Tag Archive | Tin tức

Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc

– Ngày 22/6/1946, mở đầu chuyến thăm chính thức nước Cộng hoà Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm bày tỏ sự thân thiện giữa 2 quốc gia và tìm giải pháp cho việc xác lập mối quan hệ giữa hai nước bằng một cuộc đàm phán sẽ diễn ra cùng thời gian này tại Fontainebleau.

Từ Biarritz, máy bay của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hạ cánh xuống sân bay Le Bourget của thủ đô Paris nơi diễn ra lễ đón tiếp trọng thể  với những nghi thức  quốc gia.

Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại cùng nhiều thành viên trong Chính phủ, đông đảo nhân dân Pháp và bà con Việt kiều đã nghênh tiếp. Đoàn lưu lại tại Khách sạn Royal Monceau gần Phủ Tổng thống.

Ngay tại sân bay, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước máy ghi âm của Hãng Thông tấn Pháp AFP: “Tôi rất lấy làm bằng lòng được đặt chân lên đất của một nước đã chịu đau khổ nhiều vì lý tưởng và tự do. Cảm ơn Chính phủ và dân chúng Pháp tiếp đãi tôi một cách long trọng. Mong sau này hai dân tộc Pháp và Việt Nam cộng tác một cách bình đẳng, thật thà và thân thiện”.

Cuộc viếng thăm nước Pháp kéo dài tới tận ngày 16/9/1946, Bác mới rời Paris sau khi ký được một bản “Tạm ước” (14/9) với Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại nhằm cứu vãn nguy cơ chiến tranh.

Từ Paris đi tàu hoả tới thành phố Marseille rồi đi cảng Toulon. Ngày 18/9, Bác xuống tàu “Dumont D’ Urville” cùng với một số trí thức tình nguyện về nước phục vụ, trong đó có bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa)… Tàu rời cảng, cho tới ngày 20/10/1946 mới về tới Cảng Hải Phòng và ngày hôm sau (21/10) trở về Hà Nội bằng tàu hoả.

d

Một năm sau, hai nước đã ở trong tình trạng chiến tranh, ngày 22/6/1947, tại chiến khu, trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một là Chính phủ Việt Nam gồm rất nhiều đảng phái, hai là chính sách Việt Nam rất rõ rệt: cốt làm cho nước Việt Nam thống nhất và độc lập, làm cho dân được tự do và khỏi khổ, khỏi dốt. Bao giờ nước Việt Nam được thật thà thống nhất và độc lập thì chiến tranh sẽ kết liễu”.

Đề cập tới tới một chương trình kiến thiết, người đứng đầu nhà nước kháng chiến cho biết: “Chương trình kiến thiết của Việt Nam bước đầu tiên là làm cho dân khỏi khổ, khỏi dốt. Muốn như thế thì chúng tôi phải ra sức tăng gia sản xuất, muốn tăng gia sản xuất rộng rãi và chóng có kết quả thì chúng tôi cần có tư bản, trí thức và lao đông. Dân Việt Nam rất siêng năng và chịu khó, cho nên chúng tôi đủ sức lao động. Việt Nam có rất nhiều phụ nguyên, chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước công tác thật thà với chúng tôi”.

Đề cập tới vai trò của trí thức, Bác khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chứng thực một phần quan trọng… Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”.

X&N
bee.net.vn

“Phải kính trọng độc lập và tự do của mọi dân tộc”

 – Ngày 19/6/1947, nhân tròn nửa năm Toàn quốc Kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi, trong đó nhấn mạnh: “Đồng bào ta đại đoàn kết. Toàn dân ta chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ. Chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước. Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.

Sự đồng tâm của đồng bào đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại… Địch muốn dùng cách đánh mau, thắng mau. Nếu chiến tranh kéo dài, hao binh tổn tướng, chúng sẽ thất bại…Thế địch như lửa. Thế ta như nước. Nước nhất định thắng lửa…

Về mặt tinh thần địch đã hoàn toàn thất bại, ta đã hoàn toàn thắng lợi… Chúng ta quyết hy sinh chịu khổ và gắng sức 5 năm, 10 năm để phá tan cái xiềng xích nô lệ 80 năm vừa qua, để tranh lấy quyền thống nhất và độc lập cho muôn đời sắp đến… Chúng ta đã đồng tâm nhất trí. Chúng ta nhất định sẽ thắng lợi”.

Trong lời kêu gọi nhân dân thế giới được viết sau đó (20/6/1947), Bác viết: “Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp đều chung một lý tưởng: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp có một mục đích chung: cộng tác thân thiện và bình đẳng giữa hai dân tộc.

dChủ tịch Hồ Chí Minh trên chiến khu Việt Bắc.

Chúng tôi rất mong các bạn cùng chúng tôi hành động để ngăn trở bọn thực dân phản động phá hoại cái lý tưởng chung, lợi ích chung và tình nghĩa của hai dân tộc ta”. Lời kêu gọi còn hướng đến các dân tộc châu Á và “các nhân sĩ dân chủ trên thế giới”: “Mong các bạn lên tiếng ủng hộ hoà bình, ủng hộ chính nghĩa, ủng hộ dân chủ, ủng hộ Việt Nam”.

Ngày 19/6/1948, nhân “kỷ niệm 1000 ngày kháng chiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi một văn kiện đăng trên báo “Vệ Quốc” có nhan đề “Các tướng sĩ yêu mến tiến lên!” trước hết biểu dương danh sách “những bộ đội đã làm cho giặc Pháp thiệt hại nhiều, đã có thành tích vẻ vang” và “Tôi cũng phải nhắc đến những bộ đội du kích phụ lão và phụ nữ cùng các chú liên lạc đã tỏ ra rất oanh liệt, đã làm cho thế giới biết rằng: người già, đàn bà, trẻ con Việt Nam đều là những chiến sĩ yêu nước và dũng cảm tranh đấu hy sinh cho Tổ quốc… Song những tiến bộ và thành tích ấy mới là bước đầu. Trong cuộc thi đua ái quốc tới đây, các bạn phải tiếp tục tiến bộ mau hơn nữa, nhiều hơn nữa. Các bạn phải thi đua nhau đánh những trận to lớn hơn nữa, giết giặc nhiều hơn nữa, cướp nhiều súng hơn nữa…”.

