Tag Archive | Tập 5 (1947 – 1949)

Trả lời các nhà báo (19-8-1947)

Hỏi: Thưa Cụ, có tin đồn rằng Cao uỷ Bôlae phái đại biểu đến yết kiến Cụ, bàn về vấn đề điều đình, tin ấy có đúng không?

Trả lời: Không. Có lẽ vì người ta sực nhớ lại việc giáo sư P.Muýt thay mặt Cao uỷ Bôlae gặp tôi lúc trước, mà có tin đồn đó chǎng. Dù sao lập trường của Chính phủ và nhân dân Việt Nam vẫn không thay đổi, nghĩa là chỉ có một cách để chấm dứt chiến tranh, tức là nước Pháp thật thà nhận nước ta thống nhất và độc lập trong khối Liên hiệp Pháp. Ngoài ra không có cách gì khác.

Hỏi : Nghe nói có một bộ phận người Pháp ở đây muốn lập một chính phủ bù nhìn, ý kiến Chủ tịch đối với bọn người ấy thế nào?

Trả lời: Một số thực dân phản động có thể có mưu mô đó. Nhưng Cao uỷ Bôlae là một nhà đại chính trị, chắc ông thừa biết các kinh nghiệm chính phủ bù nhìn ở Nam Bộ, nó đã không giải quyết được gì, mà chỉ làm kéo dài cuộc chiến tranh và ngǎn trở sự thân thiện giữa hai dân tộc Việt – Pháp. Không lẽ một người sáng suốt như Cao uỷ Bôlae lại đi theo con đường đó.

Trả lời ngày 19-8-1947.

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.29.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào Việt Bắc (19-8-1947)

Cùng đồng bào khu I (1) ,

Nhân dịp ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, tôi gửi lời chào thân ái cho toàn thể đồng bào và toàn thể chiến sĩ khu I.

Cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta cái nhiệm vụ vẻ vang là tranh đấu để giữ vững nền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Chúng ta quyết tâm làm trọn nhiệm vụ đó trong cuộc trường kỳ kháng chiến này.

Đồng bào Việt Bắc đã có một lịch sử cách mạng rất vẻ vang. Xưa kia cụ Hoàng Hoa Thám và những vị anh hùng khác đã dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp suốt mấy mươi nǎm. Gần đây Việt Bắc là cǎn cứ địa oai hùng của Quân giải phóng để chống Nhật, kháng Pháp. Tên Việt Bắc đã lừng lẫy khắp cả nước, khắp thế giới.

Có sự vẻ vang đó là vì toàn thể đồng bào Việt Bắc: Kinh, Thổ, Mán, Nùng, Mèo, v.v., ai cũng yêu nước, ai cũng không chịu làm nô lệ, ai cũng đoàn kết, ai cũng hǎng hái ủng hộ cách mạng.

Trong cuộc kháng chiến này đồng bào khu I đã gánh một phần quan trọng: Như công tác phá hoại, giúp đỡ đồng bào tản cư, v.v., lại có những sáng kiến và thành tích đáng làm gương cho những nơi khác: Như các cụ phụ lão, các vị thân hào, anh em công chức, đã đoàn kết chặt chẽ, đã làm kiểu mẫu cho đồng bào và đã ra sức ủng hộ Chính phủ, v.v..

Hiện bây giờ khu I chưa phải mặt trận chính. Nhưng đối với bọn thực dân hung ác, nay mai khu I rất có thể trở nên mặt trận chính. Vì vậy, chúng ta phải luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng. Chúng ta cần phải làm những việc sau này:

a) Đã đoàn kết phải đoàn kết thêm. Khắp nơi phải tổ chức Hội Liên hiệp quốc dân.

b) Tập luyện dân quân, tự vệ, du kích. Giúp đỡ bộ đội.

c) Ra sức tǎng gia sản xuất, làm cho nhiều lúa, nhiều sắn, nhiều ngô. Nuôi cho nhiều gia súc.

d) Phát triển bình dân học vụ. Giúp đỡ đồng bào tản cư. Giữ gìn bí mật.

e) Các cán bộ quân sự, chính trị, hành chính và chuyên môn thì phải làm đúng bốn chữ: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Tôi chắc rằng: với truyền thống cách mạng lâu dài, với lòng sốt sắng yêu nước, với sự đoàn kết chặt chẽ, đồng bào khu I sẽ làm trọn nhiệm vụ của mình.

Tinh thần Cách mạng Tháng Tám muôn nǎm!

Việt Nam thống nhất và độc lập muôn nǎm!

Toàn thể đồng bào khu I tiến lên!

Ngày 19 tháng 8 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.27-28.
cpv.org.vn

Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám (8-1947)

Hỡi các cháu yêu quý !

Ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, các cháu cũng phải có phần chứ nhỉ. Vậy Bác gửi cho các cháu lời chào thân ái.

Trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, và trong cuộc kháng chiến bây giờ đã cho nhiều cháu tham gia.

Từ Nam đến Bắc có nhiều nhi đồng đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc, có nhiều nhi đồng bị địch giết hại một cách thảm thương. Bác cùng các cháu, ta kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các liệt sĩ thiếu niên đó.

Vì thực dân hung ác mà có nhiều nhi đồng lạc cha rời mẹ, có nhiều nhi đồng phải tản cư đến chỗ núi rậm rừng xanh. Đối với những nhi đồng đó, Bác cùng các cháu, ta phải hết sức thương yêu, tìm cách giúp đỡ.

Bác rất vui lòng biết rằng: nhiều cháu đã hǎng hái giúp việc trong các bộ đội và dân quân.

Nhiều cháu đã tổ chức tǎng gia sản xuất, trồng lúa, trồng ngô, nuôi gà, nuôi vịt (nhi đồng Hải Phòng ). Nhiều cháu vào tuyên truyền xung phong (như nhi đồng Quảng Yên). Nhiều cháu giúp việc bình dân học vụ (nhi đồng nhiều nơi đã làm như thế).

Còn cháu nào cũng biết siêng học, siêng làm, biết ǎn ở sạch sẽ, biết giữ kỷ luật, lễ phép, thế là tốt lắm. Bác khuyên các cháu gắng sức thêm. Việc gì có ích cho kháng chiến, có ích cho Tổ quốc thì các cháu nên gắng sức làm. Làm được bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Tuổi các cháu còn nhỏ, thì các cháu làm những công việc nhỏ. Nhiều công việc nhỏ cộng lại thành công việc to. Bác mong các cháu làm việc và học hành, cho xứng đáng là nhi đồng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thống nhất và độc lập.

Bác hôn tất cả các cháu
BÁC HỒ

Viết tháng 8-1947. Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t. 2, tr. 25.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Nguyễn Khánh Toàn (20-8-1947)

Chú Lĩnh (1)

Chú ốm đi ốm lại mãi. Mình lo cho sức khoẻ của chú. Phải gắng uống thuốc đi cho khỏi, hoặc nhờ thầy thuốc tiêm cho. Chớ để ốm mãi như vậy, chú đã yếu mà anh cũng lo.

Thân ái và quyết thắng
Ngày 20 tháng 8 nǎm 1947
ANH

Bản gốc lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

—————————————-

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Trả lời báo Vui sống (26-8-1947)

Hỏi: ý kiến của Chủ tịch về vấn đề y tế và riêng về quân y trong thời kỳ kháng chiến?

Trả lời : Theo tôi biết, thì y tế và quân y đều cố gắng làm việc. Riêng về quân y, vì ở gần bộ đội và gần mặt trận đã có những bác sĩ, y sĩ, y tá, dược sĩ và chị em khán hộ rất chịu khó và gan góc, đối với anh em thương binh rất tử tế, đối với công việc rất có tinh thần phụ trách. Đó là những điều đáng nhớ, đáng khen. Tuy trong hoàn cảnh khó khǎn, anh em y giới đã tự chế được mấy thứ thuốc mới. Đó là một sự đáng mừng.

Y tế và quân y cần phải đoàn kết chặt chẽ, cộng tác mật thiết, phải ra sức đào tạo cán bộ, phát minh thêm thuốc mới.

Chúng ta phải cố tranh cho được thắng lợi trên mặt trận y tế cũng như trên các mặt trận khác. Mong toàn thể anh em gắng sức.

Trả lời ngày 26-8-1947.

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.30.
cpv.org.vn

Trả lời báo Độc lập về việc Chính phủ mở rộng (28-8-1947)

Hỏi : Lần này là lần đầu tiên từ khi chính thể Dân chủ Cộng hoà thành lập, chúng tôi nhận thấy trong Chính phủ có một vị quan lại cũ tham dự. Vậy xin Chủ tịch cho biết rõ chính sách của Chính phủ đối với giới này.

Trả lời: Chính sách của Chính phủ trước sau vẫn là đại đoàn kết. Đối với các vị quan lại cũ cũng như đối với tất cả các giới đồng bào, những người có tài có đức thì Chính phủ đều hoan nghênh ra gánh việc nước. Thí dụ: Ngoài cụ Đặng Vǎn Hưởng ra, còn nhiều cụ khác nữa như cụ Phạm Gia Thuỵ, cựu Tổng đốc; cụ Phan Kế Toại, Khâm sai đại thần; cụ Phó bảng Bùi Kỷ, v.v., đều rất tận tuỵ giúp việc kháng chiến. Trước sự đại đoàn kết của Chính phủ và quốc dân đồng bào, mưu mô chia rẽ của thực dân phản động Pháp nhất định thất bại.

Trả lời ngày 28-8-1947.

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.31.
cpv.org.vn

Thư gửi Hội Phật tử Việt Nam (30-8-1947)

Nhân ngày lễ Phật rằm tháng Bảy, tôi kính cẩn cầu nguyện Đức Phật bảo hộ Tổ quốc và đồng bào ta, và tôi gửi lời thân ái chào các vị trong Hội Phật tử.

Từ ngày nước ta trở nên Dân chủ Cộng hoà, Hiến pháp ta tôn trọng tự do tín ngưỡng, thì Phật giáo cũng phát triển một cách thuận tiện.

Thế là: Nước có độc lập, thì đạo Phật mới dễ mở mang.

Bọn thực dân Pháp muốn cướp nước ta. Chúng đốt chùa chiền, phá tượng Phật, hành hạ tǎng ni, tàn sát đạo hữu. Chúng hòng phá tan đạo Phật.

Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma.

Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ.

Trong cuộc kháng chiến cứu nước, đồng bào Phật giáo đã làm được nhiều. Tôi cảm ơn đồng bào, và mong đồng bào cố gắng thêm, cố gắng mãi, cho đến ngày trường kỳ kháng chiến thắng lợi, thống nhất độc lập thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 15 tháng 7 âm lịch (1)
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chí Minh Toàn tập,
xuất bản lần thứ nhất, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1984, t.4, tr.409.
cpv.org.vn

————————–

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Thơ khen tặng hai em nhi đồng liên lạc trong bộ đội Chiến khu II (8-1947)

Gửi cháu Phạm Đỗ Hải

Bác được tin rằng:
Cháu làm liên lạc,
Bị giặc bắt được,
Lại trốn thoát ngay.
Mang hai lính Tây
Theo về bộ đội.
Thế là cháu giỏi.
Biết cách tuyên truyền.
Bác gửi lời khen.
Khuyên cháu gắng sức
Học hành, công tác
Tiến bộ luôn luôn.
Gửi cháu cái hôn
Và lòng thân ái.

Tháng 8 nǎm 1947
BÁC HỒ

Gửi cháu Lê Vǎn Thức (1)

Cháu có can đảm
Giơ súng doạ Tây.
Bắt nó hàng ngay,
Lấy được súng nó.
Vì thành công đó,
Bác gửi lời khen
Khuyên cháu tập rèn
Ngày càng tiến bộ.
Bác lại gửi cháu
Mấy chục cái hôn.

Tháng 8 nǎm 1947
BÁC HỒ

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1949, t.2, tr.26.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Lời kêu gọi đồng bào toàn quốc nhân dịp kỷ niệm lần thứ hai ngày Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1947)

Nhân lễ kỷ niệm Ngày Độc lập lần thứ hai, tôi và Chính phủ cùng đồng bào kiểm điểm lại công việc đã qua, để cùng nhau tính toán những công việc sắp tới.

I- NHỮNG KHÓ KHĂN

a) Khó khǎn kinh tế – Chính phủ ra đời sau 80 nǎm nước ta bị áp bức và bóc lột, trong lúc dân cùng tài tận, kinh tế điêu linh.

Lại thêm đê điều hư hỏng, nước lụt mênh mông. Hơn hai triệu đồng bào chết đói.

b) Khó khǎn quân sự – Chính phủ tổ chức được vài tuần thì thực dân Pháp xâm lược chiếm Nam Bộ gây nên cuộc chiến tranh.

c) Khó khǎn chính trị – Chính phủ thành lập chưa đầy một tháng đã ra sức cứu cho đồng bào khỏi chết đói ở Bắc, giúp cho đồng bào chống xâm lược ở Nam, thì có một bọn tự xưng là cách mạng, nhưng họ không cộng tác với Chính phủ, không giúp đỡ cho đồng bào. Họ lại phản đối Chính phủ, quấy rối đồng bào, phá hoại trật tự, muốn gây nội loạn.

Nói tóm lại, Chính phủ ra mang gánh nặng, trong khi nội ưu ngoại hoạn (1), đủ sự gay go.

II- VỀ MẶT KIẾN QUỐC

Tuy vậy Chính phủ dựa vào sức ủng hộ của toàn dân, và tin vào vận mệnh của Tổ quốc để cố gắng vượt mọi nỗi gian nan, và đã đạt được ít nhiều kết quả.

a) Về kinh tế – Chính phủ đã cùng với đồng bào sửa chữa đê điều, tǎng gia sản xuất, bỏ sưu giảm thuế, đã cứu nạn đói và đã cải thiện sinh hoạt cho nhân dân.

Chính phủ lại xây đắp nền tài chính độc lập cho nước ta.

b) Về quân sự – Chính phủ đã do sức mình mà tổ chức nên một quân đội quốc gia, huấn luyện nên hàng ức hàng triệu dân quân, tự vệ, để giữ gìn Tổ quốc, để chống nạn ngoại xâm.

c) Về chính trị – Mặc dầu những bọn phản động âm mưu phá hoại, Chính phủ và đồng bào ta đã hoàn thành cuộc toàn dân tuyển cử tự do, lần đầu tiên trong lịch sử mà dân ta được hưởng dân chủ, dân quyền, tự mình chọn lấy những người đại biểu của mình, để lo việc nước.

Kế đến Quốc hội định ra bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta.

d) Về vǎn hoá – Ngoài việc gây dựng nền trung học và đại học mới, đào tạo nhân tài, mở mang nghệ thuật, do sự khuyến gắng của Chính phủ, sự sáng suốt của cán bộ bình dân học vụ, và sự hǎng hái của đồng bào, chúng ta phá tan cái chính sách ngu dân của Pháp. Trong hai nǎm chúng ta đã dạy hơn bốn triệu đồng bào nam nữ biết đọc biết viết và đã có nhiều làng xã, toàn dân đều biết chữ. Đó là một thành tích vẻ vang, nhất là trong lúc cái gì cũng thiếu thốn.

Nếu thực dân Pháp không gây ra chiến tranh, thì trong hai nǎm, chúng ta chắc đã kiến thiết được nhiều hơn.

III – VỀ MẶT KHÁNG CHIẾN CỨU QUỐC

Nhân dân ta yêu chuộng hoà bình, Chính phủ ta muốn cho dân được yên cư lạc nghiệp. Chúng ta muốn cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp mong có ích lợi cho cả hai bên. Vì vậy, chúng ta đã ký Hiệp định ngày 6-3 và Tạm ước ngày 14-9.

Song thực dân phản động Pháp, phá lời ký kết, muốn cướp nước ta, bắt dân ta làm nô lệ như trước.

Chúng gây nên chiến tranh, chúng đặt ra chính phủ bù nhìn, chúng muốn chia rẽ dân ta, chinh phục nước ta.

Trước sự xâm lược dã man đó, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta, đã đoàn kết thành một bức tường đồng, kiên quyết giữ gìn Tổ quốc.

Nhờ tinh thần đoàn kết, chí khí quật cường đó mà hai nǎm kháng chiến ở Nam, chín tháng kháng chiến toàn quốc, lực lượng của địch càng ngày càng hao mòn, ta thì càng đánh càng hǎng, càng mạnh.

Xét kinh nghiệm các nước và lịch sử nước nhà, thì chúng ta thấy rằng:

Cách mạng giải phóng của Mỹ 8 nǎm mới thành công.

Cách mạng Pháp 5 nǎm, Cách mạng Nga 6 nǎm, Cách mạng Tàu 15 nǎm mới thành công.

Tổ tiên ta chống ngoại xâm đời Trần 5 nǎm, đời Lê 10 nǎm mới thắng lợi.

Vì vậy nếu Pháp thực thà thừa nhận quyền thống nhất độc lập của nước ta, như Mỹ đối với Phi Luật Tân, Anh đối với ấn Độ thì Chính phủ và dân ta cũng sẵn sàng cộng tác thân thiện với Pháp, nhưng nếu thực dân Pháp cứ giữ chính sách vũ lực, mưu mô chia rẽ, thì chúng ta cương quyết kháng chiến, tranh cho kỳ được thống nhất độc lập mới thôi.

Nhân ngày vẻ vang và nghiêm trọng này, tôi thay mặt Chính phủ kêu gọi:

Toàn thể đồng bào,

Toàn thể chiến sĩ,

Những đồng bào nơi địch chiếm đóng,

Các kiều bào ở nước ngoài,

Hãy tin tưởng vào vận mệnh vẻ vang của Tổ quốc, tin tưởng

vào sức đoàn kết và chiến đấu của chúng ta. Chúng ta hãy cắn rǎng chịu khổ, ra sức chiến đấu. Chịu khổ chiến đấu mấy nǎm, để đánh tan ách nô lệ hơn 80 nǎm vừa qua, để xây nền tự do muôn ngàn đời sắp tới, thì cũng bõ công. Tướng sĩ trước mặt trận, đồng bào ở hậu phương, ai nấy đều phải đoàn kết chặt chẽ, cố gắng làm đúng bốn chữ Cần, Kiệm, Liêm, Chính, thì cuộc trường kỳ kháng chiến của ta nhất định vững vàng.

Tôi thay mặt Chính phủ và đồng bào, gửi lời chào thân ái cho các dân tộc anh em châu á, cho nhân dân Pháp, cho dân tộc anh em các thuộc địa Pháp.

Toàn dân đại đoàn kết!

Đánh đổ thực dân phản động Pháp!

Tình thân thiện giữa hai dân tộc Việt – Pháp muôn nǎm!

Tinh thần thân ái đại gia đình châu á muôn nǎm!

Kháng chiến nhất định thắng lợi!

Việt Nam thống nhất và độc lập muôn nǎm!

Ngày 2 tháng 9 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.32-35.
Báo Vệ quốc quân, số 13, ngày 2-9-1947.
cpv.org.vn

—————————–

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Thư gửi Quân đội Quốc gia Việt Nam nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh lần thứ hai (2-9-1947)

Quân đội ta mới tổ chức, mới huấn luyện.

Nhưng lòng yêu nước, đức dũng cảm, chí hy sinh, thì chẳng kém quân đội nào.

Vì vậy, trong 2 nǎm kháng chiến cứu nước, từ Nam đến Bắc, quân đội ta đã nhiều phen chiến thắng quân đội thực dân Pháp là một quân đội kinh nghiệm nhiều, khí giới tốt, là một quân đội có tiếng trên hoàn cầu.

Tuy vậy, chúng ta không được vì thế mà khinh địch, mà kiêu cǎng, mà sơ suất.

Trái lại, chúng ta phải luôn luôn cẩn thận, luôn luôn ra sức cầu tiến bộ.

CÁC CẤP CHỈ HUY CẦN PHẢI

a) Biết rõ bộ đội, chǎm nom bộ đội.

b) Mỗi một cái mệnh lệnh đưa ra, thì cần phải mau chóng và chuyển khắp đến từng đội viên và phải thi hànhtriệt để.

c) Mỗi người chỉ huy về quân sự cũng như về chính trị, phải làm kiểu mẫu. Phải giữ đúng đạo đức của quân nhân.

TẤT CẢ CÁC ĐỘI VIÊN CẦN PHẢI

a) Ra sức học tập kinh nghiệm, và cố gắng nghiên cứu kỹ thuật.

b) Rèn luyện tinh thần chịu khó, chịu khổ.

TOÀN THỂ BỘ ĐỘI CẦN PHẢI

Ra sức thực hành những nghị quyết đã do những hội nghị quân sự toàn quốc ấn định. Phải thực hành cho đến nơi đến chốn.

Quân đội ta quyết phải làm được những điều đó, để khỏi phụ lòng tin cậy của Chính phủ, của đồng bào, và để trở nên một quân đội tất thắng.

HỒ CHÍ MINH

Báo Vệ quốc quân,
số 13, ngày 2-9-1947.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào các tỉnh Việt Bắc (2-9-1947)

Hỡi đồng bào yêu quý,

Nhân ngày kỷ niệm Độc lập, tôi gửi lời thân ái hỏi thǎm đồng bào.

Tôi luôn luôn nhớ đến những ngày công tác ở tỉnh ta. Cùng mấy đồng chí trong tỉnh, trèo đèo lặn suối, ở núi nằm hang, khi thì cùng 5, 7 anh chị em, bí mật tuyên truyền, huấn luyện, tổ chức. Khi thì cùng các anh em du kích đánh Nhật, chống Pháp, trừ Việt gian. Anh em no đói có nhau, sướng khổ cùng nhau, một lòng một chí. Do đó mà đào tạo nên những cán bộ quân sự và chính trị.

Tôi không bao giờ quên được, trong những ngày gian nan cực khổ đó, đồng bào trong tỉnh ta, các cụ già, các chị em phụ nữ, anh em nông dân, các em thanh niên, các cháu nhi đồng ai cũng hǎng hái giúp đỡ. Mặc dầu Tây và Nhật thẳng tay khủng bố, nó đốt làng, nó phá nhà, nó bắt người, nhưng đồng bào vẫn kiên quyết giúp đỡ cách mệnh. Đồng bào Thổ, đồng bào Nùng, đồng bào Mán, đồng bào Mèo, cho đến anh em Hoa kiều, người thì giúp chúng tôi ǎn, kẻ thì cho chúng tôi áo. Có những đồng bào nhịn ǎn nhịn mặc, bán trâu bán ruộng để giúp chúng tôi làm cách mệnh. Thật là quý hoá vô cùng.

Ngày nay, nước ta đã độc lập, nhưng thực dân Tây còn muốn cướp nước ta, để bắt chúng ta đi phu, đóng thuế, nộp thóc, trồng đay, để không cho chúng ta phát rẫy, làm nương, không cho chúng ta tổ chức học hành, như trong thời kỳ nô lệ.

Vì vậy chúng ta phải kháng chiến cứu nước.

Đồng bào tỉnh ta đã rất hǎng hái giúp cách mệnh trong mấy nǎm trước. Tôi chắc rằng đồng bào cũng hǎng hái ủng hộ kháng chiến trong lúc này.

Việt Bắc trước kia là cǎn cứ của cách mệnh, đã nổi tiếng khắp cả nước, khắp thế giới. Thì ngày nay, Việt Bắc phải thành cǎn cứ của kháng chiến, để giữ lấy cái địa vị và cái danh giá vẻ vang của mình.

Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi. Mong đồng bào đều gắng sức.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 2 tháng 9 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr. 36-37
cpv.org.vn

Cán bộ và đời sống mới (2-9-1947)

Cán bộ muốn cho xứng đáng, phải làm được việc.

Muốn làm được việc, thì phải được dân tin, dân phục, dân yêu.

Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng nǎng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng.

Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc giây leo trời.

Nhất là trong lúc kháng chiến cứu nước này, mỗi phút đều là quý báu. Một đồng tiền, một hột gạo, đều là quý báu.

Mỗi một người cần phải cố gắng làm công việc của hai người. Công việc thường làm trong hai ngày, nay phải cố gắng làm xong xuôi chu đáo trong một ngày.

Người xưa có câu: Một phút đáng giá ngàn vàng, thật là đúng. Thí dụ: Được tin địch kéo qua nơi nọ, ta biết sớm mấy phút, chuẩn bị sẵn sàng mà tập kích, thì ta thắng lợi. Nếu biết chậm mấy phút, thì sẽ thất bại.

Vì vậy, từ người cán bộ cấp trên cho đến cán bộ giao thông, đều phải siêng nǎng, đều phải tiết kiệm thì giờ, cần và kiệm, hai điều đó đi đôi với nhau.

Về vật chất cũng thế.

Lúc này, đồng bào làm đổ mồ hôi nước mắt, lo tǎng gia sản xuất, để giúp Chính phủ, giúp chiến sĩ, một người làm để nuôi mấy người. Lại có những đồng bào tản cư, thiếu thốn mọi mặt. Vì vậy,

một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào. Vì vậy, ta phải ra sức tiết kiệm. Hoang phí là một tội ác.

Có tiết kiệm, không hoang phí xa xỉ, thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch.

Nếu hoang phí xa xỉ, thì ắt phải tìm cách xoay tiền. Do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối. Thậm chí làm chợ đen chợ đỏ, thụt két, buôn lậu.

Có cần mới kiệm. Có cần, kiệm mới liêm. Có cần, kiệm, liêm mới chính.

*

*      *

Nhiều cán bộ đã theo đúng Đời sống mới.

Nhiều cán bộ đang cố gắng làm cho đúng.

Nhưng còn có một số, vẫn áo quần bảnh bao, ǎn uống xa xỉ. Thậm chí cờ bạc, rượu chè. Họ còn “các quan” lắm!

Họ mượn tiếng rằng: Phải ǎn mặc bảnh mới giữ được oai tín, giữ được thể diện.

Nói thế hết sức sai. Muốn có oai tín thể diện, thì phải làm việc cho giỏi.

Nếu ǎn mặc bảnh, mà được oai tín thể diện, thì mấy chàng Sở Khanh chẳng nhiều thể diện oai tín lắm ư ?

Mà Hồ Chủ tịch, quanh nǎm bốn mùa, chỉ mặc một bộ áo vải ka ki cũ, mỗi ngày chỉ có rau ǎn rau, có mắm ǎn mắm. Như thế, Người chẳng mất oai tín thể diện đi sao ?

Hỡi các bạn kia ơi! Các bạn phải hiểu rằng: trong lúc này, hoang phí xa xỉ là:

Trái với tư cách của những người yêu nước, những người cán bộ.

Trái với lòng dân, trái với đạo đức cách mạng.

Trái với cả oai tín và thể diện của các bạn.

Các bạn phải mau mau sửa đổi cho xứng đáng là người yêu nước, là người cán bộ.

Chúng ta phải nêu ra khẩu hiệu: Cán bộ phải thực hành Đời sống mới!

A.G.

Báo Sự thật, số 88,
ngày 2-9-1947.
cpv.org.vn