Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

“Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc”

– Ngày 21/1/1946, báo Cứu Quốc đăng toàn văn câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nhà báo nước ngoài sau khi cuộc Tổng tuyển cử đã thành công tốt đẹp và quốc dân đang chờ đợi những thay đổi trong đời sống chính trị nước nhà. Câu trả lời của Bác đầy tính triết lý và tính chiến đấu tự như một tuyên ngôn về lẽ sống của mình: 

“Nhân dịp các bạn tân văn ký giả ngoại quốc hỏi đến, tôi xin đem câu trả lời của tôi công bố ra cho đồng bào trong nước và nhân sĩ nước ngoài đều biết:

1. Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận vậy…

Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi sẽ làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi..

2. Trong một nước dân chủ thì mọi người đều có tự do tin tưởng, tự do tổ chức. Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái. Nay tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng Dân tộc Việt Nam. Đảng đó chỉ có một mục đích là làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài.

Rất mong nhân sĩ nước ngoài và đồng bào trong nước rõ cho” .

Chỉ một năm sau, ngày 21/1/1947 ứng với ngày 30 Tết Đinh Hợi, Bác đến Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, lúc đó đang sơ tán tại Chùa Trầm, để đọc “Lời kêu gọi nhân Tết nguyên đán” và đọc lời thơ chúc Tết Xuân Đinh Hợi:

“Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió/Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông/Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến/Chí  ta đã quyết, lòng ta đã đồng/Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào/Sức ta đã mạnh, người ta đã đông/Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi /Thống nhất, độc lập nhất định thành công”.

X&N
bee.net.vn

Dựng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Mexico

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đồng ý với kiến nghị của Bộ VHTT-DL về việc dựng tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thành phố Acapulco, Mexico.

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ VHTT-DL chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan khẩn trương triển khai xây dựng tượng Bác Hồ tại thành phố trên vừa bảo đảm sự tôn nghiêm, trang trọng vừa bảo đảm chất lượng kỹ thuật, mỹ thuật.

aTượng đài Bác Hồ tại công viên bến Ninh Kiều, Cần Thơ. Ảnh DT

Công trình này phấn đấu kịp khánh thành nhân dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2010).

Dự kiến, tượng đài sẽ được đặt gần tượng đài Mahatma Gandhi, vị anh hùng dân tộc Ấn Độ, tại đại lộ Miguel Aleman, đại lộ chính của thành phố Acapulco.

Hiện nay, theo số liệu thống kê thì từ năm 1990 đến nay đã có 60 công trình tưởng niệm mà bạn bè thế giới làm về Hồ Chí Minh như dựng tượng đài, dựng biển, đặt bia, đặt tên đường phố, tên trường học, tên quảng trường…

(Theo Chinhphu.vn)
bee.net.vn

Hai bức công hàm thiết lập quan hệ Việt – Trung

– Ngày 1/10/1949, tại Quảng trường Thiên An Môn (Bắc Kinh), trước hơn một triệu quần chúng, Chủ tịch Mao Trạch Đông long trọng tuyên bố với thế giới việc thành lập Nước CHND Trung Hoa. Tháng 1/1950, Chính phủ Việt Nam DCCH và CHND Trung Hoa thiệt lập quan hệ ngoại giao.

Hai bức công hàm lịch sử

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nước Việt Nam DCCH Hoàng Minh Giám

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nước Việt Nam DCCH Hoàng Minh Giám

Ngày 15/1/1950, Bộ trưởng Bộ Ngọai giao Nước Việt Nam DCCH Hoàng Minh Giám gửi công hàm đến Bộ trưởng Bộ Ngoại giao CHND Trung Hoa Chu Ân Lai với nội dung như sau:

Chính phủ và nhân dân Nước Việt Nam DCCH căn cứ vào bản tuyên bố ngày 1/10/1949 của Chính phủ nhân dân Trung Quốc, tuyên bố công nhận Chính phủ nhân dân Trung Quốc do Chủ tịch Mao Trạch Đông lãnh đạo.

Để tăng cường tình hữu nghị và sự hợp tác giữ a hai dân tộc Trung Hoa và Việt Nam, Chính phủ Việt Nam DCCH quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức và trao đổi Đại sứ với Chính phủ nhân dân Trung Quốc.

Ngày 15/1/1950

Thay mặt Chính phủ Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngọai giao Nước Việt Nam DCCH – Hoàng Minh Giám.

Ngày 18/1/1950, Bộ trưởng Ngọai giao CHND Trung Hoa Chu Ân Lai đã gửi công hàm phúc đáp thông điệp. Toàn văn như sau:

Kính gửi Ông Hoàng Minh Giám,

Bộ trưởng Bô Ngọai giao Chính phủ Việt Nam DCCH.

Tôi rất hân hạnh nhận được điện báo yêu cầu kiến lập mối quan hệ ngoại giao với Nước CHND Trung Hoa của Quý Bộ trưởng, ngày 15/1/1950. Nay tôi xin thông tri để Quý Bộ trưởng rõ: Chính phủ nhân dân Trung ương của Nước CHND Trung Hoa nhận thấy Chính phủ của Nước Việt Nam DCCH là Chính phủ hợp pháp đại biểu cho ý chí của nhân dân Việt Nam.

Chính phủ Trung ương của Nước CHND Trung Hoa nguyện ý kiến lập mối quan hệ ngọai giao với Chính phủ Việt Nam DCCH và trao đổi Đại sứ để củng cố bang giao giữa hai nước, tăng cường sự hợp tác hữu hảo của hai nước. Đặc biệt về việc này xin phúc điện ngài và mong ngài sắc chiểu thì chúng tôi hân hạnh vô cùng.

Ngày 18/1/1950

Chu Ân Lai – Bộ trưởng Bộ Ngọai giao Chính phủ nhân dân Trung ương Nước CHND Trung Hoa”.

Và vị Đại sứ đầu tiên ở Việt Nam

La Quý Ba là Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương. Ông sinh năm 1907 tại chấn Đàm Khẩu, huyện Nam Khang, tỉnh Giang Tây.

Năm 1925, khi còn là sinh viên Sư phạm Nam Khang, ông đã tham gia hoạt động, năm 1927 là đảng viên và năm 1928 lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nông dân Nam Khang.

1Đại sứ La Quý Ba trình Quốc thư

Những năm 1928 – 1934, tham gia Hồng quân Công nông; từ 1934 – 1936 tham gia Vạn lý Trường chinh. Thời gian 1937 – 1945 là cán bộ sư đoàn và thời kì Nội chiến cách mạng 1946 – 1949 là Chính uỷ Quân đoàn số 7.

