Tag Archive | Thời sự

Những tấm ảnh của Bác Hồ lần đầu được công bố

Triển lãm tài liệu lưu trữ với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc” trưng bày hơn 300 tài liệu hình ảnh và hiện vật, trong đó có nhiều hình ảnh lần đầu được công bố.

Nhân kỷ niệm 117 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cục Văn thư và lưu trữ Nhà nước, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tổng cục Lưu trữ Nhà nước Trung Quốc đã phối hợp tổ chức triển lãm tài liệu lưu trữ với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc” tại Bảo tàng Hồ Chí Minh để giới thiệu với người xem quá trình hoạt động của Người.

Xin giới thiệu với bạn đọc một vài hình ảnh do Tổng cục Lưu trữ Trung Quốc cung cấp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đón Thủ tướng Chu Ân Lai đến thăm Việt Nam, tháng 5/1960

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Tây Giao, Bắc Kinh, mùa đông 1952

Đội viên TNTP Trung Quốc nhờ Bác Hồ chuyển thư tới các bạn nhỏ Việt Nam năm 1957.

Theo Phạm Yên
Tiền Phong
dantri.com.vn

Di chúc của Bác Hồ về quyền của trẻ em

(Dân trí) – Trong bản di chúc của mình, Bác Hồ 2 lần nhắc đến nhi đồng. Một lần ở đoạn mở đầu và một lần ở đoạn kết thúc. Bác viết: “Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp 2 miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”.

Ở đoạn kết thúc Bác lại viết: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng”.

Xưa nay, ở nước ta và ngay cả trên thế giới quả hiếm có vị lãnh tụ nào dành nhiều tình cảm, suy nghĩ và cả thời gian quý báu cho các cháu thiếu niên, nhi đồng như Bác Hồ, cho đến khi sắp từ biệt thế giới này Bác đã hai lần nhắc đến các cháu “Nhi đồng yêu quý của chúng ta”. Suốt một đời chăm lo những việc lớn của đất nước, Bác vẫn là người quan tâm hơn bất cứ ai đến việc chăm sóc con trẻ, đến việc trồng người. Tình yêu trẻ thơ của Bác không đơn giản chỉ là một tình cảm thông thường.

Đó là một tình cảm sâu sắc, rộng lớn xuất phát từ một chủ nghĩa nhân đạo cao cả với ý thức rõ rệt, là cháu sẽ là những người tiếp tục sự nghiệp của cha ông, những người trực tiếp xây dựng xã hội tương lai. Tình yêu đó, sự quan tâm đặc biệt đó còn bắt nguồn từ lý tưởng cao đẹp của Người: suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp vĩ đại: giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Ở Người, quan điểm về bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em đã sớm trở thành một bộ phận của tư tưởng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội văn minh, dân giàu, nước mạnh. Dân tộc không được giải phóng thì trẻ em không được bảo vệ, chăm sóc, không được hưởng các quyền lợi cơ bản của mình. Đất nước không được giàu mạnh thì trẻ em không được ấm no, hạnh phúc.

Thật hết sức xúc động khi đọc bài viết của Bác trước khi từ biệt thế giới này để gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, Bác viết: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ… Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”.

Là một nhà giáo dục vĩ đại, Bác Hồ coi trọng việc giáo dục thế hệ trẻ không chỉ ở nội dung mà cả phương pháp dạy học và giáo dục. Nói chuyện với lớp cán bộ đào tạo mẫu giáo, Bác nhắc nhở: “…làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm thế thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, chịu khó mới nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ như trồng cây non. Trông cây non được tốt thì sau này cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này cháu trở thành người tốt”. “Trong lúc học cẩn phải làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học…”

Về nội dung giáo dục ở các cấp học, Bác nhắc nhở nhiều lần: “Cần chú trọng hơn nữa về mặt đức dục; Dạy cho các cháu đạo đức cách mạng, biết yêu Tổ Quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu khoa học, yêu lao động và người lao động, thật thà,dũng cảm, sẵn sàng tham gia lao động và bảo vệ Tổ Quốc”. Những điều Bác dạy về nhi đồng, về việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ toát lên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

Thanh Hoàng
Tham khảo Các tư liệu về Hồ Chủ Tịch
cpv.org.vn

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo và kỷ niệm với Bác Hồ

(Dân trí) – Đây là những câu chuyện, suy nghĩ cảm động của GS Thượng tướng Hoàng Minh Thảo về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những kỷ niệm đó dù nhỏ, nhưng đã đi theo vị tướng tài ba này, trải bao tháng năm trận mạc, góp phần làm nên những chiến công lừng lẫy non sông.

Bác đãi cháo quẩy ở Nam Ninh

Dự trù trước những tháng ngày cam go sắp tới của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Bác chủ trương chọn một số thanh niên có cảm tình với Đảng tại các địa phương, chủ yếu là Cao Bằng, Lạng Sơn sang học tại trường Quân sự ở Liễu Châu (Trung Quốc) từ năm 1941 đến năm 1944. Là một trong những thanh niên được chọn, nhưng vì ở xa nên tôi không được gặp Bác.

Mùa hè 1944 trên đường trở về Việt Nam sau những tháng dài chịu bao gian khổ trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, Bác Hồ vẫn xếp lịch dừng lại ở Nam Ninh gặp mặt những thanh niên Việt Nam đang học tại trường Quân sự Liễu Châu. Bác đến nói chuyện với anh em, động viên mọi người đoàn kết, chịu khó học tập quân sự để sau này về tổ chức lực lượng vũ trang, kháng Pháp.

Khi gặp Bác, anh em chúng tôi ai cũng thương cảm vì trông Bác rất gầy và yếu. Tôi cùng một vài anh em khi đó là học viên lớp biệt động quân Trung – Mỹ, được trợ cấp cũng khá tốt nên muốn mời Bác một bữa ăn “kha khá một chút”. Nhưng Bác không đồng ý. Bác bảo: Ta còn nghèo, các đồng chí cũng chỉ được phụ cấp một ít, phải suy nghĩ tính toán thật kỹ khi tiêu dùng. Sau đó mấy Bác cháu cùng đi ăn cháo quẩy và Bác là người trả tiền.

Chỉ riêng một chi tiết rất nhỏ đó, cũng khiến anh em lưu học sinh tại trường Quân sự suy nghĩ rất nhiều về Bác, về cuộc kháng chiến sắp tới. Đó là sự nhất quán trong mọi hoàn cảnh: tiết kiệm, chủ động, tự lực cánh sinh.

Tư tưởng “lấy dân làm gốc”

Một điều nữa, tôi rất muốn nói đến, đó là tư tưởng kế thừa sâu sắc tinh hoa quân sự dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó, tư tưởng vĩ đại “Lấy dân làm gốc” đóng vai trò sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Đức thánh Trần Hưng Đạo có nói: “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”.

Nguyễn Trãi thì nói: “Dân là người chở thuyền và cũng là người lật thuyền”. Hồ Chí Minh nói: “Nước lấy dân làm gốc. Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân… Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.
Điều này đặc biệt thể hiện ở nghệ thuật quân sự, phương thức chiến tranh của Đảng ta, của Bác Hồ: Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy thế thắng lực.

Về điều này, Nguyễn Trãi nói: Được thời được thế thì mất biến thành còn, nhỏ hoá ra lớn, không thời mất thế thì to hoá ra nhỏ, mạnh hoá ra yếu, an lại thành nguy. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công”.

Trong thực tế chiến tranh, nghệ thuật quân sự của Việt Nam được thể hiện ở sự kết hợp lực, thần, thế, thời, mưu để tạo thành sức mạnh tổng hợp để tiến hành chiến đấu và chiến thắng kẻ địch. Mưu cao nhất là mưu lừa địch. Kế hay nhất là kế điều địch. Thế tốt nhất là thế chia cắt địch. Mưu sinh ra kế – Thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu, kế, thắng bằng thế, thời.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Độc lập, tự do chính là người dân có quyền làm chủ cuộc sống của mình. Chính vì vậy mà nhân dân ta đã anh dũng đấu tranh giành độc lập. Đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ tạo nên sức mạnh to lớn. Chúng ta đã đánh thắng hai đế quốc to lớn, hung bạo nhất thế giới trên cơ sở kế thừa và phát huy những truyền thống tinh hoa của tổ tiên, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ, với trí thông minh sáng tạo của quân và dân ta.

Ngoài ra, thắng lợi của chúng ta còn nhờ sự giúp đỡ của nhân dân các nước tiến bộ trên thế giới. Chúng ta đã biết kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại để làm nên chiến thắng, mở ra giai đoạn mới của lịch sử dân tộc.

Suy nghĩ của riêng tôi, để cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào thực tiễn, ngoài việc giáo dục thật mạnh thì phải đi đôi với việc quản lý chặt chẽ cán bộ. Và người cán bộ, dù ở bất cứ lĩnh vực nào, vị trí nào, cũng phải là người làm gương trước hết!

Phúc Hưng (ghi)
cpv.org.vn

Người nữ anh hùng 5 lần được gặp Bác

“Cuộc đời tôi có 5 điều may mắn nhất, cũng là 5 niềm vinh dự lớn lao nhất, đó là 5 lần được gặp Bác Hồ. Bác đã hỏi han, dạy bảo những điều rất giản dị, đời thường nhưng tôi thấy chứa đựng tình thương bao la… Gần 50 năm trôi qua nhưng những lời Bác dạy vẫn còn in mãi trong trái tim tôi…”.

Trong ngôi nhà nhỏ bên con đường 12A huyền thoại, thuộc địa phận xã Cảnh Hóa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, nữ Anh hùng Nguyễn Thị Kim Huế kể cho chúng tôi nghe những hồi ức đẹp và thiêng liêng về 5 lần được gặp Bác Hồ.

Thời máu lửa

Cô gái Thanh niên xung phong (TNXP) quả cảm trên con đường 12A huyền thoại năm ấy giờ đã bước sang tuổi 68, nhưng trong bài viết này, tôi xin mạn phép gọi bà là chị như thuở bà còn là cô gái đôi mươi trên tuyến đường máu lửa.

Sinh năm 1940, tuổi thơ của chị không biết được khuôn mặt cha mẹ. Nhà nghèo, chị phải làm thuê từ nhỏ để mưu sinh. Tháng 6/1965, giặc Mỹ leo thang bắn phá ác liệt miền Bắc, 19 tuổi, chị đã có chồng nhưng vẫn làm đơn xin nhập ngũ vào lực lượng TNXP trên tuyến đường 12A máu lửa.

182 người của huyện Tuyên Hóa lúc bấy giờ lập nên đơn vị 759, đội 75, công trường 12. Chị là Tiểu đội trưởng Tiểu đội 6, có 16 chị em. Đơn vị được giao phụ trách tuyến đường 12A từ Nam cầu La Trọng đến Bãi Dinh. Giặc Mỹ điên cuồng thả bom nhằm làm tê liệt tuyến đường. Năm 1965, Trung đội quyết tử được thành lập, chị giữ chức Trung đội trưởng. Với tinh thần quyết tử cho tuyến đường luôn thông suốt, chị và đồng đội mỗi lần vào trận đánh đều được “làm lễ truy điệu sống”.

Ngày 3/7/1966, máy bay B52 của Mỹ đã điên cuồng đánh phá tuyến đường. 45 ngày đêm chiến đấu, 24 đồng đội của chị đã hy sinh, vừa thông đường các chị vừa tìm xác đồng đội. Bản thân chị cũng đã bị bom vùi nhiều lần, tỉnh lại chị lại lao vào trận tuyến…

Vinh dự đã đến với chị ngày 1/1/1967, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động. Đại đội 759 cũng được tặng danh hiệu Anh hùng lao động mà Tiểu đội 6 của chị là con chim đầu đàn.

Tại các địa danh ác liệt như Ba Trại, nam Sông Gianh, bến phà Gianh… giặc điên cuồng bắn phá, thả bom nổ chậm, bom từ trường. Không một chút sợ hãi, các chị lao vào đối đầu với cái chết, phá bom từ trường chỉ với đoạn dây gần 100m, gắn với một đoạn sắt, kéo đoạn dây này đi qua các quả bom, bom từ trường bị kích nổ chỉ cách người 5 mét.

5 lần gặp Bác Hồ

Từ những chiến công trên đường Trường Sơn anh hùng, tháng 11/1966, chị được cử ra tỉnh Hưng Yên tập huấn quân sự. Chính nơi đây chị đã bất ngờ được gặp Bác Hồ.

Chị xúc động kể: “Vào một ngày cuối buổi kiểm tra môn bắn súng, kết quả 3 lần bắn tôi đều đạt ưu tú. Lúc ấy có một ông già tóc bạc phơ, mặc quần áo bà ba, chân đi dép cao su đến gần tôi và hỏi: “Cháu có bí quyết gì bắn súng mà giỏi như vậy, cháu bày cho Bác với?”. Tôi thật thà trả lời: “Cháu chỉ bình tĩnh, tự tin, nín thở và bóp cò thôi ạ”.

Buổi chiều tổng kết lớp học, ông già ấy khoác bộ Kaki sờn cũ khen tôi: “Con gái Quảng Bình sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, làm gì cũng giỏi”. Lúc ấy tôi mới biết đó là Bác Hồ.

Cũng trong năm 1966, chị lại được vinh dự có mặt trong Đoàn đại biểu của ngành Giao thông vận tải Quảng Bình ra báo cáo thành tích với Bác. Bác hỏi: “Các cô chú Quảng Bình ra thăm Bác có chuyện chi?”. Lúc ấy, chị là đại biểu trẻ nhất nên được Bác hỏi chuyện. Bác hỏi thăm tình hình anh em, hỏi chuyện gia đình chị. Bác hỏi bao giờ có con, chị trả lời: “Thưa Bác khi nào cách mạng thành công, hết giặc Mỹ cháu mới sinh con”. Bác bảo: “Sự nghiệp đánh giặc Mỹ còn dài lâu, cháu phải sinh con để sau này còn đi đánh giặc nữa chứ. Cháu đánh giặc giỏi nhưng phải làm tốt việc gia đình”.

Lần gặp Bác Hồ thứ ba là tại Đại hội Anh hùng toàn quốc tháng 1 năm 1967. Đoàn Quảng Bình có 11 đại biểu, trong đó người cao tuổi nhất là mẹ Suốt, trẻ nhất là chị Trần Thị Lý. Sau khi được gắn danh hiệu Anh hùng, chị được Bác quàng khăn và tặng chiếc đồng hồ đeo tay Liên Xô. Cả 3 người được vinh dự chụp ảnh với Bác. Bác và đồng chí Tố Hữu đã khóc khi nghe chị kể chuyện 45 ngày dưới mưa bom bão đạn để san lấp đường, phá bom tìm xác đồng đội.

Lần gặp thứ tư có thể nói là lần gặp xúc động nhất trong cuộc đời chị. Đó là vào dịp Đại hội TNXP toàn quốc lần thứ 4 (tháng 7/1967). Lúc đó chị được vinh dự tặng hoa cho Bác. Khi Bác xuất hiện, chị ào tới tặng hoa cho Người. Đúng khoảnh khắc này bức ảnh 2 Bác cháu ra đời, sau này được Nhà in Tiến Bộ in ra hàng vạn bức ảnh phát hành trên toàn quốc và bây giờ bức ảnh này vẫn được chị giữ gìn, treo cẩn thận nơi trang trọng nhất trong nhà.

Lần gặp Bác cuối cùng của chị vào dịp kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng 10 Nga. Trước khi sang thăm Liên Xô, chị và các đại biểu đã được gặp Bác và nghe Bác dặn dò. Chị nhớ, trong buổi họp báo quốc tế, có nhà báo hỏi: “Dũng sĩ diệt Mỹ sao bé nhỏ thế?”, “Việt Nam nhỏ bé nghèo nàn sao thắng được Mỹ?”. Chị khẳng khái nói: “Tôi tuy nhỏ bé nhưng tinh thần không nhỏ. Chúng tôi không sợ kẻ thù, lớp này hy sinh có lớp khác lên thay…”. Sau này Bác khen chị trả lời thông minh, đanh thép.

Lúc Bác mất, chị được cử đi viếng Người, được phép để tang Người 3 tháng 10 ngày. Trong thời gian này, chị cùng với 5 đồng chí khác đi Nhật Bản và Trung Quốc để tuyên truyền về bộ phim “Đời hoạt động của Bác Hồ với thanh niên Việt Nam”, trong bộ phim đó, chị và chị Trần Thị Lý đóng vai chính.

Năm 1995 chị về nghỉ hưu với thương tật vĩnh viễn 25%. Một mình chị phải tần tảo nuôi 3 người con, do chồng chị mất sớm. Hai người con đầu của chị giờ đã lập gia đình, nối nghiệp theo ngành giao thông của chị, đặc biệt người con cả hiện giờ đang thi công con đường 12A công nghiệp hóa, con đường lịch sử mà xưa kia chị và những đồng đội đã ghi nên những chiến công anh hùng.

Hiện chị sống cùng hai đứa cháu trong ngôi nhà nhỏ nằm trên đường 12A, con đường đã gắn chặt cuộc đời oanh liệt của chị. Tiền lương hưu cộng với tiền trợ cấp thương tật mỗi tháng chỉ được lĩnh hơn 1 triệu đồng, số tiền đó dành nuôi hai đứa cháu.

Thấy tôi ái ngại, chị bảo: “Ngày trước Bác Hồ sống giản dị, bữa cơm rau muống đạm bạc, cuộc sống của Bác thanh liêm như thế mà vẫn hoạt động cách mạng thắng lợi. Bây chừ mình có lĩnh lương mỗi tháng những một triệu là bữa cơm có cá rồi đấy. Thế là sống tốt rồi, tấm gương của Bác mình luôn làm theo. Cuộc sống như thế này là tốt rồi. Mình không đòi hỏi gì thêm, Nhà nước còn phải sẻ chia với muôn vàn đồng bào khó khăn nữa mà”.

Theo M.Phong – Ph.Phương
Sài Gòn Giải Phóng
dantri.com.vn

Nếp sống thanh bạch, giản dị và khiêm tốn

(Dân trí) – Bác Hồ, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Người đi vào lòng dân với bao nét tinh hoa đẹp đẽ của dân tộc Việt Nam, được hoà quyện và nâng cao thêm bởi tinh hoa của văn hoá thế giới.

Từ năm 1924 khi Người còn ở Nga, Nhà thơ Nga Ôxip-Man-Đaxtan đã viết: “Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá không phải là văn hoá châu Âu mà là một nền văn hoá của tương lai”.

Bác Hồ vĩ đại là vậy, Bác để lại cho mỗi chúng ta bao điều cần học tập. Nhưng đối với tôi, điều để lại ấn tượng sâu sắc nhất, là sự giản dị và khiêm tốn của Bác. Trong cuộc sống đời thường, Bác thanh bạch và giản dị từ cách ăn, mặc đến cách nói, cách viết, cách tiếp xúc với quần chúng.

Quần áo Bác mặc thường ngày là bộ ka ki màu vàng, bộ bà ba nâu với đôi dép cao su. Mùa đông, có lần Bác bận chiếc áo Tôn Trung Sơn có mảnh vá. Có người hỏi: “Kính thưa Chủ tịch, vì sao Người là Chủ tịch nước mà lại mặc áo vá?” Người trả lời vui vẻ: “Đất nước còn nghèo, Chủ tịch có mặc áo vá thì dân mới có áo lành mặc”.

Hẳn nhiều người chúng ta đã được xem một bộ phim, tả cảnh trên đường công tác, Bác Hồ xuống suối tắm, tắm xong, Bác phơi quần áo trên mũ và chiếc gậy vác lên vai tiếp tục lên đường. Hình ảnh đó đã làm chúng ta xúc động đến rơi nước mắt.

Món ăn chính của Bác thường là quả cà giòn với món cá kho ngọt dầm tương quen thuộc của xứ Nghệ, quê nhà. Còn lúc tiếp xúc với quần chúng, Người gần gũi, thân tình như người bác, người cha, người ông, không hề có sự phân cách giữa lãnh tụ và nhân dân, Bác tặng kẹo cho trẻ thơ, tặng luạ cho cụ già, vỗ tay cất nhịp cùng hát bài kết đoàn…

Tôi ghi sâu ấn tượng về cách nói và cách viết của Bác. Bác không chỉ dạy các nhà báo về quan điểm viết báo là để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, mà còn phải viết thế nào cho người đọc dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo, nhất là quần chúng lao động.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong một bài viết có kể lại: Hồi ở Việt Bắc, Bác giao cho Đại tướng viết bài báo để ca ngợi phụ nữ. Đại tướng đã để công viết hai trang đánh máy, cho là hay và đem trình Bác. Bác đọc và nói, bài chú viết hay nhưng dân ở đây đọc sẽ không hiểu. Chú rút ngắn lại. Đại tướng đã rút ngắn dần, đem cho nhiều người đọc, đến lúc chỉ còn 200 chữ, đưa trình Bác, Bác đọc và cho đưa đăng.

Bác là người thông tuệ, không chỉ ngôn ngữ dân tộc mà còn biết nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Bác là nhà chính trị, ngoại giao sắc sảo, là nhà văn, nhà thơ lớn đã từng viết những áng văn tuyệt tác như Tuyên ngôn Độc lập, những vần thơ Nhật ký trong tù, sắc nét của Đường thi. Nhưng bao giờ Bác cũng lấy sự giản dị, trong sáng làm đầu. Bác lấy sự học làm đầu và rất khiêm tốn học hỏi.

Chúng ta đã từng biết Bác đã học cách viết báo như thế nào! Từ tập viết ngắn đến viết dài rồi từ viết dài đến viết ngắn. Sau cùng dài ngắn đều viết được. Viết xong mỗi bài, Bác đều đưa cho người phục vụ ít chữ đọc. Chỗ nào không hiểu Bác chữa lại. Nhiều lần, Bác đã dặn các nhà báo là “viết cho ngắn gọn, dễ hiểu”, “đừng lằng nhằng dây cà ra dây muống như đưa chắt chắt vào rừng xanh” và “chữ ta có thì dùng, không dùng chữ nước ngoài”…

Gần 2.000 bài báo Bác viết đăng trên báo Việt Nam Độc lập, Nhân Dân và một số báo khác, ít bài dài trên 1.000 chữ mà có sức mạnh giáo dục và chiến đấu như gươm súng. Sự khiêm tốn của Bác còn thể hiện, tự nhận mình là người “học trò nhỏ “của các bậc vĩ nhân đại diện cho nền văn minh nhân loại từ Đức Phật thích ca, Đức Chúa Giê su, Khổng tử, K.Mác, Lênin, đến Tôn Trung Sơn, thánh Gandhi, hay nhà văn L. Tônxtôi…

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói về Bác: “Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, lớn mà không làm ra vĩ đại, soi sáng mà không choáng ngợp”.

Nhà thơ Cuba Ô-Tê-Rô đã viết:

Hồ Chí Minh, gốc của dân và cũng chính là dân
Vẫn hoà trong thác dân cuộn chảy
Là gió cuốn vượt muôn đèo dốc núi
Lại thu mình biến hoá trong muôn cây…

(Lê Xuân Quỳnh dịch)

Từ sự giản dị, khiêm tốn của Bác, chúng ta nghĩ nhiều về nếp sống hiện nay. Lịch sử đất nước đã sang trang, đất nước và cuộc sống đã có những đổi thay kỳ diệu. Nhưng đất nước ta vẫn đang còn nghèo, bình quân thu nhập của người dân vẫn còn thấp thua nhiều nước trên thế giới và khu vực, nguy cơ lạc hậu còn tiềm ẩn. Thế mà, một số cán bộ làm việc lười biếng, ăn chơi đua đòi, học làm sang, xa rời quần chúng. Một số vừa lên chức lên quyền, chỉ cán bộ xã, phường thôi, cũng đã lên mặt, doạ nạt nhân dân. Báo chí chẳng thèm đọc, chỉ vụ thành tích, vụ lợi, thích nghe lời nịnh hót.

Một số quan chức lợi dụng những khe hở của cơ chế, tham ô, tham những, lãng phí, ăn chơi phè phỡn, đến thế giới cũng kinh ngạc. Một số nhà báo trẻ mới ra nghề cũng tham viết dài dòng, văn hoa, chất lượng thông tin kém. Thậm chí có nhà báo đã dùng nhiều chiêu vòi tiền, tham lợi lộc uốn cong ngòi bút. Có những quan chức nhà báo phải hầu toà. Đau đớn thay! Chính họ, đang cưỡi trên nhiều nỗi đau khổ, đói nghèo của nhân dân, làm chậm bước tiến của đất nước.

Nhắc lại vài nét về nếp sống cần kiệm, giản dị, khiêm tốn của lãnh tụ vĩ đại để mỗi chúng ta cùng suy ngẫm, tự nhìn lại mình, cố gắng thực hiện những điều Bác dạy, góp phần đưa Nghị quyết Đại hội X của Đảng vào cuộc sống, xây dựng đất nước ta đàng hoàng, to đẹp hơn trong thời hội nhập như Bác Hồ hằng mong muốn.

Minh – Nho
(77 phố Phan Đình Phùng, TP. Hà Tĩnh)
dantri.com.vn

Bác Hồ tiết kiệm đến từng con chữ

(Dân trí) – Có rất nhiều câu chuyện cảm động về tấm gương giản dị và tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà cho đến tận bây giờ vẫn còn nguyên giá trị. Nhân kỷ niệm 48 năm ngày mất của Người, Dân trí xin trích đăng hai câu chuyện nhỏ nhưng đầy ý nghĩa.

Câu chuyện về 3 chữ “đinh” – ghi theo lời kể của bác Hồ Ngọc Quýnh – Cục lưu trữ quốc gia

Khoảng cuối năm 1954, đầu năm 1955, khi mới tiếp quản Thủ đô, Trung ương Đảng còn đóng trụ sở ở nhà thương Đồn Thủy, nay là bệnh viện Việt Xô – nơi Bác làm việc.

Bác dặn tôi buổi sáng tranh thủ đọc báo để ghi vào sổ gương người tốt, việc tốt. Rồi sáng sáng, từ 7h đến 7h15, Bác sẽ dành thời gian xem. Nếu có chỗ nào cần lưu ý, Bác lấy bút đỏ gạch dưới và dặn:

– Chú về nói với chú Lương (ông Nguyễn Văn Lương – nguyên bí thứ thành uỷ Hà Nội) thưởng hoặc nhắc địa phương, cơ quan xí nghiệp khen thưởng những người có nhiều thành tích mà Bác đã đánh dấu.

Sáng nào cũng vậy, đọc xong bản ghi chép, Bác cũng chữa câu văn cho tôi. Một lần, tôi đọc báo Nhân Dân và ghi vào sổ: “Tổ sản xuất Dân chủ sản xuất đinh, tháng 1 sản xuất được 50 vạn chiếc đinh, tháng 2 nhờ phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật sản xuất được 60 vạn chiếc đinh”. Đọc xong, Bác lấy bút đỏ gạch bỏ 2 chữ “đinh ở cuối câu rồi nói:

– Chú viết một câu ngắn mà có 3 chữ “đinh”. Phải tiết kiệm giấy mực, công sức và thời gian. Đọc 2 chữ “đinh” mất một giây, cả triệu người thì hết bao nhiêu thời gian.

Tôi còn giữ mãi quyển sổ trong đời họat động công tác. Bác chữa nhiều chỗ, nhưng tôi nhớ nhất câu chuyện về 3 chữ “đinh” trong một câu đó. Hai chữ “đinh” đằng sau Bác gạch bằng bút đỏ. Tôi càng ngày càng thấm thía sự dạy bảo của Bác. Nếu ai cũng có ý thức tiết kiệm như Bác, chắc chắn rằng nền kinh tế của đất nước ta đã khấm khá hơn rồi.”

Bữa ăn tập thể của Bác – ghi theo lời kể của bác Vũ Kỳ – thư ký của Bác

Khi đã về ở, làm việc trong Bắc Bộ phủ, anh em cấp dưỡng vẫn nấu một nồi to. Đến giờ thì Bác cùng xuống ăn với anh em những bữa cơm đạm bạc như những ngày trong kháng chiến.

Anh em giúp việc định nấu riêng cho Bác nhưng Bác nhất định không chịu. Khi đi công tác, kể cả những khi đi thăm ngày Tết… bao giờ Bác cũng bảo chuẩn bị sẵn bữa ăn mang theo.

Sau gần 50 năm mới có dịp về thăm quê lần đầu tiên, tháng 6/1957. Trong bữa cơm tỉnh Nghệ An mời Bác, có Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cùng dự. Mâm cơm chỉ có mấy món đơn giản nhưng mỗi món đều được dọn làm 2 bát. Thấy vậy, Bác liền cất bớt chỉ để mỗi món một bát. Bác bảo: “Ăn hết thì lấy thêm, không ăn hết để người khác ăn, chớ để người ta ăn thừa của mình”.

Lần thứ hai, Bác về thăm quê năm 1961, bữa cơm chiều Bác dặn cả Chủ tịch và Bí thư của tỉnh là Võ Thúc Đồng và Nguyễn Sĩ Quế, nhưng nhớ là phải mang phần cơm của mình đến. Khi vào bàn ăn, Bác lấy ra gói cơm của Bác có độn ngô và ít thịt rim mặn. Hai cán bộ tỉnh, phần cơm do nhà ăn của tỉnh chuẩn bị được nấu bằng gạo trứng, không độn; thức ăn có cá, thịt…

Thấy vậy, Bác hỏi: “Các chú ăn như thế này à?”. Ông Võ Thúc Đồng trả lời: “Dạ, thưa Bác. Hôm nay Bác về thăm, cơ quan mới chuẩn bị các món ăn như thế này, còn thường ngày thì không có đâu ạ.

Bữa cơm hôm đó, mọi người cùng Bác ăn hết phần cơm độn ngô trước, khi dùng phần cơm của cơ quan tỉnh mang đến thì Bác xin thôi không ăn nữa…

Lời kết

Đây là hai trong số nhiều câu chuyện cảm động kể về Bác Hồ đã được các cán bộ văn phòng Sở Y tế Hà Nội lựa chọn để tham gia hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” vừa qua. Các câu chuyện kể về Người tuy mộc mạc, đời thường nhưng khiến nhiều người phải cảm động và hơn cả là tấm gương cao quý.

Bài học tiết kiệm của Bác không chỉ là tiết kiệm thời gian, tiết kiệm của cải vật chất, mà còn tiết kiệm cho mình, cho người và cho xã hội. Những bài học mà bất cứ ngành nghề nào, con người nào cũng cần cho một xã hội muốn phát triển.

Lan Hương (ghi)
cpv.org.vn

Cụ ông 94 tuổi thi kể chuyện Bác Hồ

(Dân trí) – Tại hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của đảng bộ phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên, có một thí sinh thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều người. Đó là cụ Nguyễn Chín, một đảng viên, lão thành cách mạng, năm nay đã 94 tuổi.

Mặc dù tuổi đã cao, nhưng cụ Chín vẫn tích cực tham gia sinh hoạt Đảng, Hội người cao tuổi ở nơi cư trú; thường xuyên đọc sách, báo, xem chương trình thời sự…

Theo quy định, cụ được miễn sinh hoạt Đảng, nhưng không một buổi sinh hoạt nào của Chi bộ vắng mặt cụ. Ở đó, cụ luôn đóng góp những ý kiến sâu sắc và đầy tâm huyết cho sự phát triển của Chi bộ, thẳng thắn phê bình những hạn chế, khuyết điểm mà đảng viên trong Chi bộ mắc phải.

Đặc biệt, sau mỗi buổi sinh hoạt Chi bộ, cụ thường đọc thơ ca ngợi Đảng, Bác Hồ, sự đổi mới quê hương, đất nước cho mọi người cùng nghe; trong đó có nhiều bài thơ do chính cụ sáng tác.

Trong gia đình, cụ là tấm gương sáng về sự mẫu mực cho con, cháu nói theo. Người con dâu út của cụ cho biết: Cụ luôn giữ nếp sinh hoạt điều độ, sáng nào cũng dậy sớm tập thể dục và dành nhiều thời gian đọc sách, báo, thăm nom hàng xóm. Cụ luôn lấy những câu chuyện kể về Bác Hồ để răn dạy, nhắc nhở con cháu rèn luyện, tu dưỡng trong học tập, công tác.

Nói về hội thi kể chuyện Bác Hồ, ông Nguyễn Trường Giang, Bí thư Chi bộ 26, phường Phú Xá, cho biết: “Cụ Chín là người xung phong đầu tiên tại cuộc họp Chi bộ, thấy cụ tuổi cao, e không đủ sức khỏe nên các thành viên trong Chi bộ cũng như con cháu trong gia đình đều rất băn khoăn. Song cụ đã thuyết phục được cả Chi bộ và gia đình bằng sự quyết tâm và tấm lòng của dành cho Đảng, Bác Hồ”.

Theo TTXVN, để chuẩn bị cho hội thi, cụ ông 94 tuổi này đã cẩn thận xây dựng từ đề cương trả lời câu hỏi, chuyện kể về Bác Hồ đến sáng tác thơ rồi đem ra thảo luận, trao đổi trước tại Chi bộ. Câu chuyện của cụ kể về 3 lần Bác Hồ về thăm khu công nghiệp Gang Thép – nơi cụ từng làm việc.

Nói về tình cảm của mình với Bác, cụ tâm sự: “Chuyện kể về tấm gương đạo đức của Bác Hồ thì nhiều lắm, nhưng học tập và làm theo Bác quả là không dễ. Tôi già rồi, không làm được việc gì to tát, chỉ mong muốn được kể lại một câu chuyện về Bác Hồ để gửi gắm tấm lòng kính trọng của mình đối với tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và để con, cháu học tập, noi theo”.

Đức Phương
dantri.com.vn

Thư khen đồng bào, cán bộ và bộ đội Hải Phòng (23-4-1967)

Thân ái gửi đồng bào, cán bộ và bộ đội Hải Phòng,

Ngày 20-4-1967, quân và dân Hải Phòng đã đánh thắng vẻ vang, trừng trị đích đáng bước leo thang mới đầy tội ác của giặc Mỹ.

Quân và dân thành phố cảng đã đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm, giữ gìn trật tự trị an tốt.

Bác thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi đồng bào, cán bộ và bộ đội Hải Phòng.

Giặc Mỹ bị thua to ở cả hai miền Nam – Bắc nước ta, nhưng chúng còn ngoan cố tǎng cường chiến tranh xâm lược. Đồng bào, cán bộ và bộ đội không được vì thắng lợi mà chủ quan. Phải nâng cao cảnh giác, làm tốt công tác phòng không nhân dân, đánh giỏi, thắng lớn hơn nữa.

Chào thân ái và quyết thắng

Bác Hồ
Gửi ngày 23-4-1967.

—————–

Báo Nhân dân, số 4763, ngày 24-4-1967.
cpv.org.vn

Điện gửi Cụ Béctơrǎng Rútxen và ông Giǎng Pôn Xáctơrơ (6-5-1967)

Kính gửi cụ Béctơrǎng Rútxen,

Luân Đôn

Tôi rất sung sướng thấy Toà án quốc tế xử tội ác chiến tranh ở Việt Nam mở phiên chính thức đầu tiên. Sự nghiệp cao cả mà cụ đã đề xướng ra nay bước đầu được thực hiện. Đó là một sự kiện quốc tế rất quan trọng, nhất là trong lúc Mỹ đang điên cuồng leo thang chiến tranh, đánh phá cảng Hải Phòng và Thủ đô Hà Nội. Nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới đều mong đợi sự thành công của Toà án quốc tế.

Kính chúc cụ mạnh khoẻ.

HỒ CHÍ MINH

Kính gửi ông Giǎng Pôn Xáctơrơ,

Chủ tịch Toà án quốc tế xử tội ác chiến tranh ở Việt Nam,

Nhân dịp Toà án quốc tế xử tội ác chiến tranh ở Việt Nam mở phiên chính thức đầu tiên, tôi xin gửi tới ông và các vị trong Toà án lời chào mừng nhiệt liệt nhất và chúc Toà án thành công tốt đẹp.

Việc Toà án quốc tế mở phiên chính thức đầu tiên, nhất là trong lúc Mỹ đang điên cuồng leo thang, đánh phá cảng Hải Phòng và Thủ đô Hà Nội, có ý nghĩa rất lớn. Đó là một sự cổ vũ mạnh mẽ không những đối với nhân dân Việt Nam chúng tôi mà đối với tất cả các dân tộc đang đấu tranh cho độc lập dân tộc và hoà bình.

Sự nghiệp cao cả của Toà án quốc tế đã được sự đồng tình và ủng hộ nhiệt liệt của loài người tiến bộ, nhưng cũng đã và còn gặp nhiều khó khǎn trở ngại do đế quốc xâm lược Mỹ và các lực lượng phản động gây ra. Tuy vậy, tôi tin rằng những người chủ trì Toà án quốc tế sẽ kiên trì phấn đấu như họ đã làm và sẽ có những biện pháp thích đáng để đưa sự nghiệp của họ đến kết quả. Chắc chắn các dân tộc và tất cả những người yêu chuộng hoà bình và công lý sẽ sát cánh với các vị, nhiệt tình ủng hộ các vị.

Chúng tôi chân thành cảm ơn sự ủng hộ của các vị trong Toà án quốc tế đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân chúng tôi.

Xin gửi ông và các vị trong Toà án lời chào trân trọng.

———————————–

Báo Nhân dân, số 4774, ngày 6-5-1967.
cpv.org.vn

Thư khen đồng bào, bộ đội và cán bộ Thủ đô Hà Nội (7-5-1967)

Thân ái gửi đồng bào, bộ đội và cán bộ Thủ đô Hà Nội,

Từ ngày 25 tháng 4 đến nay, quân và dân Hà Nội liên tiếp đánh thắng vẻ vang, trừng trị đích đáng bước leo thang mới của giặc Mỹ.

Ngày 5 tháng 5, Hà Nội đã đánh giỏi, thắng lớn, bắn rơi 8 máy bay Mỹ, diệt và bắt sống nhiều giặc Mỹ lái máy bay.

Quân và dân Hà Nội đã đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm, bảo vệ trị an tốt và tiến bộ trong công tác phòng không nhân dân.

Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi đồng bào, bộ đội và cán bộ Thủ đô ta.

Giặc Mỹ đã thua to nhưng chúng còn nhiều âm mưu xảo quyệt. Quân và dân Hà Nội chớ vì thắng lợi mà chủ quan thoả mãn. Hãy luôn luôn nâng cao cảnh giác, chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, làm tốt công tác phòng không nhân dân, lập nhiều thành tích to lớn hơn nữa để xứng đáng là Thủ đô anh hùng.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 7 tháng 5 nǎm 1967
Bác Hồ

——————

Báo Nhân dân, số 4776, ngày 8-5-1967.
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Vĩnh Linh (12-5-1967)

Thân ái gửi đồng bào, bộ đội và cán bộ Vĩnh Linh,

Bác rất vui lòng được tin Vĩnh Linh đã bắn rơi 100 máy bay Mỹ.

Vĩnh Linh còn bắn cháy nhiều tàu chiến Mỹ và trừng trị đích đáng pháo binh Mỹ. Sản xuất và phòng không nhân dân của Vĩnh Linh cũng tốt.

Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác gửi lời khen ngợi đồng bào, bộ đội và cán bộ Vĩnh Linh đã đoàn kết, anh dũng, kiên cường trong chiến đấu và sản xuất, giành nhiều thắng lợi vẻ vang.

Nhiều địa phương đang ra sức học tập, thi đua với Vĩnh Linh.

Quân và dân Vĩnh Linh chớ vì thắng lợi mà chủ quan. Hãy luôn luôn nâng cao cảnh giác, chiến đấu và sản xuất giỏi hơn nữa, giành thắng lợi to lớn hơn nữa, xứng đáng là tiền tuyến anh hùng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 nǎm 1967
Bác Hồ

——————-

Báo Nhân dân, số 4781, ngày 13-5-1967.
cpv.org.vn

Gặp gỡ tác giả cuốn sách “Hồ Chí Minh – Một biên niên sử”

Bảo tàng Hồ Chí Minh tặng quà lưu niệm cho ông Hellmut Kapfenberger – tác giả cuốn sách “Hồ Chí Minh – Một biên niên sử”

(HNMO)- Chiều 14/4, Cục Xuất bản (Bộ TT&TT) và Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức cuộc gặp gỡ ông Hellmut Kapfenberger – tác giả cuốn gách “Hồ Chí Minh – Một biên niên sử” và tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh phù điêu Bác Hồ. Đây là một sự kiện chào mừng ngày Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước và mừng 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.

Ông Hellmut Kapfenberger, 77 tuổi, một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của làng báo chí Đức. Ông là một trong những người xuống đường những năm 1965-1970 để phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Ông có thời gian công tác ở Việt Nam với tư cách là phóng viên Hãng thông tấn CHDC Đức và một số báo khác. Ông cùng vợ và những người Đức đầu tiên bước qua sông Bến Hải vào năm 1973. Ông đã có dịp tiếp xúc với nhiều tướng lĩnh Việt Nam để viết về cuộc chiến.

Kỷ niệm và tình yêu đất nước con người Việt Nam là động lực thôi thúc ông tiếp tục nghiên cứu, viết về Việt Nam cho đến nay. Cuốn sách Hồ Chí Minh – Một biên niên sử là một trong những công trình đó. Với nguồn tư liệu tham khảo phong phú, gồm 25 chương và một biên niên sử tóm tắt về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả đã tái tạo lại tiểu sử của một nhân vật phi thường và rất đỗi giản dị, bằng những tư liệu, trích dẫn phong phú cụ thể và cách viết sinh động.

Với lối viết đậm chất trí tuệ, hiểu biết sâu sắc về lịch sử hiện đại của Việt Nam và thế giới, tình cảm yêu mến và kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tình cảm hữu nghị dành cho đất nước và con người Việt Nam. Ngòi bút tác giả hấp dẫn bạn đọc bằng cách trình bày khéo léo, đan xen giữa lối viết nghiên cứu và kể chuyện lịch sử, vừa nhẹ nhàng thi vị đầy xúc cảm mà vẫn không mất đi tính khách quan, xác thực cần có của một cuốn tiểu thuyết về một nhân vật vĩ đại có thực. Tác giả cho thấy hoạt động của Hồ Chí Minh trải dài khắp các châu lục và cho đến cuối đời, Bác chưa khi nào quên vai trò của một chiến sỹ cộng sản thấm nhuần sâu sắc tinh thần Chủ nghĩa Quốc tế vô sản cao cả.

Tại buổi gặp gỡ, ông Hellmut Kapfenberger đã thể hiện lòng yêu mến và ngưỡng mộ đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi khẳng định, sẽ không có một Hồ Chí Minh thứ 2 trong khối các nước XHCN. Ông là một nhân cách lớn. Việt Nam rất may mắn và hạnh phúc khi có một con người như vậy”. Ông Hellmut Kapfenberger cũng cho biết thêm, trước đây Việt Nam là câu chuyện hàng ngày ở Đức, nhưng ngày nay dường như không có tờ báo nào ở Đức nhắc tới điều này và ông lấy đó là điều đáng tiếc, nên với tư cách là một người đã gắn bó với Việt Nam nhiều năm, ông đã cố gắng góp phần vào việc nhắc lại cho người dân Đức nói riêng và người dân thế giới nói chung nhớ đến Việt Nam.

Tác giả Hellmut Kapfenberger ký tặng sách cho độc giả Việt Nam.

Cuốn sách không chỉ đơn thuần là một cuốn tiểu sử, mà là một cuốn Biên niên sử về cuộc đời một con người cao cả, một nhân cách lớn – Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để thực hiện cuốn sách, ông Hellmut Kapfenberger đã rất kỳ công sưu tầm các tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh từ nhiều nguồn, nguồn sách tài liệu ông sưu tầm được trong thời gian ông sống và làm việc tại Việt Nam, từ rất nhiều tài liệu về Việt Nam ở Berlin, từ chính những nhân vật lịch sử, các tướng lĩnh của Việt Nam ông đã từng gặp mặt như tướng Võ Bổng, tướng Đổng Sỹ Nguyên…

Ông Hellmut Kapfenberger cũng rất vui và tự hào khi cuốn sách đến tay những độc giả Việt Nam đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.

Tuyết Minh
hanoimoi.com.vn