Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

“Hoan nghênh các người bạn Mỹ của chúng tôi”

– Chiều ngày 17/7/1945, một đơn vị vũ trang mang biệt danh “Con Nai” (The Deer) của cơ quan Tình báo Chiến lược Mỹ (OSS) do Thiếu tá A. Thomas chỉ huy, theo sự thoả thuận của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhảy dù xuống Tân Trào và được Việt Minh đón tiếp.

Theo kế hoạch đơn vị này sẽ tham gia huấn luyện để cùng các chiến sĩ Việt Minh thành lập một “Đại đội Việt Mỹ” do Võ Nguyên Giáp làm tư lệnh, Đàm Quang Trung làm đại đội trưởng và Thomas làm cố vấn.

Về cuộc đổ bộ đường không này, “Nhật ký của Đội Con Nai” do Thomas viết mô tả: “Chúng tôi được… 200 lính bảo vệ có vũ trang của Đảng Việt Minh chào đón… Tiếp đó chúng tôi đuợc dẫn đi qua các đường rừng và đi qua một cái cổng chào bằng tre có khẩu hiệu bằng tiếng Anh “Hoan nghênh các người bạn Mỹ của chúng tôi”.

Tháng 8/1945 HCM chụp kỷ niệm cùng đơn vị OSS (Mỹ) tại Hà NộiTháng 8/1945 HCM chụp kỷ niệm cùng đơn vị OSS (Mỹ) tại Hà Nội.

Tiếp đó, chúng tôi được hướng dẫn tới bản doanh của mình vừa mới được xây dựng… Rồi chúng tôi được gặp ông Hồ, lãnh đạo của Đảng. Ông Hồ đã ân cần đón tiếp chúng tôi và đưa cho chúng tôi thịt bê rán và mấy chai bia Hà Nội dùng cho bữa tối của chúng tôi. Chúng tôi đã trải qua một đêm yên ổn và sung sướng vì cuối cùng đã đến nơi…”

Ngay trong cuộc tiếp xúc đầu tiên, người đứng đầu Mặt trận Việt Minh đã khẳng định mục tiêu của sự hợp tác Việt-Mỹ là chống phát xít Nhật giành độc lập cho các dân tộc Đông Dương, lên án những âm mưu của nước Pháp thực dân. Về Chủ tịch Hồ Chí Minh, A. Thomas viết: “Lý lịch của ông C.M.Hồ (cách viết họ và tên của người phương Tây)… là cả một sự bí hiểm đối với chúng tôi. Hồ là bí danh của ông ta. Sau này khi trở thành Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Minh ở Hà Nội, ông ta mới công bố tên thật là Hồ Chí Minh…

Tôi có một cuộc thảo luận với ông Hồ về vấn đề người Pháp. Ông khẳng định rằng: “Đảng Việt Minh hay là mặt trận, là một sự hợp nhất của các đảng phái chính trị được tổ chức ra với một mục đích duy nhất là đánh đổ tất cả các chính quyền nước ngoài và đấu tranh cho tự do và hoàn toàn độc lập của Đông Dương…

Ông ta khẳng định rằng có ít nhất 85% số dân ở Bắc Kỳ là hội viên hoặc có cảm tình với những mục tiêu đấu tranh của Việt Minh. Người quan sát bình thường nhất cũng có thể thấy rõ ràng là những người nông dân không hiểu danh từ chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội là gì, thế nhưng họ hiểu được tự do-độc lập…”.

X&N
bee.net.vn

“Qua khỏi mùa đông thì mùa xuân chắc chắn sẽ đến”

– Ngày 16/7/1947, Bác viết “thư gửi các phụ lão, các vị thân hào và toàn thể đồng bào tỉnh Phúc Yên” cảm ơn các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đã hăng hái và có nhiều sáng kiến ủng hộ kháng chiến.

Thư viết: “Đời xưa nhờ sự kêu gọi của phụ lão, sự cố gắng của các thân hào, lòng nhiệt thành của quốc dân, mà tổ tiên ta: Trần Hưng Đạo, Lê Thái Tổ, Nguyễn Quang Trung đã dẹp nạn ngoại xâm, giữ vững đất nước.

Ngày nay, cũng do lòng yêu nước, do sự thân ái đoàn kết, do sự hăng hái hy sinh của các cụ phụ lão, các vị thân hào và toàn thể đồng bào, chúng ta nhất định chiến thắng thực dân phản động Pháp.

aNgày 16/7/1957 Bác thăm các cháu học sinh VN đang học ở Liên Xô.

Chúng ta kiên quyết noi theo lịch sử vẻ vang của tổ tiên, tranh lại thống nhất và độc lập cho dân tộc và xây dựng nền tự do và hạnh phúc cho con cháu muôn đời”.

Cùng ngày, Bác còn viết thư “gửi đồng bào trong những vùng địch tạm chiếm đóng” chia sẻ những khó khăn và đau khổ đồng bào phải chịu đựng, khích lệ đồng bào kiên trì khắc phục hướng về kháng chiến và riêng mình thì “Trong lúc viết thư này, một mặt tôi rất đau lòng vì tôi tài hèn đức mọn, chưa đuổi được giặc ngay để đồng bào chịu khổ cực. Song một mặt tôi phấn phát, vì tôi chắc rằng trải qua bước cực khổ thì chúng ta nhất định thành công, cũng như  qua khỏi mùa đông thì chắc chắn mùa xuân sẽ đến”.