Tháng 10/1949 là Chánh Văn phòng Quân uỷ Trung ương. Trước khi sang Việt Nam, ông có nhiều buổi làm việc với ông Lý Ban, liên lạc viên của Đảng ta từ Chiến khu Việt Bắc, vượt qua vòng vây, lên tới Bắc Kinh vào cuối năm đó.

Tháng 1/1950, ông đã có mặt tại Chiến khu Việt Bắc trên cương vị đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 6/1950, ông được Đảng và Chính phủ Trung Quốc cử làm Trưởng Đoàn cố vấn Trung Quốc bên cạnh Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam.

Ông cùng cùng Đoàn cố vấn Trung Quốc đồng cam, cộng khổ với quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp và có nhiều đóng góp quý báu cho cách mạng Việt Nam.

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hòa bình được lập lại trên tòan cõi Đông Dương. Ngày 18/8/1954, Chính phủ Nước CHND Trung Hoa cử ông La Quý Ba làm Đại sứ tại nước ta.

Ngày 1/9/1954, tại một địa điểm thuộc huyện Đại Từ, Thái Nguyên đã long trọng tổ chức lễ trình Quốc thư đầu tiên ở nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận Quốc thư số 1 do Đại sứ nước ngoài đầu tiên La Quý Ba kính trình.

Do những công lao đóng góp cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam mà ông La Quý Ba được Nhà nước ta trao tặng tấm huân chương cao quý nhất. Chính Cụ Hồ là người gắn tấm huân chương này lên ngực ông La Quý Ba.

Trần Kiến Quốc
bee.net.vn

Quốc hội chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hai phiên họp đầu tiên của Quốc hội (QH) khóa đầu tiên đều nóng bỏng, căng thẳng. Phiên họp thứ nhất đứng trước nguy cơ bị tẩy chay, còn phiên họp thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh phải trả lời chất vấn trước QH.

Ngày 6/1/2011, Quốc hội Việt Nam sẽ kỷ niệm 65 năm kỳ họp đầu tiên. Bee xin đăng lai bài tư liệu trên website Quốc hội về kỳ họp đầu tiên năm 1946.

Kỳ họp căng thẳng

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên thệ trước Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất ngày 2/3/1946 - Ảnh: Tư liệu TTXVN

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên thệ trước Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất ngày 2/3/1946 - Ảnh: Tư liệu TTXVN

Để chuẩn bị về nội dung, địa điểm và thời gian cho kỳ họp đầu tiên của QH, nhiều cuộc họp liên tịch đã được tiến hành từ hạ tuần tháng 2/1946 giữa một bên là đại biểu của Chính phủ và các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh, một bên là đại biểu của VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội.

Theo sự thỏa thuận giữa hai bên thì QH sẽ bắt đầu họp vào 7h sáng ngày 3/3 tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội và sau đó tiếp tục họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh). Chính phủ đã căn cứ vào sự thỏa thuận đó mà báo tin cho các đại biểu QH biết và gửi giấy mời phóng viên báo chí trong nước và nước ngoài tham dự buổi họp khai mạc.

Nhưng đột nhiên chiều 1/3 ở nhiều nơi trong thành phố Hà Nội xuất hiện truyền đơn do Nguyễn Hải Thần ký tên kêu gọi nhân dân “tẩy chay QH”. Hành động này bộc lộ ý đồ phá hoại kỳ họp đầu tiên của QH.

Để đề phòng, ngay tối hôm đó Chính phủ đã báo tin cho các đại biểu QH biết là QH sẽ khai mạc vào 7h sáng 2/3 (trước ngày đã định một ngày) tại Nhà hát lớn Hà Nội và đề nghị các đại biểu chỉ có mặt đúng giờ họp rồi đi thẳng vào phòng họp mà không nên tập trung trước cửa Nhà hát lớn.

Theo đúng ngày giờ qui định, các đại biểu QH đã đến họp trước sự bất ngờ của bọn phá hoại và những bộ mặt ngơ ngác của bọn hiến binh Tưởng Giới Thạch đang tuần tiễu trên các ngả đường xung quanh Nhà hát lớn.

Ngồi trong phòng họp, các đại biểu QH rất nóng lòng chờ đợi khai mạc, vì đã quá 8h rồi mà vẫn chưa thấy Hồ Chủ tịch và các vị trong Chính phủ đến. Mọi người đều nghĩ đến vụ rải truyền đơn chiều hôm qua của bọn phản động nên không khỏi băn khoăn, lo lắng về những biến cố có thể xảy ra.

Vì thay đổi ngày họp nên từ 5h sáng 2/3, Hồ Chủ tịch cùng hai đồng chí tự vệ không vũ trang đến tận sào huyệt của VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội ở phố Ôn Như Hầu (nay là Nguyễn Gia Thiều), nơi mà anh em cán bộ Việt Minh và những người dân lương thiện phải tránh xa, báo cho họ biết là QH họp ngày 2/3 để họ cử đại biểu đến dự.

Khi Hồ Chủ tịch đến, họ chưa ngủ dậy. Bị đột ngột, bất ngờ, họ không nghĩ kịp cách đối phó mà chỉ tranh nhau đi dự QH. Hồ Chủ tịch phải đứng dàn xếp bảo ai đi, ai ở nhà.

Gần 9h, việc dàn xếp ở phố Ôn Như Hầu mới xong, Hồ Chủ tịch lên xe đi đến hội trường, các “đại biểu QH” do VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội cử đi dự họp QH ăn mặc quần áo sang trọng kéo theo sau vào ngồi đứng lô nhô ở phòng chờ của Nhà hát lớn. Họ phải chờ sự ưng thuận của QH mới được phép vào phòng họp. Đây chính là những người đến tận ngày hôm qua vẫn tiếp tục gây rối loạn khắp nơi.

Vẫn với bộ quần áo kaki bạc màu, đôi giày vải cũ thường ngày, Hồ Chủ tịch bước vào hội trường, theo sau là ông Vĩnh Thụy và các vị trong Chính phủ.

Hơn 300 đại biểu, cùng với nhiều khách và các nhà báo trong nước và nước ngoài đứng dậy hoan hô không ngớt khi thấy Hồ Chủ tịch. Mấy trăm cặp mắt đều đổ dồn vào Người. Tiếng vỗ tay và tiếng hoan hô chỉ dứt khi ban âm nhạc vệ quốc đoàn mặc đồng phục trắng bắt đầu cử quốc ca.

Hồ Chủ tịch bước tới máy phóng thanh, đứng im lặng một lát đưa cặp mắt trìu mến nhìn các đại biểu thay mặt các tầng lớp nhân dân cả nước về họp QH. Bằng một giọng xúc động, Người tuyên bố khai mạc đại hội, và bắt đầu đọc báo cáo về kết quả cuộc tổng tuyển cử ngày 6/1/1946. Sau đó, Hồ Chủ tịch chuyển đề nghị của Chính phủ với đại hội xin mở rộng thêm 70 đại biểu nữa trong QH và số ghế này sẽ dành cho VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội.

Toàn thể các đại biểu QH giơ tay biểu quyết và đồng thanh hô to “tán thành”.

Cuộc chất vấn đầu tiên tại Quốc hội

Để QH nghe các báo cáo và nhận định về các hoạt động của Hồ Chủ tịch và các phái đoàn QH và Chính phủ trong thời gian qua, giải quyết những vấn đề quan trọng do tình hình mới đề ra và thông qua bản hiến pháp đầu tiên của nước ta, Ban Thường trực QH triệu tập QH họp kỳ thứ hai vào ngày 28/10/1946 tại Hà Nội.

Hồ Chủ tịch năm 1946

Hồ Chủ tịch năm 1946

Tại kỳ họp này cụ Nguyễn Văn Tố, Trưởng ban Thường trực QH, trả lời các câu hỏi chất vấn về công tác của Ban thường trực QH. Hồ Chủ tịch và các bộ trưởng trả lời các câu hỏi và chất vấn về công tác của Chính phủ.

Trong những câu trả lời, chúng tôi đặc biệt chú ý những câu trả lời của Hồ Chủ tịch, lập trường thì rõ ràng, dứt khoát, hình thức thì đôi lúc dí dỏm, đề cập đến những vấn đề mà nhân dân ta rất quan tâm trong tình thế đất nước lúc bấy giờ.

Sau đây là những câu trả lời chất vấn của Hồ Chủ tịch:

* Về ông Phó chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam và ông Phó chủ tịch quân sự, Uỷ viên hội Vũ Hồng Khanh?

Những người bỏ việc đi kia họ không muốn gánh việc nước nhà, hoặc họ không đủ năng lực mà gánh nổi, nay chúng ta không có họ ở đây. Chúng ta cũng cứ gánh được như thường. Nhưng nếu các anh em ấy biết nghĩ lại, dối không nổi với lương tâm, với đồng bào, với Tổ quốc mà trở về thì chúng ta vẫn hoan nghênh.

Còn cái tin ông Nguyễn Hải Thần tự xưng là tổng tư lệnh hải, lục, không quân VN? VN không có hải, lục, không quân thì ông Nguyễn Hải Thần cứ việc mà làm tổng tư lệnh. Nhưng nếu ông Nguyễn Hải Thần tổ chức được hải, lục, không quân cho VN thì cố nhiên chúng ta hoan nghênh.

* Về ông Chu Bá Phượng, Bộ trưởng Bộ Kinh tế:

Các báo Pháp có đăng vài tin (ông Chu Bá Phượng – đại biểu VN Quốc dân đảng, thành viên của phái đoàn Chính phủ đi dự hội nghị đàm phán ở Fontainebleau, khi sang Pháp có mang vàng theo để buôn lậu, bị nhà chức trách Pháp khám phá và làm khó dễ. Các báo Pháp đều có đăng tin và ông Phượng vẫn có mặt tại kỳ họp QH này) nhưng tin ấy có thật hay không thì đã qua rồi, vả lại cũng chẳng có ảnh hưởng gì lớn, xin thôi đừng nhắc đến.

Nếu trong Chính phủ còn có những người khác làm lỗi, thì lỗi ấy tôi xin chịu, xin gánh và xin lỗi với đồng bào.

* Về tạm ước ngày 14/9?

Tạm ước ngày 14/9 có ảnh hưởng đến các hiệp ước kỳ sau này không? Trong xã hội loài người, cái gì mà chẳng có ảnh hưởng đến cái khác? Tuy vậy những sự điều đình sau này không bị ràng buộc được. Bản tạm ước này tùy theo sự thi hành thế nào, sẽ thúc đẩy cho những điều đình sau chóng tới kết quả một cách dễ dàng.

Còn nói rằng “tạm ước 14/9 là bất bình đẳng?” thì Chính phủ không dám nhận như thế. Với bản tạm ước ấy, mỗi bên nhân nhượng một ít, ta bảo đảm cho Pháp những quyền lợi kinh tế và văn hóa ở đây, thì Pháp cũng phải bảo đảm thi hành tự do dân chủ ở Nam bộ và thả các nhà ái quốc bị họ bắt bớ.

Còn nói Pháp không thành thật thi hành tạm ước, thì ta nói vơ đũa cả nắm. Pháp cũng có người tốt, người xấu. Tôi có thể nói quyết rằng nhân dân Pháp bây giờ đại đa số tán thành ta độc lập và thống nhất lãnh thổ.

* Vì sao Chính phủ đã đề nghị thay đổi quốc kỳ?

Chính phủ không bao giờ dám đề nghị thay đổi quốc kỳ, chỉ vì một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy lên, nên Chính phủ phải đề qua Ban Thường trực QH xét.

Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều. Lá cờ đỏ sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu chiến sĩ VN ở Nam bộ và Nam Trung bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn. Bây giờ trừ khi cả 25 triệu đồng bào, còn ra không ai có quyền gì mà đòi thay đổi nó. (Nói đến đây mắt Người sáng quắc lên, giọng Người vang to lên, và dằn mạnh từng tiếng một, trái hẳn với vẻ điềm đạm lúc thường).

* Về Chính phủ liêm khiết?

Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở các ủy ban là đông lắm và phức tạp lắm. Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết.

… Sau khi trả lời và nghe cụ Nguyễn Văn Tố và các vị bộ trưởng trả lời các câu hỏi chất vấn của các đại biểu QH, Hồ Chủ tịch phát biểu:

“Chính phủ hiện thời mới thành lập hơn một năm hãy còn thanh niên. QH bầu ra được hơn tám tháng lại còn thanh niên hơn nữa. Vậy mà QH đã đặt những câu hỏi thật già dặn, sắc nét, khó trả lời, đề cập đến tất cả những vấn đề có quan hệ đến vận mệnh nước nhà. Với sự trưởng thành chính trị và sự quan tâm về việc nước ấy, ai dám bảo dân ta không có tư cách độc lập?”.

Lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước Quốc hội (*)

Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. VN chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận.

Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài.

Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một Đảng, Đảng VN.

Tuy trong quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết.

Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà.

Anh em trong Chính phủ mới sẽ dựa vào sức của Quốc hội và quốc dân, dầu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà quốc dân và Quốc hội trao cho.

(*): Đọc tại phiên họp ngày 31/10/1946 của kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, sau khi được Quốc hội nhất trí giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới.

(Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 2000)


Lâm Quang Thự (đại biểu Quốc hội khóa I)

(Theo Báo Tuổi Trẻ TP.HCM)
bee.net.vn

“Đối với dân, ta đừng có làm trái ý dân”

– Ngày 5/1/1946 là ngày hôm trước cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập…

Sáng ngày hôm đó báo chí nhất loạt đăng “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó viết “Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ.

Hàng vạn nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Hàng vạn nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu.

Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình. Ngày mai, dân ta sẽ bảo cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng : … một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn. Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam đã kiên quyết đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết chống bọn thực dân, kiên quyết tranh quyền độc lập…”

Chiều hôm đó, tiếp xúc với 2 vạn cử tri Hà Nội tập hợp tại sân vận động Việt Nam học xá (nay là khu vực Đại học Bách khoa), ứng cử viên Hồ Chí Minh tuyên bố: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua thì toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

Rời cuộc tiếp xúc, vị Chủ tịch nước đến thăm chùa Bà Đá và trụ sở Hội Phật giáo Cứu quốc đặt ở chùa Quán Sứ nơi phật tử đang tổ chức cầu nguyện cho nước Việt Nam độc lập.

Tại đó, Bác trịnh trọng tuyên bố: “Đối với dân, ta đừng có làm trái ý dân. Dân muốn gì ta phải làm nấy. Nói hy sinh phấn đấu thì dễ, mhưng làm thì khó. Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Nếu cần, hy sinh cả tính mạng tôi cũng không từ”.

Sau bữa cơm chay, Bác còn tranh thủ về thăm làng Bưởi nơi có nghề giấy nổi tiếng và thăm địa điểm bầu cử tại khu vực này, dặn dò mọi người tổ chức bầu cử tốt và khích lệ nhân dân gìn giữ nghề làm giấy truyền thống để phục vụ đất nước.

X&N
bee.net.vn

Ngày đầu năm mới đầu tiên của nước Việt Nam Độc lập

– Sớm 1/1/1946, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến ra mắt tại Nhà Hát Lớn.

Ngày 31/12/1945, ngày cuối cùng của năm diễn ra cuộc Cách mạng, Nhà nước Dân chủ Công hoà mới được 4 tháng đã bước sang năm thứ hai. Sau những ngày sôi động hào khí nổi dậy giành chính quyền, đất nước đang đứng trước nhiều nguy cơ.

Cùng với nạn đói, nhiều lực lượng chính trị từ nước ngoài về đòi chia quyền bính. Và cuối cùng thì tài ba và sự uyển chuyển trong lãnh đạo của cụ Hồ đã dàn xếp dần ổn thoả. Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán” chỉ để lại công khai “Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác” (25/11/1945). Một Chính phủ Liên hiệp giữa Việt Minh và các đảng phái được hình thành. Cuộc Tổng tuyển cử dự kiến tổ chức vào tháng 11 năm này được chuyển sang tuần đầu năm sau.

Ngày 31/12/1945,  Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài hô hào: “Tổng Tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà… Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ đoàn kết… Tôi mong rằng toàn thể quốc dân sẽ hăng hái tham gia cuộc Tổng tuyển cử này”.

Ngày hôm đó báo chí cùng đăng bài Bác viết về “Thế giới đối với Việt Nam” để kết luận: “Chúng ta cứ bền gan, vững chí xây đắp thực lực để kiên quyết chiến đấu, sức chiến đấu ấy sẽ làm cho hoàn cầu thừa nhận nền độc lập hoàn toàn của chúng ta”.

Cũng trong ngày cùng tháng tận của năm  1945 này, Bác ký hai sắc lệnh: thành lập Uỷ ban Nghiên cứu Kế hoạch kiến thiết và cử cụ Bùi Bằng Đoàn, thượng thư Bộ Hình của chế độ cũ và nhà thơ Cù Huy Cận vào Ban Thanh tra đặc biệt chuyên xử lý quan chức làm sai pháp luât.

Sớm 1/1/1946, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến ra mắt tại Nhà Hát Lớn. Ở trong hội trường trên sân khấu cụ Hồ ngồi cạnh Cố vấn tối cao Vĩnh Thuỵ (cựu hoàng Bảo Đại) một bên chiếc đỉnh đặt dưới lá Cờ Đỏ Sao Vàng, bên kia là cụ Nguyễn Hải Thần, thủ lĩnh của các đảng phái đối lập ngồi bên cụ Nguyễn Văn Tố, một nhân sĩ không đảng phái cho thấy một tinh thần đoàn kết vì Dân tộc (ảnh 1).

Ở ngoài quảng trường, đông đảo dân chúng Hà Nội đến để đón chờ lời chúc mừng năm mới của Cụ Chủ tịch nước thay mặt Chính phủ đoàn kết liên hiệp (ảnh 2)

Ảnh 1Ảnh 1

Ảnh 2Ảnh 2

Mấy ngày hôm sau (5/1/1946) dân chúng còn chứng kiến hai cụ Chủ tịch và Phó Chủ tich nước đứng bên nhau trước ban thờ Chùa Bà Đá (ảnh 3) và cùng nhau thụ lộc đầu xuân (ảnh 4). Cụ Hồ trịnh trọng nói: “Nói hy sinh phấn đấu thì dễ, nhưng làm thì khó. Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Hy sinh, nếu cần đến hy sinh cả tính mạng, tôi cũng không từ”.

Nhớ lại 4 năm về trước, ngày 1/1/1942, khi còn hoạt động trên Chiến khu Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc đã làm bài thơ “Chúc mừng năm mới” đăng trên tờ báo “Việt Nam Độc lập”  với lời “Chúc đồng bào ta đoàn kết mau! Chúc Việt Minh ta càng tấn tới”… Nhưng lại phải đến 8 năm sau ngày 1/1/1955, Bác cùng các nhà lãnh đạo đất nước đứng trên lễ đài dựng tại Quảng trường Ba Đình lịch sử để dự lễ chào mừng của nhân dân  Hà Nội chào mừng Thủ đô đã được giải phóng (ảnh 5).

Ảnh 4Ảnh 4

Ảnh 5Ảnh 5

Ảnh 6Ảnh 6

Và 5 năm sau đó, ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ban hành Bản Hiến pháp vừa đựoc Quốc hội kỳ họp thứ 11 của Quốc hội khoá I thông qua chiều ngày 31/12/1959.

Đây là bản Hiến pháp thứ 2 được soạn thảo nhưng lại là bản Hiến pháp đầu tiên được ban hành (ảnh 6).

Dương Trung Quốc
bee.net.vn

Tết Độc lập ngày ấy…

– … Cả nửa thế kỷ đã trôi qua, có cảm giác cái không khí Tết Độc lập của ngày xưa không còn. Nhưng dù thế nào với chúng tôi kỷ niệm về những ngày ấy sẽ sống mãi vì để có được Tết Độc lập đã phải hy sinh bao xương máu của ông cha, anh em, đồng đội, bạn bè. Chúng ta đừng bao giờ quên!

Ngày ấy, Tết Độc lập – Tết của toàn dân. Tôi nhớ cái Tết ấy vui không kém gì cái Tết xuân mới. Với bọn trẻ, có lẽ, vì sau Tết Độc lập sẽ là ngày tựu trường.

Từ 2/9/1945, Việt Nam có ngày Độc lập. Ảnh dongautaivietnamTừ 2/9/1945, Việt Nam có ngày Độc lập. Ảnh dongautaivietnam

Ngày ấy, nhà tôi ở khu gia binh của sĩ quan Bộ Tổng tham mưu, ngay ngã tư Điện Biên và Trần Phú, không xa đầu đường Nam Bộ. Cứ sát ngày Quốc khánh, chả riêng gì nhà tôi mà các gia đình trong khu tập thể đều đón họ hàng ở quê lên ăn tết. Vui lắm, râm ran chào nhau, thăm hỏi sức khỏe rồi vụ chiêm xuân, vụ hè thu năm nay ra sao…

Tiếng gà qué loác quác các xó bếp. Nhà cửa chật chội, cứ trải chiếu xuống dưới sàn mà nghỉ.
Tối 1/9, thấy bọn trẻ còn đùa nghịch ngoài sân, các bác nói với ra: “Ngủ sớm đi để ngày mai còn đi xem duyệt binh!”.

Sáng hôm sau, trong khu các sĩ quan với quân phục chỉnh tề, đầy đủ huân, huy chương ra xe từ sớm. Còn các bác ở quê ra hầu như thấp thỏm cả đêm, dậy uống trà từ 4h. Bên ấm trà thì thào, mong cho trời mau sáng.

Thức giấc, chẳng thèm ăn sáng, chúng tôi theo chân các bác ra đứng trên vỉa hè trước cửa, chờ đoàn xe duyệt binh đi qua. Ngày ấy bộ đội, du kích tham gia duyệt binh tập trung ở sân bay Bạch Mai, tới sáng 2/9 mới theo xe hành quân lên đầu đường Hùng Vương (phía công viên Tây Hồ). Nghe các bác kháo nhau: “Chỉ cần xem xe pháo, bộ đội, du kích ngồi trên xe chạy qua phố mình cũng như được xem duyệt binh trên Quảng trường. Kéo nhau lên sát Ba Đình làm gì cho mất trật tự ra”. Chẳng ai nhắc nhở nhưng ai cũng như tự hiểu điều đó. (Dân ta hay thế!).

Sáng, bà con ở các huyện ngoại thành, ở các tỉnh sát thủ đô mới kéo ra. Trên vỉa hè người xếp hàng lớp trong, lớp ngoài. Bên những bà con với quần áo mới lành lặn vẫn thấy có người đi chân đất, quần áo vá nhưng chả ai phân biệt giàu nghèo, họ như hòa thành 1 khối.

Trên loa phóng thanh treo ở cột điện đầu ngã tư tường thuật trực tiếp lễ duyệt binh và diễu hành mừng Quốc khánh. Khi phát thanh viên giới thiệu “Hồ Chủ tịch, Chính phủ và các vị khách quý đang bước ra lễ đài” làm ai cũng xúc động, như thấy mình đang có mặt trên Quảng trường. Mở đầu là lễ duyệt binh… Đội Quân nhạc nghi lễ do ông Đinh Ngọc Liên chỉ huy liên tục thực hiện các khúc quân hành. Không khí thật rạo rực.

Ở nhà chỉ mong cho đoàn xe pháo hoàn thành nhiệm vụ duyệt binh trở về sẽ tiếp tục diễu hành báo cáo với nhân dân thủ đô. Từ loa phóng thanh vang lên “Đoàn xe tải Mô-lô-tô-va quân sự trong màu sơn mới, các bánh xe sơn trắng, đang rẽ từ đường Hùng Vương sang đường Trần Phú để đi lên Bờ Hồ…”.

Vừa thoáng thấy chiếc com-măng-ca mui trần, với Quân kỳ quyết thắng gắn những huân chương lấp lánh, dẫn đầu đi qua đầu vườn hoa Canh Nông (nay là vườn hoa Lê-nin), bà con đã nhảy cẫng lên, vỗ tay, hô lớn: “Việt Nam muôn năm! Bác Hồ muôn năm! Hồ Chí Minh – Võ Nguyên Giáp!”…  Bọn trẻ chúng tôi sung sướng hô theo và chen sát ra lề đường.

Trên xe là những chiến sĩ trẻ măng, đẹp trai với “quân dung tươi tỉnh”, lưỡi lê tuốt trần, mặt nghiêm nghị nhìn về phía trước. Hết xe bộ binh là hải quân, pháo binh, phòng không… Nhìn những trang bị quân đội hiện đại ngày ấy mà cảm thấy tự hào cho sự phát triển của QĐNDVN anh hùng.

Kế sau bộ đội là công an, dân quân tự vệ, rồi diễu hành của các lĩnh vực, ngành nghề. Xem cho tới khi không còn đoàn nào diễu hành, chúng tôi mới theo chân các bác trở về. Bữa cơm trưa ấy xôm tụ, có thêm cả thịt gà.

Buổi tối cả nhà kéo nhau ra Bờ Hồ xem bắn pháo hoa. Nhìn bầu trời nở ra những bông hoa với ngàn vạn màu sắc mà thêm yêu Tổ quốc độc lập, tự do.

Cho đến bây giờ trong chúng tôi – thế hệ tuổi 50 – 60 trở lên – vẫn còn giữ mãi kỉ niệm về những cái tết Độc lập, cho dù cả nửa thế kỷ đã qua. Dân ta đã bao năm sống trong nô lệ, đã bao năm khao khát được sống trong độc lập, tự do; chỉ từ sau ngày 2/9/1945, dân ta mới thực sự có cái Tết Độc lập như thế!

… Cả nửa thế kỷ đã trôi qua, có cảm giác cái không khí Tết Độc lập của ngày xưa không còn. Nhưng dù thế nào với chúng tôi kỷ niệm về những ngày ấy sẽ sống mãi vì để có được Tết Độc lập đã phải hy sinh bao xương máu của ông cha, anh em, đồng đội, bạn bè. Chúng ta đừng bao giờ quên!

