Tag Archive | Hồ Chí Minh

Những câu chuyện nhỏ kể về Bác Hồ

6a.Hình ảnh “Ông Ké” trở nên quen thuộc, gần gũi với đồng bào các dân tộc

Câu hát ví dặm

Chiều ngày 18-5-1969, các diễn viên Đoàn văn công Quân khu 4 vào Phủ Chủ tịch biểu diễn để mừng thọ Bác 79 tuổi. Sau một số tiết mục, đến lượt chị Mai Tư hát dặm đò đưa: “Nước sông Lam biết khi mô cho cạn cũng như tinh thần cách mạng của dân ta…”. Bác hỏi mấy đồng chí ngồi xung quanh: “Có hay không các chú?”. “Thưa Bác hay ạ!”. Bác hỏi chị Mai Tư: “Trong ta chừ còn dệt vải nữa không?”. “ Dạ thưa Bác, có ạ!”. “ Rứa cháu có biết hát phường vải không?”. “ Dạ thưa Bác, có ạ!”. Bác bảo Mai Tư hát một câu mà các cụ ngày xưa hay hát, Mai Tư thưa với Bác: “Dạ, chúng cháu hát điệu phường vải nhưng không biết lời cũ ạ!”. Bác bảo: “Thì cháu lấy câu ni để hát nhé: “Khuyên ai chớ lấy học trò”. Cháu tiếp đi…”. “Dạ, thưa Bác, có phải dài lưng tốn vải ăn no lại nằm không ạ!”. “Giờ cháu tiếp câu nữa đi”. Mai Tư lúng túng không biết, Bác nhắc: “Lưng dài có võng đòn cong; áo dài đã có lụa hồng vua ban”. Mai Tư hát câu Bác vừa nhắc theo điệu hát ví Nghệ An. Đến lượt Minh Huệ, chị đứng dậy thưa: “Thưa Bác, bây giờ cháu xin hát điệu ru em, dân ca miền Trung theo lời cũ ạ! Rồi chị cất giọng “A ờ ơ… Ru em em ngủ cho muồi”, Bác sửa lại: “Ru tam tam théc cho muồi”. Minh Huệ hát tiếp: “Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu; Mua cau chợ Sải, mua trầu chợ Dinh”. Bác cười và nói: “Mua cau Cam Phổ chứ không phải chợ Sải”. Thế mới biết Bác Hồ đã từng đi năm châu bốn biển mấy chục năm trời mà vẫn không quên từng tên làng, ngõ xóm, từng câu hát ví dặm của quê nhà.

Bác Hồ trên đồi Yên Lập

Tết Ất Tỵ 1965, đúng dịp kỷ niệm Đảng ta tròn 35 tuổi, Bác Hồ về chúc Tết đồng bào, chiến sĩ tỉnh Quảng Ninh. Tối 30 Tết, Bác nghỉ lại ở khu Bãi Cháy, nơi sáu tháng trước máy bay Mỹ bắn phá. Đoàn cán bộ, chiến sĩ đi theo Bác được lãnh đạo tỉnh mời dự bữa cơm đón giao thừa. Chúng tôi đang ngồi tập trung ở một phòng ăn nhỏ, bỗng thấy Bác Hồ từ trên gác hai đi xuống bước vào phòng. Bác chúc Tết mọi người cùng gia đình. Bác nói lời thông cảm với những anh chị em ngày Tết phải xa nhà để đi công tác ở Quảng Ninh.

Chúng tôi đứng cả dậy chúc Bác năm mới mạnh khoẻ, sống lâu để lãnh đạo nhân dân ta sản xuất, chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn. Bác bảo nhắc nhà bếp chuẩn bị xôi nắm cho Đoàn hôm sau đi đường.

Sáng mồng 1 Tết, Bác qua phà Bãi Cháy để sang thị xã Hòn Gai. Ở đầu bến phà, Bác đã thấy dấu tích còn lại của cuộc chiến đấu đánh thắng không quân Mỹ, bắt sống phi công Mỹ đầu tiên. Hơn 20.000 đồng bào, chiến sĩ Quảng Ninh đứng kín một sânTrường học Hòn Gai reo mừng đón Bác. Bác nói chuyện, khen ngợi dân Quảng Ninh đã làm nên chiến thắng oanh liệt ngày 5-8-1964 và thợ mỏ Quảng Ninh đã hoàn thành vượt mức kế hoạch 200.00 tấn than.

Bác rời Hòn Gai đi chúc Tết nhân dân ở huyện Yên Hưng. Bác “xông đất” một số gia đình xã viên Hợp tác xã Khe Cát. Các cụ, các cháu trong xóm chạy ra nắm tay Bác mời Bác vào nhà. Bác mừng thấy trong hoàn cảnh chiến tranh gia đình nào cũng có bánh mật, bánh chưng, chè Ba Đình và hoa đẹp. Bác chúc Tết các gia đình.

Bác ra đường, đi bộ một quãng. Bỗng Bác dừng bên một cột mốc khắc chữ: “Lộc Ninh – 1995 km”. Bác nói với anh em trong đoàn: “Tết này không biết đồng bào miền Nam ăn Tết có được yên ổn không?”.

Cả đoàn đề nghị Bác nghỉ một lát trước khi tiếp tục đi chúc Tết đồng bào, chiến sĩ. Bác đồng ý và chỉ mọi người lên ngồi nghỉ trên một đồi thông bên đường thuộc xã Yên Lập. Bác dặn: Đừng hái lộc để bảo vệ rừng.

Chúng tôi quây quần bên Bác. Bác gọi phóng viên Báo Nhân Dân đến cho ngồi cạnh Bác. Trời xanh cao. Tiết xuân ấm dịu. Đi làm việc từ mờ đất, mọi người đã đói. Bác nói: “Các chú đã có gói xôi mang theo. Các chú lấy ra ăn rồi lên đường”.

Nắm xôi ngày Tết ấy trên đồi Yên Lập bùi ngon đến lạ thường.

Những kỷ niệm sâu đậm nhất

Năm 1965, bắt đầu thời kỳ chiến tranh phá hoại của Giônxơn, tôi (Hoàng Thị Mễ) về công tác ở Vĩnh Linh, làm Trưởng Ban Kiểm tra của Đảng trong khu vực và được cử đi dự Hội nghị tổng kết công tác kiểm tra toàn quốc.

Lần này, đến thăm hội nghị, Bác mặc một bộ ka ki giản dị. Trông người vẫn khoẻ khoắn, nhanh nhẹn. Tôi rất mừng. Bác huấn thị cho chúng tôi nhiều điều hết sức quý báu về công tác kiểm tra, về đạo đức, phẩm chất của người cộng sản. Bác dặn đi dặn lại, đại ý: Công tác kiểm tra có quan hệ đến sinh mệnh của từng người đảng viên. Làm công tác kiểm tra tốt thì có lợi cho Đảng, có lợi cho mỗi đồng chí của ta. Bác nhắc nhở các đại biểu nữ càng phải đi sâu kiểm tra, bảo đảm quyền lợi cho đảng viên phụ nữ. Chúng tôi ghi tạc những lời Bác dạy. Làm công tác kiểm tra không được thành kiến, phải có lượng khoan hồng, đồng thời cần cứng rắn về nguyên tắc. Những lời dạy của Bác thật là quý báu cho chúng tôi và cho đất Vĩnh Linh nóng bỏng lửa đạn quân thù. Ngay từ đầu Bác đã hết sức quan tâm đến mảnh đất này, Bác rất chú ý đến các cháu thiếu nhi và chị em phụ nữ Vĩnh Linh, Bác dặn: Trong cuộc chiến đấu ác liệt này, các cháu Vĩnh Linh là những hạt giống quý, những mầm non xanh tươi, phải được giữ gìn sao cho mầm non đó cứ tươi tốt lên, dù trong hoàn cảnh khó khăn như thế nào. Bác chỉ thị: Phải sơ tán hết các cháu, không được để cháu nào bị địch giết hại ở Vĩnh Linh. Ngày Tết sắp đến, Bác nhắc các tỉnh phải gói bánh chưng gửi cho các cháu. Riêng Bác, Bác hay gửi bánh kẹo cho các cháu Vĩnh Linh. Cho đến giờ các cháu vẫn nhớ và nhắc đến “Quà Bác Hồ”. Thỉnh thoảng Bác lại hỏi thăm đồng bào và phụ nữ Vĩnh Linh có khoẻ mạnh không, sản xuất chiến đấu và học tập ra sao?

Năm 1968, địch buộc phải ngừng bắn, Bác chỉ thị ngay phải tiếp tế khẩn trương cho Vĩnh Linh, chủ yếu là đường, vải, thuốc. Các xe tải phải chuyên chở cho Vĩnh Linh, Cồn Cỏ và phải coi đây là một công tác rất quan trọng. Hồi đó tôi là Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Vĩnh Linh, được phụ trách phân phối hàng về các xã. Tôi đã chấp hành nghiêm chỉnh lời Bác dạy. Việc phân phối được bảo đảm công bằng, hợp lý, chú ý các cháu mồ côi, các cụ già, bà mẹ các thương binh, bệnh binh…

Nhận được quà Bác cho, đồng bào Vĩnh Linh vô cùng hồ hởi bảo nhau: chúng ta phải làm gì để tỏ lòng biết ơn Bác.

Riêng tôi, lời dạy của Bác luôn là nguồn khuyến khích, động viên lớn nhất. Nhớ lại những lời dạy bảo của Bác về phẩm chất của người đảng viên, người cán bộ phải hết lòng vì nhân dân phục vụ, lại nghĩ tới tình thương yêu của Bác đối với nhân dân Vĩnh Linh như biển cả, tôi thấy mình có thêm sức mạnh, cùng với anh chị em dân quân, du kích làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Đi thăm miếu Khổng T

Ngày 19-5-1965, nhân lúc đang thăm Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến quê hương Khổng Tử. Hai giờ chiều, trong bộ quần áo lụa Hà Đông, Bác Hồ thong thả bước vào Khổng phủ trang nghiêm, cổ kính. Bác kể cho các cán bộ cùng đi: “Cho đến năm 1937, Khổng Đức Thanh là lớp con cháu đời thứ 77. Bố Khổng Tử có ba vợ. Khổng Tử là con vợ thứ ba. Khổng Tử lấy vợ sinh con là Khổng Lý… Đời Tống, Nguyên, Thanh đều góp của, góp công sửa sang Khổng phủ, Khổng miếu… Điều đó chứng tỏ học thuyết Khổng Tử từ lâu thành hệ tư tưởng chính thống, có sức sống qua nhiều thời đại. Chúng ta không gạt bỏ tất cả mà phải chọn lọc, tiếp thu những cái tốt đẹp nhất để làm giàu cho mình, cho con cháu mình…”. Đứng dưới gốc cổ thụ ở Khổng miếu mà nghe nói chính tay Khổng Tử trồng, cách đây 2.400 năm, Bác nói, giọng trầm lắng: “Khổng Tử là người chủ trương quyền bình đẳng về của cải và sự công bằng trong đời sống. Câu “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng” mà Bác trích là từ câu của Khổng Tử: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên. Đã công bằng thì không nghèo, đã hoà mục thì không thiếu, lòng dân đã yên thì không sợ nghiêng đổ”. Rời Khổng miếu, sang Khổng Lâm, dạo bước dưới bóng cây cổ thụ, Bác Hồ lại tiếp tục nói chuyện. Bác nhắc đến chữ “nghĩa chiến” của Mạnh Tử trong sách “Khổng học đăng” chính là chiến tranh nhằm mục đích nhân nghĩa, Bác nói: “Khổng Tử thường nêu “dân vi bang bản” (dân là gốc của nước) hoặc “quốc dĩ dân vi bản” (nước lấy dân làm gốc)…”. Gần ba giờ vừa đi xem cảnh, vừa nói chuyện, đến năm giờ chiều, Bác cùng đoàn cán bộ lên xe lửa về Tế Nam. Ngồi trên tàu, nhìn nắng chiều nhạt dần trên triền núi mờ xa, Bác đọc bài thơ chữ Hán vừa làm: Thăm Khúc Phụ :

“Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ

Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa

Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ?

Lấp loáng bia xưa, chút ánh tà”.

Câu chuyện về chiếc tàu thủy phá lôi mang biệt hiệu T5 và tấm lòng của Bác

Năm 1965, tôi (Phan Trọng Tuệ) làm Chính ủy kiêm Tư lệnh đường mòn Hồ Chí Minh. Một hôm anh Vũ Kỳ gặp tôi và nói:

– Anh có phim tư liệu gì mới đem vào chiếu cho Bác xem.

Tôi đưa cuộn phim về giao thông vận tải, quay từ Hà Nội vào đến Vinh cho Bác xem. Bác xem phim rất chăm chú và hỏi thăm tình hình nhân dân trong đó.

Tôi báo cáo với Bác:

– Chúng cháu muốn đảm bảo giao thông phải dựa vào dân. Nhân dân nhiều khi phá cả nhà để lát đường cho xe qua.

Bác nói:

– Nhân dân không nhà không cửa thì ở vào đâu? Các cháu học hành thế nào?

Tôi thưa với Bác:

– Các cháu vẫn được học. Học dưới hầm. Giao thông vẫn có những chuyến xe đặc biệt chở dụng cụ học tập và sách vở cho học sinh.

Nghe tôi nói thế, Bác mới yên tâm và khen:

– Thế là tốt. Nếu chú có gặp các đồng chí trong đó, cho Bác gửi lời thăm đồng bào.

Bác vừa nói chuyện vừa suy trầm tư, vẻ mặt Bác rất xúc động.

Tôi vào khu IV truyền đạt lời thăm hỏi của Bác cho các đồng chí trong đó, các đồng chí rất xúc động.

Bộ phim mang vào chiếu cho Bác xem có cảnh phá thủy lôi bằng kích thích. Cho ca nô chạy nhanh qua bãi thủy lôi. Thủy thủ lái ca nô mặc áo bảo vệ kèm phao bơi. Bác xem và hỏi:

– Mặc như thế kia thì cử động thế nào được?

Tôi báo cáo với Bác:

– Ca nô chạy nhanh, thủy lôi sẽ nổ, thủy thủ phải mặc như thế để đảm bảo an toàn.

Bác nghe xong, suy nghĩ một lát rồi nói:

– Các chú đó thật dũng cảm. Nhưng chú thử nghĩ xem có phương pháp nào điều khiển ca nô chạy tự động qua bãi thủy lôi, chứ làm thế này nguy hiểm cho tính mạng của các chiến sĩ.

Tôi suy nghĩ rất nhiều về gợi ý của Bác. Sau đó tôi cho họp Hội đồng kỹ thuật, báo cáo lại ý kiến của Bác. Mọi người đều rất tán thành và đề nghị thiết kế tàu không người lái, điều kiển từ xa.

Sau đó một loại tàu mới có biệt hiệu là T5 ra đời, có người điều khiển từ xa để phá hủy thủy lôi. Đó là do bao công sức đóng góp của các anh em làm công tác kỹ thuật sáng chế.

Khi chiếc tàu này mới được chế tạo, chúng tôi cho mang lên Hồ Tây chạy thử. Lần chạy thử đó có mời đồng chí Tố Hữu đến xem. Nhờ chiếc tàu đó mà chúng tôi đã phá được rất nhiều thủy lôi, đảm bảo giao thông đường thủy thông suốt, lại không nguy hiểm đến tính mạng cho các chiến sĩ.

Lời phát biểu của Bác đã tác động đến anh em kỹ thuật, giúp họ suy nghĩ, phát huy sáng kiến và chế tạo ra chiếc tàu mang biệt hiệu T5.

Ngồi xem phim với Bác, Bác hỏi nhiều điều mà chúng tôi không lường hết được. Bác quan tâm đến mọi vấn đề. Bác muốn biết hết tất cả mọi việc.

Bác quan tâm đến công việc chung, nhưng cũng không quên những việc nhỏ, làm cho tôi rất cảm động. Tôi đưa phim vào chiếu cho Bác xem. Sau đó Bác cho phép tôi mang vợ con vào thăm Bác. Tôi còn nhớ khi đó là đầu năm 1967.

Bác hỏi tôi:

– Chú đi vào trong kia bằng phương tiện gì?

Tôi báo cáo với Bác:

– Cháu đi bằng ô tô. Đoạn nào không đi được bằng ô tô thì đi xe đạp.

Bác nghe, rồi nói:

– Đi bằng ô tô hay đi bằng xe đạp cũng phải thật chú ý và cảnh giác vì máy bay Mỹ có thể bắn phá bất ngờ.

Trên đây là một số kỷ niệm về Bác mà tôi còn ghi nhớ. Những kỷ niệm này sẽ mãi mãi không bao giờ phai mờ trong ký ức của tôi.

Tâm Trang (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Cố hoạ sĩ Vũ Cao Đàm và món quà của người xa xứ

Sinh năm 1908 tại Việt Nam, mất năm 2000 tại Pháp, Họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm là tác giả của nhiều tranh, tượng sáng giá, được săn lùng trong các phiên giao dịch quốc tế…

Co hoa sy 1Tượng Bác Hồ do Vũ Cao Đàm thực hiện năm 1946

Lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng (ông là em ruột của bác sĩ Vũ Đình Tụng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương binh; là anh ruột của dược sĩ Vũ Công Thuyết, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), năm 1946, nhân chuyến Hồ Chủ tịch sang thăm Pháp, Vũ Cao Đàm đã tới chào và xin được nặn tượng Người, trở thành nghệ sĩ Việt kiều đầu tiên và duy nhất được nặn tượng Người trong chuyến công cán năm ấy…

Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương bắt đầu khai giảng khóa I từ năm 1925, với 8 sinh viên đầu tiên là các họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Lê Văn Đệ, Nguyễn Tường Tam, Mai Trung Thứ, Lê An Phan và George Khánh. Vũ Cao Đàm là sinh viên khóa II của trường này, nhưng là khóa đầu tiên của Khoa Điêu khắc (1926-1931). Thoạt đầu, Vũ Cao Đàm tham gia cả hội họa và điêu khắc, nhưng tới năm thứ nhì thì ông chuyển hẳn sang điêu khắc. Về việc này, ông từng kể: “Thầy Tardieu (Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương – NV) thấy tôi có khả năng về điêu khắc và tôi đã nặn tượng bán thân cho cha tôi, ông khen đẹp. Cho nên năm thứ nhì, tôi học thẳng sang ngành điêu khắc và tôi rất thích, sau đó tôi chuyển về chân dung”.

Năm 1931, Vũ Cao Đàm tốt nghiệp khóa học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương với kết quả xuất sắc. Ông được nhận học bổng sang Pháp nghiên cứu và nâng cao kiến thức về tạo hình tại Bảo tàng Louvre. Năm 1938, Vũ Cao Đàm kết hôn với nghệ sĩ dương cầm Pháp Renee. Trong thời gian diễn ra cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai (1939-1945), việc làm tượng trở nên hết sức khó khăn. Lý do là ở thời kỳ ấy, nhất là khi quân đội Đức chiếm đóng nước Pháp, họ sẵn sàng tịch thu những vật dụng bằng đồng để phục vụ việc đúc vũ khí. Việc đổ khuôn đồng bị cấm. Vũ Cao Đàm phải nặn tượng bằng đất nung rồi đánh bóng (như các bức ông dựng chân dung vợ chồng thi sĩ Jean Tardieu, con trai thầy dạy cũ của mình). Tình thế khiến Vũ Cao Đàm quyết định chuyển từ làm tượng sang vẽ tranh. Ông vẽ, thoạt tiên là tranh lụa, rồi sơn dầu. Lý do chuyển sang sơn dầu, ngoài sự đam mê khám phá còn xuất phát từ sự bất tiện trong việc thực hiện cũng như bảo quản tác phẩm. Ông cho biết: “Tôi thấy tranh lụa bị giới hạn bởi kích thước của bức tranh, vì có miếng kính che gìn giữ cho lụa cho nên không thể vẽ to được”.

Co hoa sy 2Hoạ sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm (thứ hai từ trái qua) thời là sinh viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Cùng với các họa sĩ Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu…, bằng những sáng tác giàu tìm tòi, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật truyền thống phương Đông và hội họa phương Tây, Vũ Cao Đàm đã góp phần nâng cao vị thế của người họa sĩ Việt Nam với bạn bè quốc tế. Nếu như ở Pháp, từng có thời kỳ, mỗi cuộc triển lãm mở ra, tranh của Vũ Cao Đàm chỉ bán được một vài bức, thì sau này, Vũ Cao Đàm đã có thể bán tranh cho các galery ở Mỹ và Bỉ. Trong các họa sĩ từng định cư tại nước ngoài, cùng với Lê Phổ, Vũ Cao Đàm là họa sĩ có giá tranh bán luôn ở mức cao và liên tục nhiều năm. Ngoài tranh lụa, tranh sơn dầu, Vũ Cao Đàm còn tham gia sản xuất tranh in đá. Cách đây ít lâu, một bức tranh in đá của ông đã được nhà đấu giá Sothebys bán với giá lên tới 30.000 USD.

Bây giờ, xin được nói kỹ hơn về việc họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm thực hiện bức tượng và phù điêu chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người sang thăm Pháp năm 1946.

Chúng ta đã biết: Ngày 31/5/1946, Bác Hồ bắt đầu thực hiện chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Theo ông Raymond Aubrac sau này kể lại thì ngày 27/7 năm ấy, trong một cuộc chiêu đãi do các Việt kiều ở Pháp tổ chức để chào mừng người đứng đầu của nước Việt Nam mới, ông Aubrac đã mời Bác Hồ về ở nhà mình – một căn nhà được xây dựng từ thế kỷ XVIII, có vườn tược rộng rãi, nằm ở phía Bắc Thủ đô Paris và cách Paris khoảng 20 phút xe hơi. Bác vui vẻ nhận lời và ngoài ăn ở, sinh hoạt, Người còn thường xuyên tiếp khách tại nhà ông Aubrac. Ông Aubrac còn nhớ rõ, tháng 7 năm ấy, nhân ngày sinh nhật của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh ghi cảnh một bà mẹ đang vươn cánh tay dài với những ngón mảnh dẻ vuốt đầu đứa con mới sinh của mình. Bức tranh do họa sĩ Vũ Cao Đàm thực hiện.

Trong biên niên sử về Hồ Chí Minh có ghi: Ngày 1/7/1946, họa sĩ Vũ Cao Đàm đến chào Hồ Chủ tịch, xin phép được vẽ và nặn tượng Người. Cùng ngày hôm ấy, một số văn nghệ sĩ Pháp tên tuổi như Richard Bloch, Aragon, Triolet, Moussinac, Borne, Masson cũng đến diện kiến Người.

Hiện nay, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh có lưu giữ một bức phù điêu tròn và tấm ảnh chân dung Bác Hồ do đích thân họa sĩ Vũ Cao Đàm chụp, phía sau ảnh có chữ ký và bút tích của Bác: “Tặng vợ chồng chú Đàm và các cháu – Thân ái. Hồ Chí Minh”. Hai kỷ vật này họa sĩ Vũ Cao Đàm trao tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh nhân chuyến người em trai ông – dược sĩ Vũ Công Thuyết có chuyến công tác tại Pháp năm 1976.

Con gái họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm là họa sĩ Yanick Vũ, trong một bài viết đã kể lại: Sau buổi tiếp chuyện Vũ Cao Đàm, Bác Hồ đã tặng nhà họa sĩ ảnh và huy hiệu của Người. Tấm huy hiệu đó đã được Vũ Cao Đàm “nhân bản” thành nhiều bức phù điêu tại một cơ sở đúc tiền. Và những bức phù điêu này đã được phái đoàn của ta dùng làm quà tặng chính thức trong thời gian công cán ở Pháp. Có thể nói, để thực hiện công việc giàu ý nghĩa này, Vũ Cao Đàm đã gặp nhiều khó khăn. Sau khi cuộc chiến tranh Pháp – Việt nổ ra, nhà của Vũ Cao Đàm thường xuyên bị nhà chức trách Pháp kiếm cớ khám xét, lục soát. Có lần, do bị người gác cổng tố giác nên cảnh sát đã ập đến khám xét nhà Vũ Cao Đàm. May mà ông kịp giấu ảnh và các tấm phù điêu chân dung Bác Hồ vào hòm đàn dương cầm nên cảnh sát không tìm ra. Tuy nhiên, họ đã bắt nhà họa sĩ đưa đi tra vấn tới gần sáng mới thả.

Năm 1950, 20 tấm phù điêu về Chủ tịch Hồ Chí Minh do Vũ Cao Đàm thực hiện và giấu ở một chỗ kín trong phòng khách đã bị cảnh sát tịch thu, đem đi mất. Cũng trong năm này, do phổi yếu, Vũ Cao Đàm phải chuyển xuống sống ở miền Nam nước Pháp cho phù hợp với điều kiện dưỡng bệnh. Để bảo toàn được bức tượng mà chúng ta thấy sau này, ông đã gửi nhờ gia đình một người nông dân Pháp sống ở Béziers, một thành phố thuộc tỉnh Hérault, nằm ở miền Nam nước Pháp cất giữ. Đến năm 1967, vợ chồng tác giả trở lại tìm bức tượng. Một chuyện thật cảm động: Mặc dù đã già yếu và trong tình cảnh bệnh nặng, gần như mất trí nhớ, nhưng sau khi nghe vợ Vũ Cao Đàm gợi chuyện, người nông dân nọ đã hỏi: “Thưa bà, bà đi tìm bức tượng Hồ Chí Minh phải không?”. Thì ra, bức tượng được cất giấu trong kho đồ cũ, dưới một lớp rơm. Năm sau, gia đình Vũ Cao Đàm định chuyển bức tượng này về Việt Nam thì đúng thời điểm diễn ra cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968) nên không xin được hộ chiếu.

Bức tượng gốc vốn được làm bằng chất liệu thạch cao. Để lưu giữ được lâu dài tác phẩm đặc sắc này, năm 1996, họa sĩ Yanick Vũ đã mang bức tượng sang Tây Ban Nha, tìm một cơ sở đúc đồng nổi tiếng để chuyển bức tượng từ chất liệu thạch cao sang chất liệu đồng. Bức tượng nặng 35 kg, trong đó phần chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh được làm bằng chất liệu đồng đen, cao 45,7 cm, và phần bệ bằng đá màu ghi đen, cao 11, 8cm. Năm 1998, bức tượng đã được gia đình họa sĩ Vũ Cao Đàm tặng lại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Bức tượng đã nhiều lần xuất hiện trong các cuộc triển lãm tổ chức tại đây và công chúng đã rất ấn tượng với một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, thể hiện được phong thái của vị lãnh tụ kính yêu trong thời điểm vận nước hết sức khó khăn. Câu chuyện càng trở nên có ý nghĩa khi bức tượng là tác phẩm của một nghệ sĩ Việt kiều đầu tiên và duy nhất nặn tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến Người thăm Pháp năm ấy.

Năm 2000, tức là hai năm sau khi bức tượng được tặng lại cho Chính phủ và nhân dân Việt Nam, họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm qua đời. Hẳn ông rất thanh thản bởi trước khi ra đi nơi đất khách quê người, ông đã trọn nghĩa vẹn tình với quê hương yêu dấu…

Tạ Ngọc Châu
Theo http://cand.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Phong trào thi đua ái quốc: Những lời Bác Hồ căn dặn thiếu niên, nhi đồng

 “ Các cháu yêu quý

Trung thu trăng sáng như gương

Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng

Sau đây Bác viết mấy dòng

Gửi cho các cháu, tỏ lòng nhớ thương”.

Đây là những dòng mở đầu Bức thư trung thu gửi các cháu nhi đồng (đăng trên báo Cứu quốc, số 1904, ngày 12/9/1951). Có thể nói, trong suốt cuộc đời, Bác Hồ luôn hết mực quan tâm đến các cháu thiếu niên, nhi đồng. Với Bác, “Trẻ em như búp trên cành/ Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”.

Cả cuộc đời, Bác luôn dành tình yêu thương, dành sự quan tâm sâu sắc cho thiếu niên, nhi đồng. Và hơn thế, Bác coi thiếu niên, nhi đồng cũng chính là một lực lượng quan trọng trong phong trào thi đua ái quốc. Chính vì vậy, trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948), khi nhắc đến lực lượng này, Bác đã nhấn mạnh: “Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn”.

thi-dua-ai-quoc-nhi-dong-cdJPG
Bác Hồ luôn dành tình yêu thương sâu sắc cho nhi đồng

Thật vậy, phong trào thi đua ái quốc là một ngọn lửa mạnh mẽ, tạo nguồn sức mạnh quan trọng cho dân tộc ta. Để có được sức mạnh ấy cần có sự chung tay, chung sức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Trong đó, không thể thiếu thế hệ thiếu niên, nhi đồng. Dù tuổi còn nhỏ nhưng cũng chính là một lực lượng quan trọng. Bởi khi hoàn cảnh đất nước gặp nguy nan, mỗi người góp sức nhỏ để tạo nên sức mạnh lớn cho dân tộc. Và như thế, thiếu niêu, nhi đồng có vai trò không nhỏ trong sự nghiệp cách mạng: “Người lớn cứu nước đã đành/ Trẻ em cũng góp phần mình một tay/ Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/ Tuỳ theo sức của mình”.

Trong Lời kêu gọi thi đua chuẩn bị tổng phản công, đăng trên báo Sự thật, ngày 1/8/1949, Bác Hồ đã nói: “Các cháu nhi đồng thì thi đua học tập và giúp mọi công việc. Có nhiều cháu đã gửi tiền nhờ tôi góp vào quỹ kháng chiến”.

Trong bài “Giấc ngủ mười năm” (đăng trên báo Sự thật, Xuân Kỷ Sửu 1949) Bác Hồ một lần nữa nhấn mạnh: “Các em nhi đồng thi đua học hành và giúp đỡ công việc nhẹ cho người lớn. Các em cũng hăng đáo để. Nhiều nơi, ngoài buổi học, các em còn tự tổ chức từng tốp nuôi vịt, nuôi tằm trồng rau, trồng sắn”.

thi-dua-ai-quoc-b
Các em nhỏ ở mọi miền của Tổ quốc đều mong muốn được vào Lăng viếng Bác Hồ
Ảnh: Điệp Anh

Trong bức thư trung thu gửi các cháu nhi đồng (đăng trên báo Cứu quốc, số 1904, ngày 12/9/1951), Bác đã khuyên các em nhỏ như sau:

“Các cháu phải ghét, ghét cay ghét đắng bọn thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ, bọn Việt gian, bọn bù nhìn. Vì chúng nó mà ta khổ.

Các cháu phải yêu, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động.

Các cháu phải gắng, gắng giúp đỡ thương binh và gia đình chiến sĩ, gắng giữ gìn vệ sinh và giữ gìn kỷ luật, gắng học hành.

Các cháu phải đoàn kết, đoàn kết giữa nhi đồng Việt Nam với nhau, đoàn kết giữa nhi đồng Việt Nam cùng nhi đồng Trung Quốc, Liên Xô, các nước bạn và nhi đồng thế giới.”

Khi nhắc đến phong trào thi đua, Bác Hồ nhấn mạnh:

“Các cháu phải thi đua, tùy theo sức của các cháu làm được việc gì có ích cho kháng chiến thì thi đua làm việc ấy.

Các cháu biết ghét, biết yêu, biết gắng, các cháu đoàn kết và thi đua như thế thì kháng chiến sẽ chóng thắng lợi, kháng chiến thắng lợi thì trung thu sẽ vui vẻ hơn”.

Trong những năm kháng chiến, mỗi khi nhận được thư hay bất cứ thông tin nhi đồng khổ sở thế nào, Bác đều rất đau đớn. Nhưng trên hết, vượt qua những nỗi khổ ấy, nhi đồng ta vẫn đấu tranh. Dù những hành động nhỏ nhưng điều đó chính là minh chứng cho lòng yêu nước, tinh thần thi đua ái quốc của nhi đồng ta. Khi nói về những kết quả đấu tranh của các em nhi đồng Bác đã nói: “… Làm cho Bác vui lòng, vì các cháu ấy dũng cảm. Làm cho Bác và tất cả đồng bào càng căm ghét bọn thực dân và bù nhìn”.

Trong thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi năm 1951 Bác viết: Ngày 1-5, ngày của những người lao động thế giới tỏ tình đoàn kết, đấu tranh. Còn ngày 1-6 “là ngày của các cháu nhi đồng trong thế giới tỏ tình đoàn kết và sức đấu tranh của mình…”. Hình thức đấu tranh của các cháu nhi đồng mà Người đưa ra rất cụ thể, thiết thực. Đó là, các cháu cần phải “thi đua học tập, thi đua tăng gia sản xuất; thi đua giúp đỡ các gia đình thương binh, tử sĩ. Thế là các cháu đấu tranh”. Bác còn khuyên nhủ: “Các cháu phải đoàn kết, thương yêu nhau” và là đoàn kết, thương yêu giữa nhi đồng trong nước với nhau, cũng như bạn bè thiếu nhi trên thế giới. Bác gọi “đó là tinh thần quốc tế”.

Nhi đồng chính là lực lượng quan trọng, là tương lai của một đất nước. Chính vì vậy, Bác luôn quan tâm đến cuộc sống của từng em nhỏ. Bác luôn dành tình thương yêu đặc biệt, động viên thế hệ măng non của đất nước qua các lá thư nhân ngày Quốc tế thiếu nhi: Các cháu yêu quý! Ngày 1-6 là ngày của các cháu bé khắp cả các nước trên thế giới. Đáng lẽ tất cả các cháu đều được no ấm, được vui chơi, được học hành như trẻ con ở Liên Xô… Nhưng nước Việt Nam ta, vì giặc Pháp gây ra chiến tranh, chúng nó đốt nhà, giết người, cướp của. Cho nên, người lớn phải kháng chiến, trẻ con cũng phải kháng chiến. Bác thương các cháu lắm. Bác hứa với các cháu rằng: Đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công, thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cùng cố gắng làm cho các cháu cùng được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng.“Bao giờ đánh đuổi Nhật, Tây/ Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng”.

thi-dua-ai-quoc-nhi-dong 2
Các em nhỏ chính là các mầm non, là tương lai của đất nước

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt, Bác Hồ luôn dành sự thương nhớ đến thiếu niên, nhi đồng miền Nam. Bởi chiến tranh gian khổ quá, các cháu thiếu niên, nhi đồng sẽ phải chịu rất nhiều đau thương. Vì thế, trong thư gửi các cháu miền Nam năm 1965, Bác ao ước:“Bắc Nam sẽ sum họp một nhà/ Bác cháu ta gặp mặt, trẻ già vui chung/ Nhớ thương các cháu vô cùng/ Mong sao mỗi cháu là một anh hùng thiếu nhi”. Hơn thế, Bác luôn căn dặn các cháu phải “yêu lao động, giữ kỷ luật. Chớ tự do phóng túng, phải tự lực cánh sinh… thi đua học tập, thi đua trong mọi việc…”.

Có thể nói, những lời dặn dò của Người đã tạo động lực cho thế hệ thiếu niên, nhi đồng thi đua, cố gắng, phấn đấu để góp sức vào sự thành công của cách mạng Việt Nam.

Đất nước đã hòa bình, thế hệ thiếu niên, nhi đồng giờ được hưởng những điều kiện sống đầy đủ hơn. Và hơn lúc nào hết, các em cần cố gắng hơn để xứng đáng với những mong muốn của Bác, với những hy sinh của cha anh.

Trước lúc đi xa, Bác để lại muôn vàn tình yêu thương cho dân tộc Việt Nam, trong đó Người không quên nhắc đến thế hệ thiếu niên, nhi đồng bằng những tình cảm đặc biệt: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”. Một lòng khắc sâu tình cảm, những lời dạy của Bác, thiếu niên, nhi đồng Việt Nam luôn cố gắng phấn đấu học tập làm theo lời Bác để xứng đáng với danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”. Bởi như lời Bác đã nói: “Ngày nay, các cháu là nhi đồng. Ngày sau, các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới”.

Thanh Huyền
bqllang.gov.vn

Tình cảm của Bác với các cháu thiếu nhi

thi-dua-ai-quoc-nhi-dongBác Hồ với thiếu nhi

Trong muôn vàn tình thân yêu của Người dành cho nhân dân, có một tình yêu lớn dành cho thiếu niên nhi đồng. Thiếu niên và nhi đồng luôn luôn được Bác Hồ dành cho một tình thương yêu đặc biệt. Tấm lòng yêu thương và những lời dạy của Người vẫn luôn đồng hành cùng thiếu niên nhi đồng cả nước, là di sản văn hóa vô giá của toàn Đảng, toàn dân và của thế hệ trẻ nước ta.

Sinh thời, dù luôn bận bịu với việc nước, nhưng Bác Hồ vẫn dành nhiều thời gian quan tâm đến thế hệ măng non, bởi theo Bác, chính những thế hệ này sẽ là những chủ nhân tương lai của đất nước. Bác Hồ thường có thư gửi các cháu mỗi dịp khai trường, hay Tết Trung thu, Tết Thiếu nhi. Lời lẽ trong thư luôn ân cần, trìu mến, chí tình. Bác luôn nhắc thiếu nhi phải đoàn kết, thi đua học tập, lao động, rèn luyện đạo đức, rèn luyện sức khoẻ. Tấm lòng của Người đối với thiếu nhi được thể hiện qua những bức thư, những bài thơ mà cho đến hôm nay vẫn chan chứa tình thương yêu vô hạn.

Những vần thơ của Bác Hồ dành cho thiếu nhi chứa đựng tình thương yêu sâu sắc và thắm thiết. Người luôn nhắc đến trẻ em với một tình cảm trìu mến, nâng niu:

“Trẻ em như búp trên cành

Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan

Chẳng may vận nước gian nan

Trẻ em cũng phải lầm than cực lòng”…

Hết lòng thương yêu và ân cần dạy bảo thiếu nhi, Bác Hồ rất tin tưởng xác định trách nhiệm trọng đại của thiếu nhi đối với tương lai đất nước. Trong thư gửi học sinh vào tháng 9 năm 1945, Bác đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.

Cụ thể hơn, nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội thiếu niên Tiền Phong tháng 5 năm 1961, Bác gửi đến thiếu nhi cả nước 5 lời dạy thiêng liêng:

“Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào

Học tập tốt, lao động tốt

Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt

Giữ gìn vệ sinh

Thật thà dũng cảm”

Cho đến hôm nay, thiếu nhi cả nước vẫn xem như đó là mục tiêu để phấn đấu, là tiêu chuẩn để đánh giá đội viên tiêu biểu của Đội. Cũng ngay trong lá thư này, Bác ân cần nhắc nhở thiếu niên nhi đồng: “Mai sau các cháu sẽ là người chủ của nước nhà. Cho nên ngay từ rày, các cháu cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng để chuẩn bị trở nên người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Không chỉ yêu thương thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ còn khẳng định vai trò quan trọng của thiếu nhi đối với tương lai mai sau của đất nước và xác định trách nhiệm chăm sóc giáo dục các em không phải của riêng ngành nào, tổ chức nào mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân. Người luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải quan tâm đến việc giáo dục thiếu niên nhi đồng. Trong thư gửi Hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc, ngày 25 tháng 8 năm 1950, Bác Hồ viết: “Giáo dục nhi đồng là một khoa học. Cách dạy trẻ, cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc,thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra già cả”.

Bác cũng căn dặn người lớn phải quan tâm chăm sóc, giáo dục các em. Người dạy, ngày Tết Thiếu nhi 1-6 nhắc nhủ người lớn trước hết là bố mẹ, cô giáo, thầy giáo, Đoàn Thanh niên nhớ nhiệm vụ của mình đối với nhi đồng và người lớn phải là tấm gương cho trẻ em, phải “khéo giáo dục để mai sau nhi đồng trở thành người công dân có tài, có đức”.

Ba tháng trước ngày đi xa, Bác lại viết bài: “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” in trên báo Nhân dân. Bác viết: “Thiếu niên nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy, chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ. Trong thời gian tới và trong dịp hè này, cần phải đẩy mạnh công tác thiếu niên nhi đồng đạt nhiều kết quả tốt và thiết thực”.

Trong Bản Di Chúc lịch sử của mình, Bác Hồ cũng đã hai lần nhắc đến các cháu nhi đồng, và Người đã dành muôn vàn tình thân yêu của mình cho các cháu nhi đồng Việt Nam và nhi đồng quốc tế. Tấm lòng của Bác Hồ đối với thiếu nhi Việt Nam ví như trời biển. Nỗi thương nhớ của Bác đối với các cháu không bao giờ vơi cạn. Cho đến ngày Bác phải đi xa, trong Di chúc của mình, Bác còn gửi gắm: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thương yêu cho các cháu thiếu niên và nhi đồng…”

Ngày nay, thiếu niên nhi đồng nước ta đã và đang được Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và toàn xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, đã được thể hiện bằng luật định. Nhân Ngày Quốc tế thiếu nhi 1-6, thiếu nhi nước ta một lần nữa ôn lại lời dạy của Bác Hồ kính yêu trong những câu thơ mà Bác đã gửi cho các em vào tết trung thu năm 1952:

“Mong các cháu cố gắng

Thi đua học và hành

Tuổi nhỏ làm việc nhỏ

Tùy theo sức của mình…

Các cháu hãy xứng đáng

Cháu Bác Hồ Chí Minh”.

Nhớ ơn Bác, toàn thể thiếu nhi Việt Nam nguyện cố gắng học tập, tu dưỡng và rèn luyện thật tốt, trở thành con ngoan, trò giỏi để xứng đáng là “Cháu Bác Hồ Chí Minh” như Người hằng mong đợi./.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu Người có công với cách mạng quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng vào Lăng viếng Bác

Nhân dịp kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 66 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ, sáng ngày 29/5/2013, Đoàn đại biểu Người có công với cách mạng quận Thanh Khê, thành phố Đà Nãng đã ra thăm Thủ đô Hà Nội, vào Lăng viếng Bác và tham quan Khu Di tích K9 – Đá Chông.

da-nang-a
Các đại biểu được đón tiếp tại Nhà khách số 8 Hùng Vương

Đà Nẵng là mảnh đất anh hùng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Khi đất nước hòa bình, Đà Nẵng là một trong những địa phương trong cả nước thực hiện tốt công tác “Đền ơn, đáp nghĩa” cho các đối tượng chính sách. Với tình cảm đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, trong những năm qua, Đảng bộ và chính quyền thành phố Đà Nẵng đã thực hiện chính sách ưu đãi đối với những người có công với cách mạng, gia đình có công với cách mạng góp phần nâng cao đời sống của các gia đình người có công.

Đoàn đại biểu ra thăm Thủ đô Hà Nội và vào Lăng viếng Bác lần này có 36 đại biểu là những người có công với cách mạng. Họ là biệt động thành, công an vũ trang, bộ đội, cựu lãnh đạo tỉnh ủy, cán bộ tiền khởi nghĩa, thương bệnh binh, vợ liệt sỹ, trong đó người nhiều tuổi nhất là cụ Trần Hữu Toàn, thương binh 4/4, năm nay 81 tuổi.

Tại buổi tiếp, đồng chí Nguyễn Văn Thanh, Phó Chánh Văn phòng Ban Quản lý Lăng đã tiếp đón Đoàn ân cần, chu đáo tại Nhà khách số 8 Hùng Vương và giới thiệu khái quát về công tác giữ gìn thi hài Bác trong suốt 44 năm qua, về công tác đón tiếp tuyên truyền phục vụ chu đáo đồng bào trong nước và khách quốc tế nói chung cũng như đón tiếp phục vụ các đối tượng chính sách nói riêng và trao tặng Huy hiệu Bác Hồ cho từng thành viên trong Đoàn. Đồng thời, đồng chí gửi lời chúc Đảng bộ, nhân dân thành phố Đà Nẵng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng của mảnh đất anh dũng kiên cường trong công cuộc xây dựng thành phố, chúc các má, các bác tiếp tục là tấm gương sáng để giáo dục con cháu, thế hệ trẻ lòng yêu nước, hăng say học tập, lao động, phấn đấu xây dựng quê hương Đà Nẵng giàu đẹp hơn.

Trong không khí xúc động, bác Võ Minh Bình, nguyên chiến sỹ vệ binh Tỉnh đội Quảng Nam tâm sự: Năm 2000 là dịp lần đầu tiên tôi ra thăm Thủ đô Hà Nội và vào Lăng viếng Bác, trong niềm trào dâng xúc động tôi đã viết bài thơ “Nhớ mãi Bác ơi” trong đó có đoạn:

“Con đi dưới nắng Ba Đình

 Mà nghe sâu nặng ân tình Bác ơi !

Con nhìn Lăng Bác hồi lâu

Lòng thương nhớ Bác hồi đầu ra đi

……….”

Bác Võ Minh Bình nói tiếp: Trong lòng tôi vẫn còn nguyên niềm xúc động bồi hồi, và thầm hứa với Bác kính yêu sẽ sống xứng đáng với lời dạy của Bác.

Thay mặt đoàn đại biểu Người có công với cách mạng quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, đồng chí Trần Đình Chiến – Phó Chủ tịch UBND quận đồng thời là Trưởng đoàn đã chân thành cảm ơn sự đón tiếp nồng hậu của lãnh đạo Ban Quản lý Lăng. Đồng chí bày tỏ tình cảm biết ơn và lòng tự hào sâu sắc đối với Bác và xin hứa với Bác sẽ ra sức phấn đấu sống và học tập theo tấm gương đạo đức của Bác, làm tốt mọi việc để góp phần xây dựng thành phố Đà Nẵng giàu đẹp.

Vân Phương
bqllang.gov.vn

Lễ báo công dâng Bác của đoàn đại biểu cháu ngoan Bác Hồ thành phố Việt Trì lần thứ 13, năm 2013

Ngày 28/5/2013, tại Quảng trường Ba Đình, 123 đại biểu cháu ngoan Bác Hồ thay mặt cho hơn 15 nghìn “Cháu ngoan Bác Hồ” thành phố Việt Trì – tỉnh Phú Thọ đã về báo công dângBác. Tham dự buổi lễ có lãnh đạo Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố, lãnh đạo Tỉnh đoàn Phú Thọ, lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể thành phố, thành đoàn Việt Trì.

viet-tri-bao-cong-a
Không khí báo công thiêng liêng tại Quảng trường Ba Đình

Thay mặt Đoàn đại biểu, em Lê Thu Trang học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Tân Dân thành phố Việt Trì báo cáo với Bác những thành tích thiếu nhi thành phố Việt Trì đã đạt được trong năm qua. Cụ thể:

Về học tập: Đã có 4.880 học sinh giỏi các cấp; 236 học sinh giỏi cấp Quốc gia; 491 học sinh giỏi cấp tỉnh, 2975 học sinh giỏi cấp thành phố; trên 95% bạn xếp hạnh kiểm tốt trong toàn thành phố.

Cùng với những phong trào: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ”, “Thiếu nhi Việt Trì thi đua thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn, đáp nghĩa”, “Đi tìm địa chỉ đỏ”, “Giúp bạn đến trường”, “Kế hoạch nhỏ”, với nhiều hình thức như vận động các bạn thiếu nhi quyên gópđược trên 15 triệu đồng từ phong trào “Kế hoạch nhỏ”; trên 1000 quyển vở, 1000 chiếc bút, trên 2000 bộ quần áo; tặng trên 50 suất quà trị giá 200.000đ/1 suất; giúp đỡ được hơn 100 học sinh nghèo có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn trong và ngoài thành phố; thường xuyên tới chăm sóc và thăm hỏi các Mẹ Việt Nam anh hùng, tặng trên 80 suất quà cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng.

Ngoài việc học tập, các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, các sân chơi “Nhi đồng vui khoẻ”, “Tuổi thơ khám phá”, “Kính vạn hoa”, “Rung chuông vàng” đã thu hút được đông đảo đội viên tham gia, tạo thành phong trào thi đua rèn luyện sôi nổi tại các chi đội, liên đội; có 68 Câu lạc bộ đang hoạt động tại các liên đội như Câu lạc bộ Toán tuổi thơ, Câu lạc bộ Ngữ văn;được nhận Bằng khen của tỉnh Đoàn về Cuộc thi tìm hiểu Công ước quốc tế về Quyền trẻ em với 03 giải Nhất, 04 giải Nhì, 02 giải Ba; thành lập được 51 Đội Tuyên truyền, Phát thanh măng non hoạt động hiệu quả, tiêu biểu là Đội Phát thanh măng non liên đội Trường Tiểu học, Trung học cơ sở Gia Cẩm, Văn Lang, Thọ Sơn, Đinh Tiên Hoàng…

Trước anh linh Chủ tich Hồ Chí Minh, những đại biểu tham dự Đại hội Cháu ngoan Bác Hồthành phố Việt Trì lần thứ 13, năm 2013 nguyện nối dài cánh tay và trí tuệ, quyết đem sức mạnh chảy thành dòng bồi đắp xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.

viet-tri-bao-cong-b
Đoàn đại biểu kính cẩn dâng vòng hoa và vào Lăng viếng Bác

Kết thúc buổi Lễ, Đoàn đại biểu kính cẩn dâng hoa và vào Lăng viếng Bác.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức Hội thi cán bộ giảng dạy chính trị giỏi năm 2013

Ngày 27/5/2013, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức Hội thi cán bộ giảng dạy chính trị giỏi năm 2013. Tới dự, chỉ đạo và động viên Hội thi có đồng chí Đại tá Phạm Văn Lập, Bí thư Đảng ủy Đoàn 969, Chính ủy Bộ Tư lệnh; các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh, cán bộ Phòng Báo cáo viên, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị cùng lãnh đạo, chỉ huy và cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ các cơ quan, đơn vị.

hoi-thi-a
Đại tá Cao Đình Kiếm, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh  phát biểu tại Hội thi

Để bảo đảm cho Hội thi đạt kết quả tốt, ngay từ tháng 3/2013 Bộ Tư lệnh đã tổ chức tập huấn cho 96 đồng chí cán bộ giảng dạy chính trị ở cơ sở, đồng thời chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tổ chức Hội thi cán bộ giảng dạy chính trị ở cơ sở. Tham gia Hội thi ở cơ sở có 26 đồng chí, kết quả 100% thí sinh tham gia đều đạt Khá, Giỏi, trong đó có 18 đồng chí (tương đương 69,2%) đạt Giỏi.

Tại Hội thi cấp Bộ Tư lệnh, có 08 thí sinh là những cán bộ đã đạt giải cao trong các Hội thi ở cấp cơ sở. Mỗi thí sinh đều phải trải qua các phần: Soạn giáo án, thực hành giảng bài và kiến thức chung.

hoi-thi-c
Đại tá Cao Đình Kiếm, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh trao giải cho các thí sinh xuất sắc

Bộ Tư lệnh đã trao giấy chứng nhận “Cán bộ giảng dạy chính trị giỏi” cho 06 đồng chí, đồng thời tặng giải Nhất cho Thượng úy Đinh Văn Khang thuộc Phòng Chính trị, 02 giải Nhì cho Thiếu tá Nguyễn Tử Phương Thành thuộc Đoàn 275 và Thượng úy Hoàng Trung Kiên thuộc Đoàn 285, 02 giải Ba cho Thượng úy Nguyễn Đức Thi thuộc Đoàn 195 và Trung úy Lê Đức Cuờng thuộc Đoàn 285. Đồng thời lựa chọn Thượng úy Đinh Văn Khang, Thượng úy Hoàng Trung Kiên, Thiếu tá Nguyễn Tử Phương Thành tham gia Hội thi cấp toàn quân được tổ chức trong tháng 6/2013.

Nguyễn Văn Vượng, Ngọc Hà
bqllang.gov.vn

“Bác có phải là vua đâu?”

Trong sâu thẳm tận đáy lòng của mỗi người Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, dù ở trong nước hay ngoài nước đều rất mực kính trọng, khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh – Vị lãnh tụ uyên bác, có trái tim nồng nàn yêu nước, thương dân vô bờ bến; Người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất. Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho tự do và hạnh phúc của nhân dân, cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta.

Đã 44 năm trôi qua, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chi Minh về với thế giới người hiền, nhưng đối với mỗi người Việt Nam chúng ta, trong đó có chúng tôi, thế hệ được sinh ra khi Người không còn nữa, vẫn trào dâng một niềm xúc động khôn nguôi khi nhớ về Người. Tôi cảm thấy từ trong sâu thẳm lòng mình, Người vẫn hiện lên trong cuộc đời và trong trái tim của mỗi chúng ta – Một tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực, cao đẹp về lối sống giản dị, lòng nhân ái bao dung, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không xa hoa lãng phí, không phô trương hình thức, suốt đời sống trong sạch vì dân, vì nước, vì con người, không gợn chút riêng tư. Toàn tâm, toàn ý phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Bấy nhiêu đức tính cao cả ấy chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên cao thượng tuyệt vời. Nhưng cũng chính từ sự kết hợp của những đức tính đó, Người là tấm gương cụ thể, gần gũi mà mọi người đều có thể noi theo.

Suốt đời Bác luôn tâm niệm là người công bộc của nhân dân, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Bác Hồ kính yêu của chúng ta luôn luôn hoà mình vào cuộc sống chung của đồng bào, đồng chí, không nhận bất cứ một sự ưu tiên nào người khác dành cho mình.

Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, nhiều nhân sĩ, trí thức cao tuổi theo Bác lên Việt Bắc, đi kháng chiến, đèo cao, suối sâu, đường bùn lầy, nhiều vị phải nằm cáng. Anh em phục vụ lo Bác mệt cũng đề nghị Bác lên cáng, Bác gạt đi: Bác còn khoẻ, còn đi được, các chú có nhiệm vụ đưa Bác đi như thế này là tốt rồi.

Năm 1950, Bác Hồ đi chiến dịch biên giới. Chuyến đi dài ngày, gian khổ. Vì lo cho sức khoẻ của Bác, nên anh em cảnh vệ kiếm được một con ngựa, mời Bác lên. Bác cười: Chúng ta có 7 người, ngựa chỉ có một con, Bác cưỡi sao tiện?

Anh em vừa khẩn khoản: Chúng cháu còn trẻ, Bác đã cao tuổi, đường xa, việc nhiều,….Không nỡ từ chối, Bác trả lời:

– Thôi được, các chú cứ mang ngựa theo để nó đỡ hộ ba lô, gạo nước và thức ăn. Trên đường đi, ai mệt thì cưỡi. Bác mệt, Bác cũng sẽ cưỡi.

bac-co-phai-vua-dau-a
Bác đi thị sát chiến trường ở mặt trận Đông Khê trong chiến dịch Biên giới 1950.
(Ảnh được chụp bởi nhiếp ảnh gia Vũ Năng An)

Cuối năm 1961, Bác về thăm xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, một xã có phong trào trồng cây tốt. Tại một ngọn đồi thấp, Bác đứng nói chuyện với nhân dân trong xã. Trời đã gần trưa, tuy đã sang đông mà nắng còn gay gắt. Nhìn Bác đứng giữa nắng trưa, ai cũng băn khoăn. Đồng chí Chủ tịch huyện cho tìm mượn được một chiếc ô, định giương lên che nắng cho Bác, thì Bác quay lại hỏi:

– Thế chú có đủ ô che cho tất cả đồng bào không? Thôi, cất đi, Bác có phải là vua đâu?

Một lần, trong bữa ăn, đồng chí phục vụ dọn lên cho Bác một đĩa cá anh vũ, một loại cá sông quý hiếm thường chỉ có ở khúc sông thuộc Bạch Hạc – Việt Trì. Nhìn đĩa cá biết ngay là của hiếm, Bác khen và bảo:

– Cá ngon quá, thế mà chú Tô (tức đồng chí Phạm Văn Đồng) lại đi vắng. Thôi, các chú để đến chiều đồng chí Tô về cùng thưởng thức.

Miếng ngon không bao giờ Bác chịu ăn một mình. Chia sẻ ngọt bùi là thế, tưởng chuyện cũng sẽ qua đi. Nhưng đến bữa sau, trong mâm cơm lại có món cá hôm trước. Nhìn đĩa cá, Bác hiểu ngay và tỏ ra không bằng lòng.

– Bác có phải là vua đâu mà phải cung với tiến!

Rồi Người kiên quyết bắt mang đi không ăn nữa. Như Bác đã từng nói, ở đời ai chẳng thích ăn ngon, mặc đẹp, nhưng nếu miếng ngon đó lại đánh đổi bằng sự mệt nhọc, phiền hà của người khác thì Bác đâu có chấp nhận.

Những anh em công tác trong Phủ Chủ tịch hàng ngày vẫn thường đi lại bằng xe đạp, thỉnh thoảng có gặp Bác đi bộ. Nhìn thấy Bác, mọi người đều xuống dắt xe cho Bác đi qua rồi mới lên xe đi tiếp. Thấy vậy, Bác thường khoát tay ra hiệu bảo anh em cứ đi tiếp, không cần xuống xe. Nhưng ai có thể cho phép mình ngồi trên xe khi Bác đi bộ. Một lần, Bác gọi đồng chí vừa xuống dắt xe lại gần và bảo:

– Các chú có công việc của mình nên cứ tiếp tục đạp xe mà đi. Bác đâu có phải là cái đền có biển “hạ mã” ở trước để ai đi qua cũng phải xuống xe, xuống ngựa?

Lão Tử có nói: “Trời đất sở dĩ có thể dài và lâu vì không sống cho mình nên mới được trường sinh. Thánh nhân đặt thân mình ở sau mà lại lên trước, đặt thân mình ở ngoài mà lại còn”. Bác Hồ sống quên mình, không nghĩ đến mình mà lại trở thành sống mãi. Lời Lão Tử thật sâu sắc lắm thay!

Bác Hồ kính yêu của chúng ta là như vậy đó. Trái tim mênh mông của Người thuộc về dân tộc, thuộc về nhân dân “Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”. Người đã trở thành niềm tin và hy vọng, trở thành trung tâm hội tụ những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Qua câu chuyện này, chúng ta vô cùng kính trọng và khâm phục tấm gương đạo đức cao đẹp của Bác.

Là một Chủ tịch nước, một vị lãnh tụ tối cao nhưng Bác Hồ kính yêu của chúng ta sống một cuộc đời thật giản dị, thanh đạm như những người dân Việt Nam bình thường khác. Bác không bao giờ nhận bất cứ một sự ưu tiên đặc biệt nào người khác dành cho mình, không một chút riêng tư, suốt đời tận tụy vì dân, vì nước, vì con người. Sự hy sinh cao đẹp đó của Bác làm cho mỗi chúng ta không khỏi xúc động.

“Ôi lòng Bác vậy, cứ thương ta

Thương cuộc đời chung, thương cỏ hoa

Chỉ biết quên mình cho hết thảy

Như dòng sông chảy nặng phù sa”.

Sinh thời, Hồ Chủ tịch đã đau xót trước cảnh đồng bào sống dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân và phong kiến. Tận mắt nhìn thấy cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân lầm than, đói rét, Người đã ra đi tìm đường cứu nước. Hồ Chủ tịch luôn tự cho mình là Người lính vâng mệnh của quốc dân ra trước mặt trận”, là “Người đầy tớ trung thành của nhân dân”. Ở Người, lòng yêu mến nhân dân đã trở thành một sự say mê mãnh liệt. Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”

Cả đời Bác chỉ có mục đích đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh. Người nói: “Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”.

bac-co-phai-vua-dau-b

          Ngày 2/9/1945, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập trên Quảng trường Ba Đình lịch sử

Tôi còn nhớ khi được nghe các ông các bà rưng rưng xúc động kể chuyện của Ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập. Giọng nói ấm áp của Bác Hồ kính yêu không chỉ vang vọng khắp Quảng trường Ba Đình khi đó mà nó còn vang vào tận sâu thẳm mỗi con người Việt Nam. Thế hệ trẻ chúng tôi không được tận mắt chứng kiến giây phút lịch sử đó nhưng những điều đó đã ăn sâu vào tâm hồn. Bác Hồ – con người rất mực giản dị nhưng vô cùng cao quý, Bác ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn cho dân tộc. Những bài học Bác để lại là những điều vô cùng quý giá cho sự nghiệp xây dựng đất nước còn nhiều gian nan của đất nước ta.

Ngày nay, đất nước ta đang trên con đường đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với nền kinh tế thị trường hội nhập toàn cầu và đang từng bước phát triển đi lên về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và đặc biệt năm 2006 nước ta đã trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới – WTO. Bên cạnh những thành tựu to lớn đó, vẫn còn không ít những khó khăn, thách thức, những vấn đề xã hội nổi cộm. Đó là sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên lợi dụng chức quyền để tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính, lãng phí của công, quan liêu, xa rời quần chúng nhân dân, sống xa hoa trụy lạc, coi đồng tiền là trên hết, những người đã từng rất anh dũng chiến đấu trước bom đạn của địch, không chịu khuất phục, vậy mà nay họ đã bị “trúng viên đạn bọc đường” gây ra những tác hại nghiêm trọng, làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước. Đó đều là nỗi đau của xã hội, là nỗi xót xa của mỗi cán bộ, đảng viên. Trước thực trạng đó, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là việc làm hết sức cần thiết. Mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, ra sức bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cách mạng, đúng như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Nhân loại sẽ còn phải trải qua nhiều thăng trầm, thế giới sẽ còn nhiều đổi thay, nhưng tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ sống mãi với con người, non sông, đất nước Việt Nam. Tư tưởng vĩ đại và đạo đức cao cả của Người là lý tưởng, là lẽ sống của mỗi người dân Việt. Tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi soi đường chỉ lối cho con đường xây dựng đất nước đi tới thắng lợi cuối cùng. Những con người thuộc thế hệ trẻ như chúng tôi càng ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp phát triển đất nước. Những tư tưởng của Người chính là tiền đề quan trọng, định hướng cho chúng ta sống và làm việc vì đất nước!

Lệ Minh
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu thanh, thiếu nhi Hà Giang báo công dâng Bác

Trong không khí hân hoan cùng hàng triệu thanh, thiếu nhi cả nước đang hướng về kỷ niệm 123 năm Ngày sinh của Bác Hồ (19/5/1980-19/5/2013), sáng 25/5/2013, 60 đại biểu thanh, thiếu niên đại diện cho hơn 140 nghìn thanh, thiếu nhi là học sinh phổ thông các dân tộc của tỉnh Hà Giang tụ hội về Lăng Bác để thành kính dâng lên Người những thành tích học tập, rèn luyện và hoạt động công tác Đoàn – Đội, phong trào thanh, thiếu nhi mà các em đã đạt được trong năm học 2012 – 2013.

ha-giang-bao-cong
Đoàn đại biểu thanh, thiếu niên Hà Giang vào Lăng viếng Bác

Sinh ra và lớn lên trong thời bình, qua từng trang sách vở, qua từng bài giảng của thầy cô, các em biết rằng có được cuộc sống ấm no, độc lập, tự do và hoà bình như ngày hôm nay là nhờ công ơn của Bác, nhờ sự hy sinh anh dũng của các thế hệ cha anh đi trước. Thật tự hào được làm con dân đất Việt với lịch sử truyền thống dựng nước, giữ nước vẻ vang, có truyền thống yêu nước nồng nàn, có tinh thần đoàn kết yêu thương.

Nay Bác đã đi xa với giấc ngủ ngàn thu nhưng những lời căn dặn của Bác luôn là nguồn động viên, định hướng cho các em vững bước vào tương lai góp phần xây dựng tổ quốc. Các em luôn khắc ghi lời căn dặn của Bác “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ tuỳ theo sức của mình” và  “Không có việc gì khó chỉ sự lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”. Và thấu hiểu rằng khi còn là học sinh ngồi trên ghế nhà trường thì việc học tập, rèn luyện là quan trọng nhất, thành tích học tập chính là những bông hoa tươi đẹp nhất kính dâng lên Đảng, Bác Hồ, thầy cô và cha mẹ.

Thực hiện Cuộc vận động “Thiếu nhi Việt Nam thi đua thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy” vàCuộc vận động “Tuổi trẻ học tập và làm theo lời Bác”, năm học 2012 – 2013, thanh thiếu nhi tỉnh Hà Giang đã đạt được những thành tích tốt.

Nhớ lời căn dặn của Bác “Non sông việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cuờng quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”, để trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước, các em luôn thi đua học tập, thực hiện tốt Cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”; Cuộc vận động “Vượt khó và giúp bạn vượt khó học tốt”. 100% các trường học trong toàn tỉnh thường xuyên phát động các đợt thi đua học tập, lập thành tích chào mừng niệm các ngày lễ lớn trong năm, thông qua nhiều hình thức phong phú theo các chủ điểm như: “Hoa thơm dâng Bác”, “Ngàn hoa dâng Đảng. Các em luôn duy trì các hình thức giúp nhau học tập như  “Đội bạn cùng tiến”. “Bạn giúp bạn”; tổ chức các Cuộc thi như “Rung chuông vàng”, thi Olympíc các môn học. Kết quả toàn ngành Giáo dục Hà Giang đã đạt trên 600 nghìn giờ học tốt và đã có trên 14 nghìn thanh, thiếu nhi đạt học sinh giỏi các cấp, trên 42 nghìn học sinh đạt danh hiệu học sinh tiến tiến, trong đó có 04 học sinh đạt danh hiệu học sinh giỏi toàn quốc; 1.242 học sinh giỏi cấp tỉnh.

Đặc biệt Chương trình “Thắp sáng ước mơ thiếu nhi Việt Nam” và Chương trình “Thắp sáng ước mơ tuổi trẻ Việt Nam” đã thắp sáng những ước mơ hoài bão, tạo động lực niềm tin đẻ các em phấn đấu học tập, rèn luyện cho một tương lai tươi sáng và với truyền thống “Lá lành đùm lá rách – Lá rách ít đùm lá rách nhiều”, thanh thiếu nhi tỉnh Hà Giang đã triển khai và duy trì có hiệu quả phong trào “Nghìn việc tốt”, Cuộc vận động “Vòng tay bè bạn”, “Giúp bạn đến trường cùng hướng tới tương lai”; xây dựng quỹ “Vì bạn nghèo”, bằng nhiều hình thức như quyên góp quần áo, sách vở, đồ dùng học tập giúp đỡ bạn nghèo; tổ chức các chương trình giao lưu kết nghĩa giữa các trường. Kết quả, các em đã quyên góp được trên 450  triệu đồng; 18 nghìn bộ quần áo, 24.200 quyển vở và đồ dùng học tập giúp đỡ cho bạn nghèo.

Thấm nhuần đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của cha ông, với tấm lòng biết ơn sâu sắc các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, các em đã thực hiện tốt phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa” “Uống nước nhớ nguồn”, công tác “Trần Quốc Toản”; bằng những việc làm cụ thể thiết thực như tổ chức chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ và giúp đỡ các gia đình thương, binh liệt sĩ được 2.319 ngày công tặng được  250 xuất quà, trị giá 120 triệu đồng.

Kết quả đạt được tuy còn khiêm tốn nhưng những thành tích ấy chính là những bông hoa đỏ thắm mà thanh, thiếu nhi học sinh Hà Giang kính dâng lên Bác và xin hứa luôn khắc ghi lời Bác dạy, phấn đấu học tập, rèn luyện trở thành con ngoan, trò giỏi, người đội viên tốt, đoàn viên ưu tú góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnhvăn minh.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

CẢM XÚC THÁNG 5!

“…Vui sao một sáng tháng Năm

Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ…”

                                                  (Tố Hữu)

sang-thang-nam
Ảnh: Tư liệu

Những lời thơ ấy như không hẹn mà cứ ngân lên trong tôi mỗi dịp tháng Năm về. Tháng Năm trở lại trong muôn vàn thanh âm mới của đất trời đang chuyển mình vào hạ với sen hồng thơm ngát và lòng người cũng trào lên nhiều cảm xúc khi cả nước long trọng kỷ niệm nhiều ngày lễ lớn trong tháng Năm. Trong đó, kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2013) một lần nữa là dịp để cả nước tỏ lòng kính yêu vị cha già dân tộc.

Thấm thoắt cũng đã quá nửa thập niên đi qua kể từ khi Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được phát động (2007). Từ miền ngược tới miền xuôi, từ biên giới đến hải đảo, từ miền núi xuống đồng bằng, nơi đâu cũng tưng bừng khí thế của cuộc “ra quân” thực hiện đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Tháng 5 năm 2011, Bộ Chính trị tiếp tục ra Chỉ thị 03 – CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng ta tiếp tục củng cố phương hướng đưa việc học tập và làm theo trở thành việc làm thường xuyên, liên tục của cán bộ, đảng viên, nhân dân. Cấp ủy Đảng các cấp đã bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ chuyên đề học tập, làm theo gương Bác trong công tác xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước, lồng gắn nội dung các chuyên đề học tập, làm theo gương Bác trong các đợt sinh hoạt chi bộ, cơ quan, thi đua lập thành tích chào mừng 65 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua yêu nước (11/6/1948 – 11/6/2013) và gắn với triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Tháng Năm, báo công lên Bác sẽ là rất nhiều gương người tốt việc tốt, những việc “làm theo” của nhiều điển hình tiên tiến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.

Trong quá trình phát động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cả nước đã gặt hái được nhiều kết quả phấn khởi. Từ những tấm gương cựu chiến binh làm kinh tế giỏi, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động; cựu chiến binh già hàng năm đi tìm phần mộ đồng đội nằm lại chiến trường Quảng Bình, Quảng Trị bằng số tiền lương dành dụm được; phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế, phụ nữ tích cực học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; … cho đến những người sĩ quan trẻ trong hàng ngũ quân đội nhân dân không ngừng có những sáng chế trong bảo quản, sử dụng vũ khí… tất cả đều nhộn nhịp không khí hăng hái thi đua lập thành tích, báo công lên Người. Việc tổ chức học tập các chuyên đề về tư tưởng và tấm gương đạo đức của Bác được xem là khâu then chốt nhằm tạo ra những chuyển biến về mặt nhận thức và tạo sự chuyển biến trong việc làm theo của các tầng lớp nhân dân. Khắp nơi từ thành phố đến vùng sâu vùng xa; các cấp, các ngành đến cơ sở, nơi đâu cũng thấm nhuần cuộc sinh hoạt chính trị này bằng rất nhiều những việc làm thiết thực, cụ thể như: Phong trào “Mỗi đảng viên là một tấm gương sáng, là một tuyên truyền viên giỏi về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của thị xã Nghĩa Lộ – Yên Bái cũng là một cách làm sáng tạo để Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị ngày càng đi vào cuộc sống;  “Tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế – xã hội, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí” như lời Bác dặn đem lại cho nền kinh tế của huyện Mù Cang Chải có mức tăng trưởng khá.… Ngành Giáo dục gắn với Cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; ngành Y tế với Cuộc vận động “12 điều y đức”, Mỗi người tốt, việc tốt đều là một bông hoa đẹp tỏa ngát hương thơm để kính dâng lên Bác mỗi độ tháng Năm về!

Giữa những nhịp điệu xô bồ, hối hả của thời kỳ hội nhập, Đảng ta vẫn ra sức chèo lái con thuyền cách mạng theo định hướng xã hội chủ nghĩa cho đến ngày cập bến vinh quang. Vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu ở “thế giới người hiền” dường như vẫn luôn từng ngày dõi theo công cuộc xây dựng đất nước. Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên sống động đối với mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân hơn bao giờ hết bởi đó là linh hồn thanh khiết, hiện thân cho một tác phong giản dị, một trái tim bác ái yêu thương và một trí tuệ thiên tài. Bởi một lẽ thường tình rằng“cách cư xử của Bác với tiền tài, với cái ăn, cái mặc, với cơ sở vật chất nói chung đâu có phải là cao quá mà chúng ta không học tập được, đâu có phải là một tòa thánh cấm uy nghiêm mà chúng ta không đặt chân lên được thềm bậc, dù là bậc thềm thứ nhất?” (Trích“Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” – Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011).

Tháng Năm lại về giữa sắc nắng vàng tươi, nghe đâu đây giữa quảng trường Ba Đình lịch sử hay giữa gió ngàn Thủ đô kháng chiến năm nào, lời Người ngân vang…!

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Cơ quan Tổng cục Chính trị báo công Bác tại Khu Di tích K9

Sáng ngày 22/5/2013, tại Khu Di tích K9, 120 cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sỹ và những tấm gương tiêu biểu của cơ quan Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã tổ chức Lễ báo công, dâng lên Bác những thành tích trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Đoàn đại biểu cơ quan Tổng cục Chính trị báo công với Bác a1
Đoàn đại biểu cơ quan Tổng cục Chính trị báo công với Bác

Tổng cục Chính trị là cơ quan thường trực, giúp việc của Quân ủy Trung ương trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Hai năm qua, các cơ quan chức năng của Tổng cục Chính trị đã làm tốt việc tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn, tạo sự thống nhất, sâu rộng trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong tổ chức thực hiện, các cấp trong cơ quan Tổng cục Chính trị đều xây dựng kế hoạch, đưa vào Nghị quyết lãnh đạo thường kỳ của cấp ủy gắn với việc triển khai thực hiện Nghị quyết TƯ4 (khóa XI): Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. Xác định vấn đề quan trọng hàng đầu là làm cho toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức sâu sắc về vị trí, ý nghĩa to lớn của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Từ đó xây dựng ý thức tự giác, nâng cao chất lượng thực hiện chức trách, nhiệm vụ, góp phần làm chuyển biến khâu yếu, mặt yếu.

Hai năm 2011, 2012, có 36 tập thể, 98 cá nhân được công nhận, tôn vinh điển hình, tiêu biểu về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tiêu biểu như: Cục Cán bộ; Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng; Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam; Phòng Tài chính; Phòng Tổ chức Quy chế, Cục Tổ chức và các đồng chí Hồ Thủy, Giám đốc BHXH-BQP; Nguyễn Xuân Năng, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam; Đỗ Minh Hằng, Giám đốc Nhà hát Kịch nói Quân đội và đồng chí Trần Bích Huệ, Phó Giám đốc Thư viện Quân đội.

Tại buổi lễ, cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sỹ cơ quan Tổng cục Chính trị xin hứa với Bác tiếp tục phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, “Sống chiến đấu, lao động và học tập theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh “Suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị”; phát huy vai trò nêu gương, tình thương, trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp./.

Nguyễn Gia Chinh
bqllang.gov.vn

Viện Đại học mở Hà Nội báo công dâng Bác

Sáng 22/5/2013, 1000 đại biểu thay mặt cho hơn 60.000 cán bộ , giảng viên, sinh viên, học viên của Viện Đại học mở Hà Nội trên khắp mọi miền của Tổ quốc đã hội tụ về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh để báo công dâng Bác.

ĐH mở a1
Các đại biểu đại diện cho giảng viên, sinh viên, học viên
của Viện Đại học mở Hà Nội trên khắp mọi miền của
Tổ quốc kính cẩn làm Lễ báo công dâng Bác

Nội dung diễn văn báo công do đồng chí Lê Văn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Viện trưởng trình bày có đoạn:

“ Kính thưa Bác!

Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng các ngày lễ lớn trong năm kỷ niệm 123 năm Ngày sinh nhật Bác, hướng tới Chào mừng 68 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9/1945 – 2/9/2013; 59 năm giải phóng Thủ đô 10/10/2013 và  hướng tới kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Viện Đại học mở Hà Nội. Trong những ngày của tháng Năm lịch sử, 1000 đại biểu thay mặt cho hơn 60.000 cán bộ, giảng viên, sinh viên, học viên của Viện Đại học mở Hà Nội trên khắp mọi miền của Tổ quốc đã hội tụ về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, để vui mừng báo cáo với Bác về những thành tích và sự phấn đấu không ngừng trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học của nhiều thế hệ thầy và trò Viện Đại học mở Hà Nội trong suốt 20 năm qua.

Nhớ lời dạy của Bác: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, 20 năm qua Viện Đại học mở Hà Nội đã không ngừng thi đua, khắc phục mọi khó khăn, phấn đấu vì sự nghiệp giáo dục, góp sức xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, giàu mạnh, phát huy nhiệm vụ được giao là đơn vị giáo dục đào tạo đa ngành, đa loại hình, đa cấp độ phục vụ nhu cầu học tập đa dạng của nhiều người, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực đáp ừng yêu cầu xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế.

Trong hai mươi năm qua, Viện Đại học mở Hà Nội từ 4 khoa với 4 chuyên ngành đào tạo từ ngày đầu thành lập, đến nay đã có 12 khoa đào tạo 19 chuyên ngành ở bậc đại học. Viện được Thủ tướng cho phép đào tạo sau đại học từ năm học 2008 cho đến nay. Viện đã trở thành cơ sở đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, đa cấp với nhiều loại hình đào tạo khác nhau: Tập trung chính quy, vừa làm vừa học, liên thông, song song hai văn bằng và từ xa. Viện đã đào tạo và cung cấp cho xã hội được trên 100 ngàn cử nhân, kỹ sư các ngành Kế toán, Quản trị Kinh doanh, Luật, Du lịch – Khách sạn, Điện tử – Thông tin, Công nghệ thông tin, CN Sinh học, Kiến trúc, Thời trang, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc… Hầu hết sinh viên ra trường được xã hội đón nhận, có việc làm ổn định. Nhiều sinh viên tốt nghiệp của Viện hiện đang giữ các vị trí quan trọng trong các doanh nghiệp, cơ quan và chính quyền địa phương.

Đảng bộ Viện hiện có 140 đảng viên, gồm 21 chi bộ trực thuộc. Đảng bộ là hạt nhân lãnh đạo, hạt nhân đoàn kết toàn Viện thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao. Tổ chức công đoàn, Đoàn TNCS HCM, Hội sinh viên, phát huy tốt chức năng nhiệm vụ, kịp thời động viên đoàn kết cán bộ, giảng viên, sinh viên thực hiện nghị quyết của Đảng ủy và kế hoạch công tác của Ban Giám hiệu. Viện có đội ngũ giảng viên cơ hữu và thỉnh giảng trên 2000 người gồm các giáo sư, giảng viên có kinh nghiệm, tâm huyết nghề nghiệp tham gia giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho số lượng sinh viên đông đảo của nhà trường.

Đến nay Viện đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng và ban hành các quy định về hoạt động toàn diện của Viện, ban hành chuẩn đầu ra và thực hiện 3 công khai, triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ.

Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên được Nhà trường quan tâm, chỉ đạo đúng hướng, có hiệu quả. Hội nghị sinh viên tiên tiến, hội thảo khoa học trở thành truyền thống hàng năm tại Viện.

Viện luôn mở rộng phát triển các mối quan hệ hợp tác quốc tế với các trường đại học trong khu vực châu Á và thế giới.

Viện không ngừng cải thiện môi trường học đường, nâng cấp trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập cho sinh viên, đầu tư hàng ngàn máy tính nối mạng, thư viện điện tử, máy chiếu, băng tiếng, băng hình, học liệu cần thiết khác cung cấp cho sinh viên học tập.

Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học. Tập trung điều chỉnh, bổ sung các nội dung còn khuyết thiếu của chương trình đào tạo, đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp.

Với những đóng góp to lớn và liên tục trong 20 năm qua Viện Đại học Mở Hà Nội đã được Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhiều tổ chức chính trị, xã hội các tỉnh, thành phố tặng nhiều phần thưởng cao quý:

Huân chương Lao động hạng Ba năm 1998, Bằng khen của Thủ Tướng Chính Phủ, Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bằng khen của các tỉnh, thành phố.

Tập thể Đảng bộ Viện Đại học Mở Hà Nội nhiều năm liền dạt danh hiệu “Tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh”.

Công đoàn và Đoàn Thanh niên Viện nhiều năm liền được công nhận là “Đơn vị thi đua xuất sắc” và được tặng nhiều Bằng khen.

Đặc biệt, Viện Đại học mở Hà Nội được Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam và Bộ Giáo dục và Đào tạo trao tặng “Biểu tượng Vàng nguồn nhân lực Việt Nam” lần thứ nhất, năm 2011.

Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Viện Đại học mở Hà Nội xin hứa với Bác tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, triển khai sâu rộng cho Viện trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn nữa đến mọi tầng lớp cán bộ, sinh viên trong Viện và ngành giáo dục.

ĐH mở a2
Đoàn đại biểu kính cẩn dâng vòng hoa và vào Lăng viếng Bác

Kết thúc Lễ báo công, Đoàn đại biểu cán bộ, giảng viên, sinh viên Viện Đại học mở Hà Nội kính cẩn đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trần Tiên Long
bqllang.gov.vn