Tag Archive | Thơ

Vịnh Thái Hồ (5-1961)

VỊNH THÁI HỒ(29)

Tây Hồ (30) bất tỷ Thái Hồ mỹ,
Thái Hồ cánh tỷ Tây Hồ khoan.
Ngư chu lai khứ triêu dương noãn,
Tang đạo mãn điền, hoa mãn san.

Dịch nghĩa

VỊNH THÁI HỒ

Tây Hồ không đẹp bằng Thái Hồ,
Thái Hồ lại rộng hơn Tây Hồ.
Thuyền đánh cá đi lại trong nắng sớm ấm áp,
Ruộng thì đầy dâu, lúa, núi thì đầy hoa.

Dịch thơ

VỊNH THÁI HỒ

Tây Hồ khôn sánh Thái Hồ đẹp,
Thái Hồ rộng vượt Tây Hồ xa.
Thuyền cá đi về trong nắng sớm,
Ruộng đầy dâu lúa, núi đầy hoa.

—————————-

Sách Hồ Chí Minh: Tuyển tập vǎn học, Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 203-204.

(29) Thái Hồ: Hồ nước lớn thuộc địa phận hai tỉnh Giang Tô và Chiết Giang của Trung Quốc, còn có các tên gọi khác là Chấn Trạch, Cụ Khu, Lạp Trạch, Ngũ Hồ, là ranh giới hai nước Ngô, Việt thời Xuân Thu. Diện tích mặt hồ rất rộng, có thuyết nói đến ba vạn sáu ngàn mẫu. Trong lòng hồ có hơn mười hòn đảo lớn nhỏ, nổi tiếng nhất là ba hòn: Động Đình Đông, Động Đình Tây và Mã Tích (dấu chân ngựa). Phong cảnh tươi đẹp, sơn kỳ thuỷ tú, tục gọi là “động thiên phúc địa”. Nước hồ dâng lên về phía đông thành các con sông Lưu Hà, Hoàng Phố, Ngô Tùng đổ vào Trường Giang. Quanh hồ đất đai màu mỡ, là khu vực giàu có của hai tỉnh Chiết Giang, Giang Tô. Ngày 17-5-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi thuyền du ngoạn cảnh hồ và viết bài thơ này. Tr. 362.

(30) Tây Hồ: Trung Quốc có nhiều hồ mang tên này, như Tây Hồ ở huyện Mân Hầu tỉnh Phúc Kiến, Tây Hồ ở huyện Thiên Môn tỉnh Hồ Bắc, Tây Hồ ở huyện Huệ Dương tỉnh Quảng Đông, Tây Hồ ở phía tây nam thành phố Côn Minh tỉnh Vân Nam, Tây Hồ tức Côn Minh Hồ ở phía tây Bắc Kinh… đều là những thắng cảnh. Tây Hồ nhắc đến hai lần trong bài này là thắng cảnh nổi tiếng nhất trong số đó, ở phía tây thành phố Hàng Châu tỉnh Chiết Giang. Hồ này còn có nhiều tên khác: hồ Tiền Đường, hồ Minh Thánh, hồ Kim Ngưu. Nhà thơ lớn Tô Thức có câu thơ “Dục bả Tây Hồ tỷ Tây Tử” (Muốn ví Tây Hồ với nàng Tây Thi), nên cũng có tên gọi là Tây Tử Hồ. Ba phía có núi bao bọc, có hai đỉnh cao đối xứng sừng sững ở hai phương Bắc, Nam. Trong hồ có hai con đê, đê Tô và đê Bạch, chia mặt nước hồ thành hồ Trong, hồ Ngoài và hồ Sau. Bốn mùa hoa thắm cỏ tươi, nổi tiếng về mười cảnh đẹp trong hồ (Tây Hồ thập cảnh). Tr.362.

cpv.org.vn

Thơ chúc mừng nǎm mới (1-1-1966)

Mừng miền Nam rực rỡ chiến công,
Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Plâyme, Đà Nẵng…

Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng,
Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng.

Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng,
Tiền tuyến hậu phương, toàn dân cố gắng.

Thi đua sản xuất chiến đấu xung phong,
Chống Mỹ, cứu nước, ta nhất định thắng.

Xuân 1966
Hồ Chí Minh

————————

Báo Nhân dân, số 4289, ngày 1-1-1966.
cpv.org.vn

Thơ tặng 11 cô gái sông Hương (2-1968)

Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
Bác khen các cháu dân quân gái,
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương.

———————–

Sách Quân khu IV: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975),
Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr240.

1) Tháng 2-1968, được tin 11 nữ dân quân tự vệ Thành phố Huế đã lập nhiều thành tích trong chiến đấu giải phóng Thành phố, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen tặng bốn câu thơ trên.
cpv.org.vn

Nhị vật (2-1968)

(Nguyên chú: Đại phu đồng chí môn khuyến dụ “nhị vật”: vật hấp yên, vật ngật tửu. Tự kỷ đề thi vị chứng)

Vô yên, vô tửu quá tân xuân,
Dị sử thi nhân hoá tục nhân.
Mộng lý hấp yên, ngật mỹ tửu,
Tỉnh lai cánh phấn chấn tinh thần.

Dịch nghĩa:
HAI CHỚ

(Lời dẫn: Các đồng chí bác sĩ khuyên “hai chớ”: chớ hút thuốc lá, chớ uống rượu. Tự mình đề thơ làm chứng)

Đón mừng Xuân mới mà không có thuốc lá,
không có rượu,
Rất dễ khiến cho nhà thơ hoá ra người
phàm tục
Trong giấc mộng thấy mình được hút thuốc lá
và uống rượu ngon,
Lúc tỉnh ra thấy tinh thần thêm phấn chấn.

Dịch thơ
HAI CHỚ

Thuốc không, rượu chẳng có mừng xuân,
Dễ khiến thi nhân hoá tục nhân.
Trong mộng thuốc thơm và rượu ngọt,
Tỉnh ra thêm phấn chấn tinh thần1)

———————–

Viết bằng chữ Hán, tháng 2-1968.
Sách Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh,
Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1990, tr.81-82.

1) Phan Văn Các dịch
cpv.org.vn

Vô đề (3-1968)

Tam niên bất ngật tửu xuy yên,
Nhân sinh vô bệnh thị chân tiên.
Hỷ kiến Nam phương liên đại thắng,
Nhất niên tứ quý đổ xuân thiên.

Dịch nghĩa:
KHÔNG ĐỀ

Đã ba nǎm rồi không uống rượu, không hút thuốc lá,
Ở đời không ốm đau chính là tiên thật sự!
Mừng thấy miền Nam thắng lớn liên tiếp,
Một nǎm cả bốn mùa đều là Xuân.

Dịch thơ
KHÔNG ĐỀ

Thuốc kiêng, rượu cũ đã ba nǎm,
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần.
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một nǎm là cả bốn mùa Xuân (1)

————————

Viết bằng chữ Hán, tháng 3-1968.
Sách Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh,
Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1990, tr.79-80.

1) Khương Hữu Dụng dịch.
cpv.org.vn

Mậu Thân Xuân tiết (14-4-1968)

Tứ nguyệt bách hoa khai mãn viên
Hồng hồng tử tử hỗ tranh nghiên.
Bạch điểu tróc ngư hồ lý khứ,
Hoàng oanh phi thượng thiên.
Thiên thượng nhàn vân lai hựu khứ,
Mang bả Nam phương tiệp báo truyền.

Dịch nghĩa
Tết Mậu Thân

Tiết tháng tư trǎm loài hoa nở đầy vườn,
Đỏ đỏ, tía tía, hoa đua nhau phô vẻ tươi.
Có con chim trắng sà xuống hồ để bắt cá,
Chim hoàng oanh thì lại bay thẳng lên trời.
Trên trời, những áng mây thong thả bay đến
rồi bay đi,
Lòng rộn lên tin thắng trận ở miền Nam
báo về.

Dịch thơ
Tết Mậu Thân

Tháng tư hoa nở một vườn đầy,
Tía tía hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời.
Trên trời mây đến rồi đi,
Miền Nam thắng trận báo về tin vui1)
Viết bằng chữ Hán, ngày 14-4-1968.

—————————

Sách Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh,
Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1990, tr.83-84.

1) Phan Văn Cốc dịch
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thơ Tố Hữu

Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi (N.B.V)

Thưa anh, anh không dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào, chuẩn bị khởi nghĩa nǎm 1945 phải không ạ?

Nhà thơ Tố Hữu (T.H): (ngạc nhiên) – Sao anh biết?

N.B.V: – Đọc bài thơ “Hồ Chí Minh” anh viết ngày 16-8-1945, người nào hiểu thơ và tinh ý một chút đều đoán là anh chưa gặp Bác.

Cũng chỉ mới nêu lên những phẩm chất cách mạng ước lệ mà nhiều nhà cách mạng vô sản có thể có. Người đọc chưa thấy một cốt cách, một dáng hình, một phẩm chất Hồ Chí Minh cá thể.

T.H: (cười) Anh hiểu tôi và hiểu thơ tôi. Hiểu nhau, tâm đắc như thế, thật sướng.

Tôi không ra dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào vì thấy tình hình gấp gáp lắm rồi, phải về Huế thành lập ngay các ủy ban khởi nghĩa nên chưa được nhìn thấy Bác. Bài thơ “Hồ Chí Minh” tôi viết ngày 26-8-1945, ba ngày sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công ở Huế, tưởng tượng về lãnh tụ Nguyễn ái Quốc trong những nǎm đi hoạt động cách mạng.

N.B.V: Thế, anh được gặp Bác lần đầu vào nǎm nào?

T.H: Huế cướp chính quyền ngày 23-8-1945. Ngày 30-8-1945, xứ ủy Trung Kỳ họp, anh Nguyễn Chí Thanh được bầu làm Bí thư xứ ủy, tôi được bầu làm phó Bí thư. Tháng 10 nǎm ấy, tôi nhận được điện Bác gọi ra báo cáo cáo về tình hình ở miền trung đặc biệt là tình hình ở Huế. Tôi đến Bắc Bộ Phủ, anh Vũ Đình Huỳnh đón và dẫn lên phòng làm việc của Bác. Nǎm ấy tôi mới 25 tuổi. Cụ đang đọc báo, nghe anh Vũ Đình Huỳnh báo cáo. Cụ ngẩng lên nhìn, thoáng vẻ ngạc nhiên. Câu đầu tiên Cụ hỏi là:

– Chú ra đây bằng gì?

-Thưa Cụ, cháu đi ô-tô.

– Ô-tô của ai?

– Ô-tô của riêng chú à?

– Dạ không, của cơ quan ạ.

Bác nghiêm nghị:

– Của cơ quan chứ không phải các quan đâu nhé! Các chú là cán bộ cách mạng chứ không là quan cách mạng mà quan ông, quan bà, quan cô, quan cậu cứ nhảy cả lên ô-tô, đi việc riêng cũng bắt người ta lái!

N.B.V: Bị ngay “một đòn phủ đầu” thế, anh có ớn xương sống không?

T.H: Trong tưởng tượng của tôi trước đó, Bác phải đạo mạo oai vệ nghiêm trang chứ không thân mật, gần gũi như thế, không ngờ ông Cụ chơi chữ hóm hỉnh và sâu sắc như vậy. Cứ nói chơi chơi thế thôi nhưng là những lời dạy bảo thấm thía.

N.B.V: – Bác hỏi anh những việc gì?

T.H: – Anh biết đấy, Bác đã sống ở Huế, có rất nhiều kỷ niệm với Huế nhưng Bác chỉ hỏi tình hình chung. Bác hỏi Bảo Đại, Trần Trọng Kim và mấy ông trong nội các thân Nhật trước đây sống thế nào, các mệ trong hoàng tộc sống thế nào? Tôi báo cáo với Bác, sau khi Bảo Đại xin thoái vị, trao ấn kiếm cho phái đoàn Chính phủ lâm thời, nhà vua và hoàng tộc được đối xử tử tế; Bảo Đại ra sống ở An Định cung, còn các ông bộ trưởng nội các cũ thì chạy ra Hà Nội cả. Bác hỏi cướp chính quyền xong, có bắt bớ ai không? Tôi thưa với Bác chỉ bắt mấy tên mật tháp Pháp có tội ác. Bác hỏi làm sao phải xử bắn Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi? Chú có biết cụ Ngô Đình Khả, thượng thư Triều Nguyễn (thân sinh Ngô Đình Thúc, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm…) không ký vào bản thực dân Pháp kết tội và đòi xử tử vua Duy Tân không?

Tôi thưa với Bác khi ta giam Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi ở trại thì hiến binh Nhật đến trại giam đòi ta giao hai người ấy cho họ. Sợ lính Nhật đến cướp trại, những người phụ trách trại giam bàn nhau đem xử bắn. Nét mặt Bác lúc ấy rất trầm tư. Lát sau, Bác hỏi tôi việc chống giặc đói thế nào? Bác bảo trồng rau trồng khoai, sắn để chống đói là tốt nhưng không được phá vườn hoa để trồng rau, làm thế là cách mạng mang tiếng đấy. Mấy bãi cỏ trước Ngọ môn phải giữ gìn, bảo vệ, có trót xéo hỏng thì phải trồng lại. Bác hỏi: “Ai nấu cho các chú ǎn?” Dạ mấy ông đầu bếp trong tòa Khâm sứ ngày trước. Bác hỏi: Ngày ngày họ “dâng” lên “cao lương mĩ vị” gì? Tôi đỏ mặt:

– Thưa Cụ, chỉ có rau luộc, khoai sắn, tí cơm và chút mắm nêm thôi ạ.

Bác cười hỏi tiếp:

– Các chú có cho đầu bếp ǎn cùng không?

– Thưa Cụ, chúng cháu mời mãi, họ mới chịu.

– ǎn họ vẫn gọi là thời à?

– Vâng ạ.

Rồi Bác hỏi chuyện diệt dốt. Tôi vừa báo cáo đến phong trào bình dân học vụ thì Bác ngắt lời hỏi “cái gì, cái gì” sao không nói xóa nạn mù chữ thì ai cũng hiểu không?

Bác hỏi về không khí chuẩn bị chiến đấu ở Huế, về phong trào Nam tiến. Bác dặn đi dặn lại phải đoàn kết một lòng, phải gần dân, thương dân, nghe dân, đừng quan liêu, đừng hách dịch, tư túi.

N.B.V: Anh ngồi với Bác có lâu không?

T.H: Chưa đầy một tiếng đồng hồ.

N.B.V: Ấn tượng để lại trong anh là gì?

T.H: Bác giản dị, thân mật, không làm cho mình sợ. Bác thiết thực, cụ thể, sâu sắc và ân tình lắm.

N.B.V: Thế anh được triệu ra Trung ương nǎm nào?

T.H: Tháng 6-1946, anh Trường Chinh gọi tôi ra để chuẩn bị nhận nhiệm vụ phụ trách công tác tuyên truyền, tập hợp xây dựng lực lượng vǎn hóa vǎn nghệ. Biết mình thiếu hụt nhiều thứ về lý luận vǎn nghệ, tôi mò mẫm tìm chép những đoạn Dmiterov, Lenin, Staline nói về vǎn nghệ vô sản, chép thơ Maiakovski, Esenin, Simonov… để làm vốn.

Sau đó, tôi về làm Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa nǎm 1946. Tháng 7-1947, tôi được điều ra Việt Bắc. Mới cưới được ít lâu, tôi và Thanh, vợ tôi, cùng ra.

N.B.V: Bài thơ “Sáng tháng nǎm” anh viết trước Đại hội Đảng lần thứ 2 (tháng 1-1951) hay sau Đại hội?

T.H: Đại hội Đảng lần thứ 2 tôi được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Tháng 5-1951, Bác gọi tôi đến báo cáo về công tác tuyên truyền.

Nơi ở của Bác lúc ấy dĩ nhiên là bí mật. Tôi được dẫn đến đến một cái nhà sàn nhỏ trên ngọn đồi thấp um tùm cây xanh, dưới chân đồi, suối rì rào chảy. Thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng đã cho tôi câu thơ đầy hào khí:

Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn.

Bác ở trên sân, làm việc ở dưới. Một cái bàn gỗ, một cái nghế tựa, một cái máy chữ, một cái ghế để khách ngồi và đáng chú ý nhất là cái bồ nhỏ đan bằng nứa để đựng công vǎn, chỉ thị tài liệu. Bác nuôi mấy con chim bồ câu…

N.B.V: Anh viết:

Bác bảo đi là đi
Bác bảo thắng là thắng

Liệu có sa vào sự tôn sùng cá nhân không?

T.H: Tôi nghĩ là không. Mà đó là niềm tin của dân tộc. Anh biết Cách mạng Tháng Tám, đất nước ta như con thuyền nhỏ giữa sóng cồn bão táp. Không có bàn tay chèo lái vững vàng và khôn khéo của Bác thì sẽ thế nào. Nhân dân tin Bác nên tin Đảng, tin Chính phủ:

N.B.V: Có thể nói: “Sáng tháng nǎm” là bài thơ đầu tiên anh đã chạm được vào cốt cách, phong thái, tâm hồn của Bác và càng về sau càng phong phú hơn. Trong bài thơ dài Việt Bắc, anh đã khắc họa hình ảnh Bác rất đẹp.

Nhớ ông cụ mắt sáng ngời.
Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo
Nhớ chân Người bước lên đèo
Người đi rừng núi trông theo bóng Người.

T.H: ở Việt Bắc, đi công tác có khi Bác chống gậy đi bộ, có lúc Bác cưỡi ngựa. Tôi quan sát nhiều lần mới viết được đoạn thơ đó.

N.B.V: Ngày Bác mất (2-9-1969) anh đang công tác ở nước ngoài phải không ạ?

T.H: Không, tôi đau tim nằm điều trị ở Bệnh viện Việt – Xô. Bác mất lúc 9 giờ 47 phút ngày 2-9. Mười ba giờ, anh Xuân Thủy vào bệnh viện thǎm tôi. Vừa nhìn thấy tôi, anh khóc òa và báo tin dữ. Mặc trời mưa, tôi chạy về cǎn nhà sàn của Bác nên mới có câu thơ:

Chiều nay con chạy về thǎm Bác
Ướt lạnh vườn rau, mấy gốc dừa.

N.B.V: Bài “Bác ơi” anh viết có nhanh không?

T.H: Một buổi chiều, một buổi tối là xong. Tôi viết mà nước mắt cứ trào ra.

N.B.V: Những ngày đau thương đứt ruột ấy, có vẻ như công chúng vǎn học chưa thỏa mãn với bài “Bác ơi!” của anh. Vì yêu quý thơ anh mà họ muốn đòi hỏi ở anh nhiều hơn nữa. Có vẻ như họ tâm đắc với bài “Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương” của anh Việt Phương hơn. Có phải thế không?

T.H: Tôi cũng đọc được ý nghĩ ấy. Bài thơ của anh Việt Phương hấp dẫn người đọc vì giọng thơ mới lạ, vì những chi tiết đời thường của Bác mà chỉ những người ở gần Bác mới biết. Đó là một bài thơ cảm động.

N.B.V: Thơ như hoa. Mỗi loài hoa có một vẻ đẹp riêng, không nên so sánh cho hoa này đẹp hơn hoa kia nhưng ở thời điểm đó, người đọc đòi hỏi ở anh như vậy là có lý.

T.H: Chính vì vậy mà ít lâu sau, tôi thai nghén bài thơ dài “Theo chân Bác”. Tháng 11 nǎm ấy, tôi ốm, vào Bệnh viện Việt – Xô. Các bác sĩ hội chẩn xong bảo tôi bị bệnh máu trắng và chuyển tôi sang Liên Xô chữa. Các giáo sư, bác sĩ Nga cũng kết luận như thế. Một hôm tôi hỏi thật ông giáo sư viện sĩ: “Đồng chí có thể nói thật cho tôi biết tôi còn sống được bao lâu nữa?”. “Giáo sư không nói cụ thể (dại gì mà nói cụ thể!) mà chỉ bảo tôi “Có thể dùng nghị lực và lòng ham sống mà chế ngự bệnh tật”. Tôi nghĩ: chỉ cần đủ thời gian để viết bài thơ dài này…

N.B.V: Rồi anh “theo chân Bác” luôn?

T.H: (cười): Ngoài cái ý Bác là người dẫn đường cách mạng cho mình đi theo cũng có ẩn ý mà anh đã nhận ra khá tinh tế.

N.B.V: Anh viết “Theo chân Bác” ở bệnh viện Nga?

T.H: Tôi vào một cái phòng tương tự như cái kho của ta, khóa cửa lại viết. Có những khổ thơ, nước mắt trào ra ướt đẫm cả giấy:

Thôi đập rồi chǎng? một trái tim
Đỏ như sao Hỏa, sáng sao Kim
Muốn òa nức nở bên em nhỏ
Nước mắt ta đành nuốt, lặng im.

N.B.V: Viết xong, đọc lại anh có bằng lòng không?

T.H: – Tôi rất hài lòng là các ý tưởng đều đạt được. Tôi muốn nói bằng thơ hành trình cách mạng của Bác trong hành trình cách mạng của Đảng, của đất nước ta, nói bằng thơ phẩm chất kiên cường của Bác, lòng thương người và bao dung của Bác, cốt cách Việt Nam của Bác, so sánh Bác với những nhà cách mạng lớn ở các nước khác như Gandhi của ấn Độ, Tôn Dật Tiên của Trung Hoa…

N.B.V: Hơn 500 câu thơ xúc động ấy anh viết trong bao lâu?

T.H: Gần một tháng. Chính xác hơn là 26 ngày. Tôi viết xong ngày 2-1-1970.

N.B.V: Nǎm 1970 ấy tôi đang dạy ở trường cấp 3 bổ túc vǎn hóa Chu Phan ở Vĩnh Phú, kề Hà Nội. Một bạn thơ ở Hà Nội gửi cho tôi bản đánh máy “Theo chân Bác”. Giờ nghỉ giữa hai tiết học, học sinh các lớp vây lấy thầy, đòi thầy đọc và bình. Tôi vừa đọc vừa khóc. Nhiều em học sinh cũng khóc theo:

Ai nói giùm ta hết tấm lòng
Bác Hồ thương nhớ mỗi dòng sông
Mỗi hòn núi ở miền nam đó
Như thịt da ta nhỏ máu hồng

Quả thật những giây phút ấy, tôi thật thấm thía điều này:
“Nhà thơ là của nhân dân”.

T.H: Mấy tháng sau, tôi khỏi bệnh về nước. Các bác sĩ Việt Nam và Liên Xô chẩn đoán sai hay tôi được Bác phù hộ mà khỏi bệnh?

N.B.V: Ai là người được may mắn đọc “Theo chân Bác” đầu tiên?

T.H: Luật sư Phan Anh đi công tác ở Nga, đến bệnh viện thǎm tôi và tôi đọc cho anh ấy nghe. Phan Anh rất thích và nói đùa rằng viết xong bản tráng ca trữ tình này thì hồng cầu trong cơ thể tôi tǎng và bạch cầu giảm.

N.B.V: Gần Bác, anh có thấy lúc nào Bác buồn không?

T.H: Có lần tôi hỏi Bác thì Bác bảo con người ta có lúc vui lúc buồn, Bác chỉ vì miền nam chưa được giải phóng và phe xã hội chủ nghĩa có những bất đồng về tư tưởng nên trong bài thơ “Cánh chim không mỏi”, tôi có viết:

“Bác về tóc có bạc thêm
Nǎm canh bốn biển có đêm nghĩ nhiều”.

Ngoài 5 bài thơ trực tiếp viết về Bác là Hồ Chí Minh, Sáng tháng nǎm, Cánh chim không mỏi, Bác ơi, Theo chân Bác, trong rất nhiều bài thơ khác của ông, bao giờ hình ảnh của Bác Hồ cũng song hành với nhân dân, với dân tộc.

Báo Giáo dục và Thời đại, tháng 5, 2000
cpv.org.vn

Lịch sử nước ta

Việt Minh tuyên truyền Bộ
xuất bản, tháng 2-1942.

Theo bản in của
Việt Minh tuyên truyền Bộ.

LỊCH SỬ NƯỚC TA

Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn ngàn năm,
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.
Hồng Bàng là tổ nước ta.
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
Thiếu niên ta rất vẻ vang,
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
Tuổi tuy chưa đến chín mười,
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.
An Dương Vương thế Hùng Vương,
Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.
Nước Tàu cậy thế đông người,
Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam,
Quân Tàu nhiều kẻ tham lam.
Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?
Hai Bà Trưng có đại tài,
Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,
Ra tay khôi phục giang san,
Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.
Tỉnh Thanh Hoá có một bà,
Tên là Triệu ẩu tuổi vừa đôi mươi,

Tài năng dũng cảm hơn người,
Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương.
Phụ nữ ta chẳng tầm thường,
Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời,
Kể gần sáu trăm năm giời,
Ta không đoàn kết bị người tính thôn1*.
Anh hùng thay ông Lý Bôn,
Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người,
Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài.
Lập nên Triều Lý sáu mươi năm liền.
Vì Lý Phật Tử ngu hèn,
Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.
Thương dân cực khổ xót xa,
Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu,
Vì dân đoàn kết chưa sâu,
Cho nên thất bại trước sau mấy lần.
Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,
Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.
Đến hồi Thập nhị sứ quân2*
Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.
Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,
Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.
Ra tài kiến thiết kinh dinh,
Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.
Lê Đại Hành nối lên ngôi.
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.
Vì con bạo ngược hoành hành,
Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.
Công Uẩn là kẻ phi thường,
Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.
Mở mang văn hoá nước nhà,
Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.
Lý Thường Kiệt là hiền thần,
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.
Tuổi già phỉ chí công danh,
Mà lòng yêu nước trung thành không phai.
Họ Lý truyền được chín đời,
Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.
Nhà Trần thống trị giang san,
Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài,
Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:
Đánh đâu được đấy, dông dài á, Âu,
Tung hoành chiếm nửa Âu châu,
Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la,
Lăm le muốn chiếm nước ta,
Năm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ,
Hải quân theo bể kéo đi,
Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nen1)
Dân ta nào có chịu hèn,
Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu.
Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,
Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang,
Mênh mông một giải Bạch Đằng,
Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,
Hai lần đại phá Nguyên binh,
Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.
Quốc Toản là trẻ có tài,
Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.
Thật là một đấng anh hùng,
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.
Đời Trần văn giỏi võ nhiều,
Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh.
Mười hai đời được hiển vinh,
Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.
Cha con nhà Hồ Quý Ly,
Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.
Tình hình trong nước không yên,
Tàu qua xâm chiếm giữ quyền mấy lâu,
Bao nhiêu của cải trân châu,
Chúng vơ vét chở về Tàu sạch trơn.
Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,
Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.
Mấy phen sông Nhị núi Lam,
Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.
Kìa Tuý Động nọ Chi Lăng,
Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.
Mười năm sự nghiệp hoàn thành,
Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.
Vì dân hăng hái kết đoàn,

Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.
Vua hiền có Lê Thánh Tôn,
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.
Trăm năm truyền đến cung hoàng,
Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi
Bấy giờ trong nước lôi thôi,
Lê Nam, Mạc Bắc rạch đôi san hà,
Bảy mươi năm nạn can qua1*
Cuối đời mười sáu2* Mạc đà suy vi.
Từ đời mười sáu2* trở đi,
Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu3*
Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,
Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.
Dân gian có kẻ anh hùng,
Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,
Đóng đô ở đất Quy Nhơn,
Đánh tan Trịnh, Nguyễn, cứu dân đảo huyền4*
Nhà Lê cũng bị mất quyền,
Ba trăm sáu chục năm truyền vị vương.
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
Cho nên Tàu dẫu làm hung,

Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.
Tướng Tây Sơn có một bà,
Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân,
Tay bà thống đốc ba quân,
Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.
Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.
Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si.
Từ năm Tân Hợi trở đi,
Tây đà gây chuyện thị phi1* với mình.
Vậy mà vua chúa triều đình,
Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.
Nay ta nước mất nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.
Năm Tự Đức thập nhất niên1),
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.
Hăm lăm năm sau trận này,
Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan,
Ngàn năm gấm vóc giang san,
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!
Tội kia càng đắp càng đầy,
Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Nước ta nhiều kẻ tôi trung,
Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.
Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,
Cùng thành còn mất làm gương để đời.
Nước ta bị Pháp cướp rồi,
Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;
Trung Kỳ đảng Phan Đình Phùng
Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương.
Mấy năm ra sức Cần Vương1*,
Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên,
Giang san độc lập một miền,
Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.
Anh em khố đỏ, khố xanh,
Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,
Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa,
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.
Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu.
Nam Kỳ im lặng đã lâu,
Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây.
Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!
Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn.
Xét trong lịch sử Việt Nam,
Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.
Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,
Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.
Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,
Vì ta chỉ biết lo yên một mình.
Để người đè nén, xem khinh,
Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!
Bây giờ Pháp mất nước rồi,
Không đủ sức, không đủ người trị ta.
Giặc Nhật Bản thì mới qua,
Cái nền thống trị chưa ra mối mành.
Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,
Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà.
ấy là nhịp tốt cho ta,
Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông.
Người chúng ít, người mình đông
Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.
Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!
Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.
Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.
Người giúp sức, kẻ giúp tiền,
Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.
Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành

Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng
Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!

NHỮNG NĂM QUAN TRỌNG

Trước Tây lịch
Năm
2879 Hồng Bàng
111 Tàu lấy nước ra lần đầu
Sau Tây lịch
40 Hai Bà Trưng đánh Tàu
248 Bà Triệu ẩu khởi nghĩa
544 Vua Lý đánh Tàu
603 Tàu lấy nước ta.
939 Vua Ngô khởi nghĩa
968 Đời vua Đinh (12 năm)
981 Đời vua Tiền Lê (29 năm)
1010 Đời vua Hậu Lý (215 năm)
1073 Lý Thường Kiệt đánh Tàu
1225 Đời vua Trần (175 năm)
1283 Trần Hưng Đạo đánh Tàu
1407 Tàu lấy nước ta
1427 Vua Lê khởi nghĩa
1543 Đời vua Hậu Lê (360 năm)
1545 Vua Lê Chúa Trịnh
1771 Đời vua Tây Sơn (24 năm)
1789 Vua Nguyễn Huệ đánh Tàu
1794 Gia Long thông với Tây
1847 Tây bắt đầu đánh nước ta
1862 Vua nhà Nguyễn bắt đầu hàng Tây
1889 Ông Đề Thám khởi nghĩa
1893 Ông Phan Đình Phùng khởi nghĩa
1916 Trung Kỳ khởi nghĩa
1917 Thái Nguyên, Sầm Nưa khởi nghĩa
1930 Yên Bái, Nghệ An khởi nghĩa
1940 Bắc Sơn và Đô Lương khởi nghĩa
1941 Nam Kỳ khởi nghĩa
1945 Việt Nam độc lập

——————————–

Tài liệu gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

cpv.org.vn

Người trồng cây vĩ đại

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Nếu không phải đi tìm Độc Lập, Tự Do cho Tổ quốc
Có lẽ, Bác của chúng ta muốn làm một người trồng vườn
Hãy nhìn những bức ảnh Người trồng cây
Ta thấy những nụ cười đẹp nhất
Và hãy vào thăm Ngôi nhà của Bác
Chung quanh là cả một rừng cây
Thiên nhiên tươi xanh như cuộc đời của Bác
Bảy mươi chín mùa xuân chẳng bận bụi trần!

Trên đường đi tìm hạnh phúc cho nhân dân
Người đã ươm trồng bao thế hệ
Để mãi mãi rừng cây ngăn sóng bể
Mỗi cây xanh thành cọc nhọn Bạch Đằng!

Bùi Công Bính

baonamdinh.com.vn

Lời Người dạy ta

Trong bao câu chữ của đời
Hiếu Trung hai chữ lời Người dạy ta
Trung là trung với nước nhà
Hiếu là hiếu với dân ta muôn đời

Trong bao câu chữ của đời
Cần, Kiệm, Liêm, Chính lời Người dạy ta
Cần, Kiệm xây dựng nước nhà
Liêm, Chính là để chúng ta thành người

Mô tả ảnh.

Trong bao câu chữ của đời
Hai chữ Đoàn Kết lời Người dạy ta
Kết Đoàn là một bài ca
Làm nên sức mạnh dân ta bao đời

Trong bao câu chữ của đời
Hai chữ Nhân ái lời Người dạy ta
Yêu người, yêu nước, yêu nhà
Nhân dân là gốc, bài ca muôn đời./.

Thái Ninh

baonamdinh.com.vn

Bác Hồ tặng thơ cụ Võ Liêm Sơn

SGTT.VN – Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà cách mạng chuyên nghiệp, nhưng cũng là một nhà văn hoá, một nhà văn, nhà thơ đúng nghĩa, mặc dù Người có nói: “Lão phu nguyên bất ái ngâm thi. Nhân vị tù trung vô sở vi” (Ngâm thơ ta vốn không ham – Nhưng mà trong ngục biết làm chi đây… – Nhật ký trong tù).

14 tháng bị giải khắp các nhà tù ở Quảng Tây (Trung Quốc) thời gian 1942 – 1943 dường như đã luyện thêm ngòi bút của một nhà nho am hiểu Hán học, và các thể thức thơ cổ. Vượt lên trên hết là thái độ ung dung tự tại của một chiến sĩ khát vọng tự do và tấm lòng trắc ẩn với người lao khổ. Mạch thơ ấy được tiếp nối trong những năm đầu của cuộc kháng chiến ở Việt Bắc, đặc biệt là năm 1948, Bác có chùm thơ chữ Hán như Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng), Tặng Bùi Công (tặng cụ Bùi Bằng Đoàn), Thu dạ (Đêm thu), Báo tiệp (Tin thắng trận). Ý thơ phát triển: ung dung, vững tin ở kháng chiến, trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi.

Nhà chí sĩ cách mạng Võ Liêm Sơn (1888-1949)

Bài Tặng Võ Công (tặng cụ Võ Liêm Sơn) theo thể năm chữ, tám câu là thi phẩm hoà quyện giữa ý và tình, giữa cách mạng và nhân dân, giữa lý tưởng và hiện thực, không còn cách bức. Nguyên văn: Võ Liêm Sơn lão tiên sinh nhã chính. Thiên lý công tầm ngã / Bách cảm nhất ngôn trung / Sự dân nguyện tận hiếu / Sự quốc nguyện tận trung / Công lai ngã hân hỉ / Công khứ ngã tư công / Tăng công chỉ nhất cú: /Kháng chiến tất thành công.

Bản dịch thơ:
Ngàn năm cụ tìm đến
Một lời trăm cảm thông
Thờ dân trọn đạo hiếu
Thờ nước vẹn lòng trung
Cụ đến tôi mừng rỡ
Cụ đi tôi nhớ nhung
Một câu xin tặng cụ:
Kháng chiến ắt thành công

(Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXB Chính Trị Quốc Gia, 1995)

Bác viết tặng cụ Võ, nhưng cũng là viết cho mình, chăm chút đạo hiếu trung thờ dân, thờ nước. Thật quý hoá biết bao giữa phong cảnh thiên nhiên của thủ đô kháng chiến gió ngàn, hai mái đầu điểm bạc có dịp hàn huyên trò chuyện. Cụ Võ là bạn học ở Huế với Bác những năm 1908 – 1910. Nguyễn Tất Thành quê Nam Đàn (Nghệ An), Võ Liêm Sơn quê Can Lộc (Hà Tĩnh). Vốn là người ngay thẳng, bộc trực, thông minh, có bằng thành chung và cử nhân (Hán học) nhưng đường hoạn lộ của cụ Võ trúc trắc. Bị huyền chức tri huyện Duy Xuyên (Quảng Nam) do chống lại tên thương chánh người Pháp và Tổng đốc Quảng Nam lúc đó bắt cụ phải đàn áp nhân dân trong các vụ sưu thuế. Từ đấy cụ chuyển sang giáo dục, viết văn, làm thơ. Những năm dạy ở trường Quốc học Huế, cụ Võ được nhiều học trò yêu mến, sau này là các nhà cách mạng và văn hoá nổi tiếng như Trần Phú, Hà Huy Tập, Võ Nguyên Giáp, Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Khoa Văn… Cụ Võ có thời gian gần gũi và giúp đỡ Phan Bội Châu khi nhà chí sĩ thúc thủ an trí ở Huế. Cụ Võ cùng các học trò ở Huế tổ chức truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Lòng yêu nước ở cụ Võ được thử thách khi bị Pháp bắt tù, và cuốn sách Hài văn – tiểu phẩm viết theo lối hài hước, châm biếm bị cấm (1928). Từ đấy, nhà nho, người thầy giáo nuôi chí phản kháng chế độ thực dân, phong kiến, để rồi sau năm 1945 – cách mạng thành công, cụ Võ tích cực tham gia chính quyền mới và được tín nhiệm bầu làm chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh Hà Tĩnh và liên khu 4.

Năm 1948, Võ Liêm Sơn được đi dự hội nghị Kháng chiến toàn quốc và hội nghị Văn hoá toàn quốc ở Việt Bắc. Đó cũng là cơ duyên cụ Võ được gặp Bác Hồ. Lần ấy Bác đã mời cụ Võ về ở với mình bảy ngày. Khi nhận được thơ tặng của bạn cũ, cụ Võ Liêm Sơn có thơ hoạ lại, cũng theo lối thể thơ năm chữ, tám câu. Nguyên văn: Kính tặng Hồ Chủ tịch. Phùng công hỉ công kiện / Chiến sự bách mang trung / Đối thoại duy dân quốc / Tương kỳ tại hiếu trung / Hùng tài nguyên bất thế / Đại đạo bản vi công / Tương kiến trùng lai nhật / Kháng chiến dĩ thành công.

Nguyên bản Hán tự của bài thơ Tặng Võ Công (trái) và bài cụ Võ hoạ lại

Tạm dịch thơ:

Gặp cụ mừng cụ khoẻ
Việc quân bận vô cùng
Chuyện trò chỉ dân nước
Cùng tỏ một hiếu trung
Tài hùng đâu dễ có
Đạo lớn cốt vì chung
Ngày ta gặp nhau lại
Kháng chiến đã thành công

Cả hai bài thơ tặng và hoạ lại đều chung một sợi chỉ đỏ: tin ở thành công của kháng chiến.

Khi chia tay người bạn cũ để về lại khu 4, Hà Tĩnh, cụ Võ được Bác Hồ tặng chiếc gậy có khắc dòng chữ: “Tặng Võ Liêm Sơn tiên sinh”.

Tiếc rằng không được nhìn thấy ngày chiến thắng năm 1954, do bị bệnh, cụ qua đời năm 1949 tại quê nhà. Nhớ đến người bạn cũ, hễ biết có cán bộ đi qua Hà Tĩnh, bao giờ Bác cũng trân trọng nhờ đến thắp hương trước mộ cụ Võ tỏ mối thâm tình đồng chí đồng hương.

TRẦN ĐÌNH VIỆT

sgtt.vn

Thơ chúc Tết của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta, Người còn là một nhà thơ lớn. Trong suốt cuộc đời cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh làm rất nhiều thơ. Bên cạnh tập Nhật ký trong tù và nhiều bài thơ khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người còn để lại cho chúng ta những bài thơ chúc Tết với biết bao tình cảm ấm áp thương yêu.

Đã từ lâu, lặng đi trong thời khắc giao thừa để lắng nghe thơ chúc tết của Bác Hồ đã trở thành tục lệ của đồng bào ta. Từ các cụ già râu tóc bạc phơ đến bầy em nhỏ, tất cả đều cảm thấy lòng lắng dịu khi nghe giọng nói ấm áp, thiết tha của Người đọc thơ chúc tết. Và cả khi Người không còn nữa, Tết đến mọi nhà vẫn ước mong:

Bác ơi!
Tết đến. Giao thừa đó
Vẫn đón nghe thơ Bác mọi lần
Ríu rít đàn em vui pháo nổ
Tưởng nghìn tay Bác vỗ sang xuân …

(Tố Hữu)

Thơ chúc Tết của Bác Hồ gửi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài thường khen ngợi thành tích của một nǎm công tác và đề ra nhiệm vụ, phương hướng cho nǎm mới, động viên mọi người phấn khởi hǎng hái tiến lên hoàn thành nhiệm vụ mới.

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tập hợp 22 bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ nǎm 1942 – 1969 trong tập Hồ Chí Minh “Thơ chúc Tết” do Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh biên soạn.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN NHÂM NGỌ – 1942

Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi,
Nǎm cũ qua rồi, chúc nǎm mới:
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong !
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi !
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau !
Chúc Việt-minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong nǎm này
Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!
Nǎm này là nǎm Tết vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN BÍNH TUẤT – 1946

Hỡi các chiến sĩ yêu quí,
Bao giờ kháng chiến thành công,
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.
Tết này ta tạm xa nhau,
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy.

Chúc đồng bào:

Trong nǎm Bính Tuất mới,
Muôn việc đều tiến tới.
Kiến quốc mau thành công,
Kháng chiến mau thắng lợi.
Việt Nam độc lập muôn nǎm!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN ĐINH HỢI – 1947

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định thành công!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN MẬU TÝ – 1948

Nǎm Hợi đã đi qua,
Nǎm Tý vừa bước tới.
Gửi lời chúc đồng bào,
Kháng chiến được thắng lợi;
Toàn dân đại đoàn kết,
Cả nước dốc một lòng,
Thống nhất chắc chắn được,
Độc lập quyết thành công.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN KỶ SỬU – 1949

Kháng chiến lại thêm một nǎm mới,
Thi đua ái quốc thêm tiến tới.
Động viên lực lượng và tinh thần,
Kháng chiến càng thêm mau thắng lợi.

Người người thi đua.
Ngành ngành thi đua.
Ngày ngày thi đua.
Ta nhất định thắng.
Địch nhất định thua

THƠ CHÚC TẾT XUÂN CANH DẦN – 1950

Kính chúc đồng bào nǎm mới,
Mọi người càng thêm phấn khởi,
Toàn dân xung phong thi đua,
Đẩy mạnh cuộc chuẩn bị tới,
Chuyển mau sang tổng phản công,
Kháng chiến nhất định thắng lợi.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN TÂN MÃO – 1951

Xuân này kháng chiến đã nǎm xuân,
Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công.
Toàn hǎng hái một lòng
Thi đua chuẩn bị, tổng phản công kịp thời.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN NHÂM THÌN – 1952

Xuân này, xuân nǎm Thìn
Kháng chiến vừa sáu nǎm
Trường kỳ và gian khổ
Chắc thắng trǎm phần trǎm.

Chiến sĩ thi giết giặc
Đồng bào thi tǎng gia
Nǎm mới thi đua mới
Thắng lợi ắt về ta.

Mấy câu thành thật nôm na,
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN QUÝ TỴ – 1953

Mừng nǎm Thìn vừa qua,
Mừng xuân Tỵ đã tới.
Mừng phát động nông dân,
Mừng hậu phương phấn khởi.
Mừng tiền tuyến toàn quân
Thi đua chiến thắng mới.
Mừng toàn dân kết đoàn,
Mừng kháng chiến thắng lợi.
Mừng nǎm mới, nhiệm vụ mới,
Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,
Mừng phe dân chủ hoà bình thế giới.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN GIÁP NGỌ – 1954

Nǎm mới, quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành:
– Đẩy mạnh kháng chiến để giành độc lập tự do
– Cải cách ruộng đất là công việc rất to
Dần dần làm cho người cày có ruộng khỏi lo nghèo nàn.
Quân và dân ta nhất trí kết đoàn,
Kháng chiến, kiến quốc nhất định hoàn toàn thành công.
Hoà bình dân chủ thế giới khắp Nam, Bắc, Tây, Đông.
Nǎm mới, thắng lợi càng mới, thành công càng nhiều.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN BÍNH THÂN – 1956

Thân ái mấy lời chúc Tết:
Toàn dân đoàn kết một lòng,
Miền Bắc thi đua xây dựng,
Miền Nam giữ vững thành đồng,
Quyết chí, bền gan phấn đấu,
Hoà bình, thống nhất thành công.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN KỶ HỢI – 1959

Chúc mừng đồng bào nǎm mới,
Đoàn kết thi đua tiến tới,
Hoàn thành kế hoạch ba nǎm,
Thống nhất nước nhà thắng lợi.

THƠ CHÚCTẾT XUÂN CANH TÝ – 1960

Mừng Nhà nước ta 15 xuân xanh!
Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ!
Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua,
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Chúc đồng báo ta bền bỉ đấu tranh,
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
Cả nước một lòng, hǎng hái tiến lên,
Thống nhất nước nhà, Bắc Nam vui vẻ!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN TÂN SỬU – 1961

Mừng nǎm mới, mừng xuân mới,
Mừng Việt Nam, mừng thế giới!
Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh,
Kế hoạch 5 nǎm thêm phấn khởi.
Chúc miền Bắc hǎng hái thi đua;
Chúc miền Nam đoàn kết tiến tới!
Chúc hoà bình thống nhất thành công!
Chúc chủ nghĩa xã hội thắng lợi!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN NHÂM DẦN – 1962

Nǎm Dần, mừng Xuân thế giới,
Cả nǎm châu phấp phới cờ hồng.
Chúc miền Bắc thi đua phấn khởi,
Bốn mùa hoa Duyên-hải, Đại-phong.
Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới,
Sức triệu người hơn sóng biển Đông.
Chủ nghĩa xã hội càng thắng lợi,
Hoà bình thống nhất quyết thành công.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN QUÝ MÃO – 1963

Mừng nǎm mới,
Cố gắng mới,
Tiến bộ mới,

Chúc Quý Mão là nǎm nhiều thắng lợi!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN GIÁP THÌN – 1964

Bắc Nam như cội với cành,
Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng.
Rồi đây thống nhất thành công,
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà.
Mấy lời thân ái nôm na,
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN ẤT TỴ – 1965

Chào mừng Ất Tỵ xuân nǎm mới,
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi,
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi,
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới,
Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi,
Đấu tranh anh dũng, cả nước một lòng,
Chủ nghĩa xã hội ngày càng thắng lợi!
Hoà bình thống nhất ắt hẳn thành công!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN BÍNH NGỌ – 1966

Mừng miền Nam rực rỡ chiến công,
Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Plei Me, Đà Nẵng.
Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng,
Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng.
Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng,
Tiền tuyến hậu phương, toàn dân cố gắng.
Thi đua sản xuất chiến đấu xung phong,
Chống Mỹ, cứu nước, ta nhất định thắng.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN ĐINH MÙI – 1967

Xuân về xin có một bài ca,
Gửi chúc đồng bào cả nước ta:
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi,
Tin mừng thắng trận nở như hoa!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN MẬU THÂN – 1968

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà,
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN KỶ DẬU – 1969

Nǎm qua thắng lợi vẻ vang,
Nǎm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào.
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,
Bắc-Nam sum họp, xuân nào vui hơn!

Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh