Tag Archive | Tin tức

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài về Lev Tolstoi

N.i.nikulin
Phương Phương dịch

Năm 1960, tòa soạn báo Văn học ở Moscow đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh viết một bài về văn hào Nga vĩ đại Lev Tolstoi. Khi đó vừa tròn 50 năm Tolstoi rời bỏ ngôi nhà của mình ở Yasnaia Poliana và qua đời. Năm 1960 được tuyên bố là “Năm Tolstoi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đáp lại lời đề nghị của tòa soạn.

Bài báo nhỏ ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan trọng ở nhiều phương diện. Thứ nhất, đó là một tư liệu quý giá của nhân loại, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh kể về bản thân mình, về tuổi trẻ của mình, về sự trưởng thành về tinh thần và nghệ thuật của mình với tư cách là một nhà văn, nhà báo. Người kể lại một cách rõ ràng với phong cách giản dị, sáng sủa, giàu hình ảnh, với sự chân thành sâu sắc, có lúc thoáng chút hài hước khi Người nhớ lại thời gian đầu làm quen với sáng tác của Tolstoi. Thứ hai, bài báo là một cứ liệu hiếm hoi về vai trò của các nhà văn cổ điển Nga và của Tolstoi trong sự hình thành văn học cách mạng Việt Nam, về sự tiếp nhận văn học hiện thực phê phán Nga của nhà hoạt động văn hóa vĩ đại Việt Nam và về nhiều điều khác. Bài báo nhỏ nhưng rất nhiều thông tin.

Đầu tiên bản dịch sang tiếng Nga của bài báo được đăng ở Moscow trên tờ Văn học số ra ngày 19-11-1960, còn nguyên bản tiếng Việt thì hai ngày sau được đăng trên báo Nhân Dân (số ngày 26-11-1960). Tạp chí Văn nghệ sau đó đăng lại. Giữa các văn bản tiếng Nga và tiếng Việt có một số chỗ khác nhau, chủ yếu là về phong cách. Trong bản tiếng Việt và bản tiếng Nga bài báo mang các tựa khác nhau. Trên báo Văn học nó có tên “Kỷ niệm về Người”.

Việc Nguyễn ái Quốc vào đầu những năm 20 quan tâm đến sáng tác của Tolstoi là điều rất tự nhiên, bởi chính Tolstoi chứ không phải ai khác trong các nhà văn cổ điển Nga có rất nhiều mối quan hệ với văn hóa phương Đông, với các nhà hoạt động nổi tiếng trong lĩnh vực văn hóa và trong phong trào giải phóng dân tộc cuả các dân tộc châu á, trong số họ có người chiến sĩ vĩ đại đấu tranh cho độc lập của ấn Độ Mahatma Gandhi, có nhà văn Nhật Bản nổi tiếng Tokutomi Roka.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo về Tolstoi ấy ở đâu và trong hoàn cảnh nào? Câu hỏi đó từ lâu đã làm tôi quan tâm. Hóa ra, vào tháng 11 năm 1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ở Moscow, Người dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam tham dự hội nghị của các đảng cộng sản và đảng công nhân. Tôi tìm đến một số đồng chí Liên Xô phục vụ cho đoàn Việt Nam lúc đó, và đã sáng tỏ một số chi tiết.

Người ta kể cho tôi rằng ngày làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đầy ắp những công việc quan trọng và kéo dài 17 tiếng đồng hồ hoặc hơn thế nữa, với vài lần nghỉ ngắn ngủi. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ trở về tòa nhà nhỏ hai tầng nằm trong khu phố Mosfilm ở phía tây nam Moscow, nơi Đoàn đại biểu Việt Nam nghỉ lại, sau 12 giờ đêm; 5 – 6 giờ sáng Người đã dậy và bắt đầu ngày làm việc. Người chỉ có thể được ngủ 4 – 5 tiếng. Trong điều kiện như thế, rút bớt thời gian ngủ, Người không cho phép mình được từ chối lời đề nghị của tòa soạn báo Văn học và đã viết bài báo về Tolstoi.

Còn giữ lại một cứ liệu khác về những ngày đó: cùng thời gian này cũng ở Moscow có nhà văn Nguyễn Công Hoan đến để tham dự các hoạt động kỷ niệm Tolstoi, và ông đã gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 17-11-1960. Nguyễn Công Hoan nhớ lại: Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trong giá rét, mặc chiếc măng-tô và đội chiếc mũ lông, hồng hào, nhanh nhẹn. Thời gian của Chủ tịch quá chật hẹp, Người đang vội, cuộc nói chuyện với Nguyễn Công Hoan rất ngắn ngủi.

… Với tình cảm biết ơn sâu sắc, tôi lần nữa lại đọc lại bài báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Lev Tolstoi: mỗi chữ mỗi từ đều tràn đầy ý nghĩa.

Báo Sài Gòn giải phóng
cpv.org.vn

Người châu Phi rước chân dung Bác Hồ

Thủ đô Bradavin của nước Cộng hoà Nhân dân Công Gô (nay là Cộng – hoà Công Gô) tuy nhỏ, nhưng đẹp và rất trật tự. Vào những năm 1988 đến năm 1992, nơi đây thường diễn ra các cuộc Hội nghị, Hội thảo, các cuộc gặp gỡ quốc tế của các nước á, Phi và Mỹ La tinh. Khi chúng tôi, những người Việt Nam làm việc ở Bradavin có dịp tiếp xúc với các bạn ấy, họ thường hỏi thăm về Bác Hồ, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, về anh Nguyễn Văn Trỗi…

Năm 1988, bạn tổ chức ngày Lễ Quốc tế Lao động (1-5) rất long trọng, có diễu hành lớn qua Quảng trường Marien N’gouabi (tên vị Tống thống đầu tiên của CHND Công Gô) và các đường phố lớn ở Thủ đô Bradavin. Công việc chuẩn bị tiến hành từ giữa tháng 4-1988 khi ấy tôi làm việc tại Bộ Giáo dục Công Gô với tư cách chuyên gia Hội hoạ; Bộ này tham gia diễu hành ngày Quốc tế Lao động bằng đội ngũ các thấy, cô giáo dạy giỏi và đội ngũ các học sinh xuất sắc mang các biểu ngữ, panô trình bày thành tích giáo dục. Tôi được mời đến gặp Bà Bernadette Bayol, Bộ trưởng Bộ Giáo dục.

Bà Bayol yêu cầu tôi vẽ 2 bức chân dung cỡ lớn để đi diễu hành ngày 1 tháng 5: một là vẽ cố Tổng thống Marien N’gouABI, phía dưới kẻ dòng chữ “Trường học thoải mái” tiếng Pháp: “Ecole àgréablel” đó là phương châm của Cố Tổng thống đề ra cho ngành Giáo dục, ý nói: “Học hành phải vui vẻ thoải mái mới đạt kết quả cao”, hai là vẽ chân dung đương kim Tổng thống: Đại tá Denis Sassou N’guesso, phía dưới kẻ dòng chữ “Môi trường học là một cánh đồng” – “Chaque Ecole, un Champ” ý Tổng thống nói: “Dạy và học đều phải tích cực, cần mẫn như công việc đồng áng”. Chân dung 2 vị Tổng thống đều có kẻ khẩu hiệu ở phía dưới bằng tiếng Pháp vì nước Công Gô nói tiếng Pháp.

Tôi vui vẻ nhận vẽ hai bức chân dung nói trên và nói với Bà Bộ trưởng và các vị trợ lý rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh có lời dạy bảo rất hay. Các bạn Công Gô hỏi: “Lời dạy bảo của Bác Hồ thế nào?”. Tôi có dụng ý dùng từ Chủ tịch Hồ Chí Minh. (président Hồ Chí Minh) sau đó tôi chú ý thấy bà Bộ trưởng dùng từ bác Hồ”. (Uncle Hồ) khiến tôi cảm động và thấy tình cảm càng thân thiết với Công Gô. Tôi giới thiệu câu nói của văn học “Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người” tiếng Pháp: “Pour leo inte’zêtrắng de dix ans, on plante larbre, pour ceux de cent ans, on cultive l’homme”. Nghe xong câu ấy, từ bà Bộ trưởng Bernadette Bayol, ông Đổng lý Văn phòng D’Nimina – Gilbert đến các vị trợ lý Bộ Giáo dục đều đứng cả dậy vỗ tay reo: – “Thật là lời dạy của một vị đại triết gia”. Ông Touloulon ghi vào văn bản.

Vậy là bà Bộ trưởng chỉ thị cho tôi vẽ 3 bức chân dung. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tổng thống Marien N’gouabi – Tổng thống Denis Sassou N’guesso với các phương châm như đã nói ở trên. Ông Đổng lý văn phòng điều ngay thợ mộc đen đóng khung panô, căng vải để vẽ bằng sơn dầu và mang đến cơ man nào là bia, rượu vang đường, sữa, bơ, pho mát, xúc xích… để bồi dưỡng cho hoạ sĩ. Các chuyên gia Việt Nam đang làm việc ở Công Gô thời gian ấy cũng được nghỉ 10 ngày để phục vụ cho việc thể hiện 3 tranh chân dung cỡ lớn (3mx2m), đó là kỹ sư Đặng Vũ Tường và 2 bác sĩ khoa Nhi: Trịnh Thị Mai Anh và Nguyễn Văn Lai. Họ đem sữa, pha chè, nấu ăn rửa bát… phục vụ chu đáo cho anh em thể hiện các bức chân dung.

Và thế là trong Ngày hội Quốc tế Lao động năm ấy, đoàn người diễu hành trùng điệp trong tiếng nhạc Quốc tế ca hùng tráng – Những hàng người đi đầu giương cao các bức chân dung các nhà lãnh đạo cách mạng trong đó có chân dung Bác Hồ với dòng chữ ” Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Ông Matoundp Albert, một trung sĩ trong Quân đội viễn chinh Pháp Cefeo (Corps expédi tionnaire franctas en Extrême-Orint) đã chạy sang hàng ngũ Việt Minh năm 1953 rồi ở lại Việt Nam đến năm 1973 mới hồi hương, nắm lấy tay tôi, vẻ hồ hởi cảm động. Ông nói tiếng Việt rất thạo:

– Trông thấy chân dung Bác Hồ trong đoàn diễu hành, tôi nhớ da diết Thủ đô Hà nội.

Báo Văn Nghệ 18/5/2002
cpv.org.vn

Mấy quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa và thực tế hiện nay

Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và xây dựng con người là một chủ đề rộng lớn.

1. Về vai trò của văn hóaĐã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Dù không có điều kiện và thời gian để đi sâu tìm hiểu các định nghĩa “hàn lâm” đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã tự tìm ra một định nghĩa về văn hóa rất gần với cách hiểu văn hóa mà hàng chục năm sau, năm 1982, tại Mexico, UNESCO mới nêu lên.

Trong mục Đọc sách ở phần cuối tập Nhật ký trong tù (1942-1943), Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.

Chính văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng như vậy mới có thể đóng góp được vai trò “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội”.

Vị trí rất cao của văn hóa trong đời sống xã hội, vai trò tối quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một cách rành rẽ ngay từ những ngày đầu của chính quyền nhân dân non trẻ.

Ngay đầu tháng 9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập Ủy ban Văn hóa lâm thời Bắc Bộ. Ngày 7/9/1945, khi tiếp các đại biểu của ủy ban đó, Hồ Chủ tịch đã nói: “Tôi mong rằng các ngài trong giới văn hóa nhận thấy rõ nhiệm vụ của các ngài trong lúc này là củng cố nền độc lập của Việt Nam, sửa soạn gây dựng cho đất nước một nền văn hóa mới…Bổn phận của các ngài là lãnh đạo tư tưởng của quốc dân, đấu tranh cho nền độc lập và kiến thiết một nền văn hóa mới” (Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, tập 3, tr.13). Thật quả là một kỳ vọng to lớn mà Người đã trông đợi ở các nhà văn hóa!

Hơn một năm sau, khi tiếng súng kháng chiến đã nổ ở Nam Bộ, ở Hải Phòng, tình hình đất nước hết sức nguy cấp, ngày 24/11/1946, Hồ Chủ tịch vẫn dành thì giờ tới đọc diễn văn khai mạc Hội nghị Văn hóa toàn quốc với lời lẽ đã đi vào lịch sử như một hàng chữ vàng: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”.

Sau này, Hồ Chủ tịch còn nhiều lần nhắc lại vai trò, vị trí của văn hóa trong sự nghiệp chung. Đáng tiếc là nơi này, nơi khác, lúc này, lúc khác một số cán bộ, cấp ủy còn chưa đặt đúng văn hóa vào vị trí của nó, thậm chí còn coi nó như một lĩnh vực “ăn theo” kinh tế, một “cái đuôi” của sự phát triển. Để đáp ứng được những yêu cầu, kỳ vọng của Người đối với văn hóa, chúng ta còn phải nỗ lực tìm ra những chính sách, những giải pháp hiệu quả sao cho vai trò to lớn của văn hóa được khẳng định trong hiện thực.

2. Về một khía cạnh quan trọng trong văn hóa chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần chỉ rõ rằng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ta bốn lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa gắn bó mật thiết với nhau, cần được coi trọng như nhau.

Ở đây cần đặc biệt lưu ý tới kiến giải của Người về sự tác động qua lại giữa các lĩnh vực đó và văn hóa không đứng ngoài, đứng trên mà phải hiện diện ở mọi lĩnh vực của đời sống.

Từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra luận điểm “Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”.

Chúng tôi xin điểm lại một ứng xử của Người thể hiện rõ nét văn hóa đã lồng ghép, đã thấm sâu như thế nào vào hoạt động chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Cả cuộc đời vì nước, vì dân…” – câu hát quen thuộc đã nói lên mục tiêu chính trị của Người là vì độc lập, tự do của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Và để đạt được mục tiêu ấy phải lấy dân làm gốc, người cán bộ phải thực sự là đầy tớ của nhân dân, không thể là một thứ “quan cách mạng” như Người đã nhiều lần nhắc nhở.

Trên thực tế, không ít cán bộ của chúng ta chỉ mới nói mà chưa làm được như mình nói, còn để dân sợ, dân ghét, dân không tin. Nguyên nhân là từ trong nhận thức, tình cảm đến biểu hiện công việc hàng ngày của họ chưa thực sự kính trọng dân, chưa thực coi dân là gốc.

Một việc tưởng như là nhỏ, như là chuyện hình thức – việc cán bộ tiếp dân thế nào trong thực tiễn hàng ngày, tiếc thay còn gây bao phiền toái, bực bội cho người dân! (Đấy là còn chưa nói đến thái độ không hiếm gặp “bịt tai, làm ngơ” coi như “không nghe, không thấy, không biết” trước bao điều thắc mắc, thỉnh cầu của người dân !…).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương sáng trong công việc này. Ngay sau ngày đọc bản Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945), Người đã cho thông báo Về việc tiếp chuyện các đoàn thể. Ở cương vị cao nhất đất nước, bận trăm công ngàn việc, giữa thời điểm nước sôi lửa bỏng, vô cùng phức tạp ở trong nước và thế giới khi nhà nước non trẻ mới ra đời được tính bằng giờ, Người đã nghĩ ngay đến việc tiếp dân. Người thông báo rành rẽ:

1. Gửi thư nói trước để tôi sắp thì giờ, rồi trả lời cho bà con, như vậy thì khỏi phải chờ đợi mất công.

2. Mỗi đoàn đại biểu, xin chớ quá 10 vị.

3. Mỗi lần tiếp chuyện, xin chớ quá 1 tiếng đồng hồ”.

(Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, tập 3, tr.11)

Từ thái độ ân cần, chu đáo, lời nói bình dị, khiêm nhường, việc tiếp dân đối với Người đã là một hành xử văn hóa mang đậm tư tưởng chính trị chủ đạo (“lấy dân làm gốc”), hay cũng có thể nói là một động thái chính trị thấm nhuần sâu sắc tinh thần văn hóa – yêu dân, tôn trọng từng người dân, nghe và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của mỗi người dân để có thể làm được một việc tối thiểu là trả lời kịp thời những câu hỏi chính đáng của họ.

3. Cốt cách văn hóa trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chúng ta đều biết Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình Nho học uyên thâm của một vùng đất học truyền thống – vùng xứ Nghệ. Những tinh hoa trong tư tưởng, tình cảm của các hiền triết đời xưa – từ Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Trang Tử… đến Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm… đã thấm sâu vào tâm hồn, trí tuệ của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành qua sự truyền thụ của người cha, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, của người thầy khả kính Vương Thúc Quý và từ những cuốn sách vỡ lòng như Sơ học vấn tân, Ấu học ngữ ngôn, Minh tâm bảo giám đến những tác phẩm đã trở thành “khuôn vàng thước ngọc” của Nho giáo như Tứ thư, Ngũ kinh.

Sau này, khi bước chân xuống tàu để sang châu Âu, có thể nói Nguyễn Tất Thành đã là một người phụ bếp khác thường – một trí thức Nho giáo với khát vọng tiếp cận với thế giới phương Tây, tìm đường cứu dân, cứu nước.

Nguyễn Tất Thành đã trở thành Nguyễn Ái Quốc rồi là Hồ Chí Minh với bao kiến thức phong phú, sâu sắc thu nhận được từ cuộc dấn thân của Người vào đời sống chính trị – xã hội thế giới, nhưng tựu trung, ở chính cội nguồn của mình, Người vẫn mang đậm cốt cách văn hóa phương Đông, văn hóa dân tộc Việt Nam với sự bổ sung sáng tạo của Người và sự hòa hợp với tinh hoa của văn hóa phương Tây.

Khát vọng cao đẹp, dù không tưởng, của các bậc hiền triết cổ đại phương Đông về một thế giới đại đồng, khi mọi người được sống trong tình thương yêu, trong hạnh phúc, có thể nói đã chiếm một vị trí quan trọng trong suy nghĩ, tình cảm của Người. Từ năm 1921, trên tạp chí Cộng sản, cơ quan của Quốc tế thứ III, Hồ Chí Minh đã viết: “Khổng Tử vĩ đại từng đề xướng chủ nghĩa quốc tế và từng hô hào quyền bình đẳng về của cải. Ngài nói tóm tắt là: Nền hòa bình trên thế giới chỉ nảy nở từ một nền đại đồng thiên hạ… Người ta không sợ thiếu mà chỉ sợ không công bằng…”. Ít năm sau, trong cuốn sách nổi tiếng Đường kách mệnh (1927), Người lại viết: “Làm cho thiên hạ đại đồng, ấy là thế giới cách mạng”.

Cũng giống như trong Nho giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao vai trò của đạo đức như là yếu tố quan trọng bậc nhất của văn hóa dân tộc, văn hóa từng cá nhân. Người nhắc nhở: “Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo… Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (Sửa đổi lối làm việc, 1947). Con người có đạo đức trong quan niệm của văn hóa phương Đông mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tâm đắc nhấn mạnh nhiều lần là con người “chí công vô tư”, “cần kiệm liêm chính”, con người “giàu sang không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục” (Lời bế mạc Lễ ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam, 1951). Đó là con người “trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân”, đầy đủ những phẩm chất “trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”.

Chăm lo xây dựng con người có đủ đức tài là mối quan tâm suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Câu nói nổi tiếng của vị tể tướng nước Tề thời Chiến quốc Quản Di Ngô “Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân” đã được Người diễn giải nôm na: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.

Có thể thấy tư tưởng văn hóa của các hiền triết phương Đông xưa được ghi nhận và phát triển trong các phát biểu của Người. Điều đặc biệt đáng lưu ý là tinh hoa văn hóa phương Đông không chỉ dừng lại ở lời nói của Người, mà đã toát ra từ cốt cách con người, từ cuộc đời của chính vị lãnh tụ Hồ Chí Minh, một cốt cách khoan hòa, ung dung, tự tại, luôn luôn làm chủ được bản thân mình, làm chủ được mọi hoàn cảnh. Nhờ thoát khỏi – thoát khỏi một cách “tự nhiên nhi nhiên”, không cần một sự “ráng sức” nào! – mọi sự ràng buộc của danh lợi cá nhân, chỉ suốt đời theo đuổi một “ham muốn tột bậc” là làm sao cho “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, mà Người đã có được cái phong thái sống ung dung, tự tại đó.

Những kẻ hậu sinh chúng ta đều nhớ lời tâm sự chân thành của Người từ những ngày đầu mới ở cương vị cao nhất đất nước: ngoài “ham muốn tột bậc” nói trên, Người chỉ ao ước cho riêng mình “một căn nhà nhỏ, nơi có non xanh nước biếc, để câu cá trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu gì tới vòng danh lợi”. Phong thái sống tránh xa “vòng danh lợi” ấy phải chăng Người đã thừa hưởng từ tiếng suối chảy rì rào bên rừng thông, rừng trúc Côn Sơn của Nguyễn Trãi, từ “ngôi nhà nhỏ mây trắng”, “thu ăn măng trúc, đông ăn giá; xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” của Nguyễn Bỉnh Khiêm?…

Ngôi nhà sàn giữa vườn cây, bên ao cá của Người mãi mãi còn là biểu tượng sống động cho cốt cách văn hóa Hồ Chí Minh.

Khi mà không ít quan chức đủ các cấp bị rơi vào tình trạng “phai nhạt lý tưởng”, bị cầm tù bởi “vòng danh lợi”, xa rời dân, vô cảm trước những bức xúc của dân, chỉ lo “vinh thân phì gia”, hễ có dịp là bòn rút, ăn cắp của công… thì bài học về cốt cách văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giữ nguyên tính thời sự nóng hổi.

 4. Về xây dựng đời sống văn hóa

Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã chỉ rõ việc phát động một cách thực chất phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa là một trong những giải pháp quan trọng nhất để thúc đẩy sự nghiệp văn hóa phát triển. Có thể nói chủ trương này đã bắt nguồn từ những suy nghĩ và việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống văn hóa ngay từ những ngày đầu tiên sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân vừa mới ra đời. Thời kỳ đó Người đã dùng khái niệm “Đời sống mới”.

Tháng 1/1946, Người phát động phong trào “Đời sống mới”. Ba tháng sau, Người cho thành lập Ủy ban Trung ương vận động “Đời sống mới”. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp vừa bắt đầu được ít lâu, giữa lúc vận mệnh chính quyền cách mạng tưởng chừng như đang ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, với một tinh thần lạc quan, niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến, Người đã bình tâm viết cuốn sách Đời sống mới (3/1947) để hướng dẫn cụ thể mọi người tích cực tham gia xây dựng “Đời sống mới”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong cuốn sách của mình, đã làm rõ khái niệm “Đời sống mới” trên cơ sở xác định vị trí nền tảng của đạo đức và sự thể hiện của đạo đức đó trong lối sống, nếp sống hàng ngày.

Người viết: “Thực hành đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính; nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì sẽ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân; nêu cao và thực hành cần, kiệm, liêm, chính là nhen lửa cho đời sống mới”.

Người chỉ rõ việc xây dựng đời sống mới phải bắt đầu từ việc “sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông trong đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc”. Năm cách đó chính là cái mà hôm nay chúng ta thường gọi là lối sống.

Người viết thật giản dị về những gì làm nên đời sống mới: “Đời sống mới không phải những gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Thí dụ: ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Thí dụ: đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi”…

Khái niệm thường gặp hiện nay về “làng văn hóa” đã được Người nêu lên với chữ dùng là “làng phong thuần tục mỹ”: “Về phong tục, phải cấm hẳn say sưa, cờ bạc, hút xách, bợm bãi, trộm cắp. Phải tìm cách làm cho không có đánh chửi nhau, kiện cáo nhau, làm cho làng mình thành một làng phong thuần, tục mỹ”. Người dặn dò mọi người dân phải chú ý đến những việc tưởng chừng như rất nhỏ trong đời sống hàng ngày như giữ vệ sinh trong nhà, ngoài ngõ; sao cho đường sá, ao hồ, nước ăn, nước rửa đều thật sạch sẽ; lễ hội, giỗ tết, ma chay, cưới xin, phải thật trang trọng mà giản dị, tiết kiệm…

Để xây dựng được đời sống mới, Người chỉ ra sự cần thiết phải bắt đầu từ mỗi con người, mỗi gia đình. Người viết: “Do nhiều người nhóm lại thành làng. Do nhiều làng nhóm lại thành nước. Nếu người này xấu, người kia cũng xấu thì thành làng xấu, nước hèn. Nếu mọi người đều tốt thì thành làng tốt, nước mạnh. Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng đời sống mới thì dân tộc ta nhất định sẽ phú cường”. “Ai cũng làm như thế thì tự nhiên nước Việt Nam ta trở thành một nước mới, một nước văn minh”.

Sự nghiệp xây dựng đời sống mới, đời sống văn hóa có thành công hay không một phần quan trọng là phụ thuộc vào vai trò gương mẫu của các cán bộ. Người viết: “Đời sống mới cũng cần có những người làm gương, những nhà làm gương. Khi trông thấy có hiệu quả tốt tươi thì chắc những nơi khác cũng hăng hái làm theo. Nếu miệng thì tuyên truyền bảo người ta siêng làm, mà tự mình thì ăn trưa, ngủ trễ; bảo người ta tiết kiệm, mà tự mình thì xa xỉ, lung tung, thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích!”.

Đối chiếu với những mặt sa sút, yếu kém hiện nay trong đời sống văn hóa ở nước ta (mê tín dị đoan, cúng bái tùm lum, cán bộ thiếu gương mẫu, ma chay cưới hỏi linh đình, cờ bạc, số đề, nghiện hút, trộm cắp của công và của riêng, văng tục, chửi bậy, va chạm một chút là gây gổ đánh nhau…), chúng ta càng thấy việc đọc lại, suy ngẫm về những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới là một việc làm cần thiết, cấp bách.

5. Về vấn đề xây dựng con người

Có thể nói xây dựng con người đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển đất nước là mối quan tâm hàng đầu trong suốt cuộc đời hoạt động lâu dài của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ bài giảng đầu tiên cho lớp huấn luyện những người được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội (1925), Người đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ thường xuyên trau dồi “Tư cách một người cách mệnh”. Trên báo Thanh Niên tháng 9/1926, một lần nữa Người lại đề ra những yêu cầu cụ thể của “một người cách mệnh mẫu mực”. Đó chính là những con người tiên tiến, đi đầu dẫn dắt quần chúng nhân dân cùng phấn đấu thực hiện mục tiêu cao cả giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội.

Sau ngày cách mạng thành công, Người đã phát triển, mở rộng vấn đề nêu trên thành vấn đề xây dựng con người mới như một phạm trù của lĩnh vực văn hóa.

Tháng 2/1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, trong Báo cáo chính trị, Người đã lần đầu tiên chỉ ra sự cần thiết phải “xúc tiến công tác văn hóa để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc”.

Để xây dựng được con người mới, một nguyên tắc hết sức quan trọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh đó là vừa phải tu dưỡng đạo đức thường xuyên, vừa phải kiên quyết chống những biểu hiện thoái hóa đạo đức.

Phải nói rằng Người không chỉ quan tâm đề cao những gương sáng đạo đức, những “người tốt, việc tốt” mà còn vạch ra một cách sắc sảo từ rất sớm những căn bệnh tệ hại của sự suy thoái đạo đức, trước tiên là trong hàng ngũ cán bộ. Chỉ hai tháng sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong Thư gửi Ủy ban Nhân dân các cấp, Người đã nhìn thấy rõ các khuyết điểm nghiêm trọng của các cán bộ đảng viên: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo.

Những điều xấu xa đó, hơn một năm sau, trong Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ (3/1947) lại được Người nhận dạng kỹ càng hơn: Người nêu đúng bản chất của các thói xấu đó là “địa phương chủ nghĩa, bè phái, quân phiệt, quan liêu, hách dịch, hoạnh họe với dân, coi thường cấp trên, lấn át cấp dưới, hẹp hòi, ham chuộng hình thức, làm việc lối bàn giấy, vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa, tranh giành địa vị, chỉ chăm lo ăn ngon mặc đẹp, chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị để buôn bán phát tài v.v…”.

Những bệnh trầm kha trên còn có dịp được Người nhắc lại trong cuốn Sửa đổi lối làm việc (10/1947), trong rất nhiều phát biểu sau này của Người, khi Người gọi đó là “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, nguy hiểm không kém gì “Việt gian, mật thám”!… Thật là chí lý!

Một trong những bài viết cuối cùng của Người là bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (công bố vào dịp kỷ niệm 39 năm thành lập Đảng, 3/2/1969). Người chân thành dặn dò: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Cho nên trong khi ta kiên trì và đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước, làm cho văn minh chiến thắng tàn bạo thì đồng thời phải loại trừ những cái xấu xa do chế độ cũ để lại trong xã hội và trong mỗi con người”.

Trong thực tiễn cuộc sống hôm nay, bên cạnh bao điều tốt đẹp, vẫn còn tồn tại nhức nhối những “điều xấu xa” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “chỉ mặt đặt tên” từ hàng chục năm về trước. Những điều xấu xa ấy không còn chỉ là của “xã hội cũ để lại” mà nó nảy sinh, đâm thêm nhành ngọn chính là từ trong những kẽ hở, những lỗ hổng, những yếu kém của cơ chế quản lý và vận hành xã hội hôm nay.

Từ những bất cập về cơ chế sở hữu, chính sách tài chính, những biểu hiện mất dân chủ, thiếu công khai , minh bạch trong việc thực hiện các quyền cơ bản của người dân… đến tình trạng thủ tục hành chính nhiêu khê, sự thiếu hụt các chế định luật pháp và thực thi luật pháp không nghiêm… tất cả những khiếm khuyết có tính hệ thống đó là môi trường hoàn toàn không thuận lợi cho việc xây dựng con người mới, nếu không nói là mảnh đất màu mỡ cho đủ các thói hư tật xấu phát triển, làm sa ngã không ít cán bộ vốn trước đây là tốt…

Một câu hỏi nhức nhối đặt ra là: Vì sao những lời hay, ý đẹp, mong muốn cháy bỏng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng con người sau mấy chục năm, sau bao cuộc vận động sống và làm theo gương Bác vẫn chưa thành hiện thực, nếu không nói là có lúc, có nơi cái xấu xa còn trầm trọng hơn thêm, ngang nhiên thách thức sự kiên nhẫn của đông đảo những người dân lương thiện đang ngày ngày nhọc nhằn mưu sinh trên ruộng đồng, trong nhà máy?…

Hiệu quả từ cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh” chỉ có thể đạt tới một cách rõ ràng và thực chất nếu chúng ta, song song với việc tuyên truyền, cổ vũ, phải cương quyết đẩy nhanh những thay đổi mạnh mẽ, rộng lớn và sâu sắc để có thể hoàn thiện trên thực tế theo hướng dân chủ hóa, minh bạch hóa cơ chế quản lý xã hội, quản lý kinh tế, văn hóa, coi đó như một điều kiện tiên quyết để xuất hiện ngày càng nhiều hơn những con người tử tế, trung thực, giỏi giang đáp ứng được yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong nỗ lực đồng hành cùng nhân loại.

Theo Honviet.

Created by lethithutrang
archives.gov.vn

UNESCO khẳng định sự tôn vinh với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại hội đồng UNESCO coi Người là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc, bởi Người đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và dân tộc Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đại hội đồng cũng cho rằng những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật kết tinh truyền thống văn hóa của người Việt Nam, một truyền thống có từ nhiều nghìn năm trước, và những lý tưởng của Người tiêu biểu cho khát vọng của các dân tộc khác trên thế giới bởi họ đấu tranh nhằm khẳng định bản sắc văn hóa của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau…

Bà C.Ma-rin (Katherine Muller-Marin), Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, đã dành những lời tốt đẹp này để nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại Hội thảo khoa học quốc tế về Người, được tổ chức hôm qua tại Hà Nội.

Khẳng định sự tôn vinh của UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc) với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà C.Ma-rin nói: “Tôi có mặt tại đây ngày hôm nay để hoàn thành sứ mệnh của nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24 của cơ quan này tại Pa-ri năm 1987, về việc kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn… Đại hội đồng UNESCO cho rằng, việc thế giới kỷ niệm ngày sinh của những nhà văn hóa và trí thức kiệt xuất sẽ góp phần đạt được những mục tiêu của UNESCO và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia.

Để tôn vinh những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn hóa, khoa học, giáo dục của Việt Nam và thế giới… bà C.Ma-rin nhấn mạnh: “Đại hội đồng đã khuyến nghị các quốc gia thành viên tham gia vào việc kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các sự kiện thể hiện tưởng nhớ về Người, nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người. Đại hội đồng cũng đề nghị Tổng giám đốc UNESCO có những biện pháp thích hợp để kỷ niệm ngày sinh của Người và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức trong dịp này, đặc biệt những sự kiện diễn ra tại Việt Nam”.

Bà C.Ma-rin (bên phải) trao đổi với các đại biểu dự Hội thảo

Để nhấn mạnh thêm công lao, sự đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trao đổi với phóng viên bên lề Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”, bà C.Ma-rin xúc động nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có rất nhiều điều làm tôi ấn tượng, bản thân tôi đã nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh xem tại sao người dân Việt Nam lại ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh đến như thế, và tôi đã hiểu được tình cảm và lý tưởng của Người. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh được tôn vinh là biểu tượng của dân tộc thì chắc hẳn phải có điều gì đó và  điều quan trọng nhất ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là khả năng đoàn kết và tập hợp mọi người. Làm thế nào Người làm được điều đó? Người đã đoàn kết và tập hợp được nhiều người vì Người làm cho mọi người tự tin vào bản thân mình, tự hiểu mình nhiều hơn và làm cho mọi người có thể hợp tác và sống hòa thuận với nhau, đoàn kết với nhau… Một trong những điều tôi ấn tượng nhất ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là người luôn quan tâm, giáo dục cho người dân biết đọc, viết… và đấy cũng là ý tưởng của UNESCO. Để người dân biết đọc biết viết, Người còn quan tâm xem làm thế nào để người dân có sách để đọc, có bút để viết… Ngoài ra, tôi rất thích những nỗ lực của Người trong bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, điều thú vị là tất cả các lĩnh vực Người làm đều thuộc những thẩm quyền UNESCO quan tâm”.

Bà C.Ma-rin tâm sự: “Điều quan trọng nhất tôi thấy từ di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc Người đã chỉ cho dân tộc Việt Nam biết cách sống hòa thuận và xây dựng mối quan hệ bang giao hòa hiếu với các dân tộc khác như thế nào, biết đóng góp vào sự nghiệp chung cho nhân loại… Những gì tôi cảm nhận được từ Người thực sự mang những phẩm chất của một con người anh hùng”.

Bài và ảnh: HOA VINH
qdnd.vn

Điểm chung từ ba danh nhân văn hóa vĩ đại của dân tộc Việt Nam

(GD&TĐ) – Đến nay dân tộc Việt Nam có ba nhân vật lịch sử được UNESSCO vinh danh là danh nhân văn hóa vĩ đại đó là Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Hồ Chí Minh.

Nguyễn Trãi cùng Hồ Chí Minh được tri ân Anh hùng dân tộc  Nguyễn Du được người Việt kính trọng tôn xưng là Đại thi hào dân tộc.

Hiển nhiên đã là danh nhân văn hóa vĩ đại thì điểm chung là cả ba danh nhân đó đều có những đóng góp lớn lao cho nền văn hóa nhân loại. Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Hồ Chí Minh cùng gặp gỡ ở một điểm chung đó là trong cuộc đời và sự nghiệp của mình, họ đều đề cao cái Tâm. Tuy ba danh nhân sống ở những không gian và thời gian khác nhau, có những biểu hiện cụ thể khác nhau trong hành động, việc làm nhưng cái cốt lõi của mỗi hành động, việc làm của họ đều là cái Tâm – là tấm lòng, gốc của đạo đức. Và, điều thú vị là cả ba danh nhân văn hóa trong những hoàn cảnh nhất định, đã đặt sự so sánh giữa Tài và Đức, để rồi cả ba đều đề cao Đức, tức là đề cao cái Tâm và họ cùng lập ngôn về điều đó.

Với Nguyễn Trãi, các tài liệu đều thống nhất ghi nhận: ông là một anh hùng dân tộc vĩ đại, là nhà chính trị lỗi lạc, nhà chiến lược thiên tài, nhà ngoại giao kiệt xuất, đồng thời là một nhà văn lớn, nhà thơ lớn, nhà sử học, nhà địa lý học, nhà làm luật pháp và âm nhạc xuất sắc. Chính nhờ những đóng góp lớn lao trên các lĩnh vực đó, năm 1980 ông được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa vĩ đại nhân dịp kỉ niệm 600 năm ngày sinh của ông. Nguyễn Trãi là một người tài năng nhưng ông lại là người đề cao cái Tâm, tất cả các sự nghiệp của Nguyễn Trãi đều dựa trên cơ sở gốc là đề cao cái Tâm. Cái Tâm đối với đất nước, đối với nhân dân xuyên suốt trong cuộc đời, sự nghiệp Nguyễn Trãi, và luôn bàng bạc trong thơ ông. Chính Nguyễn Trãi đã hơn một lần đề cập đến trong thơ khi đối sánh giữa Tài và Đức, lúc thì ông nói:

Tài Đức thì cho lại có nhân
Tài thì kém Đức một hai phần.

(Bảo kính cảnh giới, bài LVII) [1]

và có khi ông răn:

Khó khăn, phú quý, học Tô Tần
Miễn Đức hơn Tài được mỗ phần.

(Bảo kính cảnh giới, bài LX)

Cách Nguyễn Trãi gần 500 năm, Nguyễn Du – Đại thi hào dân tộc, cũng trưởng thành từ cửa Khổng sân Trình, thấm nhuần tâm nhân nghĩa của thời đại. Cái Tâm của Nguyễn Du còn được kết tinh từ nhân dân, cả cái Tâm của Lão – Trang và đặc biệt là cái Tâm Phật giáo.

Tượng Nguyễn Du trong khu di tích Nguyễn DuTượng Nguyễn Du trong khu di tích Nguyễn Du

Trong cuộc đời của một con người xuất thân từ gia đình “đại thế gia”, Nguyễn Du đã được học hành, được thừa hưởng từ gia đình những điều kiện nhất định. Tài năng của Nguyễn Du được nảy nở và chí hướng theo gia đình, nhập thế lập công danh đã thôi thúc chàng trai trẻ Nguyễn Du cùng với những con người khác trong thời đại muốn trổ tài kinh bang tế thế. Thế nhưng công không thành, danh không toại, lý tưởng không đạt, tài năng không có chỗ dùng, một đời thông minh thiệt thòi, ngắm thanh gươm bên mình mà thẹn phận trai không ích gì cho nước. Nguyễn Du đến với văn chương, ý thức được tài năng văn chương của mình. Thế nhưng văn chương là biểu hiện của tài năng cũng chẳng mang lại gì cho chính nhà thơ:

Bách niên cùng tử văn chương lý [2]

(Mạn hứng I)

(Cuộc đời trăm năm chết xác với văn chương)

Nguyễn Du là người từng phải nếm trải cảnh “mười năm gió bụi”, phải trôi nổi trong cuộc đời như ngọn cỏ bồng trốc gốc, thấm thía nỗi đau của bản thân, trở về dưới chân núi Hồng, tâm trạng của nhà thơ u uất, chán nản. Cuộc đời bất hạnh đã đưa nhà thơ trở về gần gũi với cuộc sống gian khổ của nhân dân mà chính nhà thơ viết:

Thôn ca sơ học tang ma ngữ,
Dã khốc thời văn chiến phạt thanh.

(Thanh minh ngẫu hứng)

(Câu hát nơi thôn dã giúp ta biết những tiếng nói trong nghề dâu gai,
Ngoài đồng nội thỉnh thoảng có người khóc còn nghe tiếng chiến tranh).

Chứng kiến cảnh “bình địa ba đào”, “thương hải biến tang điền” của thời đại, suy ngẫm về chuyện của cuộc đời mình, Nguyễn Du còn mở rộng mối quan tâm của mình ra tất cả mọi kiếp người. Trong đó có những kiếp người dưới đáy xã hội. Với tấm lòng nhân ái, cái tâm trách nhiệm, nhà thơ đã thể hiện một tình cảm xót thương trước sự nghèo đói, khổ sở của họ, tìm ra nguyên nhân, chỉ trích, phê phán thói phung phí, xa hoa của quan lại. Và, đặc biệt, trong những kiếp người đau khổ, Nguyễn Du quan tâm tới những con người tài hoa mà bạc mệnh. Từ cảnh ngộ, cuộc đời mình – một con người tài hoa, Nguyễn Du đã đồng cảm, liên tài đối với những người đồng cảnh. Nhà thơ nhận thấy rằng, cái “tài”, từ trong… bản thể của nó ẩn chứa nguyên nhân tai hoạ, vì người tài khó tránh khỏi bị đố kỵ, ghen ghét. Ông cho rằng:

Phàm sinh phụ kỳ khí
Thiên địa phi sở dung

(Điệu khuyển)

(Phàm sinh ra có khí phách khác thường
Thì trời đất không có chỗ dung thân).

Ngày trước, để tránh đi hoặc vượt qua cái “tai”, Lão Tử đưa ra một cách xử thế sâu kín, khôn khéo để tránh tai hoạ: “Thông minh duệ trí thủ chi dĩ ngu, dũng lực chấn thế thủ chi dĩ khiếp” [3], nghĩa là người thông minh phải biết giữ mình bằng cách khiêm nhường, coi mình như người ngu, bậc anh hào có sức mạnh chấn động thế giới phải biết giữ mình bằng cách làm như người nhát sợ. Thế nhưng Nguyễn Du không tìm hướng giải quyết như Lão Tử, mà ông tìm đến Phật giáo, bằng con đường tu Tâm. Bởi vậy trong tập đại thành Truyện Kiều nổi tiếng của mình, sau khi đã trải qua những thăng trầm trong cuộc đời, nhà thơ cảm khái: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài [4]”.

Đến thời đại Hồ Chí Minh, nhiều nhà nghiên cứu đều nhận thấy: có lẽ trong lịch sử thế giới về các danh nhân văn hóa, các nguyên thủ chưa có ai lại đặt ra vấn đề lý luận về Tài và Đức như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc và người cộng sự gần gũi  với Bác Hồ đã nói: “Ở gần Bác, tôi thấy một nét nổi bật của Bác là rất coi trọng phẩm chất con người, suốt đời chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ và nhân dân”.

sdChủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa

Hồ Chí Minh là một lãnh tụ bàn nhiều đến đạo đức và vai trò của đạo đức trong đấu tranh cách mạng. Người nói: “Đạo đức là cái gốc của người cách mạng”. “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Vì vậy suốt đời mình Người kiên trì giáo dục phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên, nhấn mạnh không ngừng “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, và bản thân Người là một tấm gương trọn vẹn của đạo đức mới: Suốt đời phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.” [5]. Hồ Chí Minh nói: “Có Tài mà không có Đức là người vô dụng, có Đức mà không có Tài thì làm việc gì cũng khó”. Cũng đặt trong tương quan so sánh giữa Tài và Đức, ở trong thời đại mới, Hồ Chí Minh đề cao cái Tài nhưng dĩ nhiên cái Đức mới là yếu tố quan trọng hơn. “Có Đức mà không có Tài thì làm việc gì cũng khó”, khó chứ không phải là không làm được, khác hẳn với vô dụng. Qua đó mới thấy Tài tuy quan trọng nhưng Đức còn cần thiết hơn bởi lẽ người có Tài mà sống vị kỉ, chỉ dùng tài năng để phục vụ cho bản thân mình không thôi thì chẳng có ý nghĩa gì, thậm chí với lối sống cá nhân và làm việc như vậy có thể gây hại cho tập thể. Tài năng chỉ được xem trọng khi nó gắn với quá trình cống hiến, người có Tài đem khả năng của mình phục vụ tập thể, phục vụ đất nước trước khi nghĩ tới những quyền lợi cho bản thân. Trong bài nói chuyện tại Đại hội sinh viên lần thứ hai, ngày 7 tháng 5 năm 1958, Bác nói: “Thanh niên bây giờ là thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có Đức, có Tài. Có Tài mà không có Đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi, nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có Đức mà không có Tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người…” [6].

Trong Bài nói tại lớp học chính trị của giáo viên, Người lại nói đến mối quan hệ giữa chuyên môn và chính trị bằng sự so sánh giữa Tài và Đức: “Ta là cán bộ chuyên môn, có chuyên môn mà không có chính trị giỏi thì dù học giỏi mấy dạy trẻ con cũng hỏng. Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác. Có chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ còn cái xác không hồn. Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn. Nếu thầy giáo, cô giáo bàng quan thì lại đúc ra một số công dân không tốt, cán bộ không tốt. Nói tóm lại, chính trị là Đức, chuyên môn là Tài. Có Tài mà không có Đức là hỏng. Có Đức mà chỉ i, tờ thì dạy thế nào? Đức phải có trước Tài. Trước hết phải dạy trẻ yêu Tổ quốc, yêu lao động, yêu đồng bào và yêu chủ nghĩa xã hội” [7]. Người luôn tâm niệm: Làm bất cứ cái gì có lợi cho dân, có lợi cho cách mạng thì làm.

Như vậy, có thể nói rằng từ Nguyễn Trãi, đến Nguyễn Du và Hồ Chí Minh cả ba danh nhân văn hóa vĩ đại đều đề cao cái Tâm, cái đạo đức trong sự so sánh với cái Tài. Đó là điểm chung rất quan trọng của ba danh nhân văn hóa. Thế đấy, có những điều tưởng như bình dị, ai cũng biết đến, nhưng để thực hiện thật không phải là dễ. Phải có một thực Tâm đối với dân, với nước, và một định hướng thường trực trong mỗi hành động, việc làm trong suốt cuộc đời. Chính điều đó mới là cái gốc làm nên nhân cách của ba danh nhân văn hóa vĩ đại của dân tộc Việt Nam.


[1] Các bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi được trích dẫn từ Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập 3, Nxb. Văn học, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học.
[2] Các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du và lời dịch được trích dẫn từ Nguyễn Du toàn tập, tập 1, Nxb. Văn học, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, 1996.
[3] Dẫn theo: http://sachhiem.net/NGHOAN/NgHoan02.php
[4] Truyện Kiều, câu thứ 3252.
[5] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. XVIII.
[6] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 172.
[7] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 492.

Nguyễn Cảnh Chương
gdtd.vn

Di sản Hồ Chí Minh về Đạo đức, Văn hóa

(GD&TĐ) – “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”. Chân lý đó đã làm rung động con tim mỗi người dân Việt Nam khi nhắc đến tên Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta!

bìa sách

Bìa sách

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm tới tất cả các lĩnh vực của đời sống từ kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng…, song lĩnh vực mà Người đề cập nhiều nhất chính là tư tưởng, đạo đức, lối sống. Hiếm có một lãnh tụ nào mà cả cuộc đời lại là tấm gương sáng về tư tưởng, đạo đức và lối sống như Bác của chúng ta. Đó chính là một di sản tinh thần vô giá của dân tộc trong hành trình đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ở Hồ Chí Minh, văn hóa và đạo đức có sự gắn quyện, hài hòa, đã đạt tới sự thống nhất cao độ giữa công và tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Chính vì thế, Người đã trở thành “tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự”, thành biểu tượng của đạo đức, văn minh, không chỉ của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là biểu tượng của đạo đức, văn minh nhân loại. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một tấm gương đạo đức của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản chân chính và cũng là tấm gương đạo đức bình dị cho mọi người, để ai cũng có thể học tập và làm theo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng cả cuộc đời và sự nghiệp để cứu nước, cứu dân, cho ước vọng cao cả là đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, mọi người sống chan hòa, nhân ái và hạnh phúc. Nặng lòng vì dân, tin ở dân, lo hạnh phúc cho muôn dân, đó là tư tưởng nhân văn cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó, giai cấp, dân tộc và nhân loại, cá nhân và xã hội, xã hội và tự nhiên luôn thống nhất trên lập trường của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Đến khi trái tim lớn ngừng đập, tư tưởng cao đẹp đó vẫn tỏa sáng cho muôn thế hệ mai sau.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tham gia và hưởng ứng rộng rãi. Việc cùng nhau học lại những giá trị tư tưởng và đạo đức của Người có ý nghĩa vô cùng to lớn, sâu sắc trong việc tự hoàn thiện của mỗi chúng ta.

Hà Châu (St)
gdtd.vn

HỒ CHÍ MINH – Danh nhân văn hóa kiệt xuất

(GD&TĐ) – Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất. Sự tôn vinh này của UNESCO khẳng định những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh cho dân tộc Việt Nam cũng như cho nhân loại. Tìm hiểu về Hồ Chí Minh với tư cách là danh nhân văn hóa kiệt xuất, có thể thấy rất rõvăn hóa Hồ Chí Minh là sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời Người cũng là nhà sáng tạo văn hóa lớn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Văn hóa Hồ Chí Minh được hình thành trong cái nôi văn hóa dân tộc và nhất là trong quá trình Người tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Quá trình này nằm trong bối cảnh văn hóa Việt Nam có sự giao lưu và tiếp biến văn hóa mạnh mẽ với văn hóa nhân loại. Có thể nói văn hóa Hồ Chí Minh đã được hình thành từ quá trình Hồ Chí Minh, với tư cách là chủ thể văn hóa, tiếp nhận tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại.

Văn hóa Hồ Chí Minh đã kết tinh được những gì tinh túy nhất của văn hóa Việt Nam, trong đó nổi bật nhất là chủ nghĩa yêu nước và lòng nhân ái. Hồ Chí Minh đã viết những dòng đầy tâm huyết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn. Nó lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Yêu nước gắn liền với thương dân là đạo lý truyền thống của dân tộc. Đạo lý này đã được Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy. Trước cảnh nước mất, người dân lầm than nô lệ, Hồ Chí Minh đã quyết tâm đi theo con đường cứu nước và trở thành nhà ái quốc vĩ đại với “một sự ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Ra đi tìm đường cứu nước, Người đã lấy tên là Nguyễn Ái Quốc. Khi nước nhà giành được độc lập, đứng trên Lễ đài đọc Tuyên ngôn Độc lập, Người đã ân cần, thân thiết hỏi quốc dân đồng bào: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Yêu nước, thương dân đã thành điều tâm niệm thiêng liêng nằm sâu trong tâm thức và tâm cảm của nhà cách mạng – nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh luôn coi trọng tìm tòi, chắt lọc những tinh hoa, những yếu tố tích cực của văn hóa Phương Đông, nhất là của Nho giáo, Phật giáo. Trong các tác phẩm của mình, Người nhiều lần vận dụng các khái niệm, phạm trù, luận điểm của Nho giáo nhưng gắn vào đấy những nội dung cách mạng của thời đại. Chẳng hạn Người vận dụng các khái niệm “trung”, “hiếu” của Nho giáo và phát triển thành “trung với nước, hiếu với dân”. Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng đại từ, đại bi, cứu khổ cứu nạn của Phật giáo và hướng cho mọi người “làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải của nô lệ”. Hồ Chí Minh đã được tiếp xúc với văn hóa phương Tây ngay từ thuở thiếu thời khi theo học lớp dự bị trường tiểu học Pháp. Những tư tưởng của văn hóa phương Tây như tự do, bình đẳng, bác ái đã sớm có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành văn hóa Hồ Chí Minh. Sau này, khi bôn ba qua Pháp và nhiều nước khác, Hồ Chí Minh còn được tiếp cận với các giá trị văn hóa nổi bật khác của phương Tây như chủ nghĩa nhân văn, tinh thần duy lý và văn hóa dân chủ. Những giá trị văn hóa như vậy đã được hợp dung trong văn hóa Hồ Chí Minh và được Người vận dụng sáng tạo vào việc lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa sau này.

Trong quá trình hình thành văn hóa Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin có một vị trí đặc biệt quan trọng. Chủ nghĩa Mác – Lênin như ngọn hải đăng soi đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam. Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin cũng có nghĩa là Hồ Chí Minh đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn nhất. Người đã khẳng định dứt khoát chủ nghĩa Mác – Lênin là “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất”. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã được Hồ Chí Minh tiếp thu và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Những giá trị của nó đã trở thành một nền tảng cơ bản của văn hóa Hồ Chí Minh.

Như vậy, có thể thấy văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, từ đó hình thành một văn hóa tiên tiến, cách mạng, có tính nhân văn sâu sắc. Có được điều này bởi Hồ Chí Minh đã không ngừng học hỏi. Những điểm đặc sắc của văn hóa nhân loại đã ghi dấu ấn sâu đậm trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hòa quyện nhuần nhị trong văn hóa Hồ Chí Minh để từ đó tỏa sáng thông qua lăng kính tư duy sắc sảo và minh triết của Người. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng:

“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân.

– Tôn giáo của Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả.

– Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng.

– Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta”.

Và Người nhấn mạnh:” Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội… Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy”. Cũng cần nói thêm rằng tinh thần học tập suốt đời cũng là một nét đặc sắc trong văn hóa Hồ Chí Minh. Không chỉ ở giai đoạn đầu mà ở cả những giai đoạn sau cho đến cuối đời, Hồ Chí Minh đều không ngừng học tập để làm giàu vốn văn hóa của mình. Người đã nêu tấm gương sáng về học tập.

Khi tìm hiểu Hồ Chí Minh – nhà văn hóa kiệt xuất, cùng với việc khẳng định văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết tinh những tinh túy của văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại, cũng cần thấy rõ Hồ Chí Minh là mộtnhà sáng tạo văn hóa lớn.

Có thể thấy Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa đa tài. Người là nhà thơ, nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà điêu khắc vv… Nhưng sự nghiệp văn hóa lớn nhất, quan trọng nhất của Hồ Chí Minh là đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn và lãnh đạo thành công sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân. Sự nghiệp giải phóng dân tộc do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã đem lại địa vị xứng đáng cho văn hóa dân tộc Việt Nam. Không chỉ vậy, sự nghiệp này còn có ý nghĩa to lớn đối với nền văn hóa thế giới, chỉ ra cho nhân dân các nước thuộc địa con đường đứng lên đập tan xích xiềng nô lệ, giành độc lập tự do cho đất nước của mình, từ đó góp phần vào việc xóa bỏ chế độ thuộc địa trên thế giới. Có thể nói Hồ Chí Minh với tư cách là nhà văn hóa kiệt xuất đã góp phần không chỉ tạo ra một chế độ mới, một thời đại mới mà còn tạo ra một nền văn hóa mới trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng góp phần to lớn vào sự phát triển của nhân loại nói chung và sự phát triển văn hóa nhân loại nói riêng. Không phải là ngẫu nhiên mà bằng sự linh cảm và khả năng trực giác, ngay từ năm 1923, khi tiếp xúc với Người, nhà thơ Xô – Viết Ôxip Mandextam đã tiên đoán: “Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa của tương lai… Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi như thấy được ngày mai, như thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương”.

N. D. B
gdtd.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bản di chúc lịch sử

(GD&TĐ) – “Tôi nhớ mãi sáng tháng Năm ấy… Trời cao và trong xanh. Mây trắng lững lờ trôi trên bầu trời Ba Đình. Trong vườn Bác, chim nhảy chuyền cành, gọi nhau ríu rít”.

Đó là những dòng hồi ký đầy xúc động của đồng chí Vũ Kỳ – người “đầy tớ trung thành” thực thụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh gần ba thập kỷ như ông tự nhận – khi kể lại ngày đầu tiên Người đặt bút viết “mấy lời gửi lại” cho đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng. 48 năm về trước, khi bước vào tuổi 75, “với tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khỏe mạnh”, Bác Hồ bắt đầu tài liệu “Tuyệt đối bí mật” mà ngày nay chúng ta gọi đó là Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản Di chúc được Bác khởi thảo từ ngày 10/5/1965 và Người xem lại lần cuối vào ngày 19/5/1969.

Di chúc của Bác “Trước hết nói về Đảng”, vì Đảng là nhân tố quyết định thành công của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như công cuộc xây dựng lại đất nước sau này. Tháng 5 – 1968, Người đã bổ sung vào Di chúc một điểm chỉ dẫn quan trọng: Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi thì “việc cần phải làm trước hết là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi Đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”. Toàn văn bản viết Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phần xây dựng chỉnh đốn Đảng đã thể hiện sức sống tư tưởng của Người trong khả năng vận dụng sáng tạo những lý luận cơ bản nhất về xây dựng Đảng cầm quyền của Chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng nước ta.

Di chúc được khởi thảo trong khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đang đi vào thời kỳ quyết liệt nhất: Mỹ ồ ạt đưa 50 vạn quân vào miền Nam, chuyển chiến lược chiến tranh đặc biệt sang chiến tranh cục bộ. Hơn nữa, ở hậu phương lớn miền Bắc phải tiếp tục chống lại cuộc chiến tranh phá hoại ngày càng ác liệt nhằm biến nơi đây trở về thời kỳ đồ đá của đế quốc Mỹ. Thế nhưng, toàn bộ Di chúc toát lên khí phách, tinh thần lạc quan chiến thắng của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng, luôn tin tưởng vào tương lai tất thắng của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cũng như của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong tương lai: “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn.

Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”. Đó là niềm tin, là ý chí, lòng quyết tâm của Bác và của cả dân tộc. Niềm tin đó xuất phát từ đường lối độc lập tự chủ, từ phương pháp và nghệ thuật lãnh đạo cách mạng sáng tạo của Đảng. Niềm tin đó xuất phát từ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, từ tinh thần hy sinh anh dũng của bao người Việt Nam từ thế hệ này đến thế hệ khác. Niềm tin đó còn xuất phát từ sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Nhìn thấy trước một nước Việt Nam thắng lợi hoàn toàn, đồng bào sum họp một nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho Đảng ta và Nhà nước ta những việc cần làm sau chiến tranh rất cụ thể, tỉ mỉ.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho Đảng ta và Nhà nước ta những việc cần làm sau chiến tranh rất cụ thể

Sức sống lớn lao và ánh sáng kỳ diệu tỏa ra trong toàn bộ Di chúc đó là những tư tưởng nhân văn cách mạng ngời sáng và đầy giá trị nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà biểu hiện sinh động nhất chính là tình yêu thương sâu sắc đối với con người. Tư tưởng vì nhân dân, vì con người là điều nổi bật và xuyên suốt cuộc đời Bác mà kết tinh ở đỉnh cao trong bản Di chúc lịch sử.

Có thể nói, điều làm nên giá trị tinh thần lớn lao và ý nghĩa sâu sắc của Di chúc chính là quan điểm vì con người và giải phóng con người thấm đượm chủ nghĩa nhân đạo cao cả. Một chủ nghĩa nhân văn cách mạng sáng ngời lý tưởng cộng sản được kết tinh trong một con người vĩ đại nhất của dân tộc.

Tuy không nói nhiều về nhân dân và cách mạng thế giới, nhưng trong Di chúc, chúng ta vẫn thấy rất rõ tình cảm và tư tưởng của Người về sự gắn bó giữa nhân dân và cách mạng Việt Nam với nhân dân và sự nghiệp cách mạng thế giới nói chung.

Di chúc của Bác đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau như: Chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội… của đời sống mỗi người dân Việt Nam. Nó vạch ra những vấn đề mang tính chất cương lĩnh định hướng cho sự phát triển của đất nước sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta giành được thắng lợi. Vậy mà khác với các văn bản chính luận khác, ẩn chứa bên trong mỗi từ, mỗi câu của bản Di chúc là một chất thơ được kết tụ bởi sự dồn nén cảm xúc, tình yêu thương đối với thiên nhiên, con người và cuộc đời. “Muôn vàn thương yêu” mà Người gửi lại trong Di chúc thiết tha và xúc động đối với triệu triệu trái tim hôm qua và hôm nay. Những dòng chữ như một lời tạ từ, một sự lỗi hẹn vì biết mình không kịp thấy, không kịp làm điều mình ấp ủ của một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

Nếu như Tuyên ngôn độc lập là bản anh hùng ca khai sinh ra nước Việt Nam mới, thì Di chúc trở thành ánh sáng tương lai

Lịch sử đã có sự trùng hợp thiêng liêng và kỳ diệu. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2/9/1969, Người đi vào thế giới Người Hiền tại ngôi nhà sàn đơn sơ cũng thuộc Quảng trường Ba Đình lịch sử với lời nhắn gửi đến toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong bản Di chúc lịch sử. Nếu như Tuyên ngôn độc lập là bản anh hùng ca khai sinh ra nước Việt Nam mới, thì Di chúc là sự thể hiện thành công trọn vẹn bản khai sinh đất nước và trở thành ánh sáng tương lai. Di chúc là một văn kiện có cách viết độc đáo, trong đó tồn tại song song giữa cái vĩ đại và cái bình thường, cái mãnh liệt nồng nàn và cái điềm đạm, sâu lắng vừa trang trọng, vừa gần gũi. Với trách nhiệm trước hậu thế, Người đã cân nhắc từng ý, từng lời, nhưng mỗi ý, mỗi lời đều giản dị, chân thành, trong sáng, tự nhiên như chính cuộc đời mà Người đã sống – một tấm gương để chúng ta suốt đời học tập và làm theo.

Th.S Nguyễn Kim Thành (Bảo tàng cách mạng Việt Nam)
gdtd.vn

Ý nghĩa sự kiện ra đi tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự sâu sắc

(GD&TĐ) – Đó là khẳng định của các đại biểu tham gia hội thảo khoa học “Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước” (5/6/1911 – 5/6/2011) được tổ chức ngày 17/5 tại Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Bến Nhà Rồng-nơi cách đây 100 năm, Bác đã ra đi tìm đường cứu nước

Bến Nhà Rồng-nơi cách đây 100 năm, Bác đã ra đi tìm đường cứu nước

Trong phần đề dẫn tại hội thảo, GS.TS Tạ Ngọc Tấn, Uỷ viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã khẳng định: Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Người là kết tinh truyền thống văn hóa tốt đẹp hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa thế giới. Người đã có những cống hiến to lớn đối với phong trào đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ nhân loại.

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là bản anh hùng ca về chủ nghĩa yêu nước, về tinh thần tận tụy, hy sinh phấn đấu quên mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. Di sản tư tưởng và tấm gương đạo đức cao đẹp của Người mãi mãi là tài sản quý báu của toàn Đảng, toàn dân ta, là niềm tự hào, nguồn cổ vũ lớn lao đối với các thế hệ người Việt Nam.

Cách đây tròn 100 năm, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành từ giã quê hương, lên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin sang phương Tây, mang theo mình một khát vọng cháy bỏng tìm đường cứu nước để đem lại: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”. Người đã bôn ba khắp năm châu, vừa lao động vừa học tập, nghiên cứu lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới, để rồi tìm thấy ánh sáng cách mạng của thời đại: Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tham luận của các nhà khoa học tại hội thảo đã tập trung phân tích, đánh giá sâu sắc hơn về bối cảnh lịch sử thế giới, trong nước những năm đầu thế kỷ XX và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành; những cống hiến vĩ đại của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc xây dựng, hoàn thiện đường lối và tổ chức lãnh đạo đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi; ý nghĩa lịch sử của sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước đối với tiến trình cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới.

Gần 60 tham luận được trình bày và gửi đến hội thảo khẳng định: Một trăm năm đã trôi qua kể từ ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước nhưng ý nghĩa to lớn của sự kiện ấy vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự sâu sắc.

Đối với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, sự kiện Bác Hồ quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước là một dấu son mở đầu trang sử mới trong lịch sử dân tộc ta. Từ chủ nghĩa yêu nước, Người đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, lựa chọn ra con đường cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, con đường cách mạng đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tiễn của lịch sử nước ta, đưa cách mạng nước ta đến thành công…

Đối với Đảng ta, nhìn lại chặng đường hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng và con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn, lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi hết sức to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam mà sợi chỉ đỏ xuyên suốt là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trở thành tư tưởng chỉ đạo trong đường lối của Đảng, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mặc dù bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế hiện nay có nhiều biến đổi, song Đảng ta vẫn khẳng định kiên định mục tiêu, con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại.

Minh Duy
gdtd.vn

Tấm lòng của Bác Hồ thật là mênh mông vĩ đại

Đã 25 năm kể từ khi bài thơ dài Việt Nam – tình yêu của tôi của Vili Xanbao ra đời, được dịch và trân trọng giới thiêu trên báo Nhân dân số ra ngày 6-2-1977. Cho đến bây giờ, nhiều câu trong đó vẫn cứ ngân lên trong lòng tôi:

Chào bạn Việt Nam! Có nghe tôi hát
Có nghe xôn xao nhịp đập tim tôi
Giữa sớm mai nay, tiếng hát bồi hồi
Đưa tôi đến những vùng quê xa tít

Năm 1988, ở tuổi 74, ông lại hoàn thành bài thơ Nhật ký Việt Nam dài đúng 200 câu, thể hiện những tình cảm nồng nàn đối với Bác Hồ và nhân dân ta.

Cách đây gần một năm, trong dịp công tác ở Đức tôi đã đến thăm ông tại nhà riêng ở phố Rathaodơ, trung tâm thủ đô Beclin. Ông đang ốm nặng, nhưng được bà Ria, người bạn đời yêu quý của ông báo tin có khách Việt Nam đến, gương mặt ông tươi tắn hẳn lên. Ông vẫn nằm ở giường, lâu nay ông vẫn nằm như thế – nhưng cổ nghển lên, đưa cả hai tay ôm lấy tôi: “Việt Nam! Việt Nam!”. Tôi để ý: hai khoé mắt ông ngấn lệ. Ông xúc động nói: “Việt Nam và Bác Hồ lúc nào cũng hiển hiện trong tâm hồn tôi”.

Là người quen biết ông từ lâu, lại đã từng hợp tác với nhau trong một số công việc báo chí và văn học, tôi rất hiểu tấm lòng ông. Từng mấy thập kỷ làm Tổng thư ký Uỷ ban Việt Nam, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Đoàn kết của Cộng hoà Dân chủ Đức, ông thực hiện trách nhiệm của mình một cách tuyệt vời, không chỉ với cương vị một cán bộ Nhà nước, một “quan chức” mà trước hết, trên hết, tự xác định là một người bạn thực sư của Việt Nam. Con người hiền lành, giàu tình cảm và rất đỗi khiêm nhường ấy đã có sau lưng mình gần tám chục năm hoạt động cách mạng sôi nổi và phong phú – kể từ lúc đứng trong hàng ngũ Đội thiếu niên Chim ưng đỏ ở tuổi lên 9, miệt mài nghiên cứu, viết sách, viết báo. Tập hồi ức Thẳng lưng mà bước của ông vừa xuất bản mà tôi hân hạnh được ông tặng riêng một cuốn, là sản phẩm chủ yếu của quá trình lao động miệt mài ấy. Ngay trong tập hồi ức này, ông dành hẳn một chương viết về Việt Nam và đặc biệt về những dịp ông được tiếp xúc với Bác Hồ. Tình cảm ấy, ở ông, như một sợi chỉ đỏ, xuyên suốt bao nhiêu năm qua. Gần 30 năm trước, trong bài Nghĩ đến Việt Nam, nghĩ đến Bác Hồ, ông đã viết:

“Là một người từng công tác ở Uỷ ban Việt Nam, bao nhiêu năm qua, tôi đã lắng nghe với tất cả tâm hồn mình những bước đi của sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nạm dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ. Đối với chúng tôi, Việt Nam có nghĩa là Bác Hồ. Trên làn môi cửa trẻ con nước chúng tôi, hai tiếng “Bác Hồ” được gọi với niềm yêu thương, tin cậy, trìu mến. Riêng đối với tôi, bởi vì Việt Nam đã trở thành quê hương thứ hai của mình, tôi xin được phép gọi Bác Hồ là người cha thân thiết của tôi. Tôi bỗng nhớ đến một câu ca dao Việt Nam rat dễ thương:

Tháp Mười đẹp nhất hoa sen
Nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

Từng đọc những vần thơ thiết tha về Bác Hồ, về Việt Nam của Vili Xanbao, nhà thơ Lưu Trọng Lư đã có những cảm nghĩ hết sức tốt đẹp và đầy lòng biết ơn đối với người đồng nghiệp ở phía trời Tây.

Trong các tác phẩm của V.Xanbao, theo nhận xét của tôi – người được đọc và dịch gần hết ra tiếng Việt – tình cảm của ông đối với Bác được thể hiện đầy đủ nhất ở hồi ức Tháng giêng năm ấy. Tháng Giêng năm ấy là năm 1969, năm cuối cùng trong đời Bác Hồ vĩ đại, vào ngày 23, tính ra chỉ 7 tháng 9 ngày trước khi Người vĩnh biệt cuộc đời này, ông và các đồng chí của mình đã được đến thăm Bác Hồ tại nhà riêng. Ông cho biết: Hồi này – so với những lần gặp trước – trông Bác đã yếu nhiều. Mọi người trong đoàn đều lo ngại về sức khoẻ của Người. Nhưng Người chỉ mỉm cười đôn hậu: “Các đồng chí đừng lo. Tôi vẫn ăn, ngủ và làm việc bình thường”. Rồi Người âu yếm hỏi: “Các chú thấy co lạnh không?”. Mọi người trả lời: “Thưa Bác, không ạ!” Bác là người già yếu, đáng lo nhất về sức khoẻ thì Người lại quan tâm, hỏi thăm sức khoẻ từng người một. Lúc ấy, trong đoàn, chỉ có Chủ tịch Uỷ ban Việt Nam Mác Dêphrin bi cúm, phải nằm Bệnh viện Hữu Nghị mất mấy ngày. Theo phép lịch sự, Mác Dêphrin cởi áo khoác ngoài và định cởi cả khăn quàng ra thì Bác xua tay: “Không nên cởi khăn quàng, chú ạ!”. Nói xong, Người cởi khăn quàng của Người ra và quàng thêm cho Dêphrin. Thấy Người cũng mệt, Chủ tịch Uỷ ban chúng tôi vội quàng chiếc khăn của ông cho Người.

Trong cuộc gặp này, Bác Hồ đã được báo cáo rất tỉ mỉ về phong trào ủng hộ Việt Nam ở Cộng hoà Dân chủ Đức, từ các hoạt đông: “Điện cho Việt Nam”, “Xe đạp cho Việt Nam”, “Máu cho Việt Nam”… cho đến những buổi hoà nhạc quyên tiền theo yêu cầu thính giả của đài phát thanh, những “quầy hàng đoàn kết do thanh niên và thiếu niên, nhi đồng tổ chức… Đoàn đại biểu Uỷ ban Việt Nam trao tặng Bác những món quà mà nhân dân ở các nơi của Cộng hoà Dân chủ Đức gửi biếu Người. Bác tỏ ý rất vui và xúc động trước tình cảm chân thành của mọi người trên quê hương Các Mác.

Trong món quà kính dâng Bác Hồ, Người rất thích tác phẩm Việt Nam trong giờ phút này – một cuốn sách dày dặn, giấy tốt, khổ to, mới được xuất bản trước đó ít lâu. Đây là công trình của nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi ở Đức và trên thế giới như Anna Dêgớc, Phởítxơ Brêmơ, Pao Đếtxao, Xtê Phan Hêmơlin, Gêoóc Maorơ, Ôttô Nagen, Vili Xítê, Cuốc Stécnơ, Bổít Pôlêvôi, Sôlôkhốp, Iven, Êptusenkô, Pêtơ Vaisơ… từ khắp các lục địa cũng gửi bản thảo tới, hưởng ứng hành động chung giàu ý nghĩa. Tiền bán sách được gửi vào quỹ đoàn kết ủng hộ Việt Nam. Đăc bịệt, hơn 30 tác giả ở Mỹ, trong đó có Philíp Bônỗki, Pêthơ Dêgơ… cũng viết bài cho tập sách…

Là người biết tiếng Đức, Bác Hồ lật từng trang sách một tấm lòng trân trọng. Người chú ý từng tên tác giả và cũng dừng lại khá lâu ở bản thống kê phong phú, độc đáo về sự phát triển của Việt Nam trong các thế kỷ qua. Người được giao báo cáo với Bác về mọi việc cụ thể là Vili Xanbao. Riêng về cuốn sách này, Bác Hồ nói với ông: “Đây là hành động chung bao trùm khắp thế giới. ý tưởng của các nhà văn Đức thật đáng ca ngợi. Nhân dân Việt Nam, qua tác phẩm này, thêm một lần đón nhận những tiếng nói đoàn kết chiến đấu cất lên từa nhiều phương trời…”. Bác còn hỏi thăm về từng tác giả, như Brunô Apítxơ, người viết cuốn Trần trụi giữa bầy sói; Cuốc và Gien Stécnơ, những người Bác Hồ từng có lần tiếp tại nhà sàn này, hoặc Erích Noisơ, nhà văn đã viết vở kịch Cuộc chiến tranh bẩn thỉu nói về một làng quê Việt Nam bên sông MêKông và về Hoàng cung của Bảo Đại…

Vili Xanbao vui mừng được giới thiệu với Bác Hồ những bức tranh do thiếu nhi Đức vẽ, những vần thơ do các em viết hoặc những “sản phẩm” do các em làm để bán tại các quầy “đoàn kết” lấy tiền ủng hộ Việt Nam. Nhà thơ kính biếu Bác một quyển anbum Tem về Việt Nam, trong đó có nhiều tem mang hình ảnh Bác Hồ.

