Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bác vẫn vào miền Nam đấy chứ

Trong tuần tổ chức tang lễ Hồ Chủ tịch khi bài thơ “Chúng cháu canh giấc Bác ngủ – Bác Hồ ơi” đăng trên Báo Nhân Dân, tác giả Hải Như nhận được điện và thư từ mọi miền đất nước yêu cầu tác giả cần có một bài thơ viết về miền Nam với Bác. 50 ngày sau khi Bác Hồ qua đời, nhà thơ Hải Như công bố bài thơ “Tưởng tượng ra ngày đầu tiên thống nhất đất nước Bác Hồ có mặt giữa Sài Gòn”. Gần sáu năm sau bài thơ dự báo đã trở thành hiện thực. Ngày 30-4-1975 cả miền Nam rước ảnh Bác Hồ…

Bác Hồ vẫn vào miền Nam đấy chứ
Phút ra đi là phút Bác Hồ vào
Suốt hăm bốn năm qua, hỏi có đêm nào
Bác thao thức miền Nam không hiện đến?

Buổi sáng ấy, trời trong xanh – đúng hẹn
Cả miền Nam tim muốn vỡ lệ nhòa
Ôm lấy Bác Hồ, xúm xít quanh Cha
Mặt tươi ngẩng hướng theo Người vẫy gọi
Đi với Bác có anh Đang, anh Trỗi
Và vui chưa? Lý Tự Trọng đang cười
Ồ nữa kìa, chị Sáu, chị Minh Khai
Thay nhau quạt cho Bác Hồ đứng nói
Ôi xúc động, câu đầu tiên Người hỏi:
“Ai nhiều nhất đau thương, bên Bác, đứng gần…”
Cả miền Nam khi thấy Bác rút khăn
Lau nước mắt – đều oà lên nức nở…

Buổi sáng ấy, cờ ta bay rực đỏ
Khắp miền Nam đi đón Bác Hồ vào
Phút bàng hoàng mừng tủi, nói làm sao
Ai cũng muốn ngắm Bác Hồ bằng được
Bác Hồ tới, lệ thường không báo trước
Nhưng miền Nam đã đoán được Bác vào
Dựng thành đồng để Bác đứng thật cao
Cho xa khắp đồng bào đều thấy rõ…
Ôi sung sướng được thét vang chữ “có!”
Đáp lời Người “Nhìn thấy rõ Bác không”?
Trời miền Nam sáng ấy dệt mây hồng

Sáng đẹp ấy, Bác mang vào giấc ngủ…
Bác Hồ vẫn vào miền Nam đấy chứ
Phút ra đi là phút Bác Hồ vào
Suốt hăm bốn năm qua, hỏi có đêm nào
Bác thao thức miền Nam không hiện đến…?

Buổi sáng ấy, miền Nam ơi – cổ nghẹn
“Ai nhiều nhất đau thương, bên Bác, đứng gần”
Câu đầu tiên Bác Hồ hỏi nhân dân:
Khiến cháu nhỏ, khiến cụ già khóc nấc
Và một phút cả vòng người đứng chặt
Bỗng giãn ra để lấy lối Bác vào…
Ôi Bác Hồ không thích đứng trên cao.
Người thích lẫn giữa dòng đời dưới thấp.
Bác dừng lại cho cụ già muốn gặp
Bác cúi người cho cháu nhỏ đòi thơm
Vào miền Nam. Bác hằng nghĩ tới luôn
Thăm viếng trước các cụ già, cháu nhỏ…

Buổi sáng ấy vui bao nhiêu cho bõ
Những tháng năm thầm lặng nhớ Bác Hồ
Da Bác hồng hào, tóc Bác bạc phơ
Bác hiện đến như trong mơ vẫn gặp:
Không ngăn nổi niềm vui ai cũng khóc
Nước mắt vui rửa hờn tủi sạch làu
Đến với Bác Hồ không phải quỳ đâu
Cho dẫu chót ngàn ngày phạm tội
Nhưng một phút nhận ra, đòi hối lỗi
Người bao dung vẫn cho đứng bên Người
Trời miền Nam sáng ấy nắng vàng tươi
Sáng đẹp ấy Bác mang vào giấc ngủ.

Bác Hồ vẫn vào miền Nam đấy chứ
Phút ra đi là phút Bác Hồ vào:
Suốt hăm bốn năm qua, hỏi có đêm nào
Bác thao thức, miền Nam không hiện đến?

Từ những buổi quân thù lê máy chém
Ơi miền Nam, những buổi vẫn còn đêm
Không phút nào không có Bác ở bên
Bác Hồ đến từ những ngày tối nhất
Khi anh Trỗi cười khinh viên đạn giặc
Gọi Bác Hồ là lúc nhất đời vui
Bác dạy ta không chỉ biết làm người
Bác còn dạy biết giã từ cuộc sống.
Trong chuồng cọp vẫn thấy đời rất rộng
Cánh chim bằng bị buộc vẫn bay xa
Cả miền Nam ngày đen tối bên Cha
Nên khi đón Bác Hồ, vui hết nói…

Sáng đẹp ấy miền Nam ơi, đang tới
Đừng một phút quên làm đẹp ý Người!
Vào miền Nam, Bác ao ước trọn đời
Miền Nam cũng ước ao ngày đón Bác
Sáng đẹp ấy, trời miền Nam mây bạc
Với mây hồng ngưng tụ lại không bay,
Bác Hồ cười hồn hậu đứng trong mây
Như Tổ quốc – Người muôn đời bất tử!
Bác Hồ vẫn vào miền Nam đấy chứ
Bởi mỗi chúng ta rước Bác Hồ vào
Hai bốn triệu trái tim, Bác truyền máu hồng hào
Xin đập tiếp trái tim Người vĩ đại…

(50 ngày Bác qua đời 22-10-1969)
Theo Hải Như/ nhandan.com.vn
Huyền Trang (st)
cpv.org.vn

Thư gửi ông Cù Huy Cận (2-12-1948)

Chú Cận,

Tôi xem kỹ “Nội quy kiểu mẫu Quỹ nghĩa thương” có mấy ý kiến như sau :

1- Nói chung thì nó dài quá, phiền phức quá.

2- Nghĩa thương phải độc lập. HTXNN tín dụng không có quyền can dự đến nó.

3- Nếu chỉ cho dân nghèo vay thóc (Đ1, điều 2), thì dân giàu vội đóng thóc làm gì?

4- 2 chữ “chẩn cấp” trong Đ1, điều 2, cũng không đúng. Ai vay cũng phải trả, chứ không phát chẩn.

5- Điều 2, 3, 4 trong Đ2. Không cần. Chỗ điều 5, nói rõ hơn một ít là đủ.

6- Ban quản lý (không cần chữ “tiểu”) phải do những người đóng thóc cử. HTXNN và Hội đồng nhân dân không quan hệ gì (Đ3, điều 4) HĐND chứng nhận là đủ.

7- Điều 6 Đ3, nên nói: “Ban quản lý phải thu thóc cho đủ, giữ thóc cho tử tế, cho vay phải công bình, đòi thóc phải nhanh chóng”, thì rõ ràng dễ hiểu hơn.

8- Đ 4, điều 8: (1) đã nói số xuất nhập thóc

(2) lại nói số cho vay

Cho vay tức là xuất

9- Đ 5, điều 9: Kho thóc phải lànhà gạch, nếu vậy thì chẳng mấy làng sẽ có nghĩa thương!

10- Chữ “vô sản” trong Đ 6, không đúng.

Cách cho vay cũng lôi thôi. Chỉ nói “mỗi người không được vay quá 8/10 số thóc mình đã góp”, thì gọn hơn.

11- Vay thóc phải làm vǎn tự thì phiền quá!

Ban quản lý có một quyển sổ viết rõ ngày tháng ai vay bao nhiêu, rồi người vay và Ban quản lý ký tên. Thế thì tiện hơn. Khi trả cũng thế.

12- Cách một vụ mà lãi 50% thì nặng quá!

13- Đ10: Hội đồng nhân dân có quyền kiểm soát và những người góp thóc có quyền tham gia việc kiểm soát. HTXNN không có quyền đó.

Nói tóm lại: Phải làm Nội quy giản đơn hơn, thì dân mới dễ hiểu, dễ làm hơn.

Thân ái
Ngày 2 tháng 12 nǎm 1948
Hồ

Bản gốc bức thư lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân ngày kỷ niệm hai nǎm kháng chiến toàn quốc (19-12-1948)

Cùng đồng bào toàn quốc,

Cùng toàn thể chiến sĩ,

Hôm nay, cuộc trường kỳ kháng chiến bước sang nǎm thứ ba, riêng Nam Bộ đã đến nǎm thứ tư. Chúng ta hãy xét lại tình hình hai nǎm vừa qua, để tiến hành công việc trong nǎm sắp đến. Tình hình trong hai nǎm đó thế nào?

Về phía địch

1. Chính trị: Từ ngày khởi cuộc chiến tranh phi nghĩa, Chính phủ Pháp đã bị Quốc hội và nhân dân Pháp lật đổ hơn 10 lần.

Những kẻ thay mặt Chính phủ Pháp ở Đông Dương cũng phải thay đổi ba lần. Nhà quân phiệt Đácgiǎngliơ thất bại, phải trở về đi tu. Nhà chính trị Bôlae cũng thất bại, lại bị nhân dân Pháp hất ra khỏi Thượng nghị viện. Nay đến lượt công chức Pinhông, chắc rồi cũng thất bại.

Chính sách chia rẽ, chính sách dùng người Việt đánh dân Việt cũng thất bại. Lũ bù nhìn phản quốc, chẳng những bị đồng bào ta phỉ nhổ, mà lại bị thế giới chê cười.

2. Quân sự: Từ tướng Lơcléc, tướng Valuy, tướng Xalǎng đến tướng Bledô, địch đã phải thay đổi thống soái bốn lần.

Binh sĩ địch mỗi tháng bị ta tiêu diệt từ 800 đến 1.000 người, cho nên ngoài lính Pháp, chúng phải dùng những tội nhân Pháp, những tù binh Đức và ý, những lính Marốc, da đen. Chúng lại bắt ép những thanh niên Việt Nam trong vùng tạm bị chúng chiếm đi làm bia đỡ đạn. Phần đông những đồng bào ấy chỉ chờ dịp để quay về với Tổ quốc.

3. Kinh tế: Chúng phải hao tổn hàng muôn triệu về binh bị, mà nền kinh tế của chúng ở đây lại bị phá sản. Trước kia 100 phần, nay chỉ còn ba, bốn phần.

4. Thêm vào những thất bại đó, tình hình nội bộ nước Pháp lại rất rối ren. Trên trường ngoại giao, Pháp cũng thất bại, và bị các đế quốc khác lấn át, đánh lừa.

Về phía ta

1. Trong khi Chính phủ Pháp lập lên, đổ xuống mấy lần, oai tín Chính phủ kháng chiến ta càng ngày càng vững chắc, chẳng những được Quốc hội và nhân dân ta ủng hộ, mà danh vọng trên thế giới càng ngày càng thêm cao.

Nhân dân ta đoàn kết ngày càng chặt chẽ, lực lượng kháng chiến ngày càng dồi dào.

2. Nǎm đầu kháng chiến, quân đội ta còn thơ trẻ, võ khí ta rất thô sơ. Trong Nam thì gậy tầm vông, ngoài Bắc thì súng đạn cũ. Thế mà ta cũng cản được địch.

Ngày nay, quân đội ta đã trưởng thành về mọi mặt. Ta đã nhiều phen cho địch nếm mùi võ khí mới của ta, như ở Đồng Tháp Mười, ở đèo Hải Vân, ở Việt Bắc, và ở nhiều trận khác.

Ta lại có lực lượng dân quân du kích to lớn mạnh mẽ. Chẳng những các đội du kích trai tráng, mà những đội phụ lão du kích, phụ nữ du kích cũng đã nhiều lần giết giặc, lập công.

3. Kinh tế, tài chính, vǎn hoá của ta đã vượt qua những bước khó khǎn, và vẫn theo đà phát triển.

Ta có những thắng lợi vẻ vang ấy, là do lòng nồng nàn yêu nước và sự đoàn kết nhất trí của đồng bào và chiến sĩ.

Vậy, nhân dịp này, tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn và khen ngợi:

Toàn thể chiến sĩ, Vệ quốc quân và dân quân du kích. Toàn thể đồng bào ở vùng tự do cũng như ở vùng tạm bị chiếm và kiều bào ở hải ngoại. Toàn thể cán bộ hành chính và chuyên môn.

Tôi lại thay mặt Chính phủ, kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh cho Tổ quốc và gửi lời thân ái an ủi các thương binh, cựu binh, cùng gia đình các chiến sĩ.

Theo sự so sánh trên đây, chúng ta thấy rằng:

Lực lượng của địch trước to sau nhỏ, trước mạnh sau yếu. Tình hình của địch như mặt trời đã xế tà, gần tắt.

Lực lượng của ta trước nhỏ sau to, trước yếu sau mạnh. Thanh thế của ta cũng như những nguồn nước nhỏ nhớn dần thành một đại dương.

Cuộc kháng chiến của ta:

NǍM ĐẦU là vất vả,

NǍM THỨ HAI là tiến bộ,

NǍM THỨ BA sẽ là nǎm bước gần đến thắng lợi hoàn toàn.

Song chúng ta chớ chủ quan, khinh địch. Để đi đến thắng lợi cuối cùng, chúng ta còn phải kinh qua những bước gay go hơn trước, còn phải chiến đấu hǎng hái hơn trước, mạnh hơn trước.

Vì vậy, toàn thể đồng bào và toàn thể chiến sĩ đều phải hǎng hái xung phong thi đua ái quốc.

Các chiến sĩ phải thi đua diệt nhiều giặc, cướp nhiều súng, lập nhiều công.

Đồng bào phải thi đua tǎng gia sản xuất, giết giặc đói, giết giặc dốt, giúp sức giết giặc ngoại xâm. Các cán bộ phải thi đua thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính, tẩy sạch khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Ta ngày càng đoàn kết, ngày càng “thực túc, binh cường”, thì địch nhất định thua, ta nhất định thắng.

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!
Độc lập, thống nhất nhất định thành công!

Chào thân ái và quyết thắng
Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, chi nhánh
số 6, số 1116, ngày 19-12-1948.
cpv.org.vn

Điện gửi nhân dân Pháp nhân ngày 19-12-1948 (19-12-1948)

Cùng nhân dân nước Pháp,

Đúng ngày hôm nay, chúng tôi bước sang nǎm thứ ba của một cuộc chiến tranh ghê tởm điên rồ mà thực dân Pháp đã bắt chúng tôi phải chịu.

Hỡi nhân dân Pháp mà riêng tôi đã từng quen biết và quý mến, giờ đây tôi muốn mời các bạn dừng lại trước cái ngày nghiêm trọng cho lịch sử hai nước ta mà suy nghĩ về cuộc xung đột đang giày vò tâm can hai dân tộc.

ấy thế là đã ba nǎm, nhân dân Việt Nam nhất tề đứng lên đánh bại những mưu mô thực dân hòng chinh phục lại chúng tôi mà tái lập chế độ nô lệ.

Ba nǎm trường chồng chất bao nhiêu bằng cớ đẫm máu thảm thê do những hành động khủng khiếp ngu dại của thực dân để lừa bịp dân tộc Pháp, chia rẽ dân tộc Việt.

Ba nǎm trường ghi vào sổ thực dân bao nhiêu việc mà nhân loại phải kinh tởm, bao nhiêu việc chỉ xứng đáng với bọn quốc xã: những mồ chôn hàng ngàn thanh niên, những chém giết đàn bà, phụ lão, trẻ em, những hãm hiếp, cướp bóc, đốt phá, và những chính phủ bù nhìn diễn lại tấn bi hài kịch đáng thương của bạn bè lũ kítlinh (Quisling).

Nhưng cũng ba nǎm trường trông thấy nước Việt Nam Cộng hoà tươi trẻ mọc lên, lớn lên, củng cố nền móng dân chủ, tǎng cường hệ thống quốc phòng, xiết chặt hàng ngũ ái quốc.

Dân tộc chúng tôi đã anh dũng chiến đấu. Dân tộc chúng tôi đã chiến đấu “không chút sờn lòng, không điều ân hận” 1 , vì chúng tôi chiến đấu cho tự do, cho độc lập, và đối với nhân dân Pháp chúng tôi không thù hằn gì. Chúng tôi đã tỏ rằng chân lý, công lý, lịch sử và tương lai ở về phe chúng tôi. Chúng tôi sẽ thắng!

Phải, chúng tôi sẽ thắng, nhưng với bao nhiêu tang tóc điêu tàn cho nước Pháp, nước Việt. Nếu thực dân không gây hấn thì hai dân tộc ta đã đỡ thiệt bao của cải, bao mạng người. Và chúng ta những người cha, người mẹ Pháp – Việt đã không phải khóc cho bầy con gục ngã giữa tuổi xanh, con chúng tôi hy sinh để bảo vệ Tổ quốc, con các bạn hy sinh vô ích trên một mảnh đất xa lạ, để bảo vệ những cuồng vọng làm ô nhục truyền thống nước Pháp kiêu hùng!

Hỡi nhân dân Pháp!

Các bạn hẳn cũng biết rằng nếu một quốc gia đã nhất định tranh thủ độc lập tự do cho mình thì nó phải chiến thắng, không gì cản nổi. Giờ phút này, giữa lúc dân tộc chúng tôi đang chiến đấu chống thực dân quyết liệt hơn bao giờ hết, nếu tôi thấy cần phải nhắc lại ước vọng của chúng tôi thiết tha với hoà bình, bình đẳng và cộng tác thành thật thì tôi cũng phải báo cho các bạn biết thêm một lần nữa cái nhịp điên rồ vô hạn của bọn thực dân đang làm kiệt quệ nước Pháp để hòng bóp nghẹt nước Việt Nam. Họ sẽ rút ruột các bạn tới cùng và làm uy tín các bạn bên Viễn Đông cũng như trên thế giới thật hết phương cứu chữa.

Chỉ các bạn mới có thể ngǎn cho viễn ảnh đó không trở nên sự thực. Các bạn hãy góp sức với dân tộc chúng tôi: chúng ta hãy đánh quỵ bọn thực dân. Chúng ta hãy cùng nhau xây dựng hoà bình, dân chủ và hoà khí giữa hai dân tộc ta.

Đó là con đường duy nhất của công lý, của vinh quang và con đường duy nhất cho nước Pháp lấy lại địa vị của mình trên trường quốc tế.

Trong cuộc chiến đấu anh hùng giành độc lập, tự do, nhân dân chúng tôi thiết tha chúc nhân dân Pháp thành công trên con đường đó.

Nước Pháp dân chủ chân chính muôn nǎm!

Nước Việt Nam thống nhất độc lập muôn nǎm!

Tình huynh đệ giữa các dân tộc thế giới muôn nǎm!

HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1129,
ngày 28-12-1948.
cpv.org.vn

Lời chia buồn cùng đồng bào công giáo địa phận Bùi Chu (20-12-1948)

Kính gửi Toà giám mục Bùi Chu, Nam Định,

Tôi rất lấy làm đau đớn được tin Đức Giám mục Hồ Ngọc Cẩn đã từ trần.

Tiếc vì chiến sự, tôi không thể về để dự đám tang Đức Giám mục.

Tôi đã nhờ Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu III thay mặt đến dự lễ và chia buồn cùng đồng bào công giáo địa phận Bùi Chu.

HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1122,
ngày 20-12-1948.
cpv.org.vn

Kỷ niệm lần được đón Bác từ Fontainebleau về nước

Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Hồ sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau. Người về nước tại cảng Hải Phòng tháng 10 năm 1946. Thiếu tá Cao Phong – người nhận nhiệm vụ đón Bác Hồ – không bao giờ quên giây phút lịch sử ấy.

Bài viết dưới đây được ghi lại theo tư liệu của ông Nguyễn Thế Vinh, con trai của cố Thiếu tá Cao Phong, nguyên Trưởng ty Liên kiểm Việt – Pháp miền Duyên hải Bắc bộ năm 1946.

“Trong những năm hoạt động cách mạng, có biết bao nhiêu sự kiện đến với tôi. Song được đón Bác Hồ từ Fontainebleau trở về là một kỷ niệm mà cho đến nay tôi vẫn không sao quên được.

Sau khi tham gia trận đánh lớn tiễu phỉ ngày 08 tháng 12 năm 1945 giải phóng thành Hà Giang, tôi được Bộ Quốc phòng điều về Trường Cán bộ Việt Nam Trần Quốc Tuấn do đồng chí Trần Tử Bình làm Giám đốc.

Fontainebleau 2 Từ trái sang: Hoàng Hữu Nam – Trưởng ban Liên kiểm Trung ương; Chủ tịch Hồ Chí Minh; Thiếu tá Cao Phong; Bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên – Chủ tịch uỷ ban hành chính Hải Phòng (Ảnh do ông Nguyễn Thế Vinh, con trai Thiếu tá Cao Phong cung cấp)

Đến ngày 15 tháng 3 năm 1946, tôi lại được Bộ giao nhiệm vụ Trưởng ty Liên kiểm Việt – Pháp Hải Phòng với quân hàm Thiếu tá. Trước khi đi nhận nhiệm vụ, đồng chí Hoàng Văn Thái có gọi tôi lên căn dặn nhiêm vụ quan trọng của Liên kiểm trong tình hình đang có Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến Pháp ở Hải Phòng. Trước khi trao cho tôi quyết định nhận nhiệm vụ, đồng chí Hoàng Văn Thái mở ngăn kéo lấy ra năm mét vải kaki đưa cho tôi và bảo: “Liên kiểm hàng ngày phải giáp mặt với quân Pháp, nên phải ăn mặc cho đàng hoàng. Anh cầm vải đi may ngay một bộ quân phục và phải có mặt ở Hải Phòng đúng ngày 15 tháng 3 năm 1946 để nhận nhiệm vụ”.

Ở Hải Phòng đến ngày 12 tháng 8 năm 1946 tôi lại nhận được quyết định của cấp trên giao cho chức vụ Trưởng ty Liên kiểm Việt – Pháp miền Duyên hải Bắc Bộ, quản lý một vùng đất từ Hải Phòng đến Móng Cái.

Bác Hồ trở về nước là một sự kiện quan trọng. Với tư cách là chỉ huy Liên kiểm miền duyên hải Bắc Bộ, tôi cũng được cấp trên cho biết trước. Phía Pháp, Đại tá Đép, Tổng chỉ huy Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến ở Hải Phòng, gặp tôi, đề nghị cho binh sỹ Pháp được tham gia lễ đón Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi báo cáo ngay với đồng chí Hoàng Văn Thái về yêu cầu của phía Pháp và nhận được sự đồng ý với điều kiện phía Pháp phải đón Bác Hồ theo nghi lễ trọng thể nhất của nước Pháp.

Tôi trở lại làm việc với Đại tá Đép. Lần này tôi nói rõ từng chi tiết phía Pháp phải làm trong nghi lễ đón rước Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mọi yêu cầu của ta phía Pháp đều đồng ý. Riêng phần Quân kỳ danh dự của nước Pháp chào Hồ Chủ tịch như thế nào thì cứ bàn đi bàn lại mãi. Cuối cùng phía Pháp phải đồng ý cử hành nghi lễ như đón chào Tổng thống của chính nước họ. Nghĩa là khi Hồ Chủ tịch đi qua Quân kỳ của nước Pháp thì Quân kỳ danh dự của nước Pháp phải hạ xuống chấm đất để chào Người. Đó là nghi lễ trọng thể nhất của nước Pháp.

Fontainebleau 1Chân dung Thiếu tá Cao Phong

 Ngày 21 tháng 10 năm 1946, thông báo tàu Đuy-mông Đuyếc-vin-lơ của hải quân Pháp đưa Bác cập bến Ngự, Hải Phòng. Hàng quân danh dự đứng đón Bác, một bên là Vệ quốc đoàn của ta, còn một bên là hàng quân danh dự của Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến Pháp, có quân kỳ Trung đoàn, có cả quân nhạc.

Nhân dân Hải Phòng đứng đón Bác chật ních cả hai bên đường. Vì có quân đội Pháp tham gia nghi lễ đón Bác và phải chịu sự chỉ huy chung của tôi nên khẩu lệnh tôi sẽ phải hô bằng tiếng Pháp. Hôm ấy, đứng ngay dưới cầu tàu đón Bác, tôi thấy có đông đảo quan khách trong đó có cụ Nguyễn Văn Tố; đồng chí Võ Nguyên Giáp – Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy quân đội Việt Nam; ông Nghiêm Kế Tố; ông Trần Huy Liệu; ông Phạm Văn Bạch. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp gọi tôi lại gần, chỉ thị: “Anh là chỉ huy cuộc duyệt binh, anh phải lên tàu rước mời Bác xuống duyệt đội danh dự”.

Nhận lệnh của Bộ trưởng, tôi bước lên tàu Đuy-mông Đuyếc-vin-lơ trong bộ quân phục chỉnh tề, bên mình đeo kiếm chỉ huy danh dự. Khi tới nơi, tôi thấy Bác Hồ chỉ có một mình, hai tay chắp ra phía sau, đi đi lại lại trên sàn tàu như Người đang suy nghĩ điều gì. Tôi mừng quá sững người lại trong tư thế đứng nghiêm, đưa tay lên vành mũ kính cẩn chào Bác và thưa: “Kính thưa Bác, Quân uỷ Trung ương uỷ nhiệm cháu lên đón Bác, kính mời Bác xuống duyệt đội danh dự ạ”.

Là chỉ huy cuộc duyệt binh, tôi hiểu trọng trách và vinh dự lớn của mình. Tôi đi chếch về phía bên phải Bác, theo đúng nghi thức một sỹ quan cận vệ bên cạnh một Nguyên thủ quốc gia. Khi còn cách hàng quân danh dự chừng mười thước, tôi hô to khẩu lệnh để nghi lễ đón Bác được bắt đầu.

Sau lời hô của tôi, hai bên hàng quân danh dự nghiêm lệnh bồng súng chào. Quân nhạc phía Pháp long trọng cử Quốc ca. Khi Bác qua hàng quân danh dự, Quân kỳ danh dự của nước Pháp đã hạ xuống chấm đất để chào Người theo đúng nghi thức trọng thể nhất. Lúc ấy, tôi thấy một nhà quay phim nước ngoài đã quỳ xuống sát đất rất lâu để quay cảnh ấy. Lòng tôi bỗng rộn lên một niềm vui sướng.

Đi qua hàng quân, Bác tiếp cận đông đảo nhân dân Hải Phòng đứng chật hai bên đường. Bác giơ tay vẫy chào đồng bào rồi lên xe về nhà khách của Ủy ban thành phố. Còn tôi, cả cuộc đời đi theo cách mạng, đã có biết bao nhiêu kỷ niệm. Song lần được đón Bác là kỷ niệm sâu sắc nhất của một người lính đã đi suốt hai cuộc trường chinh.

Theo Quốc Cường (trích ghi) http://dantri.com.vn
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Thư gửi đồng bào công giáo toàn quốc nhân ngày lễ Thiên Chúa giáng sinh (25-12-1948)

Nhân ngày Thiên Chúa giáng sinh, tôi gửi lời thân ái chào mừng đồng bào.

Đã ba nǎm nay, dân tộc ta hy sinh kháng chiến chống giặc xâm lǎng. Dù khó nhọc, hy sinh đến thế nào, chúng ta vẫn giữ vững lòng tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng. Vì cuộc kháng chiến của ta là chính nghĩa.

Đồng bào vẫn cầu nguyện Chúa luôn luôn ban phúc cho dân tộc ta, vì tự vệ mà phải chống giặc. Nhờ Chúa mà đến nay, dân tộc ta đã đoàn kết, càng đoàn kết hơn, sức kháng chiến của ta đã hùng mạnh càng thêm hùng mạnh. Thắng lợi càng ngày càng gần.

Hôm nay, đồng bào lễ Chúa trong một bầu không khí chiến tranh, vì giặc Pháp còn đang giày xéo trên đất nước ta. Song rồi đây, thắng lợi sẽ cho chúng ta lễ Chúa long trọng hơn, trong một bầu không khí vui vẻ và tươi sáng của một nước hoàn toàn thống nhất và độc lập.

Vậy đồng bào hãy cùng tôi cầu nguyện Chúa cho ngày thắng lợi sắp tới của dân tộc. Tôi cầu nguyện Chúa luôn luôn ban phúc lành cho đồng bào.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 25 tháng 12 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Sự thật, số 105, ngày 25-12-1948.
Nhân ngày Thiên Chúa giáng sinh, tôi gửi lời thân ái chào mừng đồng bào.
cpv.org.vn

Thư gửi trại dinh điền sông Soi (12-1948)

(Nhờ Trưởng khu khẩn hoang Liên khu I chuyển)

Cảm ơn các bạn đã gửi cam biếu tôi. Mong các bạn đều xung phong thi đua ái quốc, khai khẩn cho nhiều đất ruộng, và làm cho tốt, để giúp cho kinh tế Chính phủ, và làm kiểu mẫu cho đồng bào. Các bạn phải gắng làm tròn nhiệm vụ của chiến sĩ trên mặt trận kinh tế.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 12 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Tặng Võ Công – Tặng cụ Võ Liêm Sơn (1948)

Thiên lý công tầm ngã,
Bích cảm nhất ngôn trung!
Sự dân nguyện tận hiếu,
Sự quốc nguyện tận trung.
Công lai ngã hân hỉ,
Công khứ ngã tư công.
Tặng công chỉ nhất cú:
“Kháng chiến tất thành công”.

TẶNG CỤ VÕ

Đường xa, nghìn dặm cụ đến tìm tôi,
Biết bao tình cảm ngụ trong một lời nói!
Thờ dân mong sao hết đạo hiếu,
Thờ nước mong sao hết đạo trung.
Cụ đến, tôi mừng rỡ,
Cụ về, tôi lại nhớ cụ.
Chỉ xin tặng cụ một câu này:
“Kháng chiến nhất định thành công”.

TẶNG CỤ VÕ LIÊM SƠN

Ngàn dặm cụ tìm đến,
Một lời trǎm cảm thông!
Thờ dân tròn đạo hiếu,
Thờ nước vẹn lòng trung.
Cụ đến tôi mừng rỡ,
Cụ đi, tôi nhớ nhung.
Một câu xin tặng cụ:
“Kháng chiến ắt thành công”.

Nǎm 1948

Viết bằng chữ Hán.
Dịch và in trong sách Hồ Chí Minh, Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1975, tr.113-114.
cpv.org.vn

Tặng Bùi Công – Tặng cụ Bùi Bằng Đoàn (1948)

Khán thư sơn điểu thê song hãn,
Phê trát xuân hoa chiếu nghiễn trì,
Tiệp báo tần lai lao dịch mã,
Tư công tức cảnh tặng tân thi.

TẶNG CỤ BÙI

Khi xem sách, chim rừng đậu ở song cửa sổ,
Lúc phê công vǎn, đoá hoa xuân soi bóng trong nghiên mực.
Luôn luôn phải về báo tin thắng trận, con ngựa trạm cũng vất vả.
Nhớ cụ, vừa tức cảnh thành bài thơ gửi tặng cụ.

TẶNG CỤ BÙI BẰNG ĐOÀN

Xem sách, chim rừng vào cửa đậu,
Phê vǎn, hoa núi ghé nghiên soi.
Tin vui thắng trận dồn chân ngựa,
Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài.

Nǎm 1948

Viết bằng chữ Hán.
Dịch và in trong sách Hồ Chí Minh,
Thơ, Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1975, tr.107-108.
cpv.org.vn

Thu dạ – Đêm thu (1948)

Trù hoạch canh thâm tiệm đắc nhàn,
Thu phong thu vũ báo thu hàn.
Hốt vǎn thu địch sơn tiền hưởng,
Du kích quy lai tửu vị tàn.

ĐÊM THU

Bàn tính công việc, mãi đến canh khuya mới tạm
được nghỉ ngơi,
Mưa gió mùa thu báo tin tiết thu lạnh đã đến.
Chợt nghe tiếng sáo thu từ phía trước núi vọng lại,
Bộ đội, du kích vừa về, cuộc rượu chưa tàn.

ĐÊM THU

Bàn việc canh chầy mới tạm ngơi,
Gió mưa thu báo lạnh thu rồi.
Còi thu bỗng rúc vang từng núi,
Du kích về thôn, rượu chửa vơi.

Nǎm 1948

Viết bằng chữ Hán.
Dịch và in trong sách Hồ Chí Minh: Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1975, tr.110-111.
cpv.org.vn

Lộc bất tận hưởng

Đó là câu tục ngữ, câu răn dạy, khuyên bảo con người, có nghĩa là “có lộc không nên hưởng hết một mình” mà nên chia sẻ cho người khác.

Tháng 8 năm 1945, trên đường từ chiến khu về Hà Nội, dừng chân ở một căn nhà làng Gạ, ngoại thành Hà Nội. Khi gia đình dọn cơm, Bác đã sẻ phần thịt gà ngon, mềm vào bát cụ chủ nhà.

Trong những tháng năm kháng chiến chống Pháp, trên Việt Bắc, ăn cơm cùng với các chiến sĩ bảo vệ, anh nuôi, bao giờ Bác cũng chia đều thức ăn cho cả mâm. Chị Minh Phương giúp việc chăm sóc sức khỏe Bác bày ra cái mẹo ninh gà nhừ, ít nước đặc để riêng cho Bác. Bác biết ý, nói vui: “Thế là khôn ăn cái, dại ăn nước”. Rồi Bác cũng lấy thìa san cho đủ người trong bữa ăn.

Một lần, Văn phòng Chủ tịch nước nhận được một miếng cao đặc mật ong của các vị lãnh đạo Đảng Trung Quốc tặng. Anh em đưa lên Bác để “Bác dùng cho khỏe”.

Bác cho gọi đồng chí cấp dưỡng lên, nói:

– Chú đem miếng cao này xuống bếp, bỏ vào nồi, đong đủ 24 bát nước, có ít gạo tẻ, gạo nếp càng tốt, đun lên, chia đều cho 24 người của Văn phòng.

Bác cũng chỉ là một trong 24 suất ấy. Đồng chí cấp dưỡng tần ngần chưa chịu đi. Bác cười nói:

– Làm đi chứ. “Lộc bất tận hưởng” mà chú!

“Trích trong “120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Theo baclieu.gov.vn
Phương Thúy
(st).
bqllang.gov.vn