Tag Archive | Thời sự

Tháng năm hành trình theo chân Bác

(GD&TĐ) – Những ngày đầu tháng 5 lịch sử, trong không khí chuẩn bị lễ kỷ niệm 65 năm Bác Hồ và Bộ Chính trị về Định Hóa lập thủ đô kháng chiến, chúng tôi làm một cuộc hành trình về thăm những địa danh và những di tích nơi xưa kia, trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ chọn là nơi dừng chân để chuẩn bị cho chiến lược lâu dài. Theo bước chân của Người, chúng tôi được trở về với không khí của những tháng năm gian khổ mà nghĩa tình nơi Việt Bắc thiêng liêng.

Nơi thắp lửa cuộc Tổng khởi nghĩa

Hướng về vùng núi rừng Việt Bắc, nơi xưa kia Bác và Bộ Chính trị chọn là “Thủ đô kháng chiến”, chúng tôi dừng chân ở Chợ Chu Định Hóa, cách thành phố Thái Nguyên 50 km.

Cây đa cùng biển di tích trước cửa chợ Chu

Cách thị trấn Chợ Chu khoảng 2km, chợ Chu nằm giữa ngã ba xóm Đồng Chùa, cạnh hai cây đa tỏa rộng bóng mát. Theo người già ở đây, chợ Chu được thực dân Pháp xây dựng từ trong vòng 10 năm từ 1915 đến 1925, khi chúng tiến hành xâm lược Việt Nam và chọn Định Hóa là phên giậu tiến hành những cuộc càn quét và xây dựng nhà tù. Chợ Chu được xây dọc thành nhiều gian với nhiều cột to, xù xì, chạy dọc theo một khu đất rộng. Chợ Chu không đơn thuần là một khu chợ để mua bán và sinh hoạt cộng đồng mà còn là nơi diễn ra những cuộc đàn áp đẫm máu của thực dân Pháp với những cộng sản yêu nước thời bấy giờ.

Theo cuốn Lịch sử Định Hóa của tác giả Lê Nhâm, người dày công viết lịch sử cách mạng của quê hương, chợ Chu là địa điểm đặc biệt quan trọng, là nơi khởi đầu cho cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945. Vẫn còn đây, trước cửa chợ Chu là hai cây đa lịch sử ghi dấu ấn ngày 28 tháng 3 năm 1946. Tại đây, đúng ngày này, đã diễn ra cuộc mít tinh lịch sử với hàng ngàn quần chúng tham gia. Trong cuộc mít tinh này, Việt Minh huyện Định Hóa đã tuyên bố xóa bỏ ách thống trị của thực dân Pháp và chính quyền phong kiến tay sai. Từ đây, ngọn lửa cuộc Cách mạng Tháng Tám bùng lên mạnh mẽ, Mặt trận Việt Minh tiến về Hà Nội cướp chính quyền.

Ngày nay, chợ Chu của thị trấn được xây dựng khang trang hơn ở một khu mới, song vẫn còn đó chợ Chu thời Pháp cùng hai cây đa tọa lạc ngay giữa ngã ba đường. Tuy có chợ mới nhưng người dân khu vực này hàng ngày vẫn lấy chợ Chu cũ là nơi họp chợ, bày bán hàng hóa.

Cùng hướng đường đến chợ Chu, chúng tôi đến khu di tích nhà tù Chợ Chu trên đỉnh núi cao cách thị trấn hơn 1 km.

Di tích nhà tù Chợ Chu nằm trên đồi cao ở xóm Vườn Rau. Theo sử sách,  năm 1889 thực dân Pháp chiếm đóng đã xây dựng đồn bốt. Năm 1894 chúng đặt cơ quan đại lý cai trị vùng này. Đến năm 1916 tiến hành xây dựng nhà tù.

Nhà tù Chợ Chu ban đầu được làm bằng tre, gỗ, đơn sơ, chủ yếu giam tù thường phạm. Nhà tù Chợ Chu giam giữ các chiến sỹ yêu nước tham gia cuộc khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên (1917) và khởi nghĩa Yên Bái(1930). Năm 1940 cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ, bị thực dân Pháp đàn áp dã man, nhiều chiến sỹ cách mạng và thân nhân bị bắt và đem về giam giữ tại nhà tù Chợ Chu. Đến năm 1942 nhà tù được xây dựng lại kiên cố, bằng gạch ngói, xi măng, có thể giam giữ 200 người một lúc…

Đài tưởng niệm liệt sỹ Chu Hóa

Cuối năm 1944 tình hình cách mạng nước ta phát triển mau lẹ, Trung ương Đảng chủ trương lấy cán bộ ở các nhà tù ra để xây dựng lực lượng, chi bộ nhà tù Chợ Chu đã nhất trí cử 12 đồng chí vượt ngục. Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Xứ uỷ và tổ chức khôn khéo, bí mật của các đồng chí trong tù, ngày 2/10/1944 các đồng chí đã vượt ngục thành công xây dựng được một vùng căn cứ địa hết sức quan trọng ở huyện Định Hoá, Đại Từ (Thái nguyên) và Sơn Dương (Tuyên Quang). Thành lập cơ quan chỉ huy chiến khu Nguyễn Huệ do đồng chí Song Hào làm bí thư, xây dựng căn cứ đón Bác Hồ và Trung ương Đảng về Tân Trào lãnh đạo toàn dân ta khởi nghĩa giành chính quyền 8/1945 thành công.

Di tích nhà tù chợ Chu, biểu tượng sinh động của người chiến sỹ cách mạng nguyện hiến dâng cuộc sống, chiến đấu hi sinh vì độc lập tự do của tổ quốc. Trong nhà tù Chợ Chu nhiều đồng chí đã nêu cao tấm gương sáng về tinh thần học tập, trưởng thành qua thực tiễn đấu tranh bất khuất, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Đường về Chu Hóa

Cái nắng oi ả cùng tiếng ve râm ran đầu tháng năm trên con đường trải nhựa phong quang đưa chúng tôi về Chu Hóa, một xã vùng ven thành phố Việt Trì (Phú Thọ). Qua tấm biển chỉ dẫn và chỉ đường của người dân, chúng tôi tới được khu nhà tưởng niệm Bác Hồ ở Chu Hóa. Được biết, Chu Hóa là nơi trong những năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp Bác và nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng đã về làm việc trong 11 ngày trên đường  lên Việt Bắc chỉ đạo kháng chiến.

Học sinh trường THCS Chu Hóa chăm sóc Khu đền thờ lưu niệm chủ tịch Hồ Chí Minh ở Chu Hóa

Tại đây, chúng tôi được tiếp xúc với ông Nguyễn Kim Đức, người dày công tìm hiểu và sưu tầm những tư liệu về Bác Hồ trong những ngày ở Chu Hóa. Đồng thời, qua cuốn “Bác Hồ với Phú Thọ Phú Thọ làm theo lời Bác” đã đưa chúng tôi trở về không khí của những ngày đầu khi Bác Hồ dừng chân nơi đây. Đầu tháng 12-1946, đồng chí Trần Đăng Ninh, phụ trách đội công tác TƯ về Phú Thọ trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Đức Thắng, Bí thư Tỉnh ủy chuẩn bị sẵn một số địa điểm để Bác và cơ quan Trung ương đến ở và làm việc khi cần thiết. Nơi Bác ở phải đạt yêu cầu là: “Có phong trào quần chúng tốt, đường ra lối vào thuận tiện nhưng kín đáo, bảo đảm được bí mật”.

Thi hành chỉ thị cấp trên, Tỉnh ủy Phú Thọ đã khẩn trương chuẩn bị. Mọi địa điểm đều được đồng chí Trần Đăng Ninh và các đồng chí lãnh đạo tỉnh Phú Thọ xem xét cẩn thận và quyết định chọn 3 xã ở 3 huyện là xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông; xã Chu Hóa, huyện Lâm Thao (nay về Việt Trì) và xã Yên Kiện, huyện Đoan Hùng. Cả 3 xã này đều là nơi có phong trào cách mạng sớm, chính quyền và các đoàn thể quần chúng vững, lại nằm gần quốc lộ, thuận tiện giao thông nhưng lại kín đáo, đảm bảo được bí mật. Để đảm bảo tuyệt đối an toàn và yên tĩnh cho Bác làm việc, theo yêu cầu của đội công tác, chủ nhà các gia đình Bác ở đều vui vẻ nhường hẳn nhà cho cơ quan Trung ương, chuyển gia đình sang nhà khác ăn ở tạm một thời gian.

Khu nhà trưng bày trong khu di tích Chu HóaKhu nhà trưng bày trong khu di tích Chu Hóa

Cũng trong thời gian dừng chân ở Chu Hóa, Bác đã ký và soạn thảo nhiều văn kiện quan trọng như: Ký 8 sắc lệnh liên quan đến tổ chức, bộ máy, bổ nhiệm cán bộ, đảm bảo quyền tự do của nhân dân; Điện chúc mừng Hội nghị liên Á; viết thư trả lời các nhà báo Pháp về cuộc chiến tranh phi nghĩa của Thực dân Pháp tại Việt Nam; gửi thư cho Báo Vệ quốc quân nói về 12 điều răn với chiến sỹ Vệ quốc quân và sau này trở thành 12 điều kỷ luật của Quân đội; hoàn thành tác phẩm “Đời sống mới”; viết thư cho đồng bào miền Nam sau đúng 100 ngày toàn quốc kháng chiến; Bác cũng viết thư gửi Thủ tướng Ấn Độ Nêru.. trong cuốn tài liệu Lịch sử Đảng bộ xã Chu Hóa thì những ngày Bác ở đây, nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước như: Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Nguyễn Lương Bằng… thường xuyên đến làm việc và xin chỉ thị của Bác. Do phải giữ bí mật nên những ngày ở Chu Hóa, Bác không trực tiếp gặp cán bộ, đảng viên và nhân dân xã, nhưng Bác thường xuyên nghe các đồng chí phục vụ báo cáo về tình hình mọi mặt của địa phương, đồng thời có những chỉ thị giúp đỡ nhân dân.

Ngày nay, Chu Hóa đã đổi thay nhiều, cuộc sống của người dân nơi đây ngày càng đi lên. Để tưởng nhớ và ghi dấu những ngày tháng Bác về Chu Hóa, Đảng bộ và nhân dân nơi đây đã xây dựng khu nhà lưu niệm Bác ngay trong căn nhà Bác ở năm xưa. Hiện trong nhà lưu niệm của Bác, nhân dân vẫn giữ được chiếc mâm gỗ, bộ trường kỷ bằng tre cùng nhiều văn bản, bản sao của Bác ở Chu Hóa. Ngày ngày, các em học sinh trường THCS, Tiểu học Chu Hóa thay nhau đến chăm sóc, quét dọn và trồng hoa trong khuôn viên nhà lưu niệm Bác. Đồng thời, nơi đây đã trở thành điểm đến tâm linh của du khách mọi nơi trong hành trình về nguồn.

Như Bác vẫn còn đây 

Dời nhà tù Chợ Chu, chúng tôi đến thăm chùa Hang phía bên kia sườn núi đá cao sừng sững. Ngôi chùa được “thiên tạo” trong lòng đá, cách thị trấn Chợ Chu 2km.

Ngôi đền thờ chủ tịch Hồ Chí Minh ở Chu HóaNgôi đền thờ chủ tịch Hồ Chí Minh ở Chu Hóa

Theo sư thầy Thích Thanh Thắng, nhà sư trụ trì nhiều năm ở chùa này thì ngôi chùa có từ lâu rồi, sư thầy, người dân nơi đây không biết rõ ngôi chùa có từ khi nào. Họ chỉ biết, khi lớn lên đã thấy có một ngôi chùa trên vách núi đá, trong hang sâu.

Lần theo những bậc đá uốn lượn dẫn lối lên cổng chùa, chúng tôi đặt chân lên chùa Hang. Đây là ngôi chùa có cấu trúc đặc biệt, không giống với cấu trúc của những ngôi chùa thông thường. Chùa được “thiên tạo” trong hang đá. Bước vào cửa chùa là một vòng tròn cửa hang khá rộng và thoáng mát, bên trong là một hang sâu với vòm mái cao, phẳng được “sắp xếp” bởi nhiều hình khối khác nhau của đá. Không gian chùa có hai gian. Gian trên gần cửa hang và gian dưới thấp hơn gần cửa sau của chùa. Phía bên trong nữa là hang sâu chưa được khám phá.

Bước chân vào không gian chùa Hang, du khách được sống trong không khí yên tĩnh, thanh tịnh, trầm mặc và linh thiêng chốn cửa Thiền. Cái độc đáo ở ngôi chùa này có lẽ không gian có sự chan hòa giữa tuyệt phẩm của thiên nhiên với không khí tâm linh và thiện tâm từ bi của chúng sinh. Chính vì vậy mà sư thầy Thích Thanh Thắng đã khẳng định: “ Đến với chùa Hang là đến với chốn bình yên nơi tiên cảnh, thoát hẳn với bụi trần”.

Thế hệ trẻ Chu Hóa hôm nayThế hệ trẻ Chu Hóa hôm nay

Trong những năm kháng chiến chống Thực dân Pháp, những ngày đầu khi cách mạng còn trong “trứng nước” vô cùng khó khăn, gian khổ, chùa Hang còn là một căn cứ cách mạng quan trọng. Trong tình thế giặc Pháp truy lùng, càn quét lực lượng cách mạng, nhất là cơ quan đầu não của Đảng ta, chùa Hang là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc bí mật, luận bàn những kế sách quan trọng chuẩn bị cho chiến dịch Thu Đông năm 1950.

Vì vậy, ngày nay, cùng với ban thờ Phật, chùa Hang còn có ban thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh rất thiêng liêng và tôn kính. Điều đặc biệt, ban thờ Bác Hồ được đặt ngang với ban thờ Phật trong không gian chùa. Khi được hỏi về điều này, sư thầy Thích Thanh Thắng nhấn mạnh: “ Trong lòng dân, Bác Hồ là một vị Phật nhân từ, bác ái, nên đặt ban thờ như vậy là một niềm tôn kính vô cùng”. Đến thăm chùa Hang, không khí linh thiêng hòa cùng không khí cách mạng năm xưa làm cho lòng người không khỏi dưng dưng cảm xúc.

Hành trình của chúng tôi chỉ dừng chân ở ba khu di tích, còn nhiều địa điểm khác trong cuộc hành trình của Bác, song, Chợ Chu, Chu Hóa và chùa Hang đã có thể làm cho chúng tôi thêm hiểu về những ngày tháng cách mạng gian khổ mà Bác và Bộ Chính trị phải trải qua. Mỗi địa điểm như một nét son lịch sử, như một “Việt Bắc” để mỗi người dân trông về để thêm yêu lãnh tụ và bền sâu ý chí trong cuộc sống hôm nay.

Nguyễn Thế Lượng
gdtd.vn

Bình rượu thuốc quý – Quà Tết của Bác Hồ

(GD&TĐ) – May mắn được nhiều dịp hầu chuyện cố thư ký của Bác Hồ, ông Vũ Kỳ (1921 – 2005), chúng tôi nhắc đến tên tuổi những nhân vật được gặp Bác, hầu như ai ông cũng có chuyện để kể, thật lạ và thú vị.

Quà cáp nên chọn dịp

Chuyện lần ấy là về nhà điện ảnh Xô viết nổi tiếng Rôman Carmen.

Dịp đó, năm 1967, tròn nửa thế kỷ xảy ra sự kiện “10 ngày rung chuyển thế giới”, tức Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, ông Vũ Kỳ trình Bác danh sách dự kiến người và quà biếu. Bác xem đến chỗ “Bình rượu Ngũ xà của đồng bào Tây Bắc tặng” thì dừng lại khen Chú khá! Lại hỏi: – Bác đồng ý với chú gửi bình rượu sang Liên Xô biếu đồng chí Carmen vì lý do gì chú đoán xem nào?

– Dạ thưa Bác, rượu Tây Bắc là gợi nhớ, cảm ơn đồng chí ấy suốt gần 8 tháng đã đem hết tâm lực dàn dựng, quay phim, có thể nói là quên cả thân mình trong mọi hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm để hoàn thành hai bộ phim lịch sử cho ta: “Điện Biên Phủ” và “Việt Nam trên đường thắng lợi” – bộ phim màu đầu tiên của chúng ta…

Bác còn giải thích thêm: – Mấy chú quay phim, chụp ảnh nhà ta dường như còn tự ty “tốt đẹp trưng ra, xấu xa đậy lại”. Thế là dàn cảnh sân khấu, không phải phim ảnh thời sự tư liệu…

Quả thực, ông Vũ Kỳ nhắc lại với chúng tôi một số cảnh quay về sinh hoạt thường ngày của lãnh tụ mà chắc chắn đời đời các thế hệ con cháu chúng ta được xem đều vô cùng xúc động, có thể dễ dàng so sánh với bất kỳ bậc danh nhân, lãnh tụ nào từ Đông Tây kim cổ về sự giản dị, khiêm nhường, hết mình thương dân, yêu nước như Bác Hồ của chúng ta.

Rôman Carmen nhận ra rất rõ sự vĩ đại của bậc vĩ nhân không thể có đối tượng so sánh bắt nguồn từ những bóng hình huyền thoại ấy trong rừng sâu vùng nhiệt đới xa lạ.

Bác Hồ tiếp R.Carmen ngày 26/7/1954 tại Việt Bắc.Bác Hồ tiếp R.Carmen ngày 26/7/1954 tại Việt Bắc.

Lộc bất tận hưởng

Tám tháng trời ở Việt Nam, R. Carmen bất kể ngày đêm luồn rừng, lội suối, vượt núi, băng đèo, len lỏi cả giữa các đồn bốt giặc vùng đồng bằng trung du, ông còn dành thời gian ít ỏi để “ba cùng”: ăn – ở – làm lụng với đồng sự và nhân dân để nâng cao chất lượng thước phim, tìm hiểu con người, văn hóa địa phương, học thuộc một số câu, từ tiếng Việt, nhất là các câu tục ngữ Bác Hồ hay dùng.

Chúng tôi đôi lần được đi theo đến thăm ông ở Moskva vào đầu những năm 1960. Trong nhà dành riêng một phòng trưng bày vật lưu niệm, nổi bật nơi chính giữa là của các lãnh tụ: chiếc píp hút thuốc của Phidel Castro, khẩu súng săn của Agienđê, chiếc khăn quấn rằn ri của Araphát… Sau Tết Mậu Thân – 1968, nghe anh em kể lại, nổi bật chính giữa, rất lạ mắt là bình rượu những con rắn cuộn tròn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mỗi khi đón khách từ Việt Nam, bao giờ chủ nhà cũng hãnh diện hướng dẫn tới xem góc Việt Nam những hàng mỹ nghệ tre mây đan, chiếc nón, áo trấn thủ…, rồi quay lại nơi đặt kỷ vật của các lãnh tụ, giới thiệu Bình rượu Bác Hồ. Hai tiếng Bác Hồ ông nói nhấn mạnh khá rõ, còn “Bình rượu” không dấu, chắc là mới học phát âm.

R. Carmen bộc bạch, mình cũng là dân nghiền vodka, vả lại làm việc nhiều cũng cần bồi bổ sức khỏe, ngũ xà là rượu bổ rất quý, nhưng bình rượu là kỷ vật vô giá của bậc vĩ nhân thế kỷ, chỉ đặt nó nơi trang trọng nhất một thời gian thôi, rồi sẽ trao luân lưu theo câu Hồ Chí Minh từng nói: Lộc bất tận hưởng như tập quán của người Nga vậy.

Tháng 9/1969, sau khi được tin Bác Hồ qua đời, trong một buổi gặp mặt cảm động, R. Carmen trân trọng trao bình rượu cho nhà nữ đạo diễn nổi tiếng Gruzia Pompenxkaia. Và rồi 3 năm sau khi Bình rượu Bác Hồ đã có chủ nhân mới được chủ nhân đầu tiên đồng thuận, bà Pompenxkaia mời người chủ vừa lập công lớn với cuộc đấu tranh anh dũng của anh em Việt Nam – Giáo sư Ôlếch Côngxtantinnôvich – giảng sư Đại học VGIK, Nghệ sĩ công huân Liên Xô, Trưởng đoàn đạo diễn quay phim thế chân R. Carmen tiếp nhận bình rượu. Ông và đồng nghiệp gần như có mặt tại hầu hết các điểm nóng trên cả hai miền Nam Bắc để tố cáo tội ác gây chiến tranh của các nhà cầm quyền bên kia Đại Tây Dương và kêu gọi nhân dân Mỹ, nhân loại tiến bộ đoàn kết, ủng hộ Việt Nam đấu tranh chống xâm lược. Đó là các bộ phim “Phóng sự từ miền Bắc Việt Nam”, “Mêkong trong khói lửa”…

Ngày nay, cứ mỗi dịp hiếm hoi họp mặt hữu nghị Nga – Việt, GS O. Congxtantinnôvich lại mở tủ, trịnh trọng bưng ra Bình rượu Bác Hồ rót vào một cốc nhỏ tượng trưng rồi san ra, lại san ra… chút xíu gọi là vào các cốc vodka của mỗi người truyền nhau cùng nâng cốc Đavai – đatna (Nào, xin mời cạn chén). Anh em mình có mặt, cảnh xa nhà, xa nước càng xúc động, tự nhiên bật ra câu hát cửa miệng đầy tự hào, các bạn Nga người hát theo, người vỗ tay hoà nhịp tràn ngập niềm hứng khởi: Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng! Lời Bác nay thành chiến thắng huy hoàng… Việt Nam Hồ Chí Minh…

Theo SKĐS
gdtd.vn

Bác Hồ chống tham nhũng, tha hóa đạo đức cách mạng

Bác Hồ với người dân Pác Bó xã Trường Hà,
huyện Hà Quảng, Cao Bằng
Ảnh: TL

Những năm kháng chiến, nền kinh tế ta theo chế độ bao cấp. Từ đó, nảy sinh hai giá là một sơ hở làm cho một khối lượng sản phẩm, hàng hóa rất lớn của Nhà nước lọt vào tay bọn đầu cơ tích trữ lũng đoạn nền kinh tế, tha hóa cán bộ, nhân viên Nhà nước. Chênh lệch giá được triệt để khai thác bằng mọi cách, có đến 50% hàng đối lưu với nông dân bị một số cơ quan ăn chặn, cả nông sản lẫn vật tư hàng hóa đều bị thất thoát khá nhiều mà dân gian vẫn nói “hàng công nghiệp ăn từ trên ăn xuống, hàng nông sản ăn từ dưới ăn lên”, Nhà nước và nông dân đều chịu thiệt thòi, chỉ béo bở tham nhũng. Từng có lúc đưa một tỷ “Rúp” (tiền Liên Xô cũ) vật tư ra, ta chỉ thu về 20 tỷ đồng Việt Nam (VN), nếu tính theo tỷ giá hối đoái 100 đồng VN đổi lấy một “rúp” thì ta đã mất 80 tỷ đồng VN.

Chống ngoại xâm và chống nội xâm rõ ràng đều hết sức bức thiết, không thể để bọn nội xâm và bọn buôn gian, bán lận hoành hành, phá hoại hậu phương lớn đang hàng ngày chi viện người và của cho miền Nam. Ngày 24-7-1962 Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nói chuyện với hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước về Cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm tăng cường quản lý kinh tế tài chính, chống tham ô lãng phí, quan liêu. Người nêu rõ ý nghĩa, nội dung, phương hướng của cuộc vận động, phân tích những biểu hiện, nguyên nhân và tác hại của các bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu trong cán bộ hiện nay, đồng thời phê phán những thái độ không đúng. Người nhấn mạnh: “Cuộc vận động này là một cuộc cách mạng nội bộ, một cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kẻ địch là tệ nạn tham ô, lãng phí, quan liêu. Uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ, chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình”. (Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – tập 8 – trang 268).

Cuộc vận động mang tên “Ba xây, Ba chống”. Ba xây gồm có: Nâng cao ý thức trách nhiệm – Tăng cường quản lý kinh tế tài chính – Cải tiến kỹ thuật. Ba chống gồm có: Chống tham ô – Chống lãng phí – Chống quan liêu.

Ngày 26-12-1963, Hội đồng Chính phủ họp phiên cuối năm Hồ Chủ tịch đến thăm và chúc Tết, Người nhắc nhở Chính phủ phải làm tốt cuộc vận động “Ba xây – Ba chống”. Người nói: “Hiện nay chúng ta làm “Ba xây, ba chống” còn kém. Anh chị em công nhân và nhân viên ở cơ sở rất hăng hái nhưng từ cấp giám đốc lên đến bộ trưởng, thứ trưởng thì còn nhiều người chưa chuyển cho nên có chỗ cuộc vận động bị tắc lại. Bây giờ phải làm “Ba xây, ba chống” cả hai chiều, từ dưới lên, từ trên xuống. Bản thân các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng, các cán bộ lãnh đạo phải “Ba xây, ba chống”. Hơn ai hết người lãnh đạo phải nhận rõ cuộc vận động này là rất quan trọng để làm cho tốt” (Biên bản Hội đồng Chính phủ lưu lại tại Trung tâm lưu trữ quốc gia, trích trong Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử).

Ngày 31-1-1964, Bộ Chính trị họp bàn về công tác lãnh đạo cuộc vận động “Ba xây, ba chống”. Hồ Chủ tịch đã đến dự, Người đề cập vấn đề không bình thường là cán bộ lãnh đạo lại hưởng ứng “Ba xây, ba chống” không tích cực bằng đông đảo cán bộ, nhân viên. Người nêu câu hỏi:
Tại sao dưới động, trên không động?
Nhỏ động, to không động?

Người đề nghị phải làm cho cấp bộ trưởng, thứ trưởng thông suốt tư tưởng. Bởi lãnh đạo còn có người cho “Ba xây, Ba chống” chỉ cấp dưới mới học; lại có lãnh đạo để xảy ra tham nhũng, lãng phí tìm mọi cách né tránh. Còn ở cơ sở phải kết hợp chặt chẽ giữa các tổ chức chi bộ đảng, công đoàn, đoàn thanh niên để chấn chỉnh cuộc vận động “Ba xây, Ba chống” khỏi sộc sệch. Khi biết chưa nơi nào, phát động “Ba xây, Ba chống” chưa nơi nào có dân tham gia, Người phê bình nghiêm khắc những cán bộ sợ quần chúng, không dám phát động, phong trào. Người yêu cầu phát hành loại sách nhỏ, bài ngắn để tuyên truyền giải thích, lôi cuốn nhân dân tham gia vào cuộc vận động. Hội nghị đánh giá cuộc vận động “Ba xây, Ba chống” đã đạt nhiều tiến bộ, Hồ Chủ tịch không đồng tình với đánh giá này, Người nhận xét: “Mới chỉ là tiến bộ bước đầu”. (Biên bản hội nghị Bộ Chính trị lưu tại Cục lưu trữ văn phòng T.Ư .Đảng, trích trong Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử).

Đọc một số tài liệu lưu trữ ghi một số cuộc họp của Bộ Chính trị, của Hội đồng Chính phủ, thấy Hồ Chủ tịch đã phải dành một phần thời gian và sức lực vào cuộc đấu tranh chống giặc nội xâm. Cán bộ lãnh đạo còn một số thiếu gương mẫu, Người biết. Có lãnh đạo nhà đã đủ ở, gian trong gian ngoài lại đòi có nhà rộng hơn, đã có xe công lại đòi xe đẹp hơn; có người đi nước ngoài dùng tiền Nhà nước mua hàng xa xỉ, vợ con trưng diện, thậm chí còn mang hàng ngoại về để vợ con buôn bán. Mất đoàn kết nội bộ xảy ra ở một số nơi, nhất là khi các tỉnh sát nhập, mất đoàn kết càng kéo dài, lộ liễu, làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nước.

Còn giặc Mỹ trên đất nước ta, nguy cơ mất nước đã đành, nhưng nhìn xa hơn khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng, Hồ Chủ tịch vẫn chưa yên tâm. Đảng viên kém phẩm chất chỉ là số ít, nhưng phần nhiều trong số đó lại có chức có quyền, chỉ nghĩ đến “vinh thân phì gia” trong khi dân đang ra sức thực hiện khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”; đã có một số gia đình hai, ba người vào chiến trường miền Nam… Không tăng cường giáo dục, nâng cao phẩm chất số cán bộ kém, chẳng khác gì nuôi dưỡng trong lòng đất nước mầm mống của mối họa lớn dễ phát sinh. Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh, mấy lần đại thắng quét sạch giặc ngoại xâm (đời Trần và đời Lê) chỉ còn ta với ta nhưng rồi lại mất nước vì mọi quyền hành lúc đó đã vào tay bọn gian thần tham nhũng cùng vua quan chỉ biết hưởng lạc, đè đầu cưỡi cổ dân.

Hồ Chủ tịch đã nói: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” (Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 12 – trang 557).

Cách mạng tháng 10 Nga thành công, nghe tin một số đảng viên có chức có quyền kiêu căng, xa dân, Lê Nin đã cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt Đảng cộng sản Nga. Chỉ có những đảng viên của Đảng mới có thể làm việc đó”.

Thắng lợi cuối cùng càng đến gần, Hồ Chủ tịch càng suy nghĩ nhiều đến đội ngũ đảng viên, cán bộ sẽ lãnh đạo đất nước khi đã độc lập và thống nhất, sạch bóng giặc ngoại xâm. Ngày 3-2-1969, nhân Kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng (9 tháng trước khi Người qua đời) Báo Nhân dân đã đăng bài báo quan trọng của Hồ Chủ tịch, đầu đề: Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Bài báo đề cao đông đảo đảng viên, cán bộ đã rất hăng hái dũng cảm trong mọi công tác, nhân dân ta rất tự hào có những người con như thế. Bài báo phê phán một số ít đảng viên, cán bộ đạo đức, phẩm chất thấp kém, lúc nào cũng chỉ muốn “mọi người vì mình”.

“Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, thiếu kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng của nhân dân”.

Đọc bài báo này nhiều người biết cán bộ lãnh đạo vẫn còn những người bị tiêm nhiễm bao thói hư tật xấu. Chúng ta càng hiểu sâu xa tại sao trong Di Chúc, Hồ Chủ tịch đã viết: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, theo ý tôi việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”.

Thái Duy
daidoanket.vn

Viên kẹo của Bác Hồ

– Gương mặt Bác thoáng buồn, Bác nói với tôi mà như nói với chính mình: “Còn hàng triệu cháu như các cháu, giờ này chưa có được một viên kẹo nào đâu…”

TIN BÀI KHÁC

Những mẩu chuyện nho nhỏ về Bác Hồ đã được nhiều người Việt Nam thuộc nằm lòng, trong đó có những câu chuyện Bác tặng quà cho trẻ em Việt Nam cũng như trẻ em quốc tế: “Quả táo của Bác Hồ“, hay “Ai ngoan sẽ được thưởng“.

Là một trí thức cấp tiến, một người say mê lao động, một chiến sĩ cách mạng, một lãnh tụ giải phóng dân tộc, một nhà báo, nhà thơ, họa sĩ…, con người rộng lớn và sâu thẳm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được nhiều thế hệ khám phá và học hỏi. Qua cảm nhận của các nghệ sĩ về Người ghi lại trong bộ tác phẩm 11 cuốn “Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ – Văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh(NXB Văn học), Người còn hiện lên là một Con Người tha thiết nhất với con người.

Dưới đây là một câu chuyện ít người biết đến, được kể bởi nghệ sĩ H’ben (Quang Tuệ ghi), một người con của dân tộc Bahnar, Việt Nam – được trích trong tập sách nói trên.

*****

Bác Hồ chia kẹo

Tôi sinh năm 1933 ở làng Đé Đơng, xã Yang Trung, huyện Kông Chro – một cái làng nghèo khó của người Bahnar.

Khi tôi bắt đầu lớn lên, Đé Đơng là một làng nô lệ nên sự khổ nhục của con người không thể kể xiết…. Khi đã có nhận thức, biết thương người làng mình, cũng là lúc tôi biết làng tôi có cán bộ chống Pháp đang ở.

Một hôm, cán bộ người Kinh vào làng nói, bây giờ tôi vẫn còn nhớ đại ý: Hiện nay có Bác Hồ là người lãnh đạo nhân dân đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Đánh được Pháp rồi, người làng ta và cả dân các làng Tây Nguyên rộng lớn này sẽ được sung sướng, tự do…

Hồi đó, tôi không hiểu biết những lời ấy. Nhưng cuộc sống hiện tại cực quá, nên chẳng riêng tôi mà cả làng ai cũng muốn đứng lên đánh Pháp, đứng lên làm cách mạng. Vả lại, từ trong sâu thẳm suy nghĩ của mỗi người nói đến Bác Hồ là nói đến lẽ phải, sự công bằng nên ai ai cũng ưng, cũng muốn đi theo con đường của Bác…

Một ngày của năm 1956, Bác đến thăm trường Dân tộc Trung Ương đóng tại Gia Lâm, Hà Nội. Lần đầu tiên, tôi được biểu diễn văn nghệ cho Bác và các cán bộ cùng đi theo. Xem xong, Bác xoa đầu tôi và ân cần hỏi.

– Cháu dân tộc gì?

– Thưa Bác, dân tộc Bahnar – Tôi trả lời Bác.

Bác hỏi tiếp:

– Cháu ở đây ăn cơm có no không?

– Thưa Bác, có no ạ – Tôi thưa.

Bác lại hỏi:

– Cháu có nhớ nhà không?

– Thưa Bác, có ạ – tôi trả lời Bác.

Bác thoáng đăm chiêu “ừ” rồi nói với tôi:

– Cháu cố gắng học cho giởi rồi sau này sẽ trở về quê hương Tây Nguyên phục vụ đồng bào…

Nhưng rồi chiến tranh đã không cho tôi những như bao người khác trở về nơi chôn rau cắt rốn của mình như điều người ta vẫn hằng mong đợi… Là diễn viên của Đoàn văn công giải phóng, sống ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, nhớ lời Bác dặn tôi càng cố gắng phấn đấu để biểu diễn phục vụ ở Phủ Chủ tịch và Nhà khách của Bác thêm một lần nữa. Có lần chúng tôi còn được biểu diễn phục vụ một “người khách đặc biệt” của Bác Hồ, ông Xu-các-nô.

Ấn tượng sâu sắc nhất của tôi là hôm biểu diễn lần cuối cùng cho Bác xem ở Phủ Chủ tịch năm 1967. Kết thúc buổi biểu diễn, Bác gặp riêng các diễn viên. Bác cho kẹo và hỏi từng người;

– Cháu xin Bác bao nhiêu?

Ai cũng nhanh nhẩu xin Bác cho nhiều nhiều. Đến lượt tôi, Bác hỏi:

– Thế cháu xin Bác bao nhiêu?

Tôi thật thà đáp:

– Thưa Bác, cháu chỉ  xin một viên thôi ạ.

Bác cười to và nói:

– À, cháu này ngoan lắm!

Nhưng rồi gương mặt Bác thoáng buồn. Bác nói với tôi, với mọi người xung quanh mà như nói với chính mình, với những người đang ở xa:

– Còn hàng triệu cháu như các cháu, giờ này chưa có được một viên kẹo nào đâu..


Chúng tôi lặng đi trong xúc động. Chúng tôi hiểu trái tim mênh mông của Bác khi ấy, cũng như bất cứ lúc nào khác vẫn đang hướng về miền Nam còn ngập chìm trong lửa đạn. Trước ngày mất không lâu, Bác có nói một lời tưởng như đơn giản, nhưng nghĩ ra thì mới thấy thấm sâu về ý nghĩa: miền Nam luôn ở trong trái tim tôi….

Bác Hồ ở chiến dịch biên giới 1950 – Đinh Đăng Định.

Bác Hồ chẻ củi

Bác Hồ kéo lưới với bà con ngư dân Thanh Hóa năm 1960

“Con tàu đưa Nguyễn Tất Thành đi khắp mọi miền đất lạ, cho anh cơ hội tiếp xúc với đủ mọi loại người, để cuối cùng anh tự giác ngộ ra rằng, ở đâu, người lao động cũng tốt, cũng thống khổ như nhau” (trích bài GS, TS Hoàng Chí Bảo)

Dưới con mắt quan sát của một nhà thơ Việt Nam, nhà thơ Huy Cận, thì “Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là người của một quyển sách, một nền văn hóa duy nhất“. Từ tuổi nhỏ, Người đã học chữ Hán và văn học cổ điển Trung Quốc. Người cũng tiếp thu nền văn hóa Ấn Độ qua ảnh hưởng của đạo Phật và qua sự tiếp xúc với rất nhiều người bạn Ấn Độ quen thân trong cuộc chiến đấu. Tại Liên Xô, vào những năm 20, Bác khám phá ra nền văn học Nga của thế kỉ XIX. Người đọc nhiều Turgenev, Tolstoi và cũng đọc một vài tác phẩm của Chekhov. Tại Pháp, “thế kỉ ánh sáng” đã chiếu rọi ánh sáng vào tâm trí Người. Ham đọc Voltaire và Rousseau, và cũng đọc nhiều Victor Hugo, Anatole France, Người thật sự đã hấp thụ được tinh thần của cách mạng Pháp ngay từ nguồn. Suốt đời Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mang dấu ấn của lòng ham mê đầu tiên ấy về những lý tưởng tự do và bác ái.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một ấn tượng sâu sắc cho những người có dịp gặp Người: người ta tưởng được tiếp kiến một lãnh đạo Nhà nước, một lãnh tụ cách mạng, thì người ta lại được gặp một con người. Người đấu tranh giành độc lập, tự do, bảo vệ nhân phẩm cho đồng loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người hiền vĩ đại, bởi vì Người đã tin tưởng ở con người, ở những  dân tộc, bởi Người đã tin vào những khả năng vô tận của con người để tự cải thiện tâm hồn và cuộc sống của chính mình.

Trên báo Ogoniok (Liên Xô trước đây), số 39, ra ngày 23-12-1923, nhà thơ đồng thời là nhà báo Xô-viết nổi tiếng O.Mandenxtam đã viết như sau: “Dáng dấp con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai“. Thời gian ấy Bác đang học tập tại trường Đại học Phương Đông tại Moscow, mới bước sang tuổi ba mươi. Nhà thơ viết: “Dân An Nam làm một dân tộc giản dị và lịch thiệp. Qua phong thái thanh cao, trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới…

Vân Sam
vietnamnet.vn

Bác Hồ trong ký ức cô học sinh piano đất Hà thành

 – 43 năm trôi qua nhưng “cô bé” học sinh khoa piano Trường Âm nhạc Việt Nam thuở nào vẫn nhớ rõ buổi biểu diễn cho Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch tháng 5/1969, chỉ mấy tháng trước khi Bác ra đi mãi mãi. Tấm hình ghi lại buổi diễn, gặp Bác năm đó đi vào lịch sử bởi khoảnh khắc chớp thần thái đôi mắt nơi cô bé dành cho Bác, chứa đựng sự kính trọng, yêu mến hết mực hồn nhiên, trong sáng.

“Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” – câu hát đó dường như gắn với chính hình ảnh “cô bé” Thủy tay ôm bó hoa cùng các bạn đứng bên Bác Hồ.

Tạ Phương Thủy (cô bé ôm bó hoa nhìn Bác) tại Phủ Chủ tịch tháng 5/1969

“Cô bé” trong tấm hình đó là chị Tạ Phương Thủy, Việt kiều hiện đang sinh sống tại Ba Lan.

Chị Tạ Phương Thủy là con gái thứ của ông Lê Trang, tên thật là Tạ Quang Thuật, nguyên Vụ trưởng Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao, Tham tán công sứ tại Liên Xô trước đây, nguyên Đại sứ tại Ba Lan… Từ nhỏ, 3 chị em gái lớn trong gia đình đều được bố mẹ cho theo học Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc quốc gia). Học hết trung cấp khoa piano, chị theo học ĐH Kinh tế quốc dân. Chị kết hôn với ông Hoàng Vĩnh Lợi, con trai cố Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hoàng Minh Giám.

Giấc mơ gặp Bác

Từ Ba Lan, chị Thủy kể lại những kỷ niệm với VietNamNet:

“Thế hệ tôi được sinh ra khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc, hòa bình lập lại ở miền Bắc. Cha tôi trong cương vị người phát ngôn Bộ Ngoại giao thi thoảng gặp Bác. Có lần được cha cho đi theo, tôi trông thấy Bác Hồ từ xa trong sân Phủ Chủ tịch. Đầu những năm 60, Hà Nội thật thanh bình. Sân Phủ Chủ tịch hàng năm thường đón những đoàn thiếu nhi từ khắp mọi miền đất nước đến thăm Bác.

Lần đầu tiên tôi được tham gia một đoàn thiếu nhi có thành tích học tập tốt vào thăm Bác vào mùa hè năm 1964, khi tôi lên 8 tuổi. Đoàn khá đông, tập kết ở bậc thềm Phủ Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trong bộ quần áo đại cán. Sau này trong một thước phim tài liệu tôi thấy mình bận bộ quần yếm đỏ, áo hoa nhảy lên vỗ tay giữa bao bạn thiếu nhi. Phút giây gặp gỡ trôi đi thật là nhanh! Bác Hồ chia kẹo cho chúng tôi, những chiếc kẹo bọc giấy đỏ. Tôi tự nhủ thầm: gắng học giỏi để năm sau lại được vào thăm Bác.

Năm sau, một lần nữa tôi được tham gia 1 đoàn thiếu nhi đến thăm Bác. Mùa hè năm 1965 đối với bọn trẻ chúng tôi giống như bao mùa hè trước. Nhưng dường như Hà Nội đã có những đợt sóng ngầm báo hiệu chiến tranh. Chờ hồi lâu không thấy Bác Hồ, người xuất hiện là Phó Chủ tịch Tôn Đức Thắng, thay Bác Hồ chia kẹo cho chúng tôi. Cuối năm 1965, chúng tôi rời Hà Nội theo Trường Âm Nhạc Việt Nam đi sơ tán. Vài năm sau đó chiến tranh tạm ngừng, trở về Hà Nội, tôi may mắn có dịp được vào thăm Bác.

Một ngày cuối tháng 5/1969, học sinh sơ cấp trường Âm Nhạc Việt Nam được vào Phủ Chủ tịch biểu diễn nhân dịp ngày Quốc tế Thiếu nhi. Chúng tôi đồng thanh hát: “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”. Không ngờ đó là lần cuối Bác Hồ gặp các cháu thiếu nhi – Người từ trần sau đó 3 tháng.

Chị Tạ Phương Thủy cùng chồng, ông Hoàng Vĩnh Lợi, ở Ba Lan

Đó là một ngày nắng xanh trời, bậc thềm Phủ Chủ tịch cũng phấp phới màu xanh trời điểm trắng của váy áo đồng phục thiếu nhi vào thăm Bác. Tôi ôm bó hoa vinh dự thay mặt thiếu nhi tặng Bác Hồ. Đôi mắt chúng tôi long lanh niềm vui sướng. Hồ Chủ tịch xuất hiện trong bộ quần áo nâu giản dị. Rất gần Bác, tôi ngắm chòm râu bạc, nước da mồi, nụ cười tươi của Người.

Khi chương trình biểu diễn của các học sinh bắt đầu, hai em gái nhỏ tuổi nhất được ngồi cạnh Bác. Kế bên là Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các vị lãnh đạo khác. Bác chăm chú nghe các tiết mục biểu diễn của thiếu nhi, gương mặt ngời sáng. Bác hôn các cháu, đặc biệt sau những tiết mục đàn dân tộc. Khi tôi giới thiệu các tiết mục tam thập lục và thập lục, Người nhẹ nhàng nói:  Ngôn ngữ Việt Nam là đàn 36 dây và 16 dây, bác cháu ta nói bằng ngôn ngữ của ta”.

Những lần vinh dự thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với tôi thật sự là giấc mơ. Trải qua 43 năm kể từ khi Bác Hồ đi xa, có nhiều đổi thay trong xã hội, nhưng còn nguyên trong tôi – cô học trò năm xưa đã từng được tặng hoa Bác, một lòng yêu kính Người. Chính tình cảm thiêng liêng của cả một thế hệ chúng tôi dành cho vị lãnh tụ là một trong những chất liệu làm nên tính cách con người. Dù ở đâu, đi đâu chúng tôi vẫn giản dị là người Việt Nam”.

Linh Thư
vietnamnet.vn

Học tập cách viết của Bác Hồ

(GD&TĐ) – Hồ Chí Minh là nhà báo lớn của dân tộc. Người đã hoạt động báo chí liên tục suốt cuộc đời cách mạng của mình. Người để lại một di sản báo chí quý báu với khoảng 2000 bài báo đủ các thể loại. Tìm hiểu di sản báo chí đồ sộ của Bác Hồ, mỗi người làm báo có thể tiếp cận học tập được nhiều điều bổ ích cho công việc của mình. Bài viết này sẽ trình bày một số điểm thiết thực có thể học tập từ cách viết của Bác Hồ.

Bác làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch, 1957
Bác làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch, 1957

Viết phải có mục đích

Hồ Chí Minh tâm niệm: “Viết và nói phải có mục đích, phải có nội dung”. Trả lời câu hỏi “Viết để làm gì?” Người khẳng định: “Viết để tuyên truyền, để giác ngộ, để đoàn kết, để thức tỉnh quần chúng”. Người cũng chỉ rõ thêm: “Báo chí của ta phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ Chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới” và “Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ”. Với mục đích như vậy, rõ ràng hoạt động báo chí nói chung và việc viết báo nói riêng không thể tách rời với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Điều này đòi hỏi người viết phải có lập trường chính trị đúng đắn, vững vàng, phải có nhãn quan chính trị sắc bén và phải có độ nhạy cảm chính trị – xã hội cao. Trong đó, ngòi bút của nhà báo phải hướng tới phục vụ lợi ích của Đảng, của dân, của đất nước và dân tộc.

Viết phải có nội dung

Về nội dung, Hồ Chí Minh xác định: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội”. Còn đối với địch “thì nêu những cái xấu của nó để cho bộ đội ta, đồng bào ta biết…để gây lòng căm thù đối với quân địch”. Như thế, nội dung viết phải nhằm tới việc thực hiện mục đích viết, giúp cho việc đạt được mục đích viết. Nội dung viết phải chứa đựng những thông tin, những vấn đề của thực tiễn thực sự cần thiết cho bạn đọc, phục vụ lợi ích của bạn đọc, lợi ích của dân của nước. Muốn được như vậy, người viết phải năng động, xông xáo, bám sát thực tiễn, tìm tòi, phát hiện.

Viết phải đúng sự thật

Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra”. Như vậy, Người yêu cầu bài viết phải bảo đảm tính chân thực. Không bảo đảm tính chân thực sẽ làm mất niềm tin của bạn đọc, sẽ không thuyết phục được họ. Muốn vậy, người viết phải bám sát thực tiễn, điều tra, nghiên cứu, xem xét, kiểm tra, chọn lọc thông tin, phải thực sự cẩn trọng khi viết bài, đưa tin. Với tinh thần như vậy, Hồ Chí Minh căn dặn: “Không nên nói ẩu”; “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói chớ viết”. Đáng tiếc là hiện nay nhiều người viết còn chưa thực sự cẩn trọng khi viết bài, đưa tin, vì nôn nóng muốn có tin bài ”nóng” mà không thẩm tra, cân nhắc kỹ lưỡng, đưa lên mặt báo những tin bài có nội dung sai lạc; điều này nhiều khi gây ra những hậu quả tiêu cực khôn lường.

Ngắn gọn

Ngắn gọn là điều Hồ Chí Minh rất chú trọng khi viết. Người chỉ rõ: “Trước hết là cần phải tránh cái lối viết “rau muống”, nghĩa là lằng nhằng “trường giang đại hải”, làm cho người xem như là “chắt chắt vào rừng xanh”. Mình viết ra cốt để giáo dục, cổ động, nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích…”. Người giải thích: “Ngắn gọn có nghĩa là gọn gàng, rõ ràng, có đầu, có đuôi, có nội dung thiết thực, thấm thía, chắc chắn”. Ngắn gọn với ý nghĩa như vậy đòi hỏi bài viết phải hàm súc, cô đọng, mỗi chữ, mỗi ý đều phải thực sự thiết thực, gắn với mục đích đặt ra, không có chữ thừa, ý thừa. Để đạt được điều này, điều tối quan trọng là người viết phải rèn luyện công phu. Hồ Chí Minh đã từng kể lại việc Người đã học viết báo công phu như thế nào, khởi đầu là viết ngắn, sau đó là viết dài, rồi từ viết dài phải tập viết ngắn lại, viết cho cô đọng ra sao. Viết dài, ba hoa, sáo rỗng rõ ràng là điều tối kỵ đối với người viết, nhưng không phải hiện nay người viết báo nào cũng tránh được điều này. Để bài viết được ngắn gọn, cũng cần chống tư tưởng viết dài chiếm nhiều “diện tích” trên mặt báo để được trả nhuận bút nhiều hơn.

Trong sáng, giản dị, dễ hiểu

Trong sáng, giản dị, dễ hiểu là điều có thể nhận thấy rất rõ ở tất cả các bài viết của Hồ Chí Minh, dù các bài viết này thuộc thể loại nào, phục vụ cho đối tượng người đọc nào, nói về những vấn đề cụ thể nào của cuộc sống chiến đấu, lao động hay những vấn đề lớn nào của đất nước, dân tộc, thời đại. Theo Hồ Chí Minh, muốn viết được trong sáng, giản dị, dễ hiểu phải học cách nói của quần chúng. Có học cách nói của quần chúng thì mới được người đọc là quần chúng chấp nhận. Người dạy “chớ ham dùng chữ”, “viết phải thiết thực”. Mặc dù là người uyên bác, am hiểu văn hóa phương Đông, phương Tây, biết nhiều ngoại ngữ nhưng Người thường sử dụng từ ngữ đơn giản, thông dụng mà lại phản ánh đúng bản chất sự vật, có sức thuyết phục cao. Chính bởi vậy nhiều câu, nhiều ý trong các bài viết của Người đã đi vào đời sống và trở thành khẩu hiệu, phương châm hành động như: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền…” vv… Người cực lực phê phán những cách dùng chữ cầu kỳ, không phù hợp đối tượng, ví dụ như đem “tân dân chủ nghĩa” giáo dục cho các cháu nhi đồng chẳng hạn.

Cái tâm người cầm bút

Tôi muốn dùng mục nhỏ này để thay cho lời kết của bài viết. Cái tâm là điều chúng ta có thể cảm nhận được và học tập từ tất cả các bài viết của Bác Hồ. Cái tâm là điều không thể dùng kỹ thuật viết thay thế được. Cái tâm ở đây chính là tình cảm rộng lớn và sâu sắc của Người đối với đồng bào, đồng chí, đồng loại, với các cháu thiếu niên, nhi đồng, với đất nước, dân tộc. Chính tình cảm lớn này đã góp phần quan trọng nâng nhà báo lớn Hồ Chí Minh lên tầm một danh nhân văn hóa kiệt xuất.

TS. Nguyễn Danh Bình
gdtd.vn

Thấm nhuần tư tưởng của Người về GD-ĐT

(GD&TĐ) – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức chăm lo cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được Người thể hiện rõ  trong mọi chính sách, chủ trương về GD.

Ngay khi cách mạng Tháng 8 thắng lợi, Người đã khai sinh cho nền GD mới, tiến bộ; một nền GD dân tộc, nhân dân, khoa học, dân tộc và đại chúng. Và trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn “những ngày trứng nước” của chính quyền mới, bên cạnh hai nhiệm vụ diệt giặc đói và giặc ngoại xâm, Người còn đặt ra nhiệm vụ diệt giặc dốt là một trong ba nhiệm vụ cấp bách nhất của Chính phủ lâm thời bấy giờ với vận mệnh của dân tộc. Ngay tại phiên họp thứ nhất của Hội đồng Chính phủ, ngày 3/9/1945, Người đề nghị “mở chiến dịch để chống nạn mù chữ”, và ngày 4/10/1945, Người ra “Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học”. Bởi Người “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Phát động phong trào chống nạn mù chữ, Người mong muốn mỗi người dân đều “Biết học, biết viết chữ quốc ngữ” để “Nâng cao dân trí”, “Giữ vững nền độc lập” và “Làm cho dân mạnh nước giàu”. Nhờ vậy, từ chỗ 95% dân số mù chữ trước Cách mạng Tháng 8, dân tộc ta đã vươn lên trở thành một dân tộc có văn hoá, khoa học, đủ khả năng để bảo vệ và xây dựng đất nước.

Đại biểu học sinh Trường trung học Trưng Vương, Hà Nội, chúc mừng sinh nhật Bác Hồ tháng 5 năm 1956 (ảnh tư liệu)Đại biểu học sinh Trường trung học Trưng Vương, Hà Nội, chúc mừng sinh nhật Bác Hồ tháng 5 năm 1956 (ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đặt niềm tin vững chắc vào thế hệ trẻ của dân tộc. Trong Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường (tháng 9/1945): Người dạy: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Đặc biệt trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước lúc đi xa, Người đã một lần nữa khẳng định: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”. Đồng thời, Người căn dặn: “Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Những căn dặn đó của Người cũng là những nội dung hoạt động chủ yếu của nhà trường XHCN chúng ta trong quá trình GD-ĐT, dù ở thời kỳ nào, dưới hình thức nào. Thấm nhuần tư tưởng của Người và thực hiện những căn dặn mà Người để lại trong Di chúc, trong suốt 40 năm qua, ngành GD&ĐT nước nhà đã không ngừng phấn đấu vươn lên, đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, nâng cao chất lượng GD – ĐT, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ XHCN, bước đầu đưa Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế và tiến tới “sánh vai các cường quốc năm châu” như mong đợi của Người.

Có thể nói những căn dặn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân trong Di chúc là kết tinh của toàn bộ tư tưởng của Người. Đối với tư tưởng về GD, sinh thời Người đặc biệt chú trọng đến GD toàn diện với sự cân bằng cả về GD đức lẫn tài và mối quan hệ giữa hai mặt đó trong sự hoàn thiện nhân cách của con người mới – con người XHCN. Người từng dạy: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ XHCN, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Đồng thời Người còn chỉ rõ: “Việc giáo dục gồm có: đức, trí, thể, mỹ”. Nền GD toàn diện ngày nay chúng ta hướng tới không nằm ngoài lời dạy của Người, thể hiện qua sự vận dụng sáng tạo kết hợp với chắt lọc sự tiên tiến của các nền GD trong khu vực và trên thế giới. Tư tưởng GD toàn diện của Người đã chỉ ra cho chúng ta thấy được mô hình chung của con người phải đào tạo trên những định hướng chính về các mặt phẩm chất và tài năng cùng mối liên hệ giữa các mặt đó với nhau để cùng hoàn thiện nhân cách. Đó là cơ sở tư tưởng và lý luận để chúng ta vạch ra chiến lược con người cho thế kỷ 21, trước mắt là đến năm 2010, trong đó Đảng và Nhà nước ta đã xác định nòng cốt thực hiện là ngành GD&ĐT.

Trong tư tưởng về phương pháp GD, Người đặc biệt chú ý đến vấn đề tự học và học tập suốt đời. Người quan niệm: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt”. Điều này tương đồng với quan điểm của Lênin: “Học, học nữa, học mãi”. Tư tưởng tự học của Người có thể quy thành 5 vấn đề:

1 – Trong việc tự học, điều quan trọng hàng đầu là xác định rõ mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn.

2 – Phải tự mình lao động để tạo điều kiện cho việc tự học suốt đời.

3 – Muốn tự học thành công, phải có kế hoạch sắp xếp thời gian học tập, phải bền bỉ, kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bước trước mọi trở ngại.

4- Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để tự học.

5- Học đến đâu, ra sức luyện tập thực hành đến đó.

Đây là cống hiến to lớn và quý báu của Người vào lý luận dạy – học của nước ta mà trong suốt bao năm qua ngành GD&ĐT đã triển khai thực hiện một cách hiệu quả. Ngày nay, xã hội chúng ta là một xã hội học tập, học tập không ngừng. Đảng và Nhà nước đã xác định GD là quốc sách hàng đầu và đầu tư cho GD là đầu tư cho tương lai của nước nhà; chỉ có đẩy mạnh GD&ĐT mới có thể đưa đất nước sớm “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong đợi. Riêng đối với ngành GD, không những ngày càng đẩy mạnh đổi mới GD, đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng lấy người học làm trung tâm mà việc học đi đôi với hành đã thực sự được chú trọng, qua đó góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng GD-ĐT nước nhà thời gian qua.

Bên cạnh đề cao việc “tự học”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn luôn nhắc nhở những người làm công tác GD phải nhận thức đúng đắn “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”. Tư tưởng lớn này tạo ra sức mạnh để huy động tất cả mọi lực lượng chính quyền, đoàn thể, gia đình và xã hội tham gia xây dựng sự nghiệp GD, không chỉ bằng mặt vật chất, mà chủ yếu là để xây dựng mặt con người mới cho thế hệ trẻ – những người kế thừa xây dựng XHCN vừa “hồng” vừa “chuyên”. Còn nhớ sinh thời mặc dù bận trăm công ngàn việc, Người vẫn quan tâm theo dõi chỉ đạo cụ thể, sát sao các phong trào thi đua, như phong trào “dạy tốt, học tốt”, “người tốt, việc tốt”. Tư tưởng “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng” của Người đã được Đảng, nhân dân ta và ngành GD&ĐT vận dụng một cách sáng tạo thành phong trào xã hội hoá GD đang phát triển sôi nổi và rộng khắp trên phạm vi cả nước hiện nay trên cơ sở xây dựng mối quan hệ giữa ba lực lượng GD: Nhà trường – Gia đình – Xã hội.

Trên cả nước, mạng lưới cơ sở GD không ngừng được mở rộng; các loại hình GD ra đời đáp ứng như cầu xã hội; các trung tâm học tập cộng đồng, các cơ sở GD thường xuyên ngày càng được mở rộng với sự tham gia của toàn xã hội. Công tác xã hội hoá chưa bao giờ được coi trọng và đẩy mạnh như ngày nay. Để làm được điều đó, chính là nhờ chúng ta đã nhận thức đúng đắn được quan điểm của Người: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945. Ngày 2/9/1969, Người đi vào thế giới Người Hiền với lời nhắn gửi đến toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong bản Di chúc lịch sử. Bản Di chúc thực sự là kết tinh toàn bộ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà ngày nay chúng ta không ngừng học tập, noi theo; trong đó có những quan điểm, những lời căn dặn quý báu của Người về sự nghiệp GD-ĐT nước nhà mà ngành GD-ĐT ngày nay đã và đang thực hiện theo để sớm đưa nền GD nước ta đạt tới sự tiên tiến, toàn diện, có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời Người đã dặn.

Mai Thành Chung
gdtd.vn

“Cụ Hồ ở giữa lòng dân”

(GD&TĐ) – Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là vị lãnh tụ, là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam chúng ta. Người được tổ chức Văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên Hợp Quốc (Unesco) tôn vinh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Hình tượng Bác Hồ đã đi vào thơ ca, nhạc, họa, và được thể hiện đặc biệt sinh động trong ca dao, dần tạo nên một kho tàng “Ca dao Việt Nam về Bác Hồ”.

Với mỗi người dân Việt Nam, Bác Hồ thân yêu và gần gũi như ruột thịt. Nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“Người là Cha, là Bác, là Anh
Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”

Để nói lên tâm tư, tình cảm của mình, nhân dân ta thường sáng tác ca dao. Trong kho tàng ca dao Việt Nam, có nhiều câu ca dao ca ngợi Bác Hồ. Những câu ca dao này nói lên tình cảm kính yêu Bác của mọi lứa tuổi, mọi tầng lớn nhân dân trên các vùng miền đất nước.

Đối với nhân dân ta, Bác Hồ là tên gọi đẹp nhất, sáng chói nhất, lung linh nhất:

“Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”

Công ơn trời biển của Bác Hồ đối với đất nước, đối với dân tộc và toàn thể nhân dân ta là không gì có thể so sánh được:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Bác Hồ hơn mẹ hơn cha
Ơn cao, nghĩa nặng bao la biển trời
Vì dân chiến đấu suốt đời

và:

Trên trời có ông sao Rua
Việt Nam ta có cụ Hồ, em ơi!
ánh sao Rua sáng ngời một góc
Gương cụ Hồ tỏ khắp năm châu.

Nhân dân ta đã dùng những hình anh so sánh cổ truyền để nói lên công ơn vĩ đại của Bác:

Đố ai đếm được trời sao
Đố ai đếm được công lao Bác Hồ
Đố ai lên được trời cao
Đố ai đáp được công lao Bác Hồ

Nhân dân ta cũng dùng những hình ảnh cụ thể, những sự vật cụ thể để ghi ơn công đức Bác, của Đảng.

Ngày xưa bưng lấy bát cơm
Nhớ thầy, nhớ mẹ phong sương cấy cày
Ngày nay bưng bát cơm đầy
Ơn Bác, ơn Đảng ngày ngày không quên.

Bác Hồ để lại muôn vàn tình thương yêu cho nhân dân, cho đất nước. Đất nước ta, nhân dân ta cũng kính yêu người với tình cảm sâu sắc, bao la:

Lòng Bác rộng khắp bao la
Lòng dân, lòng Bác chan hoà nước non

Các cháu thiếu nhi thì luôn luôn ghi nhớ
“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”

và luôn luôn các cháu mong đợi”

Bao giờ được Bác về chơi
Để cho các cháu khắp nơi đón mừng.

Trải qua những ngày kháng chiến đầy khó khăn, gian khổ. Trải qua những ngày hậu phương tiền tuyến cùng góp sức, góp công, góp của chiến thắng khẻ thù xâm lược quỷ quyệt, tàn ác, nhân dân ta càng thấm thía công ơn của Bác:

Trèo đèo mới biết đèo cao
Có đi tiếp vận mới biết công lao Cụ Hồ.

Càng nhớ ơn Bác Hồ, mọi người, mọi tầng lớp nhân dân càng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được cách mạng phân công, giao phó:

Cụ Hồ với dân
Như chân với tay
Như chày với cối
Như cội với cành
Toàn dân dốc một lòng thành
Làm tròn nhiệm vụ, đáp tâm tình Cụ thương dân.

Nhân dân vùng mỏ Quảng Ninh đã bao đời cực khổ vì bọn thống trị thực dân, bọn chủ mỏ bóc lột, áp bức:

Ăn cơm với cá mòi he
Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời

Họ mong ngày kháng chiến thắng lợi, ngày ánh sáng của Đảng, của Bác Hồ về với vùng mỏ:

Bao giờ mà Cụ về đây
Bao nhiêu đau khổ một ngày sạch không
Ăn cơm với cá mòi bông
Lấy chồng Cẩm Phả sướng hơn ông chủ nhì

Nhân dân Nam Bộ với gậy tầm vông, với mã tấu, với lựu đạn đã đứng lên anh dũng chiến đấu chống đội quân xâm lược nhà nghề có vũ khí hiện đại cũng mong đợi:

Bài thơ Nam Bộ của Người, Người ơi
Có vần, có điệu đủ rồi
Còn đợi bóng Người in giữa bài thơ
Bao giờ độc lập Người vô
Bấy giờ là lúc bài thơ hoàn thành

Nhân dân Liên khu 5 trong những tháng ngày kháng chiến gian lao và trường kỳ luôn luôn nhận được tình thương bao la của Bác Hồ, trong lòng luôn luôn tâm niệm và mong ước:

Ai ngoài muôn dặm trùng dương
Cũng thường nhận được tình thương Bác Hồ
Mong ngày độc lập Cụ vô
Thoả lòng mong đợi, ước mơ đêm ngày.

“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” (ảnh TL)

Nhân dân cả nước ta thấm thía công ơn của Đảng, của Bác Hồ. Có Bác Hồ, có Đảng, nhân dân cả nước mới có độc lập, tự do, có điều kiện để xây nền hạnh phúc cho bản thân mình và cho muôn đời con cháu mai sau. Người nông dân càng thấm thía công ơn của Bác mang lại ruộng đất, được làm chủ ruộng đồng, làm chủ quê hương. Công ơn Bác, hình ảnh Bác đi liền với hạnh phúc, ấm no:

Ơn Người lúa lại vàng tươi
Sắn khoai lại biếc mây trời lại xanh.

Đồng bào miền Nam khi tiễn con em ra miền Bắc tập kết theo Hiệp định Giơ – ne – vơ năm 1954 đã nhắn nhủ:

Con ra thưa với Bác Hồ
Đất này chỉ một ngọn cờ vàng sao

Bác Hồ ở giữa lòng dân, Bác Hồ sống mãi trong lòng nhân dân cả nước. Hình ảnh Bác Hồ thật cao quý, thiêng liêng nhưng lại rất thân thiết, gẫn gũi:

Cụ Hồ ở giữa lòng dân
Tuy xa xa lắm mà gần, gần ghê
Mỗi khi thư Cụ gửi về
Rộn ràng khắp chợ cùng quê đón mừng.

Bác Hồ là lãnh tụ cách mạng, là hình ảnh của toàn dân tộc. Bác Hồ đem lại sự đổi đời cho đất nước, cho toàn dân, nhưng Bác Hồ cũng là người ông, người cha, người anh thân thiết của mỗi gia đình người Việt Nam chúng ta. Bác Hồ là người dẫn đường, là tấm gương sáng, là ngọn đuốc lung linh soi sáng cho nhân dân cả nước đi lên trên con đường tới độc lập, tự do và hạnh phúc. Bác Hồ là cả một chân trời:

Cụ Hồ là vị cha chung
Là sao Bắc Đẩu, là vừng thái dương
Chúng con đi giữa đêm trường
Nhờ cha dìu dắt, dẫn đường chúng con
Ơn cha như nước, như non
Như gương Hồ Thuỷ, như hòn Thái Sơn

“Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” đó là truyền thống đạo đức của nhân dân ta. Được sống trong đất nước hoà bình, độc lập, tự do, nhân dân ta càng thấm thía, càng ghi sâu công ơn và tấm gương đạo đức trong sáng, cao quý của Bác Hồ:

Uống nước là nhớ đến nguồn
Cơm no áo ấm nhớ ơn Bác Hồ
Ơn Bác Hồ sâu hơn Nam Hải
Công Bác Hồ bằng dải Trường Sơn
Nam Hải sâu ta đo cũng được
Trường Sơn dài ta vượt cũng qua
Công ơn của Bác bao la
Nhân dân kể đến bao giờ cho xong

Làm sao kể hết công lao của Bác Hồ và làm sao kể hết những câu ca dao của nhân dân ta viết về Bác Hồ vì nhân dân vẫn không ngừng sáng tác những câu ca dao, những bài cao dao ca ngợi công ơn của Bác. Các nhà văn, nhà thơ, các nhà nghiên cứu và cả nhân dân vẫn tiếp tục sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu… về Người. Và công việc ấy sẽ còn tiến hành mãi mãi…Đó là mạch nguồn cảm hứng vô tận, như nghĩa tình tha thiết dân Việt hướng về vị Cha già dân tộc kính yêu.

Đặng Trần Tụy
(Hội Văn Nghệ Dân gian Hà Nội)
gdtd.vn

Học tập “phong cách học tập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(GD&TĐ) – Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là tấm gương sáng ngời về tư tưởng, đạo đức, trí tuệ, tài năng, nhân cách và lối sống mà còn là một mẫu mực về phương pháp và phong cách. Phong cách Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà người đã để lại cho dân tộc và nhân loại.

Trong đó, phong cách học tập là một trong những nội dung cơ bản trong phong cách Hồ Chí Minh. Nghiên cứu ngày càng sâu về phong cách học tập Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấy rõ hơn tầm vĩ đại của Người với tư cách là nhà tư tưởng lớn, nhà chiến lược thiên tài, nhà hoạt động thực tiễn lỗi lạc và là tấm gương sáng ngời đã để lại những bài học quý giá trở thành chuẩn mực cho việc xây dựng và rèn luyện phong cách học tập của người cán bộ cách mạng, bồi dưỡng nhân cách cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau. Phong cách học tập của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện ở động cơ học tập trong sáng, thái độ học tập đúng mực và phương pháp học tập khoa học, sáng tạo với phương châm lấy tự học làm trung tâm. Phương pháp đó là sự thống nhất biện chứng giữa động cơ, thái độ, nội dung và phương pháp học tập.

Bác Hồ thăm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc (1958) và dạy: Bác Hồ thăm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc (1958) và dạy: “Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, người chủ tương lai của nước nhà… Nhà trường phải gắn liền với thực tế của nước nhà, với đời sống nhân dân”.

Phong cách học tập Hồ Chí Minh là một cống hiến quan trọng, là đóng góp to lớn vào kho tàng lý luận dạy – học của nước ta; trở thành một triết lý học tập; một giá trị nhân sinh cao đẹp, tiêu biểu cho trí tuệ, tâm hồn và phong cách Việt Nam – phong cách đó rất gần gũi, dung dị mà sâu sắc; uyên bác mà dễ hiểu, dễ tiếp thu và chuyển hóa, có thể học tập và làm theo. Phong cách học tập Hồ Chí Minh thấm nhuần triết lý hành động của phương Đông, đồng thời được soi sáng bởi thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin nên rất đa dạng, phong phú, sinh động nhưng sâu sắc. Phong cách học tập đó không những tạo cơ sở khoa học mà còn là tấm gương mẫu mực và thiết thực cho mọi người học tập và tự học tập suốt đời để vươn lên không ngừng. Phong cách đó không chỉ là lý luận mà còn là cách thức và phương pháp soi đường và chỉ dẫn cho chúng ta học tập và noi theo.

Nét đặc trưng trong phong cách học tập Hồ Chí Minh mang tính độc đáo, đó là phong cách học tập hàm chứa những yếu tố rất giản dị, đại chúng với động cơ, mục đích cao cả, trong sáng mà thiết thực; với thái độ cầu thị, khiêm tốn nhưng lại đòi hỏi rất cao và hết sức nghiêm túc; với phương pháp học tập khoa học mà dễ nhớ, dễ hiểu, phù hợp với mọi đối tượng, lứa tuổi… Cụ thể là:

Một là, động cơ học tập trong sáng vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của cách mạng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì sự tiến bộ của nhân loại. Quan tâm, chăm lo tới sự nghiệp giáo dục của nước nhà, Hồ Chí Minh luôn kêu gọi mọi người thi đua học tập, coi học tập là nhiệm vụ thường xuyên, suốt đời, “còn sống thì còn phải học”. Và trong việc học tập Người đặc biệt chú trọng đến động cơ, thái độ học tập: “Muốn học tập có kết quả thì phải có thái độ đúng và phương pháp đúng” [1]. Tức là, trước hết phải có động cơ học tập đúng để xác định rõ và đúng xu hướng nghề nghiệp chân chính của mình là vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của cách mạng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì con người và vì sự tiến bộ của chính bản thân mình. Theo Hồ Chí Minh, mục đích của việc học tập là: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ, học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại ”[2 ].

Động cơ chính là động lực bên trong của mỗi con người, sự thể hiện nó được biểu hiện qua hành vi, thái độ và việc làm của con người đó. Do vậy, chỉ khi nào xác định được động cơ học tập đúng đắn thì mỗi chúng ta mới có thái độ và phương pháp học tập đúng đắn và khoa học. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào người học cũng phải nỗ lực, cố gắng và phải xây dựng cho mình một động cơ học tập đúng đắn; đồng thời không cho phép tồn tại những tư tưởng cơ hội, vụ lợi, thực dụng, ích kỷ cá nhân, hay những biểu hiện lười học tập, ngại rèn luyện, hoặc là dùng mọi thủ đoạn nhằm đạt kết quả cao trong học tập. Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Học để sửa chữa tư tưởng, học để tu dưỡng đạo đức cách mạng, học để tin vào đoàn thể, vào nhân dân, vào tương lai của dân tộc và tương lai của cách mạng, học để hành”; “học để làm việc”; chứ không phải học để “làm ông nọ bà kia”, hay là để “làm quan cách mạng”… cho nên, “tất cả những động cơ học tập không đúng đắn đều phải tẩy trừ cho sạch”[ 3].

Với tầm nhìn xa trông rộng, Hồ Chí Minh đã thấy rõ vai trò của việc học tập đối với người cán bộ cách mạng. Trong nhiều lần nói chuyện với giới trí thức, Bác thường nhấn mạnh tầm quan trọng của công việc học tập: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời”. Trên cơ sở nắm bắt được xu thế của thời đại và khả năng dự báo được tương lai, Người đã chỉ rõ: “Tình hình thế giới và trong nước luôn luôn biến đổi, công việc của chúng ta nhiều và mới, kỹ thuật của thế giới ngày càng tiến bộ, nhưng sự hiểu biết của chúng ta có hạn. Muốn tiến bộ kịp sự biến đổi vô cùng tận, thì chúng ta phải nghiên cứu, học tập”[ 4] và “nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được … không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”. Người thường dẫn câu nói của Lênin “Học, học nữa, học mãi” để nhắc nhở bản thân, để giáo dục cán bộ, đảng viên và mọi người.

Bản thân Hồ Chí Minh đã nêu gương mẫu mực về động cơ học tập trong sáng. Người học tập với một động cơ hết mực trong sáng và với một ý nguyện thật cao cả; việc học tập đó không chỉ dừng lại ở sự mở rộng vốn hiểu biết, nâng cao trình độ tri thức và tiến bộ của bản thân, đó cũng hoàn toàn không phải vì bằng cấp nọ, học vấn kia… mà quan trọng hơn là để tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, làm cho đất nước độc lập, nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc. Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[ 5]. Động cơ và mục đích này luôn luôn trở thành động lực thường xuyên và trực tiếp thôi thúc Bác một cách mạnh mẽ trong việc học tập, tiếp thu tri thức nhân loại.

Hai là, thái độ học tập đúng đắn, khiêm tốn, say mê, cầu thị, chân thành, không kiêu ngạo, không dấu dốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần học tập suốt đời, về thái độ khiêm tốn, say mê và cầu thị, không dấu dốt trong học tập.. Cho đến những năm cuối đời mình, Người vẫn chú trọng, không sao nhãng việc học tập. Tháng 5-1966, trong một buổi nói chuyện với các đồng chí đảng viên mới ở Hà Nội, Người đã nói: “Bác thường nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy là không đúng, 40 tuổi chưa phải là già. Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng”[ 6]. Người cho rằng: “Không ai có thể tự cho mình là đã biết đủ rồi, biết hết rồi” và “người nào tự cho là đã biết đủ rồi, thì người đó dốt nhất”, mỗi người phải biết khiêm tốn, chớ “kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập”. Đức tính khiêm tốn yêu cầu, đòi hỏi con người ta không được thỏa mãn với vốn kiến thức của mình và cũng không được phép bằng lòng với những thành tích đã đạt được.

Ba là, phương pháp học tập khoa học, sáng tạo và hiệu quả theo phương châm “lấy tự học làm cốt”. Việc xác định đúng động cơ và thái độ trong học tập là nội dung hết sức quan trọng và cần thiết, nhưng để hiện thực hóa động cơ, thái độ đó; đòi hỏi tất yếu khách quan là phải xây dựng được phương pháp học tập khoa học. Vì vậy, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng và thông qua quá trình đó, Người đã hình thành cho mình một phương pháp học tập khoa học, đó là con đường tự học, với phương châm “lấy tự học làm cốt” và phải biết “tự động học tập”. Hồ Chí Minh chỉ rõ: tự học, tự rèn, tự tu dưỡng cũng giống như “mài ngọc luyện vàng”, “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Bởi vì, theo Người: “Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có”[ 7].

Trong tự học phải xác định đúng nội dung tự học, “học cái gì”? Theo Hồ Chí Minh, nội dung tự học rất rộng lớn, bao gồm: học tập lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, văn hoá, đạo đức… trong đó, Người luôn coi trọng việc học tập lý luận; bởi lẽ “không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Người luôn đặt ra yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế. Phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông”[8 ]. Mỗi người phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất nhân cách và đạo đức cách mạng.

Muốn tự học thành công phải có kế hoạch cụ thể, khoa học. Kế hoạch học tập đó không phải là một sự tự do, tùy ý mà được xây dựng một cách chủ động, trên cơ sở căn cứ vào tình hình công việc, khả năng, thời gian và điều kiện phù hợp. Trong điều kiện thời gian không cho phép thì phải nắm cho được những vấn đề cơ bản,“phải thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều”, “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Đặc biệt, theo Người, phải tự nguyện, tự giác; tích cực, chủ động và kiên trì, bền bỉ, quyết tâm thực hiện kế hoạch đến cùng, phải xem công việc học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập; nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập.

Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để học. Người vạch ra: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”[ 9]; “Học tập trong việc làm hằng ngày, trong việc lớn cũng như việc nhỏ”. Học tập trong kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại. Học đến đâu phải ra sức luyện tập thực hành đến đó, “học mà không hành thì vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”. Học đi đôi với hành cùng một lúc sẽ hình thành ở người học cả tri thức lẫn kỹ năng; do đó, “hành” trở thành một hình thức chính của “học”, quá trình “học” xảy ra trong chính quá trình “hành”. Trong buổi nói chuyện với cán bộ giảng dạy và sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Ngày 20/10/1964), Người đã khuyên: Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau.

Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ lúc thanh niên cho đến khi trở thành lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, thành người chiến sĩ xuất sắc của phong trào cộng sản quốc tế là một tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học, lấy tự học làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ về mọi mặt của bản thân. Sự thành công của Người trong việc tiếp thu chân lý vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin và trong việc sáng tạo sách lược đấu tranh cách mạng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến cũng chính là kết quả của một quá trình tự học kiên trì, gian khổ trong cuộc đấu tranh cách mạng liên tục, kiên cường. Người đã tổng kết những kinh nghiệm quý báu về quá trình học tập – tự học suốt cả đời mình và đã để lại cho chúng ta những bài học vô giá. Tuy nhiên, tự học ở Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tuỳ ý, vô nguyên tắc… Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học làm cốt, làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân. Song tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tùy ý vô nguyên tắc… mà tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một triết lý nhân văn sâu sắc với một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học; với một ý chí và quyết tâm bền bỉ, dẻo dai, tinh thần sáng tạo, tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học.

Thực tiễn sống động trên là minh chứng hùng hồn, rõ ràng nhất về ý thức, thái độ và cách thức học tập đúng đắn của Người; thể hiện sâu sắc và rõ nét một phong cách học tập khoa học, mẫu mực. Thế hệ hôm nay có thể tìm thấy trong phong cách học tập đó tinh thần học tập không mệt mỏi; không tư lợi, học để phụng sự cách mạng, phụng sự nhân dân; học tập một cách thông minh, sáng tạo; học ở sách vở, học tập thực tiễn, ở quần chúng… Ngoài ra, phong cách học tập Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế. Phương pháp học tập của Người là tùy theo điều kiện, thời gian mà thực hiện từng bước và có hiệu quả; đặc biệt, phải lấy tự học làm chính. Phải hết sức khiêm tốn, không dấu dốt.

Phong cách học tập của Người là một cống hiến quan trọng, đóng góp to lớn vào kho tàng lí luận dạy học của nước ta; trở thành một triết lí học tập, một giá trị nhân sinh cao đẹp tiêu biểu cho trí tuệ tâm hồn và phong cách Việt Nam – rất gần gũi, dung dị mà sâu sắc; uyên bác mà dễ hiểu, dễ tiếp thu và chuyển hoá. Phong cách học tập của Hồ Chí Minh thấm nhuần triết lý hành động của phương Đông, đồng thời soi sáng bởi thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin nên rất đa dạng, phong phú, sinh động nhưng sâu sắc. Phong cách đó đã tạo cơ sở khoa học để mọi người giáo dục và tự giáo dục suốt đời để vươn lên không ngừng.

Nguyễn Văn Thanh
(Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng)
gdtd.vn

Bác Hồ với giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên

(GD&TĐ) – Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân ta luôn đánh giá đúng vị trí, vai trò của đoàn viên, thanh niên, Người luôn dành tình cảm, sự quan tâm chăm lo, bồi dưỡng, động viên đến các thế hệ thanh niên của nước nhà.

Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên Đán năm 1946, Người viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Bởi theo Người, đoàn viên, thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay yếu, suy hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục đạo đức cho đoàn viên, thanh niên. Nhìn nhận đoàn viên, thanh niên một cách toàn diện, thấy rõ vị trí, vai trò “Là người tiếp sức cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai.” Do vậy, Người đặc biệt quan tâm tổ chức, bồi dưỡng đoàn viên thanh niên thành đội xung kích cách mạng, lực lượng hậu bị của Đảng nhằm kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp của giai cấp và dân tộc.

Người yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, gương mẫu xung phong trong mọi công việc. Đi đôi với việc giáo dục trí lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật, mỗi đoàn viên, thanh niên phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng bởi theo Người: “Thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì lợi ích cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi gì cho loài người”. Đạo đức cách mạng ấy là sự triệt để trung thành với cách mạng, một lòng, một dạ phục vụ nhân dân, sẵn sàng xả thân cho đất nước, điều đó được thể hiện ở ngay trong suy nghĩ và hành động hàng ngày của mỗi đoàn viên, thanh niên.

Bác Hồ với đoàn viên, thanh niênBác Hồ với đoàn viên, thanh niên

Để tuổi trẻ trở thành người cách mạng chân chính, những con người mới XHCN, Người nhấn mạnh việc cần thiết phải giáo dục đoàn viên, thanh niên tính trung thực, ngay thẳng, tác phong khiêm tốn, giản dị, tinh thần lao động tích cực, siêng năng, táo bạo và sáng tạo. Đoàn viên, thanh niên phải luôn có tinh thần cố gắng vươn lên, sống cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết, phải thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Không những thế, Người còn yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên cần phải chống tâm lý tự ti, tự lợi, chỉ lo vun vén cho lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình, chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc, chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay…đó là những thói xấu kìm hãm chí tiến thủ của đoàn viên, thanh niên.

Thương yêu hết lòng và đặt niềm tin trọn vẹn vào đoàn viên, thanh niên, Người nhấn mạnh: “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà. Phải học tập mãi, tiến bộ mãi mới thật là thanh niên “. Trước lúc đi xa, Người đã để lại cho đoàn viên, thanh niên “Muôn vàn tình thương yêu”,

Người đánh giá: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”; và căn dặn “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng”vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”. Từ bức thư tâm huyết gửi thanh niên Việt Nam hồi đầu thế kỷ đến lời “Di chúc” cuối cùng, Bác Hồ luôn dành cho đoàn viên, thanh niên tình cảm thương yêu, trìu mến, sự chăm sóc ân cần.

Không chỉ chăm lo và giáo dục, cổ vũ đoàn viên, thanh niên học tập và phấn đấu, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một mẫu mực của tấm gương đạo đức cách mạng, cần kiêm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng và nhân dân. Suốt đời phấn đấu vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Thấm nhuần và quán triệt tư tưởng của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của đoàn viên, thanh niên. Coi đây là lực lượng xung kích, là đội dự bị tin cậy của Đảng và coi công tác thanh niên là vấn đề được đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn phụ thuộc vào lực lượng đoàn viên, thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên. Do vậy, phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng – sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích…của đoàn viên, thanh niên  trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”, tuổi trẻ cả nước đã phát huy truyền thống của thế hệ trước, hăng hái, sôi nổi hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào: “Xung kích phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “Đồng hành cùng thanh niên lập thân lập nghiệp”, tích cực tham gia các diễn đàn: “Tuổi trẻ Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Tiếp lửa truyền thống – Mãi mãi tuổi hai mươi”, “Thanh niên sống đẹp sống có ích”…

Những tình cảm, sự quan tâm, chăm lo, dìu dắt của Bác Hồ dành cho đoàn viên, thanh niên luôn là nguồn động lực cổ vũ, khích lệ tuổi trẻ cả nước nói chung, tuổi trẻ Yên Bái nói riêng hăng hái, xung kích cùng toàn dân xây dựng và phát triển đất nước vì mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” như Bác kính yêu hằng mong muốn.

Phạm Thị Duyên
gdtd.vn

Học dân để lãnh đạo dân

Chính quyền về tay ta đã hơn 65 năm qua. Suốt thời gian ấy, mỗi lần không nghe dân, không học dân, cách mạng lại chịu tổn thất. Cải cách ruộng đất kết hợp với đấu tố là việc nông dân không đồng tình nhưng cán bộ bên dưới khi báo cáo đều cho chủ trương của trên là đúng và dân hoan nghênh. Lãnh đạo không chịu xuống cơ sở kiểm tra tại chỗ, chỉ tin vào báo cáo.

Bác Hồ về thăm xã Vinh Quang, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
Ảnh: TL

Ngày 25-8-1956, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (khóa 2) Bác Hồ đã nói: Vì ta thiếu dân chủ nên nghe ít, thấy ít nên bây giờ phải dân chủ. Tất cả Trung ương phải nghe, thấy, nghĩ, làm như thế. Bài học đau xót này thúc đẩy chúng ta”. (Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 6 – Trang 334).

Bài học dân chủ lúc nào cũng hết sức thiết thân với toàn dân, toàn Đảng. Nông dân hiểu rõ ai là địa chủ và nông dân cũng biết địa chủ nào đã hiến điền, đã tham gia kháng chiến, con cháu là đảng viên, cán bộ, nên về thực chất không còn là địa chủ nữa.

Một thời gian sau, Bộ Chính trị họp bàn về tổng kết Cải cách ruộng đất, Bác Hồ lại nói đến bài học dân chủ, quá tin vào kinh nghiệm nước ngoài và coi thường mọi ý kiến đóng góp của dân nên có lúc Đảng trở nên chủ quan, giáo điều, máy móc. Bác Hồ nhắc đi nhắc lại tại hội nghị: “Quan liêu, không sát quần chúng, không sát thực tế, chỉ xem báo cáo, chỉ tin vào người báo cáo”. (Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 7 – trang 127).

Chỗ yếu của nhiều lãnh đạo là chỉ dựa vào báo cáo của cấp dưới, thiếu hẳn cảnh giác với nạn thành tích chủ nghĩa đã thành thói quen của các địa phương; nơi nào cũng ít hoặc nhiều “thành tích phô ra, xấu xa đậy lại”, lại còn tô hồng thêm báo cáo gửi lên trên. Qua 24 năm làm Chủ tịch nước, Bác Hồ không còn lạ gì bệnh thành tích. Có nơi Bác về thăm, lãnh đạo đã chuyển lợn gầy của trại lợn tập thể đi nơi khác và mượn lợn béo của các cơ sở chăn nuôi cá thể mang về trại lợn của hợp tác xã nông nghiệp để khoe thành tích với Bác. Lại có nơi biết Bác về thăm đã bố trí nhà dân để Bác Hồ đến thăm, chủ nhà đã được bồi dưỡng để nói với Bác về thành tích còn thiếu sót chỉ nói qua loa. Chúng ta hiểu tại sao Bác Hồ đến bất cứ địa phương nào đều không báo trước để thực tế ở đó còn nguyên vẹn, chưa bị sắp xếp, trang trí, tô vẽ.

Bác Hồ đã nói: “Không gần gũi dân thì không hiểu biết dân, không hiểu biết dân thì không học hỏi được những kinh nghiệm và sáng kiến của dân, vì vậy không lãnh đạo được dân” (Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 6 – Trang 68).

Đối với Bác, một Nhà nước biết lắng nghe và học hỏi dân, biết bồi dưỡng và nâng cao dân thì sẽ thấy dân không chỉ nói lên điều dân mong muốn mà còn làm sáng tỏ trí tuệ của dân, gợi ý hoặc chỉ ra rằng dân cần luật lệ gì và luật lệ ấy phải có nội dung như thế nào, cơ quan Nhà nước cần giải quyết các vấn đề quốc kế dân sinh ra sao. Công cuộc đổi mới đã chứng minh rất hùng hồn, sinh động, không nghe dân, học dân đương nhiên Đảng không thể khởi xướng công cuộc đổi mới. Đổi mới là kết quả cụ thể của quá trình học dân, phát hiện cái mới trong dân. Nhiều sáng kiến đột phá giàu tâm huyết của dân là một nguồn trí tuệ quý giá không gì thay thế được cho những chủ trương và biện pháp đổi mới của Đảng và Nhà nước.

Khoán hộ là sự sáng tạo của nông dân Vĩnh Phú, ra đời năm 1966. Một cách làm ăn hợp với lòng dân, mang lại hiệu quả kinh tế cao, dân không những đủ ăn mà còn có tích lũy, đóng góp cho Nhà nước đầy đủ nhưng lại không được thực hiện. Thoạt nghe khó tin, nhưng lại là sự thật rất nhỡn tiền. Mãi đến tháng 4-1988, khoán hộ mói được công nhận là hợp pháp và chỉ sau hai vụ lúa, năm 1989 nước ta đã xuất khẩu gạo. Nguyên nhân của sự chậm trễ quá đáng này là do không làm theo lời của Bác Hồ, nên một số lãnh đạo xa nông dân, chỉ tin vào báo cáo bên dưới, không chịu về bám nông thôn tìm hiểu tại chỗ, tại sao nông dân chỉ thích khoán hộ và không chịu chấp nhận khoán việc do trên áp đặt. Chắc chắn với đà đổi mới ngày càng toàn diện và mạnh mẽ như hiện nay, bảo thủ, trì trệ không thể cố thủ kéo dài 10 năm, 20 năm nhưng khoán hộ mãi mãi là bài học sâu sắc, nhắc nhở lãnh đạo các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương phải giảm hẳn các cuộc họp và dành thời gian về cơ sở gần dân, học dân.

Học dân không phải dễ nếu về địa phương lại có đưa, có đón; đi đâu cũng có cán bộ địa phương đi theo thì dù có đến nhà dân hẳn hoi dân cũng không thể nói mọi sự thật, nhất là những tiêu cực liên quan đến địa phương. Phải có một cuộc cách mạng về cách đi công tác địa phương, làm sao để lãnh đạo dù giữ bất cứ chức vụ gì đều phải hiểu rõ về công tác địa phương là trách nhiệm được Đảng và Nhà nước giao phó, phải tự lo nơi ăn chốn ở, phải thanh toán sòng phẳng mọi chi tiêu; địa phương không phải đưa và đón, không phải chiêu đãi. Nhiều nơi biện bạch lãnh đạo trên về cần có chiêu đãi cho có tình cảm. Nếu thực sự là tình cảm thì phải bỏ tiền riêng của cá nhân, sao lại đều đưa ra nhà hàng, khách chỉ có một, hai còn chủ gấp năm, bảy lần, rượu ngoại hàng triệu đồng một chai; mọi chi phí do ngân sách Nhà nước tức là dân phải chịu. Bữa trưa cũng bia rượu, bữa chiều cũng bia rượu, thì đầu óc còn tỉnh táo sao được nữa để về cơ sở nghe dân, học dân.

Chỉ thị 54CT/TU của Ban Bí thư (khóa VII) đăng trên trang nhất báo Nhân dân ngày 27-3-1995 quy định lãnh đạo trên về địa phương công tác, cá nhân và đoàn đều phải thanh toán tiền ăn và ở và không được nhận bất cứ thứ quà biếu nào. Rất tiếc Chỉ thị này cho đến nay vẫn chưa được thực hiện nghiêm chỉnh.

Học dân cần biết trân trọng ý kiến trái chiều, ý kiến ngược, cần lắng nghe và trao đổi, bàn bạc tìm ra câu trả lời cho những vấn đề dân đang rất quan tâm. Dân có những bức xúc không thể bàn với cán bộ địa phương, thấy cán bộ trên về họ rất muốn được gặp, được thổ lộ, tâm tình, tất nhiên với điều kiện phải làm cho dân tin. Đôi khi dân gửi thư lên cấp trên để phê bình khuyết điểm của cán bộ địa phương, nêu những băn khoăn thắc mắc mong được trên giải đáp hoặc đưa ra những kiến nghị về dân sinh, dân chủ mong được sớm thực hiện. Bác Hồ khuyến khích dân gửi thư lên trên, Bác coi đây là quyền dân chủ của mỗi công dân. Bác còn gợi ý dân gửi thư cần suy xét kỹ lưỡng, bày tỏ thật thà, viết tên, họ và địa chỉ rõ ràng thì cơ quan nhận được mới có thể điều tra, nghiên cứu. Bác căn dặn cán bộ, cơ quan, đoàn thể cần thật sự xem trọng ý kiến của quần chúng nhân dân. Trong sách “Hồ Chí Minh – Về Đảng Cộng sản Việt Nam” ở mục “Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân”, Bác Hồ đã viết: “Thậm chí có cán bộ địa phương đã tự tiện bóc thư cấp trên gửi cho nhân dân, dùng dằng trao thư ấy cho nhân dân một cách chậm trễ, hoặc không trao mà cán bộ tự viết trả lời cho cấp trên (như Ủy ban Hành chính xã Đồng Minh – Nam Định). Có cán bộ đã dọa nạt nhân dân vì họ đã gửi thư cho cấp trên như Phó Chủ tịch xã Xuân Yên – Hà Tĩnh.

Làm như vậy các đồng chí ấy đã phạm kỷ luật một là bóc thư riêng của người khác, hai là bưng bít tai, mắt cấp trên, bịt mồm, bịt miệng quần chúng. Sai lầm ấy phải được chấm dứt”. (Trang 119).

Thái Duy
daidoanket.vn

Nhìn ra biển lớn: Câu chuyện lập chí của Bác thời trẻ

Nguồn YouTube

“Nhìn ra biển lớn” là bộ phim truyện nhựa kể về quãng thời gian hơn hai năm của thầy giáo Nguyễn Tất Thành (Bác Hồ thời trẻ) vừa hoàn thành kịp tiến độ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Kịch bản phim “Nhìn ra biển lớn” của Giám đốc Hãng phim Hội Điện ảnh Việt Nam – Nguyễn Thị Hồng Ngát đã đoạt giải A trong cuộc thi kịch bản phim kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội do Cục Điện ảnh tổ chức và được Bộ VHTTDL đặt hàng sản xuất bộ phim này.

Diễn viên Minh Đức trong vai Nguyễn Tất Thành

Lát cắt thời gian trong câu chuyện phim từ năm 1908-1910. Thời điểm này, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đang là một học sinh xuất sắc của trường Quốc học Huế. Sớm nghe chuyện vua Hàm Nghi chống Pháp, sớm chứng kiến cảnh vua Thành Thái bị đi đày nên lòng yêu nước thù giặc càng thôi thúc trong lòng chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành. Bởi vậy, khi phong trào nông dân, tiểu thương biểu tình chống sưu cao thuế nặng, Nguyễn Tất Thành đã dũng cảm đi đầu trong đoàn người để phiên dịch giúp đồng bào. Phong trào bị đàn áp, Nguyễn Tất Thành bị thương. Sau đó anh bị đuổi học. Tìm vào huyện Bình Khê (Bình Định) nơi cha đang làm tri huyện, Nguyễn Tất Thành được cha dẫn đến gặp người bạn của ông là Hồ Tá Bang – Tổng lý Công ty nước mắm Liên Thành cũng là người đồng sáng lập trường Dục Thanh ở Phan Thiết để anh được dạy học tại ngôi trường này. Qua hai năm dạy học, thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã để lại một dấu ấn khó phai mờ trong tâm trí những thầy giáo, học sinh, những chí sĩ yêu nước. Dù lưu luyến nơi đây nhưng cuối cùng, như con chim bằng đã đủ lông đủ cánh sau bao ngày rèn chí, Nguyễn Tất Thành cũng vẫn lựa chọn sự ra đi. Thông điệp: “Muốn làm việc lớn phải dám ra biển lớn” của bộ phim thể hiện nổi bật ở đoạn kết này.

Tuy nhiên, có thể do thời gian thúc bách nên bộ phim không tránh khỏi một số hạt sạn. Ngôn ngữ được các nhân vật sử dụng trong phim là tiếng Hà Nội nên chưa tạo cho người xem sự đồng cảm. Nếu các nhà làm phim lồng tiếng đúng với âm điệu lời nói ở quê hương của chính nhân vật thì hay biết bao. Một số chi tiết chưa được tìm hiểu kỹ đã làm giảm đi sức hấp dẫn của bộ phim như chi tiết quan Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc mắng con sao lại làm thông ngôn giúp bà con để bị đuổi học thì không hợp với điều mà quan Phó Bảng dạy con: “Đừng đợi đến tuổi tráng niên mà muộn, hãy gánh lên vai tất cả từ tuổi hoa niên”. Hoặc chi tiết cụ Nguyễn Sinh Sắc khuyên con không lựa chọn theo tư tưởng ông Phan Bội Châu thì không đúng với tư liệu lịch sử, trong đó cho biết ông Phan Bội Châu và cụ Nguyễn Sinh Sắc cùng chí hướng. Hoặc chi tiết giữa khi biển động, Nguyễn Tất Thành dám ra khơi cùng ngư dân đánh cá nhưng trên phim lại là hình ảnh biển đẹp, nắng vàng, gió nhẹ, sóng lăn tăn, lưới nặng cá… và điều gây ngạc nhiên là một chàng trai từ bé đã gắn bó với biển như Nguyễn Tất Thành lại… say sóng.

Nhìn tổng thể, bộ phim “Nhìn ra biển lớn” đã khắc họa được khá sinh động giai đoạn tuy ngắn ngủi nhưng đã thể hiện lòng yêu nước, quyết tâm lập chí của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành.

Từ Khôi
daidoanket.vn