Nhân dịp mở đầu lớp chỉnh huấn, Bác có mấy lời giúp các cô, các chú nghiên cứu:
Vì sao phải chỉnh huấn?
Vì cán bộ ta lập trường chưa vững chắc, tư tưởng chưa thông suốt. Do đó mà mắc nhiều khuyết điểm như:
– Chưa hiểu rõ đường lối cách mạng dân tộc – dân chủ; chưa nắm được vững chính sách trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh.
– Chưa phân biệt rõ ràng ai là thù, ai là bạn (trên thế giới, trong nước và trong bản thân mình).
– Vì vậy mà mắc nhiều bệnh. Chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc. Đó là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác, như:
Tự tư tự lợi, sợ khó sợ khổ;
Không yên tâm công tác. Ham địa vị danh tiếng;
Lãng phí, tham ô. Quan liêu, mệnh lệnh, v.v..
Chỉnh huấn phải thế nào?
Chỉnh huấn là cốt để giúp cán bộ nâng cao tư tưởng cách mạng, củng cố lập trường, rửa gột khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Muốn có kết quả ấy thì phải:
– Mở rộng dân chủ: thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình.
– Chống thái độ rụt rè, nể nả giữa cấp dưới và cấp trên, giữa công nông và trí thức, giữa cán bộ ngoài Đảng và trong Đảng.
Nhiệm vụ của mọi người:
Cán bộ phụ trách các cơ quan phải thật thà lãnh đạo việc chỉnh huấn.
Những người dự lớp chỉnh huấn thì phải quyết tâm học tập, quyết tâm cải tạo; giúp nhau học tập, giúp nhau cải tạo.
Các cô, các chú đều là những cán bộ kháng chiến, cán bộ cách mạng, đều là những cán bộ có thể tiến bộ và có tương lai vẻ vang. Mong các cô, các chú cố gắng học tập, để tiến bộ mãi, để toàn tâm toàn lực phụng sự kháng chiến, phụng sự nhân dân, để làm trọn nhiệm vụ (nhất là nhiệm vụ phát động quần chúng thực hiện chính sách ruộng đất), để trở nên những cán bộ gương mẫu.
Chúc các cô, các chú mạnh khoẻ và chỉnh huấn thành công.
Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 6 nǎm 1953
HỒ CHÍ MINH
Báo Nhân dân, số 120, từ ngày 26 đến 30-6-1953. cpv.org.vn
Đến đảo quốc Singapore, chúng tôi còn lưu lại một kỉ niệm đẹp về đất nước nổi tiếng xanh – sạch – đẹp này. Trong hành trình tham quan, chúng tôi đi qua Bảo tàng văn minh châu Á của Singapore, một vị trí rất đẹp bên bờ sông. Anh hướng dẫn viên du lịch người bản địa chợt hoạt bát hẳn lên sau khi giới thiệu bằng tiếng Anh cho chúng tôi về quá trình phát triển giao thương của Singapore, anh dẫn mọi người đi về phía tiền sảnh của bảo tàng, miệng nói liên tục bằng tiếng Việt rất rõ: “Hồ Chí Minh! Hồ Chí Minh!” Miệng anh cười tươi và ánh mắt tỏ ra ấm áp đặc biệt khi nhắc đến tên Bác Hồ.
Thoạt tiên mọi người chưa hiểu anh định nói gì, nhưng khi rẽ sang đến đúng vị trí tiền sảnh của bảo tàng thì tất cả cùng “à” lên một tiếng khi nhận thấy một tấm bia tưởng niệm bằng đá đặt trang trọng trước bảo tàng. Bia tưởng niệm chủ tịch Hồ Chí Minh! Không ai bảo ai, tất cả cùng ùa đến bên tấm bia, xúc động ngắm nhìn hình ảnh thiêng liêng và gần gũi của Bác. Một điều thật bất ngờ và làm tất cả chúng tôi cảm thấy tự hào vì chỉ có duy nhất Bác Hồ được dựng bia tưởng niệm ở vị trí đẹp nhất, trang trọng nhất trước bảo tàng.
Bia tưởng niệm Bác Hồ ở Bảo tàng Văn minh Châu Á của Singgapore
Trên tấm bia cao gần 2 mét là những dòng tiếng Anh giới thiệu trang trọng về tiểu sử của Bác cùng với chân dung thật đẹp của Người. Tấm bia ghi ngắn gọn về quá trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác cũng như vai trò trong đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân. Trên hành trình vận động cứu nước và tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, Bác đã đáp thuyền đến Singapore vào tháng Năm năm 1933 và sau đó đi tiếp đến Hồng Kông. Những thông tin ngắn gọn về tiểu sử của Bác trong một tấm bia cùng bài thơ Giã gạo của Người đã đem đến hình ảnh một lãnh tụ, một chiến sĩ đấu tranh kiên cường cho dân tộc và một nhà thơ, nhà văn hoá lớn của Việt Nam. Chúng tôi cảm động vì được quây quần bên Bác giữa Singapore, để cảm nhận được những tình cảm rất đáng quý mà bạn đã dành cho Bác Hồ, cho Việt Nam.
Được “gặp” Bác Hồ giữa đất nước Singapore, tôi chợt nghĩ dường như Bác vẫn đang là một chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, dường như khoảnh khắc đặt chân lên đất nước xinh đẹp này vào 76 năm trước, Người trở lại để gặp những người bạn Singapore, thắt chặt thêm tình hữu nghị giữa hai nước anh em trong khối ASEAN. Khoảnh khắc quây quần thật ngắn ngủi, nhưng đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc ấm nồng vì những tình cảm trân trọng mà đất nước Singapore dành cho Bác Hồ kính yêu, dành cho những người bạn Việt Nam.
Nhân đọc bài “Bác bỏ bộ phim tài liệu Sự thật Hồ Chí Minh xuyên tạc về Hồ Chí Minh”, xem phim “Hồ Chí Minh – bí ẩn Việt Nam” và phim “Việt Nam – Hồ Chí Minh”, chúng tôi xin trích đăng các bài viết liên quan và nêu cảm nhận của mình về những vấn đề liên quan để quý vị và bạn đọc nhận rõ bản chất của những hành động, luận điệu xuyên tạc của những kẻ nhân danh “Sự thật” để làm những việc “Trái sự thật”.
1. Năm 2009, một nhóm người lưu vong ở hải ngoại đã thực hiện bộ phim tài liệu “Sự thật về Hồ Chí Minh,” xuyên tạc lịch sử về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước những hình ảnh nghèo nàn, chắp vá và những luận điệu vu cáo của những kẻ thực hiện bộ phim, Đạo diễn – Nghệ sỹ nhân dân Đào Trọng Khánh đã có bài viết bình luận, bác bỏ những luận điệu sai trái trong bộ phim tài liệu trên. Báo điện tử VietnamPlus xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết trên:
“Con người hãy cảnh giác!” Câu nói đó lại vang lên trước luận điệu vu cáo, xuyên tạc lịch sử của những kẻ thực hiện bộ phim tài liệu “Sự thật về Hồ Chí Minh.” Một bộ phim không có giá trị về mặt tư liệu bởi những hình ảnh nghèo nàn, chắp vá, được sử dụng tùy tiện để minh họa cho lời dẫn.
Những hình ảnh tàn sát trong phim là những bức ảnh và phim về tội ác của thực dân Pháp và xâm lược Mỹ đối với nhân dân Việt Nam trong những trận càn quét, được đem gán cho những người kháng chiến yêu nước, những chiến sỹ Cộng sản. Các tác giả phim đã “khôn khéo” lờ đi xuất xứ và nguồn gốc thực sự của những hình ảnh đó. Một dàn nhân vật “chống cộng” điên cuồng được dựng lên làm cái loa phát thanh trong những đoạn phỏng vấn trơ trụi, không có hình ảnh minh họa, không có tính điện ảnh, thường gọi là Radiofilm – loại phim chỉ có lời, giống như radio.
Với âm nhạc và cách mở đầu theo kiểu phường tuồng, bộ phim dựng một màn chữ dẫn lời của Stéphane Coustois: “Người ta bảo lịch sử là khoa học về sự bất hạnh của nhân loại, thế kỷ bạo lực đẫm máu mà chúng ta sống đã xác nhận câu nói đó một cách rộng rãi.” Sự thật lịch sử không phải chỉ là như vậy. Những nỗ lực và sáng tạo, những phấn đấu không ngừng cho sự tiến bộ, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân loại, là những điều cơ bản từ những bước đi thần kỳ của lịch sử trên tình thần nhân văn cao cả, trong đó có sự hy sinh không tiếc thân của những nhà cách mạng trên toàn thế giới. Cách đặt vấn đề mập mờ, phiến diện mang màu sắc bi thảm, đen tối dẫn đến cách diễn giải nội dung bộ phim cũng không ngoài những nhận thức sai lệch một chiều.
Thật vớ vẩn khi một dàn “các nhà quan tâm” phát biểu một cách trầm trọng về ngày sinh và mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một sự thật đã được Việt Nam chính thức công bố. Vũ Ngự Chiêu, Trần Gia Phụng nhấn mạnh vào bức thư của Nguyễn Tất Thành, xin học ở trường Pháp năm 1912. Đừng quên đó là thời kỳ “tìm mọi con đường để có thể giúp dân, giúp nước” của Nguyễn Tất Thành. Đó là “từng bước, con người đến với chân lý,” cũng như sau này, tìm ra con đường giải phóng dân tộc.
Sống giữa xã hội tư bản, không hiểu được hoạt động của những nhà cách mạng, nên Sophic Quinn Judge đoán mò về quan hệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với những người phụ nữ như với nhà cách mạng nổi tiếng Nguyễn Thị Minh Khai. “Hình như có chuyện gì đó giữa hai người“, bà Quinn nói. Đó không phải là cách làm việc của những nhà nghiên cứu. Thao tác của những nhà nghiên cứu không có “hình như.” Chi tiết trong trường đoạn này là đơm đặt và đưa chuyện. Khó có thể tin cậy vào những tiến sỹ như kiểu Vũ Ngự Chiêu “Nhiều năm miệt mài trong những văn khố ngoại quốc” chỉ vì những chuyện ngồi lê đôi mách, chuyện riêng tư của những người khác, không liên quan đến lịch sử.
Sự vu cáo có thể trầm trọng hơn nếu họ phải đối chứng với cơ quan luật pháp ở bất cứ nước nào, đó là trường hợp của Vũ Thư Hiên, Nguyễn Minh Cầm, Bùi Tín trong chuyện bà Nông Thị Xuân. Người ta không làm bởi không muốn làm buồn lòng những người đã khuất, kể cả cụ Vũ Đình Huỳnh là thân sinh ra nhà văn Vũ Thư Hiên.
Khi biên soạn những tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi có dịp được xem bản gốc tập thơ “Nhật ký trong tù” cũng không để ý đến dòng chữ Bác ghi thêm ở ngoài bìa: 1923-1933. Sau nhiều năm có người quan tâm đến chuyện này, ông Nguyễn Huy Hoan – Phó Giám đốc Bảo tàng hồi ấy nói rằng: “Người ta không hiểu nên cứ hay suy diễn. Ông cụ ghi thế là nhắc đến cái đại hạn 10 năm theo cách tính của cụ, không phải là thời gian ra đời của tập thơ.”
Chuyện nhà thơ Paven Antôncônxki – người đã dịch tập thơ “Nhật ký trong tù” ra tiếng Nga – gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi cũng được biết, kể cả lần gặp Rút Bécsatxki từ Liên Xô sang thăm Việt Nam cũng vậy, với sự cởi mở và lòng khiêm tốn, Người tự tay pha cà phê mời khách và nói rằng: “Khi có thì giờ rảnh rỗi, chúng tôi làm thơ. Ở Việt Nam ai cũng làm thơ cả.” Người không nhận danh hiệu nhà thơ cao quý, nhưng cả thế giới đã bị thuyết phục bởi vần thơ chân thật của Người. Chiến dịch chống phá, vu cáo của nhóm người lưu vong ở hải ngoại thực là một hành động bỉ ổi.
Nghiên cứu về Di sản Hồ Chí Minh, học tập tư tưởng và đạo đức của Người không chỉ là một công trình nghiên cứu khoa học to lớn, lâu dài mà còn là sự chuyển biến tâm thức của toàn dân tộc hướng về chân – thiện – mỹ. Sự hằn học, vu cáo và xuyên tạc lịch sử là biểu hiện của sự thoái hóa về nhân cách, ngược dòng với chiều tiến hóa và sự thăng tiến tinh thần của nhân loại, tự trói buộc và đánh mất Cội nguồn. Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một huyền thoại, đúng là như vậy. Huyền thoại bao giờ cũng đẹp. Chứa đựng sự bí ẩn của tinh thần lãng mạn, phần siêu việt của nhận thức con người với thế giới. William J.Duiker – nhà báo Mỹ viết trong cuốn sách của ông về Hồ Chí Minh: “Tất cả những con người vĩ đại đều tiềm ẩn một vẻ huyền bí.” Ông dẫn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời BécnaPhôn – học giả nghiên cứu về Việt Nam – trong một cuộc phỏng vấn nói: “Người già thích có một vẻ bí ẩn nho nhỏ về mình. Tôi muốn giữ lại một chút những vẻ bí ẩn của riêng mình. Tôi tin rằng anh sẽ hiểu được điều đó.“
Huyền thoại Hồ Chí Minh mãi mãi là điều nhân loại trân trọng, tự hào, nhận biết và tìm lời giải đáp./. (1)
2. Hãng phim History Channel của Mỹ đã làm bộ phim “Hồ Chí Minh – bí ẩn Việt Nam” đã có những đánh giá trân trọng của những nhà nghiên cứu lịch sử, ca ngợi Bác Hồ – Người đã dẫn đường, lãnh đạo dân tộc Việt Nam đánh giặc cứu nước: “Có thể nói, hình ảnh Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo ái quốc đã đấu tranh cho tự do dân tộc… Một người cộng sản quốc tế, một người chỉ huy, một người dẫn đường cho nhân dân Việt Nam” quyết tâm chiến đấu và chiến thắng thực dân Pháp và Mỹ.
“Chiến thắng này đòi hỏi sự nỗ lực của con người mang trong mình một phần của Lênin, một phần của Gandhi, một phần của Khổng giáo, và trên tất cả là một con người Việt Nam” hy sinh đấu tranh để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, mong muốn nhân dân được sống hòa bình, hạnh phúc.
Tuy nhiên, trong bộ phim “Hồ Chí Minh – bí ẩn Việt Nam” vẫn còn một số nhận định chưa chính xác, mang tính chủ quan không đúng về cuộc đời Bác Hồ như: “Từ 11 tuổi ông (Bác Hồ) đã phải lo lắng cho gia đình khi người cha bị cách chức, người mẹ mất không lâu sau khi sinh con trai thứ ba”. Lúc này cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Bác chưa có chức ở triều đình Huế, năm Bác Hồ 20 tuổi (1910), cụ Nguyễn Sinh Sắc mới bị cách chức tri huyện Bình Khê. Hoặc cho rằng Bác Hồ có một người vợ Trung Quốc mà Bác đã bỏ khi bị bắt ở Hồng Công hoặc các nhận định về hậu quả của cuộc chiến thì chưa chính xác khi dựa vào các thông tin không xác thực hoặc có những suy đoán chủ quan. Họ cho rằng dân tộc ta đã trả giá quá đắt cho cuộc chiến tranh vệ quốc, khi đi theo đường lối của Bác Hồ và đưa ra những hình ảnh nhân dân ta khổ cực kiếm sống hàng ngày.
Như vậy, những người làm phim nước ngoài vẫn chưa hiểu về con người Việt Nam luôn “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” và Bác Hồ đã từng nói: “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải lấy lại quyền độc lập cho dân tộc“. Dân tộc có độc lập, nhân dân mới có tự do và hạnh phúc. Tự do trong những giá trị cao đẹp và nhân văn của con người, tự do trong mối quan hệ với cộng đồng, chứ không phải tự do đứng trên pháp luật, đi ngược lại lợi ích của dân tộc, lợi ích của nhân dân. Không phải là thứ tự do “đổi trắng thay đen“, “ăn không nói có“… Còn hạnh phúc của nhân dân Việt Nam như Bác Hồ mong muốn là “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành“, nhân dân Việt Nam mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng đang từng bước xóa đói giảm nghèo vì phải trải qua những cuộc chiến với nhiều mất mát đau thương, nên công cuộc xây dựng đất nước lại có nhiều khó khăn hơn các nước khác không bị chiến tranh và Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển, cuộc sống của nhân dân ngày càng được cải thiện đã được thế giới thừa nhận. Ngay tại nước Mỹ, một trong những nước giàu nhất thế giới nhưng “số người Mỹ sống trong nghèo đói đã tăng lên 46,2 triệu người” và rất nhiều người sống cảnh vô gia cư, không một mái nhà để sinh sống trong năm 2010, theo báo cáo thường niên của Cục thống kê Mỹ (2). Vậy nghèo đói hiện nay là vấn đề chung của nhân loại chứ không riêng gì đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, Đảng và Nhà nước đang thực hiện nhiều chính sách xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội để từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân ta. Hiện nay nhìn các nước bị chiến tranh tàn phá, người dân sống trong chết chóc đau thương như: Iraq, Afganistan, Libya, Palestine…chúng ta càng thấy được giá trị của cuộc sống hòa bình, giá trị của độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc và của chúng ta để cùng nhau đoàn kết xây dựng đất nước thanh bình, giàu mạnh “sánh vai với các cường quốc năm châu” như mong ước của Bác Hồ kính yêu.
Còn Giáo sư, Tiến sĩ Mạch Quang Thắng cho rằng: “Việc Hồ Chí Minh có vợ, có con hay không có vợ, không có con thì chẳng ảnh hưởng gì đến tư cách, đạo đức của bản thân cả. Nếu Hồ Chí Minh có vợ, có con, nghĩa là có gia đình riêng, thì với những gì Người đã cống hiến cho đất nước, tôi vẫn nhận định được rằng: Hồ Chí Minh đã hy sinh lợi ích riêng tư để dâng hiến cho Tổ quốc thân yêu của mình. Không phải không có vợ con mới là hy sinh chuyện riêng tư. Chỉ có điều là nếu Hồ Chí Minh có vợ thì đấy mới là chính là một con người hoàn chỉnh, không phải là phản tự nhiên. Cũng chính vì thế mà chúng ta hay nói người vợ hay người chồng chính là một nửa bên kia của nhau. Hồ Chí Minh cũng không ít lần nói về cái khiếm khuyết của chính cuộc đời mình, và một trong những khiếm khuyết đó là không có vợ; do vậy Hồ Chí Minh khuyên thanh niên Việt Nam đừng nên học mình về điều đó.
Nếu Hồ Chí Minh có vợ con thật thì Hồ Chí Minh không thể giấu được trong ngần ấy năm. Giấu làm sao được trong con mắt của hàng triệu, hàng triệu con người giữa thế gian, ở đất nước Việt Nam và cả ở trên thế giới. Người bình thường đã khó giấu, huống chi Hồ Chí Minh lại là một người nổi tiếng, là con người của công chúng, thì lại càng khó giấu hơn. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Cái kim trong bọc lâu ngày rồi sẽ lòi ra”. Đã rất lâu ngày, nhưng cái bọc không thấy lòi ra một cái kim nào cả. Làm gì có cái kim nào. Còn miệng thế gian thì càng không thể nào che được.
Đã có người viết về người con gái đem lòng yêu Hồ Chí Minh, và bản thân Hồ Chí Minh cũng đem lòng yêu người con gái đó. Tôi cho rằng, trong cuộc đời Hồ Chí Minh nếu có như vậy là sự thường. Tình yêu thời trai trẻ, tại sao không? Một thanh niên thư sinh, đẹp trai, hào hoa, phong nhã, lại là con của một người đỗ đại khoa (Phó bảng), con quan, con nhà gia giáo mà không rung động trước phái đẹp, mà lại không yêu một người con gái nào đó, cũng như không có người con gái nào yêu mình, mới là sự lạ. Nhưng cần khẳng định một cách chắc chắn rằng, Hồ Chí Minh chưa bao giờ có vợ con.” (3)
Nhưng vượt lên trên tất cả, bộ phim “Hồ Chí Minh – bí ẩn Việt Nam” của Hãng phim History Channel (Mỹ) đã ca ngợi lòng yêu nước và sự hy sinh cao cả của Bác Hồ dành cho dân tộc Việt Nam, chứ không như những luận điệu vu cáo, xuyên tạc lịch sử của những kẻ thực hiện bộ phim tài liệu “Sự thật về Hồ Chí Minh“
Sự thật mãi là sự thật, chân lý sẽ là chân lý. Cho dù những kẻ chuyên vu cáo, xuyên tạc có dùng bao nhiêu thủ đoạn, dựng bao nhiêu bộ phim để xuyên tạc về Bác Hồ thì một bằng chứng, sự thật sống động khẳng định giá trị về cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh, đó là: Năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất Việt Nam.Nhân chuyến thăm Việt Nam nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội tháng 10 năm 2010, Bà Irina Bokova, Tổng Giám đốc UNESCO đã trao tặng phía Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh cuốn sách văn bản Nghị quyết của Đại hội đồng UNESSCO khóa 24 họp từ 20/10 đến 20/11/1987. Trong đó có Nghị quyết 18.65 ghi tại trang 134 và 135 về việc tôn vinh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất Việt Nam. Khi đã được UNESCO tôn vinh thì hiển nhiên Bác Hồ đã trở thành Danh nhân văn hóa thế giới, chỉ có những kẻ có dã tâm không tốt, mang nặng lòng thù hận, tâm trí có vấn đề mới dựng chuyện xuyên tạc Bác Hồ.
Và ở thủ đô Paris nước Pháp có bức tường “Những người làm nên thế kỷ 20″ (Ils ont fait le XX Siecle) có chân dung và nụ cười Bác Hồ giữa những trí tuệ, những tâm hồn lớn của nhân loại.
Không lẽ những chính khách của cả thế giới họp tại Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đều “mù” không biết sự thật, còn những kẻ lười biếng suy nghĩ, thích dựng chuyện lừa đảo với những luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tạc, phản bác về cuộc đời, sự nghiệp, trước tác của Hồ Chí Minh lại có con mắt “sáng”, lê lết đi tìm “Sự thật về Hồ Chí Minh” ?./.
Xin giới thiệu bộ phim “Hồ Chí Minh – bí ẩn Việt Nam” để hiểu thêm về cách nhìn và thái độ của người Mỹ – kẻ thù của nhân dân Việt Nam trước đây đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, xét một cách toàn diện bộ phim thể hiện sự trân trọng và khâm phục Người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam: Hồ Chí Minh
3. Tác phẩm “Việt Nam- Hồ Chí Minh” đạt giải Bông Sen Vàng năm 1985, được đánh giá như thiên anh hùng ca về truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bộ phim dài 57 phút được thực hiện từ ngày Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương còn có tên là Xí nghiệp phim Tài liệu và Khoa học Trung ương. “Việt Nam – Hồ Chí Minh“ do NSND Đào Trọng Khánh viết kịch bản và đạo diễn với sự đóng góp tư liệu của nhiều nhà điện ảnh, nhiếp ảnh, nhà viết sử, nhà văn, nhà báo trong và ngoài nước.
Với hình ảnh, tư liệu chân thực, chắt lọc, lời bình súc tích, mang dấu ấn sử thi, bộ phim tái hiện một chặng đường dài của lịch sử Việt Nam kể từ khi thực dân Pháp xâm lược (1857) đến khi kết thúc cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, xây dựng nền hòa bình, độc lập dân tộc.
Giá trị của bộ phim không chỉ dừng lại ở sự tái hiện khách quan, sống động các sự kiện mà còn tìm cách lý giải nguyên nhân, đúc kết thành bài học từ truyền thống lịch sử và thực tiễn đấu tranh cách mạng; khơi gợi niềm tự hào dân tộc và khẳng định công lao to lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc chèo chống con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng.
Trải qua 25 năm nằm trong kho lưu trữ, “Việt Nam – Hồ Chí Minh”, vốn được làm từ phim nhựa màu, đã bị bay màu do khâu bảo quản nên nhà phát hành quyết định chuyển sang đen trắng để phim rõ nét. Đại diện nhà phát hành cho biết, việc đưa bộ phim tài liệu này ra thị trường là cách phổ biến một sản phẩm có giá trị về mặt lịch sử, giúp các thế hệ trẻ dễ dàng tiếp cận hơn những bài học khô cứng được dạy trong nhà trường./. (4)
———————–
(1) Bài “Bác bỏ bộ phim tài liệu Sự thật Hồ Chí Minh xuyên tạc về Hồ Chí Minh” của Đạo diễn, NSND Đào Trọng Khánh.
(2) Trích bài “Số người nghèo ở Mỹ tăng cao kỷ lục” – Báo điện tử Dân trí, 14/09/2011
(3) Trích “Nguyên nhân của các luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh và giải pháp đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc đó” của GS.TS Mạch Quang Thắng
(4) Bài “Phát hành phim tài liệu Việt Nam – Hồ Chí Minh” – Báo điện tử VnExpress, 22/4/2010
Xin trân trọng giới thiệu phim tài liệu: Việt Nam – Hồ Chí Minh
40 năm trước, đúng Ngày kỷ niệm thành lập Đảng lần thứ 39 (3/2/1969), Báo Nhân Dân, cơ quan Trung ương của Đảng công bố bài viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh T.L. Sau tác phẩm đó, cho đến lúc từ biệt thế gian này sau đó 7 tháng, Hồ Chủ tịch còn viết một số thư, một số bài nhưng tôi nghĩ rằng đây là tác phẩm về đạo đức cách mạng quan trọng nhất cuối đời của Người.
Một tác giả đã đánh giá có phần hợp lý rằng, có thể coi tác phẩm này như một di chúc về giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng với cán bộ, đảng viên. Trong Di chúc lịch sử, Người dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. Nhưng trong tác phẩm nói trên, Người nói kỹ, nói sâu sắc về đạo đức cách mạng.
Trong không khí tiếp tục cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhắc lại và cùng nhau phân tích tác phẩm quan trọng này của Người có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn, để ôn lại lời dạy của Người góp phần thúc đẩy cuộc vận động trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta làm cho Đảng ta thêm vững mạnh, xã hội thêm lành mạnh, tiếp tục công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Xã hội nào cũng có cách phân định thiện – ác, tốt – xấu, vinh – nhục… Những phạm trù đó có những tiêu chí giống nhau nhưng có những khác nhau của mỗi hình thái kinh tế – xã hội, của mỗi dân tộc trong từng giai đoạn phát triển, hình thành hệ giá trị cốt lõi của văn hóa mỗi dân tộc, chủ yếu để định hướng phát triển của xã hội và là tiêu chí để bình xét, đánh giá các hiện tượng và con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm HTX Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trong mùa thu hoạch lúa (năm 1954).
Cùng với hệ giá trị của mỗi dân tộc, lại có chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa ràng buộc với những ai ở trong cộng đồng đó. Đạo đức cách mạng là chuẩn mực đạo đức của những người cách mạng, có những tiêu chí chung và nhất quán như sự hy sinh vì lý tưởng, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần hết lòng phụng sự Tổ quốc, nhân dân… đồng thời lại có những yêu cầu riêng của từng thời kỳ cách mạng.
Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Ngay trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” tập hợp những bài giảng cho lớp thanh niên tiến bộ chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người đã đề cập các nội dung về đạo đức của người chiến sĩ cách mạng.
Khi cách mạng thành công, Đảng lãnh đạo chính quyền, đảng viên có nhiều cơ hội có địa vị, quyền hành, Hồ Chủ tịch lại đặc biệt quan tâm việc giáo dục cán bộ, đảng viên mà có tác giả nước ngoài đã đánh giá là vị lãnh tụ quan tâm nhất tới việc giáo dục đạo đức của cán bộ cầm quyền. Ngay từ rất sớm, những nhà nghiên cứu thường nhắc tới hai bức thư Người gửi cho các đồng chí Bắc Bộ, Trung Bộ khi mới trải qua hơn một năm Cách mạng Tháng Tám thành công và tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” mà chúng ta vừa kỷ niệm 50 năm ngày công bố.
Ngay từ lúc đó Người đã nhìn ra bệnh “quan cách mạng” có thể phát triển, nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải tránh các bệnh địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, hẹp hòi, quân phiệt quan liêu, ham chuộng hình thức, làm việc bàn giấy xa rời nhân dân, bệnh kiêu ngạo tự mãn vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa, “óc địa vị, cố tranh cho được ủy viên này, chủ tịch kia”, chỉ “lo ăn ngon mặc đẹp, lo chiếm của công làm của tư”, “giữ thói một người làm quan cả họ được nhờ, đem bà con bằng hữu đặt vào chức này, việc kia”, rồi “không phê bình giúp nhau sửa đổi, mà lại che đậy cho nhau”, làm hỏng việc của đất nước, làm mất niềm tin của nhân dân.
Theo Người, cán bộ, đảng viên phải là người vừa có đức vừa có tài nhưng đức là gốc vì “Trước mặt quần chúng, không phải ta viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được họ mến. Quần chúng chỉ yêu quý những người có tư cách, đạo đức”; “Muốn hướng dẫn quần chúng phải làm mực thước cho người ta bắt chước, hô hào nhân dân tiết kiệm thì mình phải tiết kiệm trước đã”…
Rèn luyện đạo đức cách mạng là để làm cách mạng, làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao, để xứng đáng là công bộc của dân.
Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, sau khi nêu rõ “thói quen và lạc hậu cũng là do kẻ địch to, nó ngấm ngầm cản trở cách mạng tiến bộ” cho nên phải đổi mới, Hồ Chủ tịch đề cập kẻ địch thứ hai là chủ nghĩa cá nhân. Tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” tập trung đề cập “kẻ thù thứ hai” mà Người cho là mẹ đẻ ra các thói hư tật xấu của cán bộ, đảng viên khi Đảng cầm quyền.
Người cho rằng, người mắc chủ nghĩa cá nhân thì “việc gì cũng nghĩ tới lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo mình vì mọi người mà chỉ muốn mọi người vì mình”. Tuy nhiên, khi chỉ ra phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân thì Hồ Chủ tịch lại nói: “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân”, “mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với tập thể thì không phải là xấu”.
Khi nói về tác hại của chủ nghĩa cá nhân, Người nhấn mạnh: “Do chủ nghĩa cá nhân mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh, trục lợi, tham địa vị, quyền hành. Họ tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập tiến bộ… Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”.
Đọc lại những dòng viết này vào những ngày này khi liên hệ với thực tiễn, tôi có cảm giác như thấy Người đang nhìn chúng ta vừa âu yếm với tình thương bao la vừa nghiêm khắc với cháu con khi chưa làm được những điều Người dặn lại, vì Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3, khóa X (tháng 7/2006 đã đánh giá: “Một bộ phận không nhỏ đảng viên, cán bộ, công chức suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống. Không ít cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả lãnh đạo cao cấp còn thiếu gương mẫu trong việc giữ gìn phẩm chất, đạo đức”, và chỉ rõ “Cuộc đấu tranh còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, hiệu quả thấp. Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu nhiều mặt, làm giảm lòng tin của nhân dân, là một nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”.
* * *
Trong cuộc đấu tranh về tư tưởng, đạo đức, lối sống, bao giờ cũng phải giải quyết mối quan hệ xây và chống, phòng ngừa và đấu tranh; về cơ bản và lâu dài thì bao giờ cũng lấy xây và phòng ngừa là chính, khuyến khích và phát huy những cái tốt đẹp để át đi cái xấu. Đó là tư tưởng xuyên suốt của Nguyễn Ái Quốc khi từ năm 1924, Người đã cho rằng một tấm gương sáng có thể có hiệu quả hơn nhiều bài diễn thuyết. Và vào cuối đời, Người trực tiếp chỉ đạo viết sách “Người tốt việc tốt” để nêu gương sáng cho mọi người cùng làm theo. Do đó, sau khi nêu lên những tác hại của chủ nghĩa cá nhân, trong tác phẩm quan trọng này Người đã nêu lên 5 giải pháp để khắc phục chủ nghĩa cá nhân. Đó là:
– Phải thực hiện phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh;
– Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên;
– Phải nghiêm túc thực hiện chế độ sinh hoạt;
– Phải nghiêm minh thực hiện kỷ luật của Đảng;
– Tiến hành chặt chẽ công tác kiểm tra của Đảng.
Có lẽ, trong lúc này, đã qua 40 năm, đã có nhiều Nghị quyết, hướng dẫn của Đảng và Nhà nước, riêng tôi nghĩ không thấy có biện pháp nào mới hơn, chỉ có điều các biện pháp đó đều làm chưa tốt, có biện pháp làm rất ít hiệu quả, do đó các tiêu cực do chủ nghĩa cá nhân sinh ra vẫn cứ phát triển ngày một nghiêm trọng. Từ “một số ít” đến “một số”, “một số không nhỏ” mắc tiêu cực, từ chỗ chỉ là cán bộ sơ cấp, trung cấp, cán bộ thừa hành tới chỗ “không ít cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả cán bộ cao cấp còn thiếu gương mẫu trong giữ gìn phẩm chất, đạo đức” như Nghị quyết Trung ương 3 đã khẳng định.
Nghe các đồng chí giúp việc Bác kể lại, đầu đề của bản thảo tác phẩm lúc đầu là “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” nhưng khi đưa cho một số đồng chí góp ý kiến thì Bác sửa lại như đã công bố; tuy sửa lại theo ý kiến đóng góp nhưng Bác vẫn nói rằng: lúc này phải nhổ cho sạch cỏ thì cây cối mới mọc lên được.
Nghe kể lại như thế tôi lại chợt nhớ tới buổi bế mạc Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 3 (khóa X), trong bài phát biểu, đồng chí Tổng Bí thư đã phân tích: “Nhìn xuyên suốt cả nhiệm vụ đấu tranh thì phòng ngừa là chính. Nhưng trước tình hình bức xúc hiện nay, phải hết sức coi trọng việc kiên quyết đấu tranh, phát hiện, xử lý kịp thời, cũng là để răn đe, là một biện pháp phòng ngừa”.
Cuộc đấu tranh khắc phục chủ nghĩa cá nhân vị kỷ là một nhiệm vụ lâu dài nhưng trong tình hình hiện nay lại có ý nghĩa cấp bách, do đó tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” có ý nghĩa thực tiễn mang tính thời sự nóng hổi
Nxb. Sự thật xuất bản
Lần đầu nǎm 1954. In theo bản của Nhà xuất bản Sự thật. cpv.org.vn
—————————
(17) Thường thức chính trị gồm 50 bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ký bút danh Đ.X., đǎng trên nhiều số báo Cứu quốc trong nǎm 1953.
Nǎm 1954, các bài viết này được Nhà xuất bản Sự thật tập hợp lại và in thành sách với tiêu đề Thường thức chính trị để cung cấp tài liệu học tập và tuyên truyền trong cán bộ và nhân dân.
Thường thức chính trị trong Tập 7 này in theo cuốn sách xuất bản nǎm 1954, có đối chiếu với các bài đǎng trên báo. Tr. 201.
Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng cho dân tộc ta khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp. Mọi người đều được bình đẳng, tự do. Để làm cho đại đa số nhân dân, tức là công nhân và nông dân, được sung sướng hơn, chúng ta phải ra sức kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn và thực hiện dân chủ mới.
Tất cả của cải vật chất trong xã hội, đều do công nhân và nông dân làm ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn và phát triển. Song những người lao động thì suốt đời nghèo khó, mà có một số người không lao động thì lại “ngồi mát ǎn bát vàng”. Vì đâu có nỗi chẳng công bằng này? Vì một số ít người đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của xã hội.
Tư liệu sản xuất tức là ruộng đất, hầm mỏ, công cụ và nguyên liệu. Họ có tư liệu sản xuất nhưng họ không làm lụng, họ bắt buộc người khác làm cho họ hưởng. Do đó mà có giai cấp.
Những người chiếm tư liệu sản xuất không làm mà hưởng, là giai cấp bóc lột. Những người lao động mà không được hưởng là giai cấp bị bóc lột.
Từ mấy nghìn nǎm nay, xã hội Việt Nam bị chế độ phong kiến thống trị.
Chế độ phong kiến tức là chế độ địa chủ bóc lột nông dân.
Địa chủ chiếm tư liệu sản xuất, tức là ruộng đất, nông cụ, vân vân, làm của riêng, nhưng họ không cày cấy. Nông dân buộc phải mướn ruộng đất của địa chủ, phải nộp tô cho địa chủ, lại còn phải hầu hạ và lễ lạt địa chủ. Nông dân không khác gì nô lệ.
Nông dân quanh nǎm tay lấm chân bùn, đầu tắt mặt tối, nhưng vẫn nghèo khổ. Địa chủ thì không nhắc chân động tay, mà lại cửa cao nhà rộng, phú quý phong lưu. Đó là một chế độ cực kỳ không công bằng.
Nông dân vì nghèo khó, không thể nâng cao mức sản xuất. Địa chủ thì chỉ lo lấy địa tô, không lo cải thiện sự sản xuất. Vì vậy, sản xuất không thể nâng cao.
Đặc điểm của chế độ phong kiến là: nông dân sản xuất một cách rời rạc. Địa chủ bóc lột một cách tàn tệ.
Nhà nước phong kiến là nhà nước của giai cấp địa chủ. Nó lấy vua chúa làm trung tâm. Nó dùng mồ hôi nước mắt của nông dân để nuôi một bầy quan lại và quân lính, đặng áp bức bóc lột nông dân.
Trải mấy nghìn nǎm, nông dân nhiều phen nổi lên chống chế độ phong kiến địa chủ, nhưng kết quả thất bại, vì họ không biết tổ chức chặt chẽ. Nông dân cần có một giai cấp tiền tiến lãnh đạo – tức là giai cấp công nhân, thì mới chắc chắn được giải phóng.
Từ ngày kháng chiến, nông dân ta được chia ruộng đất của thực dân Pháp và của Việt gian, được giảm tô giảm tức. Nhưng đó chỉ mới là bước đầu. Muốn hoàn toàn giải phóng, thì với sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, nông dân ta phải hǎng hái và kiên quyết tiến lên nữa.
Chủ nghĩa tư bản là chế độ một bọn ít người bóc lột và thống trị đại đa số nhân dân. Song bọn ấy là bọn tư bản, chứ không phải là bọn phong kiến.
Cách đây vài trǎm nǎm, các nước phương Tây bắt đầu có máy móc, có công nghệ và có chế độ tư bản.
Dưới chế độ ấy, bọn tư bản chiếm các tư liệu sản xuất (như nhà máy, nguyên liệu…) làm của riêng. Nhưng tự họ không lao động, mà thuê công nhân sản xuất để bóc lột công nhân.
Công nhân phải bán sức lao động mới có ǎn. Ngoài sức lao động, họ không có máy móc và nguyên liệu gì cả. Cho nên công nhân là giai cấp vô sản.
Công nhân sản xuất các thứ của cải, song của cải ấy đều thành của cải của nhà tư bản. Bọn tư bản chỉ trả cho công nhân một số tiền công rất ít. Nhà tư bản thuê công nhân mục đích là cốt kiếm lãi. Công nhân vì không có tư liệu sản xuất, mà phải chịu bọn tư bản bóc lột. Vì vậy, đặc điểm của chủ nghĩa tư bản là:
1- Máy móc là chủ chốt của tư liệu sản xuất. Dùng máy móc phải tập trung đông người. Do đó, để sản xuất, thì sức lao động hoá ra tập thể.
2- Nhà tư bản chiếm hết mọi tư liệu sản xuất, họ dùng chế độ tiền công để bóc lột công nhân.
Về mặt sản xuất, so với chế độ phong kiến thì chế độ tư bản là một tiến bộ to. Phong kiến, chỉ nhờ sức người và sức súc vật mà sản xuất. Tư bản thì dùng máy móc mà sản xuất. Dùng máy móc tái sản xuất gấp 10, gấp 100, mà người ta lại ít khó nhọc hơn.
Tư bản sản xuất rất nhiều, song không phải để cho mọi người được hưởng. Vì các tư liệu sản xuất đã bị nhà tư bản chiếm làm của riêng. Đó là một tình trạng rất không hợp lý. Tình trạng đó sinh ra nhiều khó khǎn mà nhà tư bản không thể giải quyết: nhà tư bản sản xuất là cốt để bán. Thí dụ, họ sản xuất hàng vạn đôi giầy, không phải để họ dùng, mà để bán. Trong xã hội tư bản, đại đa số nhân dân đã thành nghèo khó, thì bán cho ai ? Vì vậy, mà thường có khủng hoảng kinh tế, vì sản xuất quá nhiều.
Lao động đã tập thể, thì các tư liệu sản xuất và những thứ sản xuất ra, phải là của chung mới đúng.
Nhà tư bản chẳng những bóc lột công nhân trong nước họ, mà còn xâm lược và bóc lột các nước khác. Do đó, chủ nghĩa tư bản trở nên chủ nghĩa đế quốc.
Muốn phát triển công nghệ, nhà tư bản cần có rất nhiều tiền vốn. Phần lớn tiền vốn ấy là do họ bóc lột, cướp giật các nước lạc hậu. Họ không bán hết hàng hoá ở trong nước họ, họ áp bức các nước lạc hậu mua của họ. Họ thiếu nguyên liệu, thì họ lấy nguyên liệu của nước lạc hậu. Muốn có nhân công rất rẻ, họ áp bức nhân dân các nước lạc hậu làm công cho họ. Vì vậy, họ dùng vũ lực để chiếm các nước lạc hậu làm thuộc địa.
Các nhà tư bản tranh giành nhau. Cá lớn nuốt cá bé. Kết quả là các công nghệ tập trung vào trong tay một số nhà tư bản to: Bọn này liên kết với nhau, bao biện tất cả các công nghệ. Thế là Tư bản độc quyền.
Bọn này đã nắm quyền kinh tế, họ cũng nắm cả quyền chính trị, cho nên chính phủ các nước tư bản đều là tay sai của bọn tư bản độc quyền. Thế là nước đế quốc chủ nghĩa.
Tư bản độc quyền ra sức tranh nhau nguyên liệu, tranh nhau thị trường, tranh nhau thuộc địa. Do đó, các nước đế quốc chủ nghĩa xung đột lẫn nhau, rồi sinh ra chiến tranh.
Bị bóc lột quá tệ, giai cấp vô sản ở các nước tư bản và các dân tộc bị áp bức nổi lên đấu tranh, nổi lên cách mệnh. Cuối cùng là chủ nghĩa đế quốc bị đánh tan.
Hơn 80 nǎm trước, đế quốc Pháp thấy nước ta người đông, của nhiều, bèn dùng vũ lực sang cướp nước ta. Giai cấp phong kiến Việt Nam (vua, quan, đại địa chủ) thì hủ bại đê hèn, chỉ biết bán nước, không dám chống giặc.
Khi đã cướp được nước ta, đế quốc Pháp liền mở nhà máy và hầm mỏ, để thu hút nguyên liệu của ta và bóc lột công nhân ta. Chúng lập ra ngân hàng để khống chế kinh tế của ta. Chúng mở xe lửa và tầu thuỷ để chuyên chở hàng hoá của chúng và vận tải quân đội của chúng đặng đàn áp nhân dân ta. Chúng mở một ít trường học, để nhồi sọ thanh niên ta, biến họ thành những người nô lệ dễ sai khiến.
Thế là đế quốc Pháp cướp hết quyền kinh tế, chính trị, quân sự, vǎn hoá của nước ta, và thu hút hết mồ hôi nước mắt của nhân dân ta.
Đế quốc Pháp ra sức duy trì chế độ phong kiến Việt Nam để làm tay sai cho chúng, vì thế lực phong kiến rải khắp cả nước, và thống trị đại đa số nhân dân là nông dân. Giai cấp phong kiến thì dựa vào thế lực đế quốc mà sống còn.
Từ đó, nhân dân Việt Nam vừa bị đế quốc vừa bị phong kiến áp bức bóc lột.
Song nhân dân Việt Nam là một nhân dân anh hùng oanh liệt, trong lịch sử đã nhiều phen nổi lên đánh đổ ngoại xâm. Lần này nhân dân ta lại đoàn kết một lòng, kiên quyết vượt mọi khó khǎn gian khổ, để đánh tan thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ và lũ Việt gian bù nhìn; kiên quyết tranh lại độc lập và thống nhất cho Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho đồng bào.
Đế quốc quyết không để cho tư bản dân tộc phát triển. Vì nếu tư bản Việt Nam phát triển, thì sẽ tranh mất mối lợi của chúng.
Chế độ phong kiến cũng ngǎn trở tư bản dân tộc phát triển, vì lẽ này: dưới chế độ phong kiến, bao nhiêu của cải do nông nghiệp làm ra, đều lọt vào tay giai cấp địa chủ. Địa chủ không làm lụng mà vẫn được hưởng của cải, cho nên họ không muốn mạo hiểm bỏ vốn vào công nghệ. Vả chǎng, công nghệ thì cần có thị trường để buôn bán; song đại đa số nhân dân ta là nông dân mà nông dân thì bị địa chủ bóc lột thậm tệ, còn tiền đâu mà mua. Nếu họ có chút đỉnh tiền, thì lại bị hàng hoá của đế quốc thu hút hết.
Thế là vì đế quốc áp bức, vì phong kiến ngǎn trở mà tư bản nước ta không phát triển được.
Có một bọn tư bản Việt Nam dựa vào đế quốc mà làm giàu. Họ giúp việc các hiệu buôn, ở nhà bǎng, nhà máy của đế quốc. Họ giúp đế quốc bóc lột nhân dân ta, do đó họ phát tài. Rồi họ cũng mở cửa hàng, thậm chí mở nhà máy hoặc nhà bǎng nho nhỏ. Những doanh nghiệp ấy, tiếng là của người Việt Nam, kỳ thực vẫn là thế lực của đế quốc, nó nhờ vào đế quốc mà sống, nó làm theo mệnh lệnh của đế quốc. Vì vậy, nó cũng là tay sai của đế quốc, chống lại lợi ích của nhân dân.
Kinh tế chủ yếu gồm có công nghệ và nông nghiệp. Công nghệ gồm có công nghệ nhẹ như nhà máy dệt vải, làm diêm, xà phòng, và công nghệ nặng như nhà máy sắt, gang, đóng tầu thuỷ, làm xe hơi, v.v..
Một nước độc lập, ắt phải có công nghệ nặng. Vì đế quốc và phong kiến áp bức, mà Việt Nam ta không phát triển được công nghệ và không có công nghệ nặng.
Về nông nghiệp: Đất đai ta rất rộng, nông dân ta rất siêng nǎng chịu khó, nhưng phần lớn đất ruộng đều tập trung trong tay bọn thực dân và địa chủ phong kiến. Nông dân thì thiếu ruộng hoặc không có ruộng, thiếu cả trâu bò. Vì vậy nông thôn ngày càng sa sút.
Do đó kinh tế Việt Nam thành lạc hậu và phụ thuộc vào kinh tế của đế quốc Pháp. Tình hình ấy khiến số rất đông nhân dân, tức là công nhân và nông dân, cực khổ, khó khǎn.
Bạn phải đăng nhập để bình luận.