  • Trần Kiến Quốc

bee.net.vn

Độc lập, tự do… đường lên phía trước…

Không khí linh thiêng ngay từ những giây đầu tiên, khi tất cả khán giả cùng đứng lên chào lá quốc kỳ, cất cao lời “Quốc ca” và “Lãnh tụ ca”, để cùng tự hào là con dân nước Việt, cùng đồng lòng đi theo con đường mà Bác đã vạch ra cho dân tộc như lời một bài hát: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Đúng 20h đêm 29/8/2009, đêm nhạc “Hồ Chí Minh – cả cuộc đời vì nước vì dân” đã được truyền hình trực tiếp từ Quảng trường Ba Đình đến với đồng bào cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài. Đêm mùa thu, không gian quảng trường lắng lại, khi vài ngàn con người đủ mọi lứa tuổi, từ những cụ già tóc bạc phơ đến những em nhỏ đôi ba tuổi, tụ họp tại đây để cùng nhớ, cùng tri ân, cùng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc vị lãnh tụ vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam. Thêm rất nhiều ghế phụ, và hàng ngàn đồng bào xem chương trình dọc đường Độc Lập, nơi ban tổ chức đặt 3 màn hình lớn.

Đêm nhạc hoành tráng cạnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh VietNamNetĐêm nhạc hoành tráng cạnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh VietNamNet

Không khí linh thiêng ngay từ những giây đầu tiên, khi tất cả khán giả cùng đứng lên chào lá quốc kỳ, cất cao lời “Quốc ca” và “Lãnh tụ ca”, để cùng tự hào là con dân nước Việt, cùng đồng lòng đi theo con đường mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra cho dân tộc như lời một bài hát: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Con đường của dân tộc Việt Nam mà Bác vạch ra là con đường mở, con đường phát triển đến tương lai mà cơ sở nền móng của nó là Độc lập, tự do.

anh 1.jpgCả dân tộc đồng lòng vì “Độc lập tự do… đường lên phía trước”. Ảnh VietNamNet

Ngay sau đó, ca sĩ Đăng Dương “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” (Nhạc sĩ Văn Cao) với những lời ca tha thiết, hào hùng: “Người về mang tới ngày vui. Mùa thu nắng tỏa Ba Đình, với tiếng Người còn dịu dàng như tiếng đất trời…” mở đầu cho những ca khúc thể hiện tình cảm yêu kính của những người con Việt Nam với người cha chung của dân tộc. Từ những khúc ca hùng tráng Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác (Cao Việt Bách), Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người (Trần Kiết Tường) đến Người là niềm tin tất thắng (Chu Minh)…, đến những lời ca da diết của “Lời Bác dặn trước lúc đi xa”, “Viếng lăng Bác”, “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh”…

Các nghệ sĩ thuộc nhiều thế hệ, từ những người kỳ cựu như NSND Thu Hiền, NSND Quang Thọ, đến thế hệ trung niên như Thái Bảo (Hà Nội), Tạ Minh Tâm (TPHCM), cả các sĩ trẻ như Hồ Quỳnh Hương, Phương Anh, Thanh Thúy…, mỗi người đều góp lời ca như những bông hoa đẹp trong vườn hoa dâng Bác. Nhiều khán giả hát cùng các ca sĩ những lời ca tha thiết, nhiều tiếng vỗ tay theo nhạc điệu.

Đa số các ca khúc về Bác được chọn hát trong chương trình không mới, bởi những người yêu nhạc “cách mạng” Việt Nam đã quen thuộc với những lời ca được cất lên mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác, hay tưởng nhớ ngày Bác đi xa. Nhưng khi những lời ca sâu lắng ấy vang lên giữa không gian quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi Bác đọc những lời Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 64 mùa thu trước, nơi đồng bào cả nước hòa chung dòng lệ tiễn đưa Bác 40 năm trước, nơi Bác đang yên giấc, dường như tinh thần của Bác, tấm lòng của Bác đã truyền tình cảm cho cả người hát lẫn người nghe; tạo nên mối cộng cảm, gắn bó, liên kết cả dân tộc thành một khối sức mạnh: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Chương trình cũng dành những phút tri ân các chuyên gia Liên Xô trước đây, các chuyên gia Nga hiện nay nối tiếp nhau dành trọn tâm sức, tình cảm để giữ gìn hình hài Bác suốt 40 năm qua, để mỗi ngày hàng ngàn người nối tiếp nhau vào lăng để được thấy Bác. Nhiều chuyên gia có mặt trong đêm diễn, cùng nhớ Bác với đồng bào Việt Nam.

Cùng với những lời ca dâng Bác, những thước phim tư liệu hình ảnh Bác Hồ với đồng bào – chiến sĩ cả nước, với bạn bè quốc tế gây xúc động mạnh mẽ không chỉ bởi hình ảnh Người giản dị, gần gũi, thân thương, mà còn bởi những người tiếp xúc với Bác đều thể hiện rõ niềm hạnh phúc khi được gặp Bác, được Bác ôm hôn hay bắt tay thân mật… Cảm giác như Bác vĩ đại đang ở đâu đó thật gần.

Trong không khí ấy, những lời cuối cùng trong di chúc Bác để lại cho toàn dân từ 40 năm trước sẽ khiến mỗi người phải suy ngẫm: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

  • Theo Khánh Linh (VietNamNet)

bee.net.vn

“Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn, xin nguyện cùng Người vươn tới mãi”

HNP – Nhân dịp kỷ niệm 119 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã có bài viết về tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh và về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Cổng Giao tiếp điện tử Hà Nội xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Ảnh tư liệu

Tôi xin mở đầu bài viết bằng hai câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Tố Hữu: “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn/Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi” để nói lên tình cảm và nguyện ước của mỗi chúng ta vào dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

Trong di sản quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng cao đẹp của Người là tài sản tinh thần vô giá.

Năm nay, kỷ niệm 119 năm ngày sinh của Bác, Đảng bộ và nhân dân Thủ đô Hà Nội cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng; thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, quyết tâm nắm bắt thuận lợi, thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc ta tiếp tục vững bước tiến lên phía trước.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta càng thêm tự hào, tin tưởng và biết ơn Bác, Người trọn đời phấn đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc của nhân dân; là hiện thân của những tư tưởng, tình cảm, đức tính cao đẹp nhất của dân tộc ta; là tấm gương mẫu mực và sáng ngời về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; tận trung với nước, tận hiếu với dân; “dĩ công vi thượng”. Càng tự hào, biết ơn Bác, mỗi người chúng ta càng phải nhận thức sâu sắc về sự cần thiết của việc học tập, làm theo tấm gương vừa vĩ đại vừa gần gũi của Người. Không chỉ cán bộ, đảng viên mà hết thảy, từ người cao tuổi đến các cháu học sinh, ai ai cũng đều mong muốn học tập, làm theo tấm gương đạo đức của Người.

Hơn hai năm qua, cuộc vận động đã được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Chỉ thị 06-CT/TƯ, ngày 7-11-2006 của Bộ Chính trị (khóa X) đã nêu rõ: “Làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong Đảng, trong xã hội về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt là trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh…, nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng”.

Mới đây, đánh giá về kết quả hơn hai năm thực hiện cuộc vận động, Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh, Trưởng ban chỉ đạo Trung ương cuộc vận động đã khẳng định, cuộc vận động đã tạo ra những kết quả tích cực, góp phần đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng; xây dựng nền tảng đạo đức của Đảng và toàn xã hội. Chính vì vậy, trong thời gian tới phải tiếp tục đưa cuộc vận động đi vào chiều sâu, trở thành nội dung quan trọng trong mọi hoạt động của các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể ở mọi cấp, mọi ngành, chú trọng cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức trong tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phù hợp điều kiện mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương để cán bộ, đảng viên, công chức và mỗi người tự giác làm theo; vừa học tập, vừa làm theo tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác, phong cách làm việc “nói đi đôi với làm”. Đặc biệt phải thực hiện thật tốt Di chúc của Bác Hồ, nhất là những lời căn dặn của Người về xây dựng Đảng để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Mục đích cao cả, lâu dài của cuộc vận động là xây dựng nền tảng đạo đức tinh thần xã hội, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; là nền tảng tinh thần và động lực phát triển của xã hội; là thực hiện lời dạy vô cùng quan trọng của Người “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa”. Với ý nghĩa ấy, “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là một cuộc vận động vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài, là cơ sở quan trọng cho phép phát huy sức mạnh tổng hợp và lực lượng to lớn trong toàn Đảng, toàn dân để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thủ đô và đất nước.

Toàn bộ cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Người chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, nhân dân được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Cho đến trước lúc giã từ cuộc sống, Người chỉ tiếc một điều là không được phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Vì vậy, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vừa là nhu cầu tự hoàn thiện tư cách, đạo đức của mỗi cá nhân, vừa là yêu cầu đối với toàn xã hội; bất cứ ai, dù trên cương vị nào, lứa tuổi nào, cũng đều cần phải và đều có thể học và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ.

Để nhấn mạnh sự cần thiết phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của mỗi người, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”. Một ngày sau khi nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ. Người trình bày sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Người đề nghị “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CầN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều tác phẩm viết về vấn đề này, từ “Đường Kách mệnh” cho đến bản Di chúc lịch sử. Người căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư…”

Trong rất nhiều bài nói, bài viết, Bác Hồ đã giải thích một cách hết sức sâu sắc và dễ hiểu về nội dung những đức tính quan trọng cần thiết cho mỗi con người.

CẦN theo Người là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao. Người nói: “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”. Muốn thực hiện CầN cho có kết quả thì làm việc phải có kế hoạch, dù công việc gì, to hay nhỏ, lớn hay bé, đều phải sắp xếp khoa học và tính toán cẩn thận. Một người lười biếng sẽ làm chậm và ảnh hưởng đến công việc của rất nhiều người khác. Cần là phải không ngừng nâng cao năng suất lao động…

KIỆM là “tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”. Cần với kiệm đi đôi với nhau như hai chân của một người. Cần mà không kiệm cũng như một cái thùng không đáy. Kiệm mà không cần thì không phát triển được. Bác yêu cầu phải tiết kiệm cả của cải, thời gian và sức lực, bởi của cải nếu hết còn có thể làm ra được, còn thời gian đã qua đi, không bao giờ quay trở lại. Bác nói: Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Việc đáng tiêu mà không tiêu là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm…

LIÊM là “trong sạch, không tham lam”; “không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. Bác nói: Liêm phải đi đôi với kiệm, bởi có kiệm mới liêm được. Tham lam là một điều rất xấu hổ. Những hành động bất liêm đều phải dùng pháp luật để trừng trị, dù đó là người nào, giữ cương vị gì, làm nghề gì. Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ…

CHÍNH “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”. Đối với mình – không tự cao tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình. Đối với nguời – không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà; không dối trá, lừa lọc. Đối với việc – để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó khăn, nguy hiểm, việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Mỗi ngày cố làm một việc có lợi cho dân.

Về CHÍ CÔNG VÔ TƯ, Bác nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc”, “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “Phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người giải thích: “…Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm, có dịp là đục khoét, có dịp là ăn của đút, có dịp là “dĩ công vi tư”. Lời nói phải đi đôi với việc làm. Nếu chính mình tham ô mà bảo người khác liêm khiết thì không được. Thực hành tốt cần kiệm liêm chính, chí công vô tư sẽ rèn luyện, làm cho con người có những phẩm chất tốt, như “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Trong đạo đức thì việc nêu gương là vô cùng cần thiết.

Cuộc đời Bác Hồ là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, thương dân, về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Sinh thời, Bác sống rất giản dị, từ ăn, mặc, ở cho đến mọi sinh hoạt hằng ngày. Ngay khi đã là Chủ tịch nước, Bác luôn nêu tấm gương vô cùng mẫu mực về đạo đức cách mạng. Trong những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, bằng hai bàn tay lao động, Người đã trải qua những công việc nặng nhọc và vất vả: phụ bếp, cọ rửa sàn tàu, dọn tuyết. Trong những năm kháng chiến và cả sau này khi đã là lãnh tụ của Đảng và nhân dân, Người vẫn cùng cán bộ, chiến sỹ cuốc đất trồng rau, nuôi cá, sống một cuộc sống giản dị và lạc quan “cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”. Có biết bao câu chuyện chân thực và cảm động về tấm gương đạo đức của Bác. Có đồng chí yêu cầu Bác bỏ đi chiếc áo vá, nhưng Bác không cho bỏ. Bác nói: “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy. Đừng bỏ cái phúc ấy đi”. Đôi dép cao su, bộ quần áo ka-ki, ngôi nhà sàn, ao cá của Bác Hồ… đã trở thành biểu tượng văn hóa, đạo đức, văn minh của một vị Chủ tịch nước, một lãnh tụ của Đảng, của nhân dân.

Nhận thức sâu sắc ý nghĩa, mục đích, yêu cầu của cuộc vận động, hơn hai năm qua, cùng với đồng bào và chiến sỹ cả nước, Đảng bộ và nhân dân Thủ đô Hà Nội đã sôi nổi hưởng ứng, triển khai thực hiện nghiêm túc, sáng tạo các nội dung của cuộc vận động, bước đầu đạt được những kết quả tích cực.

Bằng các hình thức phong phú, sinh động, chúng ta đã tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, làm cho mọi người càng thêm tin tưởng, tự hào và biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, càng thêm quyết tâm trong học tập, phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện. Ai ai cũng thấm nhuần lời nhắc nhở hết sức ân cần của Bác: “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống. Đạo đức cách mạng giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Cuộc vận động có sức lôi cuốn và lan tỏa đến 6,4 triệu người dân và 31 vạn đảng viên của Đảng bộ thành phố. Các hình thức học tập đa dạng, các hội thi kể chuyện về tấm gương đạo đức của Bác… đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ và tham gia tích cực của đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Chúng ta cũng vui mừng nhận thấy, cuộc vận động được triển khai thực hiện hơn hai năm qua đã tạo nên một dấu ấn sâu sắc trong suy nghĩ của đại bộ phận cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, góp phần thúc đẩy các phong trào thi đua yêu nước.

Sau hơn hai năm thực hiện, đã xuất hiện nhiều điển hình cá nhân, tập thể trong việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác, tiêu biểu là 144 tập thể và 71 cá nhân được tuyên dương tại Hội nghị biểu dương các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” của thành phố vừa qua. Ở mỗi cấp, mỗi ngành và từng địa phương, đơn vị đều có thể kể ra những tấm gương, những việc làm thiết thực hưởng ứng cuộc vận động. Những việc làm ý nghĩa đó đã góp phần đem lại kết quả cụ thể, tạo chuyển biến tích cực trong mọi lĩnh vực của Thủ đô: Việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được thực hiện nghiêm túc, với việc giảm bớt các cuộc họp không cần thiết, rút ngắn thời gian đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc họp; sử dụng hợp lý, tiết kiệm xăng, xe, điện, nước, văn phòng phẩm nơi công sở. Công tác cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh, giảm bớt phiền hà và thời gian chờ đợi của người dân, tổ chức và doanh nghiệp. Không ít cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đã tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo, từ thiện giúp đỡ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn…

Mặc dù đã đạt được một số kết quả và chuyển biến tích cực, song đối chiếu với yêu cầu của cuộc vận động và những thiếu sót, khuyết điểm cần phải ra sức khắc phục, nhất là yêu cầu “đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội” và để cuộc vận động thực sự trở thành động lực mạnh mẽ giúp thành phố thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nghị quyết Đại hội XIV Đảng bộ thành phố và kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội một cách xứng đáng nhất, trong thời gian tới, các ngành, MTTQ, các tổ chức, đoàn thể thành phố cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt Kế hoạch số 14-KH/TU ngày 10-3-2009 của Thành ủy về thực hiện cuộc vận động trong năm 2009, trong đó chú trọng thực hiện hiệu quả một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, từng cấp ủy, nhất là các cấp ủy ở cơ sở phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để đưa cuộc vận động đi vào chiều sâu, thấm vào mọi hoạt động của các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể ở mọi cấp, mọi ngành từ thành phố tới cơ sở. Cần cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ cụ thể ở từng cơ quan, đơn vị sao cho dễ hiểu, dễ nhớ; đồng thời có biện pháp tổ chức để mọi người tự giác thực hiện làm theo. Mỗi cơ quan, đơn vị, từng cá nhân, cán bộ, đảng viên Thủ đô căn cứ chức năng nhiệm vụ của mình, chọn lấy những việc làm cụ thể để phấn đấu, thực hiện, quyết tâm làm bằng được.

Hai là, học tập và làm theo, nhận thức và hành động cần phải được kết hợp một cách sinh động, cụ thể và thiết thực; phải gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở từng cấp, từng ngành. Kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi cá nhân, tổ chức là thước đo rõ nhất kết quả thực hiện cuộc vận động. Nhiệm vụ trọng tâm của thành phố trong năm 2009 là tập trung thực hiện tốt các giải pháp nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, cùng với đó là tiếp tục thực hiện 9 chương trình công tác lớn của Thành ủy, 5 nhiệm vụ trọng tâm, 2 khâu đột phá của thành phố; đẩy mạnh thực hiện và nâng cao hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và các phong trào thi đua yêu nước hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Điều làm chúng ta trăn trở, suy nghĩ hơn cả, đó là chúng ta phải làm gì để biến quyết tâm của Đảng bộ, của lãnh đạo thành phố thành phong trào, động lực, là niềm tự hào của mỗi người dân trong việc giữ gìn những nét đẹp văn hóa của người Hà Nội, của văn hóa Thăng Long, văn hóa xứ Đoài. Bên cạnh việc ra sức hoàn thành đúng thời hạn các công trình, dự án trọng điểm, một trong những trọng tâm của việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác trong năm 2009 – 2010 là khơi dậy ý thức và thực hiện tốt việc xây dựng nếp sống văn hóa người Hà Nội “thanh lịch, văn minh, giàu lòng nhân ái, có ý thức chấp hành pháp luật”, trong đó việc đề cao vai trò tiền phong gương mẫu và ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu ở mọi cấp, mọi ngành, mọi cơ quan, đơn vị của thành phố có vai trò quyết định.

Ba là, làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền; thực sự đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền, cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Kịp thời phát hiện để biểu dương, nhân rộng những tấm gương cá nhân, tập thể điển hình trong thực hành làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, đặc biệt là ở những người lao động trực tiếp; đồng thời phê phán, đấu tranh với những thói hư tật xấu, những hủ tục lạc hậu, những cá nhân và tập thể không gương mẫu trong công việc và đời sống hằng ngày.

Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hóa nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá mà Bác Hồ kính yêu đã để lại cho toàn Đảng và toàn dân ta; là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” nhất định sẽ thu được kết quả thiết thực, to lớn hơn khi mỗi cán bộ, đảng viên, người dân Hà Nội tự giác học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, coi đó là danh dự, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình.

Như muôn mạch nước nhỏ hòa thành dòng sông lớn, mỗi ngày, mỗi người hãy cố gắng làm thêm một việc tốt, có ích cho mình, cho cơ quan, đơn vị, có lợi cho dân, cho nước. Nếu ai cũng làm được như vậy thì chắc chắn sẽ tạo thành một động lực mạnh mẽ, làm chuyển biến nhanh hơn nữa, tích cực hơn nữa mọi mặt của đời sống xã hội, làm cho Thủ đô yêu quý của chúng ta ngày càng đẹp hơn, thiết thực kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, xứng đáng với niềm tin cậy của nhân dân cả nước. Đó chính là chúng ta làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ một cách thiết thực nhất.

Phạm Quang Nghị – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội
hanoi.gov.vn