Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Gian khổ phải luyện rèn, sung sướng không cần ai dạy

Bà Đặng Quỳnh Anh, năm 1911, bấy giờ chưa đầy 20 tuổi, đã theo các anh “Hội kín” vượt Trường Sơn, sang Xiêm, nuôi chí nguyện theo cha chú, những Đặng Thúc Hứa, Đặng Nguyên Cẩn… làm cách mạng. Tại Xiêm, với tên gọi là mụ Nho, bà Nho, Đặng Quỳnh Anh chăm lo cày cấy, lao động. Lập gia đình với Võ Tùng – sau này là đại biểu dự Đại hội thống nhất Đảng – bà vẫn vượt mọi khó khăn nuôi chồng, nuôi con, lấy làm nơi đi lại, ăn ở cho các chiến sĩ về nước, từ trong nước ra.

Năm 1928 – 1929, ông Thầu Chín (Bác Hồ) đã ở nhà bà Anh một thời gian. Khi cùng ông Võ Tùng đi công tác, lúc bà đang có mang, Bác rất suy nghĩ. Bà biết tấm lòng của Thầu Chín, nên đã động viên chồng, nói để Thầu Chín yên tâm đi công tác cách mạng.

Năm 1936, với tên mà cảnh sát Xiêm lập hồ sơ là Đặng Thị Nho quê Nghệ Tĩnh, chồng là Võ Tùng quê Đức Phổ, Quảng Ngãi, đã bị bắt giam đưa về Đông Dương, bà Quỳnh Anh bị giam giữ tại nhà lao Khôn Kèn cùng với hai con nhỏ.

Ra tù, sau khi nước Việt Nam được độc lập, xa chồng, bà trở lại Xiêm hăng hái hoạt động trong phong trào Việt kiều rồi lại bị tù đày, đánh đập. Năm 1949, bà Quỳnh Anh được về nước. Năm 1954, được gặp lại hai đứa con mà năm 1939, đã được ông Nguyễn Văn Luyện quê Anh Sơn, Nghệ An đưa từ Xiêm về nuôi dạy. Bây giờ cô gái lớn là Dung mới 13 tuổi, cậu con trai là Đông mới 11 tuổi. Bác Hồ lại giao cho bà việc chăm sóc các cháu nhi đồng miền Nam…

Vào một ngày cuối năm 1979, một số cán bộ Bảo tàng Quân đội đến thăm bà tại nhà riêng ở khu tập thể Tương Mai.

Bà vừa qua một cơn đau nặng. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã cử bác sĩ đến chăm sóc – mặc dù chị Dung, con gái bà là bác sĩ – tặng bà thuốc bổ, sâm, nhung nhưng bà không dùng.

Bà kể cho cán bộ nghe những mẩu chuyện về Bác Hồ mà bà biết được khi Bác ở Xiêm, nhưng không chịu kể về mình.

Khi người nhà bưng bát cháo lên để bà dùng, bà tự tay đón lấy. Tay phải bà run run, cầm cái thìa con đã buộc chặt vào hai ngón tay cái và trỏ. Khi bàn tay trái đưa bát cháo gần miệng, có lúc bát cháo lại “đi” qua sang phải, sang trái, bà cố ghìm lại để “xúc” cháo.

Chị Dung vẫn ngồi yên, cầm cái quạt giấy quạt cho mẹ, anh em gắt lên:

– Sao chị không bón cho bà?

Chị Dung cười và bà cũng cười. Chị nói:

– Mẹ tôi không cho. Mẹ bảo để mẹ tự làm lấy. Còn tại sao, các anh hỏi mẹ ấy!

Bà đặt bát cháo xuống, kể:

– Các cháu ạ, hồi ở Xiêm, Bác Hồ sống như mọi người dân, lao động bắt cá, kiếm củi, làm công, ăn đói mặc rét. Bác có lần nói với bà rằng: “O ơi! Sung sướng không ai dạy mà vẫn biết, còn muốn chịu đựng được gian khổ để làm cách mạng thì phải luyện rèn. Không ai nắm được tay từ sáng đến tối. Phòng khi khó khăn, còn vượt được, còn tham gia cách mạng được”. Bà nhờ câu nói ấy của Bác mà sống đến ngày nay… Bà còn cử động được tay, bà tự làm lấy theo lời Bác Hồ dạy mà thôi!

Rồi bà lại tươi cười run run bưng bát cháo lên.

Bốn cán bộ Bảo tàng ngồi mắt đỏ hoe, có anh trào nước mắt.

Trích trong “120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Theo baclieu.gov.vn
Phương Thúy (st).
bqllang.gov.vn

Thư gửi cụ Tạ Quang Yên (9-1948)

Kính gửi cụ Tạ Quang Yên ở Nam Định,

Tôi rất cảm động được báo cáo rằng cụ có 8 người con, trong đó 6 người tham gia kháng chiến, mà 4 người đã oanh liệt hy sinh vì Tổ quốc. Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi và tặng cụ mấy chữ:

“Một nhà trung hiếu,

Muôn thuở thơm danh”

Nhân dịp này tôi xin biếu cụ một cái áo mà đồng bào đã biếu tôi.

Chúc cụ mạnh khoẻ và sống lâu.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 9 nǎm 1948
Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
HỒ CHÍ MINH

Tài liệu lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, Xuất bản lần thứ nhất,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr.145.
cpv.org.vn

Thư gửi Hội Liên Việt huyện Mỹ Lộc (9-1948) (1)

Tôi rất vui lòng biết rằng Hội Liên Việt Mỹ Lộc đã kêu gọi được 114 đồng bào (trước lầm đường ra làm hội tề) trở về với Tổ quốc. Hội lại tổ chức ban nghiên cứu có 10 thân hào, thân sĩ tham gia. Đó là những sáng kiến rất hay.

Tôi mong Hội kêu gọi toàn thể đồng bào trong huyện hǎng hái xung phong Thi đua ái quốc làm cho Mỹ Lộc tiến lên về mọi mặt và trở nên một huyện kiểu mẫu.

Đồng thời, Hội Liên Việt Mỹ Lộc nên thách Liên Việt các huyện khác thi đua trong mọi công việc kháng chiến và kiến quốc.

Tôi chúc Hội Liên Việt Mỹ Lộc sẽ thành công vẻ vang.

Tháng 8 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr.146.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Chủ nghĩa cá nhân (15-10-1948)

Nhờ ngọn lửa kháng chiến hun đúc rèn luyện mà cán bộ quân sự, chính trị, hành chính, chuyên môn đều tiến bộ nhiều và nhanh.

Song vẫn còn một vài người, một vài cơ quan hãy chưa tẩy hết cái bệnh chủ nghĩa cá nhân. Bệnh ấy tỏ rõ ra nơi:

Ngày thường, thì kỷ luật kém.

Khi có vấn đề nghiêm trọng, thì hoang mang.

Lúc tính toán công việc, thì đặt lợi ích của cá nhân mình, của nhóm mình lên trên lợi ích chung.

Bệnh ấy dễ đưa đến chỗ trái kỷ luật, trái lợi ích của dân tộc.

Muốn tẩy sách bệnh ấy, thì cần phải nâng cao trình độ giác ngộ của mình; phải học theo cái tinh thần kiên quyết, dũng cảm, hy sinh, của nhân dân và của chiến sĩ.

Có những đồng bào hy sinh cả gia tài, điền sản, để giúp kháng chiến. Có những chiến sĩ tưới dầu châm lửa vào mình, để đốt đồn địch. Đó là những người anh hùng, bỏ nhà, bỏ mình vì nước. Cái tinh thần cao cả vẻ vang ấy sẽ soi sáng muôn đời, và luôn luôn làm kiểu mẫu cho mọi người noi theo.

Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra bệnh quan liêu. Kềnh càng. Kiêu ngạo. Chậm chạp. Làm cho qua chuyện. Ham chuộng hình thức.

Muốn tẩy sạch bệnh ấy, thì phải:

Thực hành tự phê bình và phê bình đồng sự mình. Phê bình một cách thiết thực mà thân ái. Phê bình từ cấp trên xuống và từ cấp dưới lên. Phê bình nhau và giúp nhau sửa chữa.

Phải vào sâu dân chúng, vào sâu bộ đội. Hỏi ý kiến và hỏi sáng kiến của quần chúng. Gom góp kinh nghiệm của quần chúng để giải quyết các vấn đề, và trao đổi những kinh nghiệm mới cho cơ quan khác, địa phương khác.

Công việc hàng ngày thì phải cẩn thận mà nhanh nhẹn, kịp thời, làm đến nơi đến chốn.

Kháng chiến nhất định thắng lợi. Hồ Chủ tịch nói như thế. Quân và dân ta đều tin tưởng chắc như thế.

Vì sao mà kháng chiến nhất định thắng lợi?

Vì bốn điều kiện:

1. Đoàn kết chặt chẽ, quân dân nhất trí.

2. Có con đường chính trị đúng.

3. Có con đường quân sự đúng.

4. Có sự chỉ huy khôn khéo mau lẹ, về chính trị cũng như về quân sự.

Điều 1, chúng ta đã làm được một phần lớn. Nay cần phải làm cho chặt chẽ thêm sự đoàn kết giữa bộ đội với bộ đội, giữa bộ đội với dân quân, giữa quân đội với nhân dân. Nâng cao cái tinh thần cán bộ giúp đỡ chiến sĩ và nhân dân, quân đội giúp nhân dân, nhân dân giúp bộ đội.

Điều 2 và 3, dưới sự lãnh đạo sáng suốt và cương quyết của Chính phủ kháng chiến, chúng ta đã sẵn có con đường chính trị và quân sự đúng. Chúng ta chỉ cần phải sửa chữa bệnh cá nhân, bệnh quan liêu, để theo cho đúng, làm cho kịp thời.

Điều 4, chúng ta có kinh nghiệm ba nǎm kháng chiến, hai cuộc luyện quân lập công, và phong trào thi đua ái quốc.

Các cán bộ chỉ huy cần phải khéo dùng những kinh nghiệm ấy, và cố gắng đẩy mạnh phong trào thi đua lên nữa. Như vậy thì sự chỉ huy càng khôn khéo mau lẹ thêm.

Toàn dân đoàn kết. Tướng sĩ dũng cảm. Chính trị vững chắc. Chỉ huy khôn khéo. Bốn điều ấy hợp lại, làm cho kháng chiến nhất định thắng lợi.

X.Y.Z

Báo Sự thật, số 101,
Ngày 15-10-1948.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh (15-11-1948)

Đồng bào yêu quý,

Tôi rất vui lòng thay mặt Chính phủ khen ngợi đồng bào toàn huyện đã thanh toán xong nạn mù chữ.

Thế là huyện Cẩm Xuyên đã tranh được cái vinh dự xung phong cho Hà Tĩnh và Liên khu IV 1 trên mặt trận vǎn hoá bình dân.

ở Bắc Bộ đã có tỉnh thanh toán xong nạn mù chữ trong 6,7 huyện như Thái Bình và hứa toàn tỉnh sẽ thanh toán xong trong nǎm nay. Tôi mong rằng Hà Tĩnh sẽ làm được như thế.

Hà Tĩnh là một tỉnh nhỏ nhất trong Liên khu IV mà đã hǎng hái xung phong. Tôi mong rằng các tỉnh khác, trước hết là những tỉnh to như Nghệ An, Thanh Hoá sẽ cố gắng theo kịp tỉnh “em”.

Cẩm Xuyên đạt được thành tích ấy là do:

– Sự cố gắng giúp đỡ của các cụ phụ lão, các vị thân sĩ.

– Sự sǎn sóc ân cần của các cơ quan đoàn thể.

– Sự hǎng hái nỗ lực của các nam nữ giáo viên.

– Sự siêng nǎng cố gắng của toàn thể đồng bào trong huyện.

Những thành tích ấy chỉ là bước đầu. Đồng bào cần phải tiếp tục học thêm nữa, học thêm mãi để tiến bộ thêm mãi.

Vì diệt giặc dốt chỉ là một trong ba mặt trận kháng chiến, kiến quốc của ta, đồng bào Cẩm Xuyên sẽ làm kiểu mẫu… trên hai mặt trận kia tức là:

– Xung phong tǎng gia sản xuất để tự cấp, tự túc để diệt giặc đói.

– Xung phong tổ chức dân quân du kích cho hẳn hoi, xung phong giúp đỡ bộ đội, thanh niên thi đua tham gia Vệ quốc quân để diệt giặc ngoại xâm.

Nói tóm lại đồng bào nên xung phong trong phong trào Thi đua ái quốc nhằm vào hai nhiệm vụ chính là giúp cho cuộc cầm cự được thuận lợi và cuộc chuẩn bị tổng phản công mau đầy đủ.

Với lòng hǎng hái và chí cương quyết sẵn có, tôi chắc rằng đồng bào Cẩm Xuyên sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang ấy; và đồng bào các huyện, các tỉnh khác sẽ thi đua theo kịp Cẩm Xuyên.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 15 tháng 11 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 277-278.
cpv.org.vn

Bệnh tự kiêu, tự ái (15-11-1948)

Hai thứ bệnh nguy hiểm đó đều do bệnh chủ quan, hẹp hòi mà sinh ra.

Việc thế giới, việc xã hội, việc nước nhà to lớn vô cùng, nhiều vô cùng.

Dù ai tài giỏi mấy, cũng không thể biết hết cả, làm hết cả.

Xưa nay những bực tài giỏi như cụ Khổng Tử, cụ Lênin cũng không biết hết mọi việc, làm được mọi việc. Cụ Khổng không biết nấu cơm, cụ Lê không biết may áo. Vì vậy, cần nấu cơm thì cụ Khổng phải học hỏi người làm bếp. Cần may áo thì cụ Lê phải học hỏi người thợ may.

Cụ Khổng và cụ Lê hơn mọi người, không phải vì hai cụ biết hết mọi việc, làm được mọi việc. Mà vì hai cụ không tự kiêu, tự ái, luôn luôn học hỏi.

Lời đầu tiên của cụ Khổng trong sách Luận ngữ, là: “Học mà thường tập, chẳng cũng vui lắm thay”.

Lời cụ Lê thường thường nhắc nhủ mọi người, là: “Học, học nữa, học mãi”. Và “phải học hỏi quần chúng”.

Tự kiêu tức là cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được. Việc gì mình cũng giỏi hơn mọi người. Mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai.

Kỳ thực, tự kiêu là mù quáng, chỉ trông thấy những việc mình tưởng mình làm được, những điều mình tưởng mình biết hết; mà không trông thấy những điều mình không biết, những việc mình chưa làm được.

Tự kiêu là hẹp hòi. Tài đức độ lượng nhỏ nhen, không bao dung được những ý kiến và những phê bình của người khác. Thí dụ một cái cốc, vì hẹp hòi mà chỉ đựng được rất ít nước, thêm một chút nước nữa, là phải tràn. Trái với cái độ lượng rộng lớn của bể, bao nhiêu nước cũng vẫn chứa được.

Tự kiêu là thoái bộ. Vì tự mãn tự túc, không cố gắng học hỏi thêm. Không theo kịp sự tiến bộ của thời đại. Tự mình ngǎn trở sự tiến bộ của mình.

Tự kiêu là hủ hoá. Vì không chịu học những sự hay sự tốt của người; không ưa những lời phê bình thẳng thắn để sửa chữa những khuyết điểm của mình. Mà người đời ai chẳng có khuyết điểm to hay nhỏ, ít hay nhiều!

Nói tóm lại: Tự kiêu nhất định sẽ đi đến thất bại. Vì kiêu ắt đi đôi với nịnh. Đã kiêu thì ắt ghét những người tài giỏi hơn mình. Ưa những kẻ nịnh hót mình. Thân cận là những kẻ vô tài bất lực, nhưng khéo nịnh hót a dua. Xa cách hoặc dìm hãm những người có tài có đức hay bàn ngay nói thẳng. Như thế thì sao khỏi hỏng việc.

Cụ Khổng Tử có nói: “Nếu có tính tự kiêu, thì dù tài giỏi vô cùng như ông Chu Công, thì tài giỏi ấy cũng vất đi”.

Nghĩa chính của chữ tự ái là giữ đúng chữ cần, kiệm, liêm, chính. Không làm điều gì có hại đến danh dự và đạo đức của mình. Thế là chân chính tự ái, mà ai cũng phải tự ái.

Nhưng người ta thường hiểu lầm chữ tự ái. Do đó mà hay chấp vặt, không can đảm tự phê bình, không ưa những lời phê bình ngay thẳng – thì gọi là tự ái. Tự ái này luôn luôn đi đôi với tự kiêu, tự mãn, tự túc. Và kết quả là tự khí, nghĩa là mình tự ngǎn trở mình tiến bộ, đồng thời đã tự kiêu tự ái, thì không thể đoàn kết. Không đoàn kết tức là cô độc. Đã cô độc, thì chẳng việc gì thành công.

KếT LUậN: Mỗi một người và tất cả mọi người chúng ta phải tẩy cho sạch bệnh tự kiêu, “tự ái”. Đó là hai thứ bệnh rất nguy hiểm cho đạo đức và công việc.

Thang thuốc thánh để chữa bệnh này gồm có bốn vị là:

a) Thật thà tự phê bình và hoan nghênh người khác phê bình mình.

b) Cố gắng sửa chữa khuyết điểm và phát triển ưu điểm.

c) Luôn luôn cố gắng học hỏi để luôn luôn tiến bộ.

d) Thực hành đoàn kết.

X.Y.Z.

Báo Sự thật, số 102,
ngày 15-11-1948.
cpv.org.vn

Hình ảnh màu hiếm về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Khi xem những bức hình về Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, mỗi người Việt Nam đều thấy cảm giác như Bác vẫn đang ở rất gần.

anh mau hiem ve Bac.1.1

(Ảnh: Đinh Đăng Định).

Bác Hồ chụp ảnh với 2 cháu thiếu nhi Vũ Thu Giang (bên trái) và Đặng Minh Châu (bên phải). Những ngày ấy, bé Vũ Thu Giang, lúc đó mới 7 tuổi, thường chơi đùa ở cơ quan của mẹ, một cán bộ trí thức giữ cương vị nòng cốt trong Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam, gần nơi tổ chức đại hội. Trong giờ nghỉ, bé Thu Giang và Đặng Minh Châu (con gái của Bộ trưởng Bộ Tài chính khi đó) được gọi vào ăn cơm cùng với Bác. Ngày khai mạc đại hội, tổ chức sang cơ quan Hội Phụ nữ nhờ bé Thu Giang và bé Minh Châu đại diện cho thiếu niên, nhi đồng cả nước dâng hoa mừng Bác Hồ, bác Tôn và các anh hùng, chiến sĩ thi đua.

“Đề nghị khá bất ngờ nên mọi người vội vào rừng hái hoa để chúng tôi dâng tặng các Bác và Anh hùng La Văn Cầu, Nguyễn Thị Chiên… Sau đó, chúng tôi được chụp ảnh chung với Người. Trong ảnh, Bác Hồ và chị Minh Châu cười rất tươi nhưng tôi chỉ cười mỉm vì lúc đó đang thay răng nên rất ngại. Tối hôm đó, bé Thu Giang còn tham gia buổi biểu diễn văn nghệ mừng đại hội, đóng một vai “nhí” trong vở kịch nông dân vùng lên chống thực dân. Lúc diễn, có đoạn giằng co, ruột tượng đựng gạo trên vai rơi ra, gạo bị vãi hết xuống sàn. Kết thúc vở kịch, Bác Hồ lên sân khấu, lấy một mẩu giấy vun các hạt gạo rơi, đổ lại vào một cái hũ”, bà Thu Giang vui vẻ kể lại. Giờ đây bà đang công tác tại Đại học Xây dựng và Đại học Kinh tế Quốc dân.

anh mau hiem ve Bac.1.2

Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. (Long Hy Sưu tầm)

anh mau hiem ve Bac.1.3

Bác cho cá ăn bên ao cá tại khu Phủ Chủ tịch.

anh mau hiem ve Bac.1.4

Long Hy (Sưu tầm)

Bác Hồ gắn huy hiệu cho Anh hùng thủy lợi Phạm Thị Vách tại xã Hùng Cường, Kim Động, Hưng Yên năm 1960. Chị Phạm Thị Vách nổi tiếng trong các phong trào thủy lợi “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa”, “nghiêng đồng đổ nước ra sông”. Tuổi đôi mươi, chị Vách là kiện tướng thủy lợi. 22 tuổi được phong Anh hùng Lao động và hai năm sau, trở thành đại biểu Quốc hội liên tiếp ba khóa: III, IV, V. Tự hào hơn, “nữ Sơn Tinh” Phạm Thị Vách đã vinh dự hai lần được nhận Huy hiệu Bác Hồ.

anh mau hiem ve Bac.1.5

Bác Hồ tại chiến khu Việt Bắc 1951.

anh mau hiem ve Bac.1.6

Bác Hồ quàng khăn đỏ (của thiếu nhi quốc tế tặng thiếu nhi Việt Nam) cho một đại biểu thiếu nhi Thủ đô tại nhà khách Phủ Chủ tịch khi các cháu đến chúc tết Người nhân dịp Xuân Canh Tý, ngày 28/1/1960 (Cháu gái đã vinh dự được Bác Hồ quàng khăn đỏ tên là Nguyễn Thị Đỉnh, học sinh lớp 6 Trường cấp II Trưng Vương, Hà Nội). Long Hy (Sưu tầm)

anh mau hiem ve Bac.1.7

Bác Hồ gắn huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên Phủ cho cán bộ chiến sĩ lập thành tích xuất sắc trongChiến dịch.
Long Hy (Sưu tầm)

 anh mau hiem ve Bac.1.8

Bác Hồ làm việc trong hang núi Việt Bắc 1951. Long Hy (Sưu tầm

anh mau hiem ve Bac.1.9

Bác Hồ tại phòng khách Phủ Chủ tịch. Long Hy (Sưu tầm)

 anh mau hiem ve Bac.1.10

Bác Hồ trong Chiến dịch Biên Giới, năm 1950. Căn lều dựng tạm khi Người trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Biên Giới năm 1950 (Nơi ở của Người di chuyển theo trận đánh, có khi chỉ là túp lều cỏ dựng tạm vài hôm) Long Hy (Sưu tầm)

anh mau hiem ve Bac.1.11

Bác Hồ về thăm quê Nam Đàn, Nghệ An (1957) trong niềm hân hoan của bà con chòm xóm. Long Hy (Sưu tầm)

anh mau hiem ve Bac.1.12

Bác Hồ với Bác Tôn 1960. Long Hy (Sưu tầm)

Theo Báo Giáo dục Việt Nam/ Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Thư khen ngợi đồng bào Ninh Bình (20-11-1948)

Đồng bào yêu mến,

Trước mùa mưa nǎm nay, tôi có lời kêu gọi đồng bào các tỉnh sửa đê, hộ đê. Đồng bào các nơi đều sốt sắng hưởng ứng. Kết quả rất tốt.

Nay theo lời báo cáo và đề nghị của Bộ Giao thông Công chính, tôi rất vui lòng thay mặt Chính phủ khen ngợi đồng bào Ninh Bình (thứ nhất trong ba tỉnh được khen). Thành tích đó là nhờ:

– Sự giúp đỡ của các cụ phụ lão và các thân sĩ,

– Sự cố gắng của các cơ quan và các đoàn thể,

– Sự tận tuỵ của các cán bộ hành chính và chuyên môn,

– Sự hǎng hái của toàn thể đồng bào.

Nói chung là sự đoàn kết nhất trí của toàn dân trong tỉnh, mà ta được thắng lợi ấy.

Chúng ta đã thắng giặc lụt, tôi mong rằng đồng bào sẽ tiếp tục và phát triển chí khí xung phong ấy trong phong trào Thi đua ái quốc để:

– Diệt giặc đói,

– Diệt giặc dốt,

– Diệt giặc ngoại xâm.

Và nǎm sau, đồng bào sẽ cố gắng sửa chữa đê điều sớm hơn và vững chắc hơn.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 20 tháng 11 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1123, ngày 21-12-1948.
cpv.org.vn

Thư khen ngợi anh em du kích Kim Thành, Hải Dương (28-11-1948)

Ngày 28 tháng 11 nǎm 1948

Gửi các đội du kích Kim Thành,

Tôi được nghe Bộ Tổng chỉ huy báo cáo rằng: đội du kích Kim Thành đánh giao thông vận tải của địch rất hay, và đã thắng được nhiều trận.

Tôi rất vui lòng thay mặt Chính phủ khen ngợi anh em, và khuyên anh em cố gắng hơn nữa. Tôi lại hứa với anh em rằng từ nay, mỗi một lần phá được một đầu tàu xe lửa, tôi lại có một phần thưởng đặc biệt tặng cho anh em.

Trong cuộc Thi đua ái quốc này, tôi mong anh em xung phong, lập nhiều chiến công rực rỡ, và tôi chờ đón tin thắng trận của anh em.

Kháng chiến nhất định thắng lợi!
Thống nhất độc lập nhất định thành công!

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1125,
ngày 23-12-1948.
cpv.org.vn

Một việc mà các cơ quan lãnh đạo cần thực hành ngay 930-11-1948)

KIỂM TRA

Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi.

Song từ nguồn gốc đi đến thắng lợi thực sự, còn phải tổ chức, phải đấu tranh.

Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích.

Mục đích sự tổ chức công tác là: động viên toàn thể nhân dân hǎng hái thi hành chính sách đã định. Mục đích lựa chọn cán bộ là dùng nhân tài cần phải hợp lý, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn” và cho họ hiểu rõ mọi mặt các công việc họ phải phụ trách. Mà muốn biết sự động viên ấy và sự thực hành ấy đã đến mức nào, thì phải có kiểm tra.

Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ nǎng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời. Hiện nay, nhiều nơi cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị, sau đó, thì họ không biết gì đến những nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những sự khó khǎn trở ngại gì, dân chúng có ra sức tham gia hay không. Họ quên mất kiểm tra. Đó là một sai lầm rất to. Vì thế mà “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy.

CÁCH KIỂM TRA

1. Kiểm tra phải có hệ thống nghĩa là khi đã có nghị quyết, thì phải lập tức đốc thúc sự thực hành nghị quyết ấy, phải biết rõ sự sinh hoạt và cách làm việc của cán bộ và nhân dân địa phương ấy. Có như thế mới kịp thời thấy rõ những khuyết điểm và những khó khǎn, để sửa đổi các khuyết điểm và tìm cách giúp đỡ để vượt qua mọi sự khó khǎn.

2. Kiểm tra không nên chỉ bằng cứ vào các tờ báo cáo, mà phải đi đến tận nơi.

3. Kiểm tra phải dùng cách thứcthật thà tự phê bình và phê bình, để tỏ rõ hết mọi khuyết điểm và tìm cách sửa chữa những khuyết điểm ấy. Như thế, thì cán bộ càng thêm trọng kỷ luật và lòng phụ trách.

NGƯỜI KIỂM TRA

Không thể gặp ai cũng phái đi kiểm tra. Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra, mới đủ kinh nghiệm và oai tín.

Nhưng người lãnh đạo cần phải có một nhóm cán bộ nhiều kinh nghiệm và giàu nǎng lực để giúp mình đi kiểm tra. Ai đi kiểm tra việc gì, nơi nào nếu có sơ suất thì người ấy phải chịu trách nhiệm.

Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn “pha”. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra.

Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười gấp trǎm.

X.Y.Z.

Báo Sự thật, số 103,
ngày 30-11-1948.
cpv.org.vn

Thư gửi cụ Tôn Đức Thắng (11-1948)

Kính gửi Cụ Tôn Đức Thắng,

Trưởng ban Trung ương vận động Thi đua ái quốc,

Thưa Cụ

Về phong trào Thi đua ái quốc, tôi rất đồng ý với Cụ là cần phải có cán bộ được huấn luyện hẳn hoi.Nhưng cho đến nay, tôi vẫn chờ đợi kế hoạch tổ chức Ban huấn luyện và chương trình huấn luyện của Ban trung ương, song chưa thấy.

Khu X đã huấn luyện 34 cán bộ trong 30 ngày. Rất tốt, nhưng họ huấn luyện những gì? Học viên là ai?

Về khoản chi phí, kỳ trước Ban trung ương đã lãnh 1 số, và đã phát cho mỗi khu 1 lần. Khoản ấy đã chi tiêu thế nào và nay Ban trung ương cần bao nhiêu, trong thơ Cụ chưa thấy nói rõ.

Theo thiển ý của tôi, chúng ta rất cần huấn luyện cán bộ, mà huấn luyện cán bộ xã trước hết. Rồi lựa chọn những cán bộ xã có nǎng lực nhất, đưa dần lên làm cán bộ huyện, tỉnh, khu.

Đây là vài ý kiến của tôi về cách huấn luyện:

– Cần có 1 chương trình thiết thực,

– Cần có giáo viên có kinh nghiệm,

– Cán bộ chuyên nghiệp của Ban trung ương, lúc đầu chỉ mươi người là đủ.

– Thời giờ huấn luyện, độ 10 ngày là đủ. Sau tiếp tục mở ban khác.

– Vừa học vừa làm.

– Mỗi ban huấn luyện phải có cán bộ những làng lân cận đến dự.

Các giáo viên bình dân học vụ và những người phụ trách thông tin tuyên truyền ở địa phương cũng cần phải đến nghe, vì họ sẽ giúp được nhiều việc về tuyên truyên.

Một thí dụ (xin xem bản vẽ sau):

Huyện Thắng Lợi có 64 làng (hay xã).

Ta có 10 cán bộ từ A-1 đến A-10,

Khuyên tròn ở giữa là Ban huấn luyện, đặt giữa 4 làng 1, 2, 3, 4.

Trong lớp huấn luyện ngoài 10 cán bộ chuyên nghiệp, cán bộ của 4 làng A, B, C, D cũng phải đến dự. Mỗi làng 2 người, do đoàn thể lựa chọn và do dân làng cử. Vì ở gần, ǎn uống họ phải tự cấp.

Nên mời những người hǎng hái trong làng, nhất là các cụ phụ lão, giáo viên bình dân học vụ và người phụ trách thông tin tuyên truyền đến dự thính. Họ sẽ giúp được nhiều việc.

Thời gian huấn luyện: 10 ngày (5 ngày học, 5 ngày thực tập).

Huấn luyện xong, cán bộ A-1 ở lại cùng cán bộ làng A, làm việc độ một tuần.

Các cán bộ làng B, C, D, hoặc về làng mình để chuẩn bị, hoặc ở lại làng A tập sự thêm.

Tuần thứ 2, cán bộ A đến giúp cán bộ làng B.

Tuần thứ 3, – – làng C.

Tuần thứ 4, – – làng D.

8 cán bộ A-2 đến A-9 chia nhau đi công tác 8 làng khác.

Đến mỗi làng, cũng gọi cán bộ 3 làng lân cận là B, C, D đến cùng làm việc để học tập. Sau 1 tuần hoặc 10 ngày, A-2 đến A-9 cũng chuyển sang làng khác, như A-1 vậy.

Khi đến làng D, thì gọi cán bộ 3, 4 làng xung quanh đến, vừa học vừa làm.

Rồi cứ như thế lan ra như vết dầu.

Cán bộ A-10 thì liên lạc, lượm lặt phổ biến kinh nghiệm của các làng đang làm.

4 làng A, B, C, D thi đua với nhau.

Nhóm ABCD này thi đua với nhóm ABCD khác.

Như thế, thì độ 40 ngày thì làm được 36 làng. Chừng 2 tháng thì làm xong huyện Thắng Lợi 64 làng.

Trong thời gian 2 tháng ấy, các giáo viên vừa đi kiểm tra, vừa giúp cán bộ, vừa đúc các kinh nghiệm. Và sẽ chọn những người khá nhất trong huyện để làm cán bộ huyện, hoặc theo các số cán bộ chuyên nghiệp.

Sau đó, Ban huấn luyện, và các cán bộ A sẽ dời đến 1 huyện khác.

Làm như vậy, thì hình như chậm, nhưng chắc chắn, thiết thực, ít tốn kém. Và nếu ta làm được vài tỉnh thật chắc chắn, thì kinh nghiệm và ảnh hưởng sẽ lan đến tỉnh khác, khu khác, cho nên kết quả vẫn tốt và mau.

*

*      *

Vê việc khen thưởng, tôi có vài ý kiến sơ lược như sau:

Mỗi làng, mỗi nhà máy, mỗi ngành, mỗi huyện sẽ cử ra người khá nhất, sau một cuộc kết thúc thi đua 6 tháng. Những người làm được kết quả đặc biệt, thì khen thưởng ngay. Những người này sẽ được bằng khen, gọi là chiến sĩ thi đua.

Mỗi tỉnh, mỗi khu, mỗi ngành trong toàn khu hoặc toàn quốc, cử những người giỏi nhất. Những người này sẽ được bằng khen, gọi là Anh hùng thi đua, do Chính phủ cấp.

Những chiến sĩ thi đua và anh hùng thi đua sẽ được tôn trọng đặc biệt ở địa phương, quyền lợi này sẽ do Ban trung ương thi đua và Bộ Nội vụ đề nghị lên Chính phủ quyết định.

Trong các làng, các xưởng, vân vân thì khen thưởng bằng ghi tên vào Bảng vàng của làng, của xưởng… và bằng cờ, biển danh dự và luân chuyển, do Ban trung ương thi đua và do các đoàn thể tặng.

*

*      *

Nói tóm lại: cần có chương trình huấn luyện thiết thực.
Cần có ban huấn luyện cho các cán bộ xã ở ngay địa phương.
Ban đầu, số cán bộ chuyên nghiệp, mười người là đủ.
Thiển ý như thế, xin Cụ và Ban trung ương xét bàn kỹ.
Kính chúc Cụ mạnh khoẻ và gửi Cụ lời chào thân ái và quyết thắng.

HỒ CHÍ MINH

Huyện Thắng Lợi 64 làng Mỗi ô là 1 làng.
A màu đỏ là cán bộ chuyên nghiệp.
Trong 50 ngày, có thể làm xong những làng ABCD.

Viết khoảng tháng 11-1948.
Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào xã Thanh Nông, huyện Lương Sơn, Hoà Bình (11-1948)

Tôi rất vui lòng thay mặt Chính phủ khen ngợi đồng bào và nam nữ giáo viên bình dân học vụ xã Thanh Nông.

Xã Thanh Nông có cái vinh hạnh là xã đầu tiên trong huyện đã thanh toán xong nạn mù chữ.

Tôi khuyên đồng bào cố gắng học thêm và hǎng hái xung phong Thi đua ái quốc để diệt giặc đói và giặc ngoại xâm, cũng như đồng bào đã hǎng hái diệt giặc dốt vậy.

Tôi lại mong đồng bào các xã khác trong tỉnh Hoà Bình cố gắng thi đua với xã Thanh Nông làm cho tỉnh ta tiến bộ vẻ vang và mau chóng.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 11 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 276.
cpv.org.vn