Tag Archive | Tập 5 (1947 – 1949)

Việt Bắc anh dũng (1948)

NHỮNG LỜI ĐOÁN TRƯỚC

Ngay lúc bắt đầu kháng chiến, Hồ Chủ tịch ra lệnh: Trường kỳ kháng chiến, để đánh tan mưu mô “Đánh mau thắng mau” của thực dân. Ngày trước khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Hà Nội, Hồ Chủ tịch đã đoán trước: Địch sẽ cố chiếm mấy thành thị và mấy đường giao thông. Bộ đội chúng càng rải rác, lực lượng chúng càng mỏng manh, ta càng dễ tiêu diệt chúng.

Ngay lúc đầu, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy đã định dùng chiến thuật du kích để tiêu diệt địch.

Càng ngày chúng ta càng thấy những ý định trên là sáng suốt, nhất là trong cuộc địch tấn công vào Việt Bắc, chúng ta càng thấy rõ như thế.

CUỘC TẤN CÔNG VIỆT BẮC (21)

Âm mưu của địch – Chúng muốn khủng bố nhân dân ta, tiêu diệt chủ lực ta, phá tan cơ quan ta.

Lựclượng của địch – Chúng động viên 15.000 binh sĩ tinh nhuệ nhất trong hải, lục, không quân của chúng vào cuộc tấn công này.

Kế hoạch của địch – Chúng phóng một gọng kìm khổng lồ phía Nam, từ Hà Nội thọc thẳng đến Phú Thọ lên Tuyên Quang, đến Chiêm Hoá.

Một gọng kìm khổng lồ phía Bắc, từ Lạng Sơn rượt thẳng lên Cao Bằng, đến Bắc Cạn.

Một mũi dùi khổng lồ từ Hà Nội chọc thẳng vào vùng Thái Nguyên, Bắc Cạn để chặt Việt Bắc ra làm hai miếng.

Nhảy dù lung tung ở Chợ Mới, Chợ Đồn, Chợ Chu, Đại Từ, Vũ Nhai và nhiều nơi khác.

Một đại đội quân từ Bắc Giang – Bắc Ninh đánh tạt lên.

Thế là bốn phía thắt chặt, từ ngoài đánh vào từ trong quét ra.

Thời gian của địch – Bọn quân phiệt thực dân định dùng cách đánh ào ạt, chớp nhoáng, bất thình lình, dùng cách “sét đánh ngang tai”, làm cho ta hoang mang hoảng hốt, làm cho ta trở tay không kịp.

Chúng định trong một tháng thì đánh tan Việt Bắc. Rồi chúng khoan thai lập chính phủ bù nhìn.

Kết quả thế nào – Thực dân quen thói lừa bịp, dù kết quả thất bại, chúng cũng khoe miệng rằng chúng đã thắng lợi.

Nếu chúng thắng lợi sao mà cơ quan và chủ lực ta vẫn an toàn, vô sự. Nếu chúng thắng lợi thì vì sao chúng phải vội vã chuồn lui? Nếu chúng thắng lợi thì vì sao chúng mất hơn 6.000 binh sĩ chết và bị thương, nghĩa là mất hết 1/3 lực lượng của chúng?

Chứng cớ rõràng – Muốn tránh khỏi sự nghi ngờ rằng ta phóng đại để tuyên truyền, muốn tỏ rằng chúng ta công bình, không thèm dùng cách lừa bịp như chúng, cho nên chúng ta chỉ đem tài liệu của chúng để làm chứng sự thất bại của chúng.

Sau đây là một ít mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh địch, báo cáo của các bộ đội địch, thư từ của quan và lính địch mà ta bắt được trên các mặt trận. Có ngày tháng, tên họ rõ ràng. Địch muốn chối cũng không thể chối. Những giấy tờ này hiện nay đang trưng bày ở phòng tin tức của Bộ Quốc phòng. Đồng bào ai muốn xem, thì cứ đến xem.

TRÊN TRỜI RỜI XUỐNG

Ngày 7 tháng l0, trời vừa mờ sáng, l.200 quân nhảy dù bắt đầu nhảy xuống Bắc Cạn và Chợ Mới.

Hôm sau, địch tiếp tục nhảy xuống Chợ Đồn.

Sau đây là mấy đoạn trích trong những thư ta bắt được của địch:

Viên đội Nool viết:

“Tàu bay chở thư và chở khách ở Đông Dương đều phải dùng để tham gia cuộc nhảy dù này. Tất cả l.200 lính nhảy dù bay lên Việt Bắc”.

`Viên thầy thuốc Cheminel viết:

“Trận này là trận to nhất của quân Pháp từ xưa tới nay”.

Tên lính Sanguiette viết:

“Hôm 7 tháng l0 là trận nhảy dù to nhất, mà trung đội tôi đã tham gia”.

Viên đội Ragaezi viết:

“Lần này là lần đầu tiên, mà 3 đại đội quân nhảy dù Pháp, nhảy xuống sau lưng địch”.

Sau khi chúng nhảy xuống, chúng lập tức bổ ra đi tìm Hồ Chủ tịch và các ông bộ trưởng.

Viên y tá Moreau viết:

“Tổng tư lệnh Pháp được tin rằng: Từ 19 tháng 12 nǎm 1946, Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam đóng ở Bắc Cạn. Vì vậy chúng tôi được mệnh lệnh phải lùng cho được họ”.

Và chúng rất lạc quan. Viên quan ba Establié viết:

“Ta sẽ chụp được trung tâm điểm của Hồ Chí Minh. Cuộc chiến tranh sẽ chấm dứt. Chính phủ bù nhìn sẽ lập thành. Nước Pháp lại cai trị Việt Nam như trước…”.

Viên đội Michel viết:

“Tôi chắc rằng đội của tôi sẽ được cái hân hạnh chấm dứt cuộc chiến tranh. Chắc như vậy. Bọn V.M. yếu ớt lắm rồi. Chiến tranh sẽ hết nay mai”.

TRONG RỪNG NHẢY RA

Sau khi được tin địch tiến công, Hồ Chủ tịch liền kêu gọi bộ đội, dân quân du kích và toàn thể nhân dân, ra sức tiêu diệt bọn địch.

Ông Tổng Chỉ huy quân đội Việt Nam thì lập tức hạ lệnh như sau:

1. Quân đội ta phải đánh mạnh và bẻ gãy gọng kìm Lạng Sơn, Can Bằng của địch.

2. Phải đánh mạnh và bẻ gọng kìm phía Sông Lô.

3. Phải ngǎn trở không để hai đạo quân của đại tá Beaufré và đại tá Communal gặp nhau ở Chiêm Hoá, Đại Thị.

4. Bộ đội ta ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ phải đánh mạnh, để làm yếu ớt sức địch ở Việt Bắc.

Nhận được mệnh lệnh đó, bộ đội ta từ các ngả rừng, reo hò nhảy ra quyết chiến với quân thù.

TRỜI GẦN ĐẤT XA

Bọn lính nhảy dù, khi chưa nhảy xuống thì hǎm hở, khi đã nhảy xuống thì lại phàn nàn.

Tên lính nhảy dù Fickène viết cho vợ nó:

“Tốp nhảy dù ở Bắc Cạn thiệt hại khá nhiều”.

Viên thầy thuốc Cheminel viết cho vợ ở Sài Gòn:

“Sau khi nhảy dù, chúng tôi có nhiều người chết, nhiều người bị thương và nhiều người ốm”.

Ngày 9 tháng l0 đội phòng không Việt Nam ở Cao Bằng hạ l chiếc máy bay, trong đó có tướng Lambert và một số sĩ quan chuyên môn chỉ huy mặt trận đó. Tại Bắc Cạn bộ đội của quan nǎm Sauvagnac bị ta vây.

Viên đội Penduff viết cho vợ:

“Vô tuyến điện báo cho chúng tôi biết rằng quan nǎm Sauvagnac và đội xung phong nhảy dù xuống Bắc Cạn hôm qua, hôm nay bị vây. Chúng tôi phải đi tiếp viện. Vì vậy ngày mai chúng tôi phải nhảy dù xuống Bắc Cạn”.

Hôm 15 tháng 10 ta vây đội nhảy dù ở Chợ Mới, giết được 70 tên. Một số lính nhảy dù bị thương, phải vội vàng trở về Bắc Cạn.

Quan hai thầy thuốc Moreau viết:

“ở đây chúng tôi bị tập kích luôn luôn. Bọn Việt Minh hay đánh úp bộ đội vận tải của chúng ta. Nhiều chết và bị thương. Ban mổ xẻ không bao giờ ngớt việc”.

Pháp muốn liên lạc Chợ Mới với Bắc Cạn nhưng liên lạc khó lắm vì…

Tiểu đội trưởng Denis viết:

“Bọn V.M. đông lắm và mạnh lắm”.

Đội trưởng Vershueren viết:

“Từ khi chúng tôi nhảy xuống đất đến giờ luôn luôn bị bọn V.M. bao vây. Chỉ có tàu bay tiếp tế cho chúng tôi. Mỗi khi chúng tôi đi ra, là bị bọn V.M. trên núi bắn xuống liền”.

NẤM ĐẤT BÊN ĐƯỜNG

Địch bắt đầu thấy rằng: ở Việt Bắc dễ ǎn mà khó nuốt. Có nhiều tên, hôm qua đang nghênh ngang dưới chiếc mũ đỏ, mà hôm nay đã im lìm dưới nấm đất vàng.

Viên đội Suteau viết:

“Đầu tiên khá dễ chịu. Nhưng bây giờ thì khá rầy rà. Than ôi! Có nhiều bạn đã hy sinh và gửi xương nơi đất Việt”.

Phía Tuyên Quang cũng như phía Bắc Cạn, Vệ quốc quân và dân quân du kích ta bắt đầu phản công. Ngày 15 tháng 10, gần Tuyên Quang, l0 tên địch bị giết và 7 tên bị thương. Tiểu đội trưởng Coulon viết:

“Chúng tôi đang bị vây. Hơn một tiểu đoàn V.M. đóng cách chúng tôi hơn hai cây số. Chúng có đủ các thứ súng ống. Hôm qua chúng nó vào tập kích, chúng tôi bị thiệt hại khá nhiều…”.

Quan hai Malaval viết:

“Bọn V.M. bắt đầu hoạt động. Chúng nó chịu khó và kiên quyết như thường. Vì chết và bị thương nhiều, cho nên hàng ngũ của ta đã thưa thớt dần dần. Còn lôi thôi chưa biết bao giờ hết”.

Liền hôm sau là ngày 19-10-47, trong 1 trận cách Tuyên Quang 5 cây số, quan hai Moreau tử trận cùng 30 lính Pháp chết và bị thương.

Thế là nhiều quan và lính địch, đã bắt đầu gửi xác trong những nấm đất bên đường ở các tỉnh Việt Bắc.

HAO BINH TỔN TƯỚNG

Đây là thư quan nǎm Bourdeau viết cho ông cụ bà cụ ở Pháp:

“Thưa thầy mẹ, ở đây chiến tranh vẫn tiếp tục, và vẫn tàn khốc lắm. Chúng con phải đánh với bọn du kích trong rừng và chúng con bị thiệt hại nhiều lắm”.

Còn đây là báo cáo của quan nǎm Santus, sau trận gần Chiêm Hoá ngày 22-10-47 mà Pháp đã mất 70 chết và bị thương:

“Tôi xin báo cáo về trận chiến đấu với V.M. ngày 22-10. Trong đội chúng tôi đã có những người sau này chết và bị thương: (Tên tuổi và cấp bậc của 70 người chết và bị thương).

Cộng 8 người chết và 16 người bị thương hôm 18-10 với số thiệt hại hôm nay khiến cho đội chúng tôi hiện nay chỉ còn: 4 sĩ quan (1 hãy còn đang ốm), 8 hạ sĩ quan, 60 lính (6 người đang ốm).

Tất cả là 72 người mà 7 người đang ốm, còn 65 người.

Có những trung đội chỉ còn 12, 16 người, 18 người, bây giờ cần phải tổ chức lại, vì hạ sĩ quan tử trận nhiều quá.

Vì lẽ đó tôi phải tổ chức đại đội lại thành 2 trung đội, mỗi đội chừng 25 người Pháp.

Cần phải 4, 5 ngày mới tổ chức và giải quyết xong những vấn đề vật chất khác. Vì vậy trong mấy ngày đó, đội tôi không thể phụ trách việc gì hết”.

Ký tên: Quan nǎm Santus

BA CHÌM BẢY NỔI

Bên bộ như vậy. Bên thuỷ thế nào?

Hôm 24-10, tàu và ca nô địch, chiếc sau nối chiếc trước như một đàn cá sấu, kéo ngược Sông Lô đến Đoan Hùng cách Tuyên Quang 27 cây số, bị ta tập kích.

Súng máy, đại bác, bazooka của ta nấp hai bên bờ khạc đạn to, đạn nhỏ xuống. Tàu và canô của địch ở giữa sông nghi ngút bốc khói và lửa lên. Một chiếc tàu của đại đội địch vỡ tan, súng ống trên tàu chìm xuống đáy sông. Xác lính địch nổi bập bềnh đầy mặt nước.

Sau đây là một vài thí dụ trích trong lời khen ngợi mà quân đội Pháp đã tặng cho những tên địch chết hoặc còn sống:

Lời khen của sư đoàn cho Têtar, lính hạng nhì:

“Trong trận bị phục kích ở Phủ Đoan, ngày 24-10-47, Têtar nhảy xuống Sông Lô. Và mặc dầu những loạt bắn khủng khiếp bằng đại bác và súng trường, liên thanh của địch, Têtar đã giúp để cứu những người bị trọng thương”.

Lời khen của quân đoàn cho đội trưởng Cortin:

“Đội trưởng Cortin đã tham gia chiến tranh ở Tunisie, ở ý, ở Đức. Bị Đức bắt làm tù binh, trốn thoát được. Ngày 24-10-47, đội trưởng Cortin đi với chiếc tàu chiến lên Sông Lô. Bị địch dùng đại bác và bazooka bắn vào rất khủng khiếp, tàu này bốc cháy. Đội trưởng Cortin đã tổ chức việc cứu vớt những người bị thương nặng và rơi xuống sông. Sau mấy phút đội trưởng Cortin cũng bị thương và tử trận”.

Lời khen của quân đoàn cho quan hai Biraud:

“Ngày 24-10-47, một trung đoàn V.M. có súng máy, bazooka và hai khẩu đại bác 75 ly, tập kích tàu trận ta ở Đoan Hùng. Tàu bị bốc cháy, bộ đội do quan hai Biraud chỉ huy đã chìm theo tàu hết, vừa chìm vừa hát quốc ca”.

Trong tài liệu ta bắt được, những giấy khen như thế, đóng lại thành một quyển dày như quyển tự điển.

KHÓC THAN KHÔN XIẾT

Ngày 25-l0-47, quan ba Michek viết cho bạn:

“Bạn xem, đời sống ở đây, không phải ngày nào cũng vui sướng đâu”.

Và đây là nhật lệnh của quan tư Lejosne đọc trước bộ đội Pháp ở Tuyên Quang:

“Chỉ trong hai ngày, đội ta đã mắc hai vố nặng (Coups très durs).

“Trận phục kích khôn khéo của địch hôm 22-10-1947 ở Mackhan và ở Phủ Đoan đã làm cho đội ngũ ta thua thiệt một cách nặng nề.

“Trong những cái hố đầy địa lôi khủng khiếp: quan nǎm Santus đã phải vớt xác những lính của ông.

“Lúc đầu cuộc tấn công, đại đội thứ 4 đã mất hết nửa số người và súng moócchiê. Nhưng trong những giờ khủng khiếp và luôn mấy ngày chết dở sống dở, đại đội thứ 4 đã tỏ ra dũng cảm vô cùng.

“Tôi rất lấy làm hân hạnh mà được chỉ huy những đội như thế.

“Khi đại bác và súng máy địch bắn cháy và chìm một chiếc tàu trong chốc lát, một tiểu đội vừa chìm theo tàu, vừa hát quốc ca. Những bộ đội như thế thì làm gì cũng làm được.

“Bấy nhiêu người chết và mất tích, sự hy sinh của họ không phải vô ích vì họ hy sinh cho một mục đích cao thượng. Tức là làm cho nước Pháp trở lại cái địa vị vẻ vang khắp hoàn cầu.

“Vận mệnh đã hai lần rủi ro cho chúng ta. Rồi đây không thể nó không chuyển lại.

“Quan và lính trung đoàn thứ 43 sẽ càng đồng tâm hiệp lực để tranh đấu cho mục đích mà nhiều người đã hy sinh vì nó. Trung đoàn thề sẽ cố làm cho mục đích đó thắng lợi và sẽ báo thù cho những người đã hy sinh xương máu để giữ vững địa vị của nước Pháp ở Đông Dương”.

Tuyên Quang, ngày 25tháng 10 nǎm 1947
Tiểu đoàn trưởng Lejosne ký

Chúng ta có thể nói rằng: Nhật lệnh của đoàn trưởng Lejosne là:

“Rằng hay thì thật là hay,

Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!”.

13 HOÁ RA 31

Trong những ngày trung đoàn 43 mắc chết ở Sông Lô, thì đạo quân Beaufré cũng mắc chết ở nơi khác. Sau đây là vài bức điện do đạo quân ấy gửi:

– Gửi cho đội C.

Tàu mắc cạn. Đang tìm thuyền. Phà không đi được vì nước to quá.

Đã chiếm được làng X. sau khi kịch chiến. Tàu vẫn mắc cạn như hôm qua. Nhớ thả dù đạn dược và lương thực cho hai ngày. Tối nay không có gì ǎn nữa.

Ký tên: Kergaravat

– Gửi ông Kerga.

Khó thả dù vì trời u ám. Cho các đội dùng dấu hiệu mà liên lạc với các máy bay bay qua đó.

Ký tên: Frappa.

Đến Na Đôn sau khi kịch chiến, ta chết 32 trong đó có quan ba Roussel, 12 bị thương nặng. Không thể đi Bản Thi nếu không gửi lừa ngựa và tiếp viện thêm. Đây không bắt được người phu nào, mà lính ta thì mệt nhọc quá.

Ký tên: Kerga.

– Gửi ông Kerga:

Đội trưởng Petit đến Bắc Nhung sau một cuộc kịch chiến. Ta chết 14 người, trong đó có quan hai Malval, 15 bị thương.

Ký tên: Communal

Đội trưởng Pillet viết cho bạn:

“Ngày nào cũng bị bọn quỷ V.M. tập kích. Mỗi lần bị tập kích là có chết và bị thương… Nếu không có súng đì đoành thì đi thế này cũng như đi chơi. Xong tiếc thay bọn V.M. cứ bắn đì đoành khắp nơi”.

Mà thật vậy, ở đâu quân địch cũng vấp vào bước khó khǎn. Phía Sông Lô, Sông Gầm thì tàu và canô địch bị đánh đắm hoặc bị phá hỏng. ở Đèo Gà gần Chiêm Hoá thì bộ đội Communal bị vây hôm 20-10-1947 và mất hơn 100 chết và bị thương. Bộ đội địch ở Chợ Đồn mục đích liên lạc hai đạo quân Communal và Beaufré bị dân quân du kích ta quấy rối và tiêu diệt mất hơn nửa lực lượng cho nên cũng không liên lạc được.

Thành thử hai đạo quân Communal và Beaufré định gặp nhau ở Đại Thị ngày 13-10 nhưng đến 31-l0 cũng chưa gặp nhau mà sẽ không bao giờ gặp nhau vì tướng Communal đã chuồn về Hà Nội rồi.

SÔNG LÔ ĐẦY XÁC

Ngày l0-11-1947, bộ đội Pháp kéo xuống Sông Gầm. Bên thuỷ thì do quan tư Kergaravat và Petit chỉ huy. Bên bộ thì do quan ba Bruneau lãnh đạo.

Bội đội Pháp đang nghênh ngang kéo đi đến ngã ba Sông Lô thì bất thình lình bị đại bác, bazooka, súng máy, súng trường, lựu đạn ta bắn vào. Tiếng đạn lẫn tiếng reo làm vang trời chuyển đất.

Kết quả trận phục kích này Pháp bị đắm hai thuyền, 3 tàu bị hỏng, hơn 350 quan và lính bị chết đạn, chết cháy và chết trôi.

Từ 2 giờ trưa đến 3 giờ sáng, lửa cháy vùn vụt, xác nổi lềnh bềnh hơn l cây số trên Sông Lô. Đến nỗi nước sông thối mấy ngày không dùng được.

Sau đây là trích vài đoạn trong vài giấy khen ngợi lính sống và quân chết do tướng Communal ký để chứng tỏ trận phục kích ấy:

– “Eballe, lính.

Ngày 10-11-47 tại Sông Lô mặc dầu các tàu ta bị V.M. dùng pháo binh và súng máy bắn dữ dội. Eballe vẫn đeo lấy chiếc tàu đã bị phá hỏng…”.

– “Demaeght, cai.

Ngày 10-11-47 tại ngã ba Sông Lô và Sông Gầm trong lúc địch dùng hai đại bác và nhiều súng máy bắn dữ dội vào đội tàu ta và nhiều người đã chết và bị thương. Cai Demaeght vẫn giữ tinh thần trấn tĩnh…”.

– “Cottin, đội phó.

Ngày 10-11-1947 tại Sông Lô trong lúc V.M. đánh dữ dội vào đội tàu ta và bắt đầu cuộc phục kích thì đội trưởng đã thiệt mạng, đội phó Cottin vẫn làm tròn nhiệm vụ cho đến phút cuối cùng…”.

Còn đây là bản quyết định của quan tư Petit chỉ huy tiểu đoàn thứ 45 :

Quyết định:

“Xét vì kết quả những cuộc chiến đấu vừa qua buộc bản chức phải dùng những phương pháp để củng cố tiểu đoàn ta.

Đó là những điều cần kíp quân sự không thể tránh được.

Nay phải nhập 4 đại đội thành 2 đại đội mới đủ lực lượng như những đại đội thường.

Việc này cần phải làm ngay.

Vì vậy trong lúc chờ đợi tiếp viện, đội thứ 2 và đội thứ 3 sẽ nhập vào đội thứ l và đội thứ 4″.

Ngày 13tháng 11 nǎm 1947
Ký tên: Petit

Thế là quan nǎm Santus phải nhập bốn tiểu đội thành hai tiểu đội vì số người chết và bị thương nhiều quá.

Còn quan tư Petit phải nhập 4 đại đội thành 2 đại đội. Cũng vì thế mà tướng Communal phải ra lệnh cho các bộ đội địch còn ở phía trên cấp tốc rút xuống Tuyên Quang. Nhưng đến cây số 34 lại bị ta tập kích làm địch mất hơn 60 chết và bị thương.

Ngày 22-11-47 đạo quân Communal chia làm 2 toán. Một toán theo đường bộ, l toán theo đường thủy rút ở Tuyên Quang về xuôi. Họ để lại rất nhiều súng ống đạn dược và mấy đám nghĩa địa đầy mả lính Tây.

Gọng kìm khổng lồ phía này thế là bị ta bẻ gẫy.

Ngày 15-11-1947, chú lính Pernot gửi thư cho vợ:

“Nếu ta có con, ta sẽ không để chúng nó đi vào cái xứ khủng khiếp này”.

CON ĐƯỜNG ĐẪM MÁU

Gọng kìm phía Nam đã gãy, gọng kìm phía Bắc cũng lung lay.

Ngày 20-10-47 một đội quân Pháp trên đường Bắc Cạn – Cao Bằng bị ta chặn đánh, địch mất hơn 30 chết và bị thương.

Quan hai Bailly viết thư cho vợ:

“Anh em ta bị V.M. phục kích. Ta mất 31 người chết, trong đó có 2 sĩ quan và 3 hạ sĩ quan. Trong một tháng chúng ta mất 6 sĩ quan. Hôm vừa qua quan hai Bertrant và quan hai Webert, cũng tử trận với 41 hạ sĩ quan và lính. Thế mà người ta bảo ở Đông Dương hết chiến tranh rồi”.

Nhưng đó chỉ là cuộc tập kích đầu, để khơi mồi cho những cuộc tập kích khác.

Ngày 23-10, một bộ đội Pháp từ Bắc Cạn đi tiếp viện Chợ Đồn bị ta phục kích. Hai xe cam nhông địch rơi xuống hố, người và súng cùng rơi theo. Địch phải rút lui về Bắc Cạn.

Ngày 26-10 địch kéo từ Bắc Cạn qua Chợ Mới cũng bị ta phục kích. Đây là lời quan hai Bailly thuật lại trận ấy:

“Quan tư kéo bộ đội đi… Vừa cách đồn ta mấy cây số thì thình lình bị phục kích … Chúng ta mất 25 người bị thương trong số đó có l0 người chết, sau mấy tiếng đồng hồ … Bộ đội ta đương đầu với một bọn địch đông hơn ta và thạo đường sá hơn ta, cho nên phải rút trở về”.

Quan một Riallaut viết thư cho bạn cũng nói như thế:

“Cuộc tập kích Chợ Mới làm cho chúng ta thiệt hại rất to”.

Lính mũ đỏ Conraux cũng viết:

“Hôm đầu hơi lặng lẽ. Nhưng bây giờ rắc rối lắm”.

Ngày 20-l0, một toán 33 xe địch chở quân nhảy dù từ Cao Bằng về Lạng Sơn. Đi đến đèo Bông Lau bị đại bác, moócchiê và súng máy ta tương vào 27 xe bị phá tan, có mấy chiếc nhào xuống hố. Hơn 200 lính nhảy dù và lính thường chết và bị thương.

Báo Pháp và báo Việt gian ở Hà Nội cũng không giấu được cuộc thất bại này. Tinh thần quan và lính Tây rất hoảng hốt.

Đội trưởng Hervo viết:

“Đời sống ở đây không yên ổn gì. Ngày nào cũng có anh em chết. Chiều hôm qua chúng ta lại có mấy người chết, mấy người bị thương, 1 chàng thanh niên 19 tuổi bị cưa mất một chân. Tội nghiệp quá”.

Ngày 18-1-48 trên đường Lạng Sơn – Cao Bằng, địch lại bị 1 vố nữa. Lần này chúng bị phục kích ở Lũng Vài và Bố Củng.

Bốn xe địch chở 47 tên lính và nhiều súng đạn hạng nặng đi tiếp tế cho 1 bộ đội khác trên đường số 4. Ta chặn đánh. Địch chỉ chạy thoát được 3 tên, còn 44 tên bị ta tiêu diệt trong đó có 2 tên đội, 2 tên quản, 3 tên quan hai, 1 tên quan một. Bao nhiêu súng ống và vật liệu trên 4 chiếc xe ta lấy được hết.

Thế là gọng kìm phía Bắc cũng gãy như là gọng kìm phía Nam.

“Lúc đi nhiều kẻ hy sinh,

Lúc về nhiều kẻ bỏ mình tha hương”.

Đó là một câu trích trong bức thư l người lính Pháp viết cho bạn nó.

Như đã nói trên đây, đạo quân Communal chia làm hai toán. Một toán thủy chuồn xuôi Sông Lô đến La Hoàng lại bị ta chặn đánh. Một toán bộ chuồn theo đường Tuyên Quang – Thái Nguyên để về Vĩnh Yên. Đến Bình Ca, Sơn Dương, lại bị ta chặn đánh, tổn thất khá nhiều.

Viên đội Bicard viết cho vợ:

“ở Pháp người ta nói hết chiến tranh rồi. Kỳ thực ở đây chiến tranh vẫn tiếp tục. Lúc đi nhiều người bị hy sinh. Lúc về cũng như vậy”.

Đạo quân Beaufré định 14-10 đến Chợ Chu nhưng mãi đến 25-11 mới đi đến. Nghĩa là chậm mất 41 ngày. ở Chợ Chu 9 hôm, rồi cũng phải rút lui.

Đạo quân này đi qua Quảng Nạp, Đình Đôi, Quán ông Lão, bị ta liên tiếp đánh úp mấy trận mất hơn 200 chết và 100 bị thương.

Qua Phục Linh bị ta đánh 1 trận địch chết 150 và 70 bị thương.

Qua Sơn Cốt lại bị 1 trận nữa hơn l00 chết và 50 bị thương.

Trong lúc đạo quân Communal và đạo quân Beaufré đang lâm vào bước điêu đứng thì Tổng tư lệnh Pháp ở Hà Nội cho quân đi cứu họ.

Ngày 26-11-47 hai đại đội quân Pháp nhảy dù xuống Vũ Nhai, Tràng Xá và vài nơi khác ở Thái Nguyên. Đồng thời một trung đoàn do quan nǎm Giraud chỉ huy kéo từ Cầu Đuống, Phả Lại qua Bắc Ninh, Phủ Lạng Thương lên Yên Thế, gần Bắc Ninh đạo quân Giraud lại mất hơn 200 bộ hạ chết và bị thương rồi cũng rút trở về.

Tổng tư lệnh Pháp phái một đạo quân từ Hoà Bình kéo sang phín Bắc để tiếp viện đạo Communal. Đến Thu Cúc bị ta chặn đánh chúng để lại hơn 100 chết và bị thương còn 200 lính Thái thì mang cả súng chạy sang phía ta.

Đến Tô Vũ lại bị một vố nữa, lại mất hơn 100 chết và bị thương.

Trong lúc đó quân Communal cũng bị ta đánh rát ở Liêu Sơn và ở Phan Lương. Một điều đáng chú ý là trong những trận này bộ đội ta lấy súng địch đánh lại địch. Trong lúc rút lui, đạo quân Beaufré đi 30 ngày mới được 150 cây số, tức là mỗi ngày đi được 5 cây số. Còn đạo quân Communal thì để mồ tử sĩ rải rác khắp dọc đường.

Viên đội Francis viết:

“Tôi lo lắm. Chúng ta không tiến được. Không biết mấy ngày mấy tháng nữa mới đi đến nơi”.

MỘT THÁNG THƯƠNG TÂM

Tàn quân Communal và Beaufré đã rút về Hà Nội. Dù sao cũng tạm yên thân. Song những bộ đội Pháp còn ở trên con đường Lạng Sơn, Bắc Cạn, Cao Bằng lại lâm vào cảnh khốn đốn.

Sau đây là tờ báo cáo công việc trong một tháng của quan nǎm Carbonnel.

“…Từ ngày 1-1-48 trung đoàn của tôi phải phân tán thành nhiều tốp. Việc đó không khỏi làm cho các cán bộ than phiền. Sau những trận thua thiệt ở Nam Kỳ, sau những tuần vật vã ở phía Bắc, tiểu đoàn này lại mất 4 sĩ quan trong khoảng 15 ngày, 2 quan hai và 2 quan ba.

“Địch quấy rối cứ điểm và đường giao thông ta luôn luôn không ngớt. Đã có nhiều trận khá to, chứng tỏ địch gan góc liều lĩnh và kiên quyết đẩy chúng ta ra khỏi xứ này. Những cuộc phản kích của địch chuẩn bị rất cẩn thận và thi hành rất mạnh dạn.

“ở Bắc Cạn ban đêm thường thường bị quấy rối. Đã mấy lần địch mò vào tận phòng tuyến của ta. Thí dụ đêm 26, 27 tháng trước, 1 đại đội V.M. đã tiến công vào chỗ ta và làm ta thiệt 1 sĩ quan và 9 lính.

“Nà Phặc cũng bị quấy rối nhiều lần, tổng cộng chúng ta mất 36 chết và 43 bị thương.

“Đèo Giàng bị phục kích hai lần. Ngày 6-12-47 ta mất 26 chết và 15 bị thương. Ngày 14-12 ta 12 chết và 8 bị thương.

“ở Nước Hai và Nguyên Bình có đội du kích Cao Bằng cũng súng ống đạn dược đầy đủ. Lại có 1 đội nghĩa quân người ngoại quốc đủ súng máy, moócchiê chuyên môn đánh đội tiếp tế của ta.

“Bộ đội ta ở Khuôi Sao và đội tiếp tế cũng bị phục kích mấy lần. Chúng ta mất 25 chết và 12 bị thương ở đó.

“Bộ đội ta ở An Lão và Mã Phục cũng luôn luôn bị tập kích.

“Tôi được tình báo rằng: Địch sẽ tập kích ta trong dịp kỷ niệm ngày 19 tháng chạp và ngày tết Nôen. Quả nhiên hôm 23 tháng chạp trên đường Đông Khê – Cao Bằng địch tập kích trên 1 mặt trận dài 800 thước có đủ súng máy liên thanh, lựu đạn và bẫy. Chẳng may 1 đại đội người Phi châu đi xe qua đã bị thiệt hại rất to.

“Trận thứ hai vào đêm 26, 27 ở Thất Khê. Tôi đến Thất Khê để chuẩn bị l cuộc tấn công vào Po Ma. Có lẽ vì không giữ được bí mật cho nên nửa đêm thì chỗ tôi đóng bị phục kích tợn. 18 người bị thương trong đó có quan ba Taco. Một mặt địch tập trung 2.000 người để giữ Po Ma.

“Nói tóm lại: địch tỏ ra đánh hǎng.

“Mặc dầu nói ra thì ngại ngùng nhưng ta phải thừa nhận rằng: Suốt cả tháng 12 địch đã giữ quyền chủ động, họ luôn luôn tấn công ta trên đường giao thông cũng như ở các cǎn cứ điểm.

“Kết luận: Tháng Chạp là thời kỳ rất hoạt động của địch. Chúng ta bị thua thiệt rất đau đớn, nhất là ta đã mất chín sĩ quan”.

Ngày 1tháng 1 nǎm 1948
Ký tên: Quan nǎm Carbonnel

NAM BẮC MỘT LÒNG

Trong lúc địch tấn công vào Việt Bắc thì đồng bào và chiến sĩ ta ở Trung Bộ và Nam Bộ hoạt động ráo riết.

Plékou, Phan Rang, Cần Thơ, Tân An, Tây Ninh, Vĩnh Long, Mỹ Tho và nhiều nơi khác, nơi nào địch cũng bị tấn công.

Sài Gòn – Chợ Lớn là vùng địch chiếm đã hơn 2 nǎm, mà đêm 4-l-48 cũng bị ta đánh tợn. Suốt mấy tiếng đồng hồ, moócchiê, bazooka, súng máy và lựu đạn ta bắn tủa vào thành phố, động đất vang trời để hưởng ứng cuộc phản công của ta ở Việt Bắc.

Thế là cuộc tấn công của địch vào Việt Bắc đã thất bại.

Sau đây là những con số thiệt hại bên địch và bên ta, từ ngày 7-l0-47 đến 25-12-47.

BÊN PHÁP

– 3.300 người bị chết trong đó gần 100 võ quan cấp uý và tá.

– 3.900 người bị thương.

– Một số bị bắt làm tù binh.

– 270 thân binh sang nhập ngũ bộ đội V.N.

– 18 chiếc phi cơ bị hạ và bị huỷ.

– 16 pháo thuyền bị đắm hoặc bị phá.

– 38 canô nhớn nhỏ bị đắm hoặc bị phá huỷ.

– 255 xe bị đốt phá hoàn toàn.

– 13 máy vô tuyến điện bị phá.

– 85 mortiers bị hỏng.

– 90 bazookas bị hỏng.

– 762 đại, trung, tiểu liên thanh bị phá.

– 4.100 súng trường bị phá, cùng với l số quân dụng rất lớn.

– 1 Phái đoàn tham mưu của Bộ Tổng tư lệnh miền Bắc Đông Dương bị chết.

– 1 phần bộ tham mưu trung đoàn 43 bị chết.

BÊN TA

– 200 tự vệ, dân quân và V.Q.Q. chết.

– 168 bị thương.

– 26 đội viên mất tích.

– 1 khẩu đại bác 75 ly do ta tự phá huỷ.

– 4 trung liên thanh bị hỏng.

– 48 súng trường bị phá.

– Hơn 2.500 trâu bò bị giết.

– Hơn 3.760 nóc nhà bị Pháp đốt.

TA THU ĐƯỢC

– Một số rất lớn các giấy tờ quan trọng của Bộ tham mưu Pháp.

– 2 khẩu đại bác l05 ly.

– 3 khẩu đại bác 75 ly.

– 42 mortiers.

– 16 đại bác 20 ly.

– 357 liên thanh các cỡ.

– 45 bazookas và rất nhiều đạn.

– 1160 súng trường.

– Hàng chục tấn đạn dược và các đồ quân nhu quân dụng, nhất là trong các tàu chiến và ca nô địch bị đắm.

Chắc có người lấy làm lạ, vì sao Pháp có súng ống tốt như thế, mà số chết và bị thương lại to gấp 10 lần bên ta? Thì có gì lạ đâu: ta đánh du kích, đánh địa lôi, ta thấy địch mà địch không thấy ta. Thành thử nhiều khi ta giết hàng chục hàng trǎm tên địch, mà bộ đội ta không có một người nào bị thương.

*

*      *

Thực dân thất bại. Thực dân muốn chữa. Nhưng cuộc nói phét của chúng cũng thất bại cũng như cuộc tấn công kia. Ngày 9-1-48 Tổng tư lệnh Pháp ra một tờ thông cáo về trận Việt Bắc. Cũng trong ngày ấy, Bộ tuyên truyền Pháp tổ chức một cuộc trưng bày “thắng trận”. Tiếc vì hai bên không bàn với nhau, cho nên nói khác nhau. Thành thử lòi đuôi ra. Đây là vài con số láo toét của họ:

Bên Tổng tư lệnh địch                                    Bên Bộ tuyên truyền địch

V.M. chết 6000                                                           10.000

V.M. mất 547 súng trường                                         3.000

5 đại bác                                                                        11

11 liên thanh                                                                200

5 xuồng máy                                                                25

2 rađio                                                                          40

Vân vân. Thực rõ bọn thực dân lấy ý muốn làm sự thực!

MẤY BỨC THƯ

Những nấm nghĩa địa chôn lính Pháp rải rác từ Chiêm Hoá đến Lạng Sơn đủ làm chứng sự thất bại của Pháp. Nhưng mấy bức thư (trong hàng trǎm bức thư khác) sau đây lại tỏ rõ thêm cuộc thất bại của bọn thực dân.

Viên đội Noel viết:

“Tôi mong rằng: xong trận này, thì họ để chúng tôi về Pháp… Máu đổ nhiều rồi, bao giờ hoà bình trở lại?”.

Tiểu đội trưởng Bottine viết:

“Những lời rêu rao của bọn to đầu (Pháp), tức là những lời chửi rủa những anh em ta đã bị hy sinh. Tôi tự hỏi: Bao giờ trò hề ấy sẽ chấm dứt? Bao giờ sự thật sẽ được rõ ràng?”.

Lính nhảy dù Lamoise viết cho vợ:

“Em ơi! Không biết em có yêu anh nữa chǎng, vì anh đã bị thương hàn hạng nặng! Chưa bao giờ anh run như thế này. Mà không phải chỉ một mình anh, tất cả những người bạn anh đều rung khắpkhắp”.

Quan ba Bourdeaux viết cho bà Bourdeaux:

“Người ta thường nói xứ này nước độc. Nhưng tôi không ngờ nước độc đến thế này. Trung đội của tôi, 30 người sốt rét, 20 người bị hắc lào”.

Đội trưởng Paureau viết:

“Đã 3,4 ngày, 8 người bị thương nằm chờ không có thuốc. Ba người đã chết rồi. Sao họ không thả dù thuốc? Nếu có thuốc thì những người đó không đến nỗi chết, tội nghiệp như thế. Không có máy bay để thả dù thuốc, nhưng nếu tướng Salan muốn đi chơi thì bao nhiêu tàu bay cũng có!”.

Ngoài những thư than phiền vì bệnh, lại có nhiều thư than phiền vì đói rét. Bộ đội Pháp chỉ ǎn đồ hộp Mỹ. Nhưng đồ hộp đó đáng lẽ chỉ dùng đến nǎm 1942 thì thiu, không nên dùng nữa. Nhưng người Pháp vẫn dùng, chẳng những vẫn dùng mà không có đủ mà dùng.

Điện quan tư Kergaravat gửi quan nǎm Communal: “Nhớ gửi ngay hai ngày lương thực. Chiều nay chưa có gì cho bộ đội ǎn”.

Đội trưởng Laussel viết:

“Ban đầu thì có gà, có lợn. Nay ǎn mãi hết rồi. Bánh mì cố nhiên không có”.

Báo cáo quan hai Logier, ngày 3-12-47:

“Tháng này, tình hình chẳng hơn gì tháng trước. áo và chǎn vẫn thiếu. Nếu áo chǎn chỉ gửi đến sau mùa rét, thì đó là một điều rất đáng tiếc. Giày cũng vẫn thiếu”.

TINH THẦN SÚT KÉM

Vì luôn luôn bị ta chặn đánh và quấy rối, vì người ốm thiếu thuốc men, người khoẻ thiếu ǎn mặc, cho nên tinh thần quân đội Pháp sút kém dần dần.

Quan tư Lejosne viết báo cáo ngày 3-11-47:

“Tinh thần của bộ đội đã đến chỗ nao núng”.

Mấy bức thư sau đây, chứng tỏ rằng lời báo cáo của quan tư Lejosne không sai:

Viên đội Bicard viết thư cho cha mẹ:

“Ngày tháng kéo dài, bộ đội ta càng nhiều người chết. Đó là chiến tranh! Mong rằng giấc ác mộng kinh tởm này sẽ chấm dứt mau”.

Tiểu đội trưởng Paureau viết cho anh em:

“Cuộc chiến tranh phi nghĩanày bao giờ sẽ chấm dứt, để chúng ta được sống một đời hoà bình trong gia đình ấm áp của chúng ta”.

Đội trưởng Frustié viết cho vợ:

“Em có biết chǎng, anh đã chán chường với bộ đội rồi, vì những lẽ mà anh không thể viết rõ trong thư này. Anh không biết anh có thể ở đây cho đến ngày mãn hạn không? Anh không chắc lắm, vì anh trông thấy nhiều điều nó làm cho anh thương tâm quá. Vả lại bánh chẳng có, rượu cũng không, chán lắm. Chán lắm. Đó cũng là một lẽ mà anh quyết thoát ly bộ đội”.

Lính mũ đỏ Lanoise viết cho bạn gái:

“Chẳng có gì vui vẻ gì cho những người cả ngày mạo hiểm bị đánh bể đầu (se font casser la gueule). Cái đời của một người lính chỉ là một cái đời buồn bã. Tôi chỉ ước mong được trở về nhà cho mau…”.

Quan hai Logier viết:

“Những tin tức về sự phá sản chính trị và kinh tế của Pháp, không thể làm tǎng gia lòng phấn đấu của những người Pháp ở đây. Người ta tự hỏi: Những sự hy sinh và cố gắng của mình sẽ vô ích chǎng?”.

Quan ba Thibaut viết:

” Xem địa đồ, thì bạn sẽ thấy từ Hoà Bình chúng tôi đã đi bao nhiêu đường. Bọn V.M. đông không thể tưởng tượng được. Chúng tôi đã bị phục kích nhiều lần, và đã thua thiệt khá nhiều.

“Từ ngày chúng tôi đến đám rừng này, có một trung đoàn V.M. súng ống đầy đủ, vây xung quanh chúng tôi. Về phần tôi, tôi đã bắt đầu thất vọng. Tôi thấy rằng những công việc chúng tôi làm là vô ích. Chúng tôi không quét được gì hết, vì vừa đi qua, địch liền trở lại ngay.

“…Theo ý tôi, thì chính sách này là chính sách vu vơ.

“Thưa thầy, tôi phải nói lại một lần nữa rằng:

“Tôi đã hoàn toàn chán nản, và vì thế mà sức tôi càng yếu đi. Tôi không có hứng thú làm gì hết nữa”.

Báo cáo của quan tư Lejosne viết ngày 13-11-47:

“Tinh thần đội số 1 cũng như tinh thần các đội khác. Cần phải có một cuộc thắng trận để gây cảm tưởng rằng những cuộc thất bại đã được bồi đắp, vì tinh thần của đoàn rất kém.

“Vì chết chóc nhiều trong trận phục kích của địch ngày 22-10, mà tinh thần đội số 2 đến nay vẫn còn thấp kém. Họ có cảm tưởng rằng từ trước đến nay cứ bị vận hạn đến dữ. Những hạ sĩ quan và đội trưởng tốt nhất đều chết hoặc bị thương, cho nên tinh thần cán bộ cũng lay động.

“Đội số 4- Vì trận đại bại của thủy quân, nên rất chán nản. Cán bộ ra sức giữ tinh thần, nhưng không nên đem ra trận lần nữa, vì tinh thần sẽ suy sút rất mau”.

KỶ LUẬT HÙNG HỔ

Nhật lệnh của quan ba Morand ngày 18-11-47:

“Đã nhiều lần, những cán bộ chịu mệnh lệnh phụ trách công việc, nhưng không chịu làm. Họ tự bỏ công việc, mà không báo cáo. Đó là những hành động rõ ràng vô kỷ luật”.

Báo cáo của quan ba Lejo gửi quan nǎm (tên gì không đọc được):

“Thưa ngài. Tôi kính trọng trình ngài tờ báo cáo của quan hai Brenac về việc mất cắp 15 hòm đồ hộp Mỹ, ngày 10-11-47.

‘Tôi xin ngài sẵn lòng phát cho 15 hòm khác!”.

Đại đoàn trưởng Đoàn số 43 gửi quan nǎm vǎn phòng số 4:

“Tôi kính trọng gửi trình ngài tờ báo cáo của quan hai Biraud về việc mất cắp đồ đạc ngày 17-11-47.

“Người hạ sĩ quan trực nhật hôm đó bị những sĩ quan và hạ sĩ quan các đội mới đến lừa gạt, cho nên xảy ra việc đó…”

Báo cáo của quan ba Michaud ngày 18-11-47:

“Những tù binh người Đức trong bộ đội ta trốn đi ngày càng nhiều”.

Thông cáo ngày 5-12-47:

“Bộ đội ta nhờ Mỹ tiếp tế. Thế mà nhiều quan binh ta quen thói xài phí quá chừng.

“Các sĩ quan ta phải hiểu rằng: Tình hình kinh tế và tài chính không cho phép ta hoang phí như trước nữa, chúng ta sinh hoạt nhờ vào những thứ để dành từ nǎm 1945, những thứ đó tích trữ rất khó nhọc, và thế rồi là hết. Ngân sách của chúng ta càng ngày càng giảm bớt. Những vật liệu ở Pháp không gửi đến, chúng ta lại không có tiền ngoại quốc để mua ở ấn Độ và Phi Luật Tân. Vả chǎng vật liệu các xứ đó rất đắt đỏ, vì giá đồng tiền Pháp đã giảm sút.

“Đồng thời ta phải chú ý rằng: những thùng đựng dầu xǎng, những dù nhảy tàu bay (mỗi tấn giá 150.000 quan) và những vật liệu đặc biệt khác, càng ngày càng hiếm, thế mà vừa rồi những vật dụng, trong những cuộc hành quân vừa rồi, bị các đội bộ binh lấy cắp mất nhiều”.

Ký tên: Tướng Salan

Chuyện thú vị nữa, là đối với việc khen thưởng, có khi người sống tranh người chết, quan tranh với lính. Sau đây là một thí dụ:

Quan ba Bordeaux viết cho quan ba Nicolas trong Bộ tổng tham mưu Pháp:

“Tôi sắp được giấy khen. Nhưng nay nhiều người chết và bị thương, mà cấp trên lại định để đánh giấy khen cho những người chết và bị thương nặng đã. Tôi biết bạn có thế lực lắm, vậy nên tôi mong rằng khi đề đến tôi nhờ bạn phê đơn cho tôi trước”.

ĐÂY LÀ VǍN MINH

Bọn thực dân Pháp luôn luôn khoe miệng rằng: Chúng chỉ có một mục đích cao thượng, là khai hoá vǎn minh cho dân Việt Nam. Song những hành động tối dã man của chúng đã khiến cho những người còn có chút lương tâm trong đám chúng cũng phải than phiền.

Viên y tá Florantin viết cho cha mẹ:

“Thưa thầy mẹ, con không ngờ người ta mà nỡ lòng phạm đến việc tàn sát đàn bà trẻ con, đốt phá cướp bóc, như mắt con đã trông thấy… Con thú thật rằng con xấu hổ cho loài người, con xấu hổ cho người Pháp”.

Tên lính nhảy dù Mayette viết:

“Bọn Việt Minh không phải là người, và người ta giết chúng như giết lợn”.

Vài thí dụ:

Theo tờ báo cáo của tỉnh Phúc Yên, thì trong vùng đó có 117 phụ nữ bị hiếp, trong số đó có hai bà cụ ngoài 70 tuổi, 26 em bé chưa đầy 10 tuổi.

Sau khi quân Pháp rút khỏi Chợ Chu, người ta tìm thấy gần trường bay 5 cái xác trẻ em gái, ở phía dưới bị xé rách một cách thê thảm.

Bọn Pháp chẳng những hãm hiếp phụ nữ, mà hãm hiếp cả đàn ông. Chẳng những hãm hiếp người mà hãm hiếp cả súc vật.

Giết người, cướp của, đốt nhà, phá nhà thờ, đốt đền chùa, bẻ thánh giá, đập tượng Phật, đó là những hành động “vǎn minh” của chúng, mà chính Bôlae cũng phải thừa nhận. Chúng đi đến đâu là gieo rắc thảm hoạ đến đó.

Đây là một bức thư “vǎn minh” tên quan ba Diot ở vùng Suuyt gửi cụ Đinh Công Phú, lãnh tụ đồng bào Mường và giữ chức Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Hoà Bình:

“… Ông chống cự lại bộ đội Pháp.

“Đương cục Pháp không thể để thế mãi… Nhưng theo nguyên tắc khoan hồng của người Pháp, đương cục Pháp sẽ để cho ông một dịp cuối cùng.

“Thay mặt cho bộ chỉ huy là kẻ bảo hộ xứ này, tôi ra lệnh cho ông một lần cuối cùng: Trước ngày 15 tháng 11 nǎm 1947, ông phải đem nộp tất cả súng ống và bộ hạ của ông cho tôi. Nếu quá hạn đó mà ông chưa làm theo lệnh này thì tôi sẽ đốt hết các làng, đốt sạch cả lúa, lấy hết cả trâu bò, bắt hết cả dân sự, sẽ làm cho xứ sở ông tan nát, sẽ truynã ông đến cùng, và sẽ không để cho ông trông thấy quê cha đất tổ của ông”.

Ngày 25tháng 10 nǎm 1947
Ký tên: Quan ba Diot.

Đó đồng bào đã thấy “vǎn minh” của Pháp chưa?

Trong những giấy má thư từ ta bắt được của Pháp, phần nhiều là nhớ vợ, nhớ nhà, muốn về, than phiền vì cực khổ. Cũng có nhiều thư hứa hẹn gửi tiền về. Có mấy tên, trong 1 tháng trước khi tấn công Việt Bắc, đã gửi về nhà… lần tiền, mỗi lần hàng vạn bạc Tây. Tiền ấy ở đâu ra. Không nói thì ai cũng biết.

Song cũng có những bức thư mà chúng ta nên chú ý. Những thư này nói cho ta biết vùng nào ta phá hoại đường sá triệt để, chúng đi chậm trễ. Vùng nào ta phá hoại sơ sài, chúng đi được mau chóng. Chúng lại mỉa mai đồng bào ta làm vườn không nhà trống một cách sơ suất người thì biết lánh vào rừng, nhưng gà vịt lợn bò thì để lại cho chúng ǎn, cho chúng giết, chỉ 2 tỉnh vùng B mà chúng giết hơn 2.500 con trâu bò. Đó là kinh nghiệm đau đớn mà đồng bào ta phải nhớ luôn luôn.

CON RỒNG CHÁU TIÊN

Việt Bắc là gốc tích tổ tiên Hùng Vương ta dựng nước. Là nền tảng chống ngoại xâm của ông cha ta, như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nùng Trí Cao. Là cǎn cứ chống Pháp của tiên liệt ta như cụ Hoàng Hoa Thám. Là cǎn cứ địa của cuộc dân tộc giải phóng, chống Pháp, chống Nhật. Là quê hương của Giải phóng quân, anh cả của Vệ quốc quân.

Đồng bào Việt Bắc gồm có Kinh, Thổ, Nùng, Thái, v.v., phong tục tập quán tuy có khác nhau ít nhiều, nhưng lòng nồng nàn yêu nước, lòng cǎm hờn thực dân, thì muôn người như một.

Lòng yêu nước của đồng bào, nhập với hình thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch, nó đã đánh tan cuộc tấn công của thực dân trong trận vừa rồi. Nếu muốn chép lại hết cả những sự hy sinh và oanh liệt của nhân dân, thì phải mấy quyển sách mới đủ. Vậy đây chúng ta chỉ nhắc lại vài thí dụ, để nói rằng tất cả các giới đồng bào toàn dân nhất trí đều hǎng hái tham gia công cuộc bảo vệ Việt Bắc.

Phụ lão. ở Tuyên Quang một cụ già ngoài 70 tuổi bị giặc Pháp bắt, hỏi: Bộ đội V.N. ở đâu? Cụ già ngang nhiên trả lời: Dân Việt Nam ai cũng đánh Pháp, ta đây cũng là một người trong bộ đội Việt Nam. Giặc tức giận đem cụ ra bắn. Trước khi chết cụ già còn hô to: Việt Nam độc lập muôn nǎm, Hồ Chủ tịch muôn nǎm.

ở Cao Bằng có một đội phụ lão du kích, do một cụ già 70 tuổi chỉ huy, đã cùng dân quân xung phong đánh giặc, ngǎn trở giặc không thể kéo qua làng để đi vây bộ đội ta.

Nhi đồng. ở Chợ Chu sáng ngày 27-11-1947, có 3 em nhi đồng từ 12 đến 14 tuổi, ném lựu đạn vào một đội lính tuần Pháp, tiêu diệt hết cả đội.

ở Cao Bằng gần Nước Hai, đầu tháng 12-1947 hai em nhi đồng 13, 14 tuổi giật mìn giết được 30 tên Pháp.

Phụ nữ. ở Cao Bằng, một chị đồng bào Thổ 17 tuổi, dùng dao đâm một tên lính nhảy dù, cướp được súng nó rồi bắt nó làm tù binh đem giao cho bộ đội ta.

ở Phúc Yên một bà già 60 tuổi bị giặc bắt. Bà cụ cắp được một quả lựu đạn, ném vào giữa một tốp giặc đang ngủ, giết chết 5 tên và bà cụ cũng hy sinh.

Nông dân. ở Thái Nguyên, một người nông dân bị giặc bắt đưa đường cho chúng. Anh ấy dẫn chúng nó đi vào chỗ ta đã chôn mìn. Toàn cả đội giặc bị tung lên trời chết hết. Anh ấy cũng hy sinh vì nước.

ở Tuyên Quang, 3 tên lính mũ đỏ vào làng cướp gà lợn. Một người nông dân nấp trong bụi bắn 2 phát súng kíp, giết chết cả 3 tên giặc. Anh ấy lấy được 3 khẩu súng và 3 cái ba lô đem về nộp cho đội du kích.

Binh sĩ. ở Bắc Cạn trong khi địch bắn ráo riết, 1 vệ quốc quân tên là Nguyễn Vǎn Phiên xung phong giết chết 5 tên địch, rồi xông vào đồn cướp lựu đạn địch ném vào địch làm chúng chết mấy tên nữa.

ở trận Phủ Thông ngày 30-11-1947, tiểu đội trưởng Chu Vǎn Vận một mình giết được 9 tên địch, phá được 3 ổ súng máy, cướp được hai súng Brenn, một súng Thompson, lấy súng địch bắn lại địch.

Công nhân. ở Chợ Chu, 3 anh em công nhân đánh địa lôi, giết được 24 tên địch.

ở Cao Bằng một tốp công nhân chặn địch đánh 2 trận trong 7 ngày, giết được 60 tên địch.

Mấy việc lẻ tẻ đó cũng đủ tỏ rằng: Con Rồng cháu Tiên, quyết không chịu làm nô lệ lần nữa.

MẤY LỜI KẾT LUẬN

Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Chính phủ, sự điều khiển khôn khéo của Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy, sự dũng cảm của tướng sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích, nhờ sự hǎng hái của toàn thể đồng bào, mà ta đã đánh tan cuộc tấn công vào Việt Bắc của thực dân Pháp.

Nhưng chúng ta phải luôn luôn nhớ và thực hành những lời Hồ Chủ tịch đã dạy bảo.

Chúng ta chớ tự kiêu tự đại, chớ chủ quan, chớ khinh địch.

Chúng ta phải luôn luôn chuẩn bị, cẩn thận đề phòng.

Các chiến sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích phải cố gắng luyện tập thêm.

Đồng bào hậu phương phải chuẩn bị làm vườn không nhà trống triệt để, phải hết lòng giúp đỡ bộ đội về mọi mặt.

Công việc canh giác phải nghiêm ngặt hơn nữa.

Công việc phòng gian trừ gian phải chú ý hơn nữa.

Công việc phá hoại phải tiếp tục.

Cách giữ bí mật phải tiến bộ hơn.

Phải ra sức tǎng gia sản xuất.

Phải sửa chữa những khuyết điểm và cố gắng phát triển các ưu điểm.

Đó là phận sự thiết thực của toàn thể và mỗi người công dân Việt Nam.

Thực dân chưa bị đánh quỵ. Chúng sẽ tấn công Việt Bắc lần nữa.

Chúng sẽ tấn công nơi này rồi đến nơi khác. Rồi đây, chúng sẽ lập chính phủ bù nhìn. Chúng sẽ dùng mưu độc ác đem người Việt đánh người Việt. Cuộc kháng chiến sẽ gay go hơn nữa.

Nhưng dù sao, với sự suy đồi của thực dân phản động, với sự sáng suốt của Chính phủ ta, với sự dũng cảm của chiến sĩ ta, với lòng kiên quyết của nhân dân ta, với sự ủng hộ của dân chủ thế giới, trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất độc lập nhất định thành công.

Viết khoảng cuối 1947, đầu 1948.
Tổng bộ Việt Minh xuất bản lần đầu tiên nǎm 1948.
Ký tên: Tân Sinh.
Theo sách Tổng bộ Việt Minh xuất bản
cpv.org.vn

—————————-

(21) Chiến dịch Việt Bắc thu đông nǎm 1947: Diễn ra từ ngày 7-10 đến ngày 22-12-1947.

Để thực hiện âm mưu tiêu diệt cơ quan đầu não và bộ đội chủ lực của ta, nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp đã mở cuộc hành quân mang tên Lêa Clôclô, tiến công lên Việt Bắc. Chúng đã huy động 20.000 quân tinh nhuệ, gồm 5 trung đoàn bộ binh, nửa lữ đoàn dù, 40 máy bay và phần lớn lực lượng thuỷ quân, cơ giới phối hợp.

Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng “phải phá cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp”, quân dân ta đã anh dũng chiến đấu trên khắp các mặt trận, đập tan kế hoạch đánh nhanh, tiến nhanh của địch, bảo vệ an toàn Trung ương Đảng và Chính phủ, bảo toàn và phát triển lực lượng, giữ vững cǎn cứ kháng chiến của cả nước, đuổi địch ra khỏi Việt Bắc. Chiến dịch Việt Bắc đã tiêu diệt 3.300 quân xâm lược và làm bị thương 3.900 tên, bắt sống 270 tên, bắn rơi 18 máy bay, bắn chìm và bắn cháy 54 canô và tàu chiến, phá huỷ 255 xe cơ giới, thu hàng nghìn súng và nhiều đồ dùng quân sự khác. Tr.341.

Thư gửi Ty Giáo dục, các hiệu trưởng, giáo viên và các cháu học trò khu X (1-1948)

(Nhờ Uỷ ban kháng chiến khu chuyển giao)

Tôi rất vui lòng nghe Đặc phái đoàn của Chính phủ đi kinh lý về báo cáo rằng:

Nhân viên giáo dục và học sinh khu X khá hoạt động và có nhiều sáng kiến tham gia công cuộc kháng chiến.

– ở mỗi trường có 1 vườn tǎng gia sản xuất.

– Học trò trường trung học kháng chiến ở Đào Giã, đã trồng được 80.000 cây sắn.

– Những trường tiểu học, các học trò đã trồng và đã lấy được khoai, ngô, sắn làm lương khô tặng bộ đội.

Nǎm nay, các trường đang trồng rau để bán lấy tiền giúp Quỹ thương binh và mùa đông kháng chiến.

– Học trò trường Cao Xá (Hạc Trì), sáng thì học, chiều thì giúp việc xã hội trong các làng, đã sửa được giếng, và lấy bông gạo may áo trấn thủ để tặng bộ đội. Ngày nghỉ thì đi thǎm thương binh.

– Các giáo viên đã quyên 1 ngày lương, để giúp thương binh.

– Trước kia trong khu không có trường trung học nào, từ ngày độc lập, trong khu đã sửa được 5 trường trung học.

– Đồng bào các xã đã tự hùn tiền mở 1 trường trung học.

– Nhờ sự cố gắng của ông Hiệu trưởng, và sự sốt sắng giúp đỡ của đồng bào trong làng, mà Yên Luật đã lập được l trường trung học.

– Do sự hoạt động của ông Ty trưởng Vương Kim Toàn và sự hǎng hái của nam nữ giáo viên bình dân học vụ mà đã có sách in để cho đồng bào thiểu số học.

Đó là những thành tích khá tốt đẹp trong mặt trận vǎn hoá của ta. Tôi thay mặt Chính phủ mà khen ngợi:

Các ông Ty trưởng giáo dục và bình dân học vụ,

Các ông Hiệu trưởng và anh chị em giáo viên, cùng các cháu học trò, đã áp dụng Học với Hành, đã thực hiện kháng chiến bằng vǎn hoá, vǎn hoá của kháng chiến.

Đồng thời, tôi cảm ơn đồng bào Cao Xá, Yên Luật, và các làng, mặc dầu những sự khó khǎn thiếu thốn trong lúc này, đồng bào đã ra sức ủng hộ giáo dục, ủng hộ kháng chiến.

Tôi mong rằng: nay đã sẵn cái nền tảng đó, các ông Ty trưởng, các anh chị em giáo viên, các cháu học sinh, cùng toàn thể đồng bào, cố gắng thêm, làm sao cho khu X trở nên một khu kiểu mẫu về mặt giáo dục cũng như về mặt kháng chiến.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 1 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh và huyện ba tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn (9-2-1948)

Các đồng chí có sáng kiến đặt kế hoạch ba tháng có đủ các mục chính trị, quân sự, kinh tế, v.v.. Như thế là tốt.

Tiếc vì các kế hoạch đó đều là chủ quan, không cǎn cứ vào thực tế, cho nên một khi gặp sự thử thách – như trận địch tấn công vừa rồi, thì tán loạn hết.

Khu XII, nhất là hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, là đất khá rộng, người khá đông, dân khá giàu, súng khá nhiều, trình độ cao. Đáng lẽ là một khu kiểu mẫu. Thế mà sự thực thì như thế nào ?

Về quân sự: Khi địch tấn công, ngoài một ít nơi, còn thì bộ đội chạy, du kích chạy, cơ quan chạy, cán bộ chạy. Để dân hoang mang, vất vả, cực khổ, thiệt hại, oán giận. Đến nỗi nhân dân làng này không cho đồng bào làng khác vào lánh nạn. Không chịu bán gạo, rau cho bộ đội.

Đó là một tình trạng rất đáng tiếc, đáng đau lòng! Trách nhiệm ấy ai phải chịu ?

Về hành chính: Cấp xã là gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi. Thế mà vì hẹp hòi, bao biện, không biết phân công. Vì nhân dân chưa biết lựa chọn để cử ra những người có nǎng lực. Vì cấp trên không biết cất nhắc, giúp đỡ, đốc thúc, kiểm tra, huấn luyện. Thành thử phần nhiều cấp xã là uể oải, thiếu nǎng lực, kém tinh thần.

Về kinh tế: Ba tỉnh ta, ruộng đất phì nhiêu, nhân dân chịu khó, đáng lẽ nông nghiệp được dồi dào. Thế mà dân thiếu vải muốn trồng bông, muốn nuôi tằm. Nhưng cán bộ không biết tìm hạt, tìm giống cho dân, hoặc tìm phải thứ xấu. Không chịu khó đi tận nơi mà bày vẽ cho dân.

Các đồn điền thì quản lý một cách sơ sài, luộm thuộm, không phát triển mà lại thoái bộ. Không lợi cho Chính phủ, không ích cho đông bào.

Tín dụng sản xuất thì thi hành sai mục đích. Cho vay để tiêu pha nhiều hơn là cho vay để sản xuất. Cũng không có tổ chức trong đám đồng bào nghèo cần vay để sản xuất.

Hợp tác xã không biết chọn những người có nǎng lực, có công tâm làm quản lý, để đến nỗi có sự nhũng lạm, phá sản, thiệt thòi cho dân, mất cả tín nhiệm.

Về vǎn hoá: Trừ một vài nơi như Tiên Du biết giúp mở trường trung học, làng Song Khê biết mở mang bình dân học vụ, còn các nơi khác thì cách dạy học vẫn cũ kỹ, sự học không thiết thực với sự hành. Bình dân học vụ cũng không được phát triển như các tỉnh khác, khu khác.

Thông tin, tuyên truyền thì chậm chạp, thiếu thốn. ở các thôn xã nhiều khi hàng tháng không có tin tức.

Báo chí thì đã chậm lại thiếu sự hiểu biết chính trị. Có khi đưa ra những tin không lợi cho đoàn kết và kháng chiến, như mạt sát làng nọ khi họ đã biết nhận sai lầm. Công kích nhầm một vị linh mục kia. Nói rõ tên bộ đội mình, kể rõ địa điểm và sự thiệt hại sau lúc địch ném bom, v.v..

Về y tế: Thì không tích cực chủng đậu cho dân, các trạm phát thuốc thì không kiểm soát chặt chẽ, không cố gắng tuyên truyền vệ sinh.

Nói tóm lại: mọi việc đều còn lủng củng.

Các đồng chí cần phải cǎn cứ vào những khuyết điểm mình tự nhận thấy, mà lập tức lập một chương trình thiết thực, bệnh nào thuốc ấy để sửa chữa ngay những khuyết điểm đó.

Các đồng chí phải theo sát hoàn cảnh, đi sát với dân chúng. Phải đem cả lòng vì nước vì dân, chí công vô tư, cần kiệm liêm chính mà làm cho ba tỉnh ta mau tiến bộ.

Các đồng chí có thể làm, các đồng chí phải làm cho kỳ được.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 9 tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr.44-46.
cpv.org.vn

Thanh niên phải làm gì? (10-2-1948)

Thanh niên ta tuy đã có một đoàn thể của mình là Đoàn Thanh niên Việt Nam, nhưng vẫn có một số đông chưa tổ chức, chưa hoạt động – Vì sao thế?

Theo sự nhận xét riêng của tôi, thì do những khuyết điểm này:

l- Tổ chức chỉ có bề rộng mà không có bề sâu. Xem trên báo, thì thấy tỉnh này đã thành lập Đoàn, tỉnh kia cũng thế. Nhưng về các huyện, các làng thì ít nơi biết Đoàn Thanh niên Việt Nam.

Phần đông thanh niên trong tổ chức là thanh niên trí thức. Còn nữ thanh niên và thanh niên các từng lớp khác, như binh sĩ, công nhân, nông dân, v.v., thì rất hiếm.

2- Mục đích thì nêu ra nhiều khẩu hiệu quá. Đích nghĩa là nhằm vào đó mà bắn. Nhiều đích quá thì loạn mắt, không bắn trúng đích nào. Thậm chí không ai nhớ được những khẩu hiệu đó.

Vậy chỉ nên nêu ra vài khẩu hiệu chính, thiết thực và phổ thông, cho mỗi thanh niên có thể hiểu, nhớ và luôn nhằm vào đó mà theo.

3- Chương trình công tác thì quá rộng rãi mà kém thiết thực.

Đặt ra kế hoạch và chương trình không xét rõ nǎng lực của những người thi hành kế hoạch và chương trình đó. Thành thử việc gì cũng muốn làm mà việc gì làm cũng không triệt để.

Tôi thường nghe anh em trong Đoàn Thanh niên Việt Nam người thì phàn nàn rằng thiếu công việc để hoạt động, người thì phàn nàn Đoàn thiếu cán bộ.

Nếu thanh niên biết tìm thì không thiếu gì công việc, cũng không thiếu gì cán bộ.

Vài thí dụ: Nếu Đoàn Thanh niên Việt Nam khéo động viên và tổ chức nam nữ thanh niên trí thức, xung phong ra phụ trách công việc tiêu diệt giặc dốt thì tất cả thanh niên trí thức đều có công việc, mà Đoàn sẽ có công to với quốc dân. Nếu Đoàn khéo động viên và tổ chức nam nữ thanh niên nông dân xung phong ra phụ trách công việc tǎng gia sản xuất, thì thanh niên trong thôn quê sẽ đều hoạt động, mà Đoàn sẽ có công to với Chính phủ. Còn nhiều việc khác, thanh niên có thể làm.

Bất kỳ công việc gì, cũng có người hǎng hái hơn, đắc lực hơn, có sáng kiến hơn. Nếu Đoàn khéo chú ý, tìm tòi, cất nhắc thì đó là những cán bộ. Có lẽ những thanh niên đó viết không giỏi, nói không kêu nhưng họ làm được việc. Đó là cái chính. Thanh niên cần nhiều cán bộ như thế.

Thanh niên cần phải có chí tự động, tự cường, tự lập.

Phải có khí khái ham làm việc, chứ không ham địa vị.

Phải có quyết tâm, đã làm việc gì thì làm cho đến nơi đến chốn, làm cho kỳ được.

Phải có lòng ham tiến bộ, ham học hỏi, học luôn, học mãi. Học vǎn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp.

Phải có lòng kiên quyết tham gia kháng chiến để tranh cho kỳ được thống nhất và độc lập, dân chủ và tự do.

Như thế, mới xứng đáng thanh niên là chủ nhân tương lai của nước nhà.

A.G.

Báo Sự thật, số 89,
ngày 10-2-1948.
cpv.org.vn

Thư gửi báo Bạn chiến đấu (10-2-1948) (1)

Các bạn thân mến,

Rất cảm ơn các bạn về những số báo của Bạn chiến đấu. Đây là một vài ý kiến nhỏ đề nghị với các bạn: tờ báo này dành cho những người lính lê dương, những chàng trai vui tính, dễ cáu kỉnh, dễ cảm xúc chứ không phải là những người làm chính trị sâu sắc.

Bởi vậy, cần có những bức tranh, những bức vẽ khôi hài, những gì làm cho họ vui cười, những tin tức ngắn về nước Đức và nước Pháp – đặc biệt là những tin tức có liên quan đến đời sống của nhân dân (như không đủ lương thực tiếp tế, đình công, sự phiền nhiễu của các cơ quan cai trị…).

Nói tóm lại, cần làm cho họ cảm động, thoải mái, làm cho họ cười và khóc để lôi cuốn họ về phía chúng ta.

Không nên viết những bài dài.

Không nên viết những vấn đề chính trị lớn đương thời.

Các bạn nghĩ thế nào?

Chúc mừng nǎm mới
Ngày 10 tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Quân đội nhân dân,
số 5769, ngày 19-5-1977.
cpv.org.vn

—————————

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Nguyên tiêu – Rằm tháng Giêng (2-1948)

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

RẰM THÁNG GIÊNG

Đêm nay, rằm tháng giêng, trǎng vừa tròn,
Nước sông xuân tiếp liền với màu trời xuân.
Giữa nơi khói sóng thǎm thẳm, bàn bạc việc quân,
Nửa đêm trở về, thuyền chở đầy ánh trǎng.

RẰM THÁNG GIÊNG

Rằm xuân lồng lộng trǎng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trǎng ngân đầy thuyền .

Tháng 2 nǎm 1948

Viết bằng chữ Hán.
Dịch và in trong sách Hồ Chí Minh,
Thơ, Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1975, tr. 103 – 104.
cpv.org.vn

Thư gửi toàn thể bộ đội khu II và khu III (24-2-1948)

Tôi rất vui lòng được Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy báo cáo rằng: tất cả binh sĩ trong các bộ đội ở khu III và khu II nay đều biết đọc và biết chữ quốc ngữ.

Thế là tốt lắm. Đó là một thắng lợi to cho quân đội ta, cho Chính phủ ta và cho dân tộc ta.

Dốt nát cũng là kẻ địch. Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm.

Địch dốt nát tấn công ta về tinh thần, cũng như địch thực dân tấn công ta bằng vũ lực. Địch thực dân dựa vào địch dốt nát để thi hành chiến lược ngu dân. Địch dốt nát dựa vào địch thực dân để đưa dân ta vào nơi mù quáng.

Bộ đội ta tiêu diệt được giặc dốt, tức là tiêu diệt được một lực lượng hậu thuẫn của thực dân.

Có sự thắng lợi đó, là do các cấp trên khéo cổ động, các chính trị viên khéo tổ chức, các binh sĩ đều hǎng hái học hành.

Tôi thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi toàn thể bộ đội khu II và III, đã tranh được kết quả vẻ vang ấy. Nhưng bộ đội ta chớ vì thế mà tự kiêu, tự mãn. Sự học hỏi là vô cùng. Nay đã biết đọc biết viết, anh em phải gắng sức học thêm. Học làm tính, học chính trị, học lịch sử, học khoa học thường thức. Rồi gắng học cao hơn nữa.

Đồng thời, anh em phải nhớ rằng: mỗi người trong bộ đội phải là một người tuyên truyền. Vì vậy, bộ đội cần phải ra sức giúp đồng bào trong công việc bình dân học vụ, cũng như trong những công việc khác. Cố nhiên, bộ đội không được vì những công việc đó mà xao nhãng việc học tập quân sự.

Một quân đội vǎn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch. Vì vậy, trong lúc tôi khen bộ đội khu II và khu III, tôi mong bộ đội các khu khác cũng sẽ ra sức tiêu diệt cho hết giặc dốt.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 24 tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi Hội nghị tư pháp toàn quốc (2-1948)

Thưa các vị đại biểu,

Nhân dịp này tôi gửi lời thân ái chúc các bạn mạnh khoẻ, và tỏ cùng các bạn vài ý kiến như sau:

Trong cuộc kháng chiến này, các bạn đã góp một phần lực lượng lớn. Từ Bộ trưởng, Thứ trưởng đến toàn thể nhân viên, ai cũng chịu khổ chịu khó tận tuỵ hy sinh, để làm tròn nhiệm vụ. Đó là một sự vẻ vang cho giới tư pháp ta.

Công việc tư pháp cũng như mọi công việc khác càng làm ta càng tiến bộ, nhưng càng tiến bộ ta càng thấy rõ những sự trở ngại và những cố gắng để giải quyết hoặc khắc phục những trở ngại và những khuyết điểm nó còn sót lại. Và ta phải càng cố gắng để giải quyết hoặc khắc phục những trở ngại và khuyết điểm ấy.

Các bạn là bậc trí thức. Các bạn có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gương cho dân trong mọi việc. Dân ta đã đấu tranh một cách rất dũng cảm. Lẽ tất nhiên giới trí thức phải hy sinh đấu tranh dũng cảm hơn nữa để làm gương cho nhân dân.

Các bạn là viên chức của Chính phủ Dân chủ Cộng hoà mà các bạn đã giúp xây dựng nên. Chính thể Dân chủ Cộng hoà của ta tuy còn trẻ tuổi, nhưng đã chiến thắng nhiều cuộc thử thách, nó đã chứng tỏ rằng quả thật là đầy tương lai. Do đó, nhiệm vụ các bạn phải tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ.

Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của chính quyền, cho nên càng phải tinh thành đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh những mối xích mích lẫn nhau, nó có thể vì lợi quyền nhỏ và riêng mà hại đến quyền lợi to và chung, cho cả tư pháp và hành chính.

Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp 1 , chí công vô tư” cho nhân dân noi theo.

Thưa các bạn, công việc của chúng ta còn nhiều và còn khó nhọc, cuộc kháng chiến còn gay go. Nhưng với chí kiên quyết và lòng dũng cảm của chiến sĩ và đồng bào, với sự tinh thành đoàn kết và sự nhất trí nỗ lực của mọi người và mọi bộ phận trong Chính phủ ta, chúng ta có thể quả quyết rằng:

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi.

Thống nhất độc lập nhất định thành công.

Dân chủ Cộng hoà nhất định vững chắc.

Với sự lãnh đạo của Bộ trưởng và Thứ trưởng tôi chắc Hội nghị sẽ có kết quả mỹ mãn.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 234-235.
cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của trí thức trong sự nghiệp cách mạng

anh dep 2Chủ tịch Hồ Chí Minh với trí thức nước nhà

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh viết: “Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: Một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản – Khoa học tự nhiên do đó mà ra; Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội – Khoa học xã hội do đó mà ra”(1).

Trong bài viết “Đảng Lao động Việt Nam với lao động trí óc”, Người xác định trí thức là “những người lao động trí óc”, “là thầy giáo, thầy thuốc, kỹ sư, những nhà khoa học, văn nghệ, những người làm bàn giấy…”(2). Và với Người, trí thức là lực lượng có vị trí, vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, là “vốn liếng quý báu của dân tộc”(3).

Trước 1945, trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, trí thức Việt Nam đã đi tiên phong tham gia cách mạng, là lực lượng đi đầu trong việc tiếp thu tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tích cực truyền bá trong quần chúng nhân dân và hăng hái tham gia vào các tổ chức cách mạng – tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nói về lực lượng này, Hồ Chí Minh cho rằng: Trí thức Việt Nam là lực lượng rất nhạy bén với cái mới, với những tư tưởng tiến bộ, “có đầu óc dân tộc và đầu óc cách mạng” (4), “có học thức, dễ có cảm giác chính trị,… dễ tiếp thụ sự giáo dục cách mạng và cùng đi với công nông”(5).

Trí thức Việt Nam có vị trí, vai trò quan trọng trong cách mạng, nên khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trước yêu cầu phải có một đường lối chính trị rõ ràng, phải phân định rõ chiến tuyến giữa cách mạng và phản cách mạng, Hồ Chí Minh đã xếp trí thức vào hàng ngũ lực lượng cách mạng của dân tộc, là một trong những đồng minh gần gũi của giai cấp công nhân và nông dân. Người chỉ rõ: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, thanh niên, Tân Việt,… để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp”(6). Việc xác định từ sớm vai trò, vị trí của trí thức trong cách mạng của Hồ Chí Minh đã lôi cuốn tầng lớp trí thức về phía cách mạng từ những ngày đầu tiên, đã tăng cường sức mạnh cho cuộc cách mạng. Đây là vấn đề mang tính chất chiến lược  trong cách mạng.

Cuộc cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta tiến hành là một cuộc cách mạng vô cùng khó khăn, gian khổ với những nhiệm vụ rất lớn lao. Đó là đánh đuổi đế quốc thực dân, phong kiến, đòi lại tự do, độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày… Hồ Chí Minh xác định: “Lao động trí óc có nhiệm vụ rất quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, trong công cuộc hoàn thành dân chủ mới để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(7). Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trí thức phải tuyên truyền, giáo dục quần chúng những tư tưởng cách mạng, là ngòi nổ cho các phong trào cách mạng, đấu tranh chống lại những luận điệu phản động, mị dân của kẻ thù.

Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, trí thức phải đi đầu trong việc nâng cao dân trí, xây dựng và kiến thiết nước nhà. Người khẳng định: “Trí thức phục vụ nhân dân bây giờ cũng cần, kháng chiến kiến quốc cũng cần, tiến lên xã hội chủ nghĩa càng cần, tiến lên cộng sản chủ nghĩa lại càng cần”(8). Theo Người: “muốn phát triển văn hoá thì phải cần thầy giáo, muốn phát triển sức khoẻ của nhân dân thì phải cần thầy thuốc, muốn phát triển kỹ nghệ thì phải cần các kỹ sư”(9). Thực tiễn đã chứng minh, trong mọi lĩnh vực, mọi thời kỳ cách mạng đều rất cần đến học vấn, tài năng và tâm huyết, sức lực của giới trí thức; đội ngũ trí thức đồng hành cùng dân tộc tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa; và trong suốt quá trình cách mạng “Trí thức không có bao giờ thừa, chỉ có thiếu trí thức thôi”(10).

Nhận thức được vị trí, vai trò quan trọng của trí thức trong sự phát triển của xã hội, hiểu rõ sức mạnh vô tận của trí tuệ con người và sức mạnh lớn lao của một dân tộc giàu tri thức, Hồ Chí Minh khẳng định: trí thức là lực lượng luôn đi đầu, là ngòi nổ trong phong trào đấu tranh đòi độc lập, đòi quyền dân tộc, dân chủ; là lớp “tiên tri, tiên giác”(11) (hiểu biết trước, giác ngộ trước); là “Một phần tương lai của dân tộc”(12). Chính vì vậy, năm 1946, khi trả lời câu hỏi của một nhà báo nước ngoài về vấn đề trí thức, Người nhấn mạnh: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế”(13). Trên thực tế, trong suốt mấy chục năm trên cương vị Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã có thái độ, cách cư xử, chính sách hết sức trân trọng và đề cao trí thức. Câu trả lời trên chính là sự phản ánh cô đọng suy nghĩ của Người, thể hiện sự trân trọng của Người đối với đội ngũ trí thức của dân tộc.

Với những quan điểm đúng đắn của Hồ Chí Minh và những chính sách sát thực của Đảng đối với trí thức mà trong các giai đoạn lịch sử, chúng ta đã đoàn kết được trí thức và xây dựng được đội ngũ trí thức mới xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, làm sao để phát huy và sử dụng vốn liếng quý báu này của đất nước có hiệu quả vẫn đang là vấn đề lớn đặt ra. Đảng và Nhà nước phải có sự phối hợp chặt chẽ trong việc giải quyết vấn đề trí thức. Những quan điểm chủ trương của Đảng phải được Nhà nước thể chế hóa kịp thời. Việc quy hoạch, đào tạo đội ngũ trí thức phải gắn liền với nhu cầu thực tiễn, trên cơ sở đó bố trí đúng người, đúng việc để phát huy tốt năng lực của lực lượng này. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng phải gắn liền với việc đổi mới quản lý của Nhà nước đối với công tác trí thức, phát huy dân chủ, lắng nghe ý kiến của tầng lớp trí thức, tin dùng họ trong công việc, tạo các điều kiện để họ tham gia hoạt động sáng tạo, đóng góp thật nhiều cho đất nước.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức vào việc xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, giỏi về chuyên môn, giàu về năng lực, hiểu biết sâu sắc trên từng lĩnh vực, có bản lĩnh và sẵn sàng thích ứng với mọi biến động trong nước và thế giới, nối tiếp truyền thống hào hùng của trí thức Việt Nam, đóng góp tài năng và sức lực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới đất nước, xây dựng xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

————

(1), (3), (11), (13) HCM Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr.235, 156, 131, 156. (2), (7) Sách đã dẫn (Sđd), tập 6, tr.202, 203. (4), (5), (8), (9), (10) Sđd, tập 7, tr.34, 214, 39, 32-33, 36. (6) Sđd, tập3, tr.3. (12) Sđd, tập 4, tr.220.

Lê Văn Điện /Trường Chính trị thành phố Cần Thơ
Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)

Thư gửi ông Nguyễn Vǎn Luân, Trưởng khu bình dân học vụ khu III (2-1948)

Cảm ơn ông đã gửi tặng tôi 3 thứ sách. Cảm ơn chị em giảng viên Quỳnh Côi đã gửi biếu chiếc khǎn tay lụa thêu, và cảm ơn tất cả anh em bình dân học vụ đã chúc tôi nǎm mới. Nhờ ngài chuyển lời thân ái hỏi thǎm các nam nữ kiểm soát viên và giảng viên.

Thấy trong nội san Diệt dốt nói khu III đã có kế hoạch quyết diệt hết nạn mù chữ trong nǎm nay. Thế là tốt lắm. Bình dân học vụ và tất cả các cơ quan đoàn thể và đồng bào khu III phải cố gắng làm cho đúng kế hoạch.

Tôi sẽ có hai phần thưởng:

Một cho huyện nào đa số xã đã diệt xong nạn mù chữ trước mọi huyện khác,

Một cho huyện nào toàn huyện diệt xong nạn mù chữ trước mọi huyện khác.

Hai là các nam nữ giáo viên cũng phải cố gắng học thêm. Khi dạy xong chữ quốc ngữ rồi thì dạy làm tính, dạy lịch sử, địa dư, đạo đức công dân, v.v.. Như thế thì người dạy và người học đều tiến bộ mà khu III sẽ là một khu kiểu mẫu cho vǎn hoá bình dân.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, chi nhánh số 6,
số 928, ngày 14-5-1948.
cpv.org.vn

Gửi các đồng chí lên đường (2-1948) (1)

Một, chúc các đồng chí đi đường, chân cứng, đá mềm, thuận buồm xuôi gió.

Hai, các đồng chí đi đường sẽ cực khổ, công tác sẽ khó khǎn.

Các đồng chí phải đem toàn tinh thần và nghị lực của thanh niên yêu nước mà chịu đựng, phấn đấu, khắc phục mọi sự gian nan, để tranh lấy thắng lợi.

Ba, từ lời nói đến việc làm, bất kỳ to nhỏ, các đồng chí phải luôn luôn nhớ rằng: Mình là đại biểu cho thanh niên yêu nước, ra ngoài để giúp anh em công tác, để đem tình thân ái của Tổ quốc cho kiều bào và để giúp đỡ họ, để tuyên truyền cho thanh niên và cho cả dân tộc Việt Nam.

Bốn, các đồng chí phải: ở trong nội bộ thì thương yêu giúp đỡ nhau, phê bình và học tập nhau. Trong công tác thì cố gắng làm cho đầy đủ nhiệm vụ, làm cho xứng đáng lòng tin cậy của anh em thanh niên, của đoàn thể và của đồng bào.

Mong rằng các đồng chí sẽ nhớ những lời thành thật đó, và sẽ làm tròn sứ mệnh vẻ vang đó.

Chúc các đồng chí mạnh khoẻ.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
lưu tại Tổng liên đoàn lao động Việt Nam,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

cpv.org.vn

————————————-

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Thư nói về công tác Trần Quốc Toản (2-1948)

Gửi các cháu nhi đồng trai và gái,

Bác gửi lời thân ái chúc các cháu nǎm mới.

Nǎm ngoái, các cháu gửi thư cho Bác rất nhiều. Tiếc vì bận việc quá Bác không thể trả lời hết được khắp. Nhưng Bác nhớ các cháu luôn luôn, và biết rằng các cháu đều yêu nước, siêng học, siêng làm, giữ kỷ luật, thì Bác rất vui lòng.

Qua nǎm mới, Bác đề nghị các cháu làm một việc là: các cháu tổ chức những đội Trần Quốc Toản.

Trần Quốc Toản là ai ? Tổ chức thế nào, và để làm gì ?

1- Cách đây chừng 700 nǎm, quân Mông Cổ đánh chiếm gần nửa châu Âu, chiếm gần hết châu á, và lấy cả nước Trung Hoa. Lúc đó quân Mông Cổ đem 30 vạn lính đến đánh nước ta.

Do ông Trần Hưng Đạo cầm đầu, tổ tiên ta trường kỳ kháng chiến trải qua 4, 5 nǎm đánh tan quân Mông Cổ, nước ta lại được độc lập (22)

Trần Quốc Toản là cháu ông Trần Hưng Đạo, lúc đó mới 15, 16 tuổi, cũng đi đánh giặc và lập được nhiều chiến công.

2- Bác không phải mong các cháu tổ chức những đội Trần Quốc Toản để đi đánh giặc và lập được nhiều chiến công, nhưng mà cốt để tham gia kháng chiến bằng cách giúp đỡ đồng bào.

3- Từ 5 đến l0 cháu tổ chức thành một đội, giúp nhau học hành. Khi học rảnh mỗi tuần mấy lần cả đội đem nhau đi giúp đồng bào.

Trước thì giúp các nhà chiến sĩ, nhà thương binh, lần lượt giúp những nhà ít người. Sức các cháu làm được việc gì thì giúp việc ấy. Thí dụ: quét nhà, gánh nước, lấy củi, xay lúa, giữ em, dạy chữ quốc ngữ, v.v..

Đội này thi đua với đội khác. Mỗi tháng một lần, các đội báo cáo cho Bác biết. Đội nào giỏi hơn, Bác sẽ gửi giấy khen. Đó là ý kiến của Bác. Nếu cháu nào có nhiều sáng kiến, tìm ra nhiều cách giúp đỡ càng tốt.

Các cháu nên hiểu rằng: giúp đỡ đồng bào tức là tham gia kháng chiến. Và do đó, các cháu sẽ luyện tập cái tinh thần siêng nǎng và bác ái để sau thành người công dân tốt của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

Bác hôn các cháu
Tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1958, t.1, tr. 237-238.

cpv.org.vn

——————————–

(22) Kháng chiến chống quân Nguyên: Trong vòng 30 nǎm (1258-1288), dân tộc ta đã ba lần kháng chiến chống đế quốc Mông Cổ, đạo quân xâm lược khét tiếng vừa chinh phục nhiều quốc gia châu Âu, châu á.

– Cuộc kháng chiến lần thứ nhất: Nǎm 1257, quân Mông Cổ đánh Nam Tống, sai sứ sang dụ vua Trần đầu hàng. Nhà Trần tống giam sứ giả và chuẩn bị chiến đấu. Ngày 17-1-1258, 3 vạn quân Mông Cổ kéo sang Bình Lệ Nguyên (nay thuộc Vĩnh Phú). Quân ta tạm rút khỏi Thǎng Long và thực hiện “vườn không nhà trống”. Ngày 29-1-1258, quân ta phản công đánh tan quân Mông Cổ.

– Cuộc kháng chiến lần thứ hai: Nǎm 1282, quân Mông Cổ (lúc này đổi niên hiệu là Nguyên, đã xâm lược nhà Tống và toàn bộ Trung Quốc) mượn cớ đánh Champa để xâm lược nước ta. Triều Trần triệu tập Hội nghị Bình Than (gồm các vương hầu quan lại, tướng lĩnh cao cấp) bàn kế hoạch đánh địch. Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ làm nức lòng quân dân cả nước. Nǎm 1285, được tin quân Nguyên tiến sát biên giới, Vua Trần triệu tập Hội nghị Diên Hồng (gồm các cụ phụ lão) cùng quyết tâm “Sát Thát”. Cuối tháng 1-1285, 50 vạn quân Nguyên chia làm 3 hướng sang xâm lược nước ta. Triều đình lại tạm rút khỏi Thǎng Long và cuối tháng 6-1285, sau gần 2 tháng phản công, với những chiến thắng Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp lẫy lừng, quét sạch quân Nguyên khỏi bờ cõi.

– Cuộc kháng chiến lần thứ ba: Tháng 12-1287, quân Nguyên lại điều 50 vạn quân theo 3 đường Quảng Tây, Vân Nam và đường biển vào xâm lược nước ta. Quân ta chiến thắng ở Vân Đồn, đánh tan đoàn thuyền vận tải lương thực của địch. Tháng 2-1288, quân Nguyên vượt sông Hồng tấn công thành Thǎng Long. Tháng 3-1288, Thoát Hoan biết nguy cơ bị bao vây như lần trước, đã đốt phá Thǎng Long rồi rút về Vạn Kiếp. Tháng 4-1288, quân ta tiêu diệt toàn bộ đạo quân thuỷ của địch ở sông Bạch Đằng, bắt sống Ô Mã Nhi… tướng giặc là Thoát Hoan vô cùng hoảng sợ phải chui ống đồng chạy về nước theo đường Lạng Sơn.

Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên ở thế kỷ 13 là bản anh hùng ca bất hủ.