Tag Archive | Hồ Chí Minh

Những đêm giao thừa Bác đến với người nghèo

Xuân Tân Tỵ, năm 1941, Bác mới được đặt chân trở về giữa lòng Tổ quốc thân yêu sau đúng 30 năm trời ra đi tìm đường cứu nước (1911-1941). Hành trang theo Bác trở về vẻn vẹn chỉ có một chiếc va ly xách tay bằng mây, trong đựng hai bộ quần áo đã cũ và tập tài liệu Con đường giải phóng tập hợp những bài giảng trong lớp huấn luyện ở Nậm Quang (Quảng Tây, Trung Quốc) do Bác phụ trách vừa mới kết thúc trước Tết mấy hôm.

Tấm thiệp chúc tết cuối cùng của Bác Hồ

Mùa Xuân năm ấy, từ hang Pác Bó đã ra đời một bài thơ xuân tuyệt đẹp của Bác Hồ:

“Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lênin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”

Chỉ hơn bốn năm sau, ngày 2-9-1945, sơn hà của Tổ quốc đã được thu về một mối, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau. Hồ Chí Minh trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Và mùa Xuân độc lập đầu tiên, Xuân Bính Tuất năm 1946 đã trở về trên toàn cõi đất nước với một sắc màu khác lạ làm gợi nhớ đến một thời Nghiêu Thuấn xa xưa. Vào thời khắc mọi gia đình quây quần bên nhau chuẩn bị đón giao thừa thì vị Chủ tịch nước xắn quần, bước thấp bước cao đến các ngõ hẻm ở phố Sinh Từ, phố Hàng Lọng… để được chính mắt nhìn thấy cảnh Tết vừa, Tết nghèo của bà con lao động Hà Nội mới vừa thoát khỏi ách thực dân phong kiến.

Chính trong cuộc “vi hành” đêm Ba mươi Tết của mùa Xuân độc lập đầu tiên đó, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình một người đạp xích lô “Tết mà không có Tết” ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn, còn chủ nhà thì đang đắp chiếu nằm mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ bước ra khỏi nhà, bảo đồng chí thư ký ghi lại địa chỉ để hôm sau báo cáo cho đồng chí Chủ tịch Hà Nội biết.

Cũng đêm Ba mươi Tết Bính Tuất đó, đúng giờ giao thừa, khi Đài Tiếng nói Việt Nam truyền khi khắp đất nước lời chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì chính Người lại đang vui Xuân cùng nhân dân ở đền Ngọc Sơn, trong vai một cụ già cùng cháu đi hái lộc.

Lần đầu tiên nhân dân Hà Nội, nhân dân cả nước, được hưởng một mùa Xuân mới mẻ, giao thừa nghe đọc thư chúc Tết của Bác Hồ:

“Hỡi đồng bào cả nước!

Hôm nay là mùng một Tết năm Bính Tuất, ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tôi thay mặt Chính phủ chúc đồng bào năm mới muôn sự tốt lành” .

Cuối thư là một bài thơ ngắn:

“Trong năm Bính Tuất mới
Muôn việc đều tiến tới
Kiến quốc chóng thành công
Kháng chiến mau thắng lợi“

Kể từ mùa Xuân đầu tiên đó, suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, mỗi lần Tết đến, Xuân về, Bác lại nghĩ đến dân, lo sao cho dân có một mùa xuân ấm no, hạnh phúc. Thường thì trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc. Tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới, nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp “Chúc Mừng Năm Mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo xa xôi và cán bộ công tác ở nước ngoài.

Và cuối cùng là một chương trình đi thăm dân không thể thiếu đối với Bác, một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

Tối Ba mươi Tết năm 1960, Bác đến thăm gia đình mẹ con chị Tín, một lao động nghèo ở phố Hàng Chĩnh, Hà Nội. Chiều mùng hai Tết năm 1961, Bác đến Văn Miếu dự buổi bình thơ Xuân của các cụ. Mùng hai Tết năm 1962, Bác đến thăm các cháu học sinh miền Nam ở Hải Phòng. Chiều 29 Tết năm 1963, Bác cải trang thành một cụ già theo cháu đi chợ hoa và chợ Đồng Xuân… Tất cả đều bí mật bất ngờ và do đó bao giờ cũng tạo hiệu quả lớn.

Như Tết năm 1960, nếu Bác chỉ đến thăm các gia đình theo chương trình của các cơ quan đã bố trí thì làm sao Chủ tịch nước biết được gần đến giao thừa rồi mà chị Tín vẫn còn phải đi gánh nước thuê đổi gạo để sáng mai mùng một Tết có cơm ăn cho bốn đưa con của mình. Gặp Bác, chị Tín xúc động để rơi cả đôi thùng gánh nước xuống đất, run run cầm lấy bàn tay của Bác:

– Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm…

Chỉ nói được vậy, chị đã oà lên khóc nức nở.

Vị Chủ tịch nước đã an ủi chị:

– Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai…

Và Bác đã vào nhà thăm hỏi khá lâu năm mẹ con chị Tín. Gọi là nhà nhưng đâu có phải là nhà mà là một cái chái như một túp lều. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến Phà Đen đã mất cách đó bốn năm, còn chị thì cho đến lúc này vẫn chưa có việc làm ổn định. Cảnh nghèo của gia đình đã phũ phàng hiện ra trước mắt Bác. Trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một gói kẹo. Đúng là “Ba mươi Tết mà không có Tết”. Cách đây 15 năm, Tết độc lập đầu tiên, Bác đã đau lòng chứng kiến cảnh một gia đình “Tết mà không có Tết” ở ngõ hẻm Sinh Từ. Đó là khi đất nước mới thoát khỏi vòng nô lệ. Còn bây giờ, kháng chiến đã thắng lợi, hoà bình đã sáu năm, mà lại còn cái cảnh này sao? Không phải ở đâu xa mà ở ngay Thủ đô Hà Nội… Vậy còn bao nhiêu gia đình như thế này ở khắp mọi miền đất nước? Cứ ngồi nghe báo cáo thì đâu cũng là no ấm, tươi vui…

Đêm ấy, trên đường về, ngồi trên xe, Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ. Vẻ đăm chiêu thoáng hiện trên gương mặt của Người. Bác đã từng tâm sự với các đồng chí phục vụ: “Một ngày dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, các cháu chưa được học hành, mọi người còn khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên”.

Về đến nhà, các đồng chí Bộ Chính trị đang chờ Bác để chúc mừng năm mới. Mọi người băn khoăn khi thấy Bác không vui. Bác kể lại hoàn cảnh gia đình chị Tín cho mọi người nghe. Cuối câu chuyện Bác nói “Ta có chính quyền trong tay, nhưng chính quyền đó chưa thực sự là do dân, vì dân. Một số lãnh đạo các địa phương còn quan liêu và nặng về hình thức. Họ không chịu đi sâu, đi sát quần chúng, nên phục vụ quần chúng chưa tốt. Nếu chúng ta chỉ nghe báo cáo của họ thì sẽ không bao giờ nắm được chính xác tình hình để có chủ trương, nghị quyết đúng đắn. Đảng quan liêu, chính quyền quan liêu, thực sự là một nguy cơ đối với đất nước chúng ta.

Vũ Kỳ – Thư ký Bác Hồ kể chuyện.

VIỆT NAM – HỒ CHÍ MINH

Nhớ Bác Hồ trồng cây năm xưa…

Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, trong không khí rộn ràng, phấn khởi những ngày đầu năm mới, nhân dân khắp mọi miền Tổ quốc lại nhớ tới lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Từ lời kêu gọi của Người năm xưa, đến nay, Tết trồng cây đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của cả đất nước, cả dân tộc.

Nhà sàn Bác Hồ luôn ngập tràn màu xanh thiên nhiên (Nguồn: Internet)

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất yêu và gần gũi với thiên nhiên. Nơi ở của người, đâu đâu cũng thấy bóng mát của cây cối, hương thơm cây cỏ, âm thanh muôn loài. Người trồng cây, nuôi chim, đào ao thả cá. Người sống và làm việc giữa những người bạn thiên nhiên tâm giao thân thiết, giữa những suy nghĩ cho vận mệnh nước nhà là những phút thả hồn vào muôn hoa vạn vật…

Cuối năm 1959, đầu 1960, nhân dịp cả nước thi đua lập nhiều thành tích mừng xuân, mừng Đảng tròn 30 tuổi, Bác Hồ đã phát động Tết trồng cây trong toàn dân với lời dạy “Việc này ít tốn kém mà lợi ích nhiều”. Bác nói: “Trong 10 năm nữa, phong cảnh nước ta sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu sẽ hiền hoà hơn, cây gỗ sẽ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”.

Bác Hồ chăm sóc cây Vú sữa của đồng bào miền Nam tặng (Nguồn: Internet)

Ngày 5/01/1961 (ngày 9 tháng Chạp năm Canh Tý), Bác Hồ về thăm Hợp tác xã Lạc Trung, tỉnh Vĩnh Phúc – nơi có phong trào trồng cây hai bên đường và trên các bãi đất trống. Bác ôm ghì 2 đồng chí lãnh đạo của xã thật chặt và hỏi: “Các chú có thấy khó chịu không?”. Rồi Bác ôn tồn bảo: “Cây cũng như người, nó phải có khoảng cách để sống và phát triển, các chú cần hướng dẫn nhân dân trồng cây theo kỹ thuật, trồng cây nào tốt cây đó”.

Hàng năm, cứ mỗi độ Tết đến, xuân về, Bác vừa viết báo nhắc nhở nhân dân thực hiện Tết trồng cây, vừa đi thăm và tham gia trồng cây cùng với nhân dân. Người luôn biểu dương những địa phương, đơn vị, cá nhân trồng cây tốt và nhắc nhở những địa phương, những hợp tác xã chưa quan tâm đến việc tổ chức “Tết trồng cây”. Người đặc biệt lưu ý phải liên hệ chặt chẽ “Tết trồng cây” với kế hoạch trồng cây gây rừng, “trồng cây nào, chắc cây ấy”. Người còn lưu ý: “Có nơi nhầm cho rằng Tết trồng cây chỉ một đợt và một năm thôi; chứ không hiểu rằng Tết trồng cây cũng là một kế hoạch kinh tế lâu dài và liên tục…”, “Sở dĩ Tết trồng cây đã trở nên một phong trào quần chúng mạnh mẽ, là vì mọi người đều thấy lợi ích thiết thực và lâu dài của nó”.

Còn nhớ, trên báo Hà Đông ra ngày 20/1/1965, trong bài “Hãy nhiệt liệt tổ chức Tết trồng cây”, Bác viết: Muốn xây dựng nông thôn mới, việc đầu tiên của nông thôn mới là xây dựng lại nhà ở cho đàng hoàng. Muốn vậy thì ngay từ bây giờ phải trồng cây nhiều và tốt để lấy gỗ. Chỉ có việc đó cũng đủ thấy cần phải đẩy mạnh phong trào Tết trồng cây…

Bác Hồ cùng cán bộ, nhân viên trồng cây trong Phủ Chủ tịch (Nguồn: Internet)

Trong những lần thăm nước bạn hoặc tiếp đón các vị nguyên thủ quốc gia đến thăm Việt Nam, Bác đều tổ chức trồng cây lưu niệm. Người đã trồng cây Đại ở Ấn Độ, trồng cây sồi ở Nga và tặng chúng những cái tên thân mật là “những cây hữu nghị”. Theo thời gian, cây cối lớn dần lên cũng giống như tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với bạn bè thế giới ngày càng thêm thân tình, gắn bó. Những năm chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc, Bác Hồ vẫn kêu gọi nhân dân trồng cây, giữ lấy màu xanh của đất nước. Bác viết: “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”.

Bác trồng cây Đa cùng bà con xã Vật Lại (huyện Ba Vì, Hà Tây) mùa xuân năm Kỷ Dậu (Nguồn: Internet)

Trong bài viết cuối cùng của mình về Tết trồng cây ngày 5/2/1969, Bác nhắc tới “ích lợi to lớn cho kinh tế quốc phòng” của việc trồng cây gây rừng, và nhắc nhở “đồng bào các địa phương phải biến đồi trọc thành vườn cây”. Ngày mùng một Tết Kỷ Dậu (16.2.1969), trong mùa xuân cuối cùng của cuộc đời, Bác đã tự tay trồng một cây đa trên đồi cây xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).

Ngay cả khi nằm trên giường bệnh, Bác vẫn không quên nhắc nhở Đảng bộ Nghệ An cần “có kế hoạch trồng cây bảo vệ rừng”. Di chúc của Người cũng không quên nhắc nhở nhân dân ta phải tiếp tục trồng cây gây rừng. Người viết: “Nếu có kế hoạch trồng cây trên đồi, ai đến thăm thì trồng 1 cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho công nghiệp”.

*****

Hơn 40 năm kể từ ngày Bác đi xa, đất trời đã bước vào nhiều mùa xuân mới. Tết trồng cây đã trở thành một truyền thống tốt đẹp được nhân dân ta gìn giữ qua nhiều đời. Từ lời Người dạy, phong trào trồng cây, gây rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc luôn được toàn Đảng, toàn dