Tag Archive | Tin tức

Vận dụng nội dung tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào bài giảng: “Một số vấn đề về cải cách nền hành chính nhà nước”

Tác giả : Th.s Thái Xuân Sang – Gv Khoa Quản lý nhà nước
File đính kèm: Không có

Tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết xong tháng 10 năm 1947 ký tên XYZ- Nxb sư thật xuất bản lần đầu tiên năm 1948, xuất bản lần thứ 7 năm 1959. Từ khi ra đời đến nay, tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” luôn là văn kiện quan trọng về xây dựng Đảng. Tác phẩm được viết trong một thời kỳ đặc biệt, với bản chất xâm lược và hiếu chiến, kẻ thù đã gửi 3 tối hậu thư trong 2 ngày, đòi chúng ta phải hạ vũ khí; chúng đã buộc chúng ta phải cầm súng đứng lên bảo vệ nền độc lập. Cuộc kháng chiến trường kỳ càng khó khăn, gian khổ yêu cầu sức chiến đấu của Đảng ngày càng cao. Để kịp thời chỉnh đốn Đảng, phê bình những khuyết điểm, sai lầm, tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đã kịp thời ra đời để sửa đổi lối làm việc của Đảng. Được viết cách đây hơn 50 năm, nhưng đến nay nội dung, tư tưởng tác phẩm vẫn giữ nguyên giá trị, là một trong những tài liệu phục vụ cho việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Qua việc học tập, nghiên cứu tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc”, chúng tôi nhận thấy nội dung, tư tưởng của tác phẩm không những được vận dụng rất tốt cho môn học Xây dựng Đảng, Lịch sử Đảng, Dân vận… mà còn được vận dụng hiệu quả cho môn học Quản lý hành chính, chương trình trung cấp lý luận chính trị.

Như chúng ta đã biết, cải cách hành chính Nhà nước đang là yêu cầu khách quan, cấp bách của Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nền hành chính Nhà nước là hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước ở trung ương và chính quyền địa phương, cơ cấu gắn với hệ thống thể chế hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức và hệ thống quản lý tài chính công thực thi quyền hành pháp để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cải cách hành chính là quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung của nền hành chính Nhà nước(thể chế, cơ cấu, tổ chức, cơ chế vận hành, chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức…) nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại. Nhà nước là trung tâm, cột trụ của hệ thống chính trị, nền hành chính có vai trò thực thi quyền hành pháp. Để thực hiện thắng lợi các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước sự vận hành hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính có vai trò quyết định. Do tính chất đặc thù của hệ thống chính trị nước ta đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước đa số là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Chúng tôi tin chắc rằng nếu như tất cả các đảng viên trong cơ quan hành chính Nhà nước đều học tập, thực hành sửa đổi lối làm việc đúng với tư cách và đạo đức cách mạng thì mục tiêu của cải cách nền hành chính quốc gia sớm đạt được.

Có nhiều lý do để cần phải cải cách nền hành chính, một trong những lý do chủ quan là: Cải cách nền hành chính xuất phát từ yêu cầu khắc phục những yếu kém, hạn chế, khuyết điểm trong tổ chức, hoạt động của nền hành chính Nhà nước. Vấn đề đặt ra là:

“Ai cũng nghĩ đến việc thay đổi thế giới, nhưng chẳng ai nghĩ đến việc thay đổi chính mình”

Lev. Toilstoy

“Khuyết điểm do cơ chế, trì trệ do quy trình, sai pham do hạn chế năng lực, thiên tai dịch bệnh do trời, còn biện pháp xử lý thì…..xin ý kiến chỉ đạo cấp trên. Rốt cuộc mọi người đều sai lầm, mọi người đều có lý”

Lưu Quang Vũ – Tôi và Chúng ta

Một trong những yếu tố cơ bản của nền hành chính là yếu tố con người (đó chính là đội ngũ cán bộ, công chức). Chính con người định ra thể chế, thiết lập tổ chức bộ máy và hệ thống tài sản công, tài chính công. Nếu như nhận thức và hành vi của đội ngũ cán bộ, công chức không thay đổi thì toàn bộ nền hành chính không thay đổi(cải cách được).

Đọc tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta thật sự giật mình, bởi vì những căn bệnh trong Đảng đã có từ năm 1947 đến nay vẫn tồn tại, phát triển với quy mô ngày càng lớn, tính chất ngày càng nguy hiểm. Đó là vì “kém tính Đảng mà có những bệnh như sau:

– Bệnh ba hoa;
– Bệnh địa phương;
– Bệnh ham danh vị;
– Bệnh thiếu kỷ luật( Gặp sao hay vậy);
– Bệnh xa quần chúng;
– Bệnh chủ quan;
– Bệnh hình thức;
– Bệnh ích kỷ; bệnh hủ hoá;
– Bệnh thiếu ngăn nắp;
– Bệnh lười biếng .” (1)

Thời gian gần đây những bệnh này đã phát triển thành bệnh tham nhũng, bệnh quan liêu, bệnh xa hoa lãng phí, bệnh vô cảm trước nỗi khổ của dân…

Những căn bệnh này cần phải được điều trị, phương thuốc đặc hiệu là phải “ráo riết dùng tự phê bình và phê bình để giúp nhau chữa cho hết những bệnh ấy”.(2)

Trong chương trình tổng thể cải cách hành chính đã đưa ra một hệ thống các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu cải cách nền hành chính( trong các giải pháp đó có giải pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức…).

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, tác giả đã dành một phần (IV) viết về vấn đề cán bộ với những nội dung cơ bản:

1. Huấn luyện cán bộ;
2. Dạy cán bộ và dùng cán bộ;
3. Lựa chọn cán bộ;
4. Cách đối với cán bộ;
5. Mấy điểm lớn trong chính sách cán bộ.

Nghiên cứu nội dung vấn đề cán bộ, hệ thống các trường chính trị(Nơi huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ) có thể vận dụng nhiều quan điểm và nội dung thiết thực vào công tác cán bộ, công tác giảng dạy. Mở đầu tác giả XYZ viết: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”.
Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc.

Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng.”(3)

“Khuyết điểm trong sự huấn luyện: Đã có nơi mở lớp huấn luyện, thế rất tốt. Song những lớp ấy còn nhiều khuyết điểm. Thí dụ: huấn luyện cán bộ trong các cơ quan hành chính mà không đụng đến công việc hành chính. Còn dạy chính trị thì mênh mông mà không thiết thực, học rồi không dùng được.”(4)

Hơn 50 năm đã trôi qua, kể từ khi tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được xuất bản. Thực tiễn chứng minh và mọi người đều thừa nhận quan điểm trên hoàn toàn đúng. Có một điều thật đáng tiếc thí dụ mà tác giả đã nêu trên cho đến nay chúng ta vẫn chưa khắc phục được. Việc đào tạo cán bộ trong một thời gian dài còn xem nhẹ kỹ thuật và nghiệp vụ hành chính, khoa học hành chính kém phát triển, hệ thống các trường đào tạo quản lý hành chính không ổn định, khoa học hành chính công chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Vì những lẽ trên mà một thực tế hiện nay là cán bộ, công chức Nhà nước không thạo việc, kém về thực hành, thường chạy theo phong trào (cán bộ phong trào). Đây là căn bệnh có từ năm 1947, bệnh chủ quan: Lý luận và thực tế không ăn khớp với nhau, dạy học theo cách học thuộc lòng. Trong những năm gần đây bệnh này đang được chữa, tuy nhiên cần phải quyết liệt hơn. Nếu không được sửa chữa nền hành chính không theo kịp tiến trình đổi mới kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế.

Tác giả XYZ đã đưa ra cách sửa chữa khoa học, thiết thực:

– Huấn luyện nghề nghiệp;
– Huấn luyện chính trị;
– Huấn luyện văn hoá;
– Huấn luyện lý luận.

“Cách học tập: Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”.(5)

Trong một thời gian dài phương pháp giảng dạy chủ yếu trong hệ thống trường Đảng, trường chính trị là phương pháp thuyết trình thầy đọc, trò chép. Phương pháp này đã không phát huy được tính tự giác, chủ động, sáng tạo của người học. Trở lại tác phẩm sửa đổi lối làm việc, ngay trang đầu tiên, phần (I) phê bình và sửa chữa, tác giả XYZ đề cập ngay đến cách thức học tập.

1. “Nghiên cứu: Mỗi người phải đọc kỹ càng các tài liệu, rồi tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình, có khuyết điểm gì và ưu điểm gì.

2. Thảo luận: Khai hội thảo luận và phê bình. Trong lúc thảo luận, mọi người được tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy. Song không được nói gàn, nói vòng quanh. Những kết luận trong cuộc thảo luận phải có cấp trên duyệt y mới là chính thức.”(6)

Cách thức học tập này có thể vận dụng cho các môn học khác nhau, trong đó có môn quản lý hành chính. Bộ giáo trình TCLLCT được sử dụng trên phạm vi cả nước, nội dung giáo trình mang tính khái quát, có những vấn đề rất chung chung. Nhiệm vụ của giáo viên là: Cung cấp đầy đủ những nội dung cơ bản trong giáo trình. Ngoài ra giáo viên cần dành thời gian nhất định cho việc thảo luận những vấn đề thiết thực gắn với đối tượng tham gia học, bài giảng sẽ rất có ý nghĩa khi học viên có thể vận dụng được ngay những kiến thức đã học vào công việc của cơ quan, đơn vị, địa phương và công việc của người học đang làm. Với tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” có thể vận dụng vào nhiều nội dung khác nhau của các môn học thuộc chương trình trung cấp lý luận chính trị. Tuy nhiên, vận dụng không có nghĩa là giáo viên trích dẫn tràn lan. Từ những cách tiếp cận khác nhau giáo viên có thể vận dụng về nội dung, hình thức, quan điểm hoặc về phương pháp của tác phẩm. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giảng dạy lý luận chính trị cần phải phong phú, linh hoạt. Mục đích cuối cùng cần đạt được là sau khi học, học viên nhận thức đúng, nhận thức sâu sắc hơn, thực hành đúng, sáng tạo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước nhằm phục vụ nhân dân một cách tốt nhất. Đây chính là tính Đảng trong công tác giảng dạy của giáo viên.

MỘT SỐ CÁCH THỨC VẬN DỤNG VÀO BÀI GIẢNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẢI CÁCH NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.

Cách 1: Giáo viên đưa vấn đề cần thảo luận theo nhóm:

Ví dụ:

1. Đồng chí hãy phát hiện, phân tích thực trạng những yếu kém trong quản lý hành chính ở cơ quan mình ? Nguyên nhân của những yếu kém đó?

2. Đồng chí hãy phê bình những yếu kém trong công tác của bản thân mình ? Nguyên nhân? Cách sửa chữa ? Trong cơ quan, đơn vị đồng chí, đồng chí phải làm gì để hoạt động quản lý hành chính ở cơ quan, đơn vị mình có hiệu lực, hiệu quả?

Cách 2: Giáo viên có thể kể một câu chuyện về Bác gắn với nội dung bài giảng(Chẳng hạn: quan điểm, tư tưởng trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Bác nói nhiều trong các bài nói chuyện, trong công tác, trong sinh hoạt đời thường của Bác – Ví dụ: Những câu chuyện Bác Hồ đến với cơ sở).

Cách 3: Giáo viên trích dẫn một đoạn viết nguyên văn của Bác sau đó phân tích, đối chiếu, so sánh ở các thời điểm, không gian khác nhau. Trong quá trình phân tích, giáo viên gợi mở cho học viên phát biểu quan điểm, chính kiến của mình. Sau khi thảo luận dân chủ, giáo viên tổng hợp, kết luận.

Ví dụ: Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng giáo dục cán bộ, đảng viên về tư cách đạo đức cách mạng, về phương pháp, cách vận động quần chúng nhất là về tinh thần tự phê bình và phê bình. Người chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (7)

Là cán bộ, công chức, đảng viên đồng chí hãy phân tích, chứng minh quan điểm trên. Liên hệ địa phương, đơn vị, bản thân đồng chí.

Cách 4) Trong khi giảng trích dẫn chính xác những câu nói, đoạn viết gắn với nội dung đang thực hành giảng.

Ví dụ: Khi bàn về phẩm chất chính trị của người cán bộ, công chức, giáo viên có thể trích dẫn 12 điểm về tư cách của Đảng chân chính cách mạng(…….)(8), trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Bác kết luận:

Muốn cho Đảng được vững bền
Mười hai điều đó chớ quên điều nào

Trên đây là một số nhận thức và kinh nghiệm trong quá trình quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc giảng dạy môn học Quản lý hành chính, Chương trình trung cấp lý luận chính trị. Rất mong các đồng chí cùng trao đổi, góp ý để việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả hơn đáp ứng yêu cầu về nhiệm vụ chính trị của nhà trường trong giai đoạn hiện nay./.

Chú thích:

(1),(2) Hồ Chí Minh toàn tập“Sửa đổi lối làm việc”, Nxb CTQG, H, 1995, tr267.
(3), (4), (5) Sđd, tr269.
(6) Sđd, tr273
(7) Sđd, tr231-232
(8) Sđd, tr261

truongchinhtrina.gov.vn

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết xong vào tháng 10 – 1947, ký tên là XYZ. Khi đó, bộ máy chính quyền của chúng ta có nhiệm vụ chủ yếu là tập trung sức cho sự nghiệp kháng chiến giải phóng dân tộc. Nhưng với tầm nhìn xa, thấu hiểu những vấn đề có quan hệ cốt tử với chính quyền cách mạng, Người đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” nhằm xây dựng và bồi dưỡng ý thức chính trị của những người cán bộ, để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng mà Đảng và nhân dân giao phó.

Ngày nay đọc lại tác phẩm này, chúng ta vẫn thấy nguyên vẹn giá trị to lớn của nó, nhất là đối với việc xây dựng và giữ gìn chính quyền cách mạng của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Sau đây chúng tôi tập trung đề cập một số vấn đề về phê bình và sửa chữa; vấn đề cán bộ, qua tác phẩm Sửa đổi lối làm việc.

I – Phê bình và sửa chữa lối làm việc

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là vũ khí sắc bén để làm cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh. Người chỉ rõ: mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa chữa cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Cũng vì đối tượng phê bình là đồng chí của mình và bản thân mình, mục đích vì sự vững mạnh và tiến bộ của Đảng, nên việc phê bình và thực hiện tự phê bình vừa phải nghiêm túc nhưng cũng rất thân ái: tự phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, châm chọc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người. Người nêu lên những căn bệnh mà người cán bộ thường mắc phải cần phê bình, sửa chữa. Đó là bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi và bệnh ba hoa.

Một là, bệnh chủ quan. Đó là chứng bệnh nguy hiểm gây tác hại lớn cho cách mạng. Vì mắc bệnh chủ quan, cán bộ, đảng viên ta thường giải quyết công việc xuất phát từ ý muốn chủ quan, mà không căn cứ vào điều kiện cụ thể và quy luật khách quan. Do không biết nhận rõ điều kiện, hoàn cảnh khách quan, khăng khăng làm theo ý mình, nên kết quả thường nhận lấy thất bại. Người chỉ rõ nguyên nhân của bệnh chủ quan là: Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông. Người mắc bệnh chủ quan đều coi khinh lý luận, làm việc chỉ theo kinh nghiệm của bản thân, không biết khái quát thành lý luận chung, giải quyết công việc một cách sự vụ, vụn vặt. Đó là bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa. Chủ nghĩa kinh nghiệm chính là một biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan, nguyên nhân của bệnh chủ quan, bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là do kém lý luận hay khinh lý luận. Do đó, có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng, một mắt mờ.

Vì vậy, không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi. Ngược lại, lý luận là cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn cuốn lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách. Xem nhiều sách để mà lòe, để làm ra ta đây, thế không phải là biết lý luận. Khi phân tích các biểu hiện của bệnh chủ quan như: kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ bệnh lý luận suông là bệnh giáo điều chủ nghĩa. Đó là sự bắt chước kinh nghiệm của người khác, kinh nghiệm của các nước anh em một cách máy móc, mù quáng; xem thường kinh nghiệm của quần chúng, không năng đi xuống cơ sở để học tập và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn…

Hai là, bệnh hẹp hòi. Đây là căn bệnh rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên còn mắc phải. Trong, thì bệnh này ngăn cản Đảng thống nhất và đoàn kết. Ngoài, thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân. Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa… đều do bệnh hẹp hòi mà ra! Biểu hiện của bệnh hẹp hòi là ham danh vọng và địa vị, cho nên khi phụ trách một bộ phận nào thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì tìm cách đẩy ra. Thế là chỉ biết có mình, chỉ biết có bộ phận mình mà quên cả Đảng. Bệnh hẹp hòi trái hẳn với nguyên tắc tập trung và thống nhất trong Đảng. Từ trước đến nay, vì bệnh hẹp hòi mà có những sự lủng củng giữa bộ phận và toàn cục, đảng viên với Đảng, cán bộ địa phương với cán bộ phái đến, cán bộ quân sự với cán bộ mặt trận, cán bộ mới và cán bộ cũ, cơ quan này và cơ quan khác.

Bệnh hẹp hòi của cán bộ, đảng viên còn biểu hiện ở thói tự tôn tự đại, khinh rẻ người ta, không muốn biết, muốn học những ưu điểm của người khác. Những cán bộ, đảng viên mắc bệnh này quên rằng: chỉ đoàn kết trong Đảng, cách mạng cũng không thành công được, còn phải đoàn kết nhân dân cả nước. Họ cố tình không hiểu: so với nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm được việc gì hết. Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi. Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết cách xử trí khôn khéo với các hạng đồng bào (như tôn giáo, dân tộc thiểu số, anh em trí thức…). Điều đó tất yếu dẫn đến phá hoại chính sách đoàn kết, cũng như ảnh hưởng không nhỏ tới sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Ba là, bệnh ba hoa. Ba hoa là nói và viết dài dòng, rỗng tuyếch, dùng chữ cầu kỳ, khó hiểu, không nhằm đúng đối tượng, quần chúng không hiểu, cho nên không có tác dụng gì cả. Người nhắc nhở: cán bộ tuyên truyền bao giờ cũng tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như có ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem.

Như vậy, sửa đổi lối làm việc của Đảng ở các cấp, theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, trước hết phải phê bình và sửa chữa bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh giáo điều, bệnh hẹp hòi, bệnh ba hoa… Mỗi chứng bệnh đó là một kẻ địch nguy hiểm. Mỗi kẻ địch bên trong là bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài, trong đó kẻ địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Để chữa khỏi những bệnh trên, ta phải tự phê bình ráo riết và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau. Mỗi cán bộ, đảng viên mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày rửa mặt. Được như vậy Đảng ta mới thực sự trong sạch, vững mạnh.

II – Vấn đề cán bộ và công tác cán bộ

Cán bộ cách mạng là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng. Từ định hướng đó, Người khẳng định, cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc. Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Thực hiện tư tưởng của Người, các nghị quyết của Đảng ta đều dành sự quan tâm cho công tác cán bộ. Nghị quyết Trung ương 3, khóa VIII của Đảng xác định, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng. Kinh nghiệm thực tiễn chỉ rõ, mức chính xác của đường lối và việc cụ thể hóa đường lối chính xác, kịp thời cũng như việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng thắng lợi đều tùy thuộc ở chất lượng đội ngũ cán bộ.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người phê bình những khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ, đồng thời đề ra những quan điểm và giải pháp về vấn đề cán bộ.

1 – Về việc đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ. Vì cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc, do đó, huấn luyện cán bộ là công việc “gốc” của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ huấn luyện nghề nghiệp cho cán bộ là khâu đầu tiên. Vì, vô luận cán bộ ở môn nào, làm nghề nào, ngành nào cũng phải học cho thành thạo công việc ở môn ấy; đồng thời, phải nghiên cứu những chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ; học tập những kinh nghiệm thành công và thất bại; học tập lịch sử truyền thống cách mạng và sự phát triển trong từng thời kỳ… Theo đó, việc huấn luyện phải sắp xếp cách dạy và học, kiểm tra kết quả, sao cho cán bộ dần dần đi đến thạo công việc; huấn luyện chính trị, môn nào cũng phải có; cần coi trọng nâng cao kiến thức văn hóa.

2 – Về bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Đảng luôn nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu; trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta.

Theo tư tưởng của Người, Đảng phải biết rõ cán bộ;… xem xét lại nhân tài và tìm nhân tài mới. Phải cất nhắc cán bộ cho đúng; cán bộ phải được tập thể tin cậy, lại bố trí đúng ngành nghề đào tạo, huấn luyện. Một trong những vấn đề Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, đó là đặt đúng người vào đúng công việc thích hợp: Phải khéo dùng cán bộ. Chúng ta phải biết tùy tài mà dùng người. Phải phân phối cán bộ cho đúng. Phải dùng người đúng chỗ, đúng việc.

Khi đã đặt cán bộ thích hợp với công việc, cần tiếp tục giúp họ có điều kiện hoàn thành công việc một cách có hiệu quả: Luôn luôn dùng lòng thân ái mà giúp đỡ, lãnh đạo cán bộ; giúp họ sửa chữa những chỗ sai lầm; khen ngợi họ lúc họ làm được việc, và phải luôn kiểm soát cán bộ, giữ gìn cán bộ.

Người nhấn mạnh, đối với công tác cán bộ của Đảng ta, việc xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc và kiểm tra cán bộ là một quy trình liên hoàn, yêu cầu thực hiện nghiêm túc, triệt để. Cán bộ được đề bạt là dựa vào cả quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu. Sau khi nhận chức trách, lại tiếp tục được tổ chức quan tâm theo dõi, giúp đỡ, kiểm tra. Có như vậy, công tác cán bộ của Đảng mới đem lại hiệu quả thiết thực cho sự nghiệp cách mạng.

3 – Xây dựng cơ chế làm việc cho cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra có năm cách. Cách thứ nhất là chỉ đạo – thả ra cho họ làm, thử cho họ phụ trách, dù sai lầm chút ít cũng không sợ. Nhưng phải luôn luôn tùy hoàn cảnh mà bày vẽ cho họ về phương hướng công tác, cách thức công tác để phát triển năng lực và sáng kiến. Cách thứ hai là luôn bồi dưỡng cán bộ, nâng cao tư tưởng, trình độ lý luận và cách làm việc cho họ. Cách thứ ba là thường xuyên kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Cách thứ tư là khi họ sai lầm thì dùng cách thuyết phục giúp họ sửa chữa, cải tạo. Cách thứ năm là giúp đỡ họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc. Tùy hoàn cảnh mà giúp họ khi ốm đau, khi gia đình họ gặp khó khăn. Những điều đó rất quan hệ với tinh thần của cán bộ, và sự thân ái đoàn kết trong Đảng.

4 – Về một số điểm lớn trong chính sách cán bộ. Theo Hồ Chí Minh:

– Cần hiểu biết cán bộ. Vấn đề nhận xét và đánh giá cán bộ là vấn đề không đơn giản. Biết người cố nhiên là khó, tự biết mình cũng không dễ. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu. Người còn chỉ rõ, các chứng bệnh của cán bộ ta như: tự cao tự đại; ưa người ta nịnh mình; do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người; đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Phạm một trong bốn bệnh đó cũng như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông. Vì vậy, nhận xét cán bộ không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ cả toàn công việc của cán bộ. Do đó, nhận xét đánh giá cán bộ phải xuất phát từ hiện thực khách quan, với quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể. Qua đó mới biết chỗ tốt và chỗ xấu của cán bộ, từ đó mà nâng cao chỗ tốt, sửa chữa chỗ xấu.

– Khéo dùng cán bộ. Mục đích khéo dùng cán bộ, cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ. Đồng thời chống những chứng bệnh như: ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài. Ham dùng những kẻ nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực… Vì những việc đó, kết quả là dù họ có làm bậy, mình cũng cứ bao dung, che chở, bảo hộ khiến cho chúng ngày càng hư hỏng. Đối với những người chính trực thì “bới lông tìm vết” để trả thù. Như thế, cố nhiên hỏng cả việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo.

– Phải có gan cất nhắc cán bộ. Phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế, công việc nhất định chạy. Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế có tội với Đảng, có tội với đồng bào. Trước khi cất nhắc cán bộ, phải nhận xét rõ ràng, phải căn cứ vào kết quả công việc họ làm, cách nói, cách viết và cách sinh hoạt v.v..

– Thương yêu cán bộ là luôn luôn chú ý đến công tác của họ, kiểm thảo họ. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sửa ngay, để vun trồng cái thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ. Đồng thời phải nêu rõ những ưu điểm, những thành công của họ. Làm thế không phải là làm cho họ kiêu căng, mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức. Phải vun đắp chí khí của họ.

– Phê bình cán bộ. Đối với cán bộ sai lầm, chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ, những người lãnh đạo sẽ không biết tìm đúng cách để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Sự sửa chữa khuyết điểm, một phần cố nhiên là trách nhiệm của cán bộ đó, nhưng cũng một phần trách nhiệm của người lãnh đạo. Sửa chữa sai lầm cố nhiên cần dùng cách thuyết phục, giải thích, cảm hóa, dạy bảo. Song không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Nếu không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại.

Cách đối với cán bộ có khéo, có đúng thì mới thực hiện được nguyên tắc vấn đề cán bộ quyết định mọi công việc. Vì vậy, phê bình cho đúng, chẳng những không làm giảm uy tín của cán bộ, của Đảng, mà còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, và trước yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, việc nghiên cứu, tuyên truyền, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc có ý nghĩa to lớn và rất quan trọng đối với mỗi cán bộ, đảng viên; nhất là phục vụ kịp thời và thiết thực đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội X của Đảng, góp phần xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.

quandoantanbinh.vn

“Hàng nội hóa đấy!”

Vào những tháng đầu năm 1966, đến đơn vị nào của Bộ đội Pháo binh cũng gặp hình ảnh từng đoàn quân vai đeo ba lô nặng, bao gạo, lựu đạn quấn quanh người, tốp khênh pháo, người vác đạn… chống gậy lầm lũi leo đèo, lội suối suốt đêm, gần sáng lại tản ra trú quân trong rừng, mắc võng, căng tăng, đào công sự, đào bếp Hoàng Cầm… Tất cả đều nhằm rèn luyện thật sát với thực tiễn hành quân vượt Trường Sơn đi “B dài”, thường phải ròng rã trên đường năm, sáu tháng trời… Sau ba tháng nhận trang bị mới, đúng lúc đang hối hả chuẩn bị vào Nam thì Trung đoàn 84A do đồng chí Trần Đáo, Nguyễn Lại chỉ huy trang bị pháo ĐKB và tiểu đoàn 99 trang bị A12 nhận được thông báo nhận nhiệm vụ bắn trình diễn để Bác Hồ và các đồng chí trong Bộ Chính trị đến xem vào ngày 17-4-1966.

Buổi sớm hôm ấy, khi sương mù còn dày đặc, Bác và các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng đã có mặt tại khu vực bắn trình diễn. Đồng chí Nguyễn Thế Lâm, Tư lệnh Binh chủng Pháo binh ra đón và đưa Bác cùng các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… lần lượt đi xem các trận địa đặt hai loại pháo hỏa tiễn rồi trở về đài quan sát. Bác và các đồng chí lãnh đạo cùng đi chăm chú nghe giới thiệu về tính năng kỹ thuật, chiến thuật của từng loại pháo, đạn và thành tích huấn luyện của các đơn vị. Thỉnh thoảng Bác lại gật đầu khen: “Tốt”. Khi nghe đồng chí Nguyễn Trung Lực, cán bộ Phòng Tham mưu chỉ vào cái ống tôn màu xám to như khúc ống bương giới thiệu: “Thưa Bác, đây là nòng pháo phản lực A12 do ta nghiên cứu và sản xuất”. Bác Hồ tỏ ý hài lòng cười nói với mọi người: “Hàng nội hóa đấy!”. Tất cả cùng bật cười vui vẻ, rồi đồng thanh: “Thưa Bác, đúng ạ!”.

Buổi bắn trình diễn vũ khí mới đạt kết quả tốt. Phấn khởi trước sự quan tâm của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, cán bộ, chiến sĩ đơn vị càng quyết tâm học tập tinh thông về kỹ thuật, chiến thuật và sẵn sàng chờ lệnh lên đường. Sự kiện Bác Hồ đến xem bắn trình diễn pháo hỏa tiễn đã chính thức mở ra thời kỳ Binh chủng Pháo binh liên tiếp đưa các đơn vị pháo binh lớn vào chiến trường miền Nam.

Trần Ngọc
qdnd.vn

Suốt đời tôi nhớ Bác

Suốt đời tôi nhớ BácSuốt cuộc đời tôi, những lúc khó khăn gian khổ hay vui sướng, vinh quang, tôi đều nhớ đến những hình ảnh và lời nói thân thương của Bác Hồ. Lần tôi được gặp Bác đầu tiên là năm 1950.

Ngày ấy, tôi là chỉ huy trưởng Mặt trận Bình-Trị-Thiên, nhận lệnh ra Việt Bắc báo cáo tình hình kháng chiến với Bộ Tổng tư lệnh. Dịp ấy, điều hạnh phúc nhất đã đến: Tôi được dự lễ mừng sinh nhật Bác tròn 60 tuổi, lại được ngồi ngay bên cạnh Bác. Bác ân cần hỏi chuyện về tình hình đời sống kháng chiến của đồng bào Bình-Trị-Thiên. Khi ăn cơm, Bác gắp thức ăn cho tôi. Ở bên cạnh Bác tôi cảm thấy thân thiết, tự tin hẳn lên. Tôi đưa ra tấm ảnh chân dung Bác, xin chữ ký để mang về làm kỷ niệm cho đồng bào, chiến sĩ. Bác cầm tấm ảnh rồi phóng bút ghi: “Kháng chiến nhất định thắng lợi!”, ký tên Hồ Chí Minh. Trao ảnh cho tôi, Bác ân cần:

– Chú về, cho Bác gửi lời thăm hỏi đồng bào và chiến sĩ trong đó…

Kỷ vật thiêng liêng ấy tôi lưu giữ suốt những năm kháng chiến, thôi thúc động viên tôi luôn luôn phấn đấu, rèn luyện hoàn thành tốt nhiệm vụ và tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, đúng như những dòng Bác ghi trên tấm ảnh. Vừa qua, tôi đã gửi lại tấm ảnh gốc có bút tích của Bác cho Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Thừa Thiên – Huế. Hiện tại, tôi chỉ lưu giữ bản sao, được phóng lớn hơn (xem ảnh).

Đến năm 1954, tôi được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ làm Trưởng phái đoàn liên lạc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạnh Ủy ban Quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Đồng chí Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp căn dặn: “Bác Hồ bảo, anh về làm việc ở Thủ đô thì phải “luôn luôn nhớ giữ nâu sồng kháng chiến”. Lời dặn giản dị ấy chính là nhắc nhở tôi phải cảnh giác trước lối sống nơi đô thị, không được sa ngã, không bị cám dỗ… luôn luôn giữ vững phẩm chất cách mạng. Ấy vậy mà trong một lần trở lại Việt Bắc, báo cáo với Bác công việc ở Hà Nội và tình hình công tác với Ủy ban Quốc tế, Bác hỏi: “Nghe nói chú mới mua một chiếc xe đẹp lắm phải không?”. Tôi giật mình trước câu hỏi của Bác, liền thưa: “Thưa Bác, do nhu cầu công tác, cần đi lại với Ủy ban Quốc tế, cơ quan phải sắm ô tô. Anh em bàn tính mãi, nếu mua xe cũ, phải mất 3.000 đồng Đông Dương. Mua xe mới thì mất 3.600 đồng, nên chúng cháu quyết định mua xe mới, vẫn tinh thần tiết kiệm, không dám xa hoa…”. Bác gật đầu, không nói gì thêm. Tôi hiểu, Bác không phê bình mà hỏi rõ ngọn ngành, thấy hợp lý nên Bác thông cảm.

Những cử chỉ, lời nói của Bác ngày ấy là sự nhắc nhở, chỉ bảo ân cần, độ lượng như tình cha con, tôi luôn ghi nhớ và vận dụng trong ứng xử suốt cuộc đời mình.

ĐÀO VĂN SỬ (ghi theo lời kể của Đại tá Hà Văn Lâu, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp)
qdnd.vn

Thư khen xã Đình Cao, Hải Hưng (10-5-1968)

Thân ái gửi đồng bào và cán bộ xã Đình Cao, huyện Phù Cừ, Hải Hưng,

Mỗi hợp tác xã phải như là một gia đình, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Bác rất vui lòng biết rằng đồng bào và cán bộ các hợp tác xã ở Đình Cao làm được như vậy, đã đoàn kết tốt, đã sắp xếp công việc làm ǎn thích hợp cho các cụ già, các cháu mồ côi và những đồng bào tàn tật. Nhờ vậy mà mọi người đều vui vẻ và hǎng hái góp phần vào công việc sản xuất và chiến đấu.

Bác mong các nơi khác học tập xã Đình Cao về việc chǎm sóc tốt các cụ già, các cháu mồ côi và những đồng bào tàn tật.

Bác chúc đồng bào và cán bộ xã Đình Cao cố gắng và tiến bộ hơn nữa.

Chào thân ái và quyết thắng
Bác Hồ

———————–

Báo Nhân dân, số 5141, ngày 10-5-1968.
cpv.org.vn

Phát biểu tại lễ khai mạc kỳ họp thứ tư Quốc hội khoá III (20-5-1968)

Đồng chí Thủ tướng vừa ca tụng Hồ Chủ tịch một cách hơi quá. Nhân đây tôi có một bài thơ mới nghĩ ra, nhờ các đại biểu ai làm thơ hay và hay làm thơ thì sửa lại cho hay. Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi thấy như mình trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thì tôi thấy già đi. Vì vậy, tôi có bài thơ thế này.

Bảy mươi tám tuổi, chưa già lắm,
Vẫn vững hai vai việc nước nhà.
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,
Tiến bước! Ta cùng con em ta.
Phát biểu ngày 20-5-1968.

Bǎng ghi âm lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I.
cpv.org.vn

Lời cảm ơn chung nhân dịp sinh nhật 19 tháng 5 (26-5-1968)

Để đáp lại và cảm ơn chung những lời chúc thọ thân thiết của các bầu bạn ở các nước ngoài, của các đoàn thể nhân dân, các đơn vị bộ đội, các đội thanh niên xung phong, các cụ phụ lão, các cháu học sinh và nhi đồng, v.v., tôi có mấy câu thơ sau đây:

Bảy mươi tám tuổi, chưa già lắm,
Vẫn vững hai vai việc nước nhà.
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,
Tiến bước! Ta cùng con em ta.

Hồ Chí Minh

————————–

Báo Nhân dân, số 5157, ngày 26-5-1968.
cpv.org.vn

Thư khen bộ đội đảo Cồn Cỏ (5-6-1968)

Thân ái gửi cán bộ, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ,

Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi cán bộ, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ chiến đấu dũng cảm, mưu trí, trong một ngày 31 tháng 5 nǎm 1968 đã bắn rơi bốn máy bay Mỹ.

Cồn Cỏ xứng đáng là đảo nhỏ anh hùng.

Bác nhắc các chú: phải tǎng cường đoàn kết, luôn luôn nâng cao cảnh giác, không ngừng tập luyện, sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của địch, giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 5 tháng 6 nǎm 1968
Bác Hồ

Tái bút: Bác tặng các chú hai câu thơ:

Cồn Cỏ nở đầy hoa thắng trận,
Đánh cho tan xác giặc Hoa Kỳ.

———————–

Báo Nhân dân, số 5168, ngày 6-6-1968.
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân miền Bắc (27-6-1968)

Thân ái gửi toàn thể đồng bào, chiến sĩ và cán bộ,

Trong lúc miền Nam anh hùng đang đánh mạnh, thắng to thì miền Bắc vừa bắn rơi chiếc máy bay thứ 3.000 của giặc Mỹ.

Thế là: Nam – Bắc hai miền đều đánh giỏi!

Quân và dân miền Bắc dũng cảm không những bắn rơi nhiều máy bay Mỹ mà thắng cả Mỹ trên các mặt giao thông vận tải, xây dựng kinh tế, giữ vững đời sống nhân dân… Qua hơn ba nǎm chống Mỹ, cứu nước, miền Bắc xã hội chủ nghĩa càng thêm vững vàng và luôn luôn hết lòng hết sức làm tròn nghĩa vụ đối với đồng bào miền Nam ruột thịt.

Tôi rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi quân và dân miền Bắc đã thi đua sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi.

Tôi nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Quân khu IV rất xứng đáng là tuyến đầu của miền Bắc, anh dũng đập tan mọi thủ đoạn dã man của giặc Mỹ.

Tôi đặc biệt khen ngợi quân và dân Quảng Bình đã đánh giỏi, hạ chiếc máy bay Mỹ thứ 3.000 và gửi tặng đơn vị X. một lá cờ vinh dự. Đó là thành tích chung của quân và dân miền Bắc ta.

Giặc Mỹ đã thua to. Nhưng chúng vẫn chưa chịu từ bỏ tội ác chiến tranh xâm lược miền Nam, phá hoại miền Bắc.

Toàn thể đồng bào, chiến sĩ và cán bộ cả nước chớ vì thắng lợi mà chủ quan. Phải luôn luôn cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, ra sức chiến đấu mạnh, sản xuất tốt, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, quyết đánh cho giặc Mỹ thất bại đến cùng.

Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 27 tháng 6 nǎm 1968
Hồ Chí Minh

————————–

Báo Nhân dân, số 5190, ngày 28-6-1968.
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thơ Tố Hữu

Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi (N.B.V)

Thưa anh, anh không dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào, chuẩn bị khởi nghĩa nǎm 1945 phải không ạ?

Nhà thơ Tố Hữu (T.H): (ngạc nhiên) – Sao anh biết?

N.B.V: – Đọc bài thơ “Hồ Chí Minh” anh viết ngày 16-8-1945, người nào hiểu thơ và tinh ý một chút đều đoán là anh chưa gặp Bác.

Cũng chỉ mới nêu lên những phẩm chất cách mạng ước lệ mà nhiều nhà cách mạng vô sản có thể có. Người đọc chưa thấy một cốt cách, một dáng hình, một phẩm chất Hồ Chí Minh cá thể.

T.H: (cười) Anh hiểu tôi và hiểu thơ tôi. Hiểu nhau, tâm đắc như thế, thật sướng.

Tôi không ra dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào vì thấy tình hình gấp gáp lắm rồi, phải về Huế thành lập ngay các ủy ban khởi nghĩa nên chưa được nhìn thấy Bác. Bài thơ “Hồ Chí Minh” tôi viết ngày 26-8-1945, ba ngày sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công ở Huế, tưởng tượng về lãnh tụ Nguyễn ái Quốc trong những nǎm đi hoạt động cách mạng.

N.B.V: Thế, anh được gặp Bác lần đầu vào nǎm nào?

T.H: Huế cướp chính quyền ngày 23-8-1945. Ngày 30-8-1945, xứ ủy Trung Kỳ họp, anh Nguyễn Chí Thanh được bầu làm Bí thư xứ ủy, tôi được bầu làm phó Bí thư. Tháng 10 nǎm ấy, tôi nhận được điện Bác gọi ra báo cáo cáo về tình hình ở miền trung đặc biệt là tình hình ở Huế. Tôi đến Bắc Bộ Phủ, anh Vũ Đình Huỳnh đón và dẫn lên phòng làm việc của Bác. Nǎm ấy tôi mới 25 tuổi. Cụ đang đọc báo, nghe anh Vũ Đình Huỳnh báo cáo. Cụ ngẩng lên nhìn, thoáng vẻ ngạc nhiên. Câu đầu tiên Cụ hỏi là:

– Chú ra đây bằng gì?

-Thưa Cụ, cháu đi ô-tô.

– Ô-tô của ai?

– Ô-tô của riêng chú à?

– Dạ không, của cơ quan ạ.

Bác nghiêm nghị:

– Của cơ quan chứ không phải các quan đâu nhé! Các chú là cán bộ cách mạng chứ không là quan cách mạng mà quan ông, quan bà, quan cô, quan cậu cứ nhảy cả lên ô-tô, đi việc riêng cũng bắt người ta lái!

N.B.V: Bị ngay “một đòn phủ đầu” thế, anh có ớn xương sống không?

T.H: Trong tưởng tượng của tôi trước đó, Bác phải đạo mạo oai vệ nghiêm trang chứ không thân mật, gần gũi như thế, không ngờ ông Cụ chơi chữ hóm hỉnh và sâu sắc như vậy. Cứ nói chơi chơi thế thôi nhưng là những lời dạy bảo thấm thía.

N.B.V: – Bác hỏi anh những việc gì?

T.H: – Anh biết đấy, Bác đã sống ở Huế, có rất nhiều kỷ niệm với Huế nhưng Bác chỉ hỏi tình hình chung. Bác hỏi Bảo Đại, Trần Trọng Kim và mấy ông trong nội các thân Nhật trước đây sống thế nào, các mệ trong hoàng tộc sống thế nào? Tôi báo cáo với Bác, sau khi Bảo Đại xin thoái vị, trao ấn kiếm cho phái đoàn Chính phủ lâm thời, nhà vua và hoàng tộc được đối xử tử tế; Bảo Đại ra sống ở An Định cung, còn các ông bộ trưởng nội các cũ thì chạy ra Hà Nội cả. Bác hỏi cướp chính quyền xong, có bắt bớ ai không? Tôi thưa với Bác chỉ bắt mấy tên mật tháp Pháp có tội ác. Bác hỏi làm sao phải xử bắn Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi? Chú có biết cụ Ngô Đình Khả, thượng thư Triều Nguyễn (thân sinh Ngô Đình Thúc, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm…) không ký vào bản thực dân Pháp kết tội và đòi xử tử vua Duy Tân không?

Tôi thưa với Bác khi ta giam Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi ở trại thì hiến binh Nhật đến trại giam đòi ta giao hai người ấy cho họ. Sợ lính Nhật đến cướp trại, những người phụ trách trại giam bàn nhau đem xử bắn. Nét mặt Bác lúc ấy rất trầm tư. Lát sau, Bác hỏi tôi việc chống giặc đói thế nào? Bác bảo trồng rau trồng khoai, sắn để chống đói là tốt nhưng không được phá vườn hoa để trồng rau, làm thế là cách mạng mang tiếng đấy. Mấy bãi cỏ trước Ngọ môn phải giữ gìn, bảo vệ, có trót xéo hỏng thì phải trồng lại. Bác hỏi: “Ai nấu cho các chú ǎn?” Dạ mấy ông đầu bếp trong tòa Khâm sứ ngày trước. Bác hỏi: Ngày ngày họ “dâng” lên “cao lương mĩ vị” gì? Tôi đỏ mặt:

– Thưa Cụ, chỉ có rau luộc, khoai sắn, tí cơm và chút mắm nêm thôi ạ.

Bác cười hỏi tiếp:

– Các chú có cho đầu bếp ǎn cùng không?

– Thưa Cụ, chúng cháu mời mãi, họ mới chịu.

– ǎn họ vẫn gọi là thời à?

– Vâng ạ.

Rồi Bác hỏi chuyện diệt dốt. Tôi vừa báo cáo đến phong trào bình dân học vụ thì Bác ngắt lời hỏi “cái gì, cái gì” sao không nói xóa nạn mù chữ thì ai cũng hiểu không?

Bác hỏi về không khí chuẩn bị chiến đấu ở Huế, về phong trào Nam tiến. Bác dặn đi dặn lại phải đoàn kết một lòng, phải gần dân, thương dân, nghe dân, đừng quan liêu, đừng hách dịch, tư túi.

N.B.V: Anh ngồi với Bác có lâu không?

T.H: Chưa đầy một tiếng đồng hồ.

N.B.V: Ấn tượng để lại trong anh là gì?

T.H: Bác giản dị, thân mật, không làm cho mình sợ. Bác thiết thực, cụ thể, sâu sắc và ân tình lắm.

N.B.V: Thế anh được triệu ra Trung ương nǎm nào?

T.H: Tháng 6-1946, anh Trường Chinh gọi tôi ra để chuẩn bị nhận nhiệm vụ phụ trách công tác tuyên truyền, tập hợp xây dựng lực lượng vǎn hóa vǎn nghệ. Biết mình thiếu hụt nhiều thứ về lý luận vǎn nghệ, tôi mò mẫm tìm chép những đoạn Dmiterov, Lenin, Staline nói về vǎn nghệ vô sản, chép thơ Maiakovski, Esenin, Simonov… để làm vốn.

Sau đó, tôi về làm Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa nǎm 1946. Tháng 7-1947, tôi được điều ra Việt Bắc. Mới cưới được ít lâu, tôi và Thanh, vợ tôi, cùng ra.

N.B.V: Bài thơ “Sáng tháng nǎm” anh viết trước Đại hội Đảng lần thứ 2 (tháng 1-1951) hay sau Đại hội?

T.H: Đại hội Đảng lần thứ 2 tôi được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Tháng 5-1951, Bác gọi tôi đến báo cáo về công tác tuyên truyền.

Nơi ở của Bác lúc ấy dĩ nhiên là bí mật. Tôi được dẫn đến đến một cái nhà sàn nhỏ trên ngọn đồi thấp um tùm cây xanh, dưới chân đồi, suối rì rào chảy. Thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng đã cho tôi câu thơ đầy hào khí:

Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn.

Bác ở trên sân, làm việc ở dưới. Một cái bàn gỗ, một cái nghế tựa, một cái máy chữ, một cái ghế để khách ngồi và đáng chú ý nhất là cái bồ nhỏ đan bằng nứa để đựng công vǎn, chỉ thị tài liệu. Bác nuôi mấy con chim bồ câu…

N.B.V: Anh viết:

Bác bảo đi là đi
Bác bảo thắng là thắng

Liệu có sa vào sự tôn sùng cá nhân không?

T.H: Tôi nghĩ là không. Mà đó là niềm tin của dân tộc. Anh biết Cách mạng Tháng Tám, đất nước ta như con thuyền nhỏ giữa sóng cồn bão táp. Không có bàn tay chèo lái vững vàng và khôn khéo của Bác thì sẽ thế nào. Nhân dân tin Bác nên tin Đảng, tin Chính phủ:

N.B.V: Có thể nói: “Sáng tháng nǎm” là bài thơ đầu tiên anh đã chạm được vào cốt cách, phong thái, tâm hồn của Bác và càng về sau càng phong phú hơn. Trong bài thơ dài Việt Bắc, anh đã khắc họa hình ảnh Bác rất đẹp.

Nhớ ông cụ mắt sáng ngời.
Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo
Nhớ chân Người bước lên đèo
Người đi rừng núi trông theo bóng Người.

T.H: ở Việt Bắc, đi công tác có khi Bác chống gậy đi bộ, có lúc Bác cưỡi ngựa. Tôi quan sát nhiều lần mới viết được đoạn thơ đó.

N.B.V: Ngày Bác mất (2-9-1969) anh đang công tác ở nước ngoài phải không ạ?

T.H: Không, tôi đau tim nằm điều trị ở Bệnh viện Việt – Xô. Bác mất lúc 9 giờ 47 phút ngày 2-9. Mười ba giờ, anh Xuân Thủy vào bệnh viện thǎm tôi. Vừa nhìn thấy tôi, anh khóc òa và báo tin dữ. Mặc trời mưa, tôi chạy về cǎn nhà sàn của Bác nên mới có câu thơ:

Chiều nay con chạy về thǎm Bác
Ướt lạnh vườn rau, mấy gốc dừa.

N.B.V: Bài “Bác ơi” anh viết có nhanh không?

T.H: Một buổi chiều, một buổi tối là xong. Tôi viết mà nước mắt cứ trào ra.

N.B.V: Những ngày đau thương đứt ruột ấy, có vẻ như công chúng vǎn học chưa thỏa mãn với bài “Bác ơi!” của anh. Vì yêu quý thơ anh mà họ muốn đòi hỏi ở anh nhiều hơn nữa. Có vẻ như họ tâm đắc với bài “Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương” của anh Việt Phương hơn. Có phải thế không?

T.H: Tôi cũng đọc được ý nghĩ ấy. Bài thơ của anh Việt Phương hấp dẫn người đọc vì giọng thơ mới lạ, vì những chi tiết đời thường của Bác mà chỉ những người ở gần Bác mới biết. Đó là một bài thơ cảm động.

N.B.V: Thơ như hoa. Mỗi loài hoa có một vẻ đẹp riêng, không nên so sánh cho hoa này đẹp hơn hoa kia nhưng ở thời điểm đó, người đọc đòi hỏi ở anh như vậy là có lý.

T.H: Chính vì vậy mà ít lâu sau, tôi thai nghén bài thơ dài “Theo chân Bác”. Tháng 11 nǎm ấy, tôi ốm, vào Bệnh viện Việt – Xô. Các bác sĩ hội chẩn xong bảo tôi bị bệnh máu trắng và chuyển tôi sang Liên Xô chữa. Các giáo sư, bác sĩ Nga cũng kết luận như thế. Một hôm tôi hỏi thật ông giáo sư viện sĩ: “Đồng chí có thể nói thật cho tôi biết tôi còn sống được bao lâu nữa?”. “Giáo sư không nói cụ thể (dại gì mà nói cụ thể!) mà chỉ bảo tôi “Có thể dùng nghị lực và lòng ham sống mà chế ngự bệnh tật”. Tôi nghĩ: chỉ cần đủ thời gian để viết bài thơ dài này…

N.B.V: Rồi anh “theo chân Bác” luôn?

T.H: (cười): Ngoài cái ý Bác là người dẫn đường cách mạng cho mình đi theo cũng có ẩn ý mà anh đã nhận ra khá tinh tế.

N.B.V: Anh viết “Theo chân Bác” ở bệnh viện Nga?

T.H: Tôi vào một cái phòng tương tự như cái kho của ta, khóa cửa lại viết. Có những khổ thơ, nước mắt trào ra ướt đẫm cả giấy:

Thôi đập rồi chǎng? một trái tim
Đỏ như sao Hỏa, sáng sao Kim
Muốn òa nức nở bên em nhỏ
Nước mắt ta đành nuốt, lặng im.

N.B.V: Viết xong, đọc lại anh có bằng lòng không?

T.H: – Tôi rất hài lòng là các ý tưởng đều đạt được. Tôi muốn nói bằng thơ hành trình cách mạng của Bác trong hành trình cách mạng của Đảng, của đất nước ta, nói bằng thơ phẩm chất kiên cường của Bác, lòng thương người và bao dung của Bác, cốt cách Việt Nam của Bác, so sánh Bác với những nhà cách mạng lớn ở các nước khác như Gandhi của ấn Độ, Tôn Dật Tiên của Trung Hoa…

N.B.V: Hơn 500 câu thơ xúc động ấy anh viết trong bao lâu?

T.H: Gần một tháng. Chính xác hơn là 26 ngày. Tôi viết xong ngày 2-1-1970.

N.B.V: Nǎm 1970 ấy tôi đang dạy ở trường cấp 3 bổ túc vǎn hóa Chu Phan ở Vĩnh Phú, kề Hà Nội. Một bạn thơ ở Hà Nội gửi cho tôi bản đánh máy “Theo chân Bác”. Giờ nghỉ giữa hai tiết học, học sinh các lớp vây lấy thầy, đòi thầy đọc và bình. Tôi vừa đọc vừa khóc. Nhiều em học sinh cũng khóc theo:

Ai nói giùm ta hết tấm lòng
Bác Hồ thương nhớ mỗi dòng sông
Mỗi hòn núi ở miền nam đó
Như thịt da ta nhỏ máu hồng

Quả thật những giây phút ấy, tôi thật thấm thía điều này:
“Nhà thơ là của nhân dân”.

T.H: Mấy tháng sau, tôi khỏi bệnh về nước. Các bác sĩ Việt Nam và Liên Xô chẩn đoán sai hay tôi được Bác phù hộ mà khỏi bệnh?

N.B.V: Ai là người được may mắn đọc “Theo chân Bác” đầu tiên?

T.H: Luật sư Phan Anh đi công tác ở Nga, đến bệnh viện thǎm tôi và tôi đọc cho anh ấy nghe. Phan Anh rất thích và nói đùa rằng viết xong bản tráng ca trữ tình này thì hồng cầu trong cơ thể tôi tǎng và bạch cầu giảm.

N.B.V: Gần Bác, anh có thấy lúc nào Bác buồn không?

T.H: Có lần tôi hỏi Bác thì Bác bảo con người ta có lúc vui lúc buồn, Bác chỉ vì miền nam chưa được giải phóng và phe xã hội chủ nghĩa có những bất đồng về tư tưởng nên trong bài thơ “Cánh chim không mỏi”, tôi có viết:

“Bác về tóc có bạc thêm
Nǎm canh bốn biển có đêm nghĩ nhiều”.

Ngoài 5 bài thơ trực tiếp viết về Bác là Hồ Chí Minh, Sáng tháng nǎm, Cánh chim không mỏi, Bác ơi, Theo chân Bác, trong rất nhiều bài thơ khác của ông, bao giờ hình ảnh của Bác Hồ cũng song hành với nhân dân, với dân tộc.

Báo Giáo dục và Thời đại, tháng 5, 2000
cpv.org.vn

Báo chí nước ngoài nói về thân thế sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh

KT (Theo NYT và các báo nước ngoài 2000/2002

Nhân dịp nhân loại bước vào thế kỷ XXI, tờ Thời báo Niu-Oóc, Mỹ đã giới thiệu tác phẩm mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, dày trên 800 trang kèm theo nhiều bức ảnh đen trắng minh hoạ của tác giả, Giáo sư Sử học Uy-li-am Giôn Đu-cơ do Nhà xuất bản Hai-pơ-ron ấn hành và được coi là một công trình vĩ đại nói về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo lời giới thiệu của Nhà xuất bản Hai-pư-rôn thì Hồ Chí Minh là một trong số những nhân vật kiệt xuất trong lịch sử thế giới hiện đại, một nhà cách mạng lỗi lạc, một chiến sỹ đấu tranh không mệt mỏi vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của thế giới thế kỷ XX. Nhân dịp xuân về, chúng tôi xin lược dịch và giới thiệu cùng bạn đọc bài viết này.

Với công trình đồ sộ nói trên, tác giả Giôn Đu-cơ đã khắc hoạ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, một vị lãnh tụ thiên tài nhưng vô cùng giản dị, rất gần gũi với cuộc sống của người lao động và đặc biệt hơn, Người còn là một chính khách lỗi lạc, biết kết hợp tài tình nghệ thuật lãnh đạo để đưa con thuyền cách mạng Việt Nam mau chóng tới đích. Ví dụ, để tránh cuộc chiến tranh với người Pháp và người Mỹ, Hồ Chí Minh đã đưa ra những phương kế diệu kỳ, đúc rút những kinh nghiệm của các dân tộc đi trước, như của người Nga hay của người ấn Độ, vì vậy mà hạn chế được rủi ro thiệt hại. Cũng theo tác giả Giôn Đu-cơ thì Hồ Chí Minh còn mang trong mình một dòng máu dân tộc với tư tưởng nhất quán, trước sau như một, đó là mục tiêu hoá hoà bình, dân tộc, không ỷ lại vào bên ngoài, tất cả đều phải tự lực cánh sinh, biết kết hợp sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, luôn luôn lựa chọn những giải pháp mềm dẻo, kiên trì… điều mà người Pháp và người Mỹ không làm được.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, một chiến sỹ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt nam, người kiến tạo ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước CHXHCN Việt Nam, một quốc gia có chủ quyền và hiện nay đang trên đà phát triển, nơi được coi là chế độ chính trị, an ninh ổn định nhất khu vực, bởi vậy ngày nay tên tuổi của Người luôn luôn gắn bó với những chiến công hiển hách của Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình trí thức nghèo gốc nông dân ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nǎm 1911, Người đã bôn ba ra nước ngoài tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và là người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam, một trong số những thành viên tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp nǎm 1920 và từ đó Người xuất hiện trên vũ đài chính trị thế giới với tư cách là một chiến sỹ cách mạng quốc tế.

Sau nhiều nǎm bôn ba ở nước ngoài, đầu thập niên 40, Chủ tịch Hồ Chí Minh quay trở về Việt nam để lãnh đạo cách mạng trong nước, đưa cuộc Cách mạng Tháng Tám nǎm 1945 tới thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam á và sau đó 9 nǎm lại lập thêm một chiến công hiển hách nữa, chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử (1954) chấn động địa cầu, lập lại hoà bình cho Việt Nam thông qua Hiệp định Giơ-ne-vơ. Và, những nǎm tiếp theo Người lại cùng Đảng CSVN lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”. Quyết tâm, mơ ước và sự tiên tri của Người đã trở thành hiện thực bằng Đại thắng Mùa xuân 1975 lịch sử, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội. Giôn Đu-cơ, tác giả cuốn Chủ tịch Hồ Chí Minh là một giáo sư lịch sử tiếng tǎm và uyên bác, ông đã bỏ ra rất nhiều thời gian nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như của đất nước Việt Nam. Ông sinh nǎm 1932 tại vùng Ê-van-xtôn, Bang I-li-noi, Hoa Kỳ, từng làm công tác ngoại giao, có mặt ở Sài gòn những nǎm 60 của thế kỷ trước, sau đó về làm giáo sư giảng dạy tại khoa lịch sử, Đại học Tổng hợp Pen-xi-lơ-va-nia. Để hoàn tất tác phẩm vĩ đại nói trên, Giôn Đu-cơ đã phải bỏ ra hàng chục nǎm trời sưu tầm, nghiên cứu tài liệu, tiếp xúc với những nhân chứng, nhất là những người đã từng sống gần gũi với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhờ vào những tài liệu bằng các ngôn ngữ khác nhau. Giôn Đu-cơ đã hoàn tất công trình, trong tác phẩm của mình, có lúc Giôn Đu-cơ đã trân trọng gọi Người bằng cái tên thời niên thiếu: Nguyễn Tất Thành và trích dẫn nhiều câu nói bất hủ của Người để minh hoạ. Chính vì vậy, tác phẩm rất sinh động, được đồng nghiệp, các nhà nghiên cứu lịch sử đánh giá là một tác phẩm lớn nói về một con người vĩ đại.

Báo Nhà báo và công luận, ngày 24/1/2003
cpv.org.vn

Thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chiến sĩ kiên cường và lỗi lạc của phong trào cách mạng thế giới, phong trào giải phóng dân tộc ở châu á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh.

Chủ tịch Xu-pha-nu-vông (Lào)

Thức tỉnh châu á là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ chúng ta. Ai sẽ là người khởi sự và cái biển người đó sẽ đi đến đâu? Vấn đề này đã không giải quyết được trong những năm hoàng kim của các đế quốc thực dân châu Âu. Thậm chí có thể có người nào đó đã suy nghĩ chín chắn về vấn đề này, nhưng còn ai sẽ đưa hàng triệu quần chúng không có học thức từ chỗ quen sống yên phận, hoặc chỉ phản đối một cách mù quáng đến chỗ giác ngộ về sự nghiệp giải phóng và giành được cuộc sống thật sự của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người sáng tạo ra sự nghiệp phi thường đó.

V. Đơ-tê-rê-ca-rốp (Bun-ga-ri)

Người đã tổ chức nên Đảng, giáo dục Đảng và rèn luyện Đảng trong cuộc đấu tranh. Chính nhờ vậy mà nhân dân Việt Nam đã có được đội tiên phong của mình, một Đảng sáng suốt biết đoàn kết tất cả các lực lượng tiến bộ của nhân dân trong một mặt trận rộng rãi để đưa họ đến thắng lợi.

Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô (Cu-ba)

Đồng chí Hồ Chí Minh đã để lại những công trạng bất hủ trong lịch sử đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam cũng như của các dân tộc bị áp bức ở châu á và trên thế giới.

Nô-xa-ca Xan-dô (Nhật Bản)

Người là một nhà tổ chức cách mạng, một nhà lãnh đạo chính trị, một người đã từng bôn ba ở nước ngoài, một nhà tổ chức quân sự, một nhà văn, một nhà thơ. Rất hiếm có những người tập trung ở mình nhiều đức tính nổi bật đến thế. Nếu như muốn tìm một sự tiêu biểu cho tất cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đó là đức tính vô cùng giản dị và sự khiêm tốn phi thường.

Tổng thống X. A-giên-đê (CH Chi-lê)

Đồng chí Hồ Chí Minh kết tinh trong con người mình những đức tính vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Có thể thấy được tầm to lớn của những đức tính ấy ở sự suy sụp của các đế quốc Pháp, Nhật và của đế quốc Mỹ hiện nay, những đế quốc bị tan tác trên con đường đấu tranh của nhân dân Việt Nam cho độc lập và chủ nghĩa xã hội.

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ Gớt Hôn

Đồng chí Hồ Chí Minh là tượng trưng cho chủ nghĩa anh hùng vô hạn làm cho Việt Nam trở thành tấm gương đẹp nhất của loài người. Thanh niên, công nhân, trí thức, những anh hùng đã chiến thắng tra tấn và tù đầy, tất cả đều công nhận tấm gương sáng ngời đó: Việt Nam.

R.A-ri-xmen-đi (U-ru-goay)

Đối với thanh niên và sinh viên, cuộc sống và tinh thần phục vụ nhân dân của Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi là tấm gương, là nguồn cổ vũ mãnh liệt trong những cuộc thử thách về chính trị đang chờ họ trong tương lai.

Giôn Gô-lan (Anh)

Chúng ta tưởng nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh không những vì Người đã có những cống hiến vĩ đại như trên đã nói, mà còn vì đạo đức tuyệt vời của Người, và vì ánh sáng mà Người đã tỏa ra khắp nơi. Vị nguyên thủ ấy, nhà lãnh đạo được mọi người tôn kính ấy, người đã làm cho bọn đế quốc phải kinh hồn khiếp vía ấy, chính là một người có đức tính dịu khiêm tốn, chỉ nghĩ đến người khác. Những đức tính tốt đẹp đó của Người đã biến thành một sức mạnh mà ngày nay đang được triển khai trên thế giới.

Gioóc-giơ Mác-se (Pháp)

Hồ Chí Minh, người đem lại ánh sáng. Đó là ý nghĩa về cái tên của Người, đó là vai trò lịch sử của Người đối với nhân dân Việt Nam. Cứ mỗi giai đoạn trong cuộc đời của Người lại tương ứng với một giai đoạn mới trong cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam mà đồng chí Hồ Chí Minh là người khởi xướng và là người tổ chức. Đồng thời, trong khi làm cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam tiến triển, đồng chí Hồ Chí Minh cũng góp phần vào việc xây dựng những mối quan hệ ngày càng chặt chẽ giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước khác trên thế giới, để cùng nhau tiến bước trên con đường tương lai, nghĩa là trên con đường của chủ nghĩa xã hội.

Sác-lơ Phuốc-ni-ô (Pháp)

Đồng chí Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương của một lãnh tụ cộng sản, của một nhà cách mạng vĩ đại… Tên tuổi và hình ảnh anh hùng của đồng chí Hồ Chí Minh đã đi vào từng căn nhà, bao trùm lên các đường phố, quảng trường, nhà máy, cánh đồng trên khắp đất nước chúng tôi, lên tất cả những nơi đang đấu tranh chống bất công và bóc lột, vì hòa bình và tự do.

Lui-gi Lông-gô (I-ta-li-a)

Bảo tàng Hồ Chí Minh được xây dựng theo nguyện vọng của nhân dân Việt Nam nhằm tỏ lòng biết ơn và đời đời ghi nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng với Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Khu di tích Phủ Chủ tịch, đây là nơi hội tụ tình cảm thiêng liêng của toàn dân ta và bạn bè quốc tế với Người. Trong những ngày tháng 5 lịch sử này, nhân kỷ niệm lần thứ 115 Ngày sinh của Bác (19/5/1890 – 19/5/2005), Hànộimới xin trích đăng những tình cảm chân thành và xúc động mà bạn bè khắp năm châu khi đến thăm, nghiên cứu và hiểu thêm về cuộc đời của Bác Hồ đã lưu lại tại bảo tàng.

“Chúng tôi có ấn tượng sâu sắc về chuyến tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh. Chúng tôi đã có được sự hiểu biết rõ ràng và sâu sắc về lịch sử và cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Chúng tôi, lớp người của thế hệ sau chắc chắn có thể học được những bài học quý báu từ sự cống hiến, lòng quyết tâm và tình yêu của Người dành cho dân tộc, đất nước và những con người đang đấu tranh vì tự do và hòa bình trên thế giới”.

Suthichai Youn- Tổng biên tập Tập đoàn Xuất bản quốc gia, Băng Cốc – Thái Lan

“Bác Hồ, Người là tập trung của những phẩm chất cao đẹp, đấu tranh gian khổ, cần cù, tiết kiệm của người Việt Nam, là tập trung của ý chí kiên cường, đoàn kết một lòng; Người đã đoàn kết và lãnh đạo nhân dân Việt Nam, trải qua cuộc đấu tranh gian khổ, trường kỳ, cuối cùng đã chiến thắng kẻ thù xâm lược; Người đã có cống hiến to lớn cho nhân dân Việt Nam, nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới”…

Tôn Hồng Tuyền (Trung Quốc)

“Lịch sử dân tộc không thể tách rời lịch sử của những người đại diện vĩ đại của dân tộc đó. Điều này càng được khẳng định khi tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh. Một dân tộc cần phải hiểu và trân trọng gìn giữ lịch sử của mình, tôn kính ký ức về những người đã cống hiến cả cuộc đời mình phụng sự Tổ quốc”.

Lô-xép (LB Nga)

“Nhân dân Bra-xin xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn nhân dân Việt Nam và người con vĩ đại của nhân dân Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang nêu gương cho nhân loại.

Chúng tôi tin tưởng rằng, trên cơ sở những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam sẽ giữ vững tinh thần cách mạng và quyết tâm trong xây dựng hòa bình, chủ nghĩa xã hội như đã từng giữ vững tinh thần cách mạng và quyết tâm trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong khi lãnh đạo nhân dân Việt Nam chiến thắng những kẻ áp bức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm thức dậy trong trái tim các dân tộc toàn thế giới những tình cảm kỳ vọng vào tự do và bác ái giữa các dân tộc. Sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong tâm trí chúng ta”.

An-đu Rơ-bê-lô – UVBCT BCHTƯ Đảng CS Bra-xin

“Tôi rất vui mừng được đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh và đây là cơ hội hiếm hoi để tôi học hỏi nhiều hơn nữa về Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của một dân tộc vĩ đại, một người có học thức và tầm nhìn rộng lớn. Chính điều này đã giúp Người lãnh đạo thắng lợi cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc Việt Nam vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Thời gian tham quan bảo tàng là vô cùng bổ ích và đã làm tăng thêm hiểu biết của tôi về lịch sử văn hóa và tư tưởng trên khắp thế giới thông qua lịch sử và cuộc đời của một lãnh tụ vĩ đại”.

Sahih Abdu Mashamoun – Cựu Đại sứ Xu-đăng tại Việt Nam

“Thật là một dịp tuyệt vời được tham quan và tìm hiểu về cuộc đời và thời đại của Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Tôi thật sự cảm nhận được không khí lịch sử và lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Tôi vô cùng xúc động trước những cuộc đấu tranh và sự gian khổ mà nhân dân Việt Nam đã trải qua trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do”.

Graham Kierath -(Ô-xtrây-li-a)

“Bảo tàng Hồ Chí Minh là một biểu tượng quan trọng thể hiện sự tưởng nhớ của nhân dân Việt Nam đối với người anh hùng dân tộc bất tử của mình, đồng thời cũng là một khu triển lãm về cuộc đời mẫu mực của Người.

Đây là một đóng góp quan trọng để bảo tồn lịch sử phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc trên thế giới và của phong trào cộng sản quốc tế, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những biểu tượng cao cả nhất”.

Lu-ít An-đa-ny-a (Pê-ru)

“Tôi thấy Hồ Chí Minh trước hết là một người yêu nước, một người giải phóng dân tộc Việt Nam, sau đó mới là một người cộng sản. Thấm nhuần tư tưởng của Lê-nin, Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời đấu tranh cho tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam bị áp bức và sự bình đẳng của giai cấp”.

Một GS đại học Y khoa ở Giơ-ne-vơ, Thụy Sĩ

Theo Hà Nội mới, ngày 19/5/2001