Tag Archive | Thời sự

Bài nói với quân đội về tình hình và nhiệm vụ trước mắt tại Hội nghị cao cấp toàn quân (20-3-1958)

Bác thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ chúc các chú: nǎm mới, thi đua mới, thắng lợi mới.

Qua ba nǎm xây dựng trong hoà bình, quân đội ta đã thu được kết quả khá, đặt được cơ sở để tiến lên nữa. Đặc biệt là sau Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (17) , quân đội ta chỉnh huấn chính trị tốt, làm cho toàn quân nhất trí với Nghị quyết của Trung ương Đảng và những nhận định của Tổng quân uỷ, do đó mà nâng cao thêm ý thức tổ chức và kỷ luật, nội bộ đoàn kết và phấn khởi. Do sự tiến bộ ấy mà các cuộc đại hội đại biểu Đảng trong quân đội ở cấp tiểu đoàn và trung đoàn đều có kết quả khá, công tác huấn luyện quân sự cũng có thành tích, công tác phục viên và thí nghiệm chế độ nghĩa vụ quân sự cũng làm khá, công tác xây dựng doanh trại cũng bắt đầu làm được. Bác thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi toàn thể quân đội ta, khen ngợi tất cả đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động trong quân đội.

Bây giờ tình hình mới và nhiệm vụ trước mắt của quân đội ta như thế nào? Nói tóm tắt thì trên thế giới, lực lượng hoà bình và xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh và có khả nǎng ngǎn được chiến tranh; nói chung tình hình hoà hoãn hơn trước. Tuy vậy, bọn đế quốc vẫn ra sức chuẩn bị chiến tranh, vì vậy chúng ta phải luôn luôn cảnh giác.

Ở trong nước, trong khi ta tiếp tục đấu tranh để thống nhất nước nhà thì miền Bắc đã cǎn bản hoàn thành cải cách ruộng đất và cǎn bản hoàn thành khôi phục kinh tế. Nǎm nay, chúng ta bắt đầu phát triển kinh tế có kế hoạch dài hạn là 3 nǎm. Đó là một thắng lợi và là một bước mới trong thời kỳ quá độ tiến dần lên chủ nghĩa xã hội.

Trước tình hình như thế, nhiệm vụ trước mắt của quân đội ta là gì?

– Một là, chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Nhiệm vụ đó bao gồm việc xây dựng quân đội thường trực và xây dựng lực lượng hậu bị.

– Hai là, tích cực tham gia sản xuất để góp phần xây dựng kinh tế, xây dựng và củng cố hậu phương.

Hai nhiệm vụ ấy đều rất quan trọng, nhất trí và kết hợp chặt chẽ với nhau vì đều nhằm làm cho quân đội ta ngày càng mạnh và miền Bắc ngày càng vững chắc. Đảng và Chính phủ giao cho quân đội hai nhiệm vụ đó và quân đội ta phải cố gắng hoàn thành cho thắng lợi.

Để thực hiện tốt những nhiệm vụ đó thì phải làm những gì?

– Phải tǎng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội.

– Phải tǎng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân,

– Phải tǎng cường huấn luyện quân sự và kỹ thuật,

– Phải chấp hành nghiêm chỉnh chế độ và kỷ luật,

– Phải hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất.

Để quân đội ta hoàn thành được nhiệm vụ đó thì cán bộ phải nâng cao quyết tâm, đồng thời phải cẩn thận. Quyết tâm và cẩn thận phải đi đôi với nhau chứ không phải quyết tâm là mạo hiểm. Phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của toàn quân ta.

Thực hiện quyết tâm đó như thế nào?

Các đơn vị bộ đội thường trực:

– Phải tích cực học tập,

– Phải chấp hành nghiêm chỉnh chế độ và kỷ luật,

– Phải sẵn sàng chiến đấu.

Các đơn vị bộ đội sản xuất phải tích cực lao động hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất.

Cán bộ phải có tinh thần trách nhiệm, chấp hành tốt mệnh lệnh và chỉ thị, khắc phục khó khǎn, đi sâu đi sát thực tế, thường xuyên kiểm tra đôn đốc, chống quan liêu đại khái.

Quyết tâm phải biểu hiện ra như vậy.

Một điểm nữa là phải nhận rõ tình hình và nhiệm vụ một cách toàn diện, một cách thiết thực, chớ nhận thức một cách lệch lạc, chủ quan, cục bộ. Ví dụ: chỉ thấy nhiệm vụ sản xuất (vì việc này là mới) mà xem thường nhiệm vụ xây dựng quân đội, hay trái lại chỉ thấy nhiệm vụ xây dựng quân đội tiến lên mà không thấy nhiệm vụ sản xuất là quan trọng. Hoặc chỉ thấy thuận lợi không thấy khó khǎn mà chủ quan. Hoặc chỉ thấy khó khǎn không thấy thuận lợi mà bi quan. Hoặc chỉ thấy khó khǎn của đơn vị mình không thấy khó khǎn của cấp trên, cấp dưới; chỉ thấy khó khǎn của quân đội, ít thấy khó khǎn của Đảng, của Chính phủ và nhân dân.

Phải nhận rõ trách nhiệm của mình là khắc phục khó khǎn, làm tròn nhiệm vụ.

Một điểm nữa là toàn quân ta phải thi đua học tập, thi đua lao động sản xuất, phải khiêm tốn, giản dị, tiết kiệm, phải chống lãng phí tham ô. Trong mọi công việc, cán bộ phải làm gương, nhất là cán bộ cao cấp, đảng viên, đoàn viên trong quân đội phải làm đầu tàu, làm gương mẫu giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ.

Một điều quan trọng nữa là phải tǎng cường đoàn kết. Không phải nói nhiều, các chú cũng biết đoàn kết là sức mạnh, cách mạng nhờ đoàn kết mà thắng lợi, kháng chiến nhờ đoàn kết mà thành công.

Ngày nay, trong việc xây dựng quân đội, phát triển kinh tế, cũng phải tǎng cường đoàn kết: đoàn kết trong cán bộ với nhau, đoàn kết giữa cán bộ và chiến sĩ, đoàn kết giữa cán bộ và bộ đội Bắc – Nam, đoàn kết giữa bộ đội chiến đấu và bộ đội sản xuất. Phải thực hiện đoàn kết quân dân, quân đội phải giúp đỡ nhân dân. Nhất là các đơn vị bộ đội sản xuất càng phải chú ý giúp đỡ nhân dân, thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ. Phải đoàn kết quân, chính, Đảng. Quân đội phải tôn trọng sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, phải giúp đỡ các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương. Phải tránh tự kiêu, tự đại, vì lúc thành công thì dễ tự kiêu tự đại, mà đã tự kiêu tự đại là thoái bộ. Bởi vậy, quân đội ta khi thành công càng phải khiêm tốn, chớ có tự kiêu tự đại.

Nói tóm lại, toàn quân phải đoàn kết phấn đấu, quyết tâm xây dựng quân đội ta thành một quân đội hùng mạnh, sẵn sàng chiến đấu, học tập giỏi, công tác giỏi, sản xuất giỏi.

——————————–

Nói ngày 20-3-1958.
Sách Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr.321-325.

(17) Hội nghị lần thứ 12 (mở rộng) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II): Họp vào cuối tháng 3-1957. Hội nghị đã thảo luận và quyết định những vấn đề về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng; thông qua những chỉ tiêu, biện pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy việc hoàn thành nhiệm vụ khôi phục kinh tế.

Về nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, Hội nghị nhấn mạnh: Bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, bảo vệ an ninh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất Tổ quốc, đập tan mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, chủ yếu là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai là nhiệm vụ hàng đầu của quân đội ta. Muốn vậy, cần “tích cực xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước đến chính quy hoá và hiện đại hoá”.

Hội nghị còn xác định nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng là nhiệm vụ chung của toàn Đảng và toàn dân ta. Tr.139.

cpv.org.vn

Nói chuyện về nhiệm vụ sản xuất của quân đội (3-1958)

Bác khen bộ đội ta đã cố gắng giúp dân chống hạn. Bác đi thǎm các nước, đến đâu, nhân dân và quân đội nước bạn cũng biết, cũng phục bộ đội ta vì thành tích Điện Biên Phủ và giúp dân chống hạn, chống lụt. Cần phải giữ lấy vinh dự ấy.

Hiện nay quân đội ta có hai nhiệm vụ chính. Một là xây dựng một quân đội hùng mạnh, sẵn sàng chiến đấu. Hai là tǎng gia sản xuất cùng với toàn dân để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Tham gia sản xuất là một nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng và Chính phủ giao cho quân đội. Thực hiện nhiệm vụ đó có khó khǎn, nhưng khó khǎn là tạm thời, thuận lợi mới là cǎn bản, phải phát triển thuận lợi và khắc phục khó khǎn.

Đặc biệt đối với nhiệm vụ sản xuất của quân đội, cán bộ và chiến sĩ cần học về kỹ thuật nông nghiệp. Các chú phần lớn trước kia là nông dân, đã hiểu nông nghiệp là phải cướp mưa, cướp nắng, nếu làm việc máy móc ngày 8 giờ và chủ nhật đi chơi, có khi sẽ hỏng việc. Đánh đế quốc thì có một thứ giặc trước mắt, nhưng trong nông nghiệp thì có nhiều kẻ thù: nào trời không mưa thuận gió hoà, nào sâu bọ phá hoại. Đánh giặc trong nông nghiệp phức tạp hơn đánh giặc thực dân. Các chú phải chuẩn bị tinh thần đánh thắng cả trời.

Còn phải đề cao kỷ luật lao động và nên có kế hoạch trồng thứ gì tự túc được trước. “Thực túc binh cường”, tự túc được càng nhiều càng tốt. Kinh nghiệm Giải phóng quân Trung Quốc đã biến những vùng sa mạc Tân Cương thành một khu trồng bông lớn nhất Trung Quốc và biến những vùng hiểm trở ở Hắc Long Giang từ đồng lầy “vào được mà không có lối ra” thành một nơi kinh tế sầm uất. Hai kinh nghiệm đó chứng tỏ: có quyết tâm của con người – nhất là một số người sẵn có tổ chức, có kỷ luật, có giác ngộ – thì bất cứ khó khǎn gì cũng khắc phục được, bất cứ việc gì cũng làm được. Anh em Giải phóng quân Trung Quốc là anh hùng. Quân đội ta cũng anh hùng. Cái gì anh em làm được thì mình cũng làm được.

Trung ương và Chính phủ sẽ theo dõi sự cố gắng và mỗi thắng lợi của đơn vị, sẵn sàng khen thưởng các đơn vị và cá nhân xuất sắc. Bác trao cho đơn vị một trǎm huy hiệu làm giải thưởng trong bước đầu và mong tất cả mọi người sẽ làm tròn nhiệm vụ, thi đua cùng với toàn dân thực hiện kế hoạch dài hạn của Nhà nước.

—————————-

Nói tháng 3-1958.
Sách Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr.318-320.
cpv.org.vn

Bản di chúc có chữ “Tuyệt đối bí mật” của Bác Hồ

Hồ Chí Minh bắt đầu viết di chúc vào dịp sinh nhật lần thứ 75 của Người vào ngày 10/5/1965 và sửa lại trong dịp sinh tiếp theo. Người mang di chúc ra viết và dặn lại Vũ Kỳ: “Chú cất giữ cẩn thận, sang năm, mồng 10 tháng 5 nhớ đưa lại cho Bác”. Mở đầu Bản Di chúc năm 1965 có đoạn: “Nhân dịp mừng 75 tuổi… Năm nay tôi 75 tuổi, tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng là lớp người “xưa nay hiếm”…”.

Bản Di chúc của Bác mang nét độc đáo rất riêng, dù bút tích Người ghi rõ “Tuyệt đối bí mật” nhưng đây lại là tài liệu được công bố rộng rãi nhất, được nhiều thế hệ học tập, noi theo. Di chúc của Hồ Chủ tịch đã được Bộ Chính trị cho xuất bản và công bố cùng ngày tổ chức lễ quốc tang 9/9/1969.

Những bút tích của Người còn lại trong các Bản Di chúc đã cho thấy, đây là văn bản được Người tập trung thời gian suy nghĩ, chỉnh sửa nhiều nhất so với các văn bản bút tích Người để lại. Điều đó, thể hiện tinh thần trách nhiệm của Người trước sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhưng đó còn là tấm lòng của vị lãnh tụ với tương lai đất nước.

Hồ Chí Minh bắt đầu viết chúc thư mà Người gọi là tài liệu “Tuyệt đối bí mật” vào 9h sáng ngày 10/5/1965, dịp Người tròn 75 tuổi. “Chọn đúng vào một ngày tháng Năm, nhân dịp sinh nhật mình; chọn đúng vào lúc 9h, giờ đẹp nhất của một ngày; chọn đúng vào lúc sức khỏe tốt nhất trong những năm gần đây… để viết về ngày ra đi của mình…” (Bác Hồ viết di chúc như thế nào – Hồi ký của đồng chí Vũ Kỳ). Rồi từ đó, mỗi năm, từ mồng 10 đến 20 tháng 5, mỗi hôm, Người dành trọn 1 tiếng, từ 9h đến 10h để chỉnh sửa Di chúc.

Ngoài những nội dung mang tính độc đáo, Di chúc của Hồ Chủ tịch còn có một quá trình lưu giữ, bảo quản cũng độc đáo không kém. Vì những lý do khách quan, vào năm 1989, toàn văn Di chúc của Hồ Chủ tịch cũng như ngày mất của Người mới được công bố bằng Thông báo của Bộ Chính trị khóa VI.

Thường lúc chuẩn bị về trời, tâm lý con người thể hiện qua di chúc là nghĩ và viết về quá khứ, về cuộc đời đã trải qua, đặc biệt là phải quan tâm đến sự việc quan trọng nhất của đời mình đang xảy ra ở thời điểm viết di chúc. Ấy vậy mà di chúc của Bác, chỉ nói đến tương lai của đất nước, dân tộc. Và nhất là những việc của tương lai cần phải làm.

Bác chỉ viết một câu vừa dự báo, vừa khẳng định: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người nhưng nhất định thắng lợi” (Bản Di chúc ngày 15/5/1965).

Và điều lạ nữa là Bác, trong toàn bộ Di chúc và các bản bổ sung, cụm từ “xã hội chủ nghĩa” chỉ được Bác viết một lần khi nói về thanh niên – “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế, xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên”.

Từ “cộng sản” được Bác viết một lần trong phần “về phong trào cộng sản thế giới” nhưng là để nói đến sự “bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em”. Như vậy Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản cũng là điều tất yếu như cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhất định thắng lợi như Bác đã dự báo.

Ngày Bác mất cũng trùng với ngày Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Bác khai sinh, ngày 2/9/1945. Di chúc của Bác với những giá trị độc đáo đã trở thành tài sản vô giá của Đảng và dân tộc Việt Nam.

Không chỉ hiện nay mà Di chúc của Bác Hồ mãi mãi về sau vẫn là ngọn đuốc soi đường, là kim chỉ nam cho mọi người, mọi thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Theo Hoàng Lâm
Báo Giáo dục Việt Nam
Huyền Trang (St)
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào, bộ đội và cán bộ Tây Bắc (24-3-1958)

Thân ái gửi đồng bào, bộ đội ở Tây Bắc,

Nhân dịp Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp lên thǎm Tây Bắc, tôi thay mặt Đảng và Chính phủ thân ái gửi lời hỏi thǎm toàn thể đồng bào thuộc các dân tộc, toàn thể bộ đội và cán bộ ở Tây Bắc, chúc tất cả mạnh khoẻ, vui vẻ, đoàn kết, tiến bộ.

Từ khi Tây Bắc ta được giải phóng, Khu tự trị Tây Bắc được thành lập, đồng bào thuộc các dân tộc ở Tây Bắc đã ra sức tǎng gia sản xuất, thực hiện kế hoạch Nhà nước, nhờ đó mà đời sống vật chất và vǎn hoá đã được cải thiện hơn trước, tình đoàn kết anh em giữa các dân tộc cũng tǎng thêm.

Bước sang nǎm nay, chúng ta đi vào kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế và vǎn hoá. Đồng bào ta ở Tây Bắc phải ra sức cố gắng hơn nữa, tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, ra sức học hành và thực hiện vệ sinh phòng bệnh, để làm cho Khu tự trị ta ngày càng phồn thịnh, đời sống của đồng bào ngày càng no đủ, tươi vui.

Bộ đội ta trước đây đã ra sức giúp đỡ nhân dân, chiến đấu giết giặc, giải phóng Tây Bắc, thì ngày nay càng phải ra sức giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ biên giới, bảo vệ cho đồng bào được yên ổn làm ǎn. Đồng thời, để góp phần cho Khu tự trị giàu có thêm, bộ đội cần phải tham gia sản xuất, xây dựng những nông trường gương mẫu. Bộ đội phải giúp đỡ đồng bào về mọi mặt. Đồng bào phải hết lòng giúp đỡ bộ đội. Quân dân đoàn kết, cùng nhau củng cố và mở mang Khu tự trị.

Tất cả các cán bộ công tác ở Tây Bắc, không phân biệt cán bộ miền ngược hay là miền xuôi, đều phải dốc lòng phấn đấu để củng cố và mở mang Khu tự trị, đoàn kết với nhau, ra sức phục vụ nhân dân, chấp hành đúng đắn chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ. Phải xung phong gương mẫu trong mọi việc.

Chúng ta phải đoàn kết và quyết tâm. Đồng bào các dân tộc phải đoàn kết, nhân dân và bộ đội phải đoàn kết, cán bộ và nhân dân cùng bộ đội phải đoàn kết. Tất cả mọi người phải quyết tâm làm tròn nhiệm vụ.

Tôi tin rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chính phủ, với sự giúp đỡ của các dân tộc anh em trong cả nước, với sự đoàn kết và quyết tâm của mọi người, Khu tự trị Tây Bắc ta nhất định sẽ ngày càng giàu có, đời sống nhân dân sẽ ngày càng đầy đủ. Như vậy tức là góp phần củng cố miền Bắc và đấu tranh để thống nhất nước nhà.

Tôi chúc đồng bào, bộ đội, cán bộ ở Tây Bắc mạnh khoẻ, đoàn kết và thành công.

Ngày 24 tháng 3 nǎm 1958
HỒ CHÍ MINH

———————————–

Báo Nhân dân, số 1490, ngày 10-4-1958.
cpv.org.vn

Thư gửi cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 335 (28-3-1958)

Thân ái gửi toàn thể các cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn 335,

Bác rất vui lòng được đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo rằng sau khi học tập nghị quyết của Trung ương và Tổng quân uỷ, toàn thể các cán bộ và chiến sĩ đã quyết tâm triệt để chấp hành nhiệm vụ mới, yên tâm và phấn khởi tham gia công cuộc củng cố và xây dựng khu Tây Bắc thành một hậu phương vững chắc của miền Bắc chúng ta; trong mọi việc thì toàn thể đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động đã làm gương mẫu.

Tinh thần dũng cảm của các chú thật xứng đáng với truyền thống vẻ vang của quân đội ta, xứng đáng với sự giáo dục và sự tin cậy của Đảng và Chính phủ.

Trong công việc xây dựng đơn vị chiến đấu cũng như trong công việc xây dựng nông trường, mở mang đường sá, chúng ta còn có khó khǎn. Nhưng Bác tin rằng với sức đoàn kết và lòng quyết tâm của toàn quân, chúng ta nhất định hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang đó.

Bác chúc các chú thành công.

Ngày 28 tháng 3 nǎm 1958
HỒ CHÍ MINH

—————————

Bút tích lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Điện mừng Chủ tịch Vôrôsilốp (29-3-1958)

Kính gửi đồng chí Vôrôsilốp, Chủ tịch Chủ tịch đoàn Xôviết tối cao Liên Xô,

Nhân dịp đồng chí vừa mới được cử lại làm Chủ tịch Chủ tịch đoàn Xôviết tối cao Liên Xô, thay mặt nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi nhiệt liệt chào mừng đồng chí.

Kính chúc đồng chí khoẻ mạnh để lãnh đạo nhân dân Liên Xô thu nhiều thành tích mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản.

Ngày 29 tháng 3 nǎm 1958
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

——————————-

Báo Nhân dân, số 1479, ngày 30-3-1958.
cpv.org.vn

Bài nói tại Trường sĩ quan Lục quân Việt Nam (5-4-1958)

Bác thay mặt Đảng và Chính phủ tỏ lời khen ngợi những thành tích đã đạt được của nhà trường về các mặt: chính trị, quân sự, kỹ thuật bắn súng, điều lệnh và tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm…

Đảng và Chính phủ giao cho quân đội ta hai nhiệm vụ:

1. Xây dựng quân đội nhân dân ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu.

2. Thiết thực tham gia lao động sản xuất để góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đó là hai nhiệm vụ rất vẻ vang; hai nhiệm vụ đó nhất trí với nhau.

Các chú cần phải ra sức học tập và công tác để xây dựng quân đội, đồng thời phải ra sức tham gia sản xuất và tiết kiệm, ủng hộ những đơn vị chuyển sang sản xuất. Bác tin chắc rằng các chú sẽ cùng với toàn quân thực hiện tốt hai nhiệm vụ đó.

Khoá học này đã sắp kết thúc; các chú sắp đi nhận công tác mới. Các chú cần mạnh dạn áp dụng những điều đã học được, nhưng cần phải áp dụng một cách thiết thực, thích hợp với hoàn cảnh của ta; chớ giáo điều, chớ máy móc. Các chú cần phải khiêm tốn học tập những cán bộ và chiến sĩ ở đơn vị, chớ tự đại, tự cao. Các chú cần phải nâng cao tinh thần cảnh giác, nâng cao tính tổ chức, tính kỷ luật, tích cực chấp hành điều lệnh, chấp hành những chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ.

Một điều rất quan trọng nữa, có thể nói là quan trọng bậc nhất, là phải tǎng cường đoàn kết: đoàn kết giữa học viên và cán bộ, giữa nhà trường và đơn vị, đoàn kết giữa học viên mới tốt nghiệp với cán bộ và chiến sĩ ở đơn vị, đoàn kết giữa đơn vị miền Bắc và đơn vị miền Nam, giữa đơn vị chiến đấu và đơn vị sản xuất, đoàn kết chặt chẽ giữa quân đội và nhân dân…

Cuối cùng Bác chúc các chú học viên khi về đơn vị cố gắng làm đúng những điểm đó để luôn luôn tiến bộ và đạt nhiều thành tích. Chúc các cán bộ, giáo viên và nhân viên thu nhiều kết quả trong khoá học sắp tới để bồi dưỡng được nhiều cán bộ tốt cho quân đội.

Bác tặng nhà trường 100 huy hiệu để làm giải thưởng cho những đồng chí đã đạt được thành tích khá trong khoá học vừa qua, đồng thời để khuyến khích tinh thần thi đua trong học tập và công tác sắp tới.

——————————

Nói ngày 5-4-1958.
Sách Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr. 326-328.
cpv.org.vn

Lời phát biểu trong buổi khai mạc Kỳ họp thứ tám Quốc hội khoá I (18) (16-4-1958)

Thưa Đoàn Chủ tịch,

Thưa các vị đại biểu,

Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, tôi xin thân ái chào mừng Quốc hội, các vị đại biểu và chúc khoá họp Quốc hội lần thứ tám thành công tốt đẹp.

Quốc hội họp kỳ này trong lúc tình hình thế giới cũng như trong nước có những biến chuyển quan trọng.

– Trên thế giới thì lực lượng của phe hoà bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa đã mạnh hơn hẳn lực lượng phe đế quốc gây chiến. Việc Liên Xô thành công trong việc chế tạo tên lửa xuyên qua các lục địa và phóng vệ tinh nhân tạo càng củng cố ưu thế của phe ta. Hai cuộc Hội nghị của các đảng cộng sản và công nhân thế giới họp vào tháng 11 nǎm 1957 ở Mátxcơva càng chứng tỏ sự đoàn kết nhất trí và sự hùng mạnh của phe xã hội chủ nghĩa và của phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Bản Tuyên bố chung của 12 đảng cộng sản và đảng công nhân các nước xã hội chủ nghĩa và bản Tuyên ngôn hoà bình của Hội nghị 64 đảng cộng sản và công nhân thế giới là những vǎn kiện lịch sử soi sáng đường lối đấu tranh của phong trào hoà bình dân chủ, độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa thế giới. Tôi chắc rằng Quốc hội ta nhiệt liệt hoan nghênh hai vǎn kiện vĩ đại ấy và nhân dân ta càng nâng cao tình đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em do Liên Xô lãnh đạo.

Phong trào chống chủ nghĩa thực dân ở châu á, châu Phi và châu Mỹ latinh cũng đang phát triển mạnh. Hội nghị nhân dân á – Phi họp ở Thủ đô Ai Cập vừa rồi đã củng cố sự đoàn kết và tǎng cường lực lượng của các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giữ gìn hoà bình và độc lập dân tộc.

Ở Việt Nam ta cũng như ở khắp nơi trên thế giới, đang sôi nổi phong trào tỏ tình ủng hộ cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân Angiêri anh em và lên án đế quốc can thiệp vào công việc nội bộ của nhân dân Inđônêxia.

Hiện nay trên thế giới đang sôi nổi phong trào đấu tranh để củng cố hoà bình, đòi đình chỉ thử vũ khí nguyên tử và khinh khí, đòi họp hội nghị những người đứng đầu các nước. Vừa rồi Xôviết tối cao Liên Xô đã quyết định Liên Xô tự mình chủ động ngừng thử vũ khí nguyên tử và khinh khí và yêu cầu Anh, Mỹ cũng sẽ theo gương Liên Xô mà chấm dứt việc thử vũ khí nguyên tử và khinh khí. Đó là một quyết định có ý nghĩa lịch sử to lớn, góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình thế giới.

Tôi tin chắc rằng Quốc hội ta, nhân dân ta sẽ cùng với nhân dân thế giới nhiệt liệt hoan nghênh và ủng hộ sáng kiến đó của Liên Xô. Chúng ta thành thực biết ơn Liên Xô vĩ đại vì sự sống còn chung của loài người, đã đề ra sáng kiến đó. Chúng ta yêu cầu các Chính phủ Mỹ, Anh cùng noi theo gương Liên Xô mà đình chỉ việc thử vũ khí nguyên tử và khinh khí. Chúng ta yêu cầu các nước mau thoả thuận họp hội nghị những người đứng đầu các nước để đi tới cải thiện tình hình thế giới, thiết thực bảo vệ hoà bình.

– Trong nước ta, sau ba nǎm hoà bình, chúng ta đã hoàn thành thắng lợi công cuộc khôi phục kinh tế ở miền Bắc. Công tác cải cách ruộng đất, kể cả sửa sai, đã cǎn bản kết thúc tốt. Các cơ sở sản xuất cũ đã được khôi phục, nhiều nhà máy mới được xây dựng lên, mức sản xuất của nhiều ngành đã đạt mức trước chiến tranh. Lương thực đã vượt xa mức đó. Hoạt động kinh tế trong nước đã trở lại bình thường, hoạt động vǎn hoá cũng đã bước đầu được phát triển, đời sống nhân dân cũng đã được cải thiện bước đầu.

Mặc dù kinh tế nước ta lạc hậu, lại bị chiến tranh kéo dài tàn phá nặng nề, mặc dù công tác xây dựng kinh tế, phát triển vǎn hoá đối với chúng ta còn mới mẻ, gặp nhiều khó khǎn và không tránh khỏi những khuyết điểm, nhưng việc hoàn thành khôi phục kinh tế là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta. Nó chứng tỏ đường lối của Đảng và Chính phủ được Quốc hội thông qua là đúng, chứng tỏ sự cố gắng của nhân dân, bộ đội và cán bộ ta trong mọi ngành và mọi công tác.

Về công việc đấu tranh giành thống nhất nước nhà, trong ba nǎm qua, Chính phủ và nhân dân ta đã không ngừng cố gắng. Phong trào đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam được giữ vững và hiện đang phát triển. Phong trào đòi hiệp thương tổng tuyển cử, đúng như Hiệp định Giơnevơ đã quy định, đòi lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền, đang tiếp tục. Đặc biệt là hiện nay, nhân dân ta từ Nam đến Bắc đang sôi nổi hưởng ứng Công hàm ngày 7 tháng 3 nǎm 1958 của Chính phủ ta 19 và chống can thiệp của đế quốc Mỹ vào miền Nam. Tôi đề nghị Quốc hội nhiệt liệt hoan nghênh tinh thần anh dũng của đồng bào miền Nam và tinh thần của đồng bào cả nước đoàn kết đấu tranh giành thống nhất nước nhà.

Nhân dịp này, tôi xin thay mặt Chính phủ ta tỏ lời hoan nghênh Uỷ ban Quốc tế do ấn Độ làm Chủ tịch đã có những cố gắng trong công việc giữ gìn hoà bình ở Việt Nam.

Như các vị đều biết, Đảng và Chính phủ ta đã nhận định rằng từ ngày hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta đã từ cách mạng dân tộc – dân chủ nhân dân chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ trước mắt của toàn dân ta là ra sức xây dựng và củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Nhận định đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cách mạng chuyển biến đòi hỏi phải có một sự chuyển biến sâu sắc về tư tưởng và nhận thức, đòi hỏi phải có những chính sách, những biện pháp về công tác tổ chức phù hợp với tình hình mới.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhằm xoá bỏ mọi chế độ người bóc lột người ở nước ta, nhằm đưa lại đời sống no ấm cho toàn dân ta. Đó là một cuộc cách mạng vĩ đại và vẻ vang nhất trong lịch sử loài người, nhưng đồng thời cũng là một cuộc cách mạng gay go, phức tạp và khó khǎn nhất. Mỗi người chúng ta phải chuẩn bị tư tưởng và nghị lực để vượt qua mọi thử thách và hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng này.

Sau khi hoàn thành khôi phục kinh tế và bước đầu phát triển vǎn hoá, chúng ta bước vào thời kỳ phát triển kinh tế và vǎn hoá theo kế hoạch dài hạn. Quốc hội sẽ nghe và thảo luận bản báo cáo của Chính phủ, kiểm điểm mọi mặt công tác ba nǎm qua và đề ra những nhiệm vụ lớn và công tác lớn sắp tới. Quốc hội sẽ thảo luận và thông qua kế hoạch 1958.

Việc thông qua kế hoạch 1958 có một ý nghĩa quan trọng, vì nó là nǎm đầu của kế hoạch dài hạn. Tôi tin rằng kế hoạch được Quốc hội thông qua sẽ gây tinh thần tin tưởng và phấn khởi trong cả nước, sẽ động viên mọi tầng lớp nhân dân ta hǎng hái hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch, làm cho nền kinh tế và vǎn hoá nước ta phát triển thêm lên và để cải thiện dần dần đời sống của nhân dân, bộ đội và cán bộ ta.

Quốc hội sẽ nghe báo cáo về vấn đề đấu tranh thống nhất nước nhà. Cuộc đấu tranh giành thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình trên cơ sở độc lập và dân chủ là một cuộc cách mạng lâu dài, khó khǎn, phức tạp. Đế quốc Mỹ và tay sai không đếm xỉa đến nguyện vọng tha thiết nhất của nhân dân ta, trắng trợn vi phạm các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, âm mưu đưa miền Nam vào khối xâm lược Đông – Nam á để gây lại chiến tranh. Nhưng âm mưu thâm độc của chúng nhất định sẽ thất bại. Tình hình thế giới hiện nay không cho phép bọn đế quốc tự ý muốn làm gió làm mưa. Lực lượng hoà bình và cách mạng thế giới đang tiến lên mạnh mẽ, lực lượng đế quốc đang đi vào con đường suy đồi, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cũng như phong trào cách mạng ở miền Nam ngày càng phát triển thuận lợi, cho nên nhân dân ta nhất định thành công trong sự nghiệp thống nhất nước nhà.

Thưa Đoàn Chủ tịch,

Thưa các vị đại biểu,

Từ ngày bầu cử đến nay, Quốc hội ta đã luôn luôn phát huy truyền thống đoàn kết nhất trí của toàn dân ta, trong mọi công tác kháng chiến cũng như kiến quốc đều nhất trí với những nhận định của Đảng và Chính phủ. Nhờ vậy, mà mọi công tác của chúng ta do Quốc hội thông qua đều được thực hiện tốt đẹp. Đó là một truyền thống quý báu của Quốc hội ta, một ưu điểm cǎn bản của chế độ ta.

Tôi tin rằng trong khoá họp Quốc hội lần thứ tám này, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, Quốc hội sẽ tập hợp được những ý kiến dồi dào của các đại biểu, của nhân dân, sẽ quyết định một cách sáng suốt các công việc quan hệ tới quốc kế dân sinh mà Chính phủ sẽ trình để Quốc hội xét.

Tôi tin rằng, với truyền thống đoàn kết nhất trí của chúng ta, Quốc hội và Chính phủ sẽ nhất trí trong các vấn đề thảo luận.

Một lần nữa, xin chúc các đại biểu mạnh khoẻ, chúc khoá họp Quốc hội thành công.

————————————

Phát biểu ngày 16-4-1958.
Báo Nhân dân, số 1497, ngày 17-4-1958.

(18) Kỳ họp thứ tám Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I: Họp từ ngày 16 đến ngày 29-4-1958, tại Hà Nội. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã thảo luận và thông qua kế hoạch 3 nǎm cải tạo và phát triển nền kinh tế quốc dân (1958-1960), quyết định thành lập một số cơ quan Nhà nước như Toà án Nhân dân Tối cao, Viện Công tố, Uỷ ban Khoa học Nhà nước; nâng Ban Dân tộc thành Uỷ ban Dân tộc; tách Bộ Thương nghiệp thành hai bộ: Nội thương và Ngoại thương, Bộ Thuỷ lợi – Kiến trúc thành hai bộ: Thuỷ lợi và Kiến trúc. Quốc hội cũng đã thông qua hai đạo luật quan trọng là Luật tổ chức chính quyền địa phương và Luật quy định chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội. Tr.154.

cpv.org.vn

Vị lãnh tụ bình dị

Sau chặng đường dài, hơn ba mươi nǎm, dấu chân Người in trên 25 quốc gia của thế giới đầy biến động trong những nǎm đầu của thế kỷ 20.

Ngày 28/01/1941, Bác Hồ dừng chân bên cột mốc 108, lòng bồi hồi xúc động, nhìn về phía trước, nơi đó là Tổ quốc, là đất mẹ. Từ giờ phút lịch sử dó, Người sẽ cùng cả dân tộc Việt Nam hướng về tương lai, sắp xếp lại trật tự xã hội với một ý chí mãnh liệt: Dân tộc Việt Nam phải được hồi sinh, phải trở về chính mình như ông cha đã từng gìn giữ trong suốt 4000 nǎm lịch sử.

Thật là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, nơi Bác chọn dừng chân đầu tiên khi trở về Tổ quốc là nơi đầu nguồn, tiếng Tày là Cốc Bó, từ đây như dòng nước mát tuôn chảy mãi về xuôi, đem về sự sống trường tồn.

Những ngày đầu vất vả gian truân với cảnh tĩnh mịch ẩm ướt của núi rừng, Bác vận động anh em, dọn dẹp sửa sang nơi ở cho thoáng mát. Nơi hoang sơ của núi rừng mà Bác như thấy một giang sơn hùng vĩ nên thơ.

“Đại bản doanh” đầu tiên được bố trí thật giản dị, phía trong hang là chỗ ngủ kê mấy thanh gỗ ghép lại, đêm nằm vừa đau lưng, vừa lạnh, phải đốt lửa để bớt đi giá lạnh và ẩm ướt. Những ngày đầu Bác làm việc trong hang nhờ ánh sáng yếu ớt chiếu từ khoang trống nhỏ trên đỉnh hang. Đêm đêm để xua đi nỗi vất vả, thiếu thốn, Bác thường kể chuyện cho anh em nghe về lịch sử các thời kỳ ông cha dựng nước và giữ nước, cũng nếm mật nằm gai mưu cầu nghiệp lớn. Bác kể chuyện thế giới, chuyện chiến tranh, chuyện cổ tích và cả chuyện tiếu lâm, để trong hang có tiếng cười vui. Ǎn uống kham khổ, rau rừng nấu cháo ngô, bắp chuối chấm với muối trắng. Những bữa “cải thiện” là khi bắt được con cá, sǎn được con thú về kho muối mặn ǎn dần.

Khi phía ngoài hang được dọn dẹp sạch sẽ gọn gàng, ban ngày Bác thường ra phiến đá phía ngoài làm việc, sau giờ làm việc Bác ra ngồi câu cá cạnh gốc cây si bên bờ suối. Để bảo đảm tuyệt đối bí mật chỗ ở, Bác cho làm thêm một cơ sở khác cách đó không xa, nơi có mái núi đá. Bác thường nói vui là một vườn Bách thú, vì ở đây có nhiều rắn rết, bọ rừng. Rồi sau đó Bác còn cho làm tiếp mấy lán nhỏ nữa ở Khuổi Nậm, để đề phòng khi có động. Dẫu ở hang, ở mái đá hay ở lán, Bác cũng luôn sắp xếp nơi ở gọn gàng, sạch sẽ và bí mật. Khi rời đi không để lại dấu vết. Bác tự bố trí nơi nghỉ, nơi làm việc, Bác nhặt từng phiến đá nhỏ xếp thành từng bậc cạnh chỗ nằm, trên các bậc đó Bác để sách, tài liệu, giấy viết, bút mực, máy chữ… mỗi loại quy định chỗ để riêng, ngǎn nắp, gọn gàng, khi cần với tay có thể lấy được, lúc đầu anh em ở với Bác chưa có thói quen gọn gàng nên khi có việc là lúng túng, lộn xộn. Bác luyện dần thành thói quen cho anh em.

Buổi sáng Bác thường dậy sớm hơn tập thể dục, trước cửa hang Bác chọn một nền phẳng nhỏ vừa chỗ đứng tập thể dục, dụng cụ tập đơn giản với hai hòn cuội trắng Bác thường bóp để luyện gân bàn tay (sau này khi đọc sách Bác cũng thường bóp hai hòn cuội). Bác dùng hai hòn “tạ” to nhỏ bằng đá, thay đổi khi tập. Sau mấy phút tập cho ấm người, Bác tắm suối hoặc leo núi. Bác tập leo núi nhiều nên Bác có một sức chịu đựng dẻo dai, khi leo núi anh em trẻ cũng khó mà theo kịp Bác. Buổi sáng Bác vận động anh em tập thể dục để có sức khoẻ chống lại bệnh tật nơi rừng núi hang động ẩm ướt.

Trong bộ quần áo Chàm, quần xắn cao, Bác cùng anh em kiếm củi, hái rau rừng, tǎng gia trồng rau trồng hoa bên bờ suối. Cạnh hang có dòng suối nước chảy trong mát Bác cùng anh em tạo cảnh hòn non bộ, có đá tai bèo, có cây có nước, Bác lấy cây lau làm một chiếc cầu nhỏ, bên cầu có con thuyền gọt bằng thân gỗ trắng, đang cắm sào đứng đợi trông thật sinh động. Có đồng chí khéo tay lấy hòn đá gan gà đẽo con cò đặt cạnh hồ nước như đang mò tép, in bóng xuống mặt nước trông thật nên thơ. Một thế giới sinh vật cảnh nơi núi rừng hoang vu, thiếu thốn, tạo nên cảm giác thanh tao, mãn nguyện, như để quên đi cái đói cái rét của thực tại mà hướng về công việc cho tương lai, bình sinh của cuộc đời mới.

Trong hang có khối thạch nhũ cao quá đầu người Bác dùng dao đẽo, gọt, tạo dáng hình người rồi lấy mực nho vẽ mắt và miệng, ai cũng bảo trông giống ông Tây, Bác bảo đấy là tượng Các Mác. Bác hỏi anh em địa phương tên dòng suối, được biết là suối Giàng, còn ngọn núi cao có tên là núi Khỉ, vì ở đây khỉ rất nhiều, hay còn gọi là núi Đào vì có tích là Tiên Cô đã xuống đây.
Bác cười vui và nói:

– Xưa có tiên cô xuống, nay có tiên cậu, tiên ông đến thật là hay. Rồi Bác nói tiếp – Cụ Các Mác là người muốn tất cả loài người thành tiên, nay ta đặt tên cho núi là núi Các Mác. Cụ Lênin là người thực hiện chủ trương của Cụ Các Mác nên ta đổi tên suối Giàng thành suối Lênin. Từ đó hai địa danh đã đi vào lịch sử của dân tộc.

Từ hang Cốc Bò, mái đá Lũng Lãn hay dưới những mái lán dọc dòng Khuổi Nậm, từ khu Lam Sơn (Nguyên Bình) về Lũng Cát hay chuyển về hang Pác Tẻng, nơi đâu Bác cũng tạo nên một không khí bình thản, tự tại, một cuộc sống đầm ấm mang nặng tình đồng chí để vượt qua thử thách, gian nan thiếu thốn của buổi đầu dựng nước. Từ nǎm tháng đời thường toát lên một sức mạnh tiềm ẩn mãnh liệt, nơi đây Bác đã triệu tập Hội nghị Trung ương Tám, thành lập Mặt trận Việt minh, ra báo “Việt Nam Độc lập”, huấn luyện cán bộ toả ra trǎm ngả đường của đất nước để chỉ đạo cách mạng… Bác dịch sách, viết báo, làm thơ, ngày cũng như đêm, mưa cũng như nắng, lúc ở hang động hay dưới tán lá cây rừng, ánh sáng bắt nguồn từ Bác – từ Pắc Bó nơi thánh địa của cách mạng, nơi xuất phát cuộc hành trình cách mạng của cả dân tộc trên đường Thiên lý hướng về tương lai.

Cách mạng phát triển nhanh chóng, thời cơ đã đến, Bác chuyển về lán Nà Lừa, lấy Tân Trào triệu tập Quốc dân đại hội, phát lệnh Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền trong cả nước. Trên đường về Hà Nội, Bác ghé làng Gạ rồi về 48 Hàng Ngang viết bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Cách mạng thành công nhưng khó khăn trǎm bề, thù trong giặc ngoài, thế nước “nghìn cân treo sợi tóc”, Bác phải chuyển chỗ ở nhiều nơi để tránh nguy hiểm, luôn luôn cải trang, lúc đi sớm khi về tối lúc ở số 8 Lê Thái Tổ, khi ở Bắc Bộ Phủ, lúc ngủ ở Quần Ngựa khi về Bưởi… Nhiều nơi đã để lại những kỷ niệm không quên về Bác, trong buổi đầu cách mạng gian nan, vất vả, hiểm nguy. Kháng chiến bùng nổ, Bác lại lên đường mở cuộc trường chinh. Bác về Vạn Phúc viết lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, về Chùa Trầm chúc Tết Quý Hợi 1947, vai đeo balô lên núi rừng Việt Bắc đi kháng chiến, dưới mái lán lá rừng vách nứa bên Làng Sảo, Bác triệu tập Hội nghị Trung ương chỉ đạo đường lối trường kỳ kháng chiến, rồi đến Khuổi Tấu viết “Việt Bắc anh dũng” về trận thắng Pháp đầu tiên trong cuộc kháng chiến; có phút thư giãn về huyện lỵ Sơn Dương “Đi thuyền sông Đáy” làm thơ; hay về hang Bòng chỉ đạo chiến dịch Biên giới; trở lại Kim Bình dự Đại hội Đảng lần thứ 2; đến Khuôn Điền cùng Trung ương chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử – trận quyết chiến cuối cùng chấm dứt chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới. Hơn 3000 ngày hành quân đi kháng chiến, vượt qua bao gian khổ khó khǎn, lãnh đạo toàn Đảng toàn dân làm nên trận thắng oanh liệt ghi mãi nghìn nǎm và chứng minh cho thế giới một chân lý: một dân tộc dù nhỏ bé nếu biết đoàn kết có thể chiến thắng một đế quốc to, mạnh hơn nhiều lần về vũ khí.

Cuộc sống đời thường đạm bạc nơi chiến khu Việt Bắc, theo Bác suốt ngàn ngày kháng chiến là mái lán đơn sơ của cây rừng Việt Nam. Đồng chí Lê Vǎn Nhương (Bác đặt tên cho là Cần) tham gia trong đội dân công hoả tuyến Nghệ An, khéo tay, biết nghề mộc, được cùng một đồng chí nữa chuyên làm lán cho Bác ở, kể lại rằng: Bác yêu cầu tìm chỗ ở cho Bác, nơi yên tĩnh, bí mật, nơi có bóng cây thoáng mát và có đất để tǎng gia, gần nguồn nước, phía sau có núi để dễ làm hầm trú ẩn, thuận lợi cho liên lạc dễ dàng di chuyển khi có động. Làm lán cho Bác không to quá, diện tích bằng khoảng hai chiếc chiếu, đủ cho Bác kê chiếc bàn nhỏ làm việc và nơi nghỉ. Lán cao vừa tầm Bác, không cao quá 2m. Làm không cầu kỳ mà giản di, vật liệu sẵn có xung quanh, 3 phía có vách nứa, lán đặt trên 4 cọc tre, lối lên lán làm một cái thang bằng tre khoảng 3 bậc, mặt lán không cao quá, cách mặt đất khoảng nửa mét, tuỳ theo địa hình. Phên vách, sàn làm bằng tre, luồng hoặc nứa. Đồ dùng bày biện phía trong lán lại càng đơn giản hơn. Bố trí một bàn, một ghế bằng gỗ tạp đủ để cái máy chữ nhỏ, một ít sách, tài liệu cần thiết, những thứ đồ dùng vặt như bút giấy, hai hòn sỏi bóp luyện tay… để cạnh. Một hòm nhỏ đựng tư trang để phía dưới. Chân giường đóng thẳng xuống đất cho chắc chắn, trên vách treo cái quạt bằng lá cây rừng. Cái tẩu thuốc, Bác thường nói vui đấy là điện thoại của Bác, khi cần Bác gõ vào cột tre theo tín hiệu quy định là người giúp việc có mặt. Thời gian rỗi Bác cùng anh em trong cơ quan chơi bóng chuyền, tập thể thao, tǎng gia sản xuất, trồng bí trồng bầu, nuôi gà, nuôi bò. Bác bảo các đồng chí, giao bò cho dân địa phương nuôi, khi bò phát triển thì một phần để lại cho nhân dân còn một phần cho tập thể. Trồng được nhiều bí, cả một bãi rộng dày đặc quả, khi thu hoạch anh em kiểm số lượng quả vì nhiều nên bị lẫn liên tục. Bác bày cho cách, đếm xong quả nào cắm một que tre khi cắm hết chỉ cần gom số que là ra số quả tǎng gia được và giao cho người quản lý.

Kháng chiến thắng lợi, Bác về Thủ đô Hà Nội, lúc đầu Trung ương có ý định mời Bác về ở trong ngôi nhà Toàn quyền cũ, vì ở đấy có đủ tiện nghi sinh hoạt, bảo đảm tốt cho sức khoẻ của Bác, tiện việc tiếp khách và mọi công việc của một vị lãnh tụ, nhưng Bác không chịu. Bác bảo, Bác chứ không phải viên Toàn quyền, không phải vua, Chủ tịch một nước còn nghèo, chưa có quyền hưởng thụ quá mức trung bình của người dân, nên Bác quyết định chọn cho mình ngôi nhà của người thợ điện ngày trước, một ngôi nhà bình dị như bao ngôi nhà khác, mái ngói, nền đất, nơi mà mùa nóng thì nhiệt độ cao hơn hẳn xung quanh, ngày thiếu ánh sáng phải thắp đèn. Chỉ có điều tiện duy nhất là gần với anh em phục vụ trong không khí ấm cúng gia đình.

Nǎm 1958, Trung ương quyết định xây nhà cho Bác, nhưng Bác chỉ nhất trí khi làm theo ý Bác. Bác cho gọi kiến trúc sư Nguyễn Vǎn Ninh để trao đổi việc làm nhà. Bác dặn kiến trúc sư làm theo kiểu nhà sàn của đồng bào Việt Bắc, nơi Bác đã từng sống trong sự đùm bọc, bảo vệ của đồng bào các dân tộc trong những ngày đầu kháng chiến. Ngôi nhà sàn dưới bóng cây cạnh hồ nước, xung quanh có vườn hoa cây cảnh vừa đẹp lại vừa mát là môi trường tốt cho sức khoẻ, lại thuận lợi cho công việc, vừa không tốn nhiều tiền của nhân dân. Bác dặn gỗ dùng làm nhà cho Bác, chỉ dùng loại gỗ như đồng bào thường dùng. Tầng dưới bố trí một chiếc bàn lớn và mười một chiếc ghế (số ghế đủ cho các đồng chí trong Bộ Chính trị lúc bấy giờ) xung quanh nhà xây một bờ tường thấp, trên lát gỗ làm ghế cho các cháu thiếu nhi ngồi khi các cháu vào với Bác. Xung quanh nhà làm một dãy hành lang vừa phải để khi Bác ngồi đọc sách có ai qua lại không bị ảnh hưởng, vừa nói Bác vừa bê chiếc ghế mây ra, Bác ngồi giơ tay làm cữ, áng chừng độ rộng của hành lang cho đồng chí kiến trúc sư biết. Bác dặn đi dặn lại là phải hết sức tiết kiệm. Khi Bác đi thǎm một số nước về thì nhà sàn đã làm xong Bác lấy tiền riêng của mình tổ chức bữa liên hoan ngọt, Bác gọi là “tiệc liên hoan khánh thành công trình”. Bác mời đồng chí Ninh và những anh em công nhân tham gia làm nhà sàn cho Bác, đến dự liên hoan. Buổi liên hoan vui vẻ, Bác đi đến chỗ đồng chí Ninh và khen công trình làm nhanh, tốt, rồi ân cần phê bình nhẹ. Bác nói chân tình, nước ta chưa giàu, dân ta còn chưa có đủ nhà ở cần phải tiết kiệm. Khi chụp ảnh lưu niệm, Bác vẫy tay gọi đồng chí Ninh:
– Ông “Kiến…” đến đứng gần đây.

Tất cả cười vui vẻ, Bác gọi “ông Kiến” bớt đi hai chữ “trúc sư” vừa vui lại vừa nhắc nhở kiến trúc sư phải tiết kiệm, mà nghĩa đen “kiến” là con vật hay leo, như đồng chí Ninh đã leo thang trong việc làm nhà sàn cho Bác.

Bác ở nhà sàn với thời gian dài nhất trong quãng đời còn lại của Bác. Trong nhà sàn bố trí đơn giản, chỉ có những đồ dùng rất gần gũi với Bác. Một chiếc giường đơn trải chiếu cói, cái tủ nhỏ, bộ bàn ghế, trên bàn để đèn, lọ hoa, cái máy thu thanh, cái quạt nan, mấy quyển sách cần thiết hàng ngày. Chiếc bàn nhỏ và chiếc ghế mây ở cuối hành lang là nơi Bác ngồi làm việc những buổi chiều hè. Bác thường ngồi đọc báo ở đây, dưới tán lá cây vú sữa rì rào trước gió như tiếng nói của đồng bào miền Nam bên Bác. Những vật bình thường đã ở bên Bác đến suốt cuộc đời và sẽ ở mãi với nhà sàn cùng non sông đất nước như một huyền thoại về một con người.

Cuộc đời Bác gắn liền với những nơi ở thật bình dị bình dị như con người Bác. Từ ngày dựng nước gian lao vất vả đến khi làm Chủ tịch nước Bác vẫn giữ lối sống bình dị, không đòi hỏi một sự ưu tiên, một vinh hoa cho riêng mình. Bác là vậy tư tưởng tác phong của Bác là gần dân, luôn luôn giữ mức sống như của người dân. Gần dân là cuộc sống đời thường hàng ngày của Bác, là ý tưởng vĩnh cửu của tư tưởng Bác.

Theo camau.gov.vn
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Báo cáo công tác của Ban sửa đổi Hiến pháp tại Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Khoá I, Kỳ họp thứ tám (18-4-1958)

Thưa các vị đại biểu,

Hôm nay tôi xin thay mặt Ban sửa đổi Hiến pháp báo cáo những việc chúng tôi đã làm được từ khoá họp Quốc hội lần trước tới nay.

Bản Hiến pháp sửa đổi sẽ dựa vào Hiến pháp 1946. Nhưng bản Hiến pháp sửa đổi của ta lại sẽ được thi hành trong lúc đất nước còn bị tạm chia làm hai miền: miền Bắc đương tiến dần lên chủ nghĩa xã hội và miền Nam thì như một thuộc địa của đế quốc Mỹ. Những nét đặc biệt ấy tất nhiên phải phản ánh vào bản Hiến pháp sửa đổi của ta, cũng như bản Hiến pháp ấy phải cǎn cứ vào tình hình thực tế nước nhà và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện tại.

Cho tới nay, Ban sửa đổi Hiến pháp đã họp 18 lần, đã thảo luận và thông qua 9 bản thuyết trình lớn, gồm những vấn đề như: Tính chất và nội dung của bản Hiến pháp mới. Tính chất và nhiệm vụ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Chế độ kinh tế xã hội. Quyền lợi và nghĩa vụ công dân, chế độ tuyển cử. Tổ chức nhà nước, cơ quan chính quyền địa phương, toà án và viện kiểm sát, v.v..

Nhờ sự cố gắng của Ban thư ký và sự tận tuỵ của anh chị em cán bộ, chúng tôi đã hoàn thành bước đầu bản sơ thảo Hiến pháp sửa đổi. Sau khoá họp Quốc hội này, chúng tôi sẽ chuyển sang bước thứ hai là Trưng cầu ý kiến của nhân dân, mà trước tiên là ý kiến của các chính đảng, các đoàn thể nhân dân và các cơ quan.

Thưa các vị đại biểu,

Trong khi tiến hành xây dựng bản sơ thảo Hiến pháp sửa đổi, chúng tôi có nhận được một số ý kiến của mấy vị đại biểu Quốc hội, chúng tôi rất hoan nghênh sự sốt sắng đóng góp đó và đã nghiên cứu kỹ những ý kiến ấy. Hiện nay, việc xây dựng bản Hiến pháp sửa đổi sắp bước sang bước hai, chúng tôi chờ đón những ý kiến của đồng bào và của các vị đại biểu Quốc hội.

Chúng tôi xin hứa với Quốc hội rằng chúng tôi sẽ tiếp tục cố gắng hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ quan trọng mà Quốc hội đã trao cho và làm cho nước ta có một bản Hiến pháp xứng đáng với những thắng lợi và những tiến bộ vẻ vang của nhân dân ta.

————————————

Đọc ngày 18-4-1958.
Tài liệu lưu tại Vǎn phòng Quốc hội.
cpv.org.vn

Điện mừng Chủ tịch Titô (22-4-1958)

Kính gửi đồng chí Titô, Chủ tịch nước Cộng hoà

Nhân dân Liên bang Nam Tư ,

Nhân dịp đồng chí được bầu lại làm Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Liên bang Nam Tư, thay mặt nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tôi xin gửi đồng chí lời chúc mừng nhiệt liệt.

Kính chúc đồng chí thu được nhiều thành tích mới trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Ngày 22 tháng 4 nǎm 1958
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

————————-

Báo Nhân dân, số 1503, ngày 23-4-1958.
cpv.org.vn

Về viếng Bác Hồ để tiếp thêm nghị lực cho ngày mai

Chiến sỹ Đoàn H75 giúp đỡ những người khuyết tật vào Lăng viếng Bác

Vào những ngày cuối tháng tư này, lượng khách về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày một đông. Mỗi ngày trung bình có từ 10 ngàn đến 12 ngàn lượt người, vào ngày Thứ Bảy, Chủ nhật lượng người về Lăng viếng Bác tăng lên từ 13 ngàn đến 15 ngàn lượt người. Trong dòng người về viếng Bác ngày Chủ Nhật (22/4/2012), có 9 người con khuyết tật ở thành phố Hải Phòng lần đầu tiên được về viếng Bác.

Cảm thông, chia sẻ với những người khi sinh ra đã bị thiệt thòi, khuyết tật, những cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho họ những tình cảm đặc biệt. Đồng chí Thiếu tá Trần Tiên Long, cán bộ Ban Đón tiếp, Cơ quan Văn phòng Ban Quản lý Lăng cho biết: Các đoàn đến đặt hoa, sinh hoạt chính trị, văn hóa tại Lăng Bác đều đăng ký trước với Ban Tổ chức. Đồng bào, khách quốc tế về Lăng viếng Bác đều xếp hàng thứ tự từ cổng Số 17 phố Ngọc Hà, quận Ba Đình. Riêng những đồng chí thương binh nặng, người khuyết tật đi lại khó khăn được ưu tiên viếng Bác trước, được Ban Tổ chức bố trí ngồi trên xe lăn, có nhân viên, chiến sỹ giúp đỡ trong suốt quá trình vào Lăng viếng Bác, tham quan Nhà sàn Bác Hồ và Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Cả dòng người đang xếp hàng chuẩn bị vào viếng Bác trên suốt dọc đường Hùng Vương hôm đó ngỡ ngàng khi thấy hai hàng chiến sỹ danh dự, lễ phục chỉnh tề, xếp thẳng tắp, xen giữa là rất nhiều người khuyết tật, ngồi trên những chiếc xe lăn. Nhìn thấy cử chỉ nâng xe, hạ xe qua các bậc tam cấp, cầu thang lên, cầu thang xuống suốt dọc đường vào Lăng giúp đỡ người khuyết tật của các chiến sỹ danh dự thật nhẹ nhàng, tình cảm. Trao đổi với Trung tá Lê Văn Bảy, Phó Tham mưu trưởng Đoàn H75, tôi được biết: Trung bình mỗi ngày có từ 3 đến 5 đồng chí thương binh nặng hoặc người khuyết tật cả trong nước và người nước ngoài đến viếng Bác. Dù bất kỳ ai chúng tôi đều cảm phục họ và phục vụ tận tình, chu đáo. Riêng hôm nay có tới 9 vị khách đặc biệt, đơn vị đã bố trí 36 đồng chí chiến sỹ danh dự để phục vụ. Sau mỗi lần phục vụ, chúng tôi đều cảm nhận được tình cảm mà các đồng chí thương binh nặng, người khuyết tật đã dành cho Bác thật đặc biệt. Có những thương binh nặng dẫu hỏng cả hai mắt, nhưng sau khi viếng xong đã trả lời: “Mắt tôi không nhìn thấy Bác, nhưng Bác Hồ luôn ở trong trái tim tôi”.

Cảm động trước những tình cảm mà những chiến sỹ danh dự đã dành cho Đoàn, cụ Bùi Thị Thọ đã xúc động nói: “Tôi năm nay đã 84 tuổi đời, 62 năm tuổi Đảng. Hiện nay mắt mờ, chân chậm, đi lại rất khó khăn, chẳng còn hy vọng gì nữa. Nhưng hôm nay là ngày thật đặc biệt: Lần đầu tiên được về Lăng viếng Bác Hồ. Đúng là cả đời mong ước, đến cuối đời tôi mới được toại nguyện”.

Sinh ra không được may mắn, nhưng bà Lê Thị Phượng, 61 tuổi ở phường An Biên, quận Lê Chân đã chia sẻ: “Chúng tôi cũng coi lời Bác căn dặn thương binh “tàn nhưng không phế” như là phương châm sống của những người khuyết tật. Mặc dù đôi chân từ thuở lọt lòng đã không lành lặn, không đi lại được. Nhưng tôi luôn cố gắng vươn lên bằng chính nghị lực của chính mình. Hiện nay tôi đang làm ở Hợp tác xã Đan len Hoa phượng đỏ của thành phố Hải Phòng. Thu nhập tuy không cao, nhưng cũng đủ để phục vụ trang trải cho cuộc sống, đủ để tự lập cho chính bản thân mình. Về viếng Bác hôm nay, là để chúng tôi thêm nghị lực sống cho ngày mai”.

Mặc dù đã có sự chia sẻ, giúp đỡ của các cấp, các ngành, sự chia sẻ, cảm thông của mọi người, nhưng những người khuyết tật còn biết bao điều khó khăn vất vả. Chị Nguyễn Tạ Thị Hồng Hạnh, Phó Trưởng ban vận động Hội người khuyết tật thành phố Hải Phòng cho biết: “Những người khuyết tật như chúng tôi thiệt thòi lắm. Công ăn, việc làm, đi lại, sinh hoạt đều gặp muôn vàn khó khăn. Nhưng hôm nay về viếng Bác, được cán bộ, chiến sỹ Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp đỡ thật tận tình, chu đáo, nâng giấc mỗi chúng tôi như những người thân ruột thịt của mình. Để cảm nhận được rằng cuộc sống quanh chúng tôi còn biết bao điều tốt đẹp”.

Theo thống kê tại Ban Quản lý Lăng, trong tổng số hơn 45 triệu lượt đồng bào, khách quốc tế về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh 37 năm qua, có rất nhiều các đồng chí thương binh nặng và người khuyết tật. Vào những dịp kỷ niệm Ngày sinh của Bác 19/5, Ngày Thương binh, Liệt sỹ 27/7 và Quốc khánh 2/9 hàng năm, số lượng đoàn thương binh nặng, người khuyết tật tăng lên nhiều. Đặc biệt, Đoàn đại biểu những người khuyết tật thuộc “Trung tâm Sống độc lập Hà Nội” đã nhiều lần vào Lăng viếng Bác Hồ. Những đồng chí thương binh nặng, người khuyết tật mỗi khi về Lăng viếng Bác, tham dự các sinh hoạt chính trị, văn hóa ở khu vực Lăng đều được giúp đỡ, được chăm sóc tận tình, chu đáo. Đó cũng là những việc làm thiết thực, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, giúp đỡ người khuyết tật cùng “hòa nhập” với cộng đồng./.

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn