tên “Người đội trưởng nhỏ”. Bác trả lời ngay: “Phải, người thủy thủ nhỏ của Hải quân Việt Nam”…”.

Cuộc gặp gỡ ấy đã đi vào lịch sử. Dù những hiệp định và tạm ước bị phản bội, nhưng “người thủy thủ nhỏ” đã trở thành người cầm lái vĩ đại đưa con thuyền dân tộc Việt Nam vượt qua sóng gió thác ghềnh, chiến thắng kẻ thù hung bạo. Năm 2008, tượng đài Bác Hồ thăm Cam Ranh được xây dựng.

NGUYÊN MINH
qdnd.vn

Những tiên đoán về Hồ Chí Minh

QĐND – Đối với các thiên tài và vĩ nhân, người ta không thể đánh giá cao thấp, mà chỉ có thể xem xét, đánh giá họ qua phát hiện và giải quyết những nhiệm vụ mà thời đại đã đặt ra cho nhân loại hoặc cho dân tộc mình. Bác Hồ kính yêu của dân tộc ta là như vậy.

Tiên đoán của cụ Phan Châu Trinh

Cụ Phan Châu Trinh là nhà yêu nước lớn của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Về tuổi tác, Phan Châu Trinh là bậc cha chú của Nguyễn Ái Quốc. Mặc dù giữa hai người có sự khác nhau về phương pháp cứu nước, nhưng đối với Nguyễn Ái Quốc, cụ Phan luôn dành cho Anh một niềm tin và cả sự tôn trọng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969)

Trong một bức thư đề ngày 18-2-1922 gửi từ Mác-xây cho Nguyễn Ái Quốc ở Pa-ri, cụ Phan Châu Trinh đã viết rằng: Nguyễn Ái Quốc “như cây dương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông”. Cụ Phan tin rằng, không bao lâu nữa “cái chủ nghĩa mà Anh tôn thờ (ý nói chủ nghĩa Mác – Lê-nin) sẽ sâu rễ bền gốc trong đám dân tình chí sĩ nước ta”.

Năm 1925, trước khi qua đời cụ Phan đã thổ lộ với các đồng chí của mình như Lê Văn Huân, Huỳnh Thúc Kháng: ”Sự nghiệp độc lập nước nhà trông cậy vào Nguyễn Ái Quốc”(1).

Tiên đoán của một nhà thơ lớn của Liên Xô

Vào năm 1923, khi Nguyễn Ái Quốc làm việc ở Quốc tế Cộng sản ở Mát-xcơ-va, một lần nhà thơ Liên Xô là Ô-xíp Man-đen-xtam đến thăm Nguyễn Ái Quốc. Trả lời câu hỏi của nhà thơ, vì sao phải ra nước ngoài hoạt động, Nguyễn Ái Quốc đã nói: Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ tự do, bình đẳng, bác ái… tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những từ ấy. Chuyến thăm này đã được Ô-xíp Man-đen-xtam viết lại trong bài “Thăm một chiến sĩ Quốc tế Cộng sản” (trên tờ báo “Tia lửa nhỏ”, Liên Xô, số 39, ngày 23-12-1923). Trong bài báo nói trên, nhà thơ đã nhận xét: “Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên biển lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương… Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là văn hóa tương lai…”(2).

Tiên đoán của luật sư F.H Lô-dơ-bai

Vào năm 1931, trong thời kỳ hoạt động Cách mạng ở Hồng Công, Bác Hồ đã bị cảnh sát Hồng Công bí mật bắt giam theo “đặt hàng” của mật thám Pháp. Biết tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, Hồ Tùng Mậu đã đến gặp luật sư Phrăng-xít Hăng-ri Lô-dơ-bai – một luật sư tiến bộ người Anh ở Hồng Công nhờ giúp đỡ. Luật sư F.H Lô-dơ-bai với những thông tin về Nguyễn Ái Quốc và cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đã không ngại nguy hiểm, khó khăn, qua 9 phiên tòa xét xử, bác bỏ những cáo buộc của thẩm phán, cứu Nguyễn Ái Quốc thoát khỏi nanh vuốt của thực dân Pháp. Sau này, ông nói: “Tôi tin Việt Nam sẽ có vị trí đặc biệt trên thế giới với nhà lãnh tụ tài ba Hồ Chí Minh”.

———-

(1) – Theo “117 chuyện kể về Chủ tịch Hồ Chí Minh” – Ban Tuyên giáo Trung ương.

(2) – Hồ Chí Minh “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận”, NXB Văn học, HN,1981, Tr 477,478.

LỆ CHI
qdnd.vn

Tết trồng cây cuối cùng của Bác Hồ

Đồng chí có biết?

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

QĐND – Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác trồng cây gây rừng. Ngày 28-11-1959, với bút danh Trần Lực, Hồ Chí Minh viết bài “Tết trồng cây” để phân tích ý nghĩa và lợi ích thiết thực của phong trào này và “đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây, việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”. Tết trồng cây đầu tiên đã được tổ chức ở miền Bắc vào đầu Xuân năm 1960. Từ đó, hằng năm, vào dịp đầu Xuân mới Bác Hồ lại đến một địa phương nào đó để trồng cây.

Địa điểm Người trồng cây cuối cùng là mùa Xuân Kỷ Dậu năm 1969 tại đồi Yên Bồ, xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Hồi ấy sức khỏe của Bác yếu nhiều, việc bố trí để Bác trồng cây ở một địa phương nào đó theo ý của Bác là một vấn đề rất khó khăn. Những người phục vụ Bác rất lo lắng nên nhiều lần đề nghị Bác hoãn lại việc trồng cây. Nhưng Bác rất kiên quyết. Bác gợi ý chọn xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây là nơi có phong trào trồng cây tốt.

Theo kế hoạch đã chuẩn bị, Bác đến địa điểm trồng cây. Đông đảo các đại biểu, các tầng lớp nhân dân đã đứng trên những đồi cây đón Bác. Bác trực tiếp trồng thêm một cây đa. Nhìn những xẻng đất, bình nước Bác tưới mát cho cây, mọi người ai cũng xúc động nghẹn ngào.Trồng cây xong, Bác cùng mọi người quây quần dưới tán cây và thân mật hỏi chuyện và chúc Tết mọi người. Tất cả mọi người có mặt trong buổi Bác trồng cây năm ấy không ai nghĩ rằng đó là mùa xuân cuối cùng và cũng là cái Tết trồng cây cuối cùng của Bác.

Ghi nhớ lời bác dạy 54 năm qua, nhân dân Ba Vì đã ra sức thi đua sản xuất giỏi, trồng nhiều cây xanh, năm nào cũng thực hiện tốt phong trào “Tết trồng cây” do Bác Hồ phát động. Xuân Quý Tỵ này, Ba Vì sẽ tổ chức ra quân thực hiện Tết trồng cây vào ngày 18-2 (tức là ngày mồng 9 Tết).

MINH HÀ
qdnd.vn