Cũng trong ngày 16/7/1947,  Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời một nhà báo nước ngoài nhấn mạnh rằng:“Quốc hội Việt Nam là do toàn dân bầu phiếu cử ra…Trưởng ban thường trực Quốc hội là một vị nho học lão thành trước đã làm quan đến bực đại thần, phó trưởng ban là một vị linh mục và một vị đảng viên Đảng Dân chủ… Chúng tôi không chủ trương giai cấp tranh đấu vì một lẽ từng lớp tư sản Việt Nam đã bị kinh tế thực dân đè nén không cất đầu lên được, khiến cho kinh tế Việt Nam đã bị tiêu diệt, dân cùng, tài tận.

Trái lại, chúng tôi chủ trương cho tư bản Việt Nam phát triển. Mà chỉ có thống nhất và độc lập thì tư bản Việt Nam mới có thể phát triển. Đồng thời chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước khác thật thà cộng tác với chúng tôi… Bao giờ Pháp thật thà thừa nhận Việt Nam độc lập và thống nhất thì chiến tranh sẽ lập tức kết thúc… Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp lại rằng: Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ. Bao giờ đạt được mục đích đó, tôi sẽ trở về làm một người công dân du sơn ngoạn thủy, đọc sách làm vườn…”.

X&N
bee.net.vn

Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh

Ngày 15/7 năm nay hồi 7h sáng, tại một trong những ngôi nhà xinh xắn, xây dựng chung quanh dinh Chủ tịch, tôi ngồi đợi Chủ tịch Hồ Chí Minh tới. Người đã nhận lời cho tôi phỏng vấn.

Người mặc bộ quần áo nâu – bao giờ người ta cũng thấy Người mặc thứ quần áo này, như tất cả mọi nông dân Việt Nam và đầu đội mũ vải, tay chống gậy nhỏ. Giọng nói của Người yếu hơn những lần trước tôi được gặp hồi 1964 – 1965, nhưng con mắt vẫn tinh nhanh như xưa, vừa hóm hỉnh sâu sắc, vừa hiền từ. Thấy tôi, Người nói đùa ngay một câu về mái tóc ngày càng bạc trắng của tôi.

Giọng nói của Người rất tự chủ, lúc nào cũng đi thẳng vào vấn đề, không một chút nghi thức. Chúng tôi ngồi xuống bên cạnh nhau trước một cái bàn bày bánh ngọt và cà phê mà tôi không thấy lúc nào Người động tới. Chúng tôi bắt đầu vào công việc.

x

Cũng vẫn con người mà tôi đã được biết cách đây mấy năm, con người mà sự có mặt phi thường như choán hết cả gian phòng, có thể nói làm xóa nhòa sự có mặt của những người khác, nhưng sự săn sóc, thái độ ân cần hết sức lịch thiệp và hòa nhã của Người đối với khách làm cho người ta trong những phút đầu thấy đôi chút lúng túng, nhưng sau đó lại tạo ra một bầu không khí thân mật thoải mái ngay.

Nét mặt Hồ Chủ tịch trông có vẻ rất trẻ nếu không có đôi mắt sáng ngời và chòm râu dài. Ở Người,  hình hài như thu lại đến mức nhỏ nhất chỉ còn toát ra ngoài ý chí và trí tuệ, tuy đã thoát ra ngoài thể xác nhưng vẫn hoàn toàn hiện thực. Lúc bấy giờ tôi không thể nghĩ, “Bác Hồ sẽ từ giã cõi đời này khi sự thoát xác kia trở nên hoàn toàn”…. và tôi nghĩ rằng Người đã qua đời theo cách như vậy.

Nhưng hỡi ơi, cách đây một tháng rưỡi, không có gì có thể làm cho người ta ngờ rằng việc ấy lại xảy ra sớm như thế.

Giờ phút tôi được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh hôm ấy là một trong những giờ phút đáng ghi nhớ trong đời tôi.

Người không để lộ với tôi những bí mật Nhà nước – chúng tôi nói chuyện về Lê-nin: Không tìm cách dạy tôi một bài học về đạo đức hay chính trị, Người kể lại những chuyện cũ năm xưa- nhưng càng nghe tôi càng thấy Người vừa nói về một vấn đề lớn của Nhà nước, vừa dạy tôi một bài học luân lý và chính trị.

Có hai điểm làm tôi chú ý đặc biệt. Trong đề cương của Người, đồng chí Hồ Chí Minh đã gạch tất cả những công thức tiêu cực để thay bằng những công thức tích cực cùng nghĩa: Người không viết: “Không có chủ nghĩa xã hội thì các dân tộc thì không thể đi đến giải phóng hoàn toàn”…

Đây không phải là một cái tật trong cách sử dụng ngôn ngữ mà đây chính là một nếp suy nghĩ của Người. Nếp suy nghĩ ấy thể hiện ra như vậy, làm cho người ta thấy rằng trong tất cả mọi tình huống dù là đen tối nhất, Người đã phân biệt rõ cái gì là tích cực, cái gì hướng về cuộc sống và tương lai.

Lại một lúc khác, khi nhắc đến những kỉ niệm cũ của Người ở Đại hội Tours, câu chuyện có đề cập đến một nghị sĩ thuộc Đảng Xã hội tại đại hội đã ngắt lời Người một cách không nhã nhặn lắm và về sau nghị sĩ ấy không bao giờ còn là bạn chính trị của Chủ tịch nữa.

Bác Hồ nói: “Chúng ta chẳng nên nhắc tên người ta làm gì. Hồi tôi mới bước  vào cuộc đời đấu tranh, ông ấy đã có dịp giúp đỡ tôi  khi tôi còn ở trong Đảng Xã hội bởi chưa có sự phân liệt ở Tours”.

