Tag Archive | Hồ Chí Minh

Tư tưởng độc lập tự do với sự kiến lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Nhà nước pháp quyền của toàn thể dân tộc

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước
(5.6.1911- 5.6.2011)

“Nói đến vấn đề dân tộc tức là đã nói đến sự tự do độc lập của mỗi dân tộc tùy theo ý muốn của mỗi dân tộc… Riêng dân tộc Việt Nam…, sau lúc đánh đuổi thực dân Pháp – Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới… Chính quyền cách mạng của nước dân chủ ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc…”

Nguồn: bachovoihue.violet.vn

Chủ trương chiến lược cách mạng giải phóng vì tự do độc lập dân tộc dưới ánh sáng của học thuyết Hồ Chí Minh

Thực chất của vấn đề dân tộc là vấn đề quyền tự do độc lập và quyền tự lựa chọn của mỗi dân tộc. Đối với Việt Nam, học thuyết sáng tạo về cách mạng giải phóng vì độc lập tự do của Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn của quốc gia dân tộc, đáp ứng khát vọng thiêng liêng nhất của toàn dân, “đặc biệt là các tầng lớp thanh niên trí thức, học sinh, có tinh thần yêu nước nồng nàn, thiết tha mong muốn bảo vệ truyền thống văn hóa đẹp đẽ của dân tộc, khôi phục những giá trị tinh thần cao quý của con người Việt Nam bị bọn đế quốc phong kiến chà đạp. Họ tỏ ra thức thời và nhạy cảm với thời cuộc…” Nhiều lớp huấn luyện cán bộ được mở ở Quảng Châu (Trung Quốc) do Hồ Chí Minh chỉ đạo và là giảng viên chính để đào tạo cán bộ nhằm truyền bá lý luận về “đường cách mệnh”, theo học thuyết cách mạng giải phóng và phát triển vì độc lập tự do của Người để truyền bá vào Việt Nam, chuẩn bị để thành lập “đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”. Các học viên được học tập ở Quảng Châu đã “bí mật về nước truyền bá lý luận giải phóng dân tộc, và tổ chức nhân dân”, đã làm dấy lên trong toàn quốc một phong trào đấu tranh dân tộc, dân chủ mạnh mẽ, có tính chất chính trị, tính “tự giác”, có tổ chức chỉ đạo của các chiến sỹ theo học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, các tổ chức cộng sản đã ra đời vào mùa thu năm 1929 và hoạt động riêng lẻ. Nhu cầu thành lập một đảng cách mệnh duy nhất đã chín muồi.

Với trọng trách lịch sử đối với dân tộc và trên cương vị là một phái viên của Quốc tế cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề có liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, bằng thái độ chân thành, có sức thuyết phục các đại biểu dự Hội nghị hợp nhất Đảng họp từ ngày 6.1.1930 tại Cửu Long, Hồng Kông đã đồng thuận quyết định thống nhất các tổ chức đảng đang hoạt động riêng lẻ để thành lập một đảng với tên gọi đúng đắn là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cùng các văn kiện chính trị khác. Cương lĩnh của Đảng tuy còn vắn tắt, song là một Cương lĩnh cách mạng sáng tạo, thấm đượm yếu tố dân tộc về cả mục tiêu chính trị và sự tập hợp đại đoàn kết các giai cấp và các tầng lớp nhân dân đấu tranh vì độc lập, tự do. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, thông qua sự thử thách, sàng lọc, chọn lựa lịch sử là sự hiện thực hóa, cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam theo học thuyết cách mạng Hồ Chí Minh.

Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của sự kết hợp học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh cùng với sự tác động của chủ nghĩa Mac – Lênin với phong trào dân tộc Việt Nam (bao gồm công nhân, nông dân, những tầng lớp lao động và học sinh, trí thức yêu nước…) trong những năm 20 của thế kỷ XX. Đây là một thành công sáng tạo của Hồ Chí Minh trong cuộc vận động tổ chức một đảng tiên phong cách mạng để lãnh đạo và tổ chức cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.

Ngay sau khi Đảng mới được thành lập, một phong trào cách mạng có tính quần chúng nổ ra ở nhiều địa phương, tiêu biểu là ở Nghệ An và Hà Tĩnh đã cuốn hút mạnh mẽ lực lượng quần chúng đông đảo, không chỉ có công nhân, nông dân mà còn có trí thức, sĩ phu, phú nông, trung tiểu địa chủ và cả một số quan lại nhỏ ở nông thôn. Sự thật, lịch sử đó bước đầu đã minh chứng giá trị hiện thực của tư tưởng và đường lối giương cao ngọn cờ độc lập tự do của Hồ Chí Minh. Nét sáng tạo độc đáo này của Hồ Chí Minh khác với quan điểm của Quốc tế Cộng sản. Theo chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, của Xtalin, Hội nghị tháng 10.1930 của Ban Chấp hành đã phê phán và quyết định thủ tiêu Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và vạch ra một Cương lĩnh mới – Luận cương chánh trị của Đảng, đặt hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, độc lập dân tộc và người cày có ruộng ngang nhau. Còn trong chỉ đạo thực tiễn, xu hướng “tả” khuynh đã xuất hiện với khẩu hiện thanh trừ phí, phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ! Xu hướng “tả” khuynh đó cũng sớm được Ban Thường vụ Trung ương Đảng phê phán và nhắc nhở các cấp bộ Đảng phải sửa chữa.

Lịch sử có lúc gập ghềnh, quanh co, thậm chí sai lầm, song cuối cùng phải chảy xuôi dòng. Trải qua nhiều năm đấu tranh, rèn luyện trong thực tiễn, rút kinh nghiệm của phong trào cách mạng trong nước dưới sự chỉ đạo của Đảng và kinh nghiệm quốc tế, sự chỉ đạo của Đảng ngày càng sắc bén về chính trị, tôn trọng sự thực khách quan nên đã có sự đổi mới chỉ đạo về đường lối, chủ trương, kể cả chủ trương mạnh dạn là thay đổi cả chiến lược cách mạng cho phù hợp với đòi hỏi của lịch sử. Trong văn kiện chung quanh vấn đề Chiến sách mới của Đảng ngày 30.10.1936, Đảng đã nêu rõ hai điều rất cơ bản về chiến lược cách mạng và về Đảng cộng sản. Đó là:

Về chiến lược, Đảng nêu rõ: “Cuộc dân tộc giải phóng không nhất định phải kết chặt với cuộc cách mạng điền địa… lý thuyết ấy có chỗ không xác đáng…

Đảng Cộng sản Đông Dương là đảng của dân chúng bị áp bức, đội tiên phong cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Đông Dương.

Tháng 9.1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, đế quốc Pháp tham chiến. Chúng thi hành chính sách thời chiến ở Đông Dương. Vấn đề sống còn của các dân tộc trên bán đảo Đông Dương được đặt ra một cách cấp bách hơn bao giờ hết. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản họp dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã đề ra chủ trương phải thay đổi chiến lược cách mạng.

Năm 1940, phát xít Nhật bắt đầu xâm lược Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì thực dân Pháp đã đầu hàng đón Nhật. Dân ta phải chịu hai tầng xiềng xích nô lệ của Pháp và Nhật. Trong thời gian này, Hồ Chí Minh không còn phải “sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng” đã trở về Việt Nam ngày 28.1.1941. Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ Tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Pắc Bó, Cao Bằng (từ ngày 10 đến ngày 19.5.1941). Hội nghị đã phân tích một cách khoa học, tác động của Chiến tranh thế giới lần thứ hai đối với nhân loại giống như một cơn lốc lớn đang làm biến đổi số mệnh của hàng triệu con người, thúc đẩy các dân tộc phải vùng lên giải phóng cho mình khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc và thực dân. Đối với dân tộc Việt Nam lúc này: “Nhân dân Việt Nam… ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng mong muốn độc lập tự do, và đang trong tư thế một người lên tiếng vạn người ủng hộ”.

Từ thực tiễn khách quan đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng được sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh, đã tiếp tục và phát triển tư tưởng, đường lối chiến lược cách mạng của Cương lĩnh đầu tiên của Đảng với một quyết định dứt khoát về vấn đề dân tộc rằng: “nói đến vấn đề dân tộc tức là nói đến sự tự do độc lập của mỗi dân tộc tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc, quốc gia tùy ý… Văn hóa của mỗi dân tộc…, tiếng mẹ đẻ của các dân tộc sẽ được tự do phát triển, tồn tại và được bảo đảm. Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng…”

Từ nhận thức đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định:

Thay đổi chiến lược cách mạng, coi cách mạng ở Đông Dương lúc đó không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, phải giải quyết song song hai nhiệm vụ phản đế và điền địa nữa, mà là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nhằm đánh đuổi phát xít Nhật – Pháp, giành lấy độc lập tự do, (sau khi hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc sẽ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cách mạng tư sản dân quyền tạo tiền đề để tiến lên con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa).

Cách mạng giải phóng dân tộc là việc chung của cả dân chúng được tổ chức thành một mặt trận đại đoàn kết bao gồm các giới đồng bào không phân biệt công nhân, nông dân, phú nông, địa chủ, tư sản bản xứ, già trẻ, trai gái, tôn giáo và xu hướng chính trị, ai có lòng yêu nước phải ra sức chuẩn bị tiến lên thực hiện một cuộc khỏi nghĩa của toàn dân – khởi nghĩa dân tộc, đánh đuổi Pháp – Nhật làm cho Việt Nam được hoàn toàn độc lập, dân Việt Nam được hoàn toàn tự do.

Sau khi đánh đuổi được Nhật – Pháp sẽ thành lập một kiểu nhà nước dân tộc theo thể chế dân chủ cộng hòa. Nghị quyết khẳng định “Dân tộc Việt Nam…, sau lúc đánh đuổi được Pháp – Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới… Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai đế quốc Pháp – Nhật và những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy”. Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Quốc dân đại hội cử ra và lấy lá cờ đỏ ngôi sao năm cánh làm lá cờ toàn quốc.

Sự đổi mới về tư duy của Ban Chấp hành Trung ương Đảng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương thực hiện chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc vì tự do, độc lập, lập nên nhà nước dân chủ mới của toàn dân tộc đã đáp ứng nguyện vọng bức thiết của mọi người Việt Nam yêu nước, phấn đấu theo Chương trình của Việt Minh, chuẩn bị đem sức ta mà tự giải phóng cho ta, không ỷ lại vào ai hết.

Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước pháp quyền của chung cả toàn thể dân tộc

Cuộc đảo chính ngày 9.3.1945 truất quyền của Pháp, chiếm hẳn lấy Đông Dương làm thuộc địa của phát xít Nhật đã tạo ra cơ hội cho những điều kiện khởi nghĩa mau chín muồi. Cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ đã diễn ra phong phú bao gồm nhiều hình thức khác nhau, trong đó đã nổ ra các cuộc khởi nghĩa từng phần, lập chính quyền bộ phận, dẫn đến sự ra đời của khu giải phóng bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang, và một số vùng lân cận thuộc Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên. Tân Trào được chọn làm Thủ đô lâm thời của Khu giải phóng. Hơn một triệu đồng bào trong khu giải phóng đã bắt đầu hưởng được hạnh phúc cách mạng. “Một nước Việt Nam mới đang nảy nở. Nhiều chiến khu ở các địa phương khác cũng lần lượt được thành lập. Một phần Bắc Bộ đã thực tế đặt dưới chính quyền cách mạng. Nước Việt Nam phôi thai từ đó”.

Giữa tháng 8.1945, tình thế cách mạng trực tiếp đã đến. Theo dõi sát tiến trình của thời cuộc thế giới và trong nước, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào đã quyết định phát động cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc trước khi quân Đồng minh kéo vào nước ta.

Ngay sau Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng vừa bế mạc thì Đại hội quốc dân đã khai mạc trưa 16.8.1945. Dự Đại hội có khoảng 60 đại biểu đại diện cho các đảng phái yêu nước, các đoàn thể cứu quốc, các dân tộc ít người, tôn giáo, có cả đại biểu từ Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Việt Kiều ở Lào và Thái Lan. Đại hội đã có ba quyết định lớn:

Tán thành chủ trương sáng suốt của Đảng do Tổng Bí thư Trường Chinh báo cáo là: “Lãnh đạo quần chúng nhân dân nổi dậy tước vũ khí của Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương, giành lấy chính quyền từ tay Nhật và bọn bù nhìn tay sai của Nhật, dùng địa vị cầm quyền mà tiếp đón quân Đồng minh vào giải ngũ quân Nhật trên đất Đông Dương”.

Thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh và hiệu triệu đồng bào toàn quốc phải tích cực phấn đấu thực hiện, trong đó điều mấu chốt đầu tiên là giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam trên nền tảng độc lập.

Thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam gồm 15 thành viên do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam cũng như Chính phủ lâm thời của nước ta lúc bấy giờ có nhiệm vụ chủ trì mọi công việc đối nội và giao thiệp với nước ngoài.

Quốc dân Đại hội Tân Trào là một biểu hiện sáng tạo, độc đáo của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng, phát triển, thực thi từng bước tư tưởng dân quyền ngay trong đêm trước của cuộc Tổng khởi nghĩa. Đây “là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của ta ngót một thế kỷ nay”, một tổ chức chính trị mang tầm vóc lịch sử một Quốc hội của nước Việt Nam mới, một cơ quan quyền lực lâm thời tối cao của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc. Nhận xét về sự kiện lịch sử này, một sỹ quan tình báo Mỹ đã từng có mặt ở Việt Nam là Archimedes L.A Patti lúc bấy giờ đã viết, khi biết tin sự sụp đổ của phát xít Nhật, Hồ Chí Minh “đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng… Ông Hồ biết rằng ông phải làm cho mọi người thấy rõ được cả tính chất hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào”.

Cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã thành công trong cả nước. Chính quyền cách mạng thuộc về toàn dân. Ủy ban dân tộc giải phóng đã được cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 2.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân và thế giới: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời”. Tuyên ngôn độc lập là văn kiện mang tính pháp lý tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ mới do cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì độc lập tự do – quyền thiêng liêng trời cho của mọi dân tộc là chính nghĩa, hợp lý và hợp pháp.

Một nhà nước độc lập, dân chủ phải là nhà nước chung của cả dân tộc, do nhân dân cử ra và quản lý xã hội bằng luật pháp, phải có hiến pháp dân chủ. Ngày 3.9.1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: dưới chế độ quân chủ đến chế độ thực dân, nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Vì vậy, Người đã đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả mọi công dân, trai, gái mười tám tuổi trở lên đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống…

Ngày 6.1.1946, cuộc tổng tuyển cử đã diễn ra thắng lợi trong cả nước. Tại kỳ họp thứ Nhất của Quốc hội (2.3.1946), Chính phủ liên hiệp kháng chiến đã được thành lập. Đến kỳ họp thứ Hai của Quốc hội, họp ở Hà Nội (từ ngày 28.10 đến ngày 9.11.1946), bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam đã được Quốc hội thông qua với 240 đại biểu tán thành trên 242 đại biểu có mặt tại kỳ họp. Hiến pháp – đạo luật cơ bản đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ghi rõ:

“Cuộc cách mạng Tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa…”

Hiến pháp xây dựng trên những nguyên tắc sau:

“- Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo.

– Bảo đảm các quyền tự do dân chủ.

– Thực hiện quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”.

Tính chất dân tộc, dân chủ của toàn dân được phản ánh trong Hiến pháp, các Sắc lệnh của Chính phủ và trong thực tiễn cuộc sống của toàn dân. Kỳ họp thứ hai của Quốc hội họp trong thời điểm lịch sử rất gay go, đất nước sắp bước vào cuộc chiến đấu để chống lại âm mưu mở rộng cuộc tái chiếm đất nước ta của thực dân Pháp trên cả nước, các ĐBQH đã thảo luận sôi nổi, dân chủ, có khi gay gắt, song cuối cùng đã đi đến thống nhất. “Nếu có ai có thành kiến của giai cấp, của đảng phái, của tôn giáo thì đến phòng này (phòng họp của Quốc hội tại nhà hát lớn Hà Nội) cũng đã để lòng nghe theo tiếng gọi cao cả và thiêng liêng hơn cả bấy nhiêu tiếng gọi lúc thường: tiếng gọi của Tổ quốc. Cái không khí ấy đã hoàn toàn phản chiếu được tình trạng của đất nước…, tình trạng thống nhất ý chí và hành động…”

Tổ quốc trên hết! Đoàn kết, đại đoàn kết! Không phân biệt đảng phái! Đó là ý chí cơ bản của Quốc hội theo ngọn cờ độc lập tự do, thống nhất quốc gia dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chúng ta chỉ có một “Đảng Việt Nam” – đội tiên phong của dân tộc.

Trong vòng hơn một năm quản lý xã hội, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã triển khai hoạt động của mình trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, quân sự, ngoại giao vì lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, tự do, hạnh phúc trong điều kiện đất nước đang phải trải qua muôn vàn khó khăn. Chính phủ đã tỏ rõ một ý muốn duy nhất làm sao đem lại cho dân chúng được tự do, độc lập hoàn toàn và để cho tất cả mọi phần tử quốc dân được hưởng tự do, độc lập ấy như muôn vật được hưởng ánh sáng mặt trời”.

Nguồn giá trị truyền thống văn hóa tư tưởng của tổ tiên, học thuyết cách mạng giải phóng và phát triển dân tộc vì độc lập tự do của Hồ Chí Minh thực sự là cơ sở tư tưởng và kim chỉ nam hành động cho toàn Đảng, toàn dân Việt Nam trong cuộc cách mạng giải phóng dẫn đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập là chính nghĩa, hợp pháp, hợp hiến.

Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa là nhà nước pháp quyền của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc.

Thực chất vấn đề dân tộc là vấn đề tự do độc lập, quyền vô cùng thiêng liêng của Việt Nam cũng như mọi quốc gia trên thế giới. Dựa trên cơ sở triết lý lịch sử của Việt Nam và các quốc gia dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh đã nêu một quan điểm có giá trị nhân loại rằng: “Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc”.

Nhận thức tính khách quan và giá trị thiêng liêng của quyền tự do độc lập, Đảng ta do Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện và tổ chức thực thi quyền thiêng liêng đó ngay từ đêm trước và trong năm đầu của sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 – 1946) là sáng tạo tuyệt vời về trí tuệ, sức mạnh của Đảng, của toàn dân tộc Việt Nam, tạo nên một động lực vĩ đại cho sự trường tồn, phát triển của Việt Nam trong sự nghiệp giữ vững và phát triển quyền tự do và độc lập.

Giá trị về lý luận và bài học về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc hay như cách nói của Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương tháng 5.1941 là của chung của cả toàn thể dân tộc – vẫn tiếp tục làm cơ sở tư tưởng và kim chỉ nam hành động cho toàn Đảng và toàn dân trên con đường xây dựng và phát triển đất nước theo đường lối đổi mới.

Pgs Lê Mậu Hãn

daibieunhandan.vn

Kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh

(ĐCSVN) – Một trong những bài học lớn Đảng ta đã rút ra từ thực tiễn 76 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam và 20 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN đó là: Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác- Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Trong điều kiện hiện nay khi chế độ XHCN bị tan rã ở Liên Xô và Đông Âu, khi các thế lực thù địch đang điên cuồng tấn công phủ định Chủ nghĩa Mác- Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, vì sao Đảng ta tiếp tục khẳng định phải kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác- Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đến Đại hội VII (1991), tư duy lý luận của Đảng ta đã có bước phát triển quan trọng, khi trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng ta khẳng định: Chủ nghĩa Mác- Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.
Những căn cứ chủ yếu của sự khẳng định này là gì?

1- Xin được bắt đầu từ luận điểm nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Muốn có cách mạng phải có Đảng cách mạng. Đảng có vững, cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt. Trong Đảng ai cũng phải hiểu, phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có kim chỉ nam. Trong thời đại hiện nay chủ nghĩa nhiều, học thuyết lắm nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất là Chủ nghĩa Mác- Lênin.

Không phải ngẫu nhiên, ngay sau sự kiện CNXH ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, tại cuộc Hội thảo khoa học về Mác tại Pari, các nhà tư tưởng lớn của thế giới vẫn khẳng định: Tư tưởng của Mác đã làm nên lịch sử thế kỷ 20, Tư tưởng của Mác vẫn là tư tưởng của thế kỷ 21, nhân loại không có tương lai nếu không có tư tưởng của Mác.

Thực tiễn lịch sử trên l50 năm qua đã khẳng định Chủ nghĩa Mác – Lê nin là đỉnh cao trí tuệ của nhân loại. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã cung cấp cho chúng ta một thế giới quan khoa học và cách mạng. Với thế giới quan khoa học và cách mạng này chúng ta đã khám phá ra những quy luật phổ biến về sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người; quan hệ và vị trí của con người trong thế giới đó. Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất từ trước đến nay đã nêu rõ mục tiêu, chỉ rõ lực lượng, điều kiện và phương thức đấu tranh giải phóng triệt để giai cấp vô sản, nhân dân lao động và các dân tộc thoát khỏi mọi sự tha hóa, có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc và có điều kiện phát triển toàn diện, thực hiện được vai trò làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ cuộc sống của bản thân mình. Chỉ có trong Chủ nghĩa Mác-Lênin mới có sự thống nhất cao độ giữa lý tưởng chính trị cao cả với lý tưởng đạo đức, nhân văn và nhân đạo chân chính cùng khả năng thực hiện lý tưởng đó.

2- Trên 150 năm qua, lý tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã thức tỉnh và lôi cuốn hàng triệu triệu người trên thế giới vào cuộc đấu tranh giải phóng triệt để giai cấp, xã hội và con người. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng 10 Nga đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại: thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Sự tồn tại và phát triển của Chủ nghĩa xã hội hiện thực trong 70 năm của thế kỷ 20 đã có những cống hiến vĩ đại cho nhân loại. Đó là: giải phóng hơn 1 tỷ người thoát khỏi áp bức bóc lột bất công có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, đánh bại chủ nghĩa phát xít cứu nhân loại thoát khỏi bọn diệt chủng và đối mặt với những ưu việt của CNXH hiện thực, buộc chủ nghĩa tư bản phải có những điều chỉnh. Nếu một số quyền dân sinh, dân chủ nào đó có được ở các nước tư bản cũng chính là đóng góp của CNXH hiện thực.

Sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu không phải do Chủ nghĩa Mác – Lênin lỗi thời. Trên thế giới ngày nay có hàng chục vạn ngôi chùa, vậy vài ngàn ngôi chùa đổ đâu phải bởi tại Kinh hỏng mà thực chất do đám sư phá giới ở đó đã đập phá chùa.

Nói cách khác nguyên nhân sụp đổ của CNXH ở Liên Xô, Đông Âu chính là do những người cầm đầu các Đảng này đã đi theo con đường phản bội CN Mác -Lê nin, họ thực hiện chủ nghĩa cơ hội, giáo điều, bảo thủ và bị sự tấn công điên cuồng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế thông qua chiến lược diễn biến hoà bình và bạo loạn lật đổ rất thâm độc và nguy hiểm.

Ngày nay trước sự thăng trầm của lịch sử hơn 100 năm qua, những người cộng sản chân chính, những nhà khoa học trung thực, những lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới vẫn khẳng định những giá trị bền vững của những nguyên lí cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin, vẫn coi Chủ nghĩa Mác – Lê nin là ngọn cờ tư tưởng của thế kỷ 21 và là tương lai của nhân loại.

3- Vai trò quan trọng đặc biệt của Chủ nghĩa Mác – Lênin đối với cách mạng Việt Nam.
Năm l858 khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược và đặt ách nô dịch lên đất nước ta. Phát huy truyền thống quật cường dân tộc từ 1858 đến đầu những năm 30 của thế kỷ 20, các tầng lớp nhân dân liên tiếp vùng dậy đấu tranh chống Pháp cứu nước. Tất cả các phong trào cứu nước từ Cần Vương đến hàng trăm các cuộc khởi nghĩa, rồi phong trào Duy Tân, Đông Du… đều tràn đầy lòng yêu nước, đức hy sinh cao thượng, nhưng tất cả đều thất bại. Cách mạng Việt Nam thời kỳ này chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.

Năm 1911, Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, với lòng yêu nước nồng nàn, với thiên tài trí tuệ, thông qua khảo sát cuộc đấu tranh của nhiều dân tộc và nhất là trực tiếp thông qua hoạt động của nhiều tổ chức cách mạng quốc tế đã dẫn đến cuộc gặp gỡ kỳ diệu – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh gặp Lênin qua tác phẩm của Người: Luận cương về vấn đề các dân tộc và thuộc địa. Sau cuộc gặp gỡ kỳ diệu này, Bác Hồ đã tiếp nhận được bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ đây Bác đã tìm ra con đường duy nhất đúng đắn để cứu nước, cứu dân. Quá trình tiếp thu và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin để lãnh đạo cách mạng Việt Nam là quá trình chủ yếu, nguồn gốc chủ yếu hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh – đó là hệ thống các quan điểm chính trị sâu sắc, toàn diện về cách mạng Việt Nam.

Dưới ánh sáng soi đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Cách mạng Việt Nam đã liên tiếp giành được những thắng lợi vĩ đại. Cách mạng tháng 8 thành công, tiến hành thắng lợi 2 cuộc kháng chiến vĩ đại đánh thắng 2 đế quốc to, giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc, đưa cả nước vào kỷ nguyên xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiến hành thắng lợi sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam 76 năm qua đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Bác Hồ và của Đảng ta. 76 năm qua, Bác Hồ và Đảng ta đã kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngày nay đất nước ta đã bước vào thời kỳ mới với những nhiệm vụ lịch sử nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tiến hành đồng bộ sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa nước ta sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển và đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Chỉ có kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh mới đảm bảo cho Đảng ta có lập trường vững chắc, có phương pháp cách mạng và khoa học để xử lý đúng đắn những vấn đề mới nảy sinh, đưa ra đường lối, chiến lược và chính sách đúng đắn để lãnh đạo nhân dân ta nắm lấy thời cơ, vận hội, vượt qua thách thức tiến tới thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị lịch sử trong thời kỳ mới.

4. Trong điều kiện hiện nay, chỉ có kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh mới góp phần củng cố vững chắc sự thống nhất ý chí trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, mới có cơ sở và điều kiện chính trị vững chắc để đẩy lùi nguy cơ suy thoái về chính trị tư tưởng trong một bộ phận cán bộ đảng viên hiện nay.

5. Cần phải làm gì để kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh.

– Trước hết, phải thực hiện nghiêm túc có hiệu quả lời dạy của Bác: Ai cũng phải hiểu và làm theo Chủ nghĩa Mác-Lênin. Muốn mọi cán bộ đảng viên phải hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải tăng cường và đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị trong các trường chính trị, trong các trường đại học và cao đẳng cũng như đổi mới giáo dục công dân trong các trường phổ thông.

Trên cơ sở bộ giáo trình chuẩn (Triết học Mác-Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng) để biên soạn các bộ giáo trình phù hợp với từng đối tượng. Phải đổi mới và tăng cường bồi dưỡng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, đảm bảo đội ngũ này thực sự kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững bản chất cách mạng, khoa học, hiểu sâu sắc phương pháp luận Mác-Lênin, nắm vững sự vận dụng sáng tạo của Bác Hồ và Đảng ta vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, có tâm huyết, có nghệ thuật truyền đạt, giảng dạy Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự có hiệu quả.

Phải có quy định chặt chẽ tiêu chuẩn đảng viên, cán bộ các cấp về việc học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải chỉ đạo để các phương tiện thông tin đại chúng có nhiều hình thức truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong toàn xã hội.

– Cần xác định rõ tiêu chí của việc kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên đó là phải hiểu và nắm vững bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện tập trung ở những vấn đề cơ bản sau:

– Nhận thức rõ mục tiêu lý tưởng, con đường, lực lượng cách mạng, phương pháp cách mạng để giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người.

– Nắm vững cả ba bộ phận cấu thành Chủ nghĩa Mác-Lênin là triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị học Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học và quan trọng nhất là thấu triệt phép biện chứng duy vật mà từ bản chất của nó là “có tính phê phán và cách mạng”. Phép biện chứng duy vật là linh hồn sống của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, là hạt nhân thế giới quan khoa học và cách mạng để từ đó có phương pháp đúng đắn khi xem xét giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Mỗi sự vật, hiện tượng phải được xem xét theo quan điểm toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển.

– Phải nắm chắc chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin mà cốt lõi là học thuyết hình thái kinh tế – xã hội, đó là cơ sở khoa học để củng cố niềm tin vào quy luật diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội. Từ đó kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

– Phải nắm chắc học thuyết kinh tế của Mác mà hạt nhân là học thuyết giá trị thặng dư để không mơ hồ, bản chất bóc bột của chủ nghĩa tư bản dù hiện nay được biểu hiện tinh vi hơn và có vẻ ”văn minh” hơn.

– Phải nắm chắc học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Không được mơ hồ dao động trước những quan điểm lý luận nhằm công kích bác bỏ vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản. Đồng thời tôn trọng và đề cao vai trò của trí thức nhưng không lầm lẫn vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.

– Nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin là phải thấu hiểu khả năng tinh thần tự phê phán và tự điều chỉnh, bổ sung để phát triển. Do đó kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải gắn chặt với các điều kiện lịch sử mới để vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh.

– Nắm vững và kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải nắm vững và kiên định hệ thống nguyên lý lý luận cơ bản còn nguyên giá trị và phương pháp luận Mácxít. Đây chính là sự thống nhất biện chứng giữa thế giới quan và phương pháp luận Mác-Lênin. Không được phép coi Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ còn là phương pháp còn nguyên lý là lỗi thời.

– Khẳng định Tư tưởng Hồ Chí Minh phải nắm vững và kiên định cả ba nguồn gốc hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là Chủ nghĩa Mác-Lênin, truyền thống tư tưởng tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa thế giới. Thấu triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ nắm vững các tác phẩm của Người mà phải hiểu sâu sắc cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú của Người.

– Nắm vững Tư tưởng Hồ Chí Minh phải nắm vững những nội dung cơ bản trong tư tưởng của Người, đó là tư tưởng của Người về mục tiêu lý tưởng của cách mạng Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong thời đại mới: Độc lập cho dân tộc, ấm no hạnh phúc cho nhân dân. Đó là con đường thực hiện mục tiêu lý tưởng: con đường độc lập dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa xã hội. Đó là hệ thống các quan điểm Tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng Cách mạng như: Tư tưởng của Người về Đảng và xây dựng Đảng; về Nhà nước và xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân, về Mặt trận dân tộc thống nhất và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Về lực lượng vũ trang nhân dân, về xây dựng tổ chức công đoàn, nông hội, phụ nữ, thanh niên, Tư tưởng của Người về phương pháp cách mạng và Tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng.

Kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta phải mài sắc cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, xét lại, đấu tranh, bác bỏ mọi luận điệu của các thế lực thù địch trong chiến lược diễn biến hòa bình, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ cương lĩnh, đường lối, bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa và Tổ quốc Việt Nam.

PGS.TS Đào Duy Quát
Phó Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương

cpv.org.vn

Thư gửi Cụ bộ trưởng Bộ thương binh, cựu binh nhân 27-7-1952

Thưa Cụ,

Mỗi năm, đến ngày này, thì đồng bào càng nhớ đến anh em thương binh, bệnh binh, những người đã hy sinh một phần xương máu để bảo vệ nhân dân, giữ gìn Tổ quốc.

Tôi xin gửi cụ một tháng lương, nhờ cụ chuyển làm quà cho anh em với lời thân ái hỏi thăm của tôi.

Tôi rất vui lòng biết rằng đồng bào mấy xã ở Thanh Hóa và Phú Thọ đã sốt sắng giúp đỡ anh em thương binh, bệnh binh, bằng cách đón anh em về xã và giúp đỡ anh em gây cơ sở làm ăn.

Đó là một việc rất tốt. Nó có thể phổ biến đến tỉnh khác, xã khác. Về vấn đề này, tôi có vài ý kiến như sau:

Về phần đồng bào:

– Nên coi đó là một nghĩa vụ của nhân dân đối với những chiến sĩ bị thương, bị bệnh; không nên coi đó là một việc “làm phúc”.

– Trong khi đón anh em về xã, thì chính quyền và đoàn thể địa phương (trước hết là nông hội, phụ nữ, thanh niên) cần phải tổ chức sẵn sàng việc giúp đỡ cho anh em có thể sớm tự túc dần dần (giúp đỡ tinh thần và vật chất).

– Xã nào có ruộng đất công và khéo tổ chức thì đều có thể giúp.

Về phần anh em thương binh, bệnh binh:

– Phải hoà mình với nhân dân, tôn trọng nhân dân, tránh phiền nhiễu nhân dân.

– Phải tránh tâm lý “công thần”, coi thường lao động, coi thường kỷ luật.

– Chớ bi quan chán nản. Phải luôn luôn cố gắng.

Trước kia, anh em đã xung phong diệt giặc thì ngày nay anh em sẽ tuỳ điều kiện mà xung phong tăng gia sản xuất. Đồng chí Nêdốp (Liên Xô) cụt hai chân, đồng chí Lý (Trung Quốc) đui hai mắt mà vẫn trở nên anh hùng lao động. Ở nước ta, chú Tấn, chú Cầu và một số đồng chí khác, cụt một tay mà công tác vẫn hăng. Đó là những kiểu mẫu cho các anh em cố gắng noi theo.

Đồng bào sẵn sàng giúp, Chính phủ ra sức nâng đỡ, anh em có quyết tâm, thì anh em nhất định dần dần tự túc được.

Chúc cụ mạnh khoẻ.

Chào thân ái và quyết thắng

HỒ CHÍ MINH
Báo Cứu quốc, số 2129, ngày 26-7-1952.

tuoitre.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Tổ chức thực hiện Nghị quyết

Đại hội là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội…

Trước mắt chúng ta còn nhiều khó khăn. Nhưng chúng ta nhất định vượt qua mọi khó khăn…Vì toàn thể cán bộ đảng viên ta đoàn kết chặt chẽ quyết tâm biến Nghị quyết của Đại hội thành ý chí của toàn dân để giành thắng lợi mới.

Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.2002, tập 10, tr.205.

Khi đã có nghị quyết, thì phải lập tức đốc thúc sự thực hành nghị quyết ấy, phải biết rõ sự sinh hoạt và cách làm việc của cán bộ và nhân dân địa phương ấy. Có như thế mới kịp thời thấy rõ những khuyết điểm và những khó khăn, để sửa đổi các khuyết điểm và tìm cách giúp đỡ để vượt qua mọi sự khó khăn.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 5, tr.521.

Các đồng chí cần nghiên cứu sâu để thấm nhuần tinh thần Nghị quyết; nghiên cứu càng sâu thì càng thêm phấn khởi, hoàn thành nhiệm vụ càng tốt. Nhưng cán bộ thấm nhuần chưa đủ. Phải làm cho tinh thần Nghị quyết thấm nhuần trong toàn Đảng, toàn dân, làm cho mọi người thấy hết thắng lợi, khả năng và khó khăn của ta, thấy rõ khả năng của ta to lớn hơn khó khăn nhiều, làm sao cho mọi người vui vẻ, hăng hái làm tròn nhiệm vụ, vì khi nhân dân vui vẻ, hăng hái thì mọi khó khăn sẽ vượt được.

Sđd, tập 10, tr.265.

Trung ương đã nhất trí về đường lối, chính sách, chỉ tiêu, biện pháp… Chúng ta phải biến sự nhất trí ấy thành quyết tâm. Chúng ta phải truyền đạt sự nhất trí và quyết tâm của Trung ương đến tận mỗi cán bộ, mỗi xã viên, làm cho toàn Đảng, toàn dân biến Nghị quyết của Trung ương thành một cao trào thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Sđd, tập 10, tr.380.

Chúng ta phải biến nghị quyết của Trung ương thành sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân. Muốn vậy, phải làm cho mọi người tin là ta nhất định thắng…; phải làm cho mọi người phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ gian khổ, đem hết sức mình để làm tốt nhiệm vụ.

Sđd, tập 11, tr.572.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về phương thức lãnh đạo của Đảng

Lãnh đạo đúng nghĩa là:

1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế thì nhất định phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng. Vì dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta.

2. Phải tổ chức sự thi hành cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong.

3. Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.285-286.

Chúng ta phải kiên quyết bỏ sạch lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh. Chúng ta phải kiên quyết thực hành theo nguyên tắc sau đây:

1. Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng.

2. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết.

Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta.

3. Chớ khư khư giữ theo “sáo cũ”. Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng mà tổ chức họ, tùy hoàn cảnh thiết thực trong nơi đó, và lúc đó, đưa ra tranh đấu.

4. Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Nhưng phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng. Phải đem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hóa nó thành cách chỉ đạo nhân dân.

5. “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Trước kia, việc gì cũng từ “trên dội xuống”. Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên”.

Làm như thế, chính sách, cán bộ và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 5, tr.297-298.

Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát.

Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi.

Song, muốn kiểm soát có kết quả tốt, phải có hai điều: Một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín.

Sđd, tập 5, tr.287.

xaydungdang.org.vn

Cách lãnh đạo

Người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng.

1. Lãnh đạo và kiểm soát

“Chẳng những phải lãnh đạo quần chúng, mà lại phải học hỏi quần chúng”.

Câu đó nghĩa là gì ?

Nghĩa là: người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng.

Nghĩa là một giây, một phút cũng không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng.

Nghĩa là phải lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng”.

Lãnh đạo đúng nghĩa là thế nào ?

Cố nhiên, không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà viết kế hoạch, ra mệnh lệnh.

Lãnh đạo đúng nghĩa là:

1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế thì nhất định phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng. Vì dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta.

2. Phải tổ chức sự thi hành cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong.

3. Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được.

Những người lãnh đạo chỉ trông thấy một mặt của công việc, của sự thay đổi của mọi người: trông từ trên xuống. Vì vậy sự trông thấy có hạn.

Trái lại, dân chúng trông thấy công việc, sự thay đổi của mọi người, một mặt khác: họ trông thấy từ dưới lên. Nên sự trông thấy cũng có hạn.

Vì vậy, muốn giải quyết vấn đề cho đúng, ắt phải hợp kinh nghiệm cả hai bên lại.

Muốn như thế, người lãnh đạo ắt phải có mối liên hệ chặt chẽ giữa mình với các tầng lớp người, với dân chúng.

Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi.

Vì vậy, cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại.

Chọn người và thay người cũng là một vấn đề quan trọng trong việc lãnh đạo.

Những người mắc phải bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, không làm được việc, phải thải đi. Ngoài ra còn có hai hạng người, cũng phải chú ý:

Một là có những người cậy mình là “công thần cách mạng”, rồi đâm ra ngang tàng, không giữ gìn kỷ luật, không thi hành nghị quyết của Đảng và của Chính phủ. Thế là họ kiêu ngạo, họ phá kỷ luật của Đảng, của Chính phủ.

Cần phải mời các ông đó xuống công tác hạ tầng, khép họ vào kỷ luật, để chữa tính kiêu ngạo, thói quan liêu cho họ và để giữ vững kỷ luật của Đảng và của Chính phủ.

Hai là hạng người nói suông. Hạng người này tuy là thật thà, trung thành, nhưng không có nǎng lực làm việc, chỉ biết nói suông.

Một thí dụ: Hôm nọ tôi hỏi một cán bộ L:

– Mùa màng nǎm nay thế nào ?

L trả lời: Việc đó tôi đã động viên nhân dân rồi.

Hỏi: Rồi sao nữa ?

L trả lời : Tôi đã bày tỏ vấn đề đó một cách rất đầy đủ.

Hỏi: Rồi sao nữa ?

L trả lời: Công tác xem chừng khá.

Hỏi: Rồi sao nữa ?

L trả lời : Chắc là có tiến bộ.

Hỏi: Nói tóm lại đã cày cấy được mấy mẫu ?

L trả lời : Ở vùng chúng tôi, cày cấy hiện nay chưa đâu ra đâu cả!

Trong Đảng ta, có một số người như thế. Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được. Những người như thế cũng không thể dùng vào công việc thực tế.

Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát.

Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi.

Song, muốn kiểm soát có kết quả tốt, phải có hai điều: một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín.

Kiểm soát cách thế nào ?

Cố nhiên, không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà chờ người ta báo cáo, mà phải đi tận nơi, xem tận chỗ.

Vì ba điều mà cần phải có kiểm soát như thế:

1. Có kiểm soát như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu.

2. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan.

3. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết.

Kiểm soát có hai cách: một cách là từ trên xuống. Tức là người lãnh đạo kiểm soát kết quả những công việc của cán bộ mình.

Một cách nữa là từ dưới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó. Cách này là cách tốt nhất để kiểm soát các nhân viên.

Còn ở trong Đảng, khi khai hội, các đảng viên nghe những người lãnh đạo báo cáo công việc, các đảng viên phê bình những khuyết điểm, cử hoặc không cử đồng chí nọ hoặc đồng chí kia vào cơ quan lãnh đạo. Đó là kiểm soát theo nguyên tắc dân chủ tập trung, phê bình và tự phê bình, những nguyên tắc mà Đảng phải thực hành triệt để.

Ở quần chúng, khai hội, phê bình và bày tỏ ý kiến, bầu cử các uỷ ban, các hội đồng…. Đó là những cách quần chúng kiểm soát những người lãnh đạo.

2. Lãnh đạo thế nào ?

Bất kỳ công việc gì, cũng phải dùng hai cách lãnh đạo sau đây: một là liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng. Hai là liên hợp người lãnh đạo với quần chúng.

Thế nào là liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng?

Bất kỳ việc gì, nếu không có chính sách chung, kêu gọi chung, không thể động viên khắp quần chúng.

Song, nếu người lãnh đạo chỉ làm chung, làm khắp cả một lúc, mà không trực tiếp nhằm một nơi nào đó, thực hành cho kỳ được, rồi lấy kinh nghiệm nơi đó mà chỉ đạo những nơi khác, thì không thể biết chính sách của mình đúng hay sai. Cũng không thể làm cho nội dung của chính sách đó đầy đủ, thiết thực.

Thí dụ: việc chỉnh đốn Đảng. Ngoài những kế hoạch chung về việc đó, mỗi cơ quan hoặc mỗi bộ đội phải chọn vài ba bộ phận trong cơ quan hay bộ đội mình, nghiên cứu rõ ràng và xem xét kỹ lưỡng sự phát triển (công việc chỉnh đốn Đảng) trong những bộ phận đó.

Đồng thời, trong vài ba bộ phận đó, người lãnh đạo lại chọn nǎm, ba người cán bộ kiểu mẫu, nghiên cứu kỹ càng lịch sử của họ, kinh nghiệm, tư tưởng, tính nết của họ, sự học tập và công tác của họ.

Người lãnh đạo phải tự mình chỉ đạo những người phụ trách trong bộ phận đó, giúp họ giải quyết những vấn đề thực tế, để rút kinh nghiệm.

Những người phụ trách trong một cơ quan hoặc một bộ đội, cũng chọn vài ba bộ phận, rồi cũng làm theo cách đó.

Đó là một cách vừa lãnh đạo vừa học tập.

Bất kỳ người lãnh đạo nào, nếu không học tập nổi những việc thiết thực, những người thiết thực và những bộ phận thiết thực của cấp dưới, để rút kinh nghiệm, thì nhất định không biết chỉ đạo chung cho tất cả các bộ phận.

Mỗi cán bộ phụ trách cần phải làm theo cách này cho kỳ được.

Thế nào là liên hợp lãnh đạo với quần chúng ?

Bất kỳ việc gì (thí dụ việc chỉnh đốn Đảng), người lãnh đạo phải có một số người hǎng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo. Nhóm trung kiên này phải mật thiết liên hợp với quần chúng, công việc mới thành.

Nếu chỉ có sự hǎng hái của nhóm trung kiên, mà không liên hợp với sự hǎng hái của quần chúng, nhóm trung kiên sẽ phải chạy suốt ngày mà không kết quả mấy.

Nếu chỉ có sự hǎng hái của quần chúng mà không có sự hǎng hái của nhóm trung kiên để tổ chức và dìu dắt, thì sự hǎng hái của quần chúng sẽ không bền và không thể tiến tới.

Bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: hạng hǎng hái, hạng vừa vừa, và hạng kém. Mà trong ba hạng đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa, nhiều hơn hết, hạng hǎng hái và hạng kém đều ít hơn.

Vì vậy, người lãnh đạo phải dùng hạng hǎng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo, do trung kiên đó mà nâng cao hạng vừa vừa và kéo hạng kém tiến lên.

Nhóm trung kiên đó phải do công tác và tranh đấu trong đám quần chúng mà nảy nở ra, chứ không phải tự ngoài quần chúng, xa cách quần chúng mà có được.

Mỗi cuộc tranh đấu thường có ba giai đoạn, ba bước: bước đầu, bước giữa và bước cuối cùng. Nhóm trung kiên lãnh đạo trong mỗi cuộc tranh đấu, không có thể mà cũng không nên luôn luôn y nguyên như cũ. Trong mỗi giai đoạn, cần phải luôn luôn cất nhắc những người hǎng hái trong giai đoạn đó, để thay thế cho những người cũ bị đào thải hoặc vì tài không xứng chức, hoặc hủ hoá.

Những nơi công việc không chạy đều vì không có nhóm lãnh đạo mật thiết liên hợp với quần chúng. Thí dụ: trong một trường học, nếu không có một nhóm thầy giáo, chức viên và học sinh hǎng hái nhất trong trường, từ mười người đến vài mươi người, đoàn kết thành nhóm trung kiên lãnh đạo, thì công việc của trường đó nhất định uể oải.

Vì vậy, bất kỳ cơ quan nào, bộ đội nào, cũng cần phải chọn một nhóm người hǎng hái, trung thành, có nǎng lực, giữ kỷ luật, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo.

Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng.

Nghĩa là gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống. Rồi đem nó tuyên truyền, giải thích cho quần chúng, và làm cho nó thành ý kiến của quần chúng, và làm cho quần chúng giữ vững và thực hành ý kiến đó. Đồng thời nhân lúc quần chúng thực hành, ta xem xét lại, coi ý kiến đó đúng hay không. Rồi lại tập trung ý kiến của quần chúng, phát triển những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tuyên truyền, giải thích, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành.

Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước.

Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt.

Vì không biết đoàn kết những phần tử hǎng hái, tổ chức họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo, hoặc vì không biết làm cho trung kiên đó mật thiết liên hợp với quần chúng, cho nên sự lãnh đạo xa rời quần chúng mà sinh ra bệnh quan liêu.

Vì không biết gom góp ý kiến của quần chúng, kinh nghiệm của quần chúng, cho nên ý kiến của những người lãnh đạo thành ra lý luận suông, không hợp với thực tế.

Vì không biết liên hợp chính sách chung với sự thiết thực chỉ đạo riêng (như mục 2 đã nói), cho nên chính sách không có kết quả, mà sự lãnh đạo cũng hoá ra quan liêu.

Vì vậy, trong công việc chỉnh đốn Đảng, cũng như trong mọi công việc khác, quyết phải thực hành cách liên hợp sự lãnh đạo với quần chúng và liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng.

Phải dùng cách “từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”.

Gom góp ý kiến và kinh nghiệm trong sự chỉ đạo từng bộ phận, đem làm ý kiến chung. Rồi lại đem ý kiến chung đó để thí nghiệm trong các bộ phận. Rồi lại đem kinh nghiệm chung và mới, đúc thành chỉ thị mới. Cứ như thế mãi.

Biết làm như vậy mới thật là biết lãnh đạo.

Bất kỳ công tác gì, chiến tranh, sản xuất, giáo dục, kiểm soát, v.v., cơ quan lãnh đạo cấp trên cần phải kinh qua những người phụ trách chung của cơ quan lãnh đạo cấp dưới, mỗi khi có việc gì liên quan đến một ngành hoạt động nào đó thuộc cấp dưới. Có như thế, mới đạt được mục đích phân công mà thống nhất.

Không nên một bộ phận nào đó thuộc cấp trên chỉ tìm thẳng dọc xuống bộ phận cùng loại thuộc những cơ quan cấp dưới (như ban tổ chức cấp trên chỉ tìm ban tổ chức cấp dưới, ban tuyên truyền cấp trên chỉ tìm ban tuyên truyền cấp dưới, v.v.), để liên lạc chỉ đạo theo hệ thống dọc, thành thử người phụ trách chung thuộc cơ quan cấp dưới, như thư ký, chủ tịch, chủ nhiệm, v.v., không biết đến, hoặc không phụ trách.

Phải cho cả người phụ trách chung và những người phụ trách bộ phận cấp dưới đều biết, đều phụ trách.

Một việc gì do người phụ trách chung chỉ huy, thì nhiều cán bộ hoặc tất cả cán bộ đều ra làm. Như thế tránh được cái tệ cán bộ không phụ trách, mà mọi người đều thành ra cán bộ cho công tác đó.

Đó cũng là một cách: người lãnh đạo liên hợp với quần chúng. Thí dụ: việc kiểm soát cán bộ trong một trường học. Nếu người lãnh đạo động viên số đông hoặc tất cả nhân viên và học sinh trong trường tham gia công việc kiểm soát, mà nhân viên trong ban kiểm tra cấp trên biết chỉ đạo đúng, theo cách “lãnh đạo liên hợp với quần chúng”, thì việc kiểm soát nhất định kết quả tốt.

Bất kỳ địa phương nào, cơ quan nào, thường trong một lúc có nhiều công việc trọng yếu. Trong một thời gian đó, lại có một việc trọng yếu nhất và vài ba việc trọng yếu vừa. Người lãnh đạo trong địa phương hoặc cơ quan đó phải xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngǎn nắp.

Đối với mỗi địa phương, mỗi cơ quan, người lãnh đạo cấp trên cần phải xét cho rõ tình hình, hoàn cảnh, và điều kiện cả địa phương hoặc cơ quan đó, mà quyết định việc gì là việc chính của thời kỳ nào. Khi đã quyết định, thì phải thực hành triệt để, cho đạt kết quả đã định.

Đó cũng là cách “lãnh đạo liên hợp với quần chúng”, chính sách chung liên hợp với chỉ đạo riêng.

Trên đây là những nguyên tắc lớn trong việc lãnh đạo.

Những cán bộ phụ trách phải theo nguyên tắc đó, đường lối đó mà làm. Đồng thời phải ra sức suy nghĩ, tìm tòi, để tǎng thêm sáng kiến của mình.

Công việc càng gay go thì sự lãnh đạo càng phải liên hợp chặt chẽ với quần chúng, càng phải liên hợp chặt chẽ chính sách chung với chỉ đạo riêng, để phá tan cách lãnh đạo lờ mờ, quan liêu, chủ quan, bàn giấy.

3. Học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng

Dân chúng rất khôn khéo, rất hǎng hái, rất anh hùng.

Vì vậy, chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng.

Vì vậy, mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng.

Mà muốn hiểu biết, học hỏi dân chúng, thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm, phải khiêm tốn, phải chịu khó. Nếu không vậy, thì dân chúng sẽ không tin chúng ta. Biết, họ cũng không nói. Nói, họ cũng không nói hết lời.

Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được.

Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên.

Làm việc với dân chúng có hai cách:

1. Làm việc theo cách quan liêu. Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. ép dân chúng làm. Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo.

Có nhiều cán bộ theo cách đó. Họ còn tự đắc rằng: làm như thế, họ vẫn “làm tròn nhiệm vụ”, làm được mau, lại không rầy rà.

Họ quên rằng: Đảng ta và Chính phủ ta làm việc là làm cho dân chúng. Việc gì, cũng vì lợi ích của dân mà làm. Làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại.

2. Làm theo cách quần chúng. Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ. Được dân chúng đồng ý. Do dân chúng vui lòng ra sức làm.

Như thế hơi phiền một chút, phiền cho những người biếng học hỏi và giải thích. Nhưng việc gì cũng nhất định thành công.

Có người nói rằng: mọi việc họ đều phụ trách trước Đảng, trước Chính phủ. Thế là đúng, nhưng chỉ đúng một nửa. Họ phụ trách trước Đảng và Chính phủ, đồng thời họ phải phụ trách trước nhân dân. Mà phụ trách trước nhân dân nhiều hơn phụ trách trước Đảng và Chính phủ, vì Đảng và Chính phủ vì dân mà làm các việc, và cũng phụ trách trước nhân dân. Vì vậy nếu cán bộ không phụ trách trước nhân dân, tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, tức là đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ.

Nếu trong những chính sách, những chỉ thị, những khẩu hiệu của cấp trên, có gì khuyết điểm, cán bộ phải có tinh thần phụ trách trước nhân dân mà đề nghị những chỗ nên sửa đổi. Không làm như vậy, tức là cán bộ không phụ trách trước nhân dân, mà cũng không phụ trách trước Đảng và Chính phủ.

Việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân. Thế là phụ trách trước nhân dân.

Trái lại việc gì cũng dùng cách quan liêu, cũng chỉ ra mệnh lệnh, thế là không phụ trách trước nhân dân. Thế là đem hai chữ “mệnh lệnh” làm thành một bức tường để tách rời Đảng và Chính phủ với nhân dân, tách rời lợi ích của nhân dân với chính sách của Đảng và Chính phủ.

Có nhiều cán bộ không bàn bạc, không giải thích với dân chúng, không để cho dân chúng phát biểu ý kiến, giải quyết các vấn đề, chỉ bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh. Thậm chí khi dân chúng đề ra ý kiến và nêu rõ vấn đề, họ cũng tìm cách dìm đi. Họ chỉ làm theo ý kiến của họ. Kết quả làm cho dân chúng nghi ngờ, uất ức, bất mãn.

Làm cách đó, thì dù việc đó có lợi cho dân chúng, nhưng một là vì không có ý kiến và lực lượng của dân chúng giúp đỡ nên làm không đến nơi đến chốn. Hai là vì dân chúng bị miễn cưỡng, nên không vui lòng. Ba là vì dân chúng không hiểu rõ, nên việc đó không được lâu dài, bền vững.

Vì vậy, việc gì cũng phải hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc, và giải thích cho dân chúng.

Có người thường cho dân là dốt không biết gì, mình là thông thái tài giỏi. Vì vậy, họ không thèm học hỏi dân chúng, không thèm bàn bạc với dân chúng.

Đó là một sự sai lầm nguy hiểm lắm. Ai có sai lầm đó, phải mau mau sửa đổi. Nếu không sẽ luôn luôn thất bại.

Chúng ta phải biết rằng: lực lượng của dân chúng nhiều vô cùng.

Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khǎn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra.

Kinh nghiệm các địa phương cho biết: nơi nào công việc kém, là vì cán bộ cách xa dân chúng, không cùng dân chúng bàn bạc, không giải thích. Nơi kha khá, là vì cán bộ biết giải thích, biết cùng dân chúng bàn bạc, nhưng chưa hoàn toàn. Nơi nào khá lắm là vì việc gì to nhỏ, cán bộ cũng biết giải thích, biết cùng dân chúng bàn bạc đến nơi đến chốn, dựa vào dân chúng.

Muốn dân chúng thành thật bày tỏ ý kiến, cán bộ phải thành tâm, phải chịu khó, phải khéo khơi cho họ nói. Do ý kiến và đề nghị lẻ tẻ của dân chúng, ta phải khéo gom góp lại, sắp đặt lại cho có ngǎn nắp, thứ tự rồi cùng dân chúng ra sức thi hành. Như vậy, vừa nâng cao trình độ của dân chúng, mà cũng nâng cao kinh nghiệm của mình.

Đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay so sánh.

Họ so sánh bây giờ và họ so sánh thời kỳ đã qua. Họ so sánh từng việc và họ so sánh toàn bộ phận. Do sự so sánh, họ thấy chỗ khác nhau, họ thấy mối mâu thuẫn. Rồi lại do đó, họ kết luận, họ đề ra cách giải quyết.

Dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng, là vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy.

Vì sự so sánh kỹ càng đó, mà cách giải quyết của dân chúng bao giờ cũng gọn gàng, hợp lý, công bình.

Đối với cán bộ cũng vậy. Cán bộ nào tốt, cán bộ nào xấu, cán bộ nào có lầm lỗi mà có thể sửa đổi, ai làm việc gì hay, việc gì quấy, dân chúng cũng do cách so sánh đó, mà họ biết rõ ràng.

Vì vậy, để cho dân chúng phê bình cán bộ, dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng. Đồng thời, do sự dùi mài của dân chúng, cán bộ và dân chúng đều tiến bộ, lại do đó, cán bộ và dân chúng đoàn kết chặt chẽ thêm.

Cố nhiên, dân chúng không nhất luật như nhau. Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiền tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu.

Tuy vậy, khi đem vấn đề ra bàn trước dân chúng, họ đem các ý kiến khác nhau so sánh. So đi sánh lại, sẽ lòi ra một ý kiến mà mọi người đều tán thành, hoặc số đông người tán thành. ý kiến đó, lại bị họ so sánh tỉ mỉ từng đoạn, họ thêm điểm hay vào, bỏ điểm dở đi. ý kiến đó trở nên ý kiến đầy đủ, thiết thực.

Sau khi bàn bạc, so sánh, thêm thắt, thành một ý kiến đầy đủ, ý kiến đó tức là cái kích thước nó tỏ rõ sự phát triển trình độ của dân chúng trong nơi đó, trong lúc đó. Theo ý kiến đó mà làm, nhất định thành công. Làm không kịp ý kiến đó, là đầu cơ, nhút nhát. Làm quá ý kiến đó là mạo hiểm, hẹp hòi, “tả”.

Có nhiều cách hỏi ý kiến dân chúng. Nói chuyện với từng người. Nói chuyện với đông người. Khai hội, nói chuyện với tầng lớp này, nói chuyện với tầng lớp khác, với mọi tầng lớp.

Nếu ta chịu khó, chịu suy nghĩ, bất kỳ nói chuyện với ai cũng có ích cho tư tưởng của ta.

Cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo. Người cán bộ cũng phải dùng cách so sánh của dân chúng mà tự mình so sánh. Nghĩa là đem các ý kiến khác nhau để so sánh kỹ, phân tích kỹ các nội dung của các tầng lớp xã hội có cái ý kiến đó. Tìm ra mối mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau đó. Xem rõ cái nào đúng, cái nào sai. Chọn lấy ý kiến đúng, đưa ra cho dân chúng bàn bạc, lựa chọn lại, để nâng cao dần dần sự giác ngộ của dân chúng.

Thế gọi là: Tập trung ý kiến, ra sức thi hành.

So đi sánh lại, phân tích rõ ràng là cách làm việc có khoa học. Mỗi công việc, chúng ta đều phải làm như thế. Làm như thế mới tránh khỏi cái độc đoán, mới tránh khỏi sai lầm.

Nghĩa là: nói chuyện và bàn bạc với cán bộ như thế cũng chưa đủ, còn phải nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hǎng hái trong quần chúng. Nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hǎng hái trong quần chúng cũng chưa đủ, còn phải nói chuyện và bàn bạc với nhân dân. Đó là một vấn đề rất trọng yếu cho cách làm việc của Đảng.

Từ trước đến nay, nhiều nơi công việc không chạy, chính vì cán bộ không thực hành theo nguyên tắc đó. Nếu không làm theo nguyên tắc đó, thì dù chính sách hay trǎm phần trǎm, cũng hoá ra vô dụng.

Chúng ta phải kiên quyết bỏ sạch lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh. Chúng ta phải kiên quyết thực hành theo nguyên tắc sau đây:

1. Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng.

2. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta.

3. Chớ khư khư giữ theo “sáo cũ”. Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng mà tổ chức họ, tuỳ hoàn cảnh thiết thực trong nơi đó, và lúc đó, đưa ra tranh đấu.

4. Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Nhưng phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hoá nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng. Phải đem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hoá nó thành cách chỉ đạo nhân dân.

5. “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Trước kia, việc gì cũng từ “trên dội xuống”. Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên”.

Làm như thế, chính sách, cán bộ và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng.

X.Y.Z
(một trong những bút danh của Hồ Chủ tịch)

Trích chương V – Sửa đổi lối làm việc
NXB Sự thật xuất bản lần đầu 1948, xuất bản lần thứ 7 năm 1959.

Theo website Đảng Cộng sản Việt Nam

tuoitre.vn

Kỷ niệm báo Le Paria

Tranh biếm hoạ Nguyễn Ái Quốc vẽ trên báo Người cùng khổ

Một nǎm đã trôi qua kể từ khi báo Le Paria ra đời. Các bạn quan tâm đến số phận của tờ báo ngay từ buổi đầu, nhân dịp kỷ niệm này, cảm ơn tất cả những ai đã can đảm với diễn đàn nhỏ bé này, bảo vệ nhân dân các thuộc địa.

Các bạn mua dài hạn, các bạn quyên góp cho báo đến số gần đây được 645 phrǎng, hãy nhận lấy sự biết ơn chân thành của chúng tôi.

Chúng tôi đã không quá lạc quan đối với những điều dự đoán trước. Chúng tôi hiểu rõ sự nghiệp mà chúng tôi theo đuổi, đặt ra vô vàn khó khǎn. Một mặt, đông đảo dư luận châu Âu chưa được chuẩn bị để theo dõi đầy đủ quan điểm của chúng ta. Mặt khác, những người dân thuộc địa ở Pháp thường chưa quan tâm đến tình hình có quan hệ tới số phận đồng bào họ ở các thuộc địa đang phải đương đầu với mọi sự phiền nhiễu, với bạo lực của nhà cầm quyền ở địa phương, với sự bóc lột tư bản chủ nghĩa của những kẻ đi khai hóa. Cuối cùng, khoảng cách giữa Pari với châu Phi, châu Á, châu Mỹ rất xa. Những cuộc tiếp xúc giữa chúng tôi với nhân dân các thuộc địa mà Le Paria có trách nhiệm bảo vệ lại luôn luôn bị cản trở bởi những kẻ thống trị thuộc địa gây ra.

Nhưng phải thừa nhận rằng, chúng tôi đang đứng trước một điều lo lắng rất lớn. Chúng tôi đã tính trước rằng nhiệm vụ khẩn thiết của một tờ báo như tờ báo của chúng tôi là phải bảo vệ các anh em bản xứ. Việc đón nhận lấy nhiệm vụ đó đã dành cho Le Paria là đúng với điều mong muốn của chúng ta.

Sang nǎm thứ hai, chúng tôi muốn thực hiện những việc làm tốt đẹp hơn. Phải làm cho Le Paria xuất hiện trong một thời kỳ với những kết quả rực rỡ, có nhiều người tìm đến báo, với số lượng bản in tǎng hơn và số trang nhiều hơn trước. Tất cả những điều đó chỉ có thể thành sự thật nếu có được những nguồn dự trữ thích đáng. Vậy mà, không thể đòi hỏi một sự cố gắng cao hơn nữa đối với 5, 6 bạn đã nhận nhiệm vụ ngay từ đầu, đã chịu đựng từ 12 tháng qua. Có thể nói rằng riêng những việc in và gửi đi, giá 3 phrǎng mỗi số trong một nǎm là vừa phải. Để thuận tiện cho việc tuyên truyền cho tờ báo, lúc này chúng tôi thấy rằng không thể nâng giá lên ngay được.

Đối với tất cả những ai đọc báo, muốn báo sống lâu và lớn mạnh, hiểu nhiệm vụ của nó, nên mua dài hạn cho mình và vận động nhiều người mua dài hạn báo Le Paria. Cần phải làm cho trong vòng 2 hay 3 tháng tới đây, chúng ta có trên 1.000 độc giả, trên 1.000 người mua báo dài hạn. Chúng tôi cũng không ngần ngại nói ra việc quyên góp rất khiêm tốn cũng là một sự giúp đỡ rất quý báu đối với chúng tôi. Chúng tôi nói những điểm cuối cùng về các cộng tác viên. Le Paria là tiếng nói của quần chúng bị áp bức. Tất cả đều cung cấp tư liệu cho chúng ta, đều viết về chúng ta.

Các bạn Pháp, các đồng bào ở thuộc địa cư trú trên đất Pháp, các anh em bản xứ ở các thuộc địa, hãy đáp lại lời kêu gọi của chúng tôi.

Hãy làm việc cho Le Paria, cho sự diệt trừ chế độ độc đoán chống lại bọn cá mập thực dân!

Sự nghiệp giải phóng những người bị ngược đãi muôn nǎm!

Sự nghiệp giải phóng nhân dân bản xứ muôn nǎm!

NGUYỄN ÁI QUỐC
Báo Le Paria, số 14, tháng 5-1923.

tuoitre.vn

“Tôi chỉ có một cách báo đáp…” (*)

Đồng bào yêu mến tôi, chúc thọ tôi, tôi biết lấy gì, nói gì để báo đáp lại lòng thân ái ấy? Tôi chỉ có một cách báo đáp là kiên quyết cùng đồng bào chịu cực chịu khổ, quyết cùng đồng bào kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, quyết cùng đồng bào tranh lại thống nhất và độc lập thật sự cho Tổ quốc, quyết cùng đồng bào ra sức làm thế nào cho con cháu chúng ta bây giờ và muôn đời về sau được sung sướng và tự do.

…………………………………………

Tôi rất cảm ơn Quốc hội, Chính phủ, các đoàn thể, các bộ đội, đồng bào trong nước và kiều bào ở ngoài nước, cùng các cháu nhi đồng, đã chúc thọ tôi một cách vô cùng thân ái.

Nhưng tôi thiết nghĩ rằng tuy tuổi tác chúng ta có kẻ nhiều người ít, nhưng tôi và toàn thể đồng bào có một ngày sinh nhật chung: ngày ấy là ngày cách mệnh giải phóng thành công hồi tháng Tám nǎm 1945.

Xem thế thì dân tộc ta rất trẻ trung, nước nhà ta rất trẻ trung và chúng ta đều trẻ trung. Chúng ta trẻ trung mà chúng ta phải đảm đang hai nhiệm vụ rất vẻ vang, rất to lớn: phá tan những xiềng xích cũ, và xây dựng những tương lai mới.

Chúng ta trẻ trung nhưng chúng ta là những người thừa tự cái truyền thống oanh liệt, quật cường và một cơ đồ gấm vóc của mấy ngàn nǎm tổ tiên ta để lại. Chúng ta trẻ trung nhưng chúng ta giàu về kinh nghiệm, kinh nghiệm đau xót có, kinh nghiệm vẻ vang có. Do đó mà chúng ta đã có một lực lượng cực kỳ to lớn, vững chắc, lực lượng đại đoàn kết của toàn dân. Nhờ truyền thống và lực lượng ấy, thêm vào cái chí khí trẻ trung của chúng ta, chúng ta đã vượt qua nhiều bước gian nan và tranh được nhiều thắng lợi: chúng ta đã đánh tan giặc đói, chúng ta đã đánh tan giặc dốt, chúng ta sẽ đánh tan giặc ngoại xâm.

Song, đường chúng ta còn dài, gánh chúng ta còn nặng, chúng ta cần phải phát triển và nâng cao cái truyền thống oanh liệt, cái lực lượng đoàn kết, và cái chí khí kiên quyết ấy lên nữa, nâng cao lên mãi. Nâng cao bằng cách gì? Bằng cách thi đua ái quốc. Cuộc thi đua ái quốc sẽ đưa chúng ta lên một trình độ cao hơn trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc, nó sẽ đưa chúng ta mau đến chỗ thành công. Vì vậy đồng bào ta bất kỳ già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh, mọi người đều phải đưa chí sáng suốt, lực lượng và tài nǎng của mình vào đó, để phụng sự dân tộc, phụng sự Tổ quốc.

Đồng bào yêu mến tôi, chúc thọ tôi, tôi biết lấy gì, nói gì để báo đáp lại lòng thân ái ấy? Tôi chỉ có một cách báo đáp là kiên quyết cùng đồng bào chịu cực chịu khổ, quyết cùng đồng bào kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, quyết cùng đồng bào tranh lại thống nhất và độc lập thật sự cho Tổ quốc, quyết cùng đồng bào ra sức làm thế nào cho con cháu chúng ta bây giờ và muôn đời về sau được sung sướng và tự do.

Chào thân ái và quyết thắng

HỒ CHÍ MINH
Báo Cứu quốc, chi nhánh số 6, số 945, ngày 1-6-1948

Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia 2002

tuoitre.vn

Sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua ảnh (Kỳ cuối)

(GD&TĐ) – Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo quân và dân cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Tiếp tục đọc →

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về sức mạnh dân tộc

Năm mới chúng ta phải đem lực lượng mới, quyết tâm mới để giành lấy thắng lợi mới, để xây dựng một đời sống mới, một nước non mới.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.2.

Mỗi người, mỗi ngành, mỗi nơi đều phải cố gắng làm tròn bổn phận, thì năm mới chắc là một năm đại thắng lợi.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 6, tr.1.

Mỗi người tin ở sức mạnh của dân tộc, tin ở sức chịu đựng của mình, kiên quyết vượt mọi khó khăn, thì tương lai mới vẻ vang.

Sđd, tập 6, tr.417.

Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân ta… chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi.

Sđd, tập 5, tr.446.

Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập.

Sđd, tập 4, tr.8.

Chúng ta quyết thừa kế và phát triển lịch sử vẻ vang của tổ tiên ta mấy nghìn năm về trước và nêu gương dân tộc anh hùng cho con cháu ta muôn vàn đời về sau.

Sđd, tập 11, tr.508.

… Mọi người, mọi dân tộc phải chung sức làm cho dân giàu nước mạnh, làm cho đời sống của nhân dân được cải thiện không ngừng, làm cho con cháu ta ngày càng sung sướng.

Sđd, tập 10, tr.334.

… Toàn thể cán bộ đảng viên ta đoàn kết chặt chẽ quyết tâm biến Nghị quyết của Đại hội thành ý chí của toàn dân để giành thắng lợi mới.

Mỗi đảng viên ta phải là một chiến sĩ tích cực gương mẫu, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng và của nhân dân.

Mỗi chi bộ ta phải là một hạt nhân vững chắc, lãnh đạo đồng bào thi đua yêu nước, cần kiệm xây dựng nước nhà.

Mỗi cấp ủy Đảng phải là động cơ mạnh mẽ thúc đẩy phong trào cách mạng sôi nổi tiến lên.

Trung ương hứa sẽ đem hết tinh thần và lực lượng để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ mà Đại hội đã quyết định.

Sđd, tập 10, tr.205.

xaydungdang.org.vn

Sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua ảnh (Kỳ 2)

(GD&TĐ) – Tháng 9/1945 câu kết với các đế quốc Mỹ, Anh và bọn phản động Quốc dân Đảng Trung Quốc, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, âm mưu xóa bỏ mọi thành quả của Cách mạng tháng Tám. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn  quân, toàn dân ta vừa đánh trả bọn thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam, vừa đối phó với bọn phản động Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc. Tiếp tục đọc →

Về làng Sen thăm mái nhà tranh

(VOV) – Dẫu đã qua cả thế kỷ, vạn vật đổi thay nhưng những hình ảnh xưa cũ của làng Sen gắn liền với tuổi thơ Bác vẫn được lưu giữ đến bây giờ

Có một ngôi làng mà những hình ảnh thân thương gần gũi đã đã in sâu vào tâm thức người Việt. Nơi ấy có những mái nhà tranh dưới những lũy tre xanh, có nhịp võng trưa hè cùng tiếng ru ầu ơ của mẹ, có câu dân ca mênh mang cùng đồng ruộng núi sông… Ngôi làng mang tên làng Sen vì luôn ngát hương sen; là quê hương của Bác Hồ kính yêu, người con ưu tú của dân tộc!

Làng Sen thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An- mảnh đất miền Trung đầy nắng gió. Từ thành phố Vinh đi theo Quốc lộ 46 khoảng 15km là tới làng Sen, quê Bác.

Dẫu đã qua cả thế kỷ, vạn vật đổi thay nhưng những hình ảnh xưa cũ của làng Sen gắn liền với tuổi thơ Bác vẫn được lưu giữ đến bây giờ như một miền ký ức đẹp và là tấm gương sáng cho mọi những thế hệ.

Đó là giếng Cốc, cây đa, đền làng Sen, nhà thờ họ Nguyễn Sinh… và đặc biệt là ngôi nhà tranh của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc- thân phụ Bác, nơi gắn bó với tuổi thơ của Bác Hồ, cũng là khởi nguồn cho một tinh thần yêu nước và ý chí lớn lao của người anh hùng dân tộc sau này.

Ngôi nhà tranh đơn sơ

Năm 1901, thân phụ Bác Hồ là Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng, là một niềm vinh dự với gia đình, họ tộc và cả làng Sen. Dân làng Sen đã dựng một ngôi nhà gỗ mái tranh 5 gian để đón vị Phó bảng vinh quy bái tổ.

Cả gia đình đã từ làng Hoàng Trù (quê ngoại Bác Hồ) trở về sống tại Làng Sen. Ngôi nhà này đã gắn với tuổi thơ Bác Hồ từ năm 1901 đến năm 1906 (trước khi theo cha vào Huế)

Đó là một ngôi nhà gỗ 5 gian, lợp mái tranh, nhỏ bé, mộc mạc, giản dị dưới màu xanh của vườn cây và những bóng tre. Đây là nơi ở chính của cả gia đình, kế bên là nhà ngang sử dụng làm nhà bếp.

Cả hai nếp nhà đều thấp, khiêm nhường, và điển hình cho những nếp nhà ở làng quê nông thôn Việt Nam, với vì kèo gỗ, với mái hiên cùng những tấm giại- liếp; với cổng ngõ khoảng sân phía trước – gắn liền với không gian khoáng đạt của thiên nhiên.

Hai gian nhà phía ngoài là nơi đặt bàn thờ tổ tiên và là nơi tiếp khách- đàm đạo chuyện thế sự của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc.

Gian thứ ba là nơi ở của bà Nguyễn Thị Thanh- chị cả của Bác Hồ. Hai gian còn lại là nơi nghỉ và sinh hoạt của cả gia đình.

Ở gian thứ tư có kê bộ phản gần cửa sổ là nơi cụ Phó bảng thường nằm đọc sách.

Gian thứ năm kê bộ phản là nơi nghỉ của hai anh em Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung (tức Bác Hồ).

Dù đã đỗ đạt song gia đình cụ Phó bảng vẫn sống thanh đạm. Phần lớn các đồ đạc trong nhà đều do dân làng tặng, những kỷ vật tới giờ được gìn giữ gần như nguyên vẹn.

Ngôi nhà của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã gắn bó với một giai đoạn quan trọng đầy ý nghĩa thời niên thiếu của cuộc đời Bác Hồ từ năm 11- 16 tuổi.

Ngôi nhà là những ân tình làng xóm quê hương, là nơi chứng kiến quá trình học tập, trưởng thành; là nơi ghi dấu cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước và những nhận thức thời cuộc- bước tiền đề cho con đường cứu nước sau này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngôi nhà tranh lịch sử là cụm di tích quan trọng bậc nhất của Khu di tích lịch sử Kim Liên – được xây dựng từ những năm 60 thế kỷ trước, cùng nhiều hạng mục kiến trúc khác, được nâng cấp và tôn tạo nhiều lần.

Khu di tích lịch sử Kim Liên còn bao gồm các kiến trúc mới như khu hành lễ, nhà lưu trữ và trưng bày các tài liệu, hiện vật liên quan đến cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đây cũng là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa– chính trị liên quan. Khu di tích lịch sử Kim Liên là một trong bốn khu di tích quan trọng nhất về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc gia từ năm 1979./.

Một số hình ảnh về làng Sen:

Quang cảnh quần thể khu di tích Kim Liên ở Làng Sen

Những chi tiết kiến trúc, điêu khắc ở đây được lấy từ hình tượng hoa sen

Thành kính dâng hương trước nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Con đường Làng Sen bây giờ. Bên trái là cây đa và sân vận động, nơi Bác Hồ đã gặp gỡ và trò chuyện với dân làng trong những lần về thăm quê, năm 1957 và 1961

Di tích giếng Cốc ở làng Sen – giếng cổ từ thế kỷ 18, nơi gắn với tuổi thơ của Bác Hồ

Cổng và hàng rào dâm bụt giản dị

Mái nhà tranh đơn sơ, cùng vườn cây xanh và lũy tre – một hình ảnh đẹp điển hình của làng quê Việt Nam

Gian nhà ngoài có bộ phản cụ Nguyễn Sinh Sắc dùng để tiếp khách. Ở đây, Bác Hồ đã cảm nhận và lĩnh hội tình yêu nước từ người cha và các nhân sỹ xứ Nghệ

Tấm biển do vua Thành Thái ban cho cụ Nguyễn Sinh Sắc năm
1901 khi đỗ phó bảng; đề 4 chữ: “Ân tứ ninh gia” (ơn vua ban cho gia đình)

Những góc nhà đơn sơ

Hà Thành

vov.vn