Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

“Chúng tôi sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ bầu trời Tổ quốc”

QĐND – Chúng tôi đến Trung đoàn Không quân 931, Sư đoàn 371 (Quân chủng PK-KQ) đúng lúc các cán bộ, phi công, nhân viên đang hối hả chuẩn bị cho buổi bay huấn luyện. Đây là những chuyến bay trong đợt thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không của trung đoàn. Tiếng động cơ máy bay, tiếng xe nạp điện và tiếng xe máy, khí tài ầm vang. Bốn mươi năm về trước, đêm 27-12-1972, tại sân bay này, phi công Phạm Tuân đã cất cánh lập công bắn rơi B-52 trên bầu trời, góp phần vào chiến thắng chung trong 12 ngày đêm của quân dân miền Bắc và Hà Nội lúc đó.

Các phi công Trung đoàn 931 đang chuẩn bị chuyến bay.

Hướng về kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, Trung đoàn Không quân 931 đã có buổi sinh hoạt, tọa đàm sôi nổi và bổ ích. Các ý kiến đều khẳng định, 40 năm trước, chúng ta đánh thắng B-52 bằng “ý chí thép”, bằng óc sáng tạo, tinh thần quyết chiến quyết thắng. Đối với bộ đội không quân, trong điều kiện lực lượng còn mỏng; các sân bay của ta lúc đó đều bị không quân địch đánh phá ác liệt, Máy bay MIG 21 tuy cơ động nhanh, nhưng thiết bị tác chiến điện tử, nhất là ra đa phát hiện mục tiêu trên không kém hơn nhiều so với B-52; các phương tiện dẫn đường hạn chế. Cất, hạ cánh khó khăn, nhất là hạ cánh về ban đêm. Vậy mà các thế hệ đi trước đã biến cái tưởng như “không thể” thành “có thể”. Trung tá Vũ Hồng Long, phi công cấp 2, Phi đội trưởng Phi đội 1 khẳng định: Ngày nay bộ đội không quân đã được trang bị hiện đại, đội ngũ phi công được học tập, huấn luyện thuận lợi hơn lớp cha anh đi trước, nhất định sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ bầu trời của Tổ quốc, quyết không để bị bất ngờ từ các tình huống trên không. Đại úy Nguyễn Văn Bình một phi công trẻ quê đất Xứ Đoài cho biết, muốn làm chủ bầu trời thì các phi công trẻ cần phải làm chủ được phương tiện, kỹ thuật bay; thực hành huấn luyện tốt cả ban ngày lẫn ban đêm. Còn Đại úy Nguyễn Hữu Cường, phi công phi đội 2 đặt ra mục tiêu, cần bảo đảm nhiều giờ bay, tích lũy kinh nghiệm; sẵn sàng chuyển loại máy bay theo yêu cầu nhiệm vụ.

Đóng quân trên một địa bàn mà điều kiện thời tiết thường không ổn định, có thời gian khí tượng xấu kéo dài nhưng Trung đoàn vẫn tích cực chủ động tổ chức huấn luyện theo tiến độ và kế hoạch, bảo đảm an toàn tuyệt đối. Trao đổi với chúng tôi, Đại tá, Trung đoàn trưởng Tạ Quang Thảo, Phi công cấp 2 cho biết: Trong huấn luyện bay, trung đoàn luôn bảo đảm đúng điều lệ giáo trình, thực hiện nghiêm các quy định trong 3 giai đoạn bay (chuẩn bị bay, thực hành bay và giảng bình bay). Tính đến nay, trung đoàn đã tổ chức bay được 29 ban bảo đảm an toàn tuyệt đối. Các nhiệm vụ khoa mục, bài bay theo kế hoạch năm cơ bản hoàn thành, trình độ, giãn cách bay và trình độ bay của phi công không ngừng được nâng lên. Công tác bảo đảm kỹ thuật hàng không thường xuyên bảo đảm đủ số lượng và chất lượng máy bay, vũ khí, trang bị kỹ thuật hàng không cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, bảo đảm an toàn bay của trung đoàn.

Bài và ảnh: HOÀNG LÂN
qdnd.vn

Truyền thống là điểm tựa

QĐND Online – “Bệ phóng tên lửa này đã lập nên kỳ tích 10 phút bắn rơi tại chỗ 2 máy bay B-52 trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972. Đây niềm tự hào của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn tên lửa 261 trong suốt những năm qua, là động lực để chúng ta phấn đấu học, rèn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ”. Đó là lời mở đầu buổi nói chuyện về lịch sử, truyền thống cho những chiến sĩ trẻ ngay tại phòng trưng bày hiện vật của đơn vị, do Thượng tá Lê Thành Đức, Chính ủy Trung đoàn 261 giới thiệu. Tại đây, khá nhiều hiện vật trong chiến dịch 12 ngày đêm bảo vệ bầu trời Hà Nội vẫn được lưu giữ nguyên vẹn. Anh Đức cho biết:

– Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chúng tôi đang đẩy mạnh các hoạt động phòng truyền thống và bố trí nhân viên hướng dẫn trong thời gian một tháng cao điểm để mọi cán bộ, chiến sĩ đều được tham quan, tìm hiểu lịch sử như một giờ học ngoại khóa. Ngoài ra, theo thông lệ, mỗi đợt chuẩn bị kết thúc huấn luyện chiến sĩ mới chúng tôi lại tổ chức một buổi nói chuyện truyền thống, dâng hương tại nhà tưởng niệm các liệt sĩ của trung đoàn đã anh dũng hy sinh để giáo dục lòng yêu nước, nhân lên niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ.

Một buổi tham quan, giới thiệu truyền thống ở Trung đoàn 261.

Ngay sau khi nghe giới thiệu về truyền thống trung đoàn, các chiến sĩ trẻ được tham quan những hiện vật bổ trợ cho nội dung vừa giới thiệu. Mỗi hiện vật gắn với một sự kiện, một chiến công hay một tấm gương chiến đấu cụ thể được các cán bộ đơn vị sưu tầm, biên soạn, giới thiệu tỷ mỷ nhằm “truyền lửa” cho lớp trẻ hôm nay. Quan sát hiện vật là mảnh xác máy bay B-52G, chiến sĩ Nguyễn Quốc Ân, Đại đội 2, Tiểu đoàn 59, bày tỏ:

– Câu chuyện về kíp trắc thủ của Tiểu đoàn 59 bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay B-52 đầu tiên trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” khiến chúng em vô cùng xúc động và tự hào về tinh thần chiến đấu mưu trí, sáng tạo, đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể của thế hệ cha anh. Chính họ đã viết nên trang sử vàng mà ngày nay chúng em phải có trách nhiệm tô thắm thêm truyền thống ấy bằng những việc làm thiết thực.

Còn trắc thủ Nguyễn Thanh Tuấn, Tiểu đoàn 57, tâm sự:

– Em rất tâm đắc với chiến công của các chú, các bác, chỉ bằng 2 quả tên lửa đã bắn rơi tại chỗ 2 máy bay B-52 trong thời gian 10 phút. Đây thực sự là kỷ lục của bộ đội tên lửa Việt Nam. Càng tự hào về truyền thống của đơn vị, chúng em càng nỗ lực học, rèn cho thật thành thạo kỹ năng chuyên môn, rút ngắn thời gian thao tác. Đây cũng là một cách để phát huy truyền thống đơn vị anh hùng.

Ngoài giới thiệu lịch sử, tham quan nhà truyền thống, Trung đoàn 261 còn tổ chức thi tìm hiểu về các liệt sĩ của trung đoàn trong chiến tranh giữ nước. Nhiều bài viết cảm động sâu sắc của chiến sĩ đã được phát trên loa truyền thanh nội bộ. Trung tá Nguyễn Văn Chinh, Chủ nhiệm Chính trị trung đoàn chia sẻ:

– Những bài viết do chính chiến sĩ cảm nhận, dù còn mộc mạc nhưng đó là tình cảm chân thực của anh em trước sự hy sinh anh dũng của thế hệ cha anh. Qua những bài viết ấy chúng tôi đánh giá được chất lượng giáo dục chính trị của đơn vị có hiệu quả hay không để điều chỉnh nội dung, phương pháp cho phù hợp.

Có lẽ, chính nhờ cách giáo dục trực quan được minh chứng bằng những sự việc, con người, hiện vật cụ thể, gắn lịch sử với thực tiễn mà truyền thống anh hùng của Trung đoàn tên lửa 261 đã trở thành “điểm tựa” cho thành tích nhiều năm liền đạt “Đơn vị huấn luyện giỏi”, kỷ luật nghiêm; 100% cán bộ, chiến sĩ vững về tư tưởng, xác định tốt quyết tâm, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.

Bài và ảnh: HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

Giao lưu truyền thống: “Âm vang 40 năm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

Học viện Phòng không-Không quân:

QĐND Online-Ngày 13-12, Học viện Phòng không-Không quân tổ chức buổi giao lưu với các nhân chứng lịch sử đã trực tiếp tham gia chiến đấu trong chiến dịch Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không (từ ngày 18 đến 29-12-1972).

Các đại biểu tham gia giao lưu.

Trong buổi giao lưu, các đại biểu đã cùng nhau ôn lại những diễn biến chính của các trận đánh, đặc biệt là trận chiến đấu đêm ngày 20, rạng sáng ngày 21-12-1972 của Tiểu đoàn 57 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt chỉ huy, trong thời gian 2 phút đã bắn rơi 2 chiếc máy bay B-52, trong đó có 1 chiếc rơi tại chỗ.

Các đại biểu khẳng định: Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của tầm cao trí tuệ bản lĩnh Việt Nam, là chiến thắng của sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân tộc, là ý chí quyết đánh, dám đánh và quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là biểu tượng của ý chí kiên cường, bất khuất, bản lĩnh, trí tuệ và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Từ đây, nhiều bài học kinh nghiệm qúy báu đã được đúc kết để vận dụng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Tin, ảnh: TRƯƠNG ĐỨC SÁNG
qdnd.vn

Cải tiến tên lửa phòng không đánh máy bay B-52

QĐND – Trong chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, có sự đóng góp thầm lặng của lực lượng kỹ thuật. Họ là những chuyên gia, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm nghiên cứu thủ đoạn đánh phá của địch, cải tiến vũ khí, khí tài đưa vào ứng dụng, góp phần nâng cao hiệu quả chiến đấu của các lực lượng phòng không, trong đó có chiến công đánh thắng “siêu pháo đài bay” B-52 của không quân Mỹ trên bầu trời miền Bắc và các thành phố Hà Nội, Hải Phòng…

Từ đầu năm 1965, Liên Xô viện trợ, trang bị cho nước ta loại tên lửa S-75 Dvina, có ký hiệu CA-75 (phương Tây gọi là SAM-2). Đây là tên lửa phòng không thế hệ 2, có tính năng hiện đại so với thời điểm bấy giờ. Hệ thống tên lửa S-75 Dvina bao gồm tên lửa và bệ phóng dài 10,6m; đạn tên lửa loại V-750V; hệ thống ra-đa điều khiển sử dụng an-ten dẫn theo 2 mặt phẳng tọa độ và cự ly. Tên lửa S-75 Dvina có tầm hoạt động hiệu quả ở cự ly tới 30km, tầm hoạt động tối thiểu 8km, độ cao đánh chặn trong khoảng từ 450m đến 25km. Với tầm bắn này, tên lửa S-75 Dvina hoàn toàn bắn hạ máy bay B-52 có tầm hoạt động ở độ cao đến 15km.

Bộ đội tên lửa thao tác đưa tên lửa phòng không S-75 Dvina, hỏa lực chủ yếu tiêu diệt “Pháo đài bay” B-52 vào bệ phóng. Ảnh tư liệu

Đạn tên lửa V-750V của hệ thống S-75 được dẫn đường bằng sóng vô tuyến điện, chấp hành lệnh điều khiển từ xe điều khiển trên mặt đất, theo nguyên lý điều khiển, điều chỉnh sai số liên tục. Đầu đạn tên lửa V-750V là loại tạo mảnh, chứa 200kg thuốc nổ, có tốc độ bay đạt 3M (3.675km/giờ). Bán kính tiêu diệt mục tiêu của đầu đạn tên lửa V-750V khoảng 65m (ở độ cao lớn, khí quyển loãng, bán kính tiêu diệt mục tiêu có thể lên đến 250m). Các đầu nổ của đạn tên lửa được lắp hai hệ thống ngòi nổ: Hệ thống ngòi nổ sát thương và hệ thống ngòi nổ tự hủy. Khi cách mục tiêu khoảng 60m, hiệu ứng vô tuyến sẽ kín mạch kích ngòi nổ sát thương bùng nổ văng mảnh về phía trước diệt máy bay. Trong thời gian viện trợ trang bị cho nước ta, Liên Xô đã cải tiến nhiều lần tính năng kỹ thuật tên lửa S-75, như việc tăng số mảnh đạn sát thương thêm hàng nghìn mảnh; cải tiến hệ thống chống nhiễu cho đạn…

Việc cải tiến chống nhiễu cho hệ thống tên lửa S-75 triển khai từ cuối năm 1967 khi không quân Mỹ đã sử dụng máy phát nhiễu ALQ-71 gây nhiễu toàn bộ rãnh sóng điều khiển đạn và rãnh sóng xung trả lời của đạn (gọi chung là nhiễu rãnh đạn). Ngày 15-12-1967, không quân Mỹ tiến hành 44 lần chiếc máy bay cường kích đánh phá cầu Đuống, Hà Nội. Các tiểu đoàn tên lửa bảo vệ Hà Nội của ta phóng lên 8 quả đạn S-75 đều không điều khiển được; đạn hoặc rơi xuống đất, hoặc vượt mục tiêu tự hủy, hoặc đạn không thể rời bệ phóng do không bắt được tín hiệu điều khiển. Theo Trung tướng Phan Thu, nguyên Đội trưởng Đội Nghiên cứu nhiễu Quân chủng Phòng không-Không quân, máy bay Mỹ sử dụng máy gây nhiễu ALQ-71 mở rộng tần số gây nhiễu sóng 10cm trùm qua rãnh đạn tên lửa, làm cho đạn tên lửa của ta mất điều khiển. Sau khi nghiên cứu máy gây nhiễu ALQ-71 còn khá nguyên vẹn mà ta thu được từ một chiếc máy bay F-4C, bằng các biện pháp kỹ thuật, ta đã phát hiện ra dải tần số và cường độ của loại nhiễu này. Từ kết quả nghiên cứu nhiễu máy ALQ-71, các nhà khoa học-kỹ thuật quân đội ta và các chuyên gia Liên Xô đề ra giải pháp cải tiến tần số điều khiển tên lửa S-75, như vừa điều chỉnh lệch tần số, vừa nâng cao công suất đèn phát tín hiệu trả lời của đạn về đài điều khiển. Nhờ vậy, tín hiệu trả lời của đạn vượt lớn hơn tín hiệu nhiễu, khiến máy gây nhiễu của Mỹ không thể rượt đuổi theo được do bị hạn chế về công suất phát. Từ đó, tất cả đạn tên lửa của ta đều được thay máy phát tín hiệu trả lời có công suất lớn hơn nhiều, bảo đảm khắc phục nhiễu rãnh đạn. Cũng từ kết quả nghiên cứu, cải tiến trên, các tên lửa phòng không của ta còn tránh được các thủ đoạn gây nhiễu của các loại máy gây nhiễu có công suất lớn hơn như ALQ-101, ALQ-107 và nhiều loại máy gây nhiễu lắp trên máy bay B-52 của Mỹ.

Trong thực tế chiến đấu, Bộ đội tên lửa phòng không còn sáng tạo nhiều giải pháp kỹ thuật và vận dụng các hình thức chiến thuật linh hoạt như cơ động tên lửa; bố trí trận địa giả, nghi binh đánh lừa máy bay địch. Đặc biệt, theo thiết kế thì mỗi tiểu đoàn tên lửa S-75 Dvina (kể cả loại S-75B Volkhov) đều phải triển khai đủ 6 bệ phóng và đầy đủ bộ khí tài kèm theo. Song khi vận dụng thực tế, nhiều tiểu đoàn tên lửa của ta chỉ triển khai 3 bệ, 2 bệ, thậm chí một bệ vẫn chiến đấu. Trong chiến dịch phòng không tháng 12-1972, một số tiểu đoàn đã mạnh dạn chia số lượng bệ phóng ra từ 2 đến 3 trận địa, trên đó đã lắp sẵn đạn. Khi đánh xong ở một trận địa, kíp chiến đấu lập tức kéo khí tài ra trận địa mới, đấu nối với các bệ phóng đã sẵn sàng và có thể chiến đấu được ngay. Trong suốt hai cuộc chiến tranh chống phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ tại miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1968 và năm 1972, hệ thống ra-đa của tên lửa S-75 Dvina đã được cải tiến 4 lần với 40 nội dung kỹ thuật để theo kịp cuộc chiến tranh điện tử của không lực Hoa Kỳ, bảo đảm an toàn trong sử dụng và nâng cao độ chính xác khi chiến đấu.

ĐÌNH XUÂN
qdnd.vn

Bác Hồ xem Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài

Tháng 6 năm 1956, đoàn Ca kịch liên khu 4, tiền thân của Nhà hát Cải lương Trung ương bây giờ, được lệnh vào Phủ Chủ tịch biểu diễn phục vụ Bác Hồ và các đồng chí Trung ương.

Khỏi phải nói là anh em nghệ sĩ cũng như cán bộ, công nhân viên trong Nhà hát phấn khởi đến nhường nào. May mắn, đêm ấy sân khấu biểu diễn dựng ở ngoài trời mà thời tiết như chiều lòng người, rất đẹp, thật mát mẻ và dễ chịu.

Trước buổi biểu diễn, đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng bê một chiếc ghế tựa tới đặt ở hàng đầu để Bác ngồi xem. Đêm ấy vở diễn Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài đã được diễn với một không khí nghiêm túc cộng với sự nỗ lực hết mình của tất cả diễn viên. Và lẽ đương nhiên, buổi diễn đã thành công rực rỡ trong tiếng vỗ tay vang dội của mọi người. Như mọi lần, vở diễn kết thúc, Bác lên sân khấu động viên và khen tặng anh chị em. Tặng hoa cho các diễn viên xong, Bác giơ tay ra hiệu mọi người im lặng rồi đột nhiên Người nói:

– Một đôi Sơn Bá, Anh Đài

Chữ tình đáng trọng, chữ tài đáng thương.

Mọi người chưa kịp ngạc nhiên vì câu thơ xuất thần của Bác thì Bác đã chỉ tay vào diễn viên đóng vai bố của Chúc Anh Đài, tiếp:

Chỉ vì lão già dở dở ương ương

Làm cho đôi lứa dở dang không thành

Đánh cho phong kiến tan tành

Để bao nhiêu Anh Đài, Sơn Bá lại thành lứa đôi.

Đọc xong câu thơ cuối cùng, Bác choàng tay, âu yếm ôm vai hai diễn viên đóng Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài. Mọi người đứng hết cả dậy và tiến đến vây quanh Bác, sung sướng và xúc động trong tiếng vỗ tay như sấm…

HOÀNG AN
qdnd.vn

“Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam”

LTS: Tại cuộc Hội thảo cấp Nhà nước với chủ đề: “Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam”, do Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương và Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức ngày 28-11, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có dịp gặp gỡ, tiếp xúc, ghi lại nhiều ý kiến, câu chuyện, kỷ niệm của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, các nhân chứng lịch sử đã trực tiếp tham gia làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Chúng tôi xin trân trọng lược ghi, giới thiệu một số ý kiến.

* Tiến sĩ Trương Minh Tuấn, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương:

Biểu trưng của ý chí quật cường

Trong chiến dịch phòng không ác liệt cuối năm 1972, các tầng lớp nhân dân Thủ đô đã biểu lộ cao ý chí và tinh thần kiên cường khắc phục mọi khó khăn gian khổ; phát huy những kinh nghiệm của chiến tranh nhân dân ở đô thị, phối hợp chặt chẽ với lực lượng bộ đội để thực hiện các phương án tác chiến. Cùng với bộ đội phòng không kiên cường và các tay súng tự vệ vững chắc, nhân dân thủ đô Hà Nội đã góp sức to lớn làm nên chiến công hiển hách. Cuộc sống đô thị được tổ chức theo kiểu thời chiến. Các cụ già, em nhỏ, học sinh, sinh viên về nơi an toàn. Công tác phòng không tại chỗ được triển khai tích cực. Mọi người, mọi nhà, mọi cơ quan trường học, xí nghiệp đều kiến tạo hầm hào trú ẩn. Trong thành phố có 230.000 hố cá nhân, 1.130km hào giao thông, hàng nghìn hầm tập thể…

Tiến sĩ Trương Minh Tuấn.

