Tag Archive | Tập 8 (1956 – 1957)

Thư gửi đồng bào cả nước (6-7-1956)

Hỡi đồng bào yêu quý,

Gần suốt một thế kỷ nhân dân ta đấu tranh anh dũng chống thực dân. Kết quả là Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập.

Nhưng thực dân âm mưu nham hiểm, gây ra chiến tranh, hòng chiếm nước ta một lần nữa. Sau tám, chín năm toàn dân chiến đấu cực kỳ oanh liệt và cực kỳ gian nan, kháng chiến đã thắng lợi. Hiệp định Giơnevơ lập lại hoà bình, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của Việt Nam ta, quy định tổng tuyển cử tự do trong cả nước vào tháng 7-1956 để thống nhất nước nhà.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, đã nhiều lần đề nghị với chính quyền miền Nam mở hội nghị hiệp thương để bàn về tổng tuyển cử tự do nhằm thống nhất nước nhà.

Nhưng đế quốc Mỹ và chính quyền thân Mỹ ở miền Nam âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, phá hoại tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc đúng kỳ hạn như Hiệp định Giơnevơ đã quy định. Họ đã làm trái với lợi ích của Tổ quốc ta, trái với nguyện vọng của nhân dân ta.

Đứng trước tình hình ấy, nhiệm vụ thiêng liêng của chúng ta là: kiên quyết tiếp tục đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình, hoàn thành sự nghiệp vẻ vang giải phóng dân tộc.

Đường lối đấu tranh của chúng ta hiện nay là: toàn dân từ Nam đến Bắc đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ra sức củng cố miền Bắc thành nền tảng vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

Hễ là con Hồng cháu Lạc, người có lương tâm, thì chắc ai cũng tán thành và ủng hộ mục đích cao cả ấy. Cho nên chúng ta đoàn kết rộng rãi tất cả những người Việt Nam yêu Tổ quốc, yêu hoà bình, yêu thống nhất trong cả nước và ở nước ngoài. Với lực lượng đoàn kết ấy, chúng ta hoạt động không ngừng cho Nam – Bắc gần gũi nhau, chúng ta kiên quyết đấu tranh củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.

Cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta hiện nay là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và phức tạp, song nhất định thắng lợi. Nhất định thắng lợi vì chúng ta có chính nghĩa, vì toàn dân ta đoàn kết một lòng, vì đồng bào Nam và Bắc anh dũng phấn đấu, vì nhân dân thế giới ủng hộ ta, vì phong trào đấu tranh cho hoà bình thế giới ngày càng mạnh, vì âm mưu của bọn đế quốc hiếu chiến ngày càng thất bại.

Để thoả mãn yêu cầu tha thiết của nhân dân ta là củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất trên cơ sở Hiệp định Giơnevơ, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chủ trương thực hiện những việc thiết thực sau đây:

1. Lập lại quan hệ bình thườngvà quyền tự do đi lại giữa hai miền; tạo điều kiện cho các đoàn thể chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở miền Bắc và miền Nam được liên lạc với nhau.

2. Mở hội nghị hiệp thương gồm đại biểu của chính quyền hai miền để bàn về vấn đề tổng tuyển cử tự do nhằm thống nhất nước nhà trên cơ sở Hiệp định Giơnevơ.

Hỡi toàn thể đồng bào trong nước và kiều bào ở nước ngoài,

Nước Việt Nam ta nhất định phải thống nhất. Đồng bào Nam và Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Toàn thể đồng bào hãy quyết tâm đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ trên Cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hãy ra sức thi đua yêu nước, củng cố miền Bắc, đấu tranh kiên quyết và bền bỉ cho một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng. Nhờ đại đoàn kết mà cách mạng đã thắng lợi, kháng chiến đã thành công. Nay chúng ta đại đoàn kết thì cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta nhất định thắng lợi, nước nhà nhất định thống nhất.

Ngày 6 tháng 7 năm 1956
HỒ CHÍ MINH

—————————

Báo Nhân dân, số 855, ngày 7-7-1956.
cpv.org.vn

Cần ra sức củng cố các tổ đổi công (10-7-1956)

Vụ chiêm qua, đồng bào nông dân chống được hạn, sâu, nước úng, và thu hoạch rất khá. Kết quả ấy một phần là nhờ các tổ đổi công cố gắng nhiều.

Hiện nay, các nơi tổ đổi công phát triển khá mạnh. Cả miền Bắc có hơn 19 vạn tổ, bao gồm hơn 58% gia đình nông dân. Đó là một điều tốt. Số tổ tuy nhiều, nhưng tổ thường xuyên còn ít, cả miền Bắc mới có hơn 2 vạn tổ. Đó là vì:

– Sau cải cách ruộng đất, nông dân hăng hái sản xuất, sẵn sàng vào tổ đổi công. Tuy vậy đại đa số tổ viên còn thói quen và tư tưởng làm ăn riêng. Tư tưởng tập thể và tư tưởng cá nhân đang đấu tranh với nhau và cuộc đấu tranh ấy không dễ hoàn toàn giải quyết trong một thời gian ngắn.

– Một số cán bộ chưa biết lãnh đạo. Họ còn ham chuộng hình thức; còn dùng cách mệnh lệnh, gò ép. Khi phân công cũng gò ép; khi khai hội, khi học tập cũng gò ép. Vì vậy, nhiều nông dân e ngại vào tổ đổi công thường xuyên.

Cán bộ ta cần hiểu thấu và nhớ kỹ rằng: tổ đổi công phải theo nguyên tắc tự giác, tự nguyện. Lãnh đạo tổ đổi công cần phải dân chủ.

Dân chủ nghĩa là: Việc to thì phải bàn bạc với các tổ viên mà quyết định. Việc nhỏ thì cán bộ bàn bạc với nhau mà làm. Quyết không nên độc đoán, bao biện, gò ép. Phải tránh bệnh quan liêu mệnh lệnh. Phải khéo khuyến khích tự phê bình và phê bình trong tổ.

Đối với các tổ viên, cán bộ cần phải chịu khó tuyên truyền, giải thích, thuyết phục, giáo dục. Phải nâng cao dần giác ngộ chính trị của mỗi tổ viêc. Phải nhớ rằng “công tác chính trị là mạch sống của mọi công tác kinh tế”.

Cán bộ huyện và tỉnh cần phải đến tận nơi mà hướng dẫu, giúp đỡ và kiểm tra một cách thiết thực; không thể chỉ thoả mãv với những báo cáo và những con số trên mặt giấy.

Cán bộ làm được như vậy (và phải làm như vậy), thì các tổ đổi công thường xuyên sẽ phát triển vững vàng và vụ mùa sắp tới sẽ chắc thắng lợi.

C.B.

——————————

Báo Nhân dân, số 858, ngày 10-7-1956.
cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của phóng viên Hãng thông tin Mỹ U.P (13-7-1956)

Hỏi: Theo Cụ nghĩ thì hiện nay sự trở ngại lớn nhất để thực hiện hoà bình thế giới là gì?

Trả lời: Đó là chính sách “thực lực”, chính sách tăng cường quân bị, chuẩn bị chiến tranh của vài cường quốc.

Hỏi: Theo ý kiến Cụ thì việc gì có thể xảy ra, nếu không có tổng tuyển cử trong toàn quốc ở Việt Nam đúng tháng 7?

Trả lời: Nhân dân cả nước Việt Nam sẽ tiếp tục đấu tranh và đấu tranh mạnh hơn nữa để cho có tổng tuyển cử tự do trong khắp cả nước; vì đó là nguyện vọng tha thiết của toàn dân Việt Nam đã được Hiệp định Giơnevơ 1954 thừa nhận.

Hỏi: Người ta tố cáo rằng: trong trường hợp tổng tuyển cử toàn quốc, thì sẽ không có tuyển cử tự do ở miền Bắc. Chính phủ của Cụ sẽ sẵn sàng có những biện pháp gì để bảo đảm tuyển cử được tự do ở miền Bắc?

Trả lời: Đó là lời vu khống của những người không muốn thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bảo đảm tổng tuyển cử sẽ được hoàn toàn tự do ở miền Bắc Việt Nam.

Hỏi: Nước Cộng hoà Nhân dân Việt Nam (1) có thể cũng sẽ tổ chức tuyển cử như ở miền Nam đã tổ chức không ?

Trả lời: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chủ trương tổ chức tổng tuyển cử tự do theo đúng ý nguyện của toàn dân Việt Nam.

Hỏi: Theo Cụ nghĩ thì triển vọng để tăng cường sự buôn bán giữa Việt Nam và Nhật Bản trong năm 1956 – 1957 như thế nào ?

Trả lời: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng buôn bán với Nhật Bản cũng như với các nước khác, trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi.

Hỏi: Chính phủ của Cụ đã có kế hoạch gì để khuyến khích nước Pháp đầu tư thêm ở miền Bắc Việt Nam không ?

Trả lời: Vấn đề ấy cần phải bàn bạc giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Pháp. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoan nghênh sự phát triển quan hệ về mọi mặt với nước Pháp trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi.

Hỏi: Chính phủ của Cụ có thể chấp nhận một thể thức theo đó cả nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nước Cộng hoà Việt Nam làm hai quốc gia riêng biệt và có thể vào Liên hợp quốc không ?

Trả lời: Đất nước Việt Nam từ Bắc đến Nam là một khối, cần được thống nhất.

Không thể chia cắt Việt Nam thành hai nước riêng biệt, cũng như không thể chia cắt Hoa Kỳ thành hai nước riêng biệt.

Chúc ông mạnh khoẻ.

————————-

Báo Nhân dân, số 861, ngày 13-7-1956.

1. Hội nghị Giơnevơ: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của một số nước họp từ ngày 26-4 đến ngày 21-7-1954 tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Hội nghị này được triệu tập theo chủ trương của Hội nghị Béclin nǎm 1954. Chương trình thảo luận của Hội nghị gồm 2 vấn đề: giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Do thái độ ngoan cố của Mỹ và các nước chư hầu đã tham gia chiến tranh Triều Tiên, cuộc thảo luận về vấn đề Triều Tiên không thu được kết quả.

Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được Hội nghị Giơnevơ thảo luận. Phái đoàn Chính phủ ta do đồng chí Phạm Vǎn Đồng làm Trưởng đoàn tham gia Hội nghị với tư thế đoàn đại biểu của một dân tộc chiến thắng.

Tuyên bố chung của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết vào ngày 21-7-1954. Các nước tham gia Hội nghị đã cam kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia; quy định quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Bản Tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc Tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956. Tr.7.

cpv.org.vn

Bước đầu (14-7-1956)

Chính sách của Đảng và Chính phủ ta trước hết là nhằm cải thiện dần đời sống của nhân dân, nhất là nhân dân lao động. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, chính sách ấy đã bắt đầu có kết quả. Thí dụ ở khu mỏ Hồng Quảng:

Về chính trị, anh chị em công nhân đã biết mình là người chủ của nước nhà, chứ không phải là nô lệ của bọn tư bản thực dân như ngày trước.

Về vật chất, cũng đã tiến bộ dần dần. Mùa rét trước, anh chị em đã nhận được của Đảng và Chính phủ tặng 7.000 cái áo bông và non 11.000 thước vải. ở các tầng làm việc đã đặt hơn 200 lò sưởi. Trung bình mỗi gia đình được cấp 250 ký than.

Nhà ở, đủ 188 gia đình đã dọn đến nhà ở của xí nghiệp, không mất tiền thuê. 185 ngôi nhà của công nhân được sửa chữa tươm tất. ở Hà Tu, xí nghiệp vừa làm hơn 100 gian nhà cho công nhân và sẽ làm thêm 200 gian nữa.

Khu phố lao động đã quét vôi sạch sẽ, đã có đèn điện, có nước máy.

Ở các công trường khai thác đã có hơn 100 chiếc nhà để công nhân có chỗ nghỉ ngơi và ăn uống.

Về việc phòng bệnh, đã có hàng trăm cán bộ vệ sinh, có trạm cấp cứu để săn sóc sức khoẻ cho công nhân. Phòng khám bệnh đã được làm thêm. Chế độ phụ cấp cho người ốm cũng được tăng hơn trước. ở đây, nên nêu lên một điều đầy tinh thần hữu nghị quốc tế: các đồng chí chuyên gia y tế Liên Xô đã đến thăm khu mỏ. Riêng ở Cẩm Phả, các đồng chí đã khám bệnh và cấp thuốc cho 3.000 anh chị em.

Đối với phụ nữ, vài nơi đã có nhà đỡ đẻ, nhà để cho con bú. Đã có chế độ phụ cấp khi sinh đẻ. Một số chị em đã được tăng lương.

Về văn hoá, ở khu mỏ có 18 câu lạc bộ và phòng xem sách. Hà Tu sắp xây dựng một câu lạc bộ chứa được 400 người. Hồng Gai, một câu lạc bộ chứa được 1.200 người.

Hiện nay có 211 lớp sơ cấp và dự bị với hơn 3.000 công nhân đến học. Các nơi đều có lớp bình dân học vụ. Nhiều nơi, độ 80% công nhân đã biết chữ.

Ở nông thôn, cải cách ruộng đất căn bản đã làm xong, vụ chiêm thu hoạch khá, mức sống của đồng bào nông dân cũng bắt đầu khá hơn.

Cố nhiên, so với mục đích thì thành tích ấy còn rất nhỏ. Chúng ta không được tự mãn. Nhưng đó là thành tích bước đầu nó khuyến khích chúng ta cố gắng hơn nữa, cố gắng lên mãi.

C.B.

——————————–

Báo Nhân dân, số 862, ngày 14-7-1956.
cpv.org.vn

Huấn thị tại Đại hội sơ kết công tác bình dân học vụ 6 tháng đầu nǎm 1956 (16-7-1956)

Thay mặt Đảng và Chính phủ, Bác hỏi thǎm sức khoẻ các cán bộ, chiến sĩ bình dân học vụ và khen ngợi những thành tích mà bình dân học vụ đã đạt được trong 6 tháng đầu nǎm. Trong 6 tháng qua đã có 2 triệu 10 vạn người đi học. Đó là một thành tích to lớn. Trước đây dưới thời kỳ đế quốc phong kiến, nhân dân ta hơn 90% mù chữ. Về sau cụ Nguyễn Vǎn Tố và một số người tiến bộ hoạt động truyền bá quốc ngữ, cố gắng lắm mà chỉ được một nǎm 5 vạn người đi học. Mà nay 6 tháng đầu nǎm ta đã có hơn 2 triệu người đi học. Đó là một kết quả to lớn. Nhưng không phải như thế là đủ mà lại càng phải cố gắng, tránh tự mãn tự túc.

Qua 7 ngày thảo luận, trao đổi kinh nghiệm, chắc các cô, các chú có nhiều kinh nghiệm hơn Bác. Nhưng Bác cũng đưa ra một số kinh nghiệm bản thân góp với các cô, các chú.

1. Muốn giải thoát nạn mù chữ cho số đông nhân dân mà đại đa số là nông dân thì phong trào bình dân học vụ phải là phong trào quần chúng, phải đi sát quần chúng, bàn bạc với quần chúng, áp dụng những hình thức, phương pháp thích hợp với sinh hoạt của quần chúng, phải dựa vào quần chúng để đẩy phong trào lên.

Trước đây, hồi còn hoạt động bí mật, Bác và một số cán bộ làm cách mạng ở Cao Bằng, đồng bào đại đa số là Nùng, Mán, Thổ, ít biết tiếng Việt, miền núi nhà ở rải rác xa nhau, đồng bào lại bận làm ǎn, dạy và học đều phải bí mật. Gây phong trào bình dân học vụ rất khó thế mà gây được phong trào. Cán bộ nghĩ ra kế hoạch được một ít nhưng rồi hỏi đồng bào, đồng bào chỉ cho làm. Người biết chữ dạy người không biết, người biết nhiều dạy người biết ít.

Lớp học thì tìm hang đá, rồi mỗi xóm cử một người đến học, học mấy hôm rồi về dạy, dạy mấy hôm thấy hết chữ rồi lại trở lại học, thầy vừa dạy vừa học, cứ như thế mà tiến hành công tác bình dân học vụ, gây phong trào.

Hồi đó bị địch cấm đoán và hay bị chúng lùng bắt nhưng đồng bào rất ham học, trẻ con, phụ nữ ham học hơn nam giới. Ngày nay Bác đi thǎm lớp cũng thấy trẻ em và phụ nữ nhiều hơn, có nhiều nam giới chưa chịu đi học. Lúc đó không có lớp, có trường, đồng bào đi cuốc cỏ, hái rau, hẹn với nhau một chỗ rồi lại đó dạy cho nhau. Trẻ con đi chǎn trâu chụm nhau lại một chỗ, em dạy, em học, cán bộ ra đồng công tác thường bị đồng bào chặn lại, đọc bài cho cán bộ nghe, đọc sai thì cán bộ sửa, đọc đúng thì lại phải dạy thêm bài mới. Công nhân, nông dân bận làm ǎn, nếu dạy không hợp với người học, với làm ǎn, bắt phải đến lớp có bàn có ghế là không ǎn thua. Phải tuỳ hoàn cảnh làm ǎn mà tổ chức học mới duy trì được lâu dài, mới có kết quả tốt. Đồng bào còn nghèo khổ, không mua được bút giấy để học, vì vậy mỗi người chỉ đóng một cuốn vở con đút túi, tập đọc tập viết bất cứ chỗ nào, than, đất, lá chuối là bút là giấy. Cán bộ bí mật cứ hạn cho ba tháng phải dạy một người biết đọc biết viết. Lúc đó chưa có Chính phủ giúp, chưa có Bộ, có Nha, chỉ thế thôi mà cũng làm được. Người biết dạy người không biết, như vết dầu loang.

Học cũng thế, dạy cũng thế. Thanh niên là chủ lực quân trong phong trào bình dân học vụ. Bất kỳ ở đâu cũng phải làm cho thanh niên hiểu rõ nhiệm vụ đó. Học, thanh niên cũng phải làm đầu tàu, dạy, thanh niên cũng phải làm đầu tàu.

2. Công tác bình dân học vụ cũng là dạy học nhưng không có trường lớp, đèn sách như trường phổ thông. Nó là một phong trào rộng rãi, phức tạp mà lại phải tự lực cánh sinh. Trường phổ thông có lớp 1, 2, 3, 4, còn bình dân học vụ trẻ có già có, có người biết ít nhiều, người chưa biết, có người học nhanh, có người học chậm, nên phải gian khổ, phải chịu khó. Sợ khó nhọc làm bình dân học vụ không được. Có khi có những phụ nữ đông con, ta phải đến tận nhà dạy, có người lớn tuổi không muốn đi học phải kiên nhẫn thuyết phục để họ chịu khó học, có khi phải đến nhà dạy. Muốn thanh toán nạn mù chữ cho nhân dân, phải chịu khó; quan liêu, mệnh lệnh là không được.

– Công tác phiền phức, khó nhọc nhưng lại không có tiếng tǎm. Kháng chiến giết được nhiều giặc sẽ trở thành chiến sĩ, anh hùng, vào nhà máy có nhiều sáng kiến sản xuất vượt mức cũng trở thành chiến sĩ, anh hùng. Công tác bình dân học vụ tuy không có gì tiếng tǎm lừng lẫy, không kêu nhưng rất vẻ vang. Chớ đứng núi này trông núi nọ. Chớ có tư tưởng bỏ bình dân học vụ đi học kỹ thuật, đi dạy trường phổ thông, đi làm nghề khác là không đúng.

Trong xã hội có nhiều việc, phải có phân công, người làm việc này người làm việc khác. Công tác bình dân học vụ là một việc quan trọng ảnh hưởng đến dân tộc, đến xã hội, đến xây dựng Tổ quốc. Tuy không có gì kêu, tiếng tǎm lừng lẫy, anh hùng hào kiệt, nhưng rất quan trọng. Người đang dạy bình dân học vụ muốn đi làm việc khác là không nên.

3. Bình dân học vụ cũng có lãnh đạo, có Bộ, có Nha, có Khu, có Ty. Lãnh đạo không phải ngồi viết trong bàn giấy. Trong kháng chiến đã có cán bộ làm chương trình dạy tú tài thì hợp, nhưng dạy bình dân học vụ thì không đúng, chỉ vì ngồi bàn giấy. Lãnh đạo phải đi sát, phải giúp đỡ cán bộ giải quyết khó khǎn; quan liêu, mệnh lệnh là không được. Bất kỳ việc gì đều phải đi sát quần chúng, các cấp bình dân học vụ nếu có sai lầm thì sửa chữa, không có thì lấy đó mà rǎn mình.

4. Trước đây con em công nông nghèo, không được học, chỉ có một số ít được đi học, đại đa số con nhà khá giả, có ǎn mới đi học được, ở nông thôn thì con cái địa chủ, con cái phú nông được đi học. Có cán bộ đặt câu hỏi có để cho con em phú nông, địa chủ dạy bình dân học vụ được không. Trả lời không cũng không đúng, trả lời có cũng không đúng. Cứ thanh niên trai gái tốt thì cho dạy, xấu thì không cho dạy. Nhưng thanh niên đó nếu tốt, bố mẹ là bóc lột, không tán thành hoạt động với bố mẹ chống nhân dân thì để dạy bình dân học vụ. Nếu phạm tội lỗi nghiêm trọng thì không được. Không riêng gì công tác bình dân học vụ mà việc khác cũng thế. Nếu bố mẹ thanh niên đó là địa chủ có tội, nhưng thanh niên đó không theo cha mẹ họ, họ không có tội là họ có quyền công dân như những thanh niên khác. Họ cũng được đi học, cũng được tham gia công tác, cũng được tham gia các tổ chức đoàn thể. Các cô, các chú gần nông thôn phải hiểu điều đó để làm cho đúng.

5. Công tác bình dân học vụ trông không oanh liệt, nhưng nếu 3 nǎm thanh toán nạn mù chữ được cho nhân dân thì là một công trạng rất to. Nước ta có thể tự hào là một nước thanh toán nạn mù chữ nhanh chóng. Các nước tự xưng là vǎn minh như Mỹ, Anh, Pháp, người không biết chữ vẫn còn nhiều. Hai ba nǎm thanh toán được nạn mù chữ là đại thắng lợi. Phải thấy như thế để càng cố gắng. Làm được như thế không phải chú này, cô nọ là anh hùng mà tất cả cán bộ, giáo viên bình dân học vụ là anh hùng, là anh hùng tập thể càng tốt.

Ba nǎm nếu thanh toán nạn mù chữ được sẽ đặt cho Chính phủ và Bộ Giáo dục, Bộ Vǎn hoá một nhiệm vụ mới và đặt ra cho các cô các chú nhiệm vụ mới. Không phải thanh toán nạn mù chữ xong là các cô, các chú hết nhiệm vụ, về nghỉ hoặc đi công tác khác.

Lúc chưa biết chữ thì học cho biết chữ. Biết chữ rồi thì phải tiến lên nữa. Những người đã thoát nạn mù chữ mà không có sách báo xem thì lại mù lại, cho nên đặt ra cho Chính phủ và Bộ nhiệm vụ phải có sách báo hợp với trình độ đồng bào cho đồng bào xem.

Các cô các chú có nhiệm vụ giúp cho đồng bào chưa biết chữ biết chữ rồi lại học thêm. Vậy các cô các chú phải học thêm nữa để dạy nữa. Dân tộc tiến lên, cán bộ cũng phải tiến lên. Cán bộ phải tiến trước để đưa dân tộc tiến lên mãi.

Sau cùng Đảng và Chính phủ sẽ thưởng cho xã nào thanh toán nạn mù chữ trước nhất trong huyện, huyện nào thanh toán nạn mù

chữ trước nhất trong tỉnh, tỉnh nào thanh toán nạn mù chữ trước nhất trong toàn quốc.

Các cô các chú muốn được thưởng thì phải cố gắng. Cố gắng không phải là mệnh lệnh, bắt người ta đi học, hoặc bắt học quá sức mà phải chịu khó, phải theo đúng đường lối quần chúng mà cố gắng.

Đồng bào ta rất ham học, chúng ta đã có kinh nghiệm. Nếu cán bộ cố gắng, trau dồi kinh nghiệm, trao đổi ý kiến, bàn bạc với nhau nhất định làm được.

Bác biếu các cô các chú 15 huy hiệu kỷ niệm để thưởng cho những cô chú cán bộ có thành tích.

—————————-

Nói ngày 16-7-1956.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1956, t. III, tr.294-298.
cpv.org.vn

Thư gửi thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ nhân ngày 27 tháng 7 (17-7-1956)

Nhân dịp Ngày thương binh, liệt sĩ (27-7), tôi nhờ Cụ chuyển lời chào thân ái của tôi cho:

– Anh em thương binh, bệnh binh,

– Gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ.

Sau đây tôi có mấy lời nhắc nhủ đồng bào:

Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ.

Nhiều nơi đồng bào đã hiểu đúng và làm đúng như vậy. Nhưng cũng còn một số ít địa phương chưa hiểu đúng, làm đúng. Tôi mong rằng đồng bào, đoàn thể và cán bộ ở những địa phương đó sửa chữa những thiếu sót ấy và quan tâm giúp đỡ những người đã từng hy sinh cho nước nhà.

Và nhắc nhủ anh em thương binh, bệnh binh:

Đã là quân nhân cách mạng thì bao giờ cũng phải là chiến sĩ anh dũng. Khi ở trại thì anh em nên thi đua học tập và công tác. Lúc ra trại, thì nên hăng hái tham gia công tác sản xuất ở địa phương, ở cơ quan.

Trong thời kỳ vừa qua, về cải cách ruộng đất, sản xuất nông nghiệp, ở các nhà máy, các công trường, nhiều đồng chí đã trở thành chiến sĩ thi đua, đã được khen thưởng và cất nhắc. Như thế là rất tốt.

Nếu anh em nào có sai lầm, như: công thần, ỷ lại, kém kỷ luật, kém tin tưởng, yêu cầu nhân dân quá đáng, không tích cực công tác… thì nên cố gắng sửa chữa. Đoàn thể và cán bộ thì lấy tinh thần thương yêu và đoàn kết mà giúp những anh em ấy sửa chữa để trở thành những người gương mẫu.

Ngoài sự săn sóc của Chính phủ, đồng bào ra sức giúp đỡ, anh em hăng hái công tác. Như thế là mọi người đều làm tròn phận sự của mình. Như thế cũng là góp phần vào công cuộc củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam, tranh thủ thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước.

Chào thân ái và thắng lợi

Ngày 17 tháng 7 năm 1956
HỒ CHÍ MINH

———————–

Báo Nhân dân, số 875, ngày 27-7-1956.
cpv.org.vn

Lời đáp trong buổi lễ trình quốc thư của Đại sứ nước Cộng hoà nhân dân Rumani (19-7-1956)

Thưa đồng chí Đại sứ thân mến,

Tôi rất vui lòng nhận bản quốc thư của Chủ tịch đoàn Quốc hội tối cao nước Cộng hoà Nhân dân Rumani uỷ nhiệm đồng chí làm Đặc mệnh toàn quyền Đại sứ ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và tôi rất cám ơn những lời chúc mừng của đồng chí.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Công nhân và Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Rumani, nhân dân Rumani đã thu được nhiều thắng lợi vẻ vang trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đang phấn khởi thực hiện kế hoạch 5 nǎm lần thứ hai. Nước Cộng hoà Nhân dân Rumani đã không ngừng phát triển quan hệ ngoại giao, mở rộng trao đổi kinh tế và vǎn hoá trên tinh thần chung sống hoà bình với tất cả các nước trên thế giới. Nhân dân Rumani đóng góp một phần tích cực trong công cuộc bảo vệ hoà bình và hợp tác quốc tế do Liên Xô lãnh đạo.

Tôi vui lòng nhận rằng trong công cuộc đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ của mình, nhân dân Việt Nam đã luôn luôn được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân Rumani anh em. Quan hệ kinh tế và vǎn hoá giữa hai nước chúng ta đang có đà phát triển mạnh. Tình hữu nghị giữa hai dân tộc chúng ta ngày càng củng cố và thắt chặt hơn.

Trước đây, đồng chí cựu Đại sứ Côxôvianu đã ra sức củng cố mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước chúng ta. Từ nay tôi chắc rằng đồng chí Đại sứ sẽ tiếp tục tǎng cường mối tình anh em thắm thiết đó.

Thưa đồng chí Đại sứ,

Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí lãnh chức Đại sứ ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong công tác của đồng chí để phát triển và củng cố tình hữu nghị giữa hai nước chúng ta, nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ ra sức giúp đỡ để đồng chí hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang đó.

Nhân dịp này tôi nhờ đồng chí chuyển đến Đảng Công nhân, Chính phủ và nhân dân Rumani lời chào thân ái của chúng tôi.

——————————

Đọc ngày 19-7-1956.
Báo Nhân dân, số 868, ngày 20-7-1956.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khoá I, Trường đại học Nhân dân Việt Nam (21-7-1956)

Tôi rất vui lòng thấy các bạn tuổi tác khác nhau, nghề nghiệp khác nhau, trình độ khác nhau, nhưng ý nguyện thì đều nhất trí – ai cũng muốn tiến bộ để phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân có hiệu quả hơn. Do sự nhất trí ấy mà đi đến đoàn kết cả ở trường này. Đoàn kết là lực lượng đưa chúng ta đến mọi thắng lợi.

Sau đây tôi có vài ý kiến nêu lên để các bạn suy xét:

Lực lượng cách mạng – Lực lượng chủ chốt của cách mạng là công nhân và nông dân. Vì họ là người trực tiếp sản xuất tất cả mọi tài phú làm cho xã hội sống. Vì họ đông hơn hết, mà cũng bị áp bức bóc lột nặng nề hơn hết. Vì chí khí cách mạng của họ chắc chắn, bền bỉ hơn của mọi tầng lớp khác.

Nhưng cách mạng cũng cần có lực lượng của trí thức (chúng ta quen gọi là lao động trí óc). Thí dụ: cần có thầy thuốc để săn sóc sức khoẻ cho nhân dân; cần có thầy giáo để dạy văn hoá và đào tạo cán bộ; cần có kỹ sư để xây dựng kinh tế, v.v..

Vì lẽ đó, trong sự nghiệp cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang; và công, nông, trí cần phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối.

Gần gũi công nông – Chế độ thực dân và phong kiến đã có ý tách rời trí thức ra ngoài khối công nông. Chúng đã tạo ra ý thức “Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao” (1) . Chúng lợi dụng trí thức trong bộ máy thống trị của chúng. Chia rẽ lao động trí óc với lao động chân tay, đó cũng là một chính sách “chia để trị”.

Ngày nay, chúng ta cần phải xoá bỏ dần sự tách rời đó, cần phải làm cho những người lao động (lao động trí óc và lao động chân tay) đoàn kết chặt chẽ với nhau, để cùng nhau xây dựng một xã hội mới và tốt đẹp.

Trên con đường tiến đến đoàn kết, tôi thiết tưởng trí thức ta nên tự động đi bước trước tìm đến công nông và tôi chắc rằng công nông sẽ nhiệt liệt hoan nghênh trí thức.

Phương pháp nghiên cứu – Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân.

Thời gian các bạn đến nghiên cứu ở trường này tương đối ngắn ngủi, cho nên không thể yêu cầu quá cao, quá nhiều. Những điều các bạn nghiên cứu được ở đây có thể ví như một hạt nhân bé nhỏ. Sau này, các bạn sẽ tiếp tục săn sóc, vun xới, làm cho hạt nhân ấy mọc thành cây và dần dần nở hoa, kết quả.

Theo ý riêng của tôi, thì hạt nhân ấy có thể tóm tắt trong 11 chữ: “Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân”.

Nói tóm tắt, minh minh đức tức làchính tâm. Thân dân tức là phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.

Nói một cách khác, tức là “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (2) .

Chúng ta hoặc ít hoặc nhiều đều mắc phải tư tưởng, tập quán, tác phong của xã hội cũ. Cho nên thực hiện 2 chữ chính tâm không phải dễ dàng.

Phải kinh qua cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới trong bản thân mình: một cuộc đấu tranh gay go, gian khổ và liên tục. Nhưng ta kiên quyết thì cái mới nhất định thắng cái cũ và chính tâm nhất định thành công.

Tự do tư tưởng – Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người.

Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hoá ra quyền tự do phục tùng chân lý.

Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân – tức là phục tùng chân lý.

Đảng và Chính phủ đối với trí thức – Là một bộ phận trong lực lượng cách mạng, trí thức có nhiệm vụ thi đua phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, Đảng và Chính phủ ta rất quý trọng những người trí thức của nhân dân, vì nhân dân.

Để xây dựng nước nhà, chúng ta cần càng ngày càng nhiều trí thức tốt. Đảng và Chính phủ vừa phải giúp cho thế hệ trí thức ngày nay càng ngày càng tiến bộ, vừa phải ra sức đào tạo thêm trí thức mới.

Đảng và Chính phủ phải giúp bằng cách giáo dục, để trí thức có lập trường vững vàng, quan điểm đúng đắn, tư tưởng sáng suốt, tác phong dân chủ. Nói tóm lại: giúp đỡ các bạn trí thức chính tâm và thân dân.

Phương pháp giáo dục thì theo nguyên tắc tự nguyện tự giác, giải thích, bàn bạc, thuyết phục, chứ không gò bó. Giúp trí thức thi đua trong học tập và công tác. Hướng dẫn trí thức sử dụng cách thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình để cùng nhau tiến bộ không ngừng, đoàn kết chặt chẽ, để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Bọn phản động tuyên truyền vu khống rằng: Cách mạng khinh rẻ trí thức. Sự thật là tư bản và phong kiến chỉ lợi dụng trí thức. Cách mạng mới thật sự quý trọng trí thức. Dưới chế độ dân chủ mới và xã hội chủ nghĩa, trí thức mới có dịp phát huy hết khả năng của mình. Một thí dụ rõ rệt: báo chí Mỹ cũng phải nhận rằng hiện nay các nước phương Tây cộng lại chỉ có 76 vạn chuyên gia và kỹ sư, mà Liên Xô thì có 89 vạn chuyên gia và kỹ sư. Trung Quốc đã đặt kế hoạch, trong 12 năm đào tạo số chuyên gia và kỹ sư cho kịp nước tiền tiến nhất trên thế giới. Như các bạn đều rõ, nước ta hiện nay chuyên gia và kỹ sư rất hiếm, cần phải đào tạo thêm nhiều.

Nhiệm vụ của trí thức là vừa thi đua công tác, vừa thi đua giúp Chính phủ đào tạo thêm trí thức mới.

Trí thức ta tin tưởng vào tiền đồ vĩ đại của dân tộc, tin tưởng chính sách đúng đắn của Đảng và Chính phủ, tin tưởng vào khả năng tiến bộ của mình thì tôi chắc rằng các bạn sẽ làm tròn nhiệm vụ của mình một cách vẻ vang.

Đối với cán bộ và công nhân viên, tôi khen ngợi anh chị em đã cố gắng phục vụ lớp học, giúp đỡ học viên. Như thế là tốt.

Anh chị em có người miền Nam, có người miền Bắc. Nam – Bắc là một nhà. Cần phải thật sự đoàn kết, thương yêu giúp đỡ nhau và yên tâm làm việc. Giúp cho lớp nghiên cứu được thành công, đó cũng là một nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang. Mong anh chị em cố gắng.

Khoá nghiên cứu này là khoá đầu tiên, số người tham gia có hạn. Còn nhiều anh chị em khác cũng muốn nghiên cứu. Tôi mong rằng các bạn cố gắng làm cho khoá này kết quả tốt đẹp để làm gương mẫu cho những khoá sau.

Công, nông, trí chúng ta đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta sẽ khắc phục được mọi khó khăn trở ngại, chúng ta sẽ thắng lợi trong công việc củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam, củng cố hoà bình và thực hiện thống nhất nước nhà. Chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Chúc các bạn mạnh khoẻ và tiến bộ nhiều.

——————————–

Nói ngày 21-7-1956.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb.. Sự thật, Hà Nội, 1956, t.III, tr.301-305.

(1) Hội nghị Giơnevơ: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của một số nước họp từ ngày 26-4 đến ngày 21-7-1954 tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Hội nghị này được triệu tập theo chủ trương của Hội nghị Béclin nǎm 1954. Chương trình thảo luận của Hội nghị gồm 2 vấn đề: giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Do thái độ ngoan cố của Mỹ và các nước chư hầu đã tham gia chiến tranh Triều Tiên, cuộc thảo luận về vấn đề Triều Tiên không thu được kết quả.

Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được Hội nghị Giơnevơ thảo luận. Phái đoàn Chính phủ ta do đồng chí Phạm Vǎn Đồng làm Trưởng đoàn tham gia Hội nghị với tư thế đoàn đại biểu của một dân tộc chiến thắng.

Tuyên bố chung của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết vào ngày 21-7-1954. Các nước tham gia Hội nghị đã cam kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia; quy định quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Bản Tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc Tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956. Tr.7.

(2) Cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng: Cuộc khởi nghĩa chống Pháp nổ ra từ nǎm 1885 ở vùng Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh và sau đó lan rộng trong 4 tỉnh: Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình, Thanh Hoá. Cuộc khởi nghĩa này do Phan Đình Phùng lãnh đạo. Là một sĩ phu yêu nước, theo tiếng gọi của phong trào Cần Vương, Phan Đình Phùng đã chỉ huy nghĩa quân kiên trì chiến đấu, cho mãi tới khi ông lâm bệnh mất nǎm 1895, kẻ địch mới đàn áp được cuộc khởi nghĩa. Tr.51.

cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của phóng viên Hãng thông tin Pháp A.F.P (25-7-1956)

Hỏi: Thưa Chủ tịch, thời hạn do Hiệp định Giơnevơ ấn định cho việc tổ chức tổng tuyển cử tự do trong toàn cõi Việt Nam đã đến, mà cuộc tổng tuyển cử đó lại không thực hiện được. Ai phải chịu trách nhiệm về tình hình này?

Trả lời: Rõ ràng là những giới can thiệp Mỹ và chính quyền thân Mỹ ở miền Nam phải chịu trách nhiệm chính về tình hình này.

Nước Pháp là một bên ký Hiệp định cũng có phần trách nhiệm.

Hỏi: Chủ tịch có coi Hiệp định Giơnevơ từ nay trở đi là mất hiệu lực không? Trong trường hợp Hiệp định Giơnevơ mất hiệu lực, Chủ tịch nhận thấy việc thống nhất nước Việt Nam có thể thực hiện như thế nào? Trong trường hợp Hiệp định Giơnevơ không mất hiệu lực, Chủ tịch quan niệm việc tiếp tục thi hành những điều khoản của Hiệp định Giơvevơ 1954 như thế nào? Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà định áp dụng những biện pháp gì để thoát khỏi sự bế tắc hiện thời do việc không thi hành những điều khoản chính trị của Hiệp định Giơnevơ gây nên?

Trả lời: Hiệp định Giơnevơ không thể vì một lý do gì mất hiệu lực.

Với sự ủng hộ rộng rãi của các chính phủ và nhân dân yêu chuộng hoà bình và dân chủ trên thế giới, toàn thể nhân dân chúng tôi, từ Bắc chí Nam, cương quyết đấu tranh đòi Hiệp định Giơnevơ phải được thi hành đầy đủ.

Hỏi: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có sẵn sàng thừa nhận sự có thể có mặt ở Hà Nội một phái đoàn liên lạc của miền Nam bên cạnh Uỷ ban Quốc tế giám sát đình chiến ở Việt Nam không? Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có sẵn sàng tiếp nhận những đại diện của bộ tham mưu quân đội miền Nam vào Uỷ ban liên hợp đình chiến trung ương không?

Trả lời: Chúng tôi sẵn sàng trên cơ sở những điều khoản của Hiệp định Giơnevơ.

Hỏi: Có tin đồn ở Hà Nội rằng sẽ có những cuộc trao đổi, tiếp xúc mới giữa nhân dân hai miền ở Việt Nam. Chủ tịch có thể xác nhận đã có sự thương lượng về việc này giữa Chính phủ của Ngài và chính phủ Sài Gòn không?

Trả lời: Chính phủ chúng tôi đã nhiều lần đề nghị với chính quyền miền Nam để cho nhân dân được tự do đi lại giữa hai miền.

Đến nay, chúng tôi chưa nhận được trả lời.

Hiện thời, không có cuộc thương lượng nào về việc này.

Hỏi: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có định tổ chức một cuộc tuyển cử ở miền Bắc để bầu lại Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do cuộc tuyển cử năm 1946 lập nên không?

Trả lời: Chúng tôi tán thành tổ chức tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc, để thực hiện thống nhất nước nhà, theo đúng Hiệp định Giơnevơ.

Hỏi: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có định lập quan hệ ngoại giao với những nước ngoài các nước của khối dân chủ nhân dân không?

Trả lời: Chính sách đối ngoại của chúng tôi là lập quan hệ tốt với tất cả các nước muốn lập quan hệ ngoại giao với chúng tôi trên cơ sở có đi có lại, bình đẳng và tôn trọng năm nguyên tắc chung sống hoà bình.

———————————-

Báo Nhân dân, số 873, ngày 25-7-1956.
cpv.org.vn

Nói chuyện tại Đại hội liên hoan thanh niên tích cực ngành đường sắt. (25-7-1956)

– Các cháu có khoẻ không?

(Khoẻ ạ!)

– ở đây ăn có no không?

(Thưa Bác, no ạ!)

– Hội nghị có kết quả không? Các cháu có vui không?

(Có ạ!)

– Bác rất bận, nhưng cũng thu xếp thì giờ đến thăm các cháu, tuy vậy không ở được lâu. Bác khen các cháu làm đầy đủ nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho. Như thế là tốt.

1. Phải đoàn kết. Đoàn kết giữa thanh niên với nhau, giữa miền Nam với miền Bắc, giữa thanh niên công nhân với công nhân lớn tuổi, phải đoàn kết với nhân dân địa phương nữa. Đoàn kết là sức mạnh. Có tài năng mà không biết đoàn kết thì cũng không thành công.

– ở đây có thanh niên Hoa kiều không?

(Thưa Bác, có ạ!)

– Như thế là tốt. Thanh niên Hoa kiều ra sức góp phần xây dựng đất nước Việt Nam, nghĩa là trong phe xã hội chủ nghĩa chúng ta làm ở đâu cũng là làm cho mình.

2. Thanh niên phải cố gắng xung phong làm đầu tàu trong mọi việc. Các cháu ở đường sắt đều thấy những chuyến xe lửa. Nếu xung phong làm đầu tàu mà bỏ toa xe lại, chạy một mình thì có ích gì không?

(Không ạ !)

Vậy đầu tàu không thể tách rời toa xe, thì thanh niên xung phong không thể tách rời quần chúng. Xung phong mà tách rời quần chúng thì không ích gì.

3. Các cháu phải cố gắng học tập kỹ thuật, văn hoá, chính trị. Nhờ nhân dân ta cố gắng và các nước bạn giúp đỡ mà nền kinh tế của nước ta càng ngày càng tiến. Nếu không học tập văn hoá, không có trình độ văn hoá thì không học tập được kỹ thuật, không học tập được kỹ thuật thì không theo kịp được nhu cầu kinh tế nước nhà; nhưng phải chú ý học tập chính trị vì nếu chỉ học văn hoá, kỹ thuật mà không có chính trị thì như người nhắm mắt mà đi.

Các cháu cần nhớ và thực hiện đầy đủ ba điểm ấy. Ta bị phong kiến áp bức hơn 1.000 năm, như thế có lâu không? Bị đế quốc áp bức gần một thế kỷ có lâu không? Lâu như thế nhưng cách mạng vẫn thành công. Thế kháng chiến 9 năm có lâu không? Nhưng kháng chiến đã thắng lợi. Thế là chống đế quốc, chống phong kiến và kháng chiến tuy lâu dài gian khổ nhưng đã thắng lợi. Đấu tranh cho thống nhất đất nước cũng là một đoạn trong con đường cách mạng của ta. Trước Cách mạng Tháng Tám, Đảng còn ở trong thời kỳ bí mật, ta chưa có chính quyền, chưa có quân đội, Mặt trận dân tộc thống nhất còn mới, thế mà Cách mạng Tháng Tám đã thành công. Lực lượng tuy yếu nhưng vì ta đoàn kết, tin tưởng và quyết tâm cho nên cách mạng đã thắng lợi. Lúc đầu kháng chiến ở Nam Bộ chỉ có gậy tầm vông, ở miền Bắc thì cũng thiếu vũ khí, cán bộ cũng ít. Ta còn yếu, địch thì mạnh, nhưng vì ta đoàn kết, tin tưởng, quyết tâm cho nên kháng chiến đã thắng lợi.

Ngày nay miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Đảng ta lớn mạnh, chính quyền vững chắc hơn. Quân đội ta hùng mạnh hơn. Trước kia ta gặp nhiều khó khăn như thế mà cũng thắng lợi, nay đã mạnh và ngày càng mạnh hơn, lại có các nước bạn đoàn kết thành một khối mạnh mẽ, cho nên ta cũng chắc chắn thắng lợi…

———————————–

Nói ngày 25-7-1956.
Báo Giao thông vận tải, số 307, ngày 15-11-1969.
cpv.org.vn

Tự phê bình, phê bình, sửa chữa (26-7-1956)

Tự phê bình là cá nhân, (cơ quan hoặc đoàn thể) thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa, mà cũng để người khác biết mà tránh những khuyết điểm mình đã phạm.

Phê bình là thấy ai (cá nhân, cơ quan, đoàn thể) có khuyết điểm thì thành khẩn nói cho họ biết để họ sửa chữa, để họ tiến bộ.

Mục đích tự phê bình và phê bình đều nhằm giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, cùng nhau tiến bộ.

Từ xưa đến nay, có bao giờ bọn phong kiến, tư bản, đế quốc, thực dân tự phê bình và để người khác phê bình chúng không? Không! Bởi vì chúng không muốn mà cũng không thể sửa chữa khuyết điểm căn bản của chúng là chế độ người bóc lột người. Hơn nữa, ai phê bình thì bị chúng khủng bố. Chỉ có nhân dân dám phê bình chúng bằng cách mạng đánh đổ chúng.

Dưới chế độ dân chủ, thì mọi người, trước hết là mọi cán bộ, mọi cơ quan và đoàn thể cần phải thật thà tự phê bình và hoan nghênh người khác phê bình mình; có như vậy mới tiến bộ được.

Phê bình là cốt để giúp nhau tiến bộ. Cho nên phê bình phải có thái độ thành khẩn, tính chất xây dựng. Không nên phê bình ẩu, phê bình suông. Khi phê bình cần phải xét nguyên nhân của khuyết điểm, phải cân nhắc đến ưu điểm, phải đề ra cách sửa chữa. Thí dụ: Nhân dân ta mạnh dạn phê bình. Đó là một điều rất tốt. Thế là dân chủ thật sự. Nhưng khi phê bình, chúng ta cần phải:

– Xét rõ nguyên nhân của những khuyết điểm, những khó khăn. Như: nước ta bị phong kiến thống trị hàng nghìn năm, bị thực dân áp bức bóc lột gần 100 năm, chiến tranh tàn phá suốt 15 năm, miền Bắc giải phóng chưa đầy hai năm, hạn lụt liên tiếp, v.v..

– Kiểm điểm thành tích – Cải cách ruộng đất căn bản thắng lợi, gần 8 triệu nông dân có ruộng cày, hơn 386 vạn nông dân đã vào nông hội, 14 nông giang lớn và 3.600 cây số đê đã được xây đắp, tu bổ. Chúng ta đã khôi phục nhiều xí nghiệp cũ và xây dựng một số nhà máy mới, đã đắp lại hơn 500 cây số đường xe lửa. Nhiều trường học được mở thêm, chỉ trong mấy tháng đã hơn 2 triệu đồng bào thanh toán nạn mù chữ…

– So với thời gian non hai năm thì những thắng lợi căn bản ấy không phải là ít; nhưng khuyết điểm chắc cũng có nhiều. (Có khi khuyết điểm là cái bóng của thành tích).

Đảng và Chính phủ ta rất sẵn sàng nhận những lời phê bình của nhân dân và có quyết tâm sửa chữa. Cho nên khi phê bình, chúng ta cần phê bình một cách thiết thực và đề nghị phương pháp sửa chữa hợp lý. Phê bình và giúp đỡ sửa chữa, đó là quyền lợi và nghĩa vụ dân chủ của nhân dân ta.

Chỉ có đảng chân chính cách mạng và chính quyền thật dân chủ mới dám mạnh dạn tự phê bình, hoan nghênh phê bình, và kiên quyết sửa chữa. Do tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên – mà chúng ta đoàn kết càng chặt chẽ, càng đồng tâm nhất trí, càng tiến bộ không ngừng, càng chắc chắn thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

C.B.

—————————-

Báo Nhân dân, số 874, ngày 26-7-1956.
cpv.org.vn

Nói chuyện tại lớp hướng dẫn giáo viên cấp 2, cấp 3 và hội nghị sư phạm (7-1956)

Bác nghe nói thanh niên không thích làm thầy giáo, làm thầy giáo không oanh liệt, không anh hùng, có đúng không ?

(Nhiều người đáp: “Có ạ!”)

– Sự thật các cô các chú cũng biết dân tộc ta, nước nhà ta đang khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá mà muốn khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá thì cần cán bộ rất nhiều, nhưng cán bộ ta còn thiếu. Vậy ta phải đào tạo cán bộ, cán bộ phải có văn hoá làm gốc. Nếu ta muốn dùng máy móc mà máy móc ngày một thêm tinh xảo, thì công nhân cũng phải có trình độ kỹ thuật rất cao không kém gì kỹ sư, phải biết tính toán nhiều.

ở nông thôn cũng vậy. Các cô các chú ở nông thôn nhiều, chắc biết trước kia ruộng là của địa chủ, nông dân cứ cúi đầu làm lụng suốt ngày, gặt bao nhiêu thì nộp cho địa chủ hết, nên không cần có văn hoá mà cũng không thể mong mỏi có văn hoá được. Bây giờ khác, nông dân có ruộng đất, lại có tổ đổi công cho nên nông dân phải biết văn hoá, như có quyển sổ, phải ghi tổ có mấy người, không biết chữ thì không làm được, rồi phải biết chia công chấm điểm, lại càng phải có văn hoá.

Vì vậy, công nhân, nông dân đại đa số phải có văn hoá. Muốn có văn hoá thì phải làm thế nào?

(Hội trường trả lời to: “Phải học”).

– Muốn học phải cần có gì?

(Có thầy).

– Các cô các chú cứ đi dần dần thì hiểu. Thầy giáo ngày nay không phải như trước chỉ biết gõ đầu trẻ, miễn là có bài cho học trò học, cuối tháng bỏ lương vào túi. Bây giờ thầy giáo có trách nhiệm với nhân dân, đào tạo cán bộ ra phục vụ nhân dân. Cách dạy, quan niệm dạy phải khác. Dạy sao cho học sinh mau hiểu, mau nhớ, lý luận đi với thực hành. Các cô các chú có thấy khác trước không?

(Có ạ!)

– Các thầy giáo, các cô giáo phải gần gũi dân chúng. Các thầy giáo cũng như các trí thức khác là lao động trí óc. Lao động trí óc phải biết sinh hoạt của nhân dân, nếu chỉ giở sách đọc thì không đủ. Phải yêu dân, yêu học trò, gần gũi nhau, gần gũi cha mẹ học trò. Giáo dục ở trường và ở gia đình có quan hệ với nhau. Các chú các cô phải thi đua trao đổi kinh nghiệm. Bác nói thế là hết. Văn hay không cần nói dài.

– Các cô, các chú có điều gì muốn hỏi Bác nữa không ?

(Một thanh niên đứng dậy: “Thưa Bác, ở miền Bắc nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội như thế nào?)

– Chú muốn biết ta tiến lên chủ nghĩa xã hội như thế nào thì trước hết chú phải biết chủ nghĩa xã hội là gì đã chứ!

– Cách mạng của mình hiện nay là cách mạng dân tộc dân chủ. Chắc các cô các chú đều biết cách mạng Pháp (1789). Họ cũng tịch thu tất cả ruộng đất của bọn vua chúa quý tộc, đại địa chủ rồi chia cho nông dân. Sau cách mạng, bọn quý tộc mất, nhưng vẫn còn có tiểu địa chủ, nhưng nói chung họ đánh đổ phong kiến địa chủ. Nay ta làm cải cách ruộng đất, có người nói là ta làm cộng sản, thế ta đã làm cộng sản chưa?

(Cả hội trường trả lời: “Chưa ạ!”)

– Nghe các cô, các chú trả lời thì hình như có lẽ đúng mà cũng có lẽ không. Nói như thế không đúng. Cộng sản là tất cả những cái gì để mà sản xuất đều là của chung như máy móc, ruộng đất. Tất cả những tư liệu sản xuất đều là của chung của nhân dân, của Nhà nước, người ta làm chung hưởng chung.

(Bác chỉ vào một đồng chí giáo viên trẻ tuổi và hỏi:)

– Xã chú đã cải cách ruộng đất chưa?

(Đã cải cách ruộng đất rồi ạ!)

– Khi trước có mấy địa chủ?

(Thưa có 9 địa chủ).

– Xã chú có bao nhiêu nông dân?

(Độ 8 nghìn người ạ!)

– Ruộng ấy chia cho 8 nghìn người. Chia là thế nào? Trước kia ruộng đất thuộc về 9 tư hữu, bây giờ là của 8 nghìn tư hữu. Thế thì có phải là cộng sản không ?

Thế chủ nghĩa xã hội là gì?

(Một đồng chí mạnh bạo đứng lên nói: “Chủ nghĩa xã hội là những tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân”).

– Thế giữa người và người như thế nào?

(Đồng chí ấy chưa trả lời được. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị một đồng chí cùng đi với mình trả lời hộ và nhắc lại:)

– Như vậy chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng, v.v. làm của chung. Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con. Thế ta đã đến đấy chưa? Chưa đến. Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dần dần. ở nông thôn phải có tổ đổi công để tăng gia sản xuất rồi tiến lên hợp tác xã, tiến lên nông trường.

Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh. ở nông thôn, nông dân được ruộng rồi mà cứ làm ăn theo cách cũ thì sản xuất không thể tăng gia được, xã hội không tiến lên được mà phải thụt lùi. Cho nên lúc đầu là cải cách ruộng đất, sau tiến lên một bước là tổ chức tổ đổi công sao cho tốt, cho khắp, lại tiến lên hình thức hợp tác xã dễ dàng, rồi tiến lên hợp tác xã cao hơn, lúc bấy giờ mới có chủ nghĩa xã hội.

ở thành thị, Chính phủ có những xí nghiệp lớn, trong các xí nghiệp đó, công nhân phải thi đua sản xuất và quản lý cho tốt. Dần dần, như bên Trung Quốc, ta sẽ khuyên các nhà tư sản – không phải bắt ép mà giáo dục thuyết phục họ – chung vốn với Chính phủ. Các nhà tư sản sẽ hợp tác với Chính phủ để sản xuất dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.

– Phải hướng về phía ấy, mà công tư hợp doanh cũng còn phải tiến lên nữa. Các nhà tư sản sẽ thấy công tư hợp doanh có lợi, không có hại, dần dần họ thấy nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Bác hỏi các cô, các chú muốn đi con đường nào?

(Hội trường nhất loạt trả lời: ” Chủ nghĩa xã hội “).

– Thế thì các nhà tư sản, họ kinh doanh một mình, họ thấy khó có đường ra. Dù cho họ buôn bán to mấy cũng không thể chống lại công ty mậu dịch, không thể cạnh tranh nổi, do đó họ tự thấy tiền đồ của họ. Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác. Các cô, các chú có thảo luận về Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX không?

Đại hội đã chỉ cho ta thấy ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Ta có thể làm như Trung Quốc: đối với bọn phản động ở lại phá hoại thì phải tiêu diệt, nhưng đối với các nhà tư sản khác thì Trung Quốc đã giáo dục họ. Thế bao giờ miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội? Tất cả nhân dân cố gắng thì tiến mau, nếu ai cũng nghĩ đó là việc của Bác Hồ thì tiến chậm.

Còn giai cấp tư sản ở ta thì họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước. Tư sản các nước Anh, Mỹ, Pháp không có như thế. Vì sao? Vì tư sản nước ta bị Tây, Nhật áp bức, khinh miệt, họ căm tức tư sản Nhật, Pháp, cho nên, nếu mình thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng theo chủ nghĩa xã hội như ở Trung Quốc. ở Trung Quốc có những nhà đại tư bản đã chạy đi mà cũng có những người ở lại, nhưng lúc đầu không theo, hoặc chống lại cán bộ, chống lại cộng sản. Sau họ thấy rõ chính sách của Đảng Cộng sản, thấy rõ lòng hăng hái của nhân dân, thấy rõ sự tiến bộ của toàn dân, Đảng lại biết tổ chức, biết thuyết phục, bấy giờ họ vui vẻ đi với

Chính phủ vào công tư hợp doanh, có người làm việc với Chính phủ, vợ con cũng làm việc, ai làm được việc gì thì làm. Đại đa số con cái của họ vào Đoàn thanh niên. Họ viết thư về nhà nói: “Của cải của bố mẹ để lại, chúng con không cần nữa, chúng con đã được Đảng và Đoàn dạy cho lao động mà ăn”. Hoá được gia đình vợ con thì hoá được họ. Các bà tư sản, trước không làm được gì, bây giờ giúp bình dân học vụ, làm nhiều việc trong thành phố, ai có học thì làm việc cho Chính phủ. Họ viết thư khuyến khích bà con đã chạy sang Đài Loan. Họ viết: “Tổ quốc đẹp đẽ hùng mạnh như thế nếu còn có lương tâm thì về mà xem, nếu không muốn ở thì lại đi, chúng tôi xin bảo đảm”. Thế là nhà tư sản thành người tuyên truyền cho Chính phủ.

Nói tóm lại, tiến lên chủ nghĩa xã hội, không thể một sớm một chiều. Đó là cả một công tác tổ chức và giáo dục. Đó là công tác chung của tất cả mọi người, của cả thầy giáo. Phải hiểu chính sách của Chính phủ và của Đảng, phải thảo luận rồi tuyên truyền cho chính sách, phải giải thích cho dân hiểu, làm được như thế là gần lên chủ nghĩa xã hội rồi.

—————————–

Nói vào tháng 7-1956.
Sách Hồ Chủ tịch bàn về công tác giáo dục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1962, tr. 255-261.
cpv.org.vn