Tag Archive | Thời sự

“Con cáo và tổ ong”

 – Ngày 1/7/1942, báo “Việt Nam Độc lập”, cơ quan tuyên truyền của Việt Minh Cao Bằng (sau đó mở rộng thành liên tỉnh với Bắc Kạn, Lạng Sơn) do Bác sáng lập tại chiến khu, đã đăng bài thơ ngụ ngôn của người sáng lập ra tờ báo này với nhan đề “Con cáo và tổ ong”.

Bài thơ viết:

“Tổ ong lủng lẳng trên cành/ Trong đầy mật nhộng, ngon lành lắm thay/ Cáo già nhè nhẹ lên cây/ Định rằng lấy được ăn ngay cho giòn/ Ong thấy cáo muốn cướp con/ Kéo nhau xúm lại vây tròn cáo ta/ Châm đầu, châm mắt cáo già/ Cáo già đau quá phải sa xuống rồi/ Ong kia yêu giống, yêu nòi/ Đồng tâm, hợp lực đuổi loài cáo đi”.

Và bài ngụ ngôn quy về một tư tưởng quan trọng “Bây giờ ta thử so bì/ Ong còn đoàn kết huống chi là người/ Nhật Tây áp bức giống nòi/ Ta nên đoàn kết để đòi tự do”.

Tư tưởng “đoàn kết-đại đoàn kết” có thể nói đã xuyên suốt trong rất nhiều bài báo Bác viết trên tờ “Việt Nam Độc lập” ngay trong lời tuyên ngôn đăng trên số đầu và được sắp đặt thành hình ảnh người chiến sĩ cách mạng thổi kèn kêu gọi dân chúng: “Việt Nam Độc lập thổi kèn loa/ Kêu gọi dân ta trẻ đến già/ Đoàn kết vững bền như khối sắt/ Để cùng nhau cứu nước Nam ta”.

sBáo Việt Nam Độc lập đưa tin phát xít Đức đã đầu hàng.

Trong bài ca “Phụ nữ”, Bác cũng kêu goi: “Chị em cả trẻ đến già/ Cùng nhau đoàn kết đặng mà đấu tranh… Làm cho thiên hạ biết tên/ Làm cho rõ mặt cháu Tiên, con Rồng” (1/9/1941). Còn trong bài thơ “Trẻ con”, tác giả cũng kêu gọi: “Vậy nên con trẻ nước ta/ Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh/ Kẻ lớn cứu quốc đã đành/ Trẻ em cũng phải ra giành một vai…”.(21/9/1941)

Trong bài “Ca sợi chỉ”, từ hình tượng những sợi chỉ được kết dệt lại thành tấm vải bền chắc, Bác cũng đưa ra lời cổ vũ: “Hỡi ai con cháu Hồng Bàng/ Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau” (1/4/1942). Với đề tài “Hòn đá”, bài thơ đăng trên Việt Nam Độc lập (21/4/1942) cũng được tác giả khái quát:“Biết đồng sức, Biết đồng lòng/ Việc gì khó/ Cũng làm xong/ Đánh Nhật, Pháp/ Giành tự do/ Là việc khó/ Là việc to/ Nếu chúng ta/ Biết đồng lòng/ Thì việc đó/ Quyết thành công”.  

X&N
bee.net.vn

“Làm cho dân chủ thắng lợi hoàn toàn”

 – Ngày 30/6/1947, Bác gửi điện chúc mừng tới Ban Chấp hành Đảng Dân chủ Việt Nam nhân kỷ niệm 3 năm thành lập.

Đảng Dân chủ Việt Nam thành lâp ngày 30/6/1944, với sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Đông Dương,  nhằm tập hợp giới trí thức và những người yêu nước tầng lớp hữu sản ra đời trong cao trào Cánh mạng tháng Tám có nhiều đảng viên cộng sản tham gia giúp đỡ và trở thành một lực lượng năng động của  Mặt trận Việt Minh trong Cách mạng Tháng Tám 1945.

sChủ tịch Hồ Chí Minh chụp với các nhân sĩ, trí thức trong QH khoá I 1946.

Bức điện chúc mừng của người đứng đầu Nhà nước và cuộc kháng chiến, cũng là người đứng đầu Đảng Cộng sản Đông Dương ghi nhận: “Trong thế giới dân chủ, trong Việt Nam dân chủ, Đảng Dân chủ có một nhiệm vụ quan trọng là làm cho dân chủ thắng lợi hoàn toàn… Với những người ái quốc và dân chủ không có đảng phái, phải lấy công tác thực tế về việc cứu quốc và kiến quốc mà thi đua. Mỗi đồng chí phải là người kiểu mẫu trong sự hy sinh phấn đấu cho Tổ quốc, cho đồng bào”.

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc mới bùng nổ, xuân Đinh Hợi, ngày 8/1/1947, Bác đã có bài thơ mừng báo “Độc lập” là cơ quan ngôn luận của Đảng Dân chủ. Bài thơ có nhan đề “Thơ gửi tặng báo Độc lập nhân mùa Xuân kháng chiến đầu tiên”: “Năm mới thế cho năm đã cũ/ Báo Độc lập của Đảng Dân chủ/ Kêu gọi toàn thể dân Việt Nam/ Đoàn kết và thắt chặt hàng ngũ/ Kiên quyết kháng chiến đến kỳ cùng/ Để giữ chủ quyền và lãnh thổ/ Chờ ngày độc lập đã thành cồn/ Tết ấy tha hồ bàn với cỗ”.

Ngày 28/8/1947, trả lời phóng viên báo “Độc lập” của Đảng Dân chủ Việt Nam về việc mở rộng Chính phủ kháng chiến cũng như nhân sự của Chính phủ, Người đứng đầu nhà nước kháng chiến Việt Nam khẳng định: “Chính sách của Chính phủ trước sau vẫn là đại đoàn kết. Đối với các vị quan lại cũ cũng như đối với tất cả các giới đồng bào, những người có tài có đức thì Chính phủ đều hoan nghênh ra gánh việc nước. Thí dụ: Ngoài cụ Đặng Văn Hưởng ra, còn nhiều cụ khác nữa như cụ Phạm Gia Thuỵ, cựu tổng đốc, cụ Phan Kế Toại, khâm sai đại thần, cụ Phó bảng Bùi Kỷ… đều rất tận tuỵ giúp việc kháng chiến. Trước sự đại đoàn kết của Chính phủ và quốc dân đồng bào, mưu mô chia rẽ của thực dân phản động Pháp nhất định thất bại”.

… Đảng Dân chủ Việt Nam tồn tại đến tháng 10/1988 thì họp Đại hội kết thúc 44 năm hoạt động và “hoàn thành vai trò lịch sử”.

X&N

bee.net.vn

“Người lữ hành cô đơn”

– Ngày 29/6/1935, Trưởng phòng Đông Dương Vera Vassilieva gửi báo cáo đến Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản trình bày hoàn cảnh của Nguyễn Ái Quốc một năm sau khi thoát khỏi nhà tù của đế quốc Anh ở Hồng Kông.

Chân dung Bác

Chân dung Bác thời gian hoạt động ở Hồng Kông trước khi bị bắt

“Tháng 6/1934, Nguyễn Ái Quốc đến Moscow. Qua lời kể của đồng chí thì khó xác định được tại sao đồng chí lại dễ dàng ra khỏi nhà tù và thoát khỏi tay cảnh sát Pháp… Đồng chí nói rằng chuyến đi này được tiến hành nhờ sự giúp đỡ của Vaillant Couturier (một nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Pháp) trong thời gian ở Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng tất cả những việc này cần được kiểm chứng một cách thận trọng.

Khi đồng chí đến đây, chúng tôi đã chuyển đồng chí tới Trường Lenin tại Moscow, nơi đồng chí đang nghiên cứu… Nhiều lần đồng chí đề xuất với tôi xem xét vấn đề và thảo luận việc thành lâp mối liên lạc giữa các Đảng. Đồng chí kiên trì theo dõi những chuyến đi của học viên, họ đi đâu và với nhiệm vụ gì và rất đau khổ vì tại sao đồng chí không được tham gia vào việc này hay việc khác của công tác bí mật”.

Đây chính là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc phải chịu một thử thách rất nặng nề và kéo dài để thể hiện tinh thần kiên định cách mạng ngay với các đồng chí của mình.

Là một chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho việc giải phóng các thuộc địa, trên diễn đàn Đảng Cộng sản Pháp cũng như Quốc tế Cộng sản, Bác đã có những phê phán rất gay gắt sự thiếu quan tâm đến vấn đề này của các tổ chức Đảng.

Những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc cho rằng “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn” hay trong các văn kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (2/1930), sau đó bị Quốc tế Cộng sản phê phán là hữu khuynh và nghị quyết của Hội nghị Trung ương tháng 10/1930 đã “thủ tiêu Chánh cương sách lược văn tắt” của Nguyễn Ái Quốc để “thực hành cho đúng án nghị quyết và thư chỉ thị của Quốc tế Cộng sản” được cụ thể hoá bằng việc đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương và đưa ra “Luận cương Trần Phú”…

Tất cả những diễn biến đó lại cộng thêm việc Nguyễn Ái Quốc bị thực dân Anh bắt ở Hồng Kông sau đó lại được thả, khiến cho sự tin cậy của Quốc tế Cộng sản đối với nhà cách mạng Việt Nam bị đặt dấu hỏi.

Trong suốt các năm từ 1934 đến 1938 hầu như ghi nhận đựoc rất ít những hoạt động của Nguyễn Ấi Quốc ở Liên Xô, và ngày 6/6/1938, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải viết một bức thư trong đó nói rõ ràng: “Hôm nay là ngày kỷ niệm lần thứ bẩy việc tôi bị bắt ở Hồng Kông. Đó cũng là ngày mở đầu năm thứ 8 tình trạng không hoạt động của tôi… Điều tôi muốn đề nghị… là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt dộng và giống như là sống bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng…”

Phải đến năm 1938, sau bức thư bí mật gởi qua Chu Ân Lai lúc này đang chữa bệnh ở Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc tiếp xúc được với Manuinski, Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản và là người có nhiều cảm tình với người “đồng chí An Nam”, Nguyễn Ái Quốc mới kết thúc được “năm thứ tám trong tình trạng không hoạt động” của mình và được tạo điều kiện về nước hoạt động.

Ngày 30/9/1938, Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, mới ra văn bản đồng ý cho “sinh viên số 19 (Lin, tức Nguyễn Ái Quốc) ra khỏi biên chế của Viện”, cũng có nghĩa là cho phép Bác trở về nước hoạt động. Đây chính là thời kỳ gian khó mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp định danh Bác là“người lữ hành cô đơn”.

Rời Moscow, Bác đi xe lửa xuyên Siberia đến Iếckut rồi băng qua sa mạc Gobi tìm đến vùng Tây An, rồi tiếp tục hoạt động ở Trung Quốc trước khi liên lạc được với các đồng chí ở trong nước, để tìm cơ hội về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam (8/1941).

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ và Tổng thống Indonesia

– Ngày 28/6/1959, trước cuộc mít tinh của 20 vạn đồng bào Thủ đô tại Quảng trường Ba Đình chào mừng Tổng thống Indonesia sang thăm Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Indonesia : “Nước xa mà lòng không xa/ Thật là bầu bạn, thật là anh em”.

Với người đứng đầu nhà nước Indonesia mà Bác thân mật gọi là “Anh cả Karno” Bác chia sẻ quan điểm : “Đoàn kết, đoàn kết lại đoàn kết / Khó khăn gì chúng ta cũng nhất định vượt được hết/ Kẻ thù nào chúng ta cũng đánh tan hết/ Thắng lợi to lớn gì chúng ta cũng tranh thủ được hết”.

Bác nhắc lại kỷ niệm: “Mùa Xuân năm nay, lúc Bác sang thăm Indonesia, chẳng những gia đình Tổng thống từ bác gái cho đến các cháu coi Bác như một người anh em trong nhà mà cả Chính phủ, Quốc hội và tất cả nhân dân Indonesia cũng không xem bác là người khách mà xem Bác là người anh em bạn hữu thân thiết của Indonesia.

Bác ở bên ấy mười ngày, đi tỉnh này qua tỉnh khác, hàng triệu nhân dân ra đón Bác, luôn luôn tỏ ra một tình thân rất nồng nhiệt. Tình ấy không chỉ tỏ cho Bác mà còn tỏ cho tất cả nhân dân Việt Nam…”.

 Tháng 6/1959, Bác hướng dẫn Tổng thống Sukarno thăm Bảo tàng Lịch sử QG.Tháng 6/1959, Bác hướng dẫn Tổng thống Sukarno thăm Bảo tàng Lịch sử QG.

Trong buổi tiệc chiêu đãi, tổ chức tối cùng ngày, đáp từ bài phát biểu của tổng thống Sukarno, Bác nói bằng văn vần : “Lặng nghe lời nói như ru/ Tình hữu nghị giữa hai dân tộc muôn thu vững bền/ Chúng ta cùng bước tiến lên/ Thống nhất và độc lập, chúng ta xây dựng cái nền vẻ vang… Lực lượng chủ nghĩa xã hội thì trưởng thành khắp nơi/ Chúng ta cùng nhau xây dựng cuộc đời/ Người người sung sướng, người người ấm no…”.

Ngày 29/6/1959, tiễn đưa Đoàn đại biểu Chính phủ Cộng hoà Indonesia do Tổng thống Sukarno dẫn dầu kết thúc chuyến thăm hữu nghị nước ta, tại sân bay Gia Lâm (Hà Nội) Chủ tịch Hồ Chí Minh quyến luyến đọc mấy vần thơ: “Nhớ nhung trong lúc chia tay/ Tấm lòng lưu luyến cùng bay theo Người/ Người về Tổ quốc xa khơi/ Chúc Người thắng lợi. Chúc Người bình an”.

Indonesia là một quốc gia Đông Nam Á có hoàn cảnh lịch sử giống nước ta. Là một thuộc địa của Hà Lan, tháng 8/1945, Indonesia giành được độc lập từ tay phát xít Nhật thành lập nhà nước Cộng hoà do ông Sukarno đứng đầu. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và miền Bắc hoàn toàn giải phóng, một trong những quốc gia mà Bác đi thăm sớm nhất là Ấn Độ và Indonesia.

Ngày 26/2/1959, Bác và đoàn Đại biểu Chính phủ ta sang thăm Indonesia được Tổng thống Sukarno đón tiếp rất nồng hậu. Chuyến đi kết thúc vào ngày 11/3/1959.

Bốn tháng sau, ngày 24/6/1959. Tổng thống Sukarno sang thăm Việt Nam và cũng đuợc Bác và Nhà nước Việt Nam tiếp đón rất trọng thể và thân mật. Indonesia là một quốc gia đông dân, đóng vai trò to lớn trong cộng đồng các quốc gia không liên kết và luôn ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam. Nó giải thích sự thân tình vượt ra khỏi nghi thức ngoại giao mà Bác đã giành cho vị nguyên thủ nước bạn.

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ và Quốc vương Campuchia

– “Được nhân dân kính mến, được bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này… Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng” – Quốc trưởng Campuchia phát biểu trong lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 27/6/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cảm ơn tới Thái tử Quốc truởng Campuchia Nôrôđôm Xihanuc (N.Sihanouk) bày tỏ “vô cùng cảm động về việc Ngài và nhân dân Khơme đã gửi tặng thuốc với một tấm lòng hào hiệp…

Cử chỉ cao cả đó là biểu hiện sự ủng hộ anh em của nhân dân Khơme đối với nhân dân Việt Nam… Như Ngài đã nói rất đúng: Nhiệm vụ của chúng ta đối với các thế hệ tương lai là phải cùng nhau củng cố cơ sở của sự hợp tác tin cậy và chân thành trong sự tôn trọng nền độc lập của nhau”.

Nôrôđôm Xihanuc vốn là Thái tử kế vị nhà vua Campuchia Nôrôđôm Xunamarit, năm 1960 mới được bầu làm Quốc trưởng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhà nước ta chỉ có quan hệ với Lực lượng kháng chiến của Sơn Ngọc Minh.

aKhi Bác qua đời, tháng 9/1969, ông Nôrôđôm Xihanuc cùng phu nhân đã tới Hà Nội dự lễ tang.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tranh thủ mối quan hệ hữu nghị với Chính phủ Vương quốc Campuchia. Bác Hồ luôn bày tỏ sự tôn trọng nền độc lập, chủ quyền lãnh thổ và chính sách trung lập của  Thái tử Quốc trưởng Xihanuc và thường xuyên duy trì mối liên hệ.

Ngày 21/11/1956, lần đầu tiên, Bác gửi điện mừng tới Vua Nôrôđôm Xuramarit và Hoàng hậu Khơme và chúc nhân dân Khơme thu được nhiều thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng đất nước Khơme, trong việc thực hiện chính sách hoà bình và trung lập, chúc tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Khơme ngày càng phát triển.

Ngày 21/6/1960, Bác gửi điện mừng Thái tử Nôrôđôm Xihanuc nhận chức Quốc trưởng Vương quốc Campuchia, trong đó: “Chúc nhân dân Khơme dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Thái tử Quốc trưởng thu được nhiều thắng lợi mới trong việc thực hiện chính sách hoà bình, trung lập, xây dựng đất nước Campuchia ngày thêm phồn vinh, góp phần vào việc củng cố hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới”.

Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ở miền Nam xâm phạm chủ quyền Campuchia và đánh phá miền Bắc đã khiến Nôrôđôm Xihanuc đứng về phía cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Năm 1965, theo sáng kiến của Xihanuc, Hội nghị Nhân dân Đông Dương được triệu tập. Ngày 6/3/1965 Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Thái tử Xihanuc, Chủ tịch Hội nghị Nhân dân Đông Dương:“Tôi rất cảm kích được biết qua bức điện của Ngài rằng Thái tử Nôrôdôm Xihanuc, Quốc trưởng Vương quốc Campuchia đã kịch liệt lên án đế quốc Mỹ về hành động khiêu khích mới và hết sức nghiêm trọng của chúng tôi đối với nước VNDCCH và nhấn mạnh sự cần thiết đối với nhân dân các nước Đông Dương phải tăng cường đoàn kết hơn nữa trước nguy cơ mở rộng chiến tranh do đế quốc Mỹ gây nên” và cho rằng thái độ ấy “là bằng chứng tỏ rõ ý chí thống nhất của nhân dân ba nước chúng ta (gồm cả Lào) là kiên quyết đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ và ra sức bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ” .

Sau đó Bác chủ động tạo mối liên hệ để tranh thủ sự ủng hộ của Nôrôđôm Xihanuc. Ngày  23/6/1967  trong điện mừng nhân dịp 2 nước đặt quan hệ ngoại giao cấp đại sứ, Bác đánh giá “Đây là một sự kiện lịch sử trong quan hệ giữa VN và Cămpuchia, một nhân tố tích cực trong việc gìn giữ hoà bình ở Đông Duơng và Đông Nam Á”.

Ngày 8/11/1968, chúc mừng nhân kỷ niệm lần thứ 15 Quốc khánh Campuchia, Bác “bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự ửng hộ anh em của Ngài, Chính pủ Vương quốc và nhân dân Khơme.

Chúng tôi khẳng định một lần nữa chính sách trước sau như một của Chính phủ nước VNDCCH là tôn trọng độc lập, chủ quyền, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ Vương quốc Campuchia trong biên giới hiện tại.

Chúng tôi tin tưởng rằng ngày nay cũng như này mai,hai nước chúng ta mãi mãi vãn là những người bạn thân thiết… xây dựng mỗi nước theo con đưòng riêng của mình”.

Ngày 7/2/1969 gửi điện cảm ơn Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanuc “đã ủng hộ hoàn toàn lập trường chính nghĩa của nhân dân Việt Nam tại Hội nghị bốn bên ở Pari về Việt Nam… Đó là sự cổ vũ to lớn đối với cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của chúng tôi trong giai đoạn hiện nay, là biểu hiện rực rỡ của t ình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước chúng ta. Gửi lời chào anh em rất kính trọng”.

Đó cũng là văn kiện cuối cùng, Bác gửi Quốc trưởng Campuchia. Khi Bác qua đời, tháng 9/1969, ông Nôrôđôm Xihanuc cùng phu nhân đã tới Hà Nội dự lễ tang.

Tại đây, ông phát biểu: “Được nhân dân kính mến, được bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này… Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng”.

X&N
bee.net.vn

Hội Liên hiệp các Thuộc địa

 -Ngày 26/6/1921, tại Paris, Nguyễn Ái Quốc cùng một số đồng chí là người của các thuộc địa Pháp như Algerie, Tunisie, Madagascar… họp bàn việc thành lập Hội Liên hiệp Thuộc địa.

Tháng 7/1921, Hội Liên hiệp Thuộc địa được thành lập với lời kêu gọi: “Nếu câu phương ngôn “Đoàn kết làm ra sức mạnh” không phải là một câu nói suông. Nếu đồng bào muốn giúp đỡ lẫn nhau. Nếu đồng bào muốn bênh vực cho quyền lợi của bản thân mình, cũng như quyền lợi của tất cả đồng bào ở các xứ thuộc địa. Hãy gia nhập Hội Liên hiệp Thuộc địa”.

d Tờ báo Le Paria (Người cùng khổ)

Điều lệ của Hội xác nhận: “Mục đích của Hội là tập hợp và hướng dẫn cho mọi người dân các xứ thuộc địa hiện sống trên đất Pháp để soi sáng cho những người dân thuộc địa về tình hình mọi mặt ở nước Pháp nhằm mục đích đoàn kết họ; thảo luận và nghiên cứu tất cả những vấn đề chính trị và kinh tế thuộc địa…Trong phạm vi tài chính sẵn có, Hội có thể cung cấp cho tất cả hội viên những báo chí và tài liệu có liên quan đến sinh hoạt các thuộc địa, hoặc chuyên lo bênh vực cho các thuộc địa”.

Thành phần tham gia Ban chấp hành ban đầu có Nguyễn Ái Quốc, thợ sửa ảnh (đại diện cho Đông Dương) và đại diện các thuộc địa khác như Dahomey (nay là Bénain), Réunion, Guadeloup, Quần đảo Antilles, Martinique, Guyanne. Địa chỉ của Nguyễn Ái Quốc (9 ngõ Compoint, quận 17, Paris) được dùng là một trong những địa chỉ của Hội.

Hội đã ra tờ báo Le Paria (Nguời cùng khổ) làm cơ quan ngôn luận của Hội với lời kêu gọi: “Trong lịch sử phong trào quần chúng bản xứ ở các thuộc địa của Pháp, chưa bao giờ có một tờ báo được lập ra để nói lên nỗi đau khổ và tình trạng cùng khốn của họ, bất kể là họ thuộc đất nước và giống nòi nào…

Le Paria tố cáo những sự lạm quyền về chính trị, lối cai trị độc đoán, tình trạng bị bóc lột về kinh tế mà nhân dân các vùng lãnh thổ rộng lớn ở hải ngoại đang là nạn nhân. Báo kêu gọi họ đoàn kết lại, đấu tranh cho tiến bộ về vật chất và tinh thần của chính họ. Báo kêu gọi họ, tổ chức họ, nhằm mục đích giải phóng những người bị áp bức khỏi các lực lượng thống trị, thực hiện tình yêu thương và bác ái”.

Tờ Le Paria ra số đầu ngày 1/4/1922 với khẩu hiệu “Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa”, đến 1/1924 đổi thành “Diễn dàn của vô sản thuộc địa”. Hội quy tụ được khoảng 200 hội viên.

Như thế, không chỉ trên phương diện lý luận mà ngay trong hoạt động thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành người khởi xướng và tiên phong trong sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa.

X&N
bee.net.vn

“Lời than vãn của Bà Trưng Trắc”

 – Ngày 24/6/1922, tờ “L’Humanité” (Nhân Đạo) của Đảng Cộng sản Pháp đăng bài “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc” ký tên Nguyễn Ái Quốc.

Dưới hình thức một truyện ngắn, bằng việc hư cấu một giấc mơ của vua Khải Định (lúc này đang “xa giá” đến nước Pháp) và mượn lời của vị nữ anh hùng dân tộc chống ngoại xâm, tác giả lên án nặng nề chế độ phong kiến Nam triều và chính vua Khải Định đã để mất nước, ươn hèn cam tâm làm tay sai cho ngoại bang.

xNgày 24/6/1959 Bác đón Tổng thống Indonesia Sukarno tại sân bay Gia Lâm

Bài viết cũng đề cập tới môt số quan niệm về lịch sử dân tộc của tác giả:


“… theo tập tục ngàn năm của nước Nam ta xưa cũ thì Hoàng đế là chịu mệnh trời để trị dân, vì thế mà được coi là con của trời, cha mẹ của dân.

Vua muốn xứng với lòng trời và làm tròn nhiệm vụ chí tôn của mình thì phải chịu khổ trước dân và chia sướng sau dân. Vua phải tuân lệnh trời, mà tiếng dân chính là truyền lại ý trời. Bằng không thì ấy là rời đoạn tuyệt, tổ tiên từ bỏ, nhân dân ruồng rẫy.

Giở sử đất nước ra mà xem, sẽ thấy tổ tiên đã treo bao tấm gương đạo đức và dũng cảm, chí khí và tự tôn. Lý Bôn với một nhóm nghĩa sĩ, đã nổi dậy và bẻ gẫy ách đô hộ của Hán tộc. Ngô Quyền (năm 938) đã phá tan đạo quân nước ngoài kéo vào đánh chiếm đất đai Tổ quốc ta.

Dân ta sống trong hạnh phúc và thịnh vượng dưới triều nhà Đinh. Năm 980, Lê Đai Hành đã dũng cảm không chịu khuất phục trước yêu sách của láng giềng hùng mạnh hơn mình gấp bội, ông đã đánh thắng địch, giết chết tướng địch. Do đó đã giải thoát được đồng bào khỏi nạn nô dịch.

Quân Mông Cổ đi đến đâu phá sạch đến đấy, đã bị nhà Trần vẻ vang của chúng ta đánh bại (1225). Lê Lợi đã hùng dũng đứng ra lãnh đạo cuộc cách mạng nước Nam, đập tan chế độ tàn bạo và hạch sách mà những lẻ tự xưng là bảo hộ ta bắt ta chịu… Năm 1407, Tầu (phong kiến) đánh nhau với ta; nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh, nước Nam đã thắng…

Trong rất nhiều bài viết vận động cách mạng của mình Bác đã khai thác những đề tài lịch sử làm gương khích lệ lòng hăng hái yêu nước của dân ta hòng tạo nên sức mạnh to lớn của truyền thống kết hợp với tinh thần cách mạng của thời đại mới.

X&N

bee.net.vn

Về công cuộc giải phóng thuộc địa

 – Ngày 23/6/1924, đại biểu Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại diễn đàn của phiên họp thứ 8 của Đại hội V Quốc tế Cộng sản.

Người nói: “Tôi đến đây để không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: thuộc địa vẫn đang tồn tại và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: cách mạng, ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa còn có cả nguy cơ của các thuộc địa.

Song tôi thấy rằng hình như các đồng chí hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có đựơc, gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa”.

Với một tinh thần thẳng thắn, Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ sai lầm là: “Muốn đánh chết rắn đằng đuôi. Tất cả các đồng chí đều biết rằng, hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc chủ nghĩa tư bản đang tập trung ở thuộc địa hơn là chính quốc…

Tại sao các đồng chí lại xem thường các thuộc địa trong lúc chủ nghĩa tư bản lại dựa vào nó để tự bảo vệ và chống lại các đồng chí?… Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa?… Chính vì thế, tôi hết sức kêu gọi các đồng chí: Hãy chú ý !”.

Vấn đề thuộc địa còn được Nguyễn Ái Quốc kiên trì đề cập tới tại nhiều phiên họp khác và dần tìm được sự quan tâm của Đại hội.

f Nguyễn Ái Quốc cùng với các đồng chí thuộc địa của mình.

Tại phiên họp lần thứ 22 của Đại hội này (1/7/1924), Nguyễn Ái Quốc thẳng thắn phê phán: “… sẽ không phải là quá đáng nếu nói rằng chừng nào Đảng Pháp và Đảng Anh chúng ta chưa thi hành một chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa, thậm chí chưa đề cập đến quần chúng các nước thuộc địa thì toàn bộ chương trình rộng lớn của hai đảng đó vẫn không có hiệu quả gì!

Chương trình ấy sẽ không có hiệu quả gì vì nó trái với chủ nghĩa Lênin… Theo Lênin, cách mạng phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch và vấn đề dân tộc…”.

Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra những kiến nghị cụ thể trong đó có vấn đề tuyên truyền và huấn luyện…và kết luận: “Vì chúng ta coi mình là học trò của Lênin, cho nên chúng ta cần phải tập trung tất cả sức lực và nghị lực để thực hiện trên thực tế những lời di huấn quý báu của Lênin đối với chúng ta về vấn đề thuộc địa cũng như các vấn đề khác”.

Và trong bài viết “Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa” đăng trên tờ “Đời sống Công nhân” (La Vie Ouvrière) cũng trong năm 1924, lý luận về chủ nghĩa thực dân và phong trào giải phóng thuộc địa của Nguyễn Ái Quốc càng trở nên sắc nét khi viết: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và môt cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra…” Những luận điểm ấy đã được thể hiện trong nhiều bài báo khác và được trình bày một cách tập trung trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” được viết vào năm 1925.

Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh trở thành người chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa bắt nguồn từ đó.

X&N
bee.net.vn

Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc

– Ngày 22/6/1946, mở đầu chuyến thăm chính thức nước Cộng hoà Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm bày tỏ sự thân thiện giữa 2 quốc gia và tìm giải pháp cho việc xác lập mối quan hệ giữa hai nước bằng một cuộc đàm phán sẽ diễn ra cùng thời gian này tại Fontainebleau.

Từ Biarritz, máy bay của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hạ cánh xuống sân bay Le Bourget của thủ đô Paris nơi diễn ra lễ đón tiếp trọng thể  với những nghi thức  quốc gia.

Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại cùng nhiều thành viên trong Chính phủ, đông đảo nhân dân Pháp và bà con Việt kiều đã nghênh tiếp. Đoàn lưu lại tại Khách sạn Royal Monceau gần Phủ Tổng thống.

Ngay tại sân bay, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước máy ghi âm của Hãng Thông tấn Pháp AFP: “Tôi rất lấy làm bằng lòng được đặt chân lên đất của một nước đã chịu đau khổ nhiều vì lý tưởng và tự do. Cảm ơn Chính phủ và dân chúng Pháp tiếp đãi tôi một cách long trọng. Mong sau này hai dân tộc Pháp và Việt Nam cộng tác một cách bình đẳng, thật thà và thân thiện”.

Cuộc viếng thăm nước Pháp kéo dài tới tận ngày 16/9/1946, Bác mới rời Paris sau khi ký được một bản “Tạm ước” (14/9) với Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại nhằm cứu vãn nguy cơ chiến tranh.

Từ Paris đi tàu hoả tới thành phố Marseille rồi đi cảng Toulon. Ngày 18/9, Bác xuống tàu “Dumont D’ Urville” cùng với một số trí thức tình nguyện về nước phục vụ, trong đó có bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa)… Tàu rời cảng, cho tới ngày 20/10/1946 mới về tới Cảng Hải Phòng và ngày hôm sau (21/10) trở về Hà Nội bằng tàu hoả.

d

Một năm sau, hai nước đã ở trong tình trạng chiến tranh, ngày 22/6/1947, tại chiến khu, trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một là Chính phủ Việt Nam gồm rất nhiều đảng phái, hai là chính sách Việt Nam rất rõ rệt: cốt làm cho nước Việt Nam thống nhất và độc lập, làm cho dân được tự do và khỏi khổ, khỏi dốt. Bao giờ nước Việt Nam được thật thà thống nhất và độc lập thì chiến tranh sẽ kết liễu”.

Đề cập tới tới một chương trình kiến thiết, người đứng đầu nhà nước kháng chiến cho biết: “Chương trình kiến thiết của Việt Nam bước đầu tiên là làm cho dân khỏi khổ, khỏi dốt. Muốn như thế thì chúng tôi phải ra sức tăng gia sản xuất, muốn tăng gia sản xuất rộng rãi và chóng có kết quả thì chúng tôi cần có tư bản, trí thức và lao đông. Dân Việt Nam rất siêng năng và chịu khó, cho nên chúng tôi đủ sức lao động. Việt Nam có rất nhiều phụ nguyên, chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước công tác thật thà với chúng tôi”.

Đề cập tới vai trò của trí thức, Bác khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chứng thực một phần quan trọng… Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”.

X&N
bee.net.vn

“Phải kính trọng độc lập và tự do của mọi dân tộc”

 – Ngày 19/6/1947, nhân tròn nửa năm Toàn quốc Kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi, trong đó nhấn mạnh: “Đồng bào ta đại đoàn kết. Toàn dân ta chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ. Chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước. Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.

Sự đồng tâm của đồng bào đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại… Địch muốn dùng cách đánh mau, thắng mau. Nếu chiến tranh kéo dài, hao binh tổn tướng, chúng sẽ thất bại…Thế địch như lửa. Thế ta như nước. Nước nhất định thắng lửa…

Về mặt tinh thần địch đã hoàn toàn thất bại, ta đã hoàn toàn thắng lợi… Chúng ta quyết hy sinh chịu khổ và gắng sức 5 năm, 10 năm để phá tan cái xiềng xích nô lệ 80 năm vừa qua, để tranh lấy quyền thống nhất và độc lập cho muôn đời sắp đến… Chúng ta đã đồng tâm nhất trí. Chúng ta nhất định sẽ thắng lợi”.

Trong lời kêu gọi nhân dân thế giới được viết sau đó (20/6/1947), Bác viết: “Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp đều chung một lý tưởng: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp có một mục đích chung: cộng tác thân thiện và bình đẳng giữa hai dân tộc.

dChủ tịch Hồ Chí Minh trên chiến khu Việt Bắc.

Chúng tôi rất mong các bạn cùng chúng tôi hành động để ngăn trở bọn thực dân phản động phá hoại cái lý tưởng chung, lợi ích chung và tình nghĩa của hai dân tộc ta”. Lời kêu gọi còn hướng đến các dân tộc châu Á và “các nhân sĩ dân chủ trên thế giới”: “Mong các bạn lên tiếng ủng hộ hoà bình, ủng hộ chính nghĩa, ủng hộ dân chủ, ủng hộ Việt Nam”.

Ngày 19/6/1948, nhân “kỷ niệm 1000 ngày kháng chiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi một văn kiện đăng trên báo “Vệ Quốc” có nhan đề “Các tướng sĩ yêu mến tiến lên!” trước hết biểu dương danh sách “những bộ đội đã làm cho giặc Pháp thiệt hại nhiều, đã có thành tích vẻ vang” và “Tôi cũng phải nhắc đến những bộ đội du kích phụ lão và phụ nữ cùng các chú liên lạc đã tỏ ra rất oanh liệt, đã làm cho thế giới biết rằng: người già, đàn bà, trẻ con Việt Nam đều là những chiến sĩ yêu nước và dũng cảm tranh đấu hy sinh cho Tổ quốc… Song những tiến bộ và thành tích ấy mới là bước đầu. Trong cuộc thi đua ái quốc tới đây, các bạn phải tiếp tục tiến bộ mau hơn nữa, nhiều hơn nữa. Các bạn phải thi đua nhau đánh những trận to lớn hơn nữa, giết giặc nhiều hơn nữa, cướp nhiều súng hơn nữa…”.

X&N
bee.net.vn

“Tôi thật thà tự phê bình khuyết điểm của tôi”

– Vào giữa tháng 6/1950, Bác viết thư “Gửi đồng bào Liên khu IV” nhân nảy sinh một số hiện tượng “cán bộ làm sai chỉ thị của Chính phủ và đường lối của đoàn thể” khiến nhân dân ở nhiều nơi bị phiền nhiễu, oan ức.

Bức thư phân tích và phê phán những loại cán bộ kém phẩm chất: “Họ xa rời nhân dân, không hiểu biết nhân dân. Làm việc thì dùng mệnh lệnh, chứ không biết tuyên truyền cổ động… thậm chí họ dùng những cách ép uổng, cưỡng bức, bắt bớ dân.

Nghe các ông thanh tra báo cáo lại những việc đó, tôi rất đau lòng! Dù Chính phủ đã ra lệnh trừng trị những cán bộ đó, tôi phải thật thà xin lỗi những đồng bào vì những cán bộ sai lầm mà bị oan ức. Tôi thật thà tự phê bình khuyết điểm của tôi – là giáo dục và lựa chọn cán bộ chưa được chu đáo”.

15-6-1957 HCM thăm trại Nhi đồng thành phố Vinh,Nghệ An nhân dịp Người về thăm quê_1.jpg (74KB)Ngày 15/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm trại Nhi đồng thành phố Vinh, Nghệ An nhân dịp Người về thăm quê.

Bức thư bày tỏ: “Tôi lại xin nói với đồng bào: Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm… Khi ai đó có điều oan ức thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là tất cả quyền dân chủ của tất cả các công dân Việt Nam. Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền ấy…

Tôi mong rằng từ nay, các cán bộ đều biết phê bình và tự phê bình, đều cố gắng sửa đổi lối làm việc, theo đúng đường lối của Chính phủ và Đoàn thể hợp với lòng dân. Cán bộ cấp trên phải luôn luôn đôn đốc và kiểm tra cấp dưới. Nhân dân thì giúp Chính phủ và Đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ…”

Bức thư này đã được in ra gửi tới tất cả các xã trong Liên khu và đến ngày 2/7/1950, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra “Chỉ thị về việc kiểm thảo để sửa đổi nề nếp vận động nhân dân theo thư Hồ Chủ tịch”.

X&N
bee.net.vn

Lời kêu gọi thi đua ái quốc

– Ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” theo tinh  thần của Chỉ thị phát động phong trào thi đua của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (27/3/1948).

Lời kêu gọi nêu rõ: “Mục đích thi đua ái quốc là: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.

Cách làm là: dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để: hạnh phúc cho dân…

Vì vậy bổn phận của người Việt Nam là, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì đều cần phải thi đua: Làm cho mau, làm cho tốt, làm cho nhiều.

Ngày 11/6/1946, lễ đón chính thức Chủ tịch Hồ Chí Minh  tại sân bay Le Bourget ở ParisNgày 11/6/1946, lễ đón chính thức Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay Le Bourget ở Paris


Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hoá. Thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân kháng chiến, tòan diện kháng chiến

Trong cuộc Thi đua ái quốc, chúng ta : vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.

Kết quả đầu tiên của Thi đua Ái quốc sẽ là: Toàn dân đủ ăn đủ mặc. Toàn dân biết đọc, biết viết. Toàn bộ đội đầy đủ, lương thực khí giới để diệt ngoại xâm. Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn.

Thế là chúng ta thực hiện: Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc. Ba chủ nghĩa mà nhà đại cách mạng Tôn Văn đã nêu ra”.

Lời kêu gọi nhắc đến nhiệm vụ của mọi tầng lớp nhân dân và kết luận: “Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi! Hỡi toàn thể đồng bào, Hỡi toàn thể chiến sĩ, Tiến lên!”.

Tháng 6 năm 1949, trả lời một nhà báo câu hỏi về việc nhân dân kỷ niệm sinh nhật, thì món qùa quý nhất tặng Chủ tịch là gì?, Bác nói: “Món quà quý nhất đối với tôi là những báo cáo thành tích Thi đua ái quốc… Nhưng tôi chắc món quà ấy mới là một phần nhỏ, đồng bào và chiến sĩ ta còn tiếp tục cố gắng, tôi sẽ nhận được món quà to hơn nhiều nữa, món quà đó tên là: Tổng phản công thắng lợi hoàn toàn”.

Cũng trong tháng 6/1949, Bác gửi thư tới “Hội nghị Thi đua ái quốc” phân tích những hạn chế của phong trào và kết luận: “Vậy tôi rất mong Hội nghị tìm cách sửa chữa khuyết điểm ấy và mỗi cán bộ, mỗi đồng bào, mỗi ngành đều ra sức thiết thực thi đua với tinh thần chuẩn bị tổng phản công. Như vậy thì thi đua nhất định thành công”.

X&N
bee.net.vn