Sự bạo tàn của kẻ thù càng tăng thêm quyết tâm đánh giặc Mỹ của quân và dân Hà Nội. Trong tổn thất, đau thương càng sâu nặng nghĩa đồng bào. Hà Nội chiến đấu vì cả nước; cả nước hướng về Hà Nội sẻ chia, cổ vũ. Hàng trăm tấm gương sáng ngời của Thủ đô xuất hiện trên tất cả các lĩnh vực: Trong bảo vệ sản xuất, bảo vệ trật tự, tính mạng, tài sản của nhân dân, trong cứu thương, cứu hỏa, trong đùm bọc cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau. Đó là hình ảnh của các chiến sĩ công nhân anh hùng “Bến phà kiên cường chống Mỹ” Bác Cổ, lặn lội bám trụ ngày đêm để bảo đảm giao thông thông suốt, bất chấp bom đạn của kẻ thù. Đó là hình ảnh về tấm gương hy sinh của hai đồng chí Đặng Đức Thọ và Vũ Xuân Hòa bám máy đến cùng để bảo đảm dòng điện cho Thủ đô. Và hình ảnh các chiến sĩ công an đường phố sâu sát, nắm dân, quên mình để cứu chữa, bảo vệ tính mạng nhân dân. Đó là lực lượng cứu sập, cứu hỏa xả thân dưới bom đạn địch làm nhiệm vụ. Đó là hàng trăm nghìn chiến sĩ tự vệ, các hội viên chữ thập đỏ và cả những người dân bình thường vì nghĩa lớn đã không quản ngại khó khăn, nguy hiểm tận tình cưu mang bà con, xóm ngõ của mình trong cơn hoạn nạn. Đội ngũ các thầy thuốc, những “chiến sĩ áo trắng” từ giáo sư, bác sĩ đến y tá, hộ lý đã lăn lộn bất chấp mọi nguy hiểm để làm nhiệm vụ cao cả của người lương y vì sự sống còn của hàng nghìn nạn nhân. Đó là cán bộ, công nhân trong ngành phục vụ điện, nước, ăn uống, giao thông vận tải. Nhiều đảng bộ, chi bộ và đảng viên đã phát huy vai trò tiên phong đứng mũi chịu sào trong cuộc chiến. Hàng trăm tổ chức đảng và cấp ủy các chi bộ, đảng bộ và hàng nghìn đảng viên được biểu dương gương mẫu trong đợt chiến đấu chống máy bay B-52. Mọi tầng lớp nhân dân Thủ đô, đã góp phần tạo nên chiến công vĩ đại này.

Thắng lợi của quân và dân ta 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã để lại cho các thế hệ người Việt Nam niềm tự hào, tự tin và làm giàu thêm ý chí và tri thức về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là biểu tượng rực rỡ về sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ sáng tạo Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Thắng lợi của chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của Đảng; là thắng lợi của truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân thủ đô Hà Nội; góp phần làm rạng rỡ truyền thống Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội…

DUY HỒNG (lược ghi)

* Trút đau thương lên đầu súng

Tại cuộc Hội thảo “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không: Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam” chỉ có một đại biểu nữ lên tham luận. Bà là Phạm Thị Viễn, nữ pháo thủ của Trung đội tự vệ Nhà máy cơ khí Mai Động Hà Nội, người tham gia Liên đội tự vệ, chiến đấu tại trận địa Vân Đồn, đơn vị đã bắn rơi chiếc máy bay F-111A của Không quân Mỹ ngày 22-12-1972.

Bà Phạm Thị Viễn.

Bà kể, trong thời gian làm tự vệ Nhà máy cơ khí Mai Động, bà tích cực học tập, huấn luyện, sử dụng thành thạo loại súng bộ binh, nhất là phòng không 14,5mm trang bị cho trung đội tự vệ nhà máy. Trong thời kỳ không quân Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, năm 1967 gia đình bà đón nhận nỗi mất mẹ do bom Mỹ sát hại. Trong chiến dịch phòng không tháng 12-1972, một lần nữa, Không quân Mỹ đem bom giội xuống Hà Nội, gây nhiều tội ác, đặc biệt là sát hại dân thường. Bà Viễn nhớ lại: Lúc này tôi đã là tự vệ của nhà máy nên phải trực chiến trên trận địa cả ngày lẫn đêm. Khi máy bay B-52 đem bom rải thảm vào khu tập thể, một quả bom rơi trúng hầm trú ẩn của cha tôi… Biết tin cha bị bom Mỹ sát hại, em gái vội vàng chạy ra trận địa thông báo khi tôi đang trực chiến.

Đau thương trút lên đầu súng. Sáng 22-12-1972, đơn vị tự vệ của chị được lệnh di chuyển về trận địa Vân Đồn. Sau khi kéo khẩu pháo 14,5mm vào chiếm lĩnh trận địa mới, cả đơn vị chuyển cấp vào trực chiến đấu ngay. Bà Viễn kể, nhiệm vụ của khẩu đội pháo cao xạ của bà là đánh máy bay chiến thuật, bảo vệ các khu dân cư và nhà máy, xí nghiệp xung quanh khu vực. Lúc 20 giờ ngày 22-12-1972, đơn vị nhận lệnh báo động. Cả kíp pháo thủ lên mâm pháo chờ máy bay Mỹ… Đến khi đồng chí Liên đội trưởng hô bắn, các khẩu đội pháo đồng loạt nhả đạn. Là pháo thủ số 1, bà Phạm Thị Viễn nhìn thấy rất rõ chiếc máy bay rẹt qua đầu, phần đuôi của nó lóe sáng.

Khoảng nửa giờ sau, Ban CHQS quận Hai Bà Trưng thông báo với cả trận địa, khẩu đội đã bắn rơi được chiếc máy bay F-111A “cánh cụp cánh xòe” của Mỹ. Trận đánh thể hiện tinh thần, ý chí chiến đấu dũng cảm, sự phối hợp hiệp đồng chặt chẽ, trên nền tảng thế trận phòng không nhân dân vững chắc, góp phần làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 lịch sử.

Hương Hồng Thu (lược ghi)

* Ông Hà Đăng, nguyên thành viên đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Pa-ri:

Hiệp định Pa-ri là kết quả chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta diễn ra trên cả 3 mặt trận: Quân sự, chính trị và ngoại giao. Do đánh thắng trên chiến trường, ta đã buộc đế quốc Mỹ ngồi vào đàm phán. Rồi suốt trong hơn 4 năm đàm phán tại Pa-ri, ta nhất quán đòi quân đội Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam.

Ông Hà Đăng.

Ngày 20-10-1972, qua hàng loạt cuộc đàm phán mật, một Hiệp định cho việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được thỏa thuận giữa Hà Nội và Oa-sinh-tơn. Dự thảo Hiệp định này đáp ứng được những đòi hỏi cơ bản của ta. Nhưng rồi sau khi giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 7-11-1972 thì Ních-xơn giở trò lật lọng. Trong hai đợt đàm phán tiếp theo vào cuối tháng 11 và đầu tháng 12, do phía Mỹ đưa ra quá nhiều điều sửa đổi, đáp lại ta cũng đòi sửa đổi một số điều, đàm phán diễn ra hết sức căng thẳng. Đến ngày 12-12-1972, nhiều vấn đề tồn tại đã dần được giải quyết. Chỉ còn lại một số vấn đề, chủ yếu đến khu phi quân sự và thể thức ký Hiệp định. Ngày 13-12, hai bên đồng ý tạm ngừng đàm phán để về xin chỉ thị Chính phủ mình. Ngày 16-12, Kít-xinh-giơ đột nhiên họp báo và đổ lỗi cho Việt Nam dân chủ cộng hòa kéo dài đàm phán. Ngày 18-12, máy bay chiến lược B-52 của Mỹ giội bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác. Phía Mỹ gọi đó là cuộc tập kích chiến lược, mà mục tiêu trực tiếp như Ních-xơn nói: “Dùng đòn đánh mạnh nhất để thúc đẩy thương lượng”. Kít-xinh-giơ cũng nói rằng: “Tung con át chủ bài cuối cùng”. Giữa chừng cuộc ném bom, Mỹ gửi công hàm đề nghị ta nối lại đàm phán, chắc mẩm rằng đòn sấm sét Nô-en sẽ buộc ta phải chấp nhận những gì Mỹ đòi. Ta trả lời, đàm phán chỉ có thể chừng nào Mỹ trở lại tình hình trước ngày 18-12, tức là ngừng ném bom vô điều kiện. Ngày 30-12, cuộc ném bom hoàn toàn chấm dứt. Và ngày 8-1-1973, đàm phán Pa-ri nối lại.

Rõ ràng là, nếu không bị đòn chết điếng trong dịp lễ Giáng sinh thì cái đầu nóng của Ních-xơn không dễ gì nguội lạnh nhanh như vậy. Pháo đài bay của Mỹ không lật được thế cờ. Ngày 23-1-1973, cố vấn Lê Đức Thọ, đại diện cho Việt Nam Dân chủ cộng hòa và cố vấn Kít-xinh-giơ, đại diện cho Hoa Kỳ đã ký tắt bản về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ngày 27-1-1973, bốn bên Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời, Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn đã ký chính thức bản Hiệp định đó.

Hiệp định Pa-ri là kết quả thắng lợi cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân ta trong suốt 18 năm kể từ năm 1955, là kết quả trực tiếp của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

TAM ĐIỆP (lược ghi)

* Ông Nguyễn Văn Trân, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội:

Quân và dân Hà Nội đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương và các lực lượng

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, TP Hà Nội đã sơ tán hơn 50 vạn dân. Để tổ chức cho đồng bào đi sơ tán an toàn, chặt chẽ, chu đáo, TP Hà Nội đã phối hợp với các tỉnh lân cận bố trí nơi ăn ở. Không chỉ vậy, việc học tập của học sinh các trường tiểu học, trung học cơ sở vẫn bảo đảm. Quá trình chiến đấu, đánh trả không quân địch, quân và dân TP Hà Nội đã kiên cường, dũng cảm, tiêu diệt nhiều máy bay và bắt sống giặc lái, góp phần làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Ông Nguyễn Văn Trân.

Có được kết quả trên là bởi nhiều yếu tố, trước hết phải kể đến công tác tổ chức phòng không chu đáo; hệ thống báo động của thành phố kịp thời. Cùng với đó, toàn thành phố đã triển khai và thực hiện tốt 3 nhiệm vụ, đó là: Các nhà đều có hầm trú ẩn; Nơi công sở, các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy đều có hầm trú ẩn; Trên các đường phố đều có hố cá nhân. Do đó, mỗi khi báo động có máy bay, mọi người dù ở nhà hay đang làm việc hoặc đi trên đường đều có vị trí trú ẩn, hạn chế được thương vong, đổ máu. Đây là một trong những hình thức phòng không mặt đất mang lại hiệu quả cao của hệ thống phòng không thành phố Hà Nội lúc bấy giờ.

Để bảo đảm sản xuất, một số nhà máy, xí nghiệp quan trọng phải sơ tán, số còn lại vẫn tiếp tục vừa sản xuất vừa chiến đấu. Phần lớn các tự vệ là cựu chiến binh thời chống Pháp, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu nên được trang bị các súng máy phòng không 14,5mm và 12,7mm… nên khi phối hợp, hiệp đồng với bộ đội chủ lực bắn máy bay địch tầm thấp rất hiệu quả. Nhằm đánh lạc hướng giặc lái, lực lượng phòng không trên địa bàn thành phố lúc bấy giờ liên tục di chuyển các trận địa pháo. Quá trình di chuyển diễn ra hết sức khẩn trương, được các tầng lớp nhân dân ủng hộ nên giặc lái Mỹ rất bất ngờ mỗi khi quay lại ném bom. Lực lượng tự vệ Hà Nội tại chỗ không chỉ phối hợp chặt chẽ với các lực lượng bắn máy bay địch ở tầm thấp mà còn cắt cử người theo dõi mỗi đợt đánh phá của địch có bao nhiêu loại bom, nếu có bom nổ chậm đánh dấu, khoanh vùng để mọi người không vào vị trí nguy hiểm, đồng thời phối hợp với các đơn vị công binh đến xử lý kịp thời. Nhờ có sự chủ động chuẩn bị chu đáo và tinh thần đoàn kết, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong đánh trả không quân địch nên thành phố Hà Nội vẫn vững vàng sau 12 ngày đêm bị giặc Mỹ rải thảm bom B-52…

KHÁNH CHI (lược ghi)

* Đại tá Nghiêm Đình Tích, nguyên Đài trưởng Đại đội Ra-đa 45, Trung đoàn Ra-đa 291:

Xác định chính xác B-52, không để Tổ quốc bị bất ngờ

Mặc dù địch đã phát huy cao độ sức mạnh quân sự, nhất là trong lĩnh vực tác chiến điện tử và vũ khí công nghệ cao nhưng chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1972 đã bị thất bại rất nặng nề. Trong chiến dịch này, ta đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ trong đó có 34 chiếc B-52 với 16 chiếc B-52 rơi tại chỗ. Công đầu trong chiến thắng vĩ đại của chiến dịch thuộc về bộ đội ra-đa phòng không. Mặc dù địch đã tập trung toàn bộ các thiết bị gây nhiễu rất hiện đại hòng “bịt mắt” toàn bộ hệ thống ra-đa phòng không của ta, nhưng bộ đội ra-đa đã không để Tổ quốc bị bất ngờ trước đòn tập kích đường không chiến lược của địch và bảo đảm vô điều kiện cho các lực lượng phòng không chiến dịch giành thắng lợi.

Đại tá Nghiêm Đình Tích.

Trong chiến dịch này, Bộ tư lệnh Binh chủng Ra-đa cho mở máy 355 lần đại đội với 447 lần đài ra-đa kết hợp với các vọng quan sát mắt đã phát hiện và xác định chính xác B-52, báo động sớm trong trận đầu, đêm đầu cho Hà Nội 35 phút, các đêm sau từ 50 đến 60 phút. Do được bảo đảm ra-đa tốt, các cấp chỉ huy chiến dịch-chiến lược đã nắm chắc tình hình địch, hạ quyết tâm chiến đấu kịp thời, chính xác; các lực lượng phòng không, không quân được chuyển cấp chiến đấu sớm, chủ động đánh B-52, lập nên kỳ tích có một không hai trong lịch sử tác chiến phòng không trên thế giới. Theo tài liệu “Tổng kết bộ đội ra-đa phục vụ chiến dịch phòng không… năm 1972” thì trong chiến dịch này, Trung đoàn Ra-đa 291 đã phát hiện được 151 trên tổng số 165 tốp B-52, đạt 91,6%; Trung đoàn Ra-đa 290 đạt 76%; Trung đoàn Ra-đa 292 đạt 55,4%; Trung đoàn ra-đa 293 đạt 44,5%. Trong chiến dịch này, Bộ đội Tên lửa phòng không xứng đáng là lực lượng nòng cốt và chủ yếu bắn rơi B-52, tích cực góp phần đánh bại chiến dịch tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ. Chỉ tính riêng trong số 34 chiếc B-52 bị bắn rơi thì Bộ đội Tên lửa phòng không đã bắn rơi 29 chiếc, trong đó có 16 chiếc B-52 rơi tại chỗ. Trong chiến dịch, Bộ đội Không quân đã xuất kích 24 lần, bắn rơi 7 máy bay địch, trong đó có 2 chiếc B-52, 4 chiếc F4-D và 1 chiếc RA5C…

Đây là lần đầu tiên trên thế giới, đế quốc Mỹ bị thảm bại trong chiến dịch tập kích đường không chiến lược và bị bắn rơi nhiều B-52 đến thế. Sau cuộc chiến tranh Việt Nam, đã có một số chiến dịch tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52. Mặc dù các nước đó có nhiều vũ khí phòng không hiện đại hơn ta nhưng chưa có nước nào bắn rơi được máy bay ném bom chiến lược B-52 của Mỹ. Điều đó càng tôn vinh chiến thắng vĩ đại “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của bộ đội phòng không Việt Nam.

Trong tác chiến phòng không ngày càng hiện đại, khi chiến tranh điện tử và vũ khí công nghệ cao phát triển thì công tác tác chiến điện tử phải được coi là biện pháp tác chiến chiến lược hết sức quan trọng, có tính chất quyết định đến thành bại của cuộc chiến tranh. Vì vậy, tôi cho rằng cần quan tâm đầu tư xây dựng và tổ chức thêm lực lượng, phương tiện tác chiến điện tử, nhất là lực lượng và phương tiện phản điện tử với địch (hệ thống gây nhiễu các thiết bị vô tuyến của địch, lực lượng trinh sát, đánh phá các nguồn gây nhiễu chủ yếu của địch) để kiện toàn tổ chức và xây dựng hoàn chỉnh nghệ thuật tác chiến điện tử của Quân chủng Phòng không – Không quân, kịp thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến phòng không hiện đại trong thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc…

LÊ MY (lược ghi)
qdnd.vn

Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội”: Chương trình công phu, tâm huyết

QĐND – Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Đài PT-TH Hà Nội phối hợp với Báo Quân đội nhân dân, Sư đoàn Phòng không Hà Nội (Sư đoàn 361) tổ chức cầu truyền hình đặc biệt mang tên “Bản hùng ca Hà Nội”.

Trong buổi họp báo giới thiệu cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội” vào sáng 13-12, tại Đài PT-TH Hà Nội, ban tổ chức đã hé lộ với giới truyền thông nhiều thông tin quan trọng quanh việc tổ chức, kịch bản, khách mời… của cầu truyền hình đặc biệt này, được truyền hình trực tiếp vào 20 giờ ngày 16-12 tại kênh 1 và 2 Đài PT-TH Hà Nội; Đài PT-TH Đồng Nai, Quảng Trị, Sơn La, Tuyên Quang, Điện Biên tiếp sóng.

Ông Trần Gia Thái, Tổng giám đốc Đài PT-TH Hà Nội khẳng định: “Chương trình không chỉ đơn thuần tái hiện lại kỷ niệm, ký ức mà điều chúng tôi muốn nói tới là tinh thần bất khuất và bản lĩnh trí tuệ Việt Nam”.

Nét mới của chương trình chính là sự cải tiến về hình thức thể hiện, “Bản hùng ca Hà Nội” không diễn ra trong những khán phòng, studio được bài trí cứng nhắc, với màn giao lưu chiếm nhiều thời gian của MC với khách mời. Thay vào đó, ban tổ chức đã mềm hóa sân khấu tại 5 điểm cầu, là những di tích, trận địa khác nhau để tái hiện rõ nét và mang đến cho khán giả những hình dung rõ nét hơn về những ngày đêm lịch sử hào hùng của dân tộc cách đây 40 năm. 5 điểm cầu ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Sư đoàn Phòng không Hà Nội, Bảo tàng Chiến thắng B-52, Đài tưởng niệm Khâm Thiên, Trận địa tên lửa Chèm; trong đó, điểm cầu tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam sẽ là điểm cầu chính.

Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân (người đứng phát biểu) khẳng định: “Thủ đô Hà Nội đã rất bình tĩnh, rất văn hóa trong những ngày tháng chiến tranh ác liệt”.

Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân tâm sự: “Chúng tôi rất hồi hộp, chương trình đã được nhiều đài truyền hình tiếp sóng, đồng bào cả nước đang đón đợi cầu truyền hình đặc biệt “Bản hùng ca Hà Nội”. Câu chuyện chính trong chương trình sẽ là quân và dân Hà Nội, trong đó Sư đoàn Phòng không Hà Nội là nhân vật chính. 5 điểm cầu trong chương trình là những điểm cầu rất đắt, có được sự bao quát toàn diện, kể lại những câu chuyện hết sức phong phú, giàu tính nghệ thuật. Đến thời điểm này, công sức của Đài PT-TH Hà Nội, Báo Quân đội nhân dân, Sư đoàn Phòng không Hà Nội đã được đền đáp xứng đáng. Tôi hy vọng tối 16-12, sẽ có thêm nhiều đài truyền hình tiếp sóng chương trình đặc biệt này”.

Những cuộc trò chuyện, giao lưu, biểu diễn văn nghệ tại mỗi điểm cầu sẽ gắn liền với bối cảnh thực, phông nền sẽ là các hiện vật cụ thể như máy bay, tên lửa, trạm ra-đa… MC cùng khách mời giao lưu trên xe điều khiển, phía sau bộ đội vẫn làm việc bình thường.

Bối cảnh luôn thay đổi sau mỗi lần trò chuyện và trong tổng thể cả chương trình, không có cảnh nào lặp lại. Để khắc phục tính nhàm chán, đơn điệu của những cuộc giao lưu truyền thống, tiết tấu của chương trình sẽ được đẩy nhanh hơn, mỗi cuộc trò chuyện, tiết mục văn nghệ không kéo dài quá 5 phút.

Người xem sẽ được biết mặt những nhân vật góp phần làm nên chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” 40 năm trước. Đó là Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đình Kiên, người tham gia bắn rơi 4 chiếc B-52, trong đó có kỷ lục bắn rơi 2 chiếc B-52 trong vòng 9 phút chỉ với 2 quả tên lửa SAM-2; là Trung tá Dương Thuận, người ấn nút bắn rơi tại chỗ chiếc B-52 đầu tiên trên thế giới, là Phạm Thị Viễn, nữ tự vệ cùng đồng đội bắn rơi máy bay F111 đêm 22-12-1972, cũng chính là người con gái được nhà thơ Tố Hữu nhắc đến trong bài thơ: Việt Nam: Máu và hoa…

Tất cả các tiết mục văn nghệ trong chương trình sẽ được hát live và chơi nhạc sống. Tại điểm cầu Khâm Thiên, nhạc sĩ Phú Quang và hai người con sẽ thể hiện ca khúc Em ơi Hà Nội phố trong chính ngôi nhà của nhạc sĩ tại phố Khâm Thiên.

Đại tá Đặng Đình Tuấn, Chính ủy Sư đoàn Phòng không Hà Nội cho hay: “Sư đoàn Phòng không Hà Nội, tiền thân là Bộ tư lệnh Phòng không Hà Nội tự hào bắn rơi 25/34 máy bay B-52 trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, trong đó có 16 chiếc B-52 rơi tại chỗ. Vinh dự cho chúng tôi, sau năm 1972 tiếp tục được nhận nhiệm vụ bảo vệ thủ đô Hà Nội”.

Trong buổi họp báo, ban tổ chức cũng cho hay, ca khúc Hà Nội niềm tin và hy vọng sẽ được “hàn lâm hóa” qua ba giọng ca của ca sĩ Opera Kyo York (Mỹ), Cho Hea Ryong, Park Sung Min (Hàn Quốc) cùng dàn hợp xướng quốc tế; đệm nhạc sẽ là clarinet Đào Nhật Quang, piano Trang Trịnh và dàn nhạc giao hưởng Quốc gia Việt Nam. Các nghệ sĩ quốc tế biểu diễn ca khúc Hà Nội niềm tin và hy vọng sẽ mặc áo dài. Bên cạnh đó là những tiết mục ca nhạc nghệ thuật, được biểu diễn bởi các ca sĩ hàng đầu Việt Nam như Mỹ Linh, Trọng Tấn…

Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội” có thời lượng 150 phút.

Bài và ảnh: ĐÌNH HÙNG
qdnd.vn

Thành phố Hải Phòng: Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Sáng 13-12, thành phố Hải Phòng tổ chức lễ kỷ niệm và chương trình giao lưu “Âm vang 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Cùng với quân dân Thủ đô, quân dân Hải Phòng đã dũng cảm, kiên cường đối đầu với không quân, hải quân địch qua hai cuộc chống chiến tranh phá hoại và phong tỏa; bắn rơi 317 máy bay phản lực hiện đại, bắt sống 16 phi công địch, trong đó, Sư đoàn Phòng không 363 (Đoàn phòng không Hải Phòng) bắn rơi 257 máy bay địch, góp phần cùng cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, quân và dân Hải Phòng đã chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, góp phần lập nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Phát huy truyền thống “Trung dũng-quyết thắng”, những năm gần đây, Đảng bộ, chính quyền, quân dân thành phố phát huy nội lực, thu hút ngoại lực, hăng hái thi đua lao động sản xuất, bảo vệ quê hương, phấn đấu xây dựng Hải Phòng cơ bản trở thành thành phố công nghiệp, dịch vụ cảng hiện đại vào năm 2015.

NGUYỄN THƠM
qdnd.vn

Gần 550 tác phẩm tham gia triển lãm về Chiến thắng B-52

QĐND Online – Sáng 13-12, tại Bảo tàng Phòng không-Không quân (171 Trường Chinh-Hà Nội), Cục Chính trị Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ) và Thư viện Quân đội đã tổ chức khai mạc triển lãm tranh, ảnh, sách báo, ấn phẩm văn hóa “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Được trưng bày tại triển lãm có 25 bức tranh sơn dầu, 19 tranh cổ động, 2 tượng, của 30 tác giả là họa sĩ của Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hội Mỹ thuật Hà Nội và các thế hệ chiến sĩ vẽ của Quân chủng PK-KQ.

100 ảnh tư liệu của nhiều tác giả, 400 cuốn sách xuất bản ở trong và ngoài nước viết về “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” cũng được trưng bày tại triển lãm. Nội dung các cuốn sách tập trung chủ yếu vào 9 nội dung lớn, đó là: Sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; Quân đội nhân dân anh hùng-Truyền thống vẻ vang; Chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”; Ý nghĩa bài học chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”; Thế giới viết về Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”; Quân đội nhân dân Việt Nam trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc; Bộ đội PK-KQ anh hùng.

“Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, “Hà Nội, bản hùng ca”, “Hà Nội tháng Chạp năm ấy”, “Năm 1972 lịch sử”…là những đĩa phim tài liệu, cũng được giới thiệu trong triển lãm lần này.

Ông Phạm Nguyên Hùng, nguyên Tổ trưởng Tổ vẽ của Quân chủng PK-KQ, tác giả của bức tranh sơn dầu “Chiến tích Điện Biên Phủ trên không”, chia sẻ, những ngày cuối tháng Chạp năm 1972, chứng kiến không quân địch rải thảm xuống Hà Nội, ông và nhiều họa sĩ đã dồn hết nỗi xót xa, căm giận quân thù và tình yêu Tổ quốc vào những bức ký họa.

Đêm 27-12-1972, một máy bay B-52 của Mỹ đã bị bộ đội tên lửa bắn rơi xuống hồ Hữu Tiệp (Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội). Ngay sau đó, ông Phạm Nguyên Hùng đã đến Ngọc Hà, ký họa lại hình ảnh “con ngáo ộp” đang phơi xác trên hồ. Năm 2010, ông thể hiện nội dung trên bức ký họa trên chất liệu sơn dầu. “Trong bức tranh của tôi, con ngáo ộp B-52 đã trở thành “ếch ngồi đáy giếng”. Con ếch đó bị hạ gục vì chủ quan, vì không hiểu hết sức mạnh của quân và dân ta”, ông Hùng chia sẻ.

Thiếu tướng Phan Thanh Giảng, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng PK-KQ mong muốn, thông qua đợt triển lãm này, khách tham quan, đặc biệt là thế hệ trẻ sẽ hiểu biết sâu sắc hơn về Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, từ đó có đóng góp xứng đáng cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Theo kế hoạch, triển lãm sẽ mở cửa đến hết ngày 30-12-2012.

Một số hình ảnh tại triển lãm:

Cắt băng khai trương triển lãm

Một trong 19 tranh cổ động được trưng bày tại triển lãm

Ông Phạm Nguyên Hùng bên tác phẩm “Chiến tích Điện Biên Phủ trên không”

Tượng “Bà mẹ và phi công”

Khách tham quan, tìm hiểu tại triển lãm sáng 13-12

Tin, ảnh: HOÀNG HÀ-DUY ĐÔNG
qdnd.vn

Giao lưu “Người lính với bầu trời Hà Nội”

QĐND Online – Đại tá Nguyễn Đình Kiên, nguyên Cục phó Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu và Thượng tá, phi công Nguyễn Công Huy đã tham gia giao lưu trong chương trình “Người lính với bầu trời Hà Nội” kỷ niệm 40 năm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không diễn ra vào chiều 12-12, tại Hà Nội do Cục Chính trị TCCT, Cục Chính trị BTTM và Thư viện Quân đội phối hợp tổ chức.

Tại buổi giao lưu, Đại tá Nguyễn Đình Kiên đã kể về những ngày đêm đánh B52 của Mỹ trên bầu trời Hà Nội. Ông chính là sĩ quan điều khiển của Tiểu đoàn 57 Anh hùng thuộc Trung đoàn 261, đơn vị lập kỷ lục bắn rơi 4 máy bay B52. Đại tá Nguyễn Đình Kiên cũng là tác giả của cuốn hồi ký “Người lính với bầu trời Hà Nội” – bộ sách kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không do Nhà xuất bản Quân đội vừa phát hành.

Giao lưu “Người lính với bầu trời Hà Nội”.

Tham gia vào chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Thượng tá Nguyễn Công Huy là phi công lái máy bay tiêm kích MiG-21 đã chiến đấu nhiều trận và lập nhiều chiến công. Ông cũng là đồng đội của Anh hùng Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều-những phi công đã hạ gục B52 trên bầu trời Hà Nội.

Qua câu chuyện của các nhân chứng lịch sử, người xem hiểu rõ hơn về những năm tháng chiến đấu dũng cảm, kiên cường của quân và dân để làm nên chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Xen kẽ giữa buổi giao lưu là chương trình ca múa nhạc gồm các ca khúc như: “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không” của nhạc sĩ Phạm Tuyên; “Tên lửa ta đánh rất hay” của nhạc sĩ Huy Thục… thể hiện khí thế chiến đấu của người Hà Nội trong 12 ngày đêm đánh B52.

Tin, ảnh: K.HUYỀN
qdnd.vn

Những kỷ niệm không quên của đoàn làm phim “Hà Nội 12 ngày đêm”

QĐND – Chiều12-12, tại Sư đoàn Không quân 371, các nghệ sĩ, diễn viên điện ảnh đoàn làm phim “Hà Nội 12 ngày đêm”, phim tài liệu “Ký ức một thời” đã có buổi giao lưu với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn. Đây là hoạt động mở màn trong chuỗi các hoạt động văn hóa, nghệ thuật kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” được Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch, Cục Điện ảnh phối hợp với các đơn vị quân đội tổ chức.

Đoàn làm phim “Hà Nội 12 ngày đêm” giao lưu với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 371

Trong không khí ấm áp, các nghệ sĩ, diễn viên đã chia sẻ những kỷ niệm, cảm xúc của đoàn làm phim, đặc biệt là chọn bối cảnh phim và diễn xuất để dàn dựng những bộ phim miêu tả lại cuộc chiến 12 ngày đêm của cán bộ, chiến sĩ Quân chủng PK-KQ và Sư đoàn 371 một cách chính xác và sinh động, xây dựng nên một bộ phim mang biểu tượng của ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc, của bản lĩnh, trí tuệ và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Tin, ảnh: VƯƠNG HÀ
qdnd.vn

Bệ phóng tên lửa diệt B-52

Hiện vật biết nói

QĐND – Tham quan khu lưu niệm của Trung đoàn 261 (Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không-Không quân), chúng tôi đặc biệt quan tâm tới một bệ phóng tên lửa được trưng bày ở vị trí trang trọng. Thượng tá Lê Thành Đức, Chính ủy Trung đoàn 261 giới thiệu: “Đây là bệ phóng tên lửa của Tiểu đoàn 57 đã lập nên kỳ tích phóng 2 quả tên lửa tiêu diệt 2 pháo đài bay B-52 trong thời gian 10 phút”.

Bệ phóng tên lửa của Tiểu đoàn 57 năm xưa.

Đêm thứ 4 trong chiến dịch oanh tạc Hà Nội, sau 2 đợt ném bom một số khu vực trên địa bàn Thủ đô, rạng sáng 21-12-1972, một tốp máy bay B-52 của đế quốc Mỹ tiếp tục xuất kích “rải thảm” khu vực Yên Viên. Tiểu đoàn 57 thuộc Trung đoàn 261 được lệnh tiếp tục bám sát mục tiêu nhưng số lượng đạn quá ít, chỉ còn lại 3 quả. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt trực tiếp chỉ huy kíp chiến đấu gồm một sĩ quan điều khiển và 3 trắc thủ xác định quyết tâm không để đạn phóng đi uổng phí. Tốp B-52 đầu tiên vào đến cự ly 35km trong tầm sát thương, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt hạ lệnh phóng quả đạn thứ nhất nhưng đèn tín hiệu báo trục trặc kỹ thuật bật sáng, đạn không thể rời bệ phóng. Lập tức anh hạ lệnh nhấn nút hoàn lại quả thứ nhất rồi hạ lệnh tiếp tục phóng quả thứ 2. Kíp trắc thủ gấp rút thao tác, căng mắt bám sát dải nhiễu, khéo léo điều chỉnh tên lửa chính xác mục tiêu. Một cột khói bốc cao, ánh lửa bùng lên dữ dội. Chiến sĩ quan sát báo cáo, chiếc B-52 cháy ở cự ly 25km, vào lúc 5 giờ 9 phút.

Thừa thắng xông lên, kíp trắc thủ tiếp tục nhận lệnh tiêu diệt chiếc B-52 trong tốp thứ 2. Chỉ còn quả đạn duy nhất, không thể phóng trượt, cả kíp trắc thủ hết sức thận trọng, mọi thao tác diễn ra nhanh chóng, chuẩn xác; công tác hiệp đồng ăn khớp, bám đúng dải nhiễu B-52. Đợi cho chúng bay vào cự ly sát thương hiệu quả, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt hạ lệnh phóng nốt quả đạn còn lại. Mặc dù trên màn hiện sóng, các dải nhiễu liên tục biến đổi nhưng kíp trắc thủ vẫn bình tĩnh vận dụng mọi kiến thức, kinh nghiệm, phân tích dải nhiễu, bám tín hiệu mục tiêu máy bay B-52, điều khiển đạn đi trúng đích. Đạn nổ ở cự ly 24km làm tan xác thêm một chiếc B-52, rơi xuống địa phận núi Đôi (Sóc Sơn ngày nay). Thời gian lúc đó là 5 giờ 19 phút.

Như vậy, chỉ trong vòng 10 phút, bằng 2 quả đạn, kíp trắc thủ của Tiểu đoàn 57 đã bắn rơi tại chỗ 2 pháo đài bay B-52 của đế quốc Mỹ, đạt hiệu suất chiến đấu 300%, lập kỷ lục cho bộ đội tên lửa.

Bài và ảnh: HOÀNG THÀNH
qdnd.vn