Trong bầu không khí hết sức cởi mở ấm áp, Bác sĩ Mác Dephrin nêu một vấn đề khá quan trọng để xin ý kiến Người. Số là, trong thời giàn đó, nhiều thanh niên ở Cộng hoà dân chủ Đức tình nguyện xin được sang Việt Nam trực tiếp cầm súng chống Mỹ. Nghe báo cáo xong, Bác nở một nụ cười trìu mến và chậm rãi nói:

– Tôi rất vui, khi được biết ý định đó của các cháu. Đó là một ý định tốt, rất đáng hoan nghênh. Xin nhờ các đồng chí chuyển lời cảm ơn của tôi tới các cháu. ý định đó, quyết tâm đó của các cháu nói lên rằng, tình đoàn kết quốc tế của thế hệ trẻ nước Cộng hoà Dân chủ Đức đã phát triển ở mức độ cao nhưng vấn đề là cần làm cho các cháu hiểu rằng: chúng ta đừng để nổ ra một cuộc chiến tranh thế giới. Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hoà bình nên mới tiến hành cuộc đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh này. Chúng tôi không những chiến đấu vì bản thân mình mà chính là vì lợi ích của toàn nhân loại. Tôi nghĩ rằng, ở Đức cũng như ở các nước khác trước hết cần tiến hành phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam ngay trong nước mình, đó là một phong trao ủng hộ rộng khắp về chính trị, tinh thần và vật chất…

Nghe Bác nói, các bạn Đức càng thấm thía về sự quan tâm của Người đối với lợi ích chung của hoà bình thế giới. Vili Xanbao viết: “Tấm lòng của Bác thật là mênh mông, vĩ đại! Trong tầm nhìn của Bác, không những cho thấy Người là nhà quốc tế đáng kính phục mà còn là nhà văn hoá lớn, giàu tình thương yêu nhân loại. Nào ai ngờ rằng chỉ sau đó ít tháng, Bác Hồ đã vĩnh viễn ra đi trong niềm tiếc thương vô hạn của mọi con người lương tri trên trái đất này…”

Báo Văn nghệ, số 20, ngày 18/5/2002
cpv.org.vn

Bác Hồ trong lòng dân Tây Đô

QĐND Online – Bác Hồ đã đi xa hơn 40 năm, nhưng hình ảnh giản dị, đầy cao quý về vị cha già dân tộc vẫn không phai mờ trong lòng người dân Việt Nam. Với người dân thành phố Cần Thơ – đất Tây Đô, Bác vẫn còn ở đâu đó, rất gần gũi, thân thương trong cuộc sống hàng ngày như để dõi theo sự phát triển đi lên của đất nước nói chung và mảnh đất Tây Đô nói riêng.

Treo ảnh Bác để học tập Bác

Hòa thượng Lý Sân, Ủy viên Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội trưởng hội Đoàn kết sư sãi yêu nước TP Cần Thơ, trụ trì chùa Săn- vor- Pô-thi, phường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn tâm sự: tôi coi Bác như đức Phật. Việc tôi và các phật tử rước ảnh Bác, thờ Bác là niềm vui, niềm tự hào của chúng tôi. Một con người cả đời hy sinh, cống hiến thân mình vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam, một Danh nhân Văn hóa thế giới như Người chẳng khác nào Phật vậy. Hòa thượng Lý Sân kể: “Tôi có may mắn được ra thăm Hà Nội, được viếng lăng Bác 4 lần. Lần nào tôi cũng rất xúc động. Tôi nhớ nhất lần đầu tiên được tận mắt nhìn căn nhà sàn của Bác đơn sơ, giản dị khiến tôi rất bất ngờ. Vị lãnh tụ của đất nước của dân tộc mà sống giản dị như thế trên thế giới có lẽ chỉ có một- Bác Hồ. Tôi vẫn thường khuyên các phật tử sống tiết kiệm, siêng năng lao động đó cũng là cách học tập Bác thiết thực nhất, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho mỗi gia đình, xây dựng quê hương đất nước giàu mạnh. Đến nay, có 250 hộ đồng bào Khơ-me phường Châu Văn Liêm, Ô Môn treo ảnh Bác. Hòa thượng Lý Sân kể: “Hôm tổ chức rước ảnh Bác vui và trang trọng lắm, có tổ chức biểu diễn văn nghệ để phục vụ đồng bào nhưng chỉ tiếc hôm đó thiếu ảnh để trao cho đồng bào…”.

Anh Lý Phiên (người Khơ- me, phường Châu Văn Liêm, Ô Môn, Cần Thơ) bên ảnh Bác

Ông Bùi Xuân Mỹ, Chủ tịch hội Cựu chiến binh quận Ô Môn cho biết thêm: Việc rước ảnh Bác, treo ảnh Bác là hoàn toàn tự nguyện, thể hiện lòng kính yêu đối với Bác Hồ.

Ông Nguyễn Văn Hồng, Trưởng ban trị sự phật giáo Hòa Hảo, phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt đã xúc động phát biểu trong buổi lễ trao ảnh Bác Hồ nhân kỷ niệm 121 năm sinh nhật Bác: Mọi người dân Việt Nam đều hiểu và ghi nhớ công ơn to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi rất mừng khi có ảnh Bác treo trang trọng trong nhà mình.

Bà Võ Thị Út, 65 tuổi ở ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền phấn khởi: “Tôi đã sửa sang lại nhà cửa, chuẩn bị một chỗ trang trọng nhất trong nhà để hôm nay rước ảnh Bác Hồ về treo. Bác là vị cha già kính yêu đã hy sinh cả cuộc đời vì dân tộc. Ngày nay, đất nước thanh bình, người dân có cơm no áo ấm, đưa ảnh Bác về treo trong nhà là cách bà con ghi nhớ công ơn trời biển của Bác”.

Treo ảnh Bác-nét đẹp văn hoá

Ông Trần Thành Nghiệp, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh TP Cần Thơ xúc động: Người đã đi vào cõi vinh hằng hơn 40 năm nhưng hình ảnh của người vẫn rất gần gũi, thân thương đối với người dân Cần Thơ. Vì thế, từ năm 2008, chúng tôi đã quyết định phát động phong trào vận động các hội viên cựu chiến binh rước ảnh Bác về thờ ở vị trí trang trọng nhất trong mỗi gia đình. Đến nay, tại các gia đình các hội viên cựu chiến binh thành phố Cần Thơ đều treo ảnh Bác. Năm 2010, phong trào rước ảnh Bác về gia đình được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng. Đây là cách thể hiện tình cảm của người dân đất Tây Đô với Bác kính yêu!

Chỉ tính từ đầu năm 2011 đến nay, TP Cần Thơ đã có hơn 60.000 hộ gia đình rước ảnh Bác về thờ tại gia đình. Toàn thành phố hiện có 160.000 ảnh Bác được thờ tại các gia đình. Các buổi lễ trao ảnh Bác đều được lãnh đạo Hội Cựu chiến binh, UBND, Uỷ ban MTTQ các xã tổ chức trang trọng.

Phong trào rước ảnh Bác ở Cần Thơ đã được đông đảo người dân hưởng ứng nhiệt tình. Đăc biệt, xã Đông Thắng, huyện Cờ Đỏ có đông đồng bào dân tộc Khơ me, lễ rước ảnh Bác Hồ ngay trong chùa Kinh Số 5 và mời sãi cả thay mặt lãnh đạo trao ảnh Bác Hồ cho nhân dân. Ở Nhà thờ ấp Bờ Bao thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh có gần 100% hộ treo ảnh Bác Hồ. Hình ảnh người dân xứ đạo nhận ảnh Bác do chính vị Linh mục trao cho khiến những người chứng kiến không khỏi xúc động.

Cựu chiến binh Lê Quang Tuấn, xã Trường Long, huyện Phong Điền cho biết: có ảnh Bác thờ trong gia đình là dịp để chúng tôi chiêm nghiệm lại mình, học tập Bác để sống tốt hơn. Chúng tôi xin hứa với Bác quyết tâm thi đua lao động sản xuất, thắt chặt tình làng nghĩa xóm, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền thật sự trong sạch, vững mạnh và xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, xứng đáng với sự hy sinh lớn lao của Bác cho đất nước cho dân tộc Việt Nam.

Phong trào rước ảnh, treo ảnh Bác tại mỗi gia đình không chỉ thể hiện tình cảm của người dân đất Tây Đô với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc mà còn là nét đẹp văn hóa mới của người dân nơi đây.

Bài và ảnh: NGUYỄN KIỂM
qdnd.vn

Chỉ có một nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa của Bác Hồ

QĐND Online- Hiệp định Paris về “chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết, nhân dân Việt Nam đã “đánh cho Mỹ cút” giành thắng lợi quyết định. Bước tiếp theo là “đánh cho ngụy nhào” giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, đó là quá trình đấu tranh quyết liệt và phức tạp trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Trong đấu tranh ngoại giao và các hoạt động quốc tế để buộc Nguyễn Văn Thiệu phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris của các lực lượng, diễn ra mạnh mẽ, phong phú và đa dạng. Tiêu biểu là Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp đã có các hoạt động vận động các nước công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh thống nhất đất nước. Quá trình đó, có một câu chuyện thú vị tại Pháp đã nói lên một chân lý sáng ngời.

Quảng Trường Ba Đình, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập

Từ năm 1973 đến đầu năm 1975, Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tổ chức nhiều cuộc vận động một số nước ở châu Phi có quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đại sứ ta tại Pháp có nhiều cuộc gỡ với đại sứ các nước ở Paris và đi đến các nước để chuẩn bị cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước đó. Quá trình đó, Đại sứ ta luôn tranh thủ vận động họ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Những hoạt động đó đã đạt kết quả tốt đối với một số nước như Bê Nanh, Công Gô, Angola,… ở châu Phi và Bồ Đào Nha ở Tây Âu. Đối với một số nước khác mặc dù chưa có kết quả ngay do điều kiện của họ, nhưng hầu hết đều đã bày tỏ tình cảm với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với nước Mađagatca có câu chuyện khá thú vị như sau: Nhân dịp ông Ratsiraca Ngoại trưởng nước Mađagatca (sau này trở thành Tổng thống Mađagatca) có chuyến công tác qua Paris, đồng chí Võ Văn Sung, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp xin gặp và đặt vấn đề Mađagatca công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với cách nói thân thiết của một người bạn, ông cho biết không bao giờ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đồng chí Võ Văn Sung hỏi lý do vì sao? Ông Ratsiraca trả lời “vì Mađagatca đã có quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và không có quan hệ với chính quyền Sài Gòn”1. Ông Ngoại trưởng còn khẳng định: “Đối với chúng tôi thì nước Việt Nam là một, chỉ có nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của “Bác Hồ”2. Vì vậy, “nếu công nhận bất kỳ một chính phủ nào khác là trái với nguyên tắc mà chúng tôi tôn trọng: nước Việt Nam là một! Chúng tôi đã từ chối việc công nhận bọn bù nhìn ở Sài Gòn”3. Đồng chí Võ Văn Sung giải thích lại tình hình miền Nam và chính sách của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; vai trò của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam; những điều khoản của Hiệp định Paris và những vấn đề thuộc về quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ miền Nam Việt Nam, ở đó có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát,… Thấy ông Ratsiraca còn phân vân, đồng chí Võ Văn Sung đã phải nói rằng: “Chính phủ Cách mạng lâm thời cũng là anh em chúng tôi cả” và “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Cách mạng lâm thời tuy hai cũng như một, nhưng tuy một mà cho đến khi Việt Nam tái thống nhất thì vẫn phải là hai”4. Khi hiểu ra vấn đề, ông Ratsiraca hứa sẽ báo cáo về Chính phủ. Hơn một tuần sau đó, Đại sứ quán Mađagatca ở Paris báo cho Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Pháp biết là Mađagatca đồng ý công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam.

———————-

1,2. Võ Văn Sung (2005), Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris, Nxb QĐND, tr.88.
3, 4. SĐD, tr.88-89.

TS Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn