Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Điện vǎn gửi đồng bào miền Nam (28-3-1947)

Nhân dịp 100 ngày toàn dân kháng chiến, tôi thay mặt đồng bào ngoài này và Chính phủ, gửi lời thân ái chào các tướng sĩ Vệ quốc đoàn, tự vệ, dân quân,

Các anh chị em y tế,

Các anh em công an,

Các đoàn thể và toàn thể đồng bào.

Trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, đồng bào Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ phấn đấu đã lâu, hy sinh đã nhiều. Nhưng càng hy sinh tranh đấu, đồng bào ta càng kiên quyết, càng dẻo dai, càng mạnh mẽ. Sự anh dũng của đồng bào trong đó đã làm gương cho đồng bào toàn quốc noi theo. Chúng ta đồng tâm hiệp lực, không sợ gian nan, kiên quyết tranh đấu đến cùng, thì trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất, độc lập nhất định thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 28 tháng 3 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, t.1, tr.64.
cpv.org.vn

Thư gửi Chính phủ Pháp, Nghị viện Pháp, nhân dân Pháp, các nước dân chủ trên thế giới (3-1947)

Hơn 80 nǎm về trước, thực dân Pháp dùng vũ lực chiếm lĩnh nước Việt Nam. Trong 80 nǎm, thực dân Pháp bắt ép dân Việt Nam uống rượu cồn, hút thuốc phiện và sống dưới ách nô lệ vô cùng thảm khốc.

Trong thời kỳ thế giới đại chiến, thực dân Pháp bán Việt Nam cho Nhật để làm cǎn cứ địa đánh lại Đồng minh. Đồng thời chúng thẳng tay áp bức một cách dã man dân Việt Nam, vì dân Việt Nam đứng về phe Đồng minh mà kháng Nhật.

Tuy vậy, dân Việt Nam muốn hoà bình, muốn cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp. Vì lẽ đó Việt Nam đã ký với Pháp Hiệp định ngày 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946, và quyết tâm thi hành đúng những bản ký kết đó.

Chúng tôi chắc nhân dân nước Pháp cũng muốn thực thà thi hành những hiệp định mà Chính phủ Pháp đã ký với Việt Nam.

Song bọn thực dân phản động Pháp cố ý phá hoại hoà bình, cố ý phá hoại những hiệp ước đó. Chúng muốn cướp nước Việt Nam một lần nữa, bắt dân Việt Nam làm nô lệ một lần nữa. Vì vậy ở Nam Bộ, chúng đặt ra “Nam Kỳ quốc” để chia sẻ nước Việt Nam, chúng vẫn tiếp tục tiến công và giết hại nhân dân ở Nam Bộ và Trung Bộ. Nhân lúc hoàn cảnh chính trị ở Pháp chưa ổn định, chúng tiến công vào cả Bắc Bộ. Lạng Sơn, Hải Phòng còn đương ở trong vòng bom đạn, nhân dân Việt Nam bị giết hơn 3.000, thì thực dân Pháp tại Hà Nội lại thình lình tấn công vào vị trí Việt Nam.

Mặc dầu trước ngày phát sinh chiến tranh, tôi đã nhiều lần kêu gọi Chính phủ và nhân dân Pháp. Mặc dầu Chủ tịch Lêông Blum đã biểu thị chính sách thân thiện cộng tác với Việt Nam, nhưng bọn thực dân phản động cứ thực hành chính sách vũ lực của chúng.

Trước bạo lực của thực dân phản động Pháp, chúng tôi cần phải tự vệ. Nhưng đối với nhân dân Pháp, chúng tôi vẫn giữ chính sách cộng tác thật thà.

Chúng tôi chỉ muốn độc lập và thống nhất. Chúng tôi chỉ muốn hoà bình.

Chúng tôi không muốn chiến tranh, nhưng chúng tôi quyết tự vệ đến giọt máu cuối cùng.

Chúng tôi quyết không chịu mất nước làm nô lệ thực dân lần nữa.

Mong Chính phủ, Nghị viện và nhân dân Pháp hiểu cho.

Mong các nước dân chủ trên thế giới hiểu cho.

Tháng 3 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH
Sách Lời Hồ Chủ tịch,

Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr. 57-58.
cpv.org.vn

 

 

 

Thư gửi ông Vũ Đình Huỳnh (4-4-1947)

Chú Huỳnh,

1- Thơ 28-3 nhận được rồi.

Những vấn đề có quan hệ đến các cơ quan, đã gửi cho họ rồi.

2- Cụ Từ có viết thơ nói: Trong 7 người cụ Từ đảm bảo, và tôi đã ra lệnh thả, địa phương mới thả 5 người, còn 2 người còn phải giam. Và cụ Từ nói: Hình như địa phương nghi ngờ, không muốn cho những người ấy ở với cụ Từ (thơ 19-3-1947).

Một việc giản đơn như thế, mệnh lịnh ra đã lâu, mà đến nay địa phương làm còn lỡ dở chưa xong!

Chú phụ trách nhắc lại, bảo địa phương thả ngay 2 người đó, và để họ về ở với cụ Từ. Xong việc rồi, chú điện về báo cáo ngay.

3- Nhiệm vụ của chú ở đó là để cùng với cụ Từ, dàn xếp việc xích mích giữa đồng bào lương giáo, để thực hiện đoàn kết kháng chiến.

Vì vậy, chú cần phải khôn khéo và cẩn thận, từ lời nói cho đến việc làm.

Ngày tôi gặp cụ Từ ở Nho Quan, cụ tỏ vẻ rất hoan nghênh và yêu mến chú. Nay vì thái độ chú thế nào, mà cụ Từ nói: Hôm nọ linh mục bí thư của cụ đến thǎm chú, thì thấy thái độ chú đổi khác. Theo ý chú, thì ở Kim Sơn có cuộc âm mưu chính trị do cụ Từ và các linh mục đỡ đầu. Và những lời xúc phạm đến danh dự của cụ Từ. Đó là những lời cụ Từ nói.

Bất kỳ thế nào, chú phải lập tức đi gặp cụ Từ, và giải thích rõ ràng, làm cho hết sự hiểu lầm đó, rồi nói với cụ viết thơ cho tôi.

4- Việc phá cầu, cụ Từ đã hứa với tôi: Khi nào cần phải phá, thì cụ Từ sẽ khuyên dân tự động phá. Vậy các anh em không phải lo đến việc đó.

5- Nhờ chú đưa thơ sau đây cho cụ Từ (1), và gửi lời tôi hỏi thǎm cụ Ngô Tử Hạ.

Chào thân ái và quyết thắng.
Ngày 4 tháng 4 nǎm 1947
HỒ

Cụ Từ nói: Nghe nói có người tổ chức ban chuyên môn tuyên truyền phản công giáo, chú điều tra xem hư thực thế nào, báo cáo cho biết.

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I,
bản chụp lưutại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

 

 

 

Gửi toàn thể đồng bào sau ngày cụ Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng tạ thế (29-4-1947)

Hỡi đồng bào yêu quý,

Vị chiến sĩ lão tiền bối Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Hội trưởng Hội liên hiệp quốc dân vừa tạ thế.

Trước sự đau xót đó, Chính phủ ta đã ra lệnh làm Quốc tang.

Nhân dịp này, tôi có vài lời báo cáo cùng đồng bào.

Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước, mà trước đây cụ bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn Đảo. Mười mấy nǎm trường, gian nan cực khổ. Nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của cụ Huỳnh, chẳng những không sờn lại thêm kiên quyết.

Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan.

Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập.

Đến ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập, Chính phủ ta mời cụ ra. Tuy đã hơn 71 tuổi, nhưng cụ vẫn hǎng hái nhận lời. Cụ nói: “Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng phải ra sức phụng sự Tổ quốc”.

Nay chẳng may cụ Huỳnh sớm tạ thế, trước khi được thấy kháng chiến thành công.

Cụ Huỳnh tuy tạ thế nhưng cái chí vì nước, vì nòi của cụ vẫn luôn luôn sống mạnh mẽ trong lòng 20 triệu đồng bào chúng ta.

Hỡi đồng bào yêu quý,

Chúng ta thương tiếc cụ Huỳnh vô cùng. Nhưng chúng ta không nên thương tiếc bằng cách than khóc rầu rĩ. Chúng ta thương tiếc cụ bằng cách: càng đoàn kết chặt chẽ, càng hǎng hái kháng chiến; bằng cách: theo gương dũng cảm, nối chí quật cường của cụ; bằng cách: hoàn thành sự nghiệp cứu nước, cứu dân mà cụ đã ra sức đeo đuổi suốt đời. Chúng ta phải đồng thanh thề trước tiên linh của cụ Huỳnh rằng:

Đồng bào Việt Nam quyết theo gương kiên quyết của cụ.

Con Rồng cháu Tiên quyết không làm nô lệ.

Tinh thần kháng chiến của cụ Huỳnh sống mãi.

Việt Nam thống nhất và độc lập muôn nǎm!

Ngày 29 tháng 4 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr.66-67.
cpv.org.vn

 

 

 

Trả lời các nhà báo Việt Nam về Hội nghị Mạc Tư Khoa và tình hình nước Pháp (3-5-1947) (1)

Hỏi: Thưa Chủ tịch, cảm tưởng của Cụ đối với cuộc Hội nghị Mạc Tư Khoa thế nào ?

Đáp: Các nước dân chủ nhờ đoàn kết mà đánh tan phát xít, nay đã thắng lợi cũng nên đoàn kết để giữ gìn hoà bình. Mặc dầu cuộc hội nghị đó chưa có kết quả thiết thực, nhưng theo ý tôi, thì mặt trận dân chủ thế giới vẫn luôn luôn lạc quan.

Hỏi: Thưa Chủ tịch, theo ý Cụ, thì kết quả của Hội nghị Liên á thế nào ?

Đáp: Kết quả rất tốt, lần này là lần đầu tiên trong lịch sử, mà đại biểu các dân tộc châu á gặp mặt nhau, để gây cảm tình hiện tại và mở đường liên lạc tương lai.

Hỏi: Xin hỏi ý kiến Chủ tịch đối với tình hình nước Pháp thế nào?

Đáp: Chính trị, kinh tế, tài chính của Pháp đều gay go. Nhưng dân Pháp là một dân quật cường, tôi chắc họ sẽ cố gắng giải quyết những sự khó khǎn đó.

Hiện nay khó khǎn nhất là vấn đề bánh mì và vấn đề các nước hải ngoại. Theo lời Thủ tướng Ramađiê, thì Pháp không đủ tiền mua lúa mì. Chắc nhân dân Pháp sẽ hỏi: Không có tiền mua lúa để nuôi sống nhân dân Pháp, sao lại có hàng muôn triệu mua bom để giết hại dân Việt Nam và dân Mađagátxca ?

Nếu nước Pháp muốn phục hưng và muốn giải quyết mọi vấn đề khó khǎn thì không gì bằng cộng tác một cách thật thà và bình đẳng với các dân tộc hải ngoại. Nếu cứ dùng chính sách vũ lực ở hải ngoại, thì hoàn cảnh trong nước Pháp càng ngày càng khó khǎn.

Hỏi: Theo tin tức Pháp thì Tổng liên đoàn lao động Pháp, Hội Phụ nữ Pháp, Hội Pháp – Việt, v.v., yêu cầu phái đại biểu các đoàn thể dân chủ qua nước ta để điều tra và để dàn xếp.

Xin hỏi ý kiến Chủ tịch đối với vấn đề đó thế nào ?

Đáp: Nhân dân ta và Chính phủ ta, bao giờ cũng rất hoan nghênh những người Pháp dân chủ. Mặc dầu hoàn cảnh chiến tranh, nếu các đại biểu ấy đến, thì chúng ta sẽ tiếp đãi họ một cách thân ái như anh em, như bạn cũ.

Hỏi: Trước khi cảm ơn Chủ tịch đã cho chúng tôi nhiều thì giờ quý báu, chúng tôi xin phép hỏi thêm một câu: Tinh thần các chiến sĩ ta thế nào ?

Đáp: Mặc dầu dầm mưa dãi nắng, khi đói, khi no, bom nổ tứ tung, đạn kêu váng óc, mà tướng sĩ vui vẻ kiên quyết, tinh thần rất cao. Họ rất xứng cái tên: Đội xung phong của dân tộc.

Trả lời ngày 3-5-1947.

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, t.1, tr.68-69.
cpv.org.vn

————————

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Người cán bộ không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy nổi bật lên tư tưởng lớn vì con người và sự chăm lo cho hạnh phúc của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao vai trò và vị trí của con người. Người cho rằng con người không những là động lực của cách mạng, mà còn là đối tượng phục vụ của cách mạng. Nhưng khi nói tới con người là Chủ tịch Hồ Chí Minh nói ngay tới đạo đức của con người. Và Bác cho rằng: Đó là cái gốc của một con người, hơn nữa là của một con người cách mạng.

nguoi can bo khong co dao duc thi tai gioi2Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc của Người ở Chiến khu Việt Bắc.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong tác phẩm “Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp” đã viết:

“Trong luận điểm về cách mạng của Hồ Chí Minh, trung tâm là luận điểm về con người. Luận điểm về con người thể hiện ngay trong con người Hồ Chí Minh, con người lao động, con người cách mạng, con người của lý tưởng, con người của hành động, con người luôn luôn vươn lên phía trước.

Luận điểm về con người của Hồ Chí Minh là luận điểm về các tầng lớp nhân dân, nhất là nhân dân lao động, tin ở dân, dựa vào dân, bồi dưỡng sức dân, phát huy năng lực của dân. Lực lượng cách mạng theo Hồ Chí Minh là lòng dân, có lòng dân là có tất cả, mất lòng dân là mất hết”. Nước lấy dân làm gốc”.

Hồ Chủ tịch đánh giá rất cao vai trò của con người, cũng vì thế Người đánh giá cao vai trò của cán bộ, đảng viên. Ngày 20 tháng 2 năm 1947, nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hoá, Người nói: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tháng 10 năm 1947, Bác viết: “Có cán bộ tốt việc gì cũng xong. Muôn việc thành công và thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém. Đó là một chân lý nhất định”.

Báo Sự thật số 77, trong bài “Cán bộ tốt và cán bộ xoàng”, Bác lại viết: “Đi đến nơi nào có cán bộ tốt thì cảnh tượng tốt bày ngay ra trước mắt… Nơi nào cán bộ xoàng thì vùng đó đang ngủ say. Trên giấy thì cái gì cũng có. Nhưng sự thật thì việc gì cũng uể oải, lúi xùi”. Và cuối cùng Bác viết: “Cán bộ mà lên mặt quan cách mạng thì mọi việc đều lủng củng. Cán bộ mà biết làm cho dân tin, dân phục, dân yêu thì việc gì cũng mĩ mãn”.

Và rất nhiều lần khác, Bác đã nói với chúng ta, người cán bộ tốt phải là người có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Người còn nói: “Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay là không”. Và Người nhấn mạnh “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Vấn đề đạo đức cách mạng là một vấn đề lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm hàng đầu trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Yêu quý con người, tin tưởng ở con người, nhưng Bác cũng luôn luôn đòi hỏi rất cao đối với con người. Ngay trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” viết từ năm 1927, một tác phẩm nhập môn của người cách mạng, Bác Hồ đã nêu lên 23 điều trong tư cách một người cách mạng, trong đó Người đã nói tới những đức tính cần kiệm, vị công vong tư, nói thì phải làm, phải biết hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất…

Sau Cách mạng Tháng Tám, trên Báo Cứu quốc ngày 12-10-1945, Bác lại viết: “Muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”.

Trên Báo Sự thật ngày 2-9-1947, Bác lại viết: “Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình… siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân thì cũng như bắc dây leo trời”, “Một hột gạo, một đồng tiền, tức là mồ hôi nước mắt của đồng bào. Vì vậy, ta phải ra sức tiết kiệm. Hoang phí là một tội ác. Có tiết kiệm, không hoang phí xa xỉ, thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí xa xỉ, thì ắt phải tìm cách xoay tiền. Do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối. Thậm chí là chợ đen, chợ đỏ, thụt két, buôn lậu. Có cần mới kiệm. Có cần, kiệm mới liêm. Có cần, kiệm, liêm mới chính”.

 

Tiết mục văn nghệ chào mừng Hội nghị tổng kết 3 năm Cuộc vận động sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” (Hà Nội, tháng 5-2011). Ảnh: Xuân Thu

Tại chiến khu Việt Bắc, trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” Bác lại dành hẳn một chương nói về “Tư cách và đạo đức cách mạng” để nói khá kỹ về tư cách của một Đảng chân chính cách mạng và đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Bác đã nêu rõ: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”, “Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân”, “Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ…”.

Đối với cán bộ, đảng viên Bác nói cần có 5 điều: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm. Đó là đạo đức cách mạng. Bác chỉ rõ: “Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được 4 chữ chí công vô tư, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm, thí dụ những bệnh sau đây: Bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ… và những bệnh khác: bệnh hữu danh vô thực, kéo bè kéo cánh…”.

Đặc biệt những năm cuối đời, biết mình sắp sửa phải đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại càng thể hiện sự lo lắng của Người, mối quan tâm sâu sắc của Người đối với Đảng ta, đất nước ta, nhân dân ta, và nhất là cán bộ, đảng viên ta.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng có lần đã viết: “Xem một đôi bức ảnh Hồ Chủ tịch, có người nói mắt Người có hai con ngươi và tin rằng vì chỗ đó, Người là một ông Thánh. Làm gì có chuyện hoang đường như thế! Mắt Hồ Chủ tịch cũng như mắt mọi người, nhưng sáng hơn mắt mọi người nhiều lắm vì Người biết nhìn, nên nhìn thấy những cái mọi người không nhìn thấy: Hiện tại, tương lai, cái nhỏ, cái to…”.

Và chính vì tầm nhìn sâu xa ấy, mà Bác đã dặn lại chúng ta những điều tâm huyết, đặc biệt trong tác phẩm: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” và trong Di chúc của Người. Đây là những tác phẩm có giá trị không chỉ cho những thế hệ hôm nay, mà còn cho những thế hệ mai sau để tiếp tục cuộc hành trình lịch sử của mình.

Song, học Hồ Chủ tịch khó hay dễ? Và chúng ta có thể học được tấm gương đạo đức của Bác hay không? Điều này thì Thủ tướng Phạm Văn Đồng, gần 60 năm trước đã trả lời rồi: “Học Hồ Chủ tịch thực ra dễ lắm, vì những điều Hồ Chủ tịch dạy chúng ta đã sẵn có trong tâm hồn, trong trí óc. Chúng ta hãy hồi tỉnh lại, chúng ta sẽ thấy hiểu Hồ Chủ tịch hơn nhiều và làm những điều Hồ Chủ tịch dạy sẽ không khó nữa” (Hồ Chủ tịch hình ảnh của dân tộc Việt Nam – Tháng 8-1948).

Còn Bác Hồ thì nói với chúng ta: “Người đảng viên, người cán bộ tốt, muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào, thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt ngày càng thêm ra”.

Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã đi xa, nhưng Người đã để lại cho chúng ta một di sản vô cùng quý báu, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh và một tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời.

Nguyên Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân khi vào thăm khu nhà Bác ở, đã ghi vào sổ cảm tưởng 10 chữ: “Một cuộc đời cách mạng – Một tấm gương liêm khiết”.

Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Ôi giữa lòng ta Bác đến tự bao giờ
Bác vĩ đại nhưng chẳng làm ai kinh ngạc
Mỗi buổi sáng, nhìn lòng ta, ta thấy Bác
Nước mắt ràn, ta cảm hết ơn sâu…”

Một nhà thơ miền Nam lại viết “Hãy suy nghĩ về Người, để mà yêu đất nước nghe con”.Học và làm theo Bác là công việc suốt đời. Nhớ Bác, học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cũng là để chúng ta xây dựng Đảng ta trở thành một Đảng đạo đức và văn minh, như Bác hằng mong muốn./.

Theo Bùi Công Bính/Báo Nam Định online
Huyền Trang (st)

Trả lời thư chúc mừng của Hội nhi đồng công giáo khu Thượng Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Đông (10-5-1947)

Bác cảm ơn các cháu, Bác khuyên các cháu:

– Biết giữ kỷ luật.

– Siêng học, siêng làm.

– Yêu Chúa, yêu nước.

Bác hôn các cháu
Ngày 10 tháng 5 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 173.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước sau cuộc hội kiến với Pôn Muýt, đại diện Cao uỷ Pháp Bôlae (5-1947)

Cùng toàn thể đồng bào,

Cùng bộ đội, dân quân, tự vệ toàn quốc.

Toàn dân ta kháng chiến đến nay đã 5 tháng.

Đồng bào Nam Bộ kháng chiến đến nay là 20 tháng.

Người Pháp đổ máu đã nhiều. Dân ta hy sinh cũng không ít.

Vì nhân đạo, vì hoà bình, vì muốn giữ cảm tình với dân Pháp, Chính phủ ta đề nghị với Chính phủ Pháp, cǎn cứ nguyện vọng thống nhất và độc lập của dân ta, tìm cách dàn xếp cuộc chiến tranh.

Song bọn quân phiệt thực dân Pháp, quen thói hung tàn, bất nhân, vô lễ. Chúng khinh miệt quân đội ta và nhân dân ta. Chúng dám đề ra những điều kiện kiêu hãnh ngang ngược. Chúng đòi:

1- Ta phải nộp vũ khí cho chúng.

2- Ta phải để cho quân đội Pháp tự do đi khắp nước ta, v.v..

Thế là chúng đòi ta đầu hàng. Chúng đòi bóp cổ Tổ quốc ta. Chúng đòi ta để cho chúng tha hồ đốt làng, cướp của. Tàn sát nhân dân, hãm hiếp phụ nữ, phá hoại đền chùa và nhà thờ. Thế là chúng đòi toàn thể đồng bào ta và con cháu ta đời đời quỳ gối, cúi đầu làm nô lệ cho chúng.

Hỡi toàn thể đồng bào,

Hỡi toàn thể bộ đội, dân quân, tự vệ,

Chúng ta quyết không để cha mẹ, vợ con ta cho chúng giết hại, quyết không để chị em, vợ con ta cho chúng hãm hiếp, quyết không để nhà thờ, chùa miếu ta cho chúng đốt phá, quyết không để làng xóm, tài sản đồng bào ta cho chúng cướp bóc.

Chúng ta quyết không chịu làm “vong quốc nô”. Vì vậy tôi thay mặt Chính phủ kêu gọi toàn thể đồng bào phải ra sức kháng chiến, giúp đỡ bộ đội đánh giặc.

Tôi ra lệnh cho toàn thể bộ đội, dân quân, tự vệ, phải kiên quyết chiến đấu, xung phong sát địch.

Mỗi quốc dân phải là một chiến sĩ. Mỗi làng phải là một chiến hào. Chúng ta phải kiên quyết hy sinh chiến đấu để đánh tan bọn quân phiệt thực dân, để tranh lấy thống nhất và độc lập.

Hỡi toàn thể đồng bào,

Hỡi toàn thể các chiến sĩ,

Tổ quốc đang kêu gọi chúng ta. Thắng lợi đang chờ đợi chúng ta. Tiến lên! Tiến lên!

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!

Việt Nam thống nhất, độc lập muôn nǎm!

HỒ CHÍ MINH

Viết khoảng cuối tháng 5-1947.
Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

 

 

 

Thư gửi nhân dân Pháp sau cuộc hội kiến với Pôn Muýt, đại diện Cao uỷ Pháp Bôlae (25-5-1947)

Hỡi nhân dân Pháp!

Từ 20 tháng nay, thực dân Pháp đã xô đẩy dân tộc Việt Nam vào chiến tranh.

Hàng mấy ngàn thanh niên Pháp và Việt hoặc bị thương hoặc tử trận.

Những công cuộc kinh doanh của người Pháp tiêu tan. Nhiều thành phố và hàng trǎm làng mạc Việt Nam bị quân Pháp thiêu huỷ. Hàng vạn thường dân Việt Nam bị quân Pháp tàn sát. Đất nước chúng tôi tan hoang và đẫm máu.

Chúng tôi bao giờ cũng chuộng hoà bình, vì vậy cho nên ngày 25-4 vừa rồi chúng tôi đề nghị với Chính phủ Pháp hãy đình chỉ ngay cuộc lưu huyết và mở cuộc điều đình để giải quyết bằng những phương sách ôn hoà sự xung đột Việt – Pháp.

Nhưng bọn quân phiệt thực dân đã đưa ra những điều kiện chính sau này để buộc chúng tôi:

1. Họ đòi chúng tôi phải nộp hết vũ khí cho họ.

2. Họ đòi quyền tự do đi lại cho quân lính họ ở khắp nơi trên đất nước Việt Nam.

3. Họ đòi trả lại cho họ tất cả những người lính Pháp giác ngộ và chống thực dân đã không chịu tham gia vào cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này. Thế là bọn quân phiệt thực dân bị mù mắt trước một vài thắng lợi không có tương lai và chỉ có bề ngoài không có thực sự, đã cố ý đưa ra những điều kiện vô lý và nhục nhã để cho hai dân tộc ta không thể thân thiện với nhau được, để cho họ tiếp tục việc hãm hiếp, cướp bóc, đốt phá, giết người. Họ muốn tiếp tục chiến tranh.

Hỡi nhân dân Pháp!

Các bạn là những người đã chiến đấu oanh liệt để bảo vệ Tổ quốc, các bạn hãy đứng vào địa vị chúng tôi, các bạn có thể nào chịu đựng những điều kiện như thế không?

Các bạn có tin rằng như thế sẽ là thực hiện được sự cộng tác Việt – Pháp không? Các bạn có tin rằng như thế sẽ thực hiện được khối Liên hiệp Pháp không? Chiến tranh sẽ tiếp tục. Máu người Pháp và người Việt sẽ đổ thêm nữa, khối Liên hiệp Pháp sẽ bị tiêu tan, tất cả những điều đó, bọn quân phiệt thực dân phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Chúng tôi muốn hoà bình. Chúng tôi muốn nước chúng tôi độc lập và thống nhất trong Liên hiệp Pháp.

Bọn quân phiệt thực dân đã bắt buộc chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, chúng tôi lấy câu châm ngôn hiên ngang của các bạn làm châm ngôn của chúng tôi:

“Thà chết không làm nô lệ” .

Chúng tôi chiến đấu vì công lý. Chúng tôi sẽ tồn tại; chúng tôi sẽ chiến thắng.

Hỡi nhân dân Pháp!

Các bạn hãy giúp chúng tôi cứu lấy tính mạng của bao nhiêu thanh niên Pháp và Việt, cứu lấy tình thân thiện giữa hai dân tộc, và cứu lấy khối Liên hiệp Pháp.

Đả đảo chủ nghĩa quân phiệt thực dân!

Nước Pháp dân chủ muôn nǎm!

Nước Việt Nam độc lập và thống nhất, liên hiệp với nước Pháp trong khối Liên hiệp Pháp muôn nǎm!

Ngày 25 tháng 5 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, t.1, tr.77-78.
cpv.org.vn

 

 

 

Gửi anh em vǎn hoá và trí thức Nam Bộ (25-5-1947)

Cùng đồng bào vǎn hoá và trí thức Nam Bộ,

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn sự ủng hộ của các bạn. Chính phủ cùng toàn thể đồng bào Việt Nam kiên quyết chiến đấu, tranh quyền thống nhất và độc lập cho nước nhà để cho vǎn hoá cũng như chính trị và kinh tế, tín ngưỡng, đạo đức đều được phát triển tự do. Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà 1 , mà anh em vǎn hoá và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.

Nhân dân ta sẵn lòng thân thiện với nhân dân Pháp, nhưng quyết không chịu làm nô lệ cho thực dân phản động. Anh em vǎn hoá với trí thức là lớp tiên tri tiên giác 2 , càng phải quyết tâm không chịu làm nô lệ.

Tôi xin gửi anh em lời chào thân ái và quyết thắng.
Ngày 25 tháng 5 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, t.1, tr.76.
cpv.org.vn

Gửi nam nữ chiến sĩ dân quân, tự vệ và du kích toàn quốc (27-5-1947) (14)

Tôi thay mặt chính phủ và toàn thể đồng bào gửi lời khen ngợi các chiến sĩ.

Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã.

Các chiến sĩ dân quân, tự vệ và du kích ở Nam Bộ, ở Thủ đô, ở miền duyên hải và ở các nơi, đã chứng rõ sự thực đó một cách rất anh hùng. Từ đây về sau, lực lượng ta càng ngày càng vững, kinh nghiệm ta càng ngày càng nhiều thì ta càng tỏ cho địch quân biết, tỏ cho thế giới biết rằng dân quân, tự vệ và du kích Việt Nam là những người ái quốc sắt đá, là những chiến sĩ anh hùng.

Nhưng chúng ta không tự mãn tự túc, không kiêu ngạo, chúng ta phải luôn luôn thực hành mấy điều này:

1. Trong bộ đội phải đồng cam cộng khổ. Phải giữ kỷ luật, phải siêng tập tành, phải giữ bí mật, luôn luôn cẩn thận, lúc có địch cũng trấn tĩnh như không địch, lúc xa địch cũng nghiêm ngặt như gần địch;

2. Đối với dân – phải bảo vệ dân, phải giúp đỡ dân, phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu;

3. Đối với công việc – phải lập làng kháng chiến khắp nơi, phải luôn tích cực hành động;

4. Đối với địch – phải kiên quyết, dũng cảm. Phải có kế hoạch, mưu trí, phải hữu tiến vô thoái, phải thi đua nhau trong việc sát giặc, cướp súng, v.v.. Song đối với tù binh thì phải ưu đãi họ.

Hỡi chiến sĩ yêu quý, tôi nhắc các chiến sĩ kiên quyết làm đúng những điều đó, tôi chắc trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất độc lập chắc chắn sẽ thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 27 tháng 5 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr.81-82.
cpv.org.vn

——————————–

(14) Hội nghị dân quân, tự vệ du kích toàn quốc : Họp ngày 24-5-1947, tại Việt Bắc. Hội nghị đã kiểm điểm hoạt động của dân quân, tự vệ và du kích; bàn việc thống nhất tổ chức dân quân, tự vệ và du kích trong cả nước; công bố 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật dân vận của dân quân, tự vệ và du kích. Tr.132.

 

 

 

Kỷ niệm về những năm tháng phục vụ Bác Hồ

Ngày 11-10-1947 tôi được giao nhiệm vụ phục vụ Bác Hồ, hôm đó đúng vào ngày Bác di chuyển chỗ ở. Nghe tin báo địch sẽ nhảy dù xuống một số địa điểm, vì vậy nửa đêm chúng tôi đã phải lên đường.

ky niem nhung nam thang phuc vụ Bac HoChủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Việt Bắc

Ðoàn chúng tôi đi trước để chuẩn bị địa điểm. Ðến Tràng Xá, chúng tôi mượn nhà dân để đón Bác, sau đó mới làm lán để Bác ở.

Ở Tràng Xá, Tân Hồng, anh em vận động nhân dân ủng hộ đội võ trang tuyên truyền. Dân có gì ủng hộ nấy. Nhiều nhà có lợn, gà đã đem cúng cho người ốm khỏi bệnh, nên họ ủng hộ một con chó. Tôi về báo cáo Bác, Bác nói:

– Mình đang thiếu thốn, dân ủng hộ gì cũng quý cả, cần gì cứ phải gà với lợn. Nhưng các chú phải ghi lại để sau này có điều kiện hoàn trả lại cho dân, cho tương xứng với cái người ta đã ủng hộ mình.

Biết là nhân dân rất tình cảm, yêu quý những người cách mạng, đã ủng hộ một cách vô tư, nhưng nhớ lời Bác dặn, sau đó chúng tôi đã mua thuốc lào mang đến làm quà cho mỗi nhà một bánh.

Lán của Bác lúc đầu làm ở phía ngoài bìa rừng, sau có tin Pháp nhảy dù mới làm sâu vào bên trong. Thời gian này Bác phải di chuyển chỗ ở đến nhiều nơi.

Năm 1947 lên Bản Ca. Năm 1948 ở chân đèo De và ăn Tết ở đó. Ở Tràng Xá một thời gian Bác lại chuyển lên Khuôn Tát ở nhà anh Thảo. Ở Khuôn Tát cứ sáng dậy nấu ăn xong lại lên núi, được ba, bốn ngày thì không ở đó nữa mà lên Bản Ca (cuối năm 1947). Ðồng chí Lê Giản đưa Bác đi, Bác cũng đi bộ. Ở Bản Ca một thời gian, năm 1948 chuyển về chân đèo De, ở một cái lán bên cạnh “Trại nhi đồng”.

Năm 1949 sang Tân Trào ở nhà anh Quyết, dưới chân núi Hồng. Thời gian này Bác di chuyển chỗ ở liên tục. Bác lên ở Bản Ca hai lần. Lần thứ nhất, giặc Pháp nhảy dù, đồng chí Lê Giản đưa Bác lên Bản Ca. Lần thứ hai vào năm 1951 Bác lại lên Bản Ca ở xã Thành Công.

Năm 1951 tôi đánh bóng bị đau tức ngực sau đó bị ốm, Bác cho tôi đi nghỉ cùng anh Tô (đồng chí Phạm Văn Ðồng), anh Ðẩu và anh Trần Quý Kiên. Tôi đi nghỉ trở về thì Bác đã chuyển lên đèo Cón, ở ngã ba, một đường đi Bắc Cạn, một đường đi Thành Công, một đường rẽ vào chỗ Bác ở.

Tôi và đồng chí Phúc được chọn vào phục vụ Bác cùng một đợt. Lần đầu tiên vào gặp Bác chúng tôi rất lúng túng. Chúng tôi chào Bác bằng Cụ, Bác cười và bảo đừng gọi thế, gọi Bác thôi.

Bác hỏi tên hai chúng tôi, khi biết chúng tôi tên là Nga và Phúc, Bác nói:

– Bác đặt tên mới cho hai chú là Kiên, Quyết. Các chú phải làm việc như thế nào cho xứng đáng với cái tên của mình.

Tôi còn nhớ mấy anh em phục vụ Bác lúc đó: Đồng chí Trung, đồng chí Dũng và tôi. Tôi được Bác đổi tên là Kiên, đồng chí Phúc đổi tên là Quyết, đồng chí Lộc nấu ăn đổi tên là Ðồng và bác sĩ Chánh đổi tên là Tâm. Cùng với những người bảo vệ được Bác đặt tên Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Ðịnh, Thắng, Lợi, những cái tên được Bác đặt mang nhiều ý nghĩa, thể hiện quyết tâm, đồng lòng kháng chiến. Dù được giao nhiệm vụ gì chúng tôi cũng cố gắng làm thật tốt.

Trong thời gian phục vụ Bác chúng tôi được Bác rất quan tâm. Nhưng Bác quan tâm một cách công bằng chứ không thiên vị ai.

Năm 1950, sau chiến thắng Biên giới, Bác được nhân dân tặng một số quần áo may sẵn, Bác không dùng mà làm quà thưởng cho anh em chúng tôi. Nhưng trong số quần áo đó có nhiều loại khác nhau. Bác tặng chúng tôi, rồi đề nghị bắt số hay nhường nhau, chứ Bác không tự tay thưởng từng người một. Bác bảo làm thế cho công bằng.

Khi anh Lộc, người nấu cơm cho Bác bị ốm, rồi qua đời, Bác buồn lắm. Anh Bảy (đồng chí Phan Mỹ) nói tìm người thay anh Lộc nấu ăn cho Bác. Thấy thế Bác nói:

– Cũng không cần thiết lắm, Bác ăn uống cũng dễ. Trong nhà này cử một chú ra nấu ăn đỡ phải tìm người. Mà các chú cũng phải học mà nấu ăn, sau này về nhà khi có khách còn biết nấu các món ăn. Các chú đóng một quyển sổ nhỏ, gửi mấy cô phụ vận ở Văn phòng Trung ương nhờ các cô ấy ghi cách nấu nướng về mà thực tập.

Do đó năm ấy không lấy người ngoài vào nữa mà chuyển đồng chí Trung sang nấu ăn cho Bác.

Ðồng chí Trung chuyển sang nấu ăn cho Bác nhưng cứ băn khoăn, đi bộ đội mà chẳng được đánh  trận nào, súng đeo rách cả vai áo. Ðồng chí Trung xin chuyển sang chỗ anh Ninh. Biết việc này, một buổi tối Bác cháu cùng ngồi sinh hoạt bên bếp lửa, Bác đem câu chuyện chiếc đồng hồ ra kể với ý nhắc chúng tôi hãy yên tâm với công việc được giao. Bác cũng cho gọi đồng chí Trung lên và nói:

– Công tác cách mạng do Ðảng phân công, mỗi người một việc, các chú làm nhiệm vụ bảo vệ, hãy làm tốt việc được phân công đã.

Tuy thế, đến cuối năm 1952 đồng chí Cẩn được cử về thay đồng chí Trung nấu ăn cho Bác. Ðồng chí Trung được chuyển sang quân đội.

Những năm kháng chiến, Bác ở trên Chiến khu Việt Bắc, mà ở Chiến khu cũng không được an toàn lắm, cứ phải di chuyển chỗ ở luôn. Thấy thế một số đồng chí  thì thầm với nhau:

– Về Thái Nguyên ở có tốt hơn không, làm gì cứ phải ở bí mật, di chuyển mãi thế này cho vất vả.

Bác nghe các đồng chí nói vậy thì giải thích:

– Có bí mật mới có công khai, cũng như có kháng chiến mới có thắng lợi.

Theo cuốn “Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ”, do Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản. NXB Thông tấn, Hà Nội – 2003).

Theo Báo Nhân Dân điện tử
Huyền Trang (st)