X&N
bee.net.vn

“Những lời thô thiển mà thiết thực”

– Ngày 16/6/1947, nửa năm sau ngày Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi các nhân viên cơ quan chính phủ” nhằm động viên đội ngũ những công chức của nhà nước kháng chiến xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau đang chịu đựng nhiều gian khổ, thiếu thốn. Bức thư còn chia sẻ những quan niệm và kinh nghiệm sống của một nhà cách mạng từng trải.

Thư có đoạn: “Những anh chị em ở tiền phương đem xương máu giữ gìn Tổ quốc, là chiến sĩ. Những anh chị em ở hậu phương, đem tài năng giúp việc Chính phủ cũng là chiến sĩ. Những chiến sĩ ăn gió nằm sương, xung phong hãm trận, chết sống không biết cũng là hy sinh. Những chiến sĩ ở hậu phương lên dốc xuống đèo, ăn túng mặc thiếu, ốm khoẻ bao giờ không biết, cũng là hy sinh. Tuy cách hy sinh khác nhau, nhưng tiền phương và hậu phương đều vì Tổ quốc, vì đồng bào hy sinh…”.

  16-6-1960 HCM thăm trường Bổ túc văn hóa công nông TƯ đật tại trường ĐHBKhoa HN_1.jpgNgày 16/6/1960, Chủ tịch Hồ  Chí Minh thăm trường Bổ túc văn hóa công nông TƯ đặt tại trường ĐHBK Hà Nội

Còn đối với những nhân viên cơ quan của Chính phủ tuy ở hậu phương nhưng cũng gặp nhiều khó khăn“Nói tóm lại là bây giờ ai cũng khó nhọc và cực khổ…Vậy tôi xin lấy địa vị là như một người anh và đem kinh nghiệm của cá nhân khuyên gắng các bạn :

1. Người mà chịu được khổ, thì việc to lớn, khó khăn mấy cũng làm được.

2. Ta đã biết cần phải chịu khổ, thì ta chịu một cách vui vẻ, dần dần ta sẽ không lấy làm khổ.

3. Chúng ta đem tinh thần mà chiến thắng vật chất, chúng ta vì nước, vì dân mà chịu khổ, một cái khổ rất có giá trị, thì vật chất càng khổ tinh thần càng sướng.

4. Chiến sĩ ở tiền phương đã khổ mà lại luôn luôn ở dưới mưa bom sóng đạn. So với họ thì ta ở hậu phương chưa khổ mấy.

5. Khổ tận thì cam lai (hết đắng cay, ngọt bùi sẽ tới). Khổ này chỉ là khổ tạm thời, kháng chiến thành công thì sẽ hết khổ.

Trường kỳ kháng chiến là một viên đá thử vàng đối với mỗi một quốc dân, đồng thời là một trường học để rèn luyện cho cán bộ”.

Vị nguyên thủ kháng chiến còn chia sẻ kinh nghiệm: “Chớ không bao giờ ngồi không. Lúc rảnh việc thì nên nghiên cứu các vấn đề, hoặc theo sức mình tăng gia sản xuất. Như thế đã bổ ích cho thân thể lại vui cho tinh thần. Chớ tắm nước lã nhiều quá. Chớ uống nước lã, chớ ăn no quá, chớ ngủ trưa nhiều”. Và kết luận: “Đó là những lời thô thiển nhưng mà thiết thực”.

X&N
bee.net.vn

“Tôi thật thà tự phê bình khuyết điểm của tôi”

– Vào giữa tháng 6/1950, Bác viết thư “Gửi đồng bào Liên khu IV” nhân nảy sinh một số hiện tượng “cán bộ làm sai chỉ thị của Chính phủ và đường lối của đoàn thể” khiến nhân dân ở nhiều nơi bị phiền nhiễu, oan ức.

Bức thư phân tích và phê phán những loại cán bộ kém phẩm chất: “Họ xa rời nhân dân, không hiểu biết nhân dân. Làm việc thì dùng mệnh lệnh, chứ không biết tuyên truyền cổ động… thậm chí họ dùng những cách ép uổng, cưỡng bức, bắt bớ dân.

Nghe các ông thanh tra báo cáo lại những việc đó, tôi rất đau lòng! Dù Chính phủ đã ra lệnh trừng trị những cán bộ đó, tôi phải thật thà xin lỗi những đồng bào vì những cán bộ sai lầm mà bị oan ức. Tôi thật thà tự phê bình khuyết điểm của tôi – là giáo dục và lựa chọn cán bộ chưa được chu đáo”.

15-6-1957 HCM thăm trại Nhi đồng thành phố Vinh,Nghệ An nhân dịp Người về thăm quê_1.jpg (74KB)Ngày 15/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm trại Nhi đồng thành phố Vinh, Nghệ An nhân dịp Người về thăm quê.

