Tag Archive | Thời sự

Bài nói tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ hai (21) (7-5-1958)

Hồi Bác còn đồng tuổi với các cháu ở đây thì Bác phải đi rửa bát hoặc làm nhiều công việc khác để lấy tiền mà đi học. Vì lúc đó chưa có Đảng, chưa có Hội thanh niên hoặc sinh viên, mà lúc đó nói đến yêu nước là thực dân Pháp nó chặt đầu. Còn bây giờ các cháu có thể phát triển hết khả nǎng của mình.

Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người.

Các cháu ít hay nhiều cũng có mang cái dấu vết của xã hội cũ, cái tư tưởng tiểu tư sản. Tư tưởng tiểu tư sản là cái gì? Nó là cá nhân chủ nghĩa. Cá nhân chủ nghĩa nó đẻ ra cái tư tưởng danh lợi, chỉ muốn làm ông này ông khác, bà này bà khác. Rồi tư tưởng danh lợi lại đẻ ra con nó, rồi con nó lại đẻ ra cháu nó… tức là hai cái khinh là: khinh lao động chân tay và khinh người lao động chân tay và hai cái sợ là: sợ khó nhọc và sợ khổ.

Muốn sửa chữa cá nhân chủ nghĩa thì khi làm bất kỳ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân đã. Ta có câu nói: “Có khó nhọc thì mình nên đi trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; làm việc gì mình cũng nghĩ đến lợi ích chung trước và lợi ích riêng sau. Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi:

Học để làm gì?

Học để phục vụ ai?

Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng để sửa chữa khuyết điểm của mình.

Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì cần phải có cái gì?

Cần có lao động, lao động trí óc và lao động chân tay. Và ta cần lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có vǎn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại.

Lao động trí óc mà không lao động chân tay, chỉ biết lý luận mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa. Vì vậy, cho nên các cháu trong lúc học lý luận cũng phải kết hợp với thực hành và tất cả các ngành khác đều phải: lý luận kết hợp với thực hành, học tập kết hợp với lao động.

Lao động trí óc phải kết hợp với lao động chân tay. Học lao động phải có quyết tâm; muốn có quyết tâm thì phải có tinh thần, phải có sáu cái yêu:

Yêu Tổ quốc: Yêu như thế nào? Yêu là phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu mạnh. Muốn cho Tổ quốc giàu mạnh thì phải ra sức lao động, ra sức tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Yêu nhân dân: Mình phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, biết chia sẻ những lo lắng, những vui buồn, những công tác nặng nhọc với nhân dân.

Yêu chủ nghĩa xã hội: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm.

Yêu lao động: Muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội thì phải yêu lao động, vì không có lao động thì chỉ là nói suông.

Yêu khoa học và kỷ luật: Bởi vì tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học và kỷ luật.

Thời đại chúng ta bây giờ là thời đại vệ tinh nhân tạo, nghĩa là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, thời đại xã hội chủ nghĩa, thời đại anh hùng; mỗi người lao động tốt đều có thể trở nên anh hùng (không phải là anh hùng cá nhân). Vậy mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng.

——————————-

Nói ngày 7-5-1958.
Sách Hồ Chủ tịch bàn về giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1962, tr.192-194.

(21) Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ hai: Họp từ ngày 5 đến ngày 7-5-1958, tại Hà Nội. Dự Đại hội có 243 đại biểu chính thức và 200 đại biểu dự thính thay mặt cho 4000 sinh viên các trường đại học trên miền Bắc. Đại hội đã kiểm điểm phong trào sinh viên Việt Nam trong 2 nǎm (1957-1958) về các mặt: học tập, tư tưởng, sinh hoạt và các hoạt động đoàn kết với sinh viên miền Nam và sinh viên thế giới. Đại hội đã thông qua Điều lệ của Hội liên hiệp sinh viên Việt Nam và phương hướng hoạt động của Hội. Trong buổi lễ bế mạc, Đại hội vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thǎm và nói chuyện. Tr.172.

cpv.org.vn

Trả lời những câu hỏi của cử tri Hà Nội (10-5-1958)

Hỏi: Cần phải thắt lưng buộc bụng để xây dựng chủ nghĩa xã hội – nói như thế có đúng không?

Đáp: Đúng. Xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như làm ruộng. Trước phải khó nhọc cày bừa, chân bùn tay lấm, làm cho lúa tốt, thì mới có gạo ǎn. Sau cách mạng thành công, nhân dân Liên Xô đã phải thắt lưng buộc bụng, phấn đấu xây dựng ngót 18 nǎm mới được sung sướng như ngày nay. Chúng ta có các nước anh em hết lòng giúp đỡ, nói chung đời sống đã được cải thiện bước đầu. Nhưng để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phấn đấu mấy nǎm mới đạt được kết quả mọi người áo ấm cơm no.

Hỏi: Phải chǎng trong xã hội xã hội chủ nghĩa ai không lao động cũng có ǎn? Lại có người nói rằng không lao động thì không được ǎn, vậy thì những người già yếu sẽ thế nào?

Đáp: Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chǎm nom.

Hỏi: Thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội là mấy nǎm?

Đáp: Trước kia cũng có người hỏi: “Trường kỳ kháng chiến là mấy nǎm?” Đảng và Chính phủ đã trả lời: Trường kỳ có thể là nǎm nǎm, mười nǎm, hoặc mười lǎm nǎm. Chúng ta đoàn kết quyết tâm kháng chiến, đến chín nǎm ta đã thắng lợi. Việt Nam ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, công cuộc đổi xã hội cũ thành xã hội mới gian nan, phức tạp hơn việc đánh giặc. Thời kỳ quá độ của ta chắc sẽ đòi hỏi ba, bốn kế hoạch dài hạn. Nếu nhân dân ta mọi người cố gắng, phấn khởi thi đua xây dựng, thì thời kỳ quá độ có thể rút ngắn hơn.

Hỏi: Tiến lên chủ nghĩa xã hội, thì giai cấp tư sản và tương lai của con cái nhà tư sản như thế nào?

Đáp: Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì giai cấp tư sản cũng được Đảng và Chính phủ giúp đỡ cải tạo, hoà mình trong nhân dân lao động, con em của các nhà tư sản cũng được đối đãi như thanh niên khác.

Hỏi: Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì tôn giáo có bị hạn chế không?

Đáp: Không. ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do. ở Việt Nam ta cũng vậy, ngày 30-10 nǎm kia, sau khi đi thǎm Trung Quốc, đoàn đại biểu công giáo Anh đã tuyên bố: “ở Trung Quốc tín ngưỡng hoàn toàn tự do. Đối với công giáo, chính quyền không có thành kiến gì hết”.

Hỏi: Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội có trở ngại gì đến công cuộc thống nhất nước nhà hay không?

Đáp: Không. Trái lại tiến lên chủ nghĩa xã hội, thì về mọi mặt chính trị, kinh tế, vǎn hoá, xã hội, miền Bắc đều sẽ hơn hẳn miền Nam. Điều đó càng khuyến khích và sẽ giúp mạnh hơn nữa đồng bào miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai để giành lại dân chủ và thống nhất. Tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Bắc càng thành hậu thuẫn vững mạnh cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình.

Hỏi : Phải chǎng kinh tế của phe xã hội chủ nghĩa mạnh hơn của phe đế quốc tư bản?

Đáp: Phải. Tốc độ phát triển kinh tế của phe xã hội chủ nghĩa ngày càng mạnh hơn. Đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa là Liên Xô. Đứng đầu phe đế quốc tư bản là nước Mỹ. Chúng ta hãy so sánh kinh tế của hai nước ấy thì rõ:

Sản xuất công nghiệp hai tháng đầu nǎm nay so với hai tháng đầu nǎm ngoái:

Liên Xô, tổng sản lượng công nghiệp tǎng 11%; nǎng suất lao động tǎng 7%.

Mỹ, sản xuất than giảm sút 20%; gang thép giảm sút 43%; xe hơi giảm sút 31%.

Liên Xô, không có kinh tế khủng hoảng, không có nạn thất nghiệp.

Mỹ, trong 30 nǎm (từ 1929 đến 1958) bị bốn lần kinh tế khủng hoảng. Thất nghiệp là một nạn thường xuyên ở Mỹ, gặp kinh tế khủng hoảng thì số công nhân thất nghiệp càng tǎng nhiều. Hiện nay ở Mỹ có nǎm triệu rưỡi công nhân hoàn toàn thất nghiệp. Đó là chưa kể mấy triệu công nhân nửa thất nghiệp, mỗi tuần chỉ có công việc làm mấy tiếng đồng hồ.

Tháng 12 nǎm 1957, tờ Nhật báo phố Uôn, cơ quan ngôn luận của đại tư bản Mỹ, viết: “Sự suy sút kinh tế đã lan tràn khắp cả nước Mỹ, không gì ngǎn chặn được”.

Tờ báo Người hướng dẫn khoa học công giáo (Mỹ) viết: “Kinh tế Mỹ suy sút một cách nhanh chóng không thể tưởng tượng được. Không ai biết bao giờ sẽ cải thiện được tình trạng ấy”.

Bản báo cáo của Uỷ ban kinh tế trong Quốc hội Mỹ viết: “Một phần nǎm tổng số người Mỹ rất cực khổ. Trong số này có 830 vạn gia đình và 620 vạn cá nhân, 28 triệu người bị tàn tật và không có sức lao động. ở miền Nam nước Mỹ có một triệu rưởi gia đình nông dân nghèo khổ không thể tưởng tượng”.

Tờ Tạp chí công nghiệp (tháng 5 nǎm 1958) viết: “So với trước Chiến tranh thế giới thứ hai, thì nǎm 1957, sản xuất công nghiệp của các nước xã hội chủ nghĩa tǎng bốn lần rưỡi; của các nước tư bản chỉ tǎng hai lần rưỡi”.

Mấy ví dụ trên đây đủ tỏ rõ kinh tế của phe nào mạnh hơn.

Về mặt khoa học kỹ thuật, ai cũng biết rằng Liên Xô thành công trước Mỹ trong việc phóng vệ tinh nhân tạo; và vệ tinh thứ hai của Liên Xô to và nặng 508 cân 300, vệ tinh Mỹ chỉ nhỏ bằng quả bưởi và chỉ nặng 13 cân 365.

Các báo Mỹ đã phải nhận rằng trong mười nǎm (từ 1950 đến 1960), Liên Xô sẽ đào tạo được 120 vạn cán bộ khoa học kỹ thuật, Mỹ chỉ đào tạo được 90 vạn người.

Mỗi nǎm Liên Xô đào tạo được 15 vạn công trình sư, Mỹ chỉ đào tạo được 7 vạn người.

Hỏi: Các nước xã hội chủ nghĩa có đoàn kết nhất trí không? Các nước anh em giúp ta và Mỹ giúp bọn Ngô Đình Diệm khác nhau ở chỗ nào?

Đáp: Các nước xã hội chủ nghĩa rất đoàn kết nhất trí. Hai bản Tuyên ngôn ở Hội nghị Mátxcơva cuối nǎm ngoái đã chứng tỏ rõ rệt điều đó. Các nước anh em, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc, giúp ta máy móc, kỹ thuật, chuyên gia… để ta xây dựng và phát triển kinh tế. Việc giúp đỡ ấy là hoàn toàn vô tư. Các nước anh em chỉ đặt một điều kiện: Chúng ta phải cố gắng học nhanh, làm nhanh để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Còn “viện trợ” Mỹ thế nào thì tờ báo Nhật Bản đã trả lời câu hỏi ấy như sau: “Viện trợ Mỹ nhằm mục đích bán hàng hoá thừa ế, lấy tiền lãi nặng, bán vũ khí và kèm theo những điều kiện chính trị và quân sự có lợi cho Mỹ”. Ví dụ: từ tháng 7 nǎm 1955 đến tháng 7 nǎm 1956, Mỹ giúp miền Nam và Miên, Lào 379 triệu đôla, trong số đó 330 triệu là bằng vũ khí.

Mỹ cho Ai Cập vay 400 triệu đôla, lãi mỗi nǎm 4%, trong 20 nǎm phải trả xong và trả bằng tiền mặt.

Liên Xô cho Ai Cập vay 600 triệu rúp, lãi mỗi nǎm 2%, hạn trả là 30 nǎm và có thể trả bằng bông hoặc bằng gạo mà Ai Cập có dư dật.

Theo Hãng thông tin ở Mỹ (7 tháng 5 nǎm 1958), Mỹ cho 42 nước phe Mỹ vay tiền, nhằm: một là để có công việc làm cho 60 vạn công nhân Mỹ đang thất nghiệp; hai là để nắm vững 250 cǎn cứ quân sự của Mỹ ở các nước ấy; ba là để duy trì nǎm triệu binh sĩ của các nước ấy đặng làm hậu thuẫn cho chính sách gây chiến của Mỹ.

Ngay ở miền Nam, “viện trợ” Mỹ mà phải chi tiêu 70% ngân sách vào quân sự.

Với những sự thật đó, đồng bào ta có thể nhận biết ai là vô tư, ai là vụ lợi.

——————————-

Trả lời ngày 10-5-1958.
Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1989, t.8, tr 130-135.
cpv.org.vn

Nói chuyện với cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết ở Hà Đông (10-5-1958)

Cán bộ và đồng bào miền Nam ra Bắc tập kết, hẳn ai cũng nhớ tới quê hương. Tình cảm ấy rất chính đáng. Nhưng mỗi người chúng ta có hai gia đình: gia đình riêng, nhỏ và đại gia đình là Tổ quốc. Cuộc đấu tranh giành thống nhất đất nước hiện nay của đồng bào miền Nam và miền Bắc cũng là để cho gia đình chúng ta sum họp. Muốn đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, phải ra sức thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm, xây dựng miền Bắc vững mạnh làm nền tảng cho cuộc đấu tranh chính trị, bằng đường lối hoà bình. Trong kháng chiến, có người đã hỏi: “Kháng chiến bao giờ thắng lợi? Trường kỳ đến mấy tháng, đến mấy nǎm?”. Vào lúc đó, quân địch thì có máy bay, tàu chiến, có súng lớn, xe tǎng, nhân dân ta chỉ có gậy tầm vông, con dao, cái thuổng, nhưng Đảng, Chính phủ ta nói rằng: “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”. Quả nhiên, cuộc kháng chiến của dân tộc ta đã thành công rực rỡ. Ngày nay, Đảng, Chính phủ ta lại nói rằng: đấu tranh giành thống nhất đất nước là cuộc đấu tranh lâu dài, gay go, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi.

Khóa họp Quốc hội lần thứ tám vừa qua đã quyết định xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

Anh chị em cán bộ phải thân ái đoàn kết với nhau, tuỳ khả nǎng

mình giúp đỡ đoàn kết với đồng bào địa phương, nhận rõ lao động, nhất là lao động chân tay là vẻ vang, hǎng hái tǎng gia sản xuất, thi đua tiết kiệm, chú ý học chính trị, vǎn hoá.

—————————-

Nói ngày 10-5-1958.
Báo Nhân dân, số 1520, ngày 11-5-1958.
cpv.org.vn

Thư chúc mừng Đại hội lần thứ VII Đảng Cộng sản Bungari (4-6-1958)

Kính gửi Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Bungari,

Thay mặt giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam xin gửi tới Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Bungari lời chào mừng thân ái và nhiệt liệt nhất.

Được rèn luyện lâu nǎm trong đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Bungari đã luôn luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa Mác – Lênin, đã giữ vững truyền thống anh dũng của đồng chí Đimitơrốp, đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân xây dựng và củng cố nước Cộng hoà Nhân dân Bungari thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh và nâng cao địa vị của mình trên trường quốc tế, góp phần tích cực trong cuộc đấu tranh gìn giữ hoà bình thế giới.

Nhân dân Việt Nam rất khâm phục tinh thần đấu tranh anh dũng và sức lao động sáng tạo của nhân dân Bungari.

Những thành tích của nhân dân Bungari trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, càng chứng tỏ thêm sức mạnh to lớn và tính chất ưu việt của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Đó là một sự cổ vũ mạnh mẽ đối với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Nhân dân, Chính phủ và Đảng chúng tôi rất biết ơn sự giúp đỡ của nhân dân, Chính phủ và Đảng Cộng sản Bungari.

Dưới ánh sáng nghị quyết của Hội nghị các đảng cộng sản và đảng công nhân trên thế giới họp ở Mátxcơva tháng 11 nǎm 1957, dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Bungari nhất định sẽ thu được nhiều kết quả tốt đẹp.

Chúng tôi tin chắc rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân Bungari sẽ thu được nhiều thắng lợi lớn hơn nữa trong việc thực hiện kế hoạch 5 nǎm lần thứ ba, nâng cao không ngừng mức sống vật chất và vǎn hoá của nhân dân Bungari.

Các đồng chí thân mến,

Đảng Lao động Việt Nam và nhân dân Việt Nam nhiệt liệt chúc Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Bungari thành công, nhiệt liệt chúc tình đoàn kết anh em theo tinh thần quốc tế vô sản giữa hai Đảng và hai nước chúng ta ngày càng bền vững.

Chủ nghĩa Mác – Lênin muôn nǎm!

Tình đoàn kết không gì lay chuyển nổi giữa các đảng cộng sản và đảng công nhân trên thế giới muôn nǎm!

Phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh đứng đầu là Liên Xô muôn nǎm!

Đảng Cộng sản Bungari muôn nǎm!

Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam
HỒ CHÍ MINH

—————————–

Báo Nhân dân, số 1544, ngày 4-6-1958.
cpv.org.vn

Nói chuyện với cán bộ tỉnh Hưng Yên (3-7-1958)

A- NHẬN ĐỊNH RÕ THÀNH TÍCH VỤ CHIÊM

Đầu vụ chiêm nǎm nay hạn nặng. Nặng nhất ở Hưng Yên. Cả tỉnh chỉ có độ 8.000 mẫu đủ nước cấy.

Do đồng bào và cán bộ cố gắng nhiều, khơi vét hơn 500 cây số mương cừ, đào hơn 1.300 cái giếng, ra sức bón phân, tát nước, v.v..

Kết quả đã cấy hơn 65.000 mẫu lúa (nǎm 1954 chỉ cấy được 35.363 mẫu), trồng 25.800 mẫu ngô và hơn 9.270 mẫu khoai.

Thu hoạch 19.812 tấn thóc, 13.590 tấn ngô và 3.950 tấn khoai.

Xã Hoàn Long, đầu vụ chỉ bảy mẫu có chút ít nước. Nhờ cố gắng tát nước mà đã cấy được172 mẫu, thu hoạch hơn 68 tấn. Mấy nǎm trước chỉ cấy được 50 mẫu và thu hoạch độ 20 tấn thóc, có 16 xã khác cũng vượt mức kế hoạch.

Như thế là chống hạn đã có kết quả tốt và trong hoàn cảnh hạn hán, có thể nói vụ chiêm đã thắng lợi.

Có người nói: “Chống hạn đã tốn nhiều công phu, nhưng vụ chiêm thu hoạch vẫn kém, như thế là thất bại”.

Nói như vậy là vì tư tưởng bi quan, tiêu cực, không đúng! Nếu không ra sức chống hạn, thì thu hoạch chắc kém hơn nữa. Trái lại, nếu chống hạn tốt hơn nữa, thì thu hoạch chắc nhiều hơn nữa.

Đồng bào ta phải đánh tan những tư tưởng tiêu cực, bi quan ấy.

B- NHỮNG KHUYẾT ĐIỂM CẦN PHẢI SỬA CHỮA

Phải kiên quyết nhận rằng chống hạn vụ chiêm đã thắng lợi. Nhưng thắng lợi nhỏ, vì ta còn nhiều khuyết điểm.

– Khuyết điểm của cán bộ:

Lúc đầu thiếu quyết tâm, thiếu tích cực, thiếu tin tưởng vào lực lượng to lớn của quần chúng. Chưa biết biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của cán bộ và nhân dân.

Lãnh đạo chậm chạp, không kịp thời, thiếu liên tục, không đi sâu, đi sát, không toàn diện. Vì vậy mà khi có nước thì thiếu mạ, khi có mạ thì thiếu phân… Coi nhẹ hoa màu. Khi bắt đầu có sâu, không động viên nhân dân bắt sâu…

Một số đảng viên và đoàn viên thanh niên chưa làm tròn nhiệm vụ gương mẫu.

– Khuyết điểm của đồng bào nông dân:

Còn có tính ỷ lại, sợ khó. Chờ trời mưa, chờ máy bơm. Không ra sức tát nước và bón phân. Không ra sức cải tiến kỹ thuật.

Nói tóm lại: đồng bào nông dân còn hay ỷ lại và thiếu ý thức mình là người chủ của nông thôn.

C- NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ TRANH THỦ VỤ MÙA THẮNG LỢI

Trước hết, tư tưởng mọi người phải thông, phải thật thông rằng “Nhân định thắng thiên”. Để tranh thủ vụ mùa thắng lợi, chúng ta phải sửa chữa những khuyết điểm và phát triển những ưu điểm nói trên. Chúng ta phải làm những việc sau đây:

1. Nước: Hiện nay vụ mùa đến, nhưng vẫn hạn. Chúng ta phải quyết tâm khơi thêm mương, đào thêm giếng, gánh nước, tát nước. Phải quyết tâm làm đủ mọi cách để có đủ nước tưới ruộng. Chúng ta phải thực hiện “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa”.

Phải kiên quyết động viên và dựa vào lực lượng vô cùng vô tận của quần chúng để làm cho có nước.

Toàn dân đoàn kết một lòng,
Đập đá thì núi vỡ, đào sông thì nước về.

2. Phân: Bón mỗi mẫu 50 gánh phân, như thế ít quá. Cần phải cố gắng bón nhiều hơn nữa. Tục ngữ nói: “Một gánh phân cân một đấu thóc”. Bón phân càng nhiều, thu hoạch càng tǎng.

Nông dân Trung Quốc bón phân kịp thời, nhiều lần và mỗi mẫu ít là 450 gánh, nhiều là 650 gánh. Có nơi như tỉnh Tứ Xuyên, họ bón mỗi mẫu đến 2.000 gánh. Vì vậy, nǎm nay Trung Quốc nhiều nơi bị hạn to, nhưng vẫn được mùa.

3. Cày sâu: Tục ngữ ta có câu: “Cày sâu cuốc bẫm, thóc đầy lẫm, khoai đầy bồ”.

4. Cấy dày.

5. Chọn giống tốt : là một điều rất quan trọng. Giống tốt thì lúa tốt, lúa tốt thì được mùa. Điều đó rất dễ hiểu. “Lúa tốt vì giống, lúa sống vì phân”.

6. Kỹ thuật: Ta cần phải cải tiến kỹ thuật cày, cấy, làm cỏ, tát nước, v.v.. Chúng ta sống ở thời đại vệ tinh, mà làm ruộng vẫn giữ cách thức đời xửa đời xưa, như thế là không hợp thời, khó tiến bộ.

Nông dân Trung Quốc tự chế tạo ra nhiều thứ máy rất thô sơ, giản đơn để phục vụ nông nghiệp, có kết quả rất tốt. Đồng bào nông dân ta cũng nên làm như vậy. Kinh nghiệm cho biết rằng: Với mọi điều kiện đều như nhau, nhưng đám ruộng A dùng kỹ thuật tiên tiến thì thu hoạch sớm hơn và nhiều hơn đám ruộng B không cải tiến kỹ thuật.

7. Chống hạn, phòng lụt: Trời thường có những biến cố bất thình lình. Cho nên trong lúc ra sức chống hạn, chúng ta cũng phải đề phòng lụt. Phải thường xuyên kiểm soát đê và kè. Phải tổ chức chu đáo lực lượng canh gác. Phải chuẩn bị sẵn sàng dụng cụ, nguyên liệu, vật liệu để đối phó kịp thời nếu có lụt. Phân công phụ trách phải rất rành mạch, nghiêm túc.

8. Phát triển và củng cố lực lượng: Để thực hiện tốt những công việc nói trên, cần phải có những đội quân chủ lực.

Quân chủ lực của Trung Quốc là hợp tác xã nông nghiệp. 98% nông dân Trung Quốc đã vào hợp tác xã.

Chủ lực quân của ta hiện nay là tổ đổi công và hợp tác xã nông nghiệp.

Tỉnh Hưng Yên hiện nay có hơn 5.800 tổ đổi công và 3 hợp tác xã. Đó là những đội quân mạnh mẽ để lôi cuốn nông dân cả tỉnh tranh đấu cho vụ mùa thắng lợi. Chúng ta cần phải phát triển và củng cố lực lượng ấy, làm cho họ hǎng hái hoạt động thật sự. Các đảng viên và đoàn viên thanh niên phải tham gia tổ đổi công hoặc hợp tác xã; các đồng chí bộ đội cần phải góp phần xứng đáng vào công cuộc phát triển nông nghiệp, “thực túc thì binh cường” và phải cố gắng làm tròn nhiệm vụ của người cách mạng, của đội tiên phong.

9. Đoàn kết và thi đua: Anh em Trung Quốc sản xuất mỗi mẫu tây độ 90 tạ trở lên.

Xã Hiệp An (Hải Dương) thách các xã khác thi đua sản xuất mỗi mẫu 36 tạ.

Đồng bào và cán bộ Hưng Yên đoàn kết một lòng, ra sức phấn đấu, thi đua và giúp đỡ lẫn nhau giữa tổ này với tổ khác, giữa xã và huyện này với xã và huyện khác. Nếu chỉ lấy mức bình quân là mỗi mẫu tây thu hoạch độ 3 tấn thì cả tỉnh sẽ thu hoạch hơn 166.000 tấn thóc (không kể hoa màu). Như vậy, thì chẳng những quá kế hoạch đã định cho vụ mùa và bù số thất thu trong vụ chiêm, mà còn trội được nhiều thóc.

Đồng bào và cán bộ toàn tỉnh quyết tâm làm, thì sẽ làm được.

10. Lãnh đạo: Nông dân ta chí khí rất anh dũng, kinh nghiệm rất nhiều, lực lượng rất to. Điều đó đã tỏ rõ trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến. Nếu lãnh đạo tốt, thì khó khǎn gì họ cũng khắc phục được, việc gì to lớn mấy họ cũng làm được.

Vậy cán bộ phải lãnh đạo một cách thiết thực, chu đáo, liên tục, toàn diện.

Để lãnh đạo tốt, các đồng chí bí thư và uỷ viên, các đồng chí Chủ tịch các cấp từ tỉnh đến xã cần phải thật sự tham gia vào một tổ đổi công hoặc một hợp tác xã nông nghiệp, phải lao động thật sự để rút kinh nghiệm và phổ biến kinh nghiệm. Cần tổ chức tham quan những xã điển hình tốt, để học hỏi lẫn nhau.

Đảng viên, đoàn viên, các chiến sĩ thi đua nông nghiệp, chị em phụ nữ phải làm đầu tàu.

Với truyền thống anh dũng và tinh thần hǎng hái sẵn có, chắc rằng đồng bào và cán bộ Hưng Yên quyết tranh thủ thực hiện cho kỳ được vụ mùa thắng lợi, đồng thời đưa tỉnh nhà lên địa vị vẻ vang là một tỉnh gương mẫu trong sự nghiệp đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội và góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

——————————

Nói ngày 3-7-1958.
Báo Nhân dân, số 1575, ngày 5-7-1958.
cpv.org.vn

Lời chào mừng Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ hai (23) (7-7-1958)

Thưa các đồng chí,

Tôi thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ nhiệt liệt chào mừng các anh hùng và chiến sĩ và thân ái gửi lời hỏi thǎm những chiến sĩ và những anh chị em lao động chân tay và trí óc các ngành và các nơi đang hǎng hái tham gia thi đua yêu nước.

– Ở Đại hội lần thứ nhất có bảy anh hùng, trong đó có bốn Anh hùng quân đội, và 150 Chiến sĩ thi đua. Đại hội lần này, chúng ta có 26 Anh hùng lao động và 69 Anh hùng quân đội và 446 chiến sĩ thay mặt cho hơn 42.700 Chiến sĩ thi đua.

Thế là rất tốt. Con số đó chứng tỏ sự tiến bộ không ngừng của nhân dân ta, quân đội ta, chế độ ta.

– Ở Đại hội này, chúng ta có anh hùng và chiến sĩ lao động chân tay và trí óc đủ các ngành và các dân tộc anh em.

Thế là rất tốt. Nó chứng tỏ sự đoàn kết chặt chẽ và sự cố gắng toàn diện của nhân dân lao động ta.

– Ở Đại hội này, trong số 26 Anh hùng lao động, có 5 phụ nữ.

Thế là rất tốt. Nó chứng tỏ sự cố gắng và tiến bộ của phụ nữ ta và chứng tỏ dưới chế độ ta, nam nữ thật sự bình quyền.

– Ở Đại hội này có 6 Anh hùng và nhiều chiến sĩ là đồng bào miền Nam tập kết.

Thế là rất tốt. Nó chứng tỏ rằng đồng bào và cán bộ miền Nam tập kết ở đây đang ra sức góp phần to lớn trong công cuộc xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững chắc cho sự nghiệp thống nhất nước nhà. Điều này sẽ có ảnh hưởng rất tốt đến đồng bào ta ở miền Nam.

– Trong hàng ngũ vẻ vang các Chiến sĩ thi đua, có nhiều đồng chí bộ đội phục viên, thương binh và gia đình liệt sĩ.

Thế là rất tốt. Nó chứng tỏ rằng anh em thương binh và bộ đội phục viên đã tiếp tục và phát triển truyền thống anh dũng trong thời kỳ kháng chiến vào trong công cuộc xây dựng hoà bình và các gia đình liệt sĩ cũng cố gắng để góp phần vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

– Ở Đại hội này lại có một Anh hùng và nhiều chiến sĩ là người dân các nước anh em lao động ở nước ta.

Thế là rất tốt. Nó chứng tỏ tinh thần quốc tế cao cả của giai cấp lao động.

*

*     *

Dưới chế độ tư bản, thực dân và phong kiến quyết không thể có phong trào thi đua yêu nước, vì giai cấp lao động không dại gì mà ra sức thi đua làm giàu thêm cho bọn chủ để rồi lại bị chúng áp bức bóc lột thêm.

Chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ mà nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua.

Phong trào thi đua yêu nước ở ta ngày càng phát triển vì nhân dân ta đã làm chủ nước nhà, vì nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một thành viên trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa, vì ta được sự giúp đỡ vô tư của các nước anh em, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc.

Về thi đua yêu nước, trong khuôn khổ và khả nǎng của chúng ta, chúng ta phải học tập phong trào thi đua của Trung Quốc, cố gắng tiến kịp Trung Quốc, rồi cố gắng tiến kịp Liên Xô.

Hiện nay, ở Liên Xô hầu hết việc làm công nghiệp và nông nghiệp đều làm bằng máy. Ở Trung Quốc thì vừa phát triển máy móc, vừa tận dụng sức người. Vì vậy, tôi muốn nêu lên vài kinh nghiệm thi đua ở Trung Quốc để chúng ta nghiên cứu, học tập.

Ở Trung Quốc, tất cả các ngành kinh tế và vǎn hoá đều đang hǎng hái thi đua và đã thực hiện khẩu hiệu “nhiều, nhanh, tốt, rẻ”. Kế hoạch sản xuất công nghiệp do Chính phủ giao xuống, công nhân đều hoàn thành gấp rưỡi, gấp đôi, mà không xin thêm máy, thêm tiền, thêm người. Nhiều xí nghiệp còn giảm bớt số người chuyển sang xí nghiệp mới.

Trong phong trào thi đua, nhiều chiến sĩ đã cải tiến kỹ thuật và tǎng nǎng suất đến mức xưa nay chưa từng có.

Có những tiến bộ nhảy vọt đó, một mặt là vì mọi người lao động đều tư tưởng thông suốt, hǎng hái thi đua; một mặt là vì sự lãnh đạo thiết thực và toàn diện.

Ở xí nghiệp thì các cán bộ lãnh đạo của chi bộ, của đoàn thanh niên, của công đoàn và giám đốc đều trực tiếp tham gia sản xuất. Ở nông thôn thì các đồng chí đó phải tự tay làm ruộng thí nghiệm và trực tiếp tham gia lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp.
Như vậy, cán bộ vừa lãnh đạo chính trị, vừa lãnh đạo sản xuất một cách chặt chẽ. Cán bộ và quần chúng hoà thành một khối cho nên mọi vấn đề đều giải quyết tốt và nhanh.

Đó là tóm tắt những kinh nghiệm quý báu mà chúng ta cần học tập và áp dụng.

*

*     *

Anh hùng, chiến sĩ thi đua đã là những người tiên phong trong sản xuất, mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng. Họ đặt lợi ích chung của dân tộc trên lợi ích riêng của cá nhân. Họ toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân chứ không phải nửa tâm nửa ý. Họ không sợ khó nhọc, ra sức vượt mọi khó khǎn để hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho họ, chứ họ không suy bì hơn thiệt của cá nhân, không ganh tị về địa vị và hưởng thụ. Họ không giấu nghề, không dìm những anh em chung quanh mình, họ giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ. Họ không tự kiêu, tự mãn, tự tư tự lợi.

Đó là những đức tính cách mạng mà chúng ta cần phải học tập các anh hùng, chiến sĩ thi đua.

Các anh hùng, chiến sĩ thi đua thì cần nhận rõ rằng: Thành tích là thành tích chung của tập thể. Tách rời tập thể thì dù tài giỏi mấy, một cá nhân cũng không làm được gì. Cho nên càng có thành tích, thì càng phải cố gắng, càng phải khiêm tốn. Tuyệt đối chớ tự mãn, tự túc. Vì vậy, các anh hùng, chiến sĩ cần phải luôn luôn cố gắng và khiêm tốn.

Các anh hùng và chiến sĩ thi đua cần phải luôn luôn dắt dìu, giúp đỡ những người chung quanh mình cùng tiến bộ. Mọi người đều phải cố gắng tiến kịp các anh hùng, chiến sĩ; anh hùng, chiến sĩ thì cần tiến mãi không ngừng. Như vậy, thì Đại hội lần sau chúng ta sẽ có

hàng trǎm anh hùng, hàng chục vạn chiến sĩ. Như vậy thì kế hoạch Nhà nước nǎm nay cũng như kế hoạch 3 nǎm chắc chắn sẽ hoàn thành và hoàn thành vượt mức. Như vậy, đời sống của nhân dân ta chắc chắn sẽ cải thiện hơn nữa. Như vậy, chúng ta sẽ vững bước tiến dần lên chủ nghĩa xã hội và nhất định thắng lợi trong sự nghiệp thống nhất nước nhà.

—————————-

Đọc ngày 7-7-1958.
Báo Nhân dân, số 1578, ngày 8-7-1958.

(23) Đại hội liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua công, nông, binh toàn quốc lần thứ hai: Họp từ ngày 7 đến ngày 8-7-1958 tại Hà Nội. Dự Đại hội có 456 chiến sĩ thi đua và đại diện của 76 đơn vị thi đua tập thể trong cả nước. Đại hội đã biểu dương thành tích thi đua yêu nước của các anh hùng, chiến sĩ thi đua và của toàn dân ta trong 3 nǎm khôi phục kinh tế (1955-1958). Đại hội đề ra những chủ trương mới nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất nǎm 1958, xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới dự và tham gia Đoàn Chủ tịch của Đại hội.Tr.197.

cpv.org.vn

Chuyện kể của người phi công 3 lần gặp Bác

(Chinhphu.vn) – Có lẽ trong cuộc đời binh nghiệp của mình, Thiếu tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Ngọc Lan không ngờ rằng có ngày ông sẽ trở thành phi công lái máy bay Mig và 3 lần được gặp Bác Hồ.

Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan thời trẻ

 

Sinh năm 1934, tại xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, một địa phương có truyền thống cách mạng lâu đời, cậu bé Phạm Ngọc Lan sớm phải rời bỏ mái trường và đi theo cách mạng khi mới ở cái tuổi 14.

Năm 1948, Phạm Ngọc Lan được làm Liên lạc viên cho Ty Công an tỉnh Đắc Lắc. Tới năm 1952, ông nhập ngũ và được biên chế vào đại đội 602, Tiểu đoàn 30, Trung đoàn 96, Sư đoàn 305, chiến đấu ở các tỉnh miền Trung.

Sau hiệp định Giơnevơ, Phạm Ngọc Lan và nhiều đồng chí khác tập kết ra Bắc. Tới năm 1956, nhờ những thành tích chiến đấu của mình (bắt được 6 lính ngụy và 1 lính Pháp) ông đã được cấp trên chọn đi học quân sự ở nước ngoài.

Người cựu phi công nhớ lại: “Lúc đầu, giấy nguyện vọng của tôi là được đi học lái xe tăng, nhưng rồi bạn bè đi hết chỉ còn tôi và vài đồng chí là vẫn còn ở lại. Cứ tưởng mình đã trượt nhưng không ngờ, một ngày Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho người đến và đọc danh sách những người đi học lái máy bay, trong đó có tôi. Ấy là điều bất ngờ thứ nhất làm thay đổi cuộc đời tôi”.

Sau 8 năm rèn luyện, ông và nhiều đồng đội khác đã hoàn thành chương trình học, có thể lái được nhiều loại máy bay khác như Mig 15, Mig 17, Mig 21… Tới 5/8/1964, xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ, ngày 6/8 ông cùng những đồng đội đã lái chiếc Mig 17 về nước để chuẩn bị vào cuộc chiến đấu đầu tiên.

Phi công Phạm Ngọc Lan cùng với đồng đội bước vào hàng trăm trận chiến đấu lập được nhiều thành tích và nhiều lần vinh dự được gặp Bác Hồ. Tới tận bây giờ khi đã ở cái tuổi tóc bạc da mồi nhưng ông vẫn nhớ như in cảm xúc khi được gặp Bác.

Lần thứ nhất gặp Bác, là sau hai tháng ông và các đồng đội trở về nước, khi nghe tin Bác đã tới thăm, tất cả đều tập trung từ cổng để đón Bác. Thế nhưng, thay vì đi cổng chính thì Bác lại đi từ cổng sau vào nhà ăn để xem xét công tác hậu cần cho anh em phi công, khiến cho ai cũng bất ngờ và cảm động.

Khi ấy, Phạm Ngọc Lan may mắn được đi cạnh Bác, ông được bác gọi là “hạt giống đỏ” của miền Nam. Lời nói của Bác như một sức mạnh trực tiếp để cho ông và những người đồng đội của mình làm nên chiến thắng giòn giã trong trận chiến đấu đầu tiên của mình cũng là của không quân Việt Nam.

Đó là vào ngày 3/4/1965, Đế quốc Mỹ chính thức sử dụng máy bay ném bom bắn phá miền Bắc, ông được lệnh dẫn đầu cùng với 3 người đồng đội khác là Phan Văn Túc, Hồ Văn Quỳ và Trần Minh Phương được lệnh bay vào bảo vệ cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa).

Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan tại nhà riêng – Ảnh VGP/Sao Chi

 

Bằng tinh thần quyết tâm cao trận đầu tiên, 4 người lính đã phối hợp ăn ý sáng tạo với dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng đã bắn rơi được hai chiếc F8U.

Với thành tích của mình, tháng 3/1966, Phạm Ngọc Lan, Phi công Trần Hanh và cô dân quân Nguyễn Thị Hằng (Thanh Hóa) sau này là Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội được lên gặp Bác Hồ để báo cáo chiến công.

Lúc bấy giờ ông và hai người đồng đội đều đã chuẩn bị đầy đủ hết tinh thần khi gặp Bác, thậm chí đã vài lần tổng duyệt trước gương từ cách ăn nói, đi đứng và báo cáo với Bác. Ấy nhưng mọi thứ lại không như những gì mà họ sắp sẵn trước.

Khi tất cả đã ngồi xung quanh, Bác mới hỏi:

– Chú Lan đâu?

– Thưa Bác, cháu là Lan!

– Cháu là phi công đánh thắng trận đầu phải không?

– Dạ vâng!

– Thế không quân ta có đánh thắng tàu bay Mỹ được không?

– Có thể chiến thắng tàu bay Mỹ nhưng rất khó khăn.

– Trận đầu đánh thắng, Bác khen các cháu dũng cảm, sáng tạo. Bác biết rồi, nhưng không được chủ quan, chúng ta phải chuẩn bị tốt hơn nữa để đánh lâu dài vì Mỹ có tiềm lực lại xảo quyệt.

Ngay sau đó Bác quay sang hỏi cô Nguyễn Thị Hằng: Dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng rất dũng cảm phối hợp trên trời, dưới đất rất đẹp. Mọi người đều phải giữ sức khỏe, bay giỏi, chiến đấu giỏi để có nhiều lần gặp Bác hơn nữa…

Trong những cuộc gặp, Bác đã biết trước từng hoàn cảnh, chiến công của mỗi người. Bác thường quan tâm tới cuộc sống đời thường, hoàn cảnh gia đình và tâm nguyện của mỗi người muốn đề đạt lên Bác. Điều ấy làm ông Lan và những người đồng chí của ông nhớ mãi.

Đầu tháng 7/1968, Bác lại về thăm đơn vị của ông. Bác đã đi thăm và động viên tất cả các cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là các trắc thủ thông tin, lực lượng thợ máy và phi công cố gắng chiến đấu giỏi, tiết kiệm đạn duợc, khí tài hơn nữa… Bác đã nói một câu hóm hỉnh: “Chúc cho bộ đội không quân ta ngày càng có nhiều “Cốc” hơn nữa (Câu nói hóm hỉnh ám chỉ tên anh hùng Phi công Nguyễn Văn Cốc và “cốc” cũng có nghĩa là cụng ly chiến thắng).

Nhưng có lẽ điều mà Thiếu tướng Lan tiếc mãi là trong lần gặp thứ 4 ông không thể gặp Bác trước khi Bác mãi đi xa. Khi ấy, ông đang chiến đấu ở khu 4 và bị sốt rét và phải ở lại chữa bệnh. Khi có tin Bác muốn gặp một số anh em phi công trong đó có Phạm Ngọc Lan. Ông đã bay trở về đơn vị sau trận chiến đấu nhưng cũng không kịp gặp Bác.

Dù vậy, trong cuộc gặp ấy, Bác có động viên vắng mặt và gửi hỏi thăm tới ông: “Vì chiến đấu không ra được, cháu Lan giữ gìn sức khỏe, chiến đấu lâu dài”.

Để đáp lại niềm tin yêu và những lời động viên của Bác, Phạm Ngọc Lan đã trở thành người Biên đội trưởng dũng cảm, sáng tạo chỉ huy các biên đội bay chiến đấu lập nên những chiến công tập thể.

Phi công Phạm Ngọc Lan đã được phong tặng Anh hùng LLVTND năm 2000, được trao tặng huy hiệu Bác Hồ năm 1966 và gần 20 huân huy chương chiến công các loại.

Là một người đánh trận mở màn cho không quân Việt Nam năm 1965, Phạm Ngọc Lan còn là một trong những người tổ chức cho Phi đội Quyết Thắng dùng máy bay A37 của địch ném bom vào Sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/4/1975.

Cả cuộc đời đi theo cách mạng, Thiếu tướng, Phi công Phạm Ngọc Lan luôn nhớ tới những lời động viên và căn dặn của Bác Hồ. Cũng có lẽ, điều quý giá nhất trong cuộc đời người cựu phi công ấy chính là kí ức về những năm tháng hào hùng của tuổi trẻ. Phạm Ngọc Lan nhớ mãi những dịp gặp Bác và huy hiệu Bác Hồ trao tặng mà ông vẫn nâng niu trân trọng cho tới tận bây giờ.

Sao Chi
chinhphu.vn

Nói chuyện tại Hội nghị sản xuất tỉnh Sơn Tây (8-7-1958)

Hôm nay, Bác thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ về nói chuyện với các cô, các chú về vấn đề phải sản xuất vụ mùa thắng lợi.

Vụ chiêm, vì sao Sơn Tây vượt mức diện tích, lúa tốt, thu hoạch lại không đúng mức? Vì cán bộ tỉnh, huyện, xã đều chủ quan. Lúc sâu phá lúa không biết, đến lúc biết lại không ra sức động viên diệt sâu.

Đây là bài học mà cán bộ tỉnh, huyện, xã đều phải ghi nhớ.

Vì chủ quan mà thu hoạch kém. Vì thu hoạch kém mà đi đến bi quan tiêu cực. Như vậy là không đúng.

Muốn làm vụ mùa thắng lợi, trước hết phải đánh tan tư tưởng bi quan, tiêu cực, phải quyết làm cho kỳ được, phải tin vào lực lượng nhân dân, tin tưởng vào chính sách của Đảng, lãnh đạo phải đi sâu, đi sát, toàn diện. Lãnh đạo nghề nông thì từ trước khi gieo mạ, phải lãnh đạo, đến lúc lúa và khoai vào bồ, lãnh đạo mới kết thúc. Lúa tốt, lúa chín mà lãnh đạo gặt hái không kịp thời, mưa xuống sẽ hỏng lúa. Lãnh đạo phải liên tục, toàn diện. Khi gieo mạ, phải lãnh đạo; bón phân, phải lãnh đạo; làm cỏ, phải lãnh đạo; gặt cũng phải lãnh đạo cho đến khi thóc đem về nhà. Thóc về nhà, phải nghĩ đến chọn giống cho mùa sau.

Phải đánh tan tư tưởng bi quan, tiêu cực và chủ quan. Phải quyết tâm làm sao cho vụ mùa thắng lợi. Phải bắt sâu, làm mạ để đủ cấy, phải phòng lụt, chống lụt, phòng hạn, chống hạn, phải làm thêm

phân bón, phải đi sát xuống các tổ đổi công để lãnh đạo.

Bác vừa đi thǎm nhân dân bắt sâu. Vì có sâu mà có hai tư tưởng sai lầm: một là tư tưởng cúng bái thì hết sâu, hai là thấy sâu nhiều, sợ bắt không hết, đấy là tư tưởng bi quan, tiêu cực. Ra sức bắt thì sâu phải hết.

Phải động viên nhân dân ra bắt sâu cho kỳ hết. Thực dân Pháp so với con sâu thì đứa nào dữ hơn? Thực dân pháp dữ hơn mà ta vẫn thắng. Ta thắng là vì ta có quyết tâm, ta phải thấy rõ khó khǎn để quyết tâm khắc phục khó khǎn, chứ không phải để chùn lại.

Khi gặp hạn hán, ỷ lại vào trời, chờ trời ban mưa, như vậy không đúng. ỷ lại vào Chính phủ gửi máy bơm về cũng không đúng. Nếu cả nước Việt Nam ai cũng chờ Chính phủ gửi máy bơm về thì lấy máy bơm đâu cho đủ. Có sâu lại chỉ mong Chính phủ gửi thuốc về thì lấy thuốc đâu cho đủ. Phải dùng sức người mà chống hạn, chống sâu. Phải đánh thông tư tưởng cho cán bộ, cho nhân dân, dùng sức người mà làm.

Vụ mùa này phải quyết tâm, phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của cán bộ, của quần chúng. Trước hết cán bộ tỉnh, huyện, xã, các đảng viên và đoàn viên phải thông suốt, phải quyết tâm, phải cố gắng.

Sơn Tây có hơn 2 nghìn đảng viên và 6 nghìn 9 trǎm 18 đoàn viên thanh niên ở nông thôn. Các đảng viên và đoàn viên đã vào tổ đổi công hết chưa? Nếu chưa thì phải vào hết.

Vào Đảng, vào Đoàn không phải để làm “quan” cách mạng, hay là để nói chính trị suông. Tất cả đảng viên và đoàn viên phải ra sức tǎng gia sản xuất, thực hành các chính sách của Đảng và Chính phủ, phải vào tổ đổi công, vào hợp tác xã, để làm gương mẫu, làm đầu tàu lôi cuốn quần chúng tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm.

Lực lượng chính ở nông thôn bây giờ là các tổ đổi công và hợp tác xã nông nghiệp mà nòng cốt là đảng viên, đoàn viên. Vì vậy, các đảng viên, đoàn viên phải tham gia tổ đổi công và hợp tác xã, cán bộ tỉnh, huyện, xã phải trực tiếp lãnh đạo tổ đổi công và hợp tác xã. Hiện nay, Sơn Tây có 32 phần trǎm nông hộ đã vào tổ đổi công, bước đầu như thế là khá. Nǎm nay, kế hoạch của tỉnh đặt là 70 phần trǎm nông hộ vào tổ đổi công. Kế hoạch ấy phải làm thiết thực, chắc chắn, chớ làm trên giấy tờ thôi. Phải vừa phát triển vừa củng cố, vừa củng cố vừa phát triển. Xây dựng được tổ nào phải vững chắc tổ ấy. Không phải dùng cách đánh trống ghi tên rồi báo cáo cho nhiều tổ đổi công, nhưng tổ đổi công không thực sự đổi công. Những tổ đổi công và hai hợp tác xã đã có, phải củng cố cho tốt, phải giúp họ hoạt động tốt, để làm gương mẫu cho những tổ mới.

Phải có chí khí tiến thủ để tiến bộ mãi. Phải đoàn kết giúp đỡ nhau. Phải trao đổi kinh nghiệm cho nhau.

Cán bộ lãnh đạo phải đi sâu đi sát, phải động viên liên tục, phải gương mẫu, phải nhớ kinh nghiệm vụ chiêm vừa qua. Phải củng cố những tổ đổi công đã có cho thật tốt, phát triển chừng nào củng cố chừng ấy.

Bác nghe có xã Tiên Phong, Cổ Đông, Ba Trại gần một trǎm phần trǎm nông dân lao động đã vào tổ đổi công. Bác thưởng cho ba xã đó để khuyến khích các xã khác.

Các cô, các chú có hứa với Trung ương Đảng và Chính phủ rằng đồng bào và cán bộ Sơn Tây sẽ quyết tâm, cố gắng thực hiện vụ mùa thắng lợi không?

—————————-

Nói ngày 8-7-1958.
Sách Hồ Chủ tịch với cán bộ và nhân dân Hà Tây, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Hà Tây xuất bản, 1972, tr.21-24.
cpv.org.vn

Nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Phú Thọ (20-7-1958)

Vừa rồi, Trung ương Đảng và Chính phủ đã cử đồng chí Hà Huy Giáp về tỉnh nhà xem xét tình hình và góp ý kiến với cán bộ để đẩy mạnh sản xuất vụ mùa.

Hôm nay, Bác về thǎm Phú Thọ để đôn đốc thêm đồng bào và cán bộ tỉnh nhà quyết tâm làm cho vụ mùa nǎm nay thành một vụ mùa thắng lợi.

Trong phong trào phát triển sản xuất nông nghiệp, đồng bào các dân tộc và cán bộ Phú Thọ đã thu được thành tích khá.

Vụ chiêm qua, cán bộ đã cố gắng và kiên quyết lãnh đạo đồng bào chống hạn và sản xuất. Toàn tỉnh đã:

Khơi được hơn 2.400 mương phai,

Đắp được 365 bờ giữ nước,

Đào được 271 ao giếng.

Nhờ đấy mà đã có nước cho hơn hai vạn mẫu ruộng.

Đồng bào các huyện, nhất là Phù Ninh, Hạ Hoà, Thanh Ba, Đoan Hùng đã cố gắng nhiều trong việc làm chiêm.

Trong phong trào thi đua yêu nước, tỉnh Phú Thọ cũng có thành tích khá. Trong số 26 anh hùng lao động mới được tuyên dương, tỉnh nhà có hai anh hùng là đồng chí Hà Vǎn Dương, Chủ nhiệm hợp tác xã ở Thanh Viên và đồng chí Đinh Vǎn Xếp, bần nông, dân tộc Mường. Tỉnh nhà còn có hàng trǎm chiến sĩ thi đua và cá nhân xuất sắc. Đồng bào và cán bộ trong tỉnh nên học tập kinh nghiệm, sáng kiến và tinh thần thi đua của các anh hùng, chiến sĩ ấy.

Đó là những ưu điểm đáng khen và cần phải phát triển.

Nhưng bên cạnh những thành tích và ưu điểm ấy, đồng bào và cán bộ còn có một số khuyết điểm cần phải sửa chữa để tiến bộ hơn nữa.

– Cán bộ và đồng bào nông dân chưa hiểu hết tầm quan trọng của vụ mùa, do đó mà chưa đưa hết quyết tâm và phát huy hết tinh thần cố gắng của mình để làm vụ mùa.

– Phong trào sản xuất ở tỉnh tiến chưa đều có nơi thiếu nước thì chờ trời mưa, chứ không ra sức tát nước. Phân bón còn kém. Sâu bọ nhiều, nhưng việc bắt sâu không ráo riết. Việc trồng các thứ hoa màu còn kém, đến nay mới đạt 60 phần trǎm kế hoạch.

– Phong trào đổi công phát triển chưa đều trong các tổ đổi công, mới có 13 phần trǎm là đổi công thường xuyên.

– Nhiều đảng viên và đoàn viên chưa vào tổ đổi công và hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.

– Việc phòng lụt và chống lụt còn nhiều thiếu sót. Những quãng đê quan trọng chưa được đắp đúng mức kế hoạch. Lực lượng hộ đê chưa thực hành tập dượt. Việc canh gác và bảo vệ đê còn kém. Vật liệu và dụng cụ chưa đầy đủ. Cán bộ và nhân dân còn xem nhẹ việc phòng lụt, hộ đê.

Bác mong toàn thể cán bộ và đồng bào kiên quyết sửa chữa những khuyết điểm trên, ra sức thi đua sản xuất, đảm bảo vụ mùa thắng lợi.

Muốn được như thế,

– Phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của toàn thể cán bộ và toàn thể nhân dân. Phải đánh tan tư tưởng tiêu cực, bi quan, ngại khó.

– Cán bộ từ tỉnh đến xã phải đi sát với quần chúng, phải nắm lấy một nơi, tham gia lao động với quần chúng, học tập kinh nghiệm và sáng kiến của quần chúng để lãnh đạo quần chúng một cách thiết thực và toàn diện.

– Các cấp uỷ Đảng và chính quyền phải cùng nhân dân bàn định kế hoạch thật cụ thể, để:

Đảm bảo đủ nước tưới ruộng,

Phân bón ít nhất mỗi sào được 10 gánh,

Phải có mạ đầy đủ,

Phải chuẩn bị giống tốt cho vụ chiêm nǎm sau,

Phải cải tiến kỹ thuật,

Phải phát triển và củng cố các tổ đổi công và làm cho hợp tác xã sản xuất nông nghiệp thật vững chắc.

Hiện nay, tỉnh Phú Thọ có gần 7.000 tổ đổi công,

24 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp,

12.166 đảng viên,

20.500 đoàn viên.

Đó là đạo quân chủ lực mạnh mẽ để tranh thủ vụ mùa thắng lợi.

Tất cả đảng viên và đoàn viên ở nông thôn phải tham gia tổ đổi công và hợp tác xã và phải làm gương mẫu.

Anh hùng và chiến sĩ nông nghiệp phải làm đầu tàu.

Các đồng chí bộ đội phải cố gắng giúp đỡ đồng bào nông dân.

Các chị em phụ nữ phải là lực lượng xung phong.

Toàn thể đồng bào và cán bộ kiên quyết một lòng, ra sức sản xuất, thì vụ mùa nhất định thắng lợi.

Sẵn đây, Bác muốn nêu vài kinh nghiệm của các tỉnh bạn, để các cô, các chú so sánh:

Xã Hiệp An (Hải Dương) sản xuất mỗi mẫu tây 33 tạ.

Huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) sản xuất mỗi mẫu tây 34 tạ.

Chiến sĩ Mão sản xuất mỗi mẫu tây 64 tạ.

Chiến sĩ Bái sản xuất mỗi mẫu tây 90 tạ.

Phú Thọ định mức sản xuất mỗi mẫu tây 19 tạ.

Trong kháng chiến, đồng bào và cán bộ Phú Thọ đã có nhiều thành tích vẻ vang, đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Bắc nước ta. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng hoà bình, đồng bào và cán bộ phải phát triển truyền thống anh dũng ấy, ra sức thi đua khắc phục mọi khó khǎn, đảm bảo vụ mùa thắng lợi, hoàn thành tốt kế hoạch Nhà nước. Làm được như thế, là đồng bào và cán bộ Phú Thọ thiết thực góp phần xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

—————————-

Nói ngày 20-7-1958.
Bản đánh máy có bút tích sửa chữa, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Bài nói với cán bộ và đồng bào tỉnh Nam Định (13-8-1958)

Bác thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ về thǎm các cô các chú để khuyến khích đồng bào và cán bộ quyết tâm thực hiện vụ mùa thắng lợi.

Trước hết, chúng ta phải rút những kinh nghiệm của vụ chiêm vừa qua.

Trong vụ chiêm, tỉnh nhà đã cấy được 95% diện tích, như thế là khá. Nhưng thu hoạch chỉ được 73% kế hoạch đã định, tức là đã rút bớt 44.000 tấn thóc. Vì sao?

Vì nhiều nguyên nhân, như hạn hán, sâu bọ, v.v..

Chúng ta phải nhận rằng việc chống hạn đã thắng lợi một phần. Nếu lúc đó không ra sức chống hạn, thì thu hoạch còn kém hơn nữa.

Nhưng chúng ta cũng phải nhận rằng nguyên nhân chính đã gây ra sự sút kém là vì cán bộ lãnh đạo đã mắc bệnh chủ quan nặng, cho nên việc chống hạn, diệt sâu, trữ nước, bón phân… đều không tích cực, không kịp thời. Kết quả là đã sút kém 44.000 tấn thóc.

Ở đây cũng nên nêu lên một điểm: các huyện phía nam ruộng đất tốt hơn các huyện phía bắc. Nhưng vụ chiêm vừa rồi, vì đồng bào phía bắc đã cố gắng hơn, không chủ quan, cho nên đã thu hoạch khá hơn phía nam. Như xã Lộc Hoà, đã gặt được mỗi mẫu tây 2.170kg, đồng chí Hoà (Bí thư xã Lộc Yên) được 3.500 kg mỗi mẫu tây. Đó là một bài học cần phải nhớ.

Kinh nghiệm vụ chiêm là: Cán bộ lãnh đạo phải hết sức tránh chủ quan.

*

*     *

Vụ mùa này, kế hoạch định 202.800 mẫu ta, cả tỉnh đã cấy được 181.800 mẫu. Bước đầu như thế là khá. Nhưng còn phải cố gắng cấy cho hết 21.000 mẫu còn lại. Bác rất vui lòng khen 3 huyện ý Yên, Vụ Bản và Mỹ Lộc đã cấy hơn vụ mùa nǎm ngoái 5.238 mẫu. Đó là một cố gắng mà đồng bào các huyện khác nên làm theo.

Về sản lượng, cả tỉnh đặt mức trung bình 23 tạ một mẫu tây, như thế là khá. Nhưng có thể cố gắng hơn nữa.

Huyện ý Yên có đồng bào định mức 45 tạ.

Huyện Nam Trực có 287 người định mức 45 tạ.

Huyện Xuân Trường có 174 hộ định mức 65 tạ và mức bình quân toàn huyện là 25 tạ.

Như thế là rất tốt. Mong toàn thể đồng bào trong tỉnh ra sức thi đua với những bà con đó.

Chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa thi đua:

Thi đua tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là nhằm mục đích ích nước và lợi nhà (những tập thể và cá nhân thi đua tốt nhất lại được danh hiệu vẻ vang là Anh hùng và Chiến sĩ lao động). Vì vậy, chúng ta nói: Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua.

Thi đua không phải là tranh đua, không phải là giấu nghề. Trái lại, trong thi đua, bà con phải giúp đỡ nhau, khuyến khích lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm cho nhau để cùng tiến bộ. Vì vậy, chúng ta nói: Thi đua phải đoàn kết, đoàn kết để thi đua.

*

*     *

Muốn thu hoạch nhiều, tục ngữ ta có câu: Một nước, hai phân, ba cần, bốn cải tiến kỹ thuật.

– Về nước – Hiện nay nước tạm đủ. Nhưng phải hết sức chú ý chống úng. Đồng thời phải giữ lấy nước cho vụ chiêm.

– Về phân – Tỉnh định mức mỗi sào 8 đến 10 gánh. Thanh niên nhận làm 15 gánh.

Một số hợp tác xã, tổ đổi công và cá nhân thi đua bón 20 gánh. Như thế là khá. Song thế vẫn còn ít. Cần phải cố gắng bón nhiều phân hơn nữa.

– Ba cần – Là từ khi chọn giống làm mạ cho đến khi lúa đã về nhà, phải siêng chǎm nom từng việc, từng bước. Nếu cho cấy xong là xong, mà không “cần”, tức là không chịu khó làm cỏ, bỏ phân, diệt sâu, phòng hạn… thì nhất định lúa không tốt và thu hoạch sẽ kém.

– Bốn là cải tiến kỹ thuật – Thế giới ngày nay có máy móc tối tân, có vệ tinh nhân tạo. Nhưng cách cày cấy của ta còn rất cũ kỹ, rất lạc hậu, vì vậy khó nhọc nhiều mà thu hoạch ít. Để tiến bộ, chúng ta phải cải tiến kỹ thuật.

Hiện nay ở nông thôn Nam Định có 7.171 đảng viên, 39.039 đoàn viên thanh niên, 2 hợp tác xã nông nghiệp, 10.209 tổ đổi công, có nông hội, có chiến sĩ nông nghiệp, lại có các đồng chí bộ đội. Đó là đội quân chủ lực để đảm bảo vụ mùa thắng lợi.

Tuy vậy, còn có 2.803 đảng viên và 13.800 đoàn viên chưa tham gia tổ đổi công hoặc hợp tác xã. Thử hỏi các đồng chí ấy làm gì mà không tham gia? Và như thế, phải chǎng là làm đúng nhiệm vụ của người đảng viên và đoàn viên?

Còn trong số tổ đổi công, mới có 2.157 tổ là thường xuyên, 350 tổ thì không hoạt động. Nhiệm vụ cần kíp của các cấp uỷ đảng và Đoàn là phải giúp đỡ, củng cố và làm cho tất cả các tổ đổi công và hợp tác xã hoạt động thật sự, hoạt động tốt.

Nhân dịp này, Bác có lời khen ngợi đồng bào xã Vụ Bản đã toàn thể tham gia tổ đổi công và đồng bào xã Dao Lạc đã vượt khó khǎn tổ chức được 15 tổ đổi công. Mong đồng bào hai xã ấy cố gắng và tiến bộ hơn nữa.

Một việc nữa cần phải hết sức chú ý là giữ đê, phòng lụt. Nǎm nay Nam Định đắp đê đúng kỳ hạn, chất lượng tương đối khá, nhưng có nơi như huyện Nghĩa Hưng thì còn kém. Nói chung việc tập dượt chưa đều đặn, chưa đạt mức. Mọi người phải hiểu rằng: muốn chắc vụ mùa thắng lợi, thì việc giữ đê phòng lụt phải làm đến nơi đến chốn. Trong mùa mưa, cán bộ phải luôn luôn đi kiểm tra chu đáo, nhân dân các xã phải luôn luôn sẵn sàng phòng lụt, hộ đê.

Trong việc tranh thủ vụ mùa thắng lợi, tỉnh nhà có nhiều sáng kiến, có nhiều thuận lợi, nhưng cũng có một số khó khǎn tạm thời.

Có người lầm tưởng rằng sản xuất nhiều thì sẽ phải nộp thuế nhiều. Tưởng như vậy là không đúng. Bác đảm bảo với đồng bào như sau: nơi nào đã làm xong việc định diện tích sản lượng, thì sẽ nộp thuế nông nghiệp theo diện tích sản lượng, nơi nào chưa làm xong thì cố làm cho xong và có thể tạm nộp theo mức thuế nǎm ngoái. Chính phủ quyết không tǎng thuế vào số sản xuất vượt mức.

Nông dân ta quen thói bón phân quá ít, thậm chí có nơi còn cấy chay. Đối với thói quen bảo thủ ấy, cán bộ phải ra sức tuyên truyền, giải thích, giáo dục cho mọi người hiểu rằng: “phân cho lúa là của cho người”.

Có vài nơi, chị em phụ nữ không quen cày cấy. Thậm chí không gánh được phân mà phải đội. Đối với điểm này, chị em phải cố gắng thi đua với nam giới, nam nữ phải bình quyền cơ mà. Cán bộ cũng phải chịu khó tuyên truyền giáo dục. Trước kia phụ nữ ta có học quân sự bao giờ; nhưng trong kháng chiến có những đội nữ du kích đánh giặc rất giỏi. Đánh giặc là việc nguy hiểm, thế mà phụ nữ ta đã tỏ ra rất oanh liệt. Không lẽ việc cày cấy làm ǎn mà chị em lại chịu thua người!

Bác mong chị em những nơi đó cố gắng học tập và thi đua, noi gương những nữ anh hùng lao động đã được tuyên dương trong Đại hội thi đua công nông binh vừa rồi ở Thủ đô.

Để tranh thủ vụ mùa thắng lợi, cán bộ lãnh đạo từ tỉnh đến huyện, đến xã cần phải:

Nhớ kỹ bài học vụ chiêm, tuyệt đối chớ chủ quan, tự mãn. Phải đi thật sát với quần chúng. Mọi việc phải lãnh đạo kịp thời, chu đáo. Từ bây giờ cho đến khi thóc vào bồ, ngô vào cót, luôn luôn phải lãnh đạo chặt chẽ. Làm vụ mùa cho tốt đồng thời phải chuẩn bị tốt cho vụ chiêm sau. Phải hết sức chú ý giữ nước phòng hạn, giữ đê phòng lụt.

Với tinh thần đoàn kết và truyền thống anh dũng của đồng bào Nam Định, chắc rằng cán bộ sẽ biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của toàn dân, quyết ra sức thi đua làm cho vụ mùa nǎm nay thành một vụ mùa thắng lợi lớn. Những đơn vị nào thu hoạch vụ mùa khá nhất trong tỉnh, sẽ được giải thưởng đặc biệt.

—————————

Nói ngày 13-8-1958.
Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Điện chia buồn về việc nhà bác học Pháp Giôliô Quyri từ trần (15-8-1958)

Kính gửi Viện Hàn lâm nước Pháp,

Tôi vô cùng đau đớn nhận được tin giáo sư Giǎng Phrêđêrích Giôliô Quyri, nhà bác học nổi tiếng của nước Pháp trong Viện Hàn lâm nước Pháp, vừa từ trần. Giáo sư đã hiến tất cả cuộc đời quang vinh của mình cho khoa học, cho sự nghiệp hoà bình và cho hạnh phúc của nhân loại. Giáo sư mất đi là tổn thất rất lớn không những cho nhân dân Pháp, mà còn cho cả nhân dân toàn thế giới. Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi trân trọng gửi tới Viện Hàn lâm nước Pháp và gia quyến nhà bác học vĩ đại lời chia buồn chân thành và thương tiếc.

Ngày 15 tháng 8 nǎm 1958
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

—————————
Báo Nhân dân, số 1617, ngày 16-8-1958.
cpv.org.vn

Điện chia buồn về việc nhà bác học Pháp Giôliô Quyri từ trần (15-8-1958)

Kính gửi Viện Hàn lâm nước Pháp,

Tôi vô cùng đau đớn nhận được tin giáo sư Giǎng Phrêđêrích Giôliô Quyri, nhà bác học nổi tiếng của nước Pháp trong Viện Hàn lâm nước Pháp, vừa từ trần. Giáo sư đã hiến tất cả cuộc đời quang vinh của mình cho khoa học, cho sự nghiệp hoà bình và cho hạnh phúc của nhân loại. Giáo sư mất đi là tổn thất rất lớn không những cho nhân dân Pháp, mà còn cho cả nhân dân toàn thế giới. Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi trân trọng gửi tới Viện Hàn lâm nước Pháp và gia quyến nhà bác học vĩ đại lời chia buồn chân thành và thương tiếc.

Ngày 15 tháng 8 nǎm 1958
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

——————–
Báo Nhân dân, số 1617, ngày 16-8-1958.
cpv.org.vn