Tag Archive | Tin tức

Lời hứa với thiếu nhi của Bác 60 năm trước

– Ngày 1/6/1950, báo “Sự Thật” đăng “Thư gửi thiếu nhi toàn quốc” trong đó Bác viết: “Ngày 1/6 là ngày của các cháu bé khắp cả các nước trên thế giới… Vì giặc Pháp gây ra chiến tranh, chúng nó đốt nhà, giết người cướp của. Vì vậy người lớn phải kháng chiến, trẻ con cũng phải kháng chiến…”.

Và người lãnh đạo cuộc kháng chiến đã hứa với các cháu: “Đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cũng cố gắng làm cho các cháu đều được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng”.

 01-6-1969 bản thảo bài báo Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên,nhi đồng,bút danh TL.jpgNgày 1/6/1969, bản thảo bài báo Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, bút danh TL.

Quan tâm đến trẻ em với Bác Hồ là một nhiệm vụ của cách mạng. Ngay từ năm 1941, khi Mặt trận Việt Minh mới thành lập, Bác đã coi trẻ em là một lực lượng của cách mạng.

Trên báo “Việt Nam Độc lập”, Bác đăng bài thơ “Trẻ con”, trong đó có đoạn: “Trẻ em như búp trên cành/ Biết ăn biết ngủ, học hành là ngoan/ Chẳng may vận nước gian nan/ Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng… Vậy nên con trẻ nước ta: Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh!/ Kẻ lớn cứu quốc đã đành/ Trẻ em cũng phải ra dành một vai/ Bao giờ đánh đuổi Nhật Tây/ Trẻ em ta sẽ là bày con cưng”.

Năm 1942, Bác viết bài thơ “Trẻ chăn trâu” đăng trên báo “Việt Nam Độc lập” (21/11/1942): “…Chăn trâu mấy trẻ con con/ Cùng nhau hát xướng véo von trên gò/ Vì ai ta chẳng ấm no?/ Vì ai, ta đã phải lo cơ hàn?/ Vì ai, cha mẹ nghèo nàn?/ Vì ai, nhà cửa, giang san tan tành?/ Vì ai, ngăn cấm học hành?/ Vì ai, ta phải chịu vành dốt ngây?/ Ấy là vì Nhật vì Tây… Cùng nhau đánh đuổi Nhât Tây/ Anh em ta mới có ngày vinh hoa/ “Nhi đồng Cứu quốc” hội ta/ Ấy là lực lượng, ấy là cứu sinh/ Ấy là bộ phận Việt Minh/ Dân mình khắc cứu dân mình mới xong”.

Ngày 15/5/1961, Bác viết thư gửi thiếu niên và nhi đồng toàn quốc nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong với câu kết luận: “Mai sau các cháu sẽ là người chủ của nước nhà. Cho nên ngay từ rày, các cháu cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng để chuẩn bị trở nên người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Lá thư cũng đề cập tới nội dung mà sau đó trở thành một cuộc vận động giáo dục sâu rộng “5 điều Bác Hồ dạy”, đó là: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào/ Học tập tốt, lao động tốt/ Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt/ Giữ gìn vệ sinh sạch sẽ/ Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”.

Sau này nhiều lần Bác viết về thiếu nhi với tình yêu và trách nhiệm dành cho thế hệ tương lai của đất nước. Ngày 1/6/1969, nhân Ngày Quốc tế thiếu nhi cuối cùng trong cuộc đời mình, Bác viết bài báo“Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng”:

“Nói chung trẻ con ta rất tốt… Thiếu niên và nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ. Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”.

X&N
bee.net.vn

Những chuyện ít biết về Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

 – Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn – tiền thân của trường Sĩ quan Lục quân 1 (Đại học Trần Quốc Tuấn) – là đơn vị đầu tiên vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng lá cờ thêu 6 chữ vàng “Trung với nước hiếu với dân”. Nhân kỷ niệm 65 năm lễ khai giảng khóa 1 của ngôi trường đào tạo cán bộ chính quy đầu tiên của nước Việt Nam mới (26-5-1946 – 26-5-2011), xin giới thiệu với bạn đọc bài viết về những chuyện ít biết của đơn vị này.

Tiền thân của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

Ngay từ năm 1924, Bác Hồ đã cử nhiều thanh niên, học sinh Việt Nam sang du học ở Quảng Châu, Trung Quốc rồi Trường đại học Phương Đông Matxcơva… Cho đến ngày chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, Trung ương đã cho thành  lập Trường Quân chính kháng Nhật.

Từ sau ngày 2-9 cho tới cuối năm 1945, theo chỉ thị của Bác để phù hợp với tình hình thực tế, trường đã 2 lần đổi tên: Trường Quân chính Việt Nam và Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam. Trong vòng nửa năm với 7 khóa huấn luyện, nhà trường đã cung cấp 1.500 cán bộ trẻ cho lực lượng vũ trang và các địa phương.

Ngày 17-4-1946, theo chỉ thị của Người, nhà trường được đổi tên thành Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn với nhiệm vụ: đào tạo cán bộ chỉ huy cấp trung, đại đội trong thời gian 6 tháng.

dHiệu trưởng Hoàng Đạo Thuý đón nhận lá cờ thêu 6 chữ vàng của Bác Hồ

Để đáp ứng yêu cầu huấn luyện, Người bổ nhiệm đồng chí Hoàng Đạo Thuý làm Hiệu trưởng cùng Chính trị uỷ viên Trần Tử Bình. Các đồng chí Vương Thừa Vũ, Vũ Lập phụ trách huấn luyện. Trường rời từ Hà Nội (khu Việt Nam Học xá, nay là Đại học Bách khoa) lên đóng quân tại sân bay Tông, thị xã Sơn Tây.

Lễ khai giảng khoá 1 và lá cờ thêu những chữ vàng

Chủ nhật 26-5-1946, nhà trường làm lễ khai giảng khoá 1. Hồ Chủ tịch cùng Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Anh và một số đại biểu đến trường từ sớm.

Tránh nghi lễ đón tiếp, Bác đi thẳng vào doanh trại xem bố trí nơi ăn chốn ở. Đến nhà bếp, thấy anh em ăn thừa Người đã phê bình là lãng phí cơm gạo, nhất là khi dân ta vừa qua nạn đói khủng khiếp đầu 1945. Tiếp thu ý kiến Bác, ngay hôm sau, cơm thừa còn sạch được tận dụng ủ làm tương cho bộ đội ăn.

Trong không khí trang nghiêm của buổi lễ, lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên trên nền nhạc hùng tráng của bài “Tiến quân ca”. Từ trên lễ đài Hồ Chủ tịch bước xuống tiến về phía hàng quân, trao cho nhà trường lá cờ thêu những chữ vàng “TẶNG TRƯỜNG VÕ BỊ TRẦN QUỐC TUẤN “TRUNG VỚI NƯỚC – HIẾU VỚI DÂN” – 1946”.

Học viên Bùi Minh Trân, một chiến sĩ của Nam bộ, thay mặt 288 học viên khoá 1 đón nhận lá cờ.

Phát biểu với cán bộ, học viên, Người nói: “Trung với Nước, Hiếu với Dân là bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”.

Đáp lời Người, Giám đốc Hoàng Đạo Thuý nói: “…Thế kỷ 13, Nguyên-Mông là một đế quốc lật đất, nghiêng trời, chiếm từ bể Đông đến giữa châu Âu. Họ bảo nước ta là to bằng bàn tay ếch. Ba lần họ cất quân sang xâm lược nước ta. Ba lần tướng Trần Quốc Tuấn đã dựa vào thế đất và lòng người đuổi quân giặc phải tháo chạy. Cụ Chủ tịch lấy tên Trần Quốc Tuấn đặt tên cho trường ta, ý Cụ mong cho chúng ta trở thành học trò của Trần Quốc Tuấn”.

Với khẩu hiệu “Thao trường đổ mồ hôi để chiến trường không đổ máu”, mặc nắng mưa, mặc ngày đông tháng giá, học viên khoá 1 đã hăng say, miệt mài học rèn.

dTrường  Đại học Trần Quốc Tuấn hôm nay tại TP Sơn Tây, Hà Nội (Ảnh: VECI)

dMột góc khuôn viên của trường Đại học Trần Quốc Tuấn (Ảnh: VECI)

Cuối khoá, nhà trường tổ chức diễn tập hành quân dài ngày từ Sơn Tây, qua Đồn Vàng, lên Phú Thọ, Việt Trì, có sự phối hợp giữa bộ đội và dân quân, nâng cao công tác chỉ huy, kỹ-chiến thuật, công tác chính trị, dân vận. Sau diễn tập, học viên có thêm kinh nghiệm tổ chức hành quân dã ngoại, tình cảm quân dân thêm sâu đậm.

Tháng 10-1946, vừa từ Pháp về, Bác lên thăm trường. Người vui vẻ nói chuyện với anh em: “Sau khi ở Pháp về, nhớ những đồng chí trẻ của mình ở đây, đồng chí già liền lên thăm ngay và dặn anh em mấy điểm: Một là phải kỷ luật. Hai là phải quần chúng hoá. Ba là phải thực tế. Bốn là phải ham học, ham làm. Năm là phải quyết tâm, chịu khó. Sáu là không lúc nào tự cho mình là  đủ, không kiêu, không nịnh.Bảy là phải đoàn kết, thân ái tự phê bình, phê bình và khuyến khích lẫn nhau”.

Bác tặng nhà trường 16 chiếc huy hiệu để trao cho 15 học viên đỗ xuất sắc và học viên đỗ cuối cùng trong kỳ thi tốt nghiệp.

Ngày 8-12-1946, Võ bị khoá 1 làm lễ tốt nghiệp. Toàn bộ học viên tốt nghiệp được điều động về ngay các đơn vị, bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp sẽ nổ ra vào ngày 19-12-1946.

Khóa 2 : Theo thầy Nguyễn Sơn hành quân vào khu IV

Ngày 16-2-1947, Võ bị khóa 2 với 340 học viên được khai giảng tại thị xã Tuyên Quang. Đồng chí Nguyễn Sơn – nguyên Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Miền Nam, người đã chiến đấu trong Bát Lộ Quân và tham gia “Vạn lý trường chinh” ở Trung Quốc – được chỉ định làm Hiệu trưởng.Sau đó, đồng chí lại được giao nhiệm vụ Khu trưởng Khu IV nên khóa 2 theo thầy hành quân vào Khu IV. Học viên được biên chế thành các đại đội chuyên sâu: C1 quân sự, C2 chính trị, C3 dân quân. Ngày 28-7-1947, nhà trường làm lễ mãn khóa 2 và ngày 8-8-1947 hành quân ra Bắc.

Khóa 2 + 3 và 4 chữ vàng “Trung dũng, Quyết thắng”.

Giữa tháng 4-1947, khóa 3 được khai giảng tại Bắc Cạn. Thầy Hoàng Đạo Thuý lại được chỉ định làm Hiệu trưởng. Là một nhà giáo, nhà sử học, xã hội học, có kinh nghiệm trong công tác hướng đạo sinh và đã kinh qua đào tạo khóa 1, thầy Thuý giảng về Binh pháp Tôn Tử, về lịch sử ông cha giữ nước, về chiến thuật, chiến lược quân sự, về cả thông tin “moóc-xơ”… Trong khóa học, ngày 1-5-1947, thầy Thuý được vinh dự kết nạp vào Đảng.

Để thống nhất trong đào tạo và bổ sung kiến thức chiến thuật cấp trung đoàn, các  khóa 2 và 3 được hợp nhất. Trong buổi lễ, Tổng bí thư Trường Chinh đến thăm.
Sau đó, khóa 2 tiến hành trao cờ “Trung với nước, Hiếu với dân”  cho khóa 3. Đây là lá cờ truyền thống mà khóa 1 đã trao cho khóa 2 trước khi hành quân vào Khu IV. Hai đồng chí Vũ Khổng Tước (khóa 2) và Nguyễn Đôn Tự (khóa 3) vinh dự thay mặt 2 khóa trao và nhận lá cờ.

Khi chương trình huấn luyện gần kết thúc, ngày 7-10-1947, giặc Pháp nhảy dù xuống khu vực gần trường. Nhà trường biên chế thành trung đoàn E79 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Hoàng Đạo Thuý và Chính trị viên Lê Đình đã đánh thắng trận Đầm Hồng và trận tập kích Yên Thịnh, phá vỡ kế hoạch hợp điểm của địch ở Bản Thi.

Ngày 28-10-1947, lễ bế giảng được tổ chức tại đình Nghĩa Tá. Khóa 2 và 3 của nhà trường vinh dự đón nhận 4 chữ vàng của Bác “Trung dũng, Quyết thắng”.

Tô thắm thêm những chữ vàng

65 năm trôi qua, các cựu giáo viên, học viên khoá 1-2-3 Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh, nhiều đồng chí được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT (nhà tình báo chiến lược Phạm Ngọc Thảo, thiếu tướng Kim Tuấn – Tư lệnh Quân đoàn 3, đại đội trưởng trinh sát Nguyễn Ngọc Bảo…), nhiều đồng chí được phong hàm cấp tướng…

Kế thừa truyền thống vẻ vang của thế hệ cha anh là Trường Sĩ quan Lục quân 1 – Đại học Trần Quốc Tuấn, đơn vị AHLLVTND. Với những chiến công hiển hách trong sự nghiệp giải phóng chống Mỹ cứu nứớc và bảo vệ Tổ quốc, họ đã góp phần tô đẹp thêm những chữ vàng mà Bác Hồ kính yêu đã trao tặng.

Trần Kiến Quốc
bee.net.vn

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc Việt Nam”

(Dân trí) – Đó là khẳng định của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2010) vừa diễn ra long trọng tại Hà Nội sáng nay 18/5.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh phát biểu tại Lễ mit tinh kỷ niệm.

Dân trí xin trân trọng giới thiệu toàn văn diễn văn của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tại lễ kỷ niệm sáng nay:

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam Anh hùng,
Thưa các vị khách quý,
Thưa đồng bào, đồng chí,

Hôm nay, cùng với đồng bào, đồng chí cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, với lòng biết ơn vô hạn, chúng ta long trọng tổ chức kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, người đã hiến dâng toàn bộ cuộc đời mình cho độc lập của Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân, người chiến sĩ cộng sản quốc tế mẫu mực và người bạn thân thiết của các dân tộc đã và đang đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

Thưa đồng bào, đồng chí,
Thưa các vị khách quý,

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890, trong một gia đình nhà nho thanh khiết, yêu nước ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Được nuôi dưỡng bởi những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử, phải chứng kiến sự thất bại của các phong trào yêu nước bi hùng của cha ông chống thực dân Pháp xâm lược và cảnh lầm than, cực khổ của nhân dân, Người đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Với hành trang là chủ nghĩa yêu nước-nhân văn Việt Nam và khát vọng giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào, trải qua cuộc sống lao động, học tập, nghiên cứu lý luận và nhất là qua thực tiễn đấu tranh cách mạng phong phú ở nhiều nước, Người đã thấy vấn đề giải phóng dân tộc và con người là nhu cầu cấp thiết không chỉ của Việt Nam mà của tất cả các dân tộc thuộc địa và nhân dân bị áp bức trên toàn thế giới. Tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, bằng thiên tài trí tuệ, nhận thức đúng xu thế phát triển tất yếu của loài người và tính chất của thời đại mới mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga, Người đã đi tới khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.”

Đặt cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong quỹ đạo của cách mạng vô sản và là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Đó là con đường cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc, thực hiện người cày có ruộng, sau đó tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Đó là đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người.

Đường lối đó thể hiện tính quy luật của sự phát triển lịch sử xã hội nước ta: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn.”

Vạch ra con đường cứu nước đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khai thông bế tắc trong đường lối giải phóng dân tộc, mà còn giải quyết đúng đắn, sáng tạo và lãnh đạo thực hiện thắng lợi các vấn đề trọng yếu nhất của cách mạng nước ta. Đó là sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước để xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc. Đó là việc xây dựng thành công lực lượng cách mạng với Mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân đầu tiên ở nước ta. Đó là việc xác định chính xác phương pháp cách mạng phù hợp với thực tiễn đất nước để thực hiện thành công các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trước các biến động hết sức phức tạp trong các quan hệ quốc tế.

Đường lối cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã tạo nên sức mạnh tổng hợp và phát huy tác dụng, đưa tới những thắng lợi rực rỡ của cách mạng nước ta.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Nhà nước do nhân dân làm chủ đầu tiên trong lịch sử nước ta, đã làm thay đổi vận mệnh dân tộc Việt Nam từ nô lệ trở thành độc lập, tự do.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, xây dựng hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa làm cơ sở cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Với những thắng lợi đó, dân tộc ta không chỉ thi hành “Bản án chế độ thực dân” ở Việt Nam, giành lại độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới vì tự do, hạnh phúc của nhân dân ta, mà còn cùng với các dân tộc thuộc địa và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đấu tranh loại bỏ vết nhơ áp bức của chủ nghĩa thực dân, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta.” Công lao của Người với dân tộc ta như non cao, biển rộng. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho cách mạng Việt Nam và dẫn dắt dân tộc ta tiến đến tương lai tươi sáng.

Thưa đồng bào, đồng chí,

Trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc, với đặc điểm nổi bật là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc và cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội gặp nhiều khó khăn, thử thách, cách mạng nước ta đứng trước nhiều thời cơ nhưng cũng không ít thách thức to lớn. Đảng ta càng phải nắm vững, kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm bổ sung, hoàn thiện, phát triển đường lối của Đảng phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ lịch sử mới. Đó là yêu cầu thiết thực cho việc chuẩn bị tốt đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

Nắm vững, vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết phải quán triệt đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Người đã chỉ ra cho cách mạng nước ta. Đây là tư tưởng chiến lược có ý nghĩa chỉ đạo về chính trị và lý luận, về nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân ta trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội thể hiện một cách rõ ràng trong từng lời nói và việc làm của Người. Người nói “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh”, “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt,” “một xã hội đảm bảo cho đất nước phát triển rực rỡ một cách nhanh chóng chưa từng thấy, đưa quần chúng đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho mọi người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng.”

Người còn nói: “Chúng ta tiến lên xây dựng một nước xã hội chủ nghĩa tức là một nước có một cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do và độc lập, tức là nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.” Độc lập – Tự do – Hạnh phúc là mục tiêu chung nói rõ thực chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là vì dân tộc, vì con người. Đó cũng là động lực, là mẫu số chung để đoàn kết toàn dân quyết tâm phấn đấu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Phương châm xây dựng chủ nghĩa xã hội Người nêu ra là: “thiết thực, phải tiến vững chắc. Phải nắm vững quy luật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn thận những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể… Chớ đem chủ quan của mình thay thế cho điều kiện thực tế. Phải chống bệnh chủ quan và tác phong quan liêu, đại khái. Phải xây dựng tác phong điều tra, nghiên cứu trong mọi công tác cũng như trong khi định chính sách của Đảng và Nhà nước.”

Xác định chủ nghĩa xã hội ở nước ta “là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng,” Người hết sức chăm lo xây dựng các lực lượng cách mạng của nhân dân, trước hết là xây dựng Đảng.

Người nói : “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động chứ không phải mưu cầu cho lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào.” “Nhiệm vụ của Đảng là một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác.” “Đảng ta là đạo đức, là văn minh,” “một Đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để.” “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư,” “suốt đời làm người con trung thành của Đảng, người đày tớ tận tuỵ của nhân dân”. Để đáp ứng yêu cầu to lớn đó, Đảng ta cần thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng, làm tốt nhiệm vụ chỉnh đốn Đảng, nhất là trước những tình hình, nhiệm vụ mới.

Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân của đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc. Bởi vậy, Đảng ta phải luôn ghi nhớ và thực hành đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh : “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ vững sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.”

Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp vĩ đại, chưa có tiền lệ, vừa mở đường vừa tiến lên. Trong Đảng có ý kiến khác nhau để tìm tòi các biện pháp nhằm thực hiện được các mục tiêu của Đảng là cần thiết và là điều bình thường. Tuy nhiên, có lúc, có nơi đã để xảy ra tình trạng mất đoàn kết nội bộ. Chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng bản vị, cục bộ địa phương, tham vọng quyền lực, tranh công đổ lỗi… là nguyên nhân chủ yếu gây ra chia rẽ, bè phái. “Bệnh này tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất” và thanh danh của Đảng. Đó là một tội ác cần phải loại trừ. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.”

Nước ta là một cộng đồng gồm 54 dân tộc anh em với nhiều giai tầng và tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau, nhưng hễ là người Việt Nam thì ai cũng có lòng yêu nước. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân. Đảng ta chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình khi tập hợp, đoàn kết được toàn dân trong một Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi để bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.” Người nói: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ.”

Chúng ta phải làm cho tư tưởng đại đoàn kết của Bác Hồ thấm sâu vào việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, trong tổ chức, xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất và thực hiện các nhiệm vụ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Phải nắm vững nguyên tắc đại đoàn kết là : trên cơ sở liên minh công, nông, trí thức, tập hợp rộng rãi nhất mọi tổ chức và cá nhân yêu nước; lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân làm điểm tương đồng, trên cơ sở đó bảo đảm sự kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, bộ phận và toàn cục, giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế. Phương pháp đại đoàn kết là phát huy dân chủ, vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương…, lấy thẳng thắn, chân thành để đối xử, lấy tin yêu, giúp đỡ để cảm hoá, trân trọng phát huy nhân tố tích cực, hạn chế, đẩy lùi nhân tố tiêu cực, giúp cho mọi tổ chức và cá nhân đều tiến bộ và trưởng thành, đóng góp có hiệu quả cao vào sự nghiệp cách mạng chung.

Thưa đồng bào, đồng chí,

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta đã hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ, cả nước đã bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Trong 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Nước ta đã chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, thế và lực đã được nâng cao hơn, đất nước đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, kinh tế phát triển chưa bền vững, năng suất lao động và sức cạnh tranh còn thấp, trình độ công nghệ còn lạc hậu so với các nước phát triển, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại.

Những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, văn hóa-xã hội, bảo vệ môi trường chậm được khắc phục; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống… chưa được đẩy lùi. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy thật đầy đủ. Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân chuyển biến chậm. Còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị-xã hội.

Để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở kiên định lập trường và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và phổ biến rộng rãi hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới.

Toàn Đảng, toàn dân ta phải luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nắm vững quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của phong trào hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, tăng cường hợp tác, góp phần hình thành một trật tự thế giới công bằng và bình đẳng.

Hiện nay, chúng ta đang đứng trước yêu cầu phải giải quyết mâu thuẫn lớn của xã hội nước ta là mâu thuẫn giữa trình độ còn thấp kém của lực lượng sản xuất với yêu cầu cao của nền sản xuất hiện đại của chủ nghĩa xã hội và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Vì vậy, nhiệm vụ chủ yếu nhất của chúng ta lúc này là phải dốc sức vào việc phát triển lực lượng sản xuất, làm ra nhiều của cải để chiến thắng nghèo nàn và lạc hậu, đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, đồng thời phải chăm lo xây dựng và từng bước phát triển quan hệ sản xuất tiên tiến phù hợp.

Mỗi bước tiến của cách mạng là một bước đem lại những lợi ích thiết thực trong cuộc sống đối với người dân, đem lại công bằng cho xã hội. Dân chủ và công bằng là đặc trưng ưu việt thuộc về bản chất của chủ nghĩa xã hội. Đó là những vấn đề chúng ta phải đặc biệt chú ý khi bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Thực hiện những nhiệm vụ trên, mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng xong về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh. Từ nay đến khoảng giữa thế kỷ 21, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, chúng ta phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Trong công tác xây dựng Đảng, phải làm cho Đảng ta thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và không ngừng nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời, tổ chức và lãnh đạo thực hiện thành công các quyết định đó. Đồng thời, phải tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, nâng cao năng lực của các tổ chức đảng, của mọi đảng viên trong vận động, thuyết phục quần chúng. Mỗi đảng viên, cán bộ, công chức và gia đình phải thực sự đi đầu trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, là tấm gương về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, về tinh thần đấu tranh kiên quyết chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Cần phát huy kết quả của cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” kết hợp với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng và gắn liền với cải cách hành chính, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, nâng cao ý thức phục vụ nhân dân. Tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân đóng góp tài lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời có các biện pháp thiết thực tham gia giám sát cán bộ, công chức, đảng viên. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bất kể họ là ai và giữ cương vị gì. Các tổ chức trong hệ thống chính trị, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… phải có các biện pháp mạnh mẽ để khắc phục có hiệu quả tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Về mặt tổ chức, cần hết sức coi trọng việc xây dựng, củng cố và phát triển các tổ chức đảng, kiện toàn và đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện các quyết định của cấp uỷ đảng. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, tập trung vào những khâu quan trọng, như đánh giá cán bộ, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; có cơ chế, chính sách phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài. Thực hiện nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình trong tổ chức đảng, trong cơ quan nhà nước, không né tránh, nể nang; đồng thời lắng nghe ý kiến của nhân dân để có thể đánh giá và lựa chọn đúng những cán bộ có tinh thần tiên phong, gương mẫu, kiên định mục tiêu, lý tưởng, có đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tác phong và lối sống lành mạnh, gắn bó với nhân dân, được nhân dân tin yêu. Phải làm thật tốt công tác cán bộ, kiện toàn các cấp uỷ đảng, hình thành một đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài để thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng.

Cùng với việc đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chúng ta phải quyết tâm thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng “lớp người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội”, một thế hệ người Việt Nam có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có ý chí độc lập, tự cường, tinh thần phấn đấu vươn lên vì sự phát triển phồn vinh của dân tộc, đất nước; có đức, có tài, đủ sức đảm đương sứ mệnh lịch sử xây dựng thành công một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thưa đồng bào, đồng chí,

Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc ta. Giá trị thực tiễn cao đẹp của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ gắn bó chặt chẽ với cuộc sống, “nói đi đôi với làm.” Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta quyết tâm thực hiện thành công, hiện thực hoá những di huấn của Người trong thực tiễn cuộc sống.

Năm 2010 là năm có nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng và là năm tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng vào đầu năm 2011. Yêu cầu quan trọng của Đảng ta trong lúc này là lãnh đạo thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội X của Đảng, tăng cường học tập một cách thiết thực tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và kiểm điểm việc thực hiện những nhiệm vụ của giai đoạn 2005-2010, mở rộng sinh hoạt dân chủ để tập hợp được trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân đóng góp vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng.

Nhân buổi Lễ kỷ niệm trọng thể này, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tôi kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sống, chiến đấu, lao động, học tập, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta phát triển mạnh mẽ, bền vững, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

Xin trân trọng cảm ơn!

dantri.com.vn

Bác nói về chính sách với đồng bào dân tộc thiểu số

– Ngày 19/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự hop Hội đồng Chính phủ bàn về Dự án ngân sách lương thực của quân đội, vấn đề lập Nha Dân tộc Thiểu số và vấn đề tài chính.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Pleiku. Thư có đoạn viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Muờng hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xêđăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau…

d4/1960 Bác Hồ chủ trì phiên họp HĐCP tại Phủ chủ tịch

Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có kẻ xúi giục để chia rẽ chúng ta. Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chính phủ thì có “Nha Dân tộc thiểu số” để săn sóc tất cả đồng bào.

Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non, để ủng hộ Chính phủ ta.

Chúng ta phải thương yêu nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.

Trước đó, ngày 23/11/1945 nói chuyên với đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang, vốn là căn cứ địa của cách mạng về thăm Thủ đô Độc lập, Bác đã biểu dương: “Trước khi nước ta được độc lập, các đồng bào trên đó, ai nấy đã nhiệt tâm yêu nước, yêu nòi, đã gắng sức giúp anh em Việt Minh trong cuộc vận động giải phóng rất nhiều. Chính tôi có đi qua các miền anh em ở, tới đâu cũng nhận thấy anh em Thổ, Mán ai nấy đều một lòng mong Tổ quốc độc lập, oán ghét bọn giặc xâm lăng… Tôi nhờ anh chị em về nói với đồng bào trên ấy biết rằng đồng bào Kinh và Chính phủ rất thương mến đồng bào Mán, Thổ, coi như anh chị em trong một nhà, và khuyên anh chị em gắng sức để đi tới thái bình để cùng chung hưởng”.

Và ngày 3/12/1945, phát biểu tại Hội nghị các dân tộc thiểu số Việt Nam, Bác khẳng định chính sách của Nhà nước ta là: “ 1. Dân tộc bình đẳng; Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều hủ tệ cũ, bao nhiêu bất bình trước sẽ được sửa chữa đi; 2. Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt; a) về kinh tế sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng; b) Về văn hoá, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho dân tộc. Các dân tộc được bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng được độc lập hoàn toàn, tự do và thái bình”…

Có thể nói đó là tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với vấn đề các dân tộc thiểu số trên đất nước ta.

  X&N
bee.net.vn

Sửa đổi Hiến pháp

– Ngày 18/4/1958, tại phiên họp buổi chiều của Quốc hội khoá I, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Ban sửa đổi Hiến pháp báo cáo trước toàn thể đại biểu quá trình xây dựng và nội dung bản dự thảo “Hiến pháp sửa đổi”.

Bác hứa với Quốc hội “sẽ tiếp tục cố gắng hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ quan trọng mà Quốc hội đã trao cho và làm cho nước ta có một bản Hiến pháp xứng đáng với những thắng lợi và những tiến bộ vẻ vang của nhân dân ta”.

Hai năm sau, ngày 15/4/1960, trong bài diễn văn kết thúc kỳ họp thứ 12, cũng là kỳ họp kết thúc nhiệm kỳ Quốc hội khoá I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá kỳ họp thứ 8 “có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng” vì nó triển khai việc sửa đổi Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để đến kỳ họp tiếp theo, kỳ họp thứ 9 vào cuối năm 1959, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp sửa đổi và ban hành vào ngày đầu tiên của năm 1960.

4-1959 HCM chủ tọa phiên họp HN trung ương lần thứ 16.jpg (56KB)Tháng 4/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp HN trung ương lần thứ 16.

Cần lưu ý rằng, ngay tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I, diễn ra vào tháng 11/1946, Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, cũng là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Nhưng đáng tiếc rằng, Bản Hiến pháp này chưa kịp ban hành thì chiến tranh bùng nổ trên toàn quốc (19/12/1946).

Vì thế, cho dù Bản Hiến pháp 1946 được đánh giá như một nội dung mẫu mực của một bộ luật cơ bản xác lập thể chế Dân chủ – Cộng hoà, không chỉ xác lập một sự tiến bộ vượt bậc trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam mà còn xác định một thể chế tiên tiến trong nền chính trị của thế giới, nhưng nó chưa bao giờ được chính thức ban hành.

Vì thế, bản Hiến pháp sửa đổi được tổ chức soạn thảo tại kỳ họp thứ 8 và thông qua tại kỳ họp thứ 9 chính là bản Hiến pháp đầu tiên được ban hành!

Điểm lại những dấu ấn của Quốc hội khoá I: cuộc Tổng tuyển cử tổ chức vào ngày 6/1/1946 bầu ra 333 đại biểu, được bổ sung không qua bầu cử 70 đại biểu dành cho 2 đảng đối lập với Việt Minh là Việt Quốc và Việt Cách. Đại biểu trẻ nhất 22 tuổi (chính là nhà văn Nguyễn Đình Thi) và cao tuổi nhất là 64 tuổi (cụ Ngô Tử Hạ, nhân sĩ công giáo).

Có 4 đảng chính trị là Dân chủ, Xã hội và 2 đảng trên cùng Nhóm Mác xít (bộ phận công khai của Đảng Cộng sản tự giải tán từ 11/1945). Sau những biến cố chiến tranh đã có 116 đại biểu bị tước quyền, còn lại 287 đi theo kháng chiến đến ngày kết thúc thắng lợi.

Nổi bật là những tấm gương của các đại biểu đã hy sinh trở thành những vị liệt sĩ trong Quốc hội: Luật sư, một trí thức công giáo ở Gia Định bị thực dân giết hại ngay trong tháng 7/1946; Bác sĩ Huỳnh Bá Nhung ở Rạch Giá, nhà cựu học Lê Thế Hiểu đại biểu Quảng Trị, bác sĩ Nguyến Văn Luyện, và học giả Nguyễn Văn Tố, vị Trưởng ban thường trực Quốc hội (chủ tịch) đầu tiên, bị giặc Pháp bắt, tra tấn, dụ dỗ không được đã giết hại.

Đánh giá về Quốc hội khoá I, Bác nói: “Quốc hội ta là Quốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam Á cũng là Quốc hội đầu tiên của các nước thuộc địa cũ được độc lập tự do. Suốt 14 năm, Quốc hội đã đoàn kết nhân dân, giúp đỡ Chính phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến thắng lợi và thực hiện nhiều chính sách to lớn ích nước lợi dân”.

X&N
bee.net.vn

“Ai là anh hùng?”

– Ngày 17/4/1952, báo “Nhân Dân” đăng bài “Ai là anh hùng?” của Bác (ký bút danh C.B). Thông qua câu chuyện trao đổi giữa một nhóm chiến sĩ về câu hỏi này, bài báo kết luận bằng lời giải thích của chính trị viên, cũng là của tác giả bài viết: “Người anh hùng là những người thật cần kiệm liêm chính, hết lòng hết sức phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, là những người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, của giai cấp”.

Bước sang cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tháng 4/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tài liệu “Nội dung chủ nghĩa anh hùng cách mạng” nhằm đưa ra những tiêu chí cho hiện thực phong phú của công cuộc cách mạng và nhu cầu phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong một thời kỳ đầy thử thách ác liệt của đất nước. Tác giả đã khái quát thành 5 điểm chủ yếu:

1. Trung với nước, hiếu với dân, vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, vì chủ nghĩa xã hội, luôn luôn nêu cao tinh thần chiến đấu hy sinh, lao động quên mình.

HCM xem kế hoạch bắn DKB - A12 chuan bi cho Mau Than 68 - Copy.jpg (19KB)Bác xem kế hoạch bắn DKB – A12 chuẩn bị cho Mậu Thân 68

2. Chấp hành đầy đủ chính sách của Đảng và Nhà nước, hăng hái thi đua yêu nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống

3. Quyết tâm đi sâu vào khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ, phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ dám làm, ra sức học tập và vận dụng tốt sáng kiến và kinh nghiệm tiên tiến, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả chiến đấu

4. Nêu cao ý thức làm chủ, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết đồng chí, đoàn kết nhân dân, thực hiện đường lối quần chúng

5. Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, khiêm tốn, giản dị, gương mẫu về mọi mặt”.

Cũng vào đầu năm 1966, khi tiếp đại biểu các đơn vị anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ cứu nước, Bác nói: “Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng. Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng, dân tộc anh hùng, Đảng anh hùng… Vì vậy các anh hùng phải luôn luôn khiêm tốn…”

X&N
bee.net.vn

“Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc”

– Ngày 16/4/1959, đến thăm Đại hội II Hội Nhà báo Việt Nam, lấy tư cách “một người có nhiều duyên nợ với báo chí” Bác có một bài phát biểu dài phân tích bản chất của báo chí cách mạng, những kinh nghiệm viết báo ở ngoài nước và trong nước cũng như những căn bệnh thường thấy của người làm báo.

Bác nói: “Ưu điểm của các cô các chú không ít, nhưng khuyết điểm thì cũng còn nhiều… Cái bệnh dùng chữ là phổ biến trong tất cả các ngành. Đáng lẽ báo chí phải chống lại cái bệnh đó, nhưng trái lại, báo chí lại tuyên truyền cho cái tệ đó. Cố nhiên có những chữ ta không thể dịch được thì ta phải mượn chữ nước ngoài…

Tóm lại chúng ta dùng chữ nhiều quá, có khi lại còn dùng sai nữa. Mong rằng báo chí cố gắng sửa đổi cái tệ ấy đi. Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc, chúng ta phải hết sức giữ gìn lấy nó, chớ để bệnh nói chữ lấn át nó đi”.

aBác đang xem thông báo về phong trào thi đua diệt dốt trong hai năm 1948-1949 của hai tỉnh Hà Tĩnh và Thái (48KB); BNHCM Ngày 16-4.doc (28KB)Bác đang xem thông báo về phong trào thi đua diệt dốt trong hai năm 1948-1949 của hai tỉnh Hà Tĩnh và Thái Nguyên.

Nói về làm báo cũng là một lao động nặng nhọc, Bác chia sẻ: “…Nghề nào cũng khó, không có nghề nào dễ, phải có ý chí tự cường, tự lập, kém thì phải cố mà học. Chúng ta phải làm thế nào để vượt được khó khăn, làm tròn nhiệm vụ. Người cách mạng gặp khó khăn thì phải đánh thắng khó khăn, chứ không chịu thua khó khăn. “Không có việc gì khó, có chí thì làm nên”. Câu nói đó rất đúng

Bác đã dành nhiều thời gian để nói đến những kỷ niệm cũng là những kinh nghiệm của một người viết báo và làm báo, trong đó có kỷ niệm “Khi đã biết viết báo, mình lại muốn viết tiểu thuyết. Nhưng lại e rằng biết chữ Tây võ vẽ như mình thì viết tiểu thuyết sao được.

Tình cờ đọc một truyện ngắn của Tolstoi, thấy viết một cách rất giản dị, dễ hiểu, thì cho rằng mình cũng viết được… Từ đó mình bắt đầu viết những truyện ngắn. Lúc đó mình sống ở khu phố công nhân nghèo, hiểu rõ đời sống của họ, mình cứ viết những điều mắt thấy tai nghe.

Viết xong đưa đến báo Nhân Đạo (L’ Humanité) và nói với đồng chí phụ trách về văn nghệ: “Đây là lần đầu tiên tôi thử viết truyện ngắn, nhờ đồng chí xem và sửa lại cho”. Đồng chí ấy xem xong rồi bảo: “Được lắm,  chỉ cần sửa lại một vài chỗ thôi”.

Cách mấy hôm sau, thấy chuyện của mình được đăng báo thì sướng lắm. Sướng hơn nữa là nhà báo trả cho 50 France tiền viết bài. Chà! Lần đầu tiên được trả tiền viết báo. Với 50 France đó mình có thể sống 25 ngày không phải đi làm, tha hồ tham gia mít tinh, tha hồ viết báo, tha hồ đi xem sách…”

Phần cuối bài nói, Bác nhấn mạnh: “Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Báo chí phục vụ ai?… Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động… phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu ..  Tất cả những bài Bác viết chỉ có một đề tài là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác đối với báo chí là như vậy đó. Kinh nghiệm của 40 năm là không sợ khó, có quyết tâm. Không biết thì cố gắng học, mà cố gắng học thì nhất định học được”.

X&N
bee.net.vn

“Tôi cứ phải cố gắng phấn đấu, phấn đấu mạnh…”

– Ngày 14/4/1964, môt lần nữa Bác Hồ lại được nhân dân Thủ đô tín nhiệm mời ra ứng cử đại biểu Quốc hội khoá III tại đơn vị bầu cử thành phố Hà Nội.

Phát biểu với bà con cử tri, Bác bày tỏ quan điểm về Quốc hội và trách nhiệm của người dân đối với Quốc hội.

4-4-1966 HCM đọc bài báo đăng trên Người Giáo viên Nhân dân ngày 14-4-1966,Người để lại bút tích vàNgày 14/4/1966 HCM đọc bài báo đăng trên Người Giáo viên Nhân dân ngày 14/4/1966 và Người để lại bút tích

Bác nói: “… Tôi được cử làm đại biểu Quốc hội đã gần 20 năm nay. Đáng lẽ tôi nhường chỗ cho lớp người trẻ hơn ra gánh vác công việc nước nhà. Nhưng hiện nay ở miền Nam ruột thịt, từ các cụ già, các bà mẹ, đến các cháu thanh niên và nhi đồng đang anh dũng hy sinh, ra sức chiến đấu chống đế quốc Mỹ cướp nước và bọn Việt gian bán nước, thì tôi không thể: “Thảnh thơi vui thú thanh nhàn/ Sớm khuya tiếng hạc, tiếng đàn tiêu dao”.

Vì vậy, tôi cứ phải cố gắng phấn đấu và phấn đấu mạnh. Phấn đấu cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Phấn đấu ủng hộ đồng bào miền Nam. Phấn đấu cho sự nghiệp hoà bình thống nhất nước nhà. Phấn đấu cho: “Bắc Nam sum họp một nhà/ Cho người thấy mặt thì ta vui lòng”.

Mặt trận giới thiệu 45 vị ra ứng cử. Nhưng khoá này, Thủ đô ta chỉ được cử 36 đại biểu vào Quốc hội. Như vậy là trong các vị ứng cử, có người sẽ được bầu, có người không được bầu. Tuy vậy, tôi nghĩ rằng: người không được bầu cũng như người được bầu đều vinh hạnh, vì đã được đồng bào tin cây và giới thiệu mình. Cho nên được bầu hay không được bầu, chúng ta đều phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, như người đầy tớ trung thành nhất của nhân dân…

Lá phiếu của người cử tri tuy khuôn khổ nó bé nhỏ, nhưng giá trị của nó thì vô cùng to lớn. Nhân dân ta đã trải qua biết bao gian khổ, hy sinh biết bao xương máu trong cuộc cách mạng đánh đổ thực dân và phong kiến mới giành được nó. Nó chứng tỏ chế độ dân chủ và tự do của Nhà nước ta và quyền làm chủ thật sự của mỗi người công dân ta.

Vì vậy, đi bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người cử tri. Phải đi bỏ phiếu để tự mình lựa chọn những người xứng đáng thay mặt cho mình trong Quốc hội… Hôm tuyển cử phải là một ngày rất long trọng và rất vui vẻ của nhân dân ta…”.

Đó chính là mong ước của người đã xác lập thể chế Dân chủ Cộng hoà trong lịch sử hiện đại Việt Nam.

X&N
bee.net.vn

“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”

– Tối 13/4/1946, Bác đến thăm môt lớp học ở phố Hàng Trống (Hà Nội). Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuật lại: “Bàn học là những cánh cửa kê tạm. Giáo viên, một người trẻ tuổi đeo kính trắng đang cầm phấn viết mấy chữ mẫu trên tấm bảng đen. Người học thuộc nhiều lứa tuổi, ăn mặc khác nhau.

Những mái đầu cặm cụi. Mái tóc bạc phơ của một cụ già vận áo dài ở bên bộ tóc đen nháy của một chú bé mặc quần cộc. Bác đứng chống cây gậy tre nhìn quang cảnh này tỏ vẻ rất xúc động. Bác khuyến khích mọi người và nói: “Cả người dạy và người học đều là những chiến sĩ trên mặt trận chống giặc dốt”.

Bác Hồ đến thăm một lớp học ở khu lao động Lương Yên, Hà Nội, năm 1956Bác Hồ đến thăm một lớp học ở khu lao động Lương Yên, Hà Nội, năm 1956

Sau đó, Bác đến thăm một lớp học khác tại khu 21Trịnh Hoài Đức và biểu dương đội ngũ các thầy cô giáo là những người tình nguyện dạy học không lương: “Anh chị em giáo viên Bình dân học vụ là những người vô danh anh hùng. Anh hùng không tên tuổi, anh hùng không ai biết đến”.

Trước đó, “Nha Bình dân học vụ gửi tới Bác cuốn “Phương pháp và cách thức dạy học vỡ lòng chữ quốc ngữ”. Bác xem rồi tự tay viết vào đầu cuốn sách: “Anh chị em giáo viên Bình dân học vụ cố gắng đọc kỹ sách này, rồi tận tâm dậy bảo đồng bào thất học, làm cho nạn mù chữ chóng hết. Thế là làm tròn một nhiệm vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc”.

Có thể nói chống giặc dốt là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, chỉ 1 ngày sau khi Tuyên ngôn Độc lập (3/9/1945), Bác đã coi “nhiệm vụ cấp bách thứ hai, chỉ sau giặc đói là ưu tiên hàng đầu.

Bác phát biểu: “Vấn đề thứ hai, nạn dốt. Là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ. Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ biết đọc, biết viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ”.

Tin tưởng vào lòng yêu nước và ham học của dân,  phong trào xoá nạn mù chữ được phát động huy động nhân lực, vật lực trong dân và kế thừa kinh nghiệm của Phong trào truyền bá quốc ngữ của các tầng lớp trí thức yêu nước chịu ảnh hưởng của Đảng khởi xướng từ thời kỳ Mặt trận Bình dân.

Phong trào xoá nạn mù chữ được tiến hành liên tục, ngay cả trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chuyển dần thành phóng trào “Bình dân học vụ” được duy trì bên cạnh hệ thống giáo dục của nhà nước, đã góp phần to lớn vào việc huy động toàn dân tham gia kháng chiến và kiến quốc. Việc đến thăm để động viên các lớp học bình dân của các tầng lớp dân nghèo luôn được Bác quan tâm.

X&N
bee.net.vn

“Biến thành chính sách của nhân dân”

– Ngày 12/4/1952, Báo “Cứu Quốc” đăng bài “Cụ Hồ và cuốc cỏ bỏ phân”, ký tên Đ.X chính là do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết.

Bài báo cho biết, Chủ tịch nước đã nhận được hàng vạn bức thư của các cụ phụ lão, các cháu thiếu nhi, của bà con nông dân và chiến sĩ, lao động gửi tới thông báo về thành tích tăng gia sản xuất.

Bài báo trích nội dung thư của một chị chiến sĩ nông nghiệp được gặp Cụ Hồ đã hứa: “Sẽ vận động bà con trong làng ra sức cuốc cỏ bỏ phân, làm mùa thật tốt”, tức là thực hiện một hướng dẫn khoa học để lao động của người dân có kết quả  thiết thực.

HCM bên lá cờ tổ quốc,ảnh do một sĩ quan Anh chụp đầu năm 1946,lưu trữ tại Bảo tàng Chiến tranh Ho (63KB)Bác Hồ bên lá cờ tổ quốc, ảnh do một sĩ quan Anh chụp đầu năm 1946, lưu trữ tại Bảo tàng Chiến tranh Hồ Chí Minh.

Kết luận bài báo, tác giả tin tưởng rằng chính sách tăng gia và tiết kiệm của Chính phủ và Đoàn thể nhất định thành công vì chính sách ấy “đã thấm nhuần và đã biến thành chính sách của nhân dân”.

Bài báo này biểu hiện kết quả bước đầu của phong trào thi đua yêu nước do Bác phát động nhằm thu hút toàn dân tham gia vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lúc này đã bước vào một thời kỳ quyết liệt mà thắng lợi của nó, theo quan điểm của Bác, không chỉ ở trên chiến trường.

Trong một bức thư “gửi đồng bào, chiến sĩ và cán bộ toàn quốc” được viết vào thời điểm này (4/1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích: “Kế hoạch tăng gia sản xuất và tiết kiệm do Chính phủ đề ra, đã được Ban thường trực Quốc hội đồng ý, đã được Ban chấp hành trung ương Mặt trận Liên Việt đồng ý; Đã được các đoàn thể nhân dân đồng ý; Đã được các đại biểu chính quyền các khu, các tỉnh và các đại biểu quân đội ta thảo luận kỹ và đồng ý.

Nghĩa là kế hoạch này là một kế hoạch rất dân chủ, rất thiết thực, rất ích nước lợi dân… Thực hiện kế hoạch này chẳng những có ý nghĩa kinh tế to lớn, mà lại có ý nghĩa chính trị to lớn. Nó giáo dục cán bộ và nhân dân về quyền hạn và nhiệm vụ dân chủ…

Vậy tôi yêu cầu cán bộ các ngành, các đơn vị, từ trung ương đến khu, đến xã phải nghiên cứu rất kỹ lưỡng, phải hiểu biết rất rõ ràng kế hoạch này. Tôi yêu cầu các cán bộ thấm nhuần kế hoạch rồi phải giải thích tuyên truyền cho mọi chiến sĩ, mọi người thấm nhuần kế hoạch, để thực hiện kế hoạch cho kỳ được.”

Đó chính là phương thức chỉ đạo thực hiện một đường lối, chính sách mà phong trào quần chúng là thước đo hiệu qủa mà hiệu ứng của nó chính là việc xây dựng nền dân chủ làm cho mọi chính sách của đoàn thể chính trị và nhà nước trở thành “chính sách của nhân dân”.

X&N
bee.net.vn

“Chính tâm tu thân”

– Ngày 10/4/1953, đến với Lớp chỉnh Đảng Trung ương khoá III, Bác nói: “Trong khi rỗi, Bác thường đọc sách, sách mới có, sách cũ có. Hôm nay Bác nói một câu chuyện về sách cũ.

Ngày xưa, Khổng tử có câu: “Ôn việc cũ để biết việc mới”. Sau khi phân tích những thay đổi to lớn của thế giới mà xu thế là phe đế quốc ngày càng yếu, phe dân chủ hoà bình mạnh lên cũng như những trưởng thành của cuộc kháng chiến trong nước. Bác phân tích đến những vấn đề thuộc về “cá nhân chúng ta”.

Bác đọc bia Tiến sĩ tại Văn MiếuBác đọc bia Tiến sĩ tại Văn Miếu

Bác nói: “Thiện là gì? Là làm đúng chính sách của Đảng, phục vụ quyền lợi đa số nhân dân (công nông) thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, để lợi ích cách mạng, nhân dân lên trên hết, trước hết; trái lại là cái ác. Hai cái đó luôn đấu nhau.

Không ít cán bộ, đảng viên phạm tham ô, lãng phí, quan liêu; đó là phe ác nó thắng phe thiện. Nếu mỗi cán bộ, đảng viên theo đúng chính sách của Đảng, chí công vô tư, thực hành cần, kiệm, liêm, chính – có nhiều cán bộ trực tiếp viết thư cho Bác hứa không có tham ô, thực hiện đúng lời hứa đó, và tự chỉnh huấn, rửa sạch được cái bệnh ấy – phe dân chủ hoà bình trong người các chú thắng lợi. Nếu không phe ác thắng lợi trong con người các chú.

Khổng tử nói: “Mình phải chính tâm tu thân” nghĩa là việc gì cũng phải làm kiểu mẫu, có thế mới “trị quốc bình thiên hạ” được. “Trị quốc bình thiên hạ” đây tức là ta kháng chiến đánh Pháp, xây dựng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hoà bình thế giới. Muốn cải tạo xã hội thì lòng mình phải cải tạo. Nếu lòng mình không cải tạo thì dừng nói đến cải tạo xã hội. Lòng mình còn tham ô, lãng phí muốn cải tạo xã hội làm sao được…”.

Quan niệm “chính tâm tu thân” cũng như nhiều nguyên lý của Khổng giáo nhiều lần được Bác Hồ vận dụng trên một tinh thần phù hợp với công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Ngay sau khi dành được độc lập, Bác đã bày tỏ sự trân trọng của mình đối với những di sản tích cực của Khổng giáo khi đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Báo “Cứu Quốc” tường thuật:

“9 giờ sáng ngày 21/10/1945, Hội Tư Văn Thăng Long gồm các bậc cựu văn thân đã tổ chức kỷ thu lễ đức Khổng Tử tại Đền Giám. Hồ Chủ tịch, cố vấn Vĩnh Thuỵ (Bảo Đại), các quan chức Chính phủ và Hà Nội đến dự. Trưởng quan Trung Hoa cũng có mặt.

Trước đỉnh trầm nghi ngút và bàn thờ thắp nến sáng rực, Hồ Chủ tịch đứng chủ lễ, các quan khách dàn thành hàng ngang hai bên. Sau khi hành lễ, các đại biểu phát biểu. Ông Trưởng quan Trung Hoa đọc đáp từ.

Hồ Chủ tịch dịch ra tiếng Việt như sau: Bên Trung Hoa cũng như Việt Nam, hàng năm vẫn làm lễ Khổng Tử để duy trì nền đạo đức, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Vậy mong rằng hai dân tộc cùng nhất trí hành động, đặng kiến thiết nền văn hoá phương Đông theo một tinh thần mới…”.

X&N
bee.net.vn

“Một tác phẩm văn chương không cứ dài mới hay”

– Ngày 9/4/1925, Nguyễn Ái Quốc với bút danh L.T viết thư trả lời ông H. góp ý kiến nhận xét về tập luận văn “Cách mệnh” theo yêu cầu của tác giả. H. chính là Nguyễn Thượng Huyền, con trai của nhà yêu nước Nguyễn Thượng Hiền, lúc này cũng đang hoạt động chính trị ở Trung Quốc.

Bức thư được viết nhân H. gửi 2 tập bản thảo của mình cho Nguyễn Ái Quốc đọc để nhận xét. Trong thư, Nguyễn Ái Quốc đã góp ý cho tác giả và bày tỏ một số quan niệm của mình về công việc cầm bút và phê bình.

Bác Hồ làm việc tại Chiến khu Bác Hồ làm việc tại Chiến khu

Thư viết: “Tôi luôn luôn nhớ rằng phê bình thì dễ, còn sáng tác nghệ thuật thì khó. Dùng điển tích là tốt, nhưng nếu lạm dụng sẽ làm cho độc giả khó chịu. Bởi vì tính chất cao xa, thâm thuý của các điển tích thường cũng bao hàm những ý nghĩa mơ hồ có thể làm cho người ta hiểu lầm…

Một tác phẩm văn chương không cứ dài mới hay. Khi nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, khi nó trình bày sao cho mọi người ai cũng hiểu được và khi đọc xong độc giả phải suy ngẫm thì tác phẩm ấy mới xem như là một tác phẩm hay và biên soạn tốt… Một lối hành văn giản dị chính xác hơn hẳn cái lối hành văn rườm rà, hoa mỹ…

Nếu tác phẩm của ông lại định dùng để tuyên truyền thì đó phải là một tác phẩm ai đọc cũng hiểu được. Một tác phẩn hành văn hay mà khó hiểu thì chẳng có ích gì”.

Về nội dung chính trị của luận văn bàn về cách mạng, Nguyễn Ái Quốc thẳng thắng góp ý rằng viết về cách mạng mà “Ông không nói 1.Phải làm cái gì trước cách mệnh 2.Phải làm gì trong cách mệnh 3.Phải làm gì sau cách mệnh. Ông chưa bàn đến lực lượng mà người Pháp có thể sử dụng ở nước ta, cũng chưa bàn đến lực lượng của ta”.

Cuối thư, Nguyễn Ái Quốc viết: “Tôi đã nói thẳng những ý kiến của tôi về bài viết của ông và cũng nhân cơ hội này nêu lên một số vấn đề để thảo luận, mong rằng có thể rút ra từ đó một cái gì để mở rộng kiến thức của tôi.

Xin thành thực và nhiệt liệt hoan nghênh tài cao trí lớn của ông. Bất cứ một người lao động nào, dù thông minh đến đâu, đôi lúc cũng có thể sai lầm. Chỉ có những kẻ ngồi không mới không sai lầm. Nhưng làm việc mà có sai lầm còn hơn là sợ sai lầm mà khoanh tay ngồi không”.

Thư còn dành nhiều dòng để góp ý rất cụ thể liên quan đến những khái niệm, quan điểm trình bày trong bản thảo của H., thể hiện tác giả lá thư rất nghiêm túc, chân tình nhưng cũng thẳng thắn. Chỉ có điều đáng tiếc rằng hành trạng của con trai nhà yêu nước Nguyễn Thượng Hiền cho thấy Nguyễn Thượng Huyền đã bị bộ máy mật thám thức dân lung lạc.

X&N
bee.net.vn