Chuyện xảy ra cách đây đã 50 năm rồi, thế mà vị đứng đầu nhà nước này tế nhị tới mức giữ bí mật tên tuổi một người khác chính kiến với mình có thái độ không lịch sự.

Khi nghe nói đến những dự kiến tổ chức mừng thọ Người 80 tuổi (vào ngày 19/5 sang năm) Hồ Chủ tịch tỏ ý không tán thành tất cả mọi biểu hiện chú ý đặc biệt đến Người, và nói rõ là không được bày vẽ gì nhân dịp này chừng nào còn cần thêm tiền để làm nhà giữ trẻ, trường học, bệnh viện hay phòng đọc sách.

sĐại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp Charles Fourniau (người ngồi bên phải) tại nhà riêng. Ảnh: Lao động

Người nói mấy câu rất nhanh bằng tiếng Việt với cán bộ giúp việc Người, rồi theo phép lịch sự quay lại phía tôi tóm tắt bằng tiếng Pháp một cách hết sức thoải mái dễ dàng những lời Người vừa nói bằng tiếng Việt mà tôi cũng nắm được ý chính. Sau đó chúng tôi lại quay về công việc.

Một giờ sau, Bác Hồ đứng dậy nói mấy lời thân ái hỏi thăm các cháu tôi, rồi đi ra, vẫn nhanh nhẹn để trở về chỗ làm việc tiếp tục công tác.

Bởi vì cho đến phút cuối cùng, Hồ Chủ tịch vẫn theo dõi công việc của dân tộc Việt Nam mà Người đời đời là biểu tượng sinh động.

(Bài đăng trên báo Nhân đạo số ra ngày 4/9/1969)
bee.net.vn

Nhà báo Pháp và “Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh”

 – Ngày 15/7/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và trả lời phỏng vấn của nhà báo Charles Fourniau, đai diện thường trú của Đảng Cộng sản Pháp và tờ báo L‘Humanité (Nhân Đạo) tại Hà Nội. Đây cũng là cuộc phỏng vấn trực tiếp cuối cùng của Bác.

Với câu hỏi “Chủ tịch đã tìm thấy tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách nào?”, Bác kể lại: “Khi tôi nêu ra câu hỏi: Ai khẳng định rõ ràng là mình đoàn kết với các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức? thì người ta trả lời: Quốc tế thứ Ba. Rồi một đồng chí đưa tôi đọc Luận cương về các vấn đề thuộc địa và dân tộc của Lênin vừa đăng rên báo “Nhân Đạo”.

eNguyễn Ái Quốc thời gian ở Pháp.

Bài đó khó hiểu, vì có những từ ngữ mà tôi không biết rõ. Nhưng tôi đọc đi đọc lại và dần dần tôi hiểu ý nghĩa của nó một cách sâu sắc. Bản Luận cương làm cho tôi cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi xúc động đến phát khóc lên. Ngồi một nình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Từ đó tôi đã có một sự lựa chọn: tán thành Quốc tế thứ Ba và hoàn toàn tin Lênin”.

Nhận thức về Lênin, Bác nói với nhà báo Fourniau: “Trước con mắt các dân tộc phương Đông, Lênin không phải chỉ là một lãnh tụ, một người chỉ huy. Đó cũng là một người thầy có sức hấp dẫn; tĩnh coi thường sự xa hoa, lòng ham mê công việc, đời sống trong sách, sự giản dị và tâm hồn cao thượng của Người làm cho chúng tôi hướng về Người không gì ngăn cản nổi… Đối với chúng tôi là những người bị ngược đãi, sỉ nhục, Lênin là hiện thân của tình bác ái” và khẳng định:“Lúc đầu, chính là do chủ nghĩa yêu nước mà tôi tin theo Lênin… Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi như đồng chí đã biết…” .

Nội dung cuộc phỏng vấn này được công bố trên báo “Nhân Dân” ngày 5/3/1970. Sau khi Bác Hồ qua đời, Ch. Fourniau đã thuật lại cuộc phỏng vấn này trong bài viết “Một giờ với đồng chí Hồ chí Minh”và cho biết rằng trong lúc đang diễn ra cuộc phỏng vấn, có một cán bộ đến xin phép được tình bày với Bác một việc riêng. Bác trao đổi xong với người cán bộ của mình đã lịch thiệp quay sang nói với vị khách nước ngoài rằng đó là câu chuyện một số cơ quan đề nghị chương trình tổ chức những ngày lễ lớn trong năm 1970, trong đó có ngày Quốc khánh, ngày sinh của Lênin và ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều là năm chẵn.

Sau khi nghe xong những đề nghị trên, Bác đã chỉ thị phải tổ chức chu đáo ngày Quốc khánh, ngày sinh Lênin nhưng riêng với ngày sinh của Bác thì hãy dành toàn bộ kinh phí để in sách giáo khoa cho học sinh nhân năm học mới…

X&N
bee.net.vn

“Tuyệt đối không nên báo cáo mơ hồ, giả dối”

– Ngày 10/7/1954,  trên tờ “Nhân Dân” của Đảng, với bút danh “C.B” quen biết với công chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập tới một phương thức làm việc quan trọng để bảo đảm công tác lãnh đạo. Đó là một vấn đề tưởng chừng chẳng mấy quan trọng: “Gửi báo cáo và xin chỉ thị”.

Bài báo đặt câu hỏi: “Vì sao Đảng phải giữ vững chế độ ấy?” và trả lời: “Vì có như vậy, cấp trên mới kịp thời hiểu rõ tình hình, nêu lên nhiệm vụ, định ra kế hoạch, động viên quần chúng, để thực hiện chính sách của Đảng. Cấp dưới mới thấy rõ đường lối, thấm nhuần chính sách tránh khỏi sai lầm, làm tròn nhiệm vụ. Đồng thời, kinh nghiệm của nơi này có thể phổ biến và giúp nơi khác. Nếu cấp dưới không báo cáo kịp thời và đầy đủ thì cấp trên không hiểu rõ tình hình thực tế, không giúp đỡ được cấp dưới. Và cấp dưới sẽ gặp nhiều lúng túng, sai lầm”.

Tháng 7/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp chung với các ông Phạm văn Đồng, Trường Chinh và Võ Nguyên GiápTháng 7/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp chung với các ông Phạm văn Đồng, Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp

Bằng cách viết giản dị như một tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ, bài báo đặt vấn đề: “Ai phụ trách viết thỉnh thị báo cáo? Và báo cáo nên thế nào?” và giải đáp: “Bí thư các cấp phải phụ trách, không thể giao việc ấy cho một cán bộ khác. Viết báo cáo thì các tài liệu phải nghiên cứu kỹ, xét lại kỹ  và phải đúng sự thật. Phải toàn diện, phải nắm khâu chính. Phải nắm tình hình lúc đó và nơi đó thi hành chính sách của Đảng thế nào; tư tưởng của cán bộ và quần chúng thế nào? Phải có phân tích và kết luận. Phải nêu cả ưu điểm và khuyết điểm .Tuyệt đối không nên báo cáo một cách mơ hồ, giả dối, chỉ nói cái tốt mà giấu diếm cái xấu.

Mỗi việc quan trọng, thì trước khi làm phải báo cáo rõ kế hoạch và thời hạn công tác. Trong khi làm thì báo cáo rõ công việc phát triển thế nào? Khi làm xong thì phải báo cáo tổng kết kinh nghiệm.

Có như vậy, trong Đảng ý chí mới nhất trí, lãnh đạo mới thống nhất, đoàn kết mới chặt chẽ, kinh nghiệm mới dồi dào, mọi việc mới kịp thời và thành công… Cán bộ các cấp phải hiểu rằng: chế độ thỉnh thị và báo cáo là rất quan trọng và mỗi cán bộ phụ trách phải kiên quyết làm đúng chế độ ấy”.

Đấu tranh chống lề thói quan liêu là một trong những mục tiêu hàng đầu nhằm bảo đảm sức mạnh lãnh đạo của một tổ chức cách mạng. Đó là một cuộc phấn đấu không dễ dàng và lề thói quan liêu chính là một trong những yếu tố làm mất sức chiến đấu và mất cán bộ của tổ chức cách mạng mà Bác luôn là người đi đầu trong cuộc đấu tranh gian khổ đó.

X&N
bee.net.vn

Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua

 – Ngày 7/7/1958 là ngày khai mạc Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua công, nông, binh toàn quốc lần thứ II nhằm biểu dương thành tích của những năm hoà bình đầu tiên, khôi phục kinh tế miền Bắc.

Trong bài phát biểu, Bác nhấn mạnh đến sự phát triển vượt bậc của phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều anh hùng hơn, thuộc nhiều ngành nghề, vùng miền, thành phần xã hội hơn trước.

Bác nói: “Ở Đại hội lần thứ nhất có 7 anh hùng, trong đó có 4 anh hùng quân đội… Đại hội lần này, chúng ta có 26 anh hùng Lao động và 69 Anh hùng Quân đội… có anh hùng và chiến sĩ lao động chân tay và trí óc, đủ các ngành và các dân tộc anh em…, có 5 anh hùng là phụ nữ… có 6 anh hùng là đồng bào miền Nam tập kết…”.

fNgày 7/7/1960, Bác và các đại biểu nữ trong QH khoá II trước kỳ họp thứ nhất.

Người đề xướng phong trào thi đua ái quốc khẳng định “Anh hùng, chiến sĩ thi đua là những người tiên phong trong sản xuất mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng. Họ đặt lợi ích chung của dân tộc lên trên lợi ích riêng của cá nhân. Họ toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân chứ không nửa tâm, nửa ý. Họ không sợ khó nhọc, ra sức vượt mọi khó khăn để hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho họ, chứ họ không suy bì hơn thiệt của cá nhân, không ganh tị về địa vị và hưởng thụ, không giấu nghề, không dìm những anh em chung quanh mình, không tự kiêu, tự mãn, tự tư, tự lợi. Đó là những đức tính cách mạng mà chúng ta cần phải học tập các anh hùng, chiến sĩ thi đua”.

Bác còn căn dặn: “Các anh hùng, chiến sĩ thi đua cần nhận rõ rằng: thành tích là thành tích chung của tập thể. Tách rời tập thể thì dù tài giỏi mấy, một cá nhân cũng không làm được gì. Cho nên càng có thành tích thì càng phải cố gắng, càng phải khiêm tốn”.

Cùng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho 26 tấm gương xuất sắc nhất trong phong trào thi đua yêu nước.

X&N
bee.net.vn

“Phải kính trọng độc lập và tự do của mọi dân tộc”

 – Ngày 3/7/1946, trong hành trình thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến đặt vòng hoa trước mộ Chiến sĩ vô danh trước Khải hoàn môn, có tướng Gentilhomme tháp tùng. Sau đó, Bác đến viếng và đặt vòng hoa tại nghĩa trang những tử sĩ Việt Nam chết trong cuộc Đại chiến ở vùng Nogent Sur Marne, ngoại ô Paris. Cùng viếng với Chủ tịch nước Việt Nam có Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet, trên vòng hoa có dòng chữ “Hồ Chí Minh ai điếu các chiến sĩ Việt Nam”.

Nói chuyện với đông đảo kiều bào Việt Nam tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắn nhủ: “Người Việt Nam phải đoàn kết làm cho nước nhà hoàn toàn vinh quang, sánh vai với các nước trên thế giới, xây dựng hạnh phúc cho Tổ quốc, cho nhân loại để khỏi phụ lòng những người đã vì nước thiệt mạng. Người chết đã vậy, còn các kiều bào ở Pháp nên xử sự thế nào để người Pháp hiểu biết và quý mến mình”.

r 3/7/1946 đặt vòng hoa tại Đài Chiến sĩ vô danh ở Khải hoàn môn.

Sau khi đi thăm Cung điện Versailles nổi tiếng, tối hôm đó, Chủ tịch nước Việt Nam được mời xem biểu diễn nhạc kịch tại Nhà hát lớn Paris cùng Thủ tướng Pháp.

Cũng theo chương trình, ngày hôm sau (4/7), Bác đến viếng mồ những nghĩa sĩ ở Mont Valérien. Trong “Nhật ký hành trình-4 tháng sáng Pháp” có mô tả: “Đây là một pháo đài lớn, trên một cái gò cao. Đứng đó có thể trong thấy một vùng Pari và ngoại ô. Trong thời kỳ Đức chiếm nước Pháp, nhiều người du kích Pháp bị Đức đem xử bắn tại đây, bao nhiêu nghĩa sĩ đó hiện nay vẫn chôn một chỗ”.

s3/7/1946 mặc niệm trước mồ các người lính Việt Nam ở Nogent sur Marne.

Tại không gian này, Bác xúc động phát biểu: “Trông thấy nghĩa sĩ Pháp vì độc lập và tự do bị người Đức tàn sát, lại nghĩ đến nghĩa sĩ Việt cũng vì độc lập, tự do mà cũng bị người khác tàn sát khiến cho người ta thêm cảm động, ngậm ngùi. Quyền độc lập, tự do ở nước nào cũng vậy, đều do xương máu của các nghĩa sĩ và sự đoàn kết của toàn quốc dân mà xây nên. Vậy nên, những người chân chính yêu chuộng độc lập, tự do của nước mình cũng phải kính trọng độc lập, tự do của dân tộc khác”.

X&N
bee.net.vn

Thông điệp của Bác tới Chính phủ Pháp

 – Ngày 2/7/1946, Chính phủ Pháp chính thức tiếp xúc với Đoàn Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu với những nghi lễ trọng thể. Thủ tướng Pháp Georges Bidault hội đàm riêng với Chủ tịch nước Việt Nam. Buổi chiều Thủ tướng Pháp mở tiệc chiêu đãi trọng thể.

Trong lời chào mừng, người đứng đầu nước Pháp đánh giá: “Sự kiện Ngài đến đây có một ý nghĩa rất cao xa. Nó làm cho tình thân thiện giữa hai nước chúng ta khăng khít lại… Chúng ta sẽ làm việc cùng nhau một cách thành thật vì chúng ta đều tin theo chủ nghĩa nhân đạo, mà nhân đạo là cái nền tảng mà những nhà triết học Đông phương và Tây phương xây đắp mối quan hệ giữa những người tự do, để tìm sự tiến bộ, đó là ý tưởng của tất cả xã hội dân chủ”.

s Ngày 2/7/1946, Bác Hồ tại Dinh Thủ tướng Pháp trong buổi lễ gặp mặt chính thức.

Trong đáp từ, người đứng đầu nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bày tỏ: “Sự đón tiếp mà dân chúng và Chính phủ Pháp dành cho tôi đã rung động đến chỗ sâu nhất của lòng tôi. Trước khi chính thức chào Chính phủ Pháp, tôi đã có dịp đi thăm xứ Baxcơ, một miếng đất rất đẹp của Pháp. Sự tiếp xúc với xứ Baxcơ đã cho tôi nhiều giáo huấn. Dân Baxcơ tuy vẫn giữ được những màu sắc riêng, ngôn ngữ riêng, phong tục riêng, nhưng vẫn là dân Pháp. Dân Pháp tuy có nhiều tỉnh khác nhau nhưng vẫn là nước thống nhất và không thể chia rẽ được”.

Bằng cách diễn đạt đó người đứng đầu nhà nước Việt Nam muốn gửi tới nước Pháp thông điệp về sự không thể chia tách Nam Kỳ ra khỏi cơ thể Tổ quốc Việt Nam, đồng thời tỏ rõ Việt Nam sẵn sàng hợp tác với nước Pháp trong Khối Liên hiệp Pháp.

Với một tinh thần chủ động và thiện chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chính ở Pari này, cái thành phố anh hùng và rộng lượng xướng xuất ra những nguyên tắc tự do, bình đẳng, bác ái, cái thành phố có thói quen bênh vực sự bình đẳng của các dân tộc, chính ở thành phố này, tôi trân trọng tuyên bố nước Việt Nam gia nhập vào cái sự nghiệp rất nhân đạo ấy… Pari đã còn hiến không ít để cho nước Việt Nam và nước Pháp có thể hoà hợp với nhau trong Khối Liên hiệp Pháp gồm những dân tộc tự do, bình đẳng cùng ôm một lý tưởng dân chủ và cùng say mê vì tự do.

Chính ở Pari, nước Việt Nam sẽ tiến lên con đường độc lập, tôi tin rằng chẳng bao lâu nước Việt Nam sẽ đóng vai trò xứng đáng ở Thái Bình Dương là một nước độc lập làm vẻ vang lớn cho nước Pháp… Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần.

Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác). Tôi tin rằng trong những điều kiện ấy Hội nghị Fontainebleau sẽ đi tới những kết quả tốt đẹp… Sự hợp tác thành thực và thân thiện của hai nước sẽ là một gương lớn cho thế giới biết rằng: với một sự tin cậy lẫn nhau, những dân tộc tự do và bình đẳng vẫn có thể giải quyết những vấn đề khó khăn nhất…”

Có thể nói, đây là một thông điệp rất minh bạch về thiện chí mong muốn hợp tác, hoà bình với nước Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt cho một nước Việt Nam độc lập phát biểu với thế giới. Nó hoàn toàn ngược lại với thái độ thù địch muốn phát động chiến tranh, chia cắt nước Việt Nam để đẩy hai dân tộc vào một cuộc chiến tranh mà Bác gọi là “huynh đệ tương tàn”.

Buổi chiều cùng ngày sau khi thoả thuận được với Chính phủ Pháp về việc hồi hương một số binh lính Việt Nam trở về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi “thư cho các binh sĩ Việt Nam ở Pháp” thông báo nội dung các thoả thuận và khuyên anh em giữ vững kỷ luật, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, về đến nhà phải giúp ích Tổ quốc, ủng hộ Chính phủ và “phải ăn ở cho xứng đáng với một người công dân của nước Cộng hoà Dân chủ Việt Nam”.

X&N
bee.net.vn

“Con cáo và tổ ong”

 – Ngày 1/7/1942, báo “Việt Nam Độc lập”, cơ quan tuyên truyền của Việt Minh Cao Bằng (sau đó mở rộng thành liên tỉnh với Bắc Kạn, Lạng Sơn) do Bác sáng lập tại chiến khu, đã đăng bài thơ ngụ ngôn của người sáng lập ra tờ báo này với nhan đề “Con cáo và tổ ong”.

Bài thơ viết:

“Tổ ong lủng lẳng trên cành/ Trong đầy mật nhộng, ngon lành lắm thay/ Cáo già nhè nhẹ lên cây/ Định rằng lấy được ăn ngay cho giòn/ Ong thấy cáo muốn cướp con/ Kéo nhau xúm lại vây tròn cáo ta/ Châm đầu, châm mắt cáo già/ Cáo già đau quá phải sa xuống rồi/ Ong kia yêu giống, yêu nòi/ Đồng tâm, hợp lực đuổi loài cáo đi”.

Và bài ngụ ngôn quy về một tư tưởng quan trọng “Bây giờ ta thử so bì/ Ong còn đoàn kết huống chi là người/ Nhật Tây áp bức giống nòi/ Ta nên đoàn kết để đòi tự do”.

Tư tưởng “đoàn kết-đại đoàn kết” có thể nói đã xuyên suốt trong rất nhiều bài báo Bác viết trên tờ “Việt Nam Độc lập” ngay trong lời tuyên ngôn đăng trên số đầu và được sắp đặt thành hình ảnh người chiến sĩ cách mạng thổi kèn kêu gọi dân chúng: “Việt Nam Độc lập thổi kèn loa/ Kêu gọi dân ta trẻ đến già/ Đoàn kết vững bền như khối sắt/ Để cùng nhau cứu nước Nam ta”.

sBáo Việt Nam Độc lập đưa tin phát xít Đức đã đầu hàng.

Trong bài ca “Phụ nữ”, Bác cũng kêu goi: “Chị em cả trẻ đến già/ Cùng nhau đoàn kết đặng mà đấu tranh… Làm cho thiên hạ biết tên/ Làm cho rõ mặt cháu Tiên, con Rồng” (1/9/1941). Còn trong bài thơ “Trẻ con”, tác giả cũng kêu gọi: “Vậy nên con trẻ nước ta/ Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh/ Kẻ lớn cứu quốc đã đành/ Trẻ em cũng phải ra giành một vai…”.(21/9/1941)

Trong bài “Ca sợi chỉ”, từ hình tượng những sợi chỉ được kết dệt lại thành tấm vải bền chắc, Bác cũng đưa ra lời cổ vũ: “Hỡi ai con cháu Hồng Bàng/ Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau” (1/4/1942). Với đề tài “Hòn đá”, bài thơ đăng trên Việt Nam Độc lập (21/4/1942) cũng được tác giả khái quát:“Biết đồng sức, Biết đồng lòng/ Việc gì khó/ Cũng làm xong/ Đánh Nhật, Pháp/ Giành tự do/ Là việc khó/ Là việc to/ Nếu chúng ta/ Biết đồng lòng/ Thì việc đó/ Quyết thành công”.  

X&N
bee.net.vn

“Làm cho dân chủ thắng lợi hoàn toàn”

 – Ngày 30/6/1947, Bác gửi điện chúc mừng tới Ban Chấp hành Đảng Dân chủ Việt Nam nhân kỷ niệm 3 năm thành lập.

Đảng Dân chủ Việt Nam thành lâp ngày 30/6/1944, với sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Đông Dương,  nhằm tập hợp giới trí thức và những người yêu nước tầng lớp hữu sản ra đời trong cao trào Cánh mạng tháng Tám có nhiều đảng viên cộng sản tham gia giúp đỡ và trở thành một lực lượng năng động của  Mặt trận Việt Minh trong Cách mạng Tháng Tám 1945.

sChủ tịch Hồ Chí Minh chụp với các nhân sĩ, trí thức trong QH khoá I 1946.

Bức điện chúc mừng của người đứng đầu Nhà nước và cuộc kháng chiến, cũng là người đứng đầu Đảng Cộng sản Đông Dương ghi nhận: “Trong thế giới dân chủ, trong Việt Nam dân chủ, Đảng Dân chủ có một nhiệm vụ quan trọng là làm cho dân chủ thắng lợi hoàn toàn… Với những người ái quốc và dân chủ không có đảng phái, phải lấy công tác thực tế về việc cứu quốc và kiến quốc mà thi đua. Mỗi đồng chí phải là người kiểu mẫu trong sự hy sinh phấn đấu cho Tổ quốc, cho đồng bào”.

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc mới bùng nổ, xuân Đinh Hợi, ngày 8/1/1947, Bác đã có bài thơ mừng báo “Độc lập” là cơ quan ngôn luận của Đảng Dân chủ. Bài thơ có nhan đề “Thơ gửi tặng báo Độc lập nhân mùa Xuân kháng chiến đầu tiên”: “Năm mới thế cho năm đã cũ/ Báo Độc lập của Đảng Dân chủ/ Kêu gọi toàn thể dân Việt Nam/ Đoàn kết và thắt chặt hàng ngũ/ Kiên quyết kháng chiến đến kỳ cùng/ Để giữ chủ quyền và lãnh thổ/ Chờ ngày độc lập đã thành cồn/ Tết ấy tha hồ bàn với cỗ”.

Ngày 28/8/1947, trả lời phóng viên báo “Độc lập” của Đảng Dân chủ Việt Nam về việc mở rộng Chính phủ kháng chiến cũng như nhân sự của Chính phủ, Người đứng đầu nhà nước kháng chiến Việt Nam khẳng định: “Chính sách của Chính phủ trước sau vẫn là đại đoàn kết. Đối với các vị quan lại cũ cũng như đối với tất cả các giới đồng bào, những người có tài có đức thì Chính phủ đều hoan nghênh ra gánh việc nước. Thí dụ: Ngoài cụ Đặng Văn Hưởng ra, còn nhiều cụ khác nữa như cụ Phạm Gia Thuỵ, cựu tổng đốc, cụ Phan Kế Toại, khâm sai đại thần, cụ Phó bảng Bùi Kỷ… đều rất tận tuỵ giúp việc kháng chiến. Trước sự đại đoàn kết của Chính phủ và quốc dân đồng bào, mưu mô chia rẽ của thực dân phản động Pháp nhất định thất bại”.

… Đảng Dân chủ Việt Nam tồn tại đến tháng 10/1988 thì họp Đại hội kết thúc 44 năm hoạt động và “hoàn thành vai trò lịch sử”.

X&N

bee.net.vn

“Người lữ hành cô đơn”

– Ngày 29/6/1935, Trưởng phòng Đông Dương Vera Vassilieva gửi báo cáo đến Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản trình bày hoàn cảnh của Nguyễn Ái Quốc một năm sau khi thoát khỏi nhà tù của đế quốc Anh ở Hồng Kông.

Chân dung Bác

Chân dung Bác thời gian hoạt động ở Hồng Kông trước khi bị bắt

“Tháng 6/1934, Nguyễn Ái Quốc đến Moscow. Qua lời kể của đồng chí thì khó xác định được tại sao đồng chí lại dễ dàng ra khỏi nhà tù và thoát khỏi tay cảnh sát Pháp… Đồng chí nói rằng chuyến đi này được tiến hành nhờ sự giúp đỡ của Vaillant Couturier (một nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Pháp) trong thời gian ở Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng tất cả những việc này cần được kiểm chứng một cách thận trọng.

Khi đồng chí đến đây, chúng tôi đã chuyển đồng chí tới Trường Lenin tại Moscow, nơi đồng chí đang nghiên cứu… Nhiều lần đồng chí đề xuất với tôi xem xét vấn đề và thảo luận việc thành lâp mối liên lạc giữa các Đảng. Đồng chí kiên trì theo dõi những chuyến đi của học viên, họ đi đâu và với nhiệm vụ gì và rất đau khổ vì tại sao đồng chí không được tham gia vào việc này hay việc khác của công tác bí mật”.

Đây chính là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc phải chịu một thử thách rất nặng nề và kéo dài để thể hiện tinh thần kiên định cách mạng ngay với các đồng chí của mình.

Là một chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho việc giải phóng các thuộc địa, trên diễn đàn Đảng Cộng sản Pháp cũng như Quốc tế Cộng sản, Bác đã có những phê phán rất gay gắt sự thiếu quan tâm đến vấn đề này của các tổ chức Đảng.

Những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc cho rằng “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn” hay trong các văn kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (2/1930), sau đó bị Quốc tế Cộng sản phê phán là hữu khuynh và nghị quyết của Hội nghị Trung ương tháng 10/1930 đã “thủ tiêu Chánh cương sách lược văn tắt” của Nguyễn Ái Quốc để “thực hành cho đúng án nghị quyết và thư chỉ thị của Quốc tế Cộng sản” được cụ thể hoá bằng việc đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương và đưa ra “Luận cương Trần Phú”…

Tất cả những diễn biến đó lại cộng thêm việc Nguyễn Ái Quốc bị thực dân Anh bắt ở Hồng Kông sau đó lại được thả, khiến cho sự tin cậy của Quốc tế Cộng sản đối với nhà cách mạng Việt Nam bị đặt dấu hỏi.

Trong suốt các năm từ 1934 đến 1938 hầu như ghi nhận đựoc rất ít những hoạt động của Nguyễn Ấi Quốc ở Liên Xô, và ngày 6/6/1938, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải viết một bức thư trong đó nói rõ ràng: “Hôm nay là ngày kỷ niệm lần thứ bẩy việc tôi bị bắt ở Hồng Kông. Đó cũng là ngày mở đầu năm thứ 8 tình trạng không hoạt động của tôi… Điều tôi muốn đề nghị… là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt dộng và giống như là sống bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng…”

Phải đến năm 1938, sau bức thư bí mật gởi qua Chu Ân Lai lúc này đang chữa bệnh ở Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc tiếp xúc được với Manuinski, Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản và là người có nhiều cảm tình với người “đồng chí An Nam”, Nguyễn Ái Quốc mới kết thúc được “năm thứ tám trong tình trạng không hoạt động” của mình và được tạo điều kiện về nước hoạt động.

Ngày 30/9/1938, Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, mới ra văn bản đồng ý cho “sinh viên số 19 (Lin, tức Nguyễn Ái Quốc) ra khỏi biên chế của Viện”, cũng có nghĩa là cho phép Bác trở về nước hoạt động. Đây chính là thời kỳ gian khó mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp định danh Bác là“người lữ hành cô đơn”.

Rời Moscow, Bác đi xe lửa xuyên Siberia đến Iếckut rồi băng qua sa mạc Gobi tìm đến vùng Tây An, rồi tiếp tục hoạt động ở Trung Quốc trước khi liên lạc được với các đồng chí ở trong nước, để tìm cơ hội về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam (8/1941).

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ và Tổng thống Indonesia

– Ngày 28/6/1959, trước cuộc mít tinh của 20 vạn đồng bào Thủ đô tại Quảng trường Ba Đình chào mừng Tổng thống Indonesia sang thăm Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Indonesia : “Nước xa mà lòng không xa/ Thật là bầu bạn, thật là anh em”.

Với người đứng đầu nhà nước Indonesia mà Bác thân mật gọi là “Anh cả Karno” Bác chia sẻ quan điểm : “Đoàn kết, đoàn kết lại đoàn kết / Khó khăn gì chúng ta cũng nhất định vượt được hết/ Kẻ thù nào chúng ta cũng đánh tan hết/ Thắng lợi to lớn gì chúng ta cũng tranh thủ được hết”.

Bác nhắc lại kỷ niệm: “Mùa Xuân năm nay, lúc Bác sang thăm Indonesia, chẳng những gia đình Tổng thống từ bác gái cho đến các cháu coi Bác như một người anh em trong nhà mà cả Chính phủ, Quốc hội và tất cả nhân dân Indonesia cũng không xem bác là người khách mà xem Bác là người anh em bạn hữu thân thiết của Indonesia.

Bác ở bên ấy mười ngày, đi tỉnh này qua tỉnh khác, hàng triệu nhân dân ra đón Bác, luôn luôn tỏ ra một tình thân rất nồng nhiệt. Tình ấy không chỉ tỏ cho Bác mà còn tỏ cho tất cả nhân dân Việt Nam…”.

 Tháng 6/1959, Bác hướng dẫn Tổng thống Sukarno thăm Bảo tàng Lịch sử QG.Tháng 6/1959, Bác hướng dẫn Tổng thống Sukarno thăm Bảo tàng Lịch sử QG.

Trong buổi tiệc chiêu đãi, tổ chức tối cùng ngày, đáp từ bài phát biểu của tổng thống Sukarno, Bác nói bằng văn vần : “Lặng nghe lời nói như ru/ Tình hữu nghị giữa hai dân tộc muôn thu vững bền/ Chúng ta cùng bước tiến lên/ Thống nhất và độc lập, chúng ta xây dựng cái nền vẻ vang… Lực lượng chủ nghĩa xã hội thì trưởng thành khắp nơi/ Chúng ta cùng nhau xây dựng cuộc đời/ Người người sung sướng, người người ấm no…”.

Ngày 29/6/1959, tiễn đưa Đoàn đại biểu Chính phủ Cộng hoà Indonesia do Tổng thống Sukarno dẫn dầu kết thúc chuyến thăm hữu nghị nước ta, tại sân bay Gia Lâm (Hà Nội) Chủ tịch Hồ Chí Minh quyến luyến đọc mấy vần thơ: “Nhớ nhung trong lúc chia tay/ Tấm lòng lưu luyến cùng bay theo Người/ Người về Tổ quốc xa khơi/ Chúc Người thắng lợi. Chúc Người bình an”.

Indonesia là một quốc gia Đông Nam Á có hoàn cảnh lịch sử giống nước ta. Là một thuộc địa của Hà Lan, tháng 8/1945, Indonesia giành được độc lập từ tay phát xít Nhật thành lập nhà nước Cộng hoà do ông Sukarno đứng đầu. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và miền Bắc hoàn toàn giải phóng, một trong những quốc gia mà Bác đi thăm sớm nhất là Ấn Độ và Indonesia.

Ngày 26/2/1959, Bác và đoàn Đại biểu Chính phủ ta sang thăm Indonesia được Tổng thống Sukarno đón tiếp rất nồng hậu. Chuyến đi kết thúc vào ngày 11/3/1959.

Bốn tháng sau, ngày 24/6/1959. Tổng thống Sukarno sang thăm Việt Nam và cũng đuợc Bác và Nhà nước Việt Nam tiếp đón rất trọng thể và thân mật. Indonesia là một quốc gia đông dân, đóng vai trò to lớn trong cộng đồng các quốc gia không liên kết và luôn ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam. Nó giải thích sự thân tình vượt ra khỏi nghi thức ngoại giao mà Bác đã giành cho vị nguyên thủ nước bạn.

X&N
bee.net.vn