Bức thư bày tỏ: “Tôi lại xin nói với đồng bào: Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm… Khi ai đó có điều oan ức thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là tất cả quyền dân chủ của tất cả các công dân Việt Nam. Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền ấy…

Tôi mong rằng từ nay, các cán bộ đều biết phê bình và tự phê bình, đều cố gắng sửa đổi lối làm việc, theo đúng đường lối của Chính phủ và Đoàn thể hợp với lòng dân. Cán bộ cấp trên phải luôn luôn đôn đốc và kiểm tra cấp dưới. Nhân dân thì giúp Chính phủ và Đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ…”

Bức thư này đã được in ra gửi tới tất cả các xã trong Liên khu và đến ngày 2/7/1950, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra “Chỉ thị về việc kiểm thảo để sửa đổi nề nếp vận động nhân dân theo thư Hồ Chủ tịch”.

X&N
bee.net.vn

Lời kêu gọi thi đua ái quốc

– Ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” theo tinh  thần của Chỉ thị phát động phong trào thi đua của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (27/3/1948).

Lời kêu gọi nêu rõ: “Mục đích thi đua ái quốc là: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.

Cách làm là: dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để: hạnh phúc cho dân…

Vì vậy bổn phận của người Việt Nam là, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì đều cần phải thi đua: Làm cho mau, làm cho tốt, làm cho nhiều.

Ngày 11/6/1946, lễ đón chính thức Chủ tịch Hồ Chí Minh  tại sân bay Le Bourget ở ParisNgày 11/6/1946, lễ đón chính thức Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay Le Bourget ở Paris


Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hoá. Thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân kháng chiến, tòan diện kháng chiến

Trong cuộc Thi đua ái quốc, chúng ta : vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.

Kết quả đầu tiên của Thi đua Ái quốc sẽ là: Toàn dân đủ ăn đủ mặc. Toàn dân biết đọc, biết viết. Toàn bộ đội đầy đủ, lương thực khí giới để diệt ngoại xâm. Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn.

Thế là chúng ta thực hiện: Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc. Ba chủ nghĩa mà nhà đại cách mạng Tôn Văn đã nêu ra”.

Lời kêu gọi nhắc đến nhiệm vụ của mọi tầng lớp nhân dân và kết luận: “Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi! Hỡi toàn thể đồng bào, Hỡi toàn thể chiến sĩ, Tiến lên!”.

Tháng 6 năm 1949, trả lời một nhà báo câu hỏi về việc nhân dân kỷ niệm sinh nhật, thì món qùa quý nhất tặng Chủ tịch là gì?, Bác nói: “Món quà quý nhất đối với tôi là những báo cáo thành tích Thi đua ái quốc… Nhưng tôi chắc món quà ấy mới là một phần nhỏ, đồng bào và chiến sĩ ta còn tiếp tục cố gắng, tôi sẽ nhận được món quà to hơn nhiều nữa, món quà đó tên là: Tổng phản công thắng lợi hoàn toàn”.

Cũng trong tháng 6/1949, Bác gửi thư tới “Hội nghị Thi đua ái quốc” phân tích những hạn chế của phong trào và kết luận: “Vậy tôi rất mong Hội nghị tìm cách sửa chữa khuyết điểm ấy và mỗi cán bộ, mỗi đồng bào, mỗi ngành đều ra sức thiết thực thi đua với tinh thần chuẩn bị tổng phản công. Như vậy thì thi đua nhất định thành công”.

X&N
bee.net.vn

Sau 1000 ngày kháng chiến

– Ngày 10/6/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi trong dịp 1000 ngày kháng chiến”: “Hỡi đồng bào toàn quốc! Hỡi toàn thể tướng sĩ… tôi thay mặt Chính phủ kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các tử sĩ và đồng bào đã hy sinh vì nước và gửi lời thân ái hỏi thăm anh em thương binh và gia đình các liệt sĩ.

Tôi gửi lời khen ngợi các tướng sĩ đang oanh liệt giết giặc ngoài mặt trận; Đồng bào đang hăng hái thực hiện thi đua ái quốc ở hậu phương; Đồng bào tại vùng địch tạm chiếm, luôn luôn giữ vững tinh thần yêu nước của người dân Việt Nam; kiều bào hải ngoại luôn luôn giúp đỡ Tổ quốc.

Tôi lại khẩn khoản kêu gọi những người đang lầm đường theo địch, mau mau trở về Tổ quốc. Trong dịp này, lòng tôi và lòng Chính phủ đặc biệt đi đến chiến sĩ và đồng bào Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ, vì chiến sĩ và đồng bào ở đó đã tranh đấu trước nhất và hy sinh nhiều nhất”.

Chủ tịch Hồ Chí MinhChủ tịch Hồ Chí Minh

Sau khi điểm lại những thắng lợi mà 1000 ngày kháng chiến đã mang lại, Bác động viên: “Cuộc kháng chiến của ta đã tập trung tất cả cái tinh thần quật cường yêu nước của giống nòi Hồng Lạc lưu truyền từ mấy ngàn năm. Nó tập trung những kinh nghiệm chiến đấu của các vị dân tộc anh hùng Trần Hưng Đạo, Lê Thái Tổ, Nguyễn Quang Trung… Chúng ta đủ điều kiện để thắng lợi. Chúng ta chắc thắng lợi.

Song chúng ta phải biết rằng, càng gần thắng lợi thì càng gay go. Mà gay go nhiều thì thắng lợi càng to. Vì vậy mỗi quốc dân phải tẩy sạch cái thói: khi thì quá lạc quan, khi thì quá bi quan. Phải tẩy sạch cái chứng cầu yên, gặp sao hay vậy, muốn ăn quả mà biếng trồng cây… Mỗi người dân phải hiểu: có tự lập mới độc lập, có tự cường mới tự do. Đã đoàn kết, ta phải đoàn kết rộng rãi thêm. Đã cố gắng ta phải hăng hái mà cố gắng mãi…”.

Cũng vào dịp này, ngày 10/6/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho một số người trong chính giới Pháp. Với tướng Salan, thư viết: “Vì chúng tôi đã buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là những chiến binh hào hiệp, những đối thủ quân tử, trong khi chờ đợi chúng ta lại trở thành bạn hữu của nhau.

Chúng ta đã từng là bạn… Vì tình thương yêu con người, lòng nhân đạo và nhân danh tình bạn của chúng ta, tôi yêu cầu ngài nghiêm cấm binh lính Pháp sát hại dân lành, hãm hiếp phụ nữ, đốt phá làng mạc và phá huỷ nhà thờ, đền miếu như họ vẫn làm từ trước đến nay. Tôi bảo đảm với ngài rằng binh lính và thường dân Pháp ở chỗ chúng tôi được đối xử rất tử tế…”.

Còn trong thư gửi Chủ tịch Léon Blum, môt người quen cũ trong Đảng Xã hội Pháp, Bác đặt câu hỏi: “Vậy làm thế nào để chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này, làm thế nào để lập lại hoà bình?

Tôi cho rằng, chỉ có một chính sách phù hợp là chính sách mà chính ngài đã đề ra trên báo “Dân Chúng” ngày 12/12/1946, một chính sách hữu nghị và tin tưởng lẫn nhau dựa trên sự thống nhất và độc lập của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp. Vì lợi ích và tương lai chung của hai dân tộc chúng ta, tôi hy vọng các ngài sẽ cố gắng làm cho chính sách khôn ngoan và lòng hào hiệp đó được thực hiện”.

X&N
bee.net.vn

Ấn tượng về đôi mắt của một con người phi thường

– Cách đây 64 năm, ngày 9/6/1945, từ chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh gửi thư cho Trung uý Charles Fenn thuộc đơn vị Tình báo Chiến lược Mỹ OSS đóng ở Côn Minh (Trung Quốc) báo tin các báo vụ viên của Mỹ được cử làm việc trong bộ đội Việt Minh (Mc Shin và Frank Tan) vẫn “mạnh khoẻ và chúng tôi đã trở nên bạn bè thân thiết như anh em một nhà”.

Người lãnh đạo Mặt trận Việt Minh yêu cầu OSS chuyển thư tới một người Việt Nam để người đó gửi cho mình một “lá cờ của Đồng Minh”. Cũng trong đầu tháng 6/1945, Hồ Chí Minh điện báo cho người đứng đầu OSS ở Côn Minh là A.Patti biết rằng Việt Minh đã chuẩn bị sẵn sàng lực lượng một ngàn chiến sĩ du kích đang được huấn luyện tốt tại Chợ Chu, Định Hoá.

Tháng 8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh kỷ niệm cùng đơn vị OSS tại Hà NộiTháng 8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh kỷ niệm cùng đơn vị OSS tại Hà Nội

Trước đó 1 tháng, (9/5/1945), Hồ Chí Minh cũng viết thư cho Charles Fenn và Bernard bày tỏ hy vọng các chiến sĩ Việt Minh sẽ học được cách sử dụng điện đài do nhân viên OSS đang huấn luyện và “Tôi hy vọng một ngày gần đây nhất sẽ hân hạnh được đón tiếp các ông tại căn cứ của chúng tôi. Nếu được thế thì thật tuyệt”. Ngày 21/7/1945, Bác lại viết thư cho Ch.Fenn nhấn mạnh “Chúng tôi luôn luôn sẵn sàng nồng nhiệt đón ông”.

Vài ngày sau, một đơn vị biệt kích của OSS với bí danh là “Con Nai” (The Deer) đã nhảy dù xuống Tân Trào hợp tác với Việt Minh đánh Nhật. Nhưng trong đơn vị này không có Ch.Fenn. Và sau đó viên sĩ quan tình báo này cũng không bao giờ gặp lại người mà lần đầu ông gặp vào tháng 3/1945 tại Côn Minh. Chính viên trung uý này cũng đã giới thiệu Bác với Tướng Chelnault người đứng đầu quân đội Mỹ và Đồng Minh ở vùng Hoa Nam để thiết lập sự hợp tác chống phát xít Nhật.

Nhưng Ch.Fenn luôn giữ những ấn tượng tốt về Bác. Năm 1973, ông đã viết cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh bằng tiếng Ạnh được xuất bản ở Mỹ và cũng vì thế ông bị trục xuất khỏi đất nước mà ông phụng sự (tuy gốc là người Anh). Ông sang Hong Kong tiếp tục những sáng tác kịch giành cảm tình với Hồ Chí Minh. Tháng 9/1995, ông sang Việt Nam cùng với các cựu binh OSS.

Và trước khi qua đời vào độ tuổi ngoài 100 ông còn viết lời tựa cho một cuốn album tranh về Chủ tịch Hồ Chí Minh với những lời đánh giá tốt đẹp: “Lần đầu tôi gặp Hồ Chí Minh ở Trung Quốc vào tháng 3/1945… Tôi nói chuyện với Hồ Chí Minh một người dáng nhỏ, gầy, hơi già trong chiếc áo vải bông sờn cũ.

Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp, bởi vì tôi chưa biết rằng ông còn thạo tiếng Anh, không kể tiếng Nga, Đức, Xiêm, hai phương ngữ Trung Hoa và tất nhiên, tiếng Việt và tiếng của một vài dân tộc thiểu số ở Việt Nam.  Thoạt đầu ông không gây cho tôi một ấn tượng gì đặc biệt. Nhưng đến khi tôi cảm nhận được ánh sáng đặc biệt của đôi mắt ông, tôi biết tôi đang đứng trước một con người phi thường…

Sau này khi hướng dẫn cho ông nghệ thuật tình báo quân sự phương Tây, tôi mới thấy đôi mắt sáng của ông đã ánh lên thần thái mạnh mẽ thế nào qua việc ông nắm vững rất nhanh môn học đầy phức tạp đó… Nếu chúng ta so sánh Hồ Chí Minh với các lãnh tụ khác của thế kỷ XX, chúng ta không thể không có ấn tượng khi biết rằng trong một thời gian dài Hồ Chí Minh đã đi tới nhiều nơi trên thế giới và đã bắt đầu in dấu ấn của mình lên các biến cố quốc tế trước khi cả Mao Trạch Đông, Gandhi, Nehru, Roosevelt, Churchill hay De Gaulle được biết trên thế giới.

Cuộc sống cá nhân mẫu mực, tính kiên định vì nền độc lập và tự do của Việt Nam, những thành quả phi thường của ông bất chấp những khó khăn chất chồng, đã có thể đưa Hồ Chí Minh, trong sự phán xét cuối cùng của nhân loại, lên hàng đầu danh sách những lãnh tụ của thế kỷ XX”.

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ ở Ai Cập

 – Ngày 8/6/1946, trên đường sang thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng lại ở Ai Cập. Máy bay cất cánh từ thành phố Habagna (nay thuộc Pakistan) hạ cánh xuống Le Caire (Cairo) thủ đô Ai Cập từ ngày 7/6/1946.

Ngày hôm sau (8/6) theo phép lịch sự Bác và tướng Salan (người thay mặt Chính phủ Pháp tháp tùng) đến thăm Vua Ai Cập nhưng Ngài đi vắng. Viên quan nội vụ đại thần tiếp, mời cà phê và cùng ngày viên quan này theo phép xã giao lại thăm vị khách từ Việt Nam tới tại nơi nghỉ.

Cũng trong ngày, Bác thăm Viện Khảo cổ Ai Cập và được giáo sư viện trưởng người Pháp Prioton hướng dẫn. Ngày nay Viện đã trở thành một bảo tàng có tiếng trên thế giới, đặc biệt với loại hình hiện vật là xác ướp nên còn được gọi là Bảo tàng Xác ướp. Chiều, Bác và những người cùng đi thăm “thành phố Ma” là khu phụ cận thành phố, nhà mồ của những người đã chết được quy hoạch như một khu phố của người sống.

Sau đó, Bác đi thăm những kim tự tháp nổi tiếng của các pharaon Ai Cập và con Nhân sư khổng lồ với lời nhận xét “Bàn chân nó cao quá đầu người đứng. Đêm trời sáng trăng, trông vào tượng đá, thì thấy có vẻ nghiêm trang và thần bí lắm”. Hôm sau (9/6), Bác lại tiếp tục đi thăm kim tự tháp Sekherat cũng rất nổi tiếng.

Nhớ lại, cách đó 35 năm, tháng 6/1911, Bác đã từng đặt chân lên Cảng Xaít (Port Said) của Ai Cập trên hành trình đầu tiên của tàu Đô đốc Latouche Tréville khởi hành từ Bến Nhà Rồng ngày 5/6. Và 22/9/1946 trên chặng đường trở về nước từ Pháp bằng chiến hạm Dumont d’ Urville, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng mấy Việt kiều theo Bác về nước như bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa)… lại lên cảng Xait thăm.

Có thể nói, trong đời hoạt động của mình, Bác rất thích thăm thú các danh lam thắng cảnh và khảo sát đời sống của các quốc gia. Bác tham gia các nhóm du lịch đi nhiều nước và thăm nhiều di tích lịch sử. Ngay trước khi đến Ai Cập, lúc dừng chân ở Ấn Độ, Bác cũng thăm Lâu đài Delhi Cate, Lăng tẩm của Hoàng hậu Taj Mahan của thế kỷ XVII.

Ngày 8/6/1946 còn có một sự kiện nghiêm trọng là vào thời điểm này, Bác nhận được tin ở Sài Gòn thực dân lập Chính phủ “Nam Kỳ tự trị”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chất vấn tướng Salan cùng đi: “Tại sao không báo cho tôi biết tin này trước khi lên đường? Thật là một âm mưu phi pháp! Tướng quân này, các vị đừng biến Nam Bộ thành một thứ Alsace-Loren (vùng đất của Pháp bị cắt cho Đức trong Đại chiến I) mới, nếu không chúng ta đi đến cuộc chiến tranh trăm năm đấy !…”.

X&N
bee.net.vn

“Người tốt việc tốt”

 – Ngày 7/6/1968, Bác mời một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng đến bàn về cách làm và xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt”. Trong buổi làm việc Bác đưa ra một số quan điểm của mình:

“Các chú vẫn thường nói: nhân dân ta rất anh hùng, ra ngõ gặp anh hùng. Điều đó rất đúng. Có thể trong mỗi nhà đều có anh hùng, như thế ra ngõ mới gặp anh hùng chứ! Nhìn lại lịch sử mấy nghìn năm của ông cha ta, ta cũng thấy điều đó. Cứ mỗi lần có thử thách lớn thì nhân dân ta lại tỏ rõ khí phách, nêu cao phẩm chất tốt đẹp của mình… Nhưng dù sao, số người và tập thể được công nhận là anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua, được tặng huân chương, huy chương chỉ là một số ít so với hàng triệu, hàng chục triệu con người hàng ngày góp gió thành bão, đang gánh vác mọi việc nước, việc nhà… Cho nên Bác nghĩ: cần có những phần thưởng để khuyến khích, động viên, cổ vũ mọi người hăng hái làm tròn nhiệm vụ”.

Tháng 6/1957, Chủ tịch Hồ Chí minh thăm bộ đội miền Nam tập kết đang huấn luyện tại tỉnh Nghệ AnTháng 6/1957, Chủ tịch Hồ Chí minh thăm bộ đội miền Nam tập kết đang huấn luyện tại tỉnh Nghệ An

“Những chiến công và thành tích nổi bật thì ai cũng có thể thấy được. Còn những việc nhỏ, bình thường thôi nhưng ích nước lợi dân thì hay bị xem thường. Các chú có biết biển cả do cái gì tạo nên không? Từng giọt nước nhỏ thầm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao giọt nước nhỏ hợp lại thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc…”

“Về loại sách này, các chú không nên tham viết dài. Nhân dân ta có truyền thống kể chuyện ngắn gọn mà lại có duyên. Các chú phải học cách kể chuyện của nhân dân, nên kèm theo nhiều tranh vẽ dễ hiểu mà đẹp, nhưng đừng vì vẽ nhiều mà giá quá đắt.

Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được…”.

“Trước kia, thực dân Pháp còn cai trị nước ta, có những trí thức Việt Nam rất thông thuộc lịch sử, địa lý và các chuyện thần thoại của các nước Pháp, của Hy Lạp, của La Mã. Nhưng khi hỏi đến các vị anh hùng là tổ tiên, ông cha mình, hỏi đến địa lý nước mình thì mù tịt. Nay ta độc lập, tự do rồi, cố nhiên ta không đào tạo nên những con người như thế. Tuy vậy, Bác vẫn nhắc các chú điều này… Coi chừng có nhiều người Việt Nam không hiểu rõ lịch sử, đất nước, con người và những cái vốn rất quý báu của mình”.

X&N
bee.net.vn

Nhìn từ cuộc hành trình vĩ đại của Bác Hồ

Hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước”


QĐND – Ngày 31-5, tại Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc Hội thảo khoa học: “Chủ tịch Hồ Chí Minh – hành trình tìm đường cứu nước”, nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011). Cuộc hội thảo do Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch phối hợp tổ chức.

Tôn kính và trách nhiệm

Tham dự hội thảo có nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ; Đinh Thế Huynh, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; Trung tướng Trần Đại Quang, Thứ trưởng Bộ Công an.

Toàn cảnh Hội thảo.

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười; Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; đồng chí Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương… gửi tham luận khoa học tham gia hội thảo.

Phát biểu khai mạc hội thảo, đồng chí Đinh Thế Huynh nêu rõ tầm vóc lịch sử của sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước 100 năm trước và mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng to lớn của hội thảo; sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà nghiên cứu đối với sự kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng này.

Phát biểu đề dẫn hội thảo, đồng chí Nguyễn Văn Đua, Phó bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định: Với lòng tôn kính và trách nhiệm cao, các tác giả của các tham luận đã dày công nghiên cứu, suy nghĩ, tìm tòi những tư liệu và nội dung khoa học phong phú. Các tham luận khoa học thực sự là nguồn tài liệu quý phục vụ công tác nghiên cứu lý luận và thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các tác giả đã tập trung nghiên cứu, làm rõ ý nghĩa lịch sử của sự kiện người thanh niên Nguyễn Tất Thành (Văn Ba) ra đi tìm đường cứu nước trên 4 mảng nội dung lớn: Quyết chí tìm đường cứu nước, bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; từ thành phố Sài Gòn, Người ra đi tìm đường cứu nước; cuộc hành trình vĩ đại; vững bước trên con đường Người đã chọn.

Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học, tham luận của đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư đã phân tích sâu sắc những cơ sở lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo tư tưởng của Người, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, gắn với triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, tạo thêm động lực, niềm tin thúc đẩy thực hiện việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

“Vững bước trên con đường Người đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” là tiêu đề bản tham luận mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày, thu hút sự chú ý của các đại biểu dự hội thảo (toàn văn tham luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đăng trên số báo ra ngày hôm nay).

Trong tham luận của mình, đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh bày tỏ niềm vinh dự, tự hào của mỗi cán bộ, đảng viên, người dân thành phố được mang tên Người. Đồng chí đề cập những giải pháp cụ thể, vận dụng tư tưởng của Người xây dựng Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh trong sạch, vững mạnh; trong đó chú trọng các giải pháp bồi dưỡng, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho thành phố “đầu tàu” của cả nước. Lòng tôn kính đối với công lao trời biển của Bác chính là cội nguồn sức mạnh, hun đúc ý chí, nghị lực để Đảng bộ, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ IX.

“Xây dựng Quân đội nhân dân, phát huy bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay” là tiêu đề tham luận của Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gửi tới hội thảo. Với cách tiếp cận khoa học, xuyên suốt chiều dài hình thành, phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã nêu bật những giá trị to lớn trong tư tưởng của Bác Hồ về quân sự và quân đội nhân dân. Những tư tưởng vĩ đại đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt để quân đội không những ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, mà còn làm tốt chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó… (Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu đến bạn đọc toàn văn tham luận của Đại tướng Phùng Quang Thanh trên số báo ra ngày 2-6).

Quyết chí tìm đường cứu nước

Tham luận của các tác giả: Phan Đình Trạc, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An; Phan Xuân Biên, Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng Thư ký Hội đồng Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Trọng Xuất, Tổng Thư ký Ban biên soạn Công trình lịch sử Nam Bộ kháng chiến… và nhiều tác giả khác đã phân tích, tìm hiểu động cơ, động lực thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Các tác giả tập trung phân tích, lý giải trên phương diện khoa học lịch sử những yếu tố về quê hương, gia đình, xã hội…, góp phần hình thành trí tuệ, ý chí, khát vọng ra đi tìm đường cứu nước của Người.

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trao đổi với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các đại biểu tại hành lang hội thảo.

Linh mục Nguyễn Công Danh, Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam nhấn mạnh đến phẩm chất yêu nước, thương nòi của Bác. Phẩm chất ấy hình thành và phát triển ngay từ khi Người còn là một cậu bé ở vùng quê Nam Đàn. Linh mục nhấn mạnh: “Nhận thức “Hiếu với cha không bằng hiếu với nước” như lời dặn của cụ thân sinh Nguyễn Sinh Sắc trước khi Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, đã trở thành phương châm hành động của Người, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết”. Xúc cảm trước hành trình cứu nước vĩ đại của Người, Linh mục đã trình bày ca khúc “Tiếng hát từ Thành phố mang tên Người” (Nhạc Cao Việt Bách, lời Đăng Trung), được cả hội trường nhiệt liệt hoan nghênh.

Từ tấm gương về ý chí, khát vọng của Người, các nhà nghiên cứu đã liên hệ, vận dụng, đề xuất những hình thức, giải pháp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và bồi dưỡng thế hệ trẻ của đất nước hiện nay. Đó là giáo dục nhân cách, lối sống, xây dựng đạo đức làm người, đi đôi với học tập, bồi dưỡng kiến thức văn hóa, khoa học kỹ thuật phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

Thời khắc lịch sử

PGS,TS Phan Xuân Biên, Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng Thư ký Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu rõ trong tham luận: Sự xuất hiện của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Người đã xuất hiện đúng lúc, ra đi đúng thời cơ, chọn con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.

Đồng chí Lê Hưng Quốc, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Thành phố Hồ Chí Minh đã hệ thống hóa và lý giải vấn đề một cách lô-gic những quyết định phi thường của Bác ngay từ khi lựa chọn thời điểm rời cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước.

Đồng chí Trần Trọng Tân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương với cách tiếp cận các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian, đã chứng minh ý nghĩa lịch sử trọng đại của ngày 5-6-1911. Mốc thời gian ấy đã mở ra một trang sử hiện đại đối với con đường cách mạng Việt Nam, vốn trước đó hoàn toàn bế tắc.

Tham luận của nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã vận dụng phương pháp luận khoa học để phân tích, lý giải tầm vóc, ý nghĩa to lớn của sự kiện Bác Hồ rời cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước. Sau 100 năm nhìn lại, ý nghĩa của thời khắc lịch sử ấy vẫn vẹn nguyên tính thời sự, là niềm tin, động lực để Đảng ta, nhân dân ta lấy đó làm cơ sở, tiền đề tiếp tục vững bước thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

Và cuộc hành trình vĩ đại

Tham luận của các nhà nghiên cứu đều khẳng định, hành trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là cuộc hành trình vĩ đại của lịch sử. Từ cuộc hành trình ấy, Người đã tìm ra ánh sáng chân lý từ chủ nghĩa Mác – Lê-nin vận dụng sáng tạo vào cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH ở Việt Nam. Chính Người đã mở lối, khai phá, đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi thời kỳ tăm tối của lịch sử, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

PGS, TS Phạm Hồng Chương (Viện Nghiên cứu Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng) dưới góc độ tiếp cận của văn hóa, cho rằng: Giá trị cao nhất của văn hóa – văn minh là giải phóng con người, làm cho con người biết tự đứng lên để giải phóng mình. Hồ Chí Minh quan niệm giải phóng dân tộc, giải phóng con người bằng sự phát triển. Tư tưởng của Người về sức mạnh đoàn kết để giải phóng dân tộc đã tạo ra nguồn năng lượng, động lực cực kỳ mạnh mẽ từ mỗi người dân, từ sự đoàn kết của toàn dân, tạo nên sức mạnh vô song để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Để có được sức mạnh ấy, giá trị văn hóa – văn minh trong người cộng sản chính là đạo đức, nhân cách và tài năng, dũng khí…

Vững bước trên con đường Người đã chọn

Nghiên cứu con đường cứu nước của Bác để rút ra bài học lý luận và thực tiễn bổ ích, góp phần làm giàu thêm tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước là phương châm xuyên suốt của hội thảo. Với phương pháp tiếp cận đó, tham luận của các tác giả đã trình bày dưới góc nhìn chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quốc phòng – an ninh… Mỗi lĩnh vực đều có tư tưởng của Người soi rọi. Vận dụng, thực hiện thắng lợi tư tưởng của Người trên thực tiễn chính là “chìa khóa” thành công của sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta trong thời kỳ đổi mới, hội nhập.

TS Nguyễn Công Bình, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh với tham luận “Từ sự ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc cách đây 100 năm, nghĩ về định hướng XHCN ngày nay”, đã nêu các giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN. Theo TS Nguyễn Công Bình, định hướng XHCN ngày nay là sự tích lũy sức mạnh và sự năng động xã hội, nhưng không để phân hóa xã hội mà phải giải quyết các mâu thuẫn xã hội bằng chính sách, pháp luật thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi đôi với an sinh xã hội. Chăm lo cho người nghèo, thực hiện thắng lợi công cuộc xóa đói, giảm nghèo hiện nay chính là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng của Bác trong thực hiện nền dân chủ xã hội theo định hướng XHCN.

Dưới góc nhìn giáo dục truyền thống, tham luận của Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu những hình thức, biện pháp nhằm phát huy ý nghĩa lịch sử, chính trị, văn hóa của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giáo dục truyền thống cách mạng.

Không chỉ gói gọn trong các tham luận, cuộc hội thảo thực sự là một đợt sinh hoạt chính trị lớn của toàn Đảng, toàn dân thông qua sự tương tác của truyền thông. Những tham luận của các tác giả sẽ được tuyên truyền, phổ biến sâu rộng để các cấp, các ngành tiếp cận, làm cẩm nang cho công tác tuyên truyền, giáo dục, vận dụng vào từng chương trình hành động nhằm mang lại hiệu quả thiết thực.

Hội thảo đã nhận được 137 bản tham luận của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, các đồng chí lão thành cách mạng, các nhà khoa học, cán bộ quản lý trong cả nước. Mỗi tham luận là một công trình khoa học, dưới những góc độ khác nhau, nêu bật tầm nhìn thời đại của Bác, thể hiện lòng biết ơn vô hạn đối với công lao trời biển của Người, rút ra những bài học thực tiễn vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và mai sau. Có 16 tham luận được trình bày tại Hội thảo.

Bài và ảnh: Đào Văn Sư – Phan Tùng Sơn

qdnd.vn

“Lương y phải kiêm từ mẫu”

 – Ngày 4/6/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ chứng kiến lễ tuyên thệ của Phó Giám đốc Ngân hàng Quốc gia, nghe báo cáo chiến thắng ở khu III của “Chiến dịch Quang Trung” lần đầu tiên quân đội ta đánh công kiên ở đồng bằng dẫn đến cái chết của con trai Thống chế De Lattre de Tassigny tại mặt trận Ninh Bình.

Chính phủ cũng thông qua chủ trương và văn bản điều lệ của thuế nông nghiệp.

Tổng kết phiên họp, Bác nêu lên 2 kết quả: “1. Thành công của phiên họp là đã giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng, nhất là vấn đề kinh tế-tài chính. Đó là một sự chuyển hướng lớn. 2. Muốn thực hiện được công tác quan trọng trên thì trong nội bộ tư tưởng phải thông suốt, phải dựa vào dân và thực hành dân chủ”.

Cũng trong tháng 6/1951, Bác gửi thư cho Hội nghị tình báo với lời căn dặn: “Tình báo là tai mắt. Tai phải tỏ, mắt phải sáng. Mọi công tác, nhất là công tác tình báo phải tránh chủ quan, khinh địch, hiếu danh và cá nhân chủ nghĩa”.

Ngày 4/6/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp học buổi tối của bà con phố Hàng Vôi đặt tại trường Nguyễn Du phố Lý TháiNgày 4/6/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp học buổi tối của bà con phố Hàng Vôi đặt tại trường Nguyễn Du phố Lý Thái

Tháng 6/1953, Bác viết thư cho Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc với những huấn thị: “Sức khoẻ của cán bộ và nhân dân được đảm bảo thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khoẻ đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công… Phòng bệnh cũng cần thiết như trị bệnh, để làm tròn nhiệm vụ ấy, cán bộ y tế cần phải: thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt, cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân. Lương y phải kiêm từ mẫu”.

Cũng trong tháng 6/1953, trong thư gửi Hội nghị cán bộ Tổng cục Cung cấp, Bác căn dặn: “Phải luôn luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm. Phải thật lòng thương yêu binh sĩ. Phải chỉnh đốn tổ chức và công tác và mở rộng dân chủ”.

Còn trong thư gửi “Lớp chỉnh huấn cơ quan”, phân tích vì sao phải chỉnh huấn, Bác cho rằng vì: “Chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc. Đó là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác như: tự tư tự lợi, sợ khó sợ khổ; không yên tâm công tác, ham địa vị danh tiếng; lãng phí, tham ô, quan liêu, mệnh lệnh”.

X&N
bee.net.vn

“Làm bất cứ việc gì để sống và để đi…”

– Ngày 2/6/1911, Nguyễn Tất Thành, xuống tàu Amiral Latouche Tréville của Hãng Năm sao (Charges Réunis) đang chuẩn bị rời bến cảng Sài Gòn qua cảng Marseille của nước Pháp, để xin việc.

Sách “Những mẩu chuyện về đời của Hồ Chủ tịch” kể lại rằng, trước đó, Nguyễn Tất Thành đã bàn với một người bạn về ý định ra nước ngoài: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta.

Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không? Khi người bạn hỏi lấy đâu ra tiền mà đi, anh Thành vừa nói vừa giơ 2 bàn tay: Đây, tiền đây! Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”.

Ngày 2/6/1911, Bác đã lên con tàu này để xin việc làm.Ngày 2/6/1911, Bác đã lên con tàu này để xin việc làm.

Ngày 3/6/1911, Nguyễn Tất Thành chính thức được nhận việc tại tàu Đô đốc Latouche Tréville của Hãng Vận tải Hợp nhất với cái tên mới là Văn Ba.

Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trong phận sự của một thuỷ thủ mang tên “Văn Ba” làm việc trên chiếc tàu “La Touche Tréville” của Hãng Vận tải Hợp nhất rời bến cảng Nhà Rồng ở Sài Gòn, khởi đầu hành trình đi tìm đường cứu nước.

Nói về sự lựa chọn con đường đi sang Pháp, trong một cuộc trao đổi với nhà báo Nga Oxip Manđenxtam (12/1923), Bác cho biết: “Năm tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên được nghe ba chữ Pháp “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”… Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn sau những chữ ấy”.

Một lần khác, trả lời nhà văn Mỹ Lui Xtơrông, Bác kể: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

Ra đi vào Mùa hè nóng bỏng năm 1911 từ một cửa biển cực nam của Tổ quốc (Sài Gòn) để đúng 30 năm sau, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh mới trở về Tổ quốc từ một địa đầu núi rừng phía Bắc. Tại Pác Pó (Cao Bằng), Bác làm một bài thơ nhắc đến 2 bàn tay của mình: “Non xa xa/ Nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Đây suối Lênin, kia núi Mác/ Hai tay gây dựng một sơn hà!”.

Chặng hải trình đầu tiên sau khi rời cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) vào ngày 5/6/1911, tàu “Đô đốc La Touche Tréville” ghé cảng Singapore (8/6), cảng Colombo, Sri Lanka (14/6), Cảng Sa’id, Ai Cập (30/6) và đến cảng đầu tiên của nước Pháp, cảng Marseille (6/7/1911).

X&N
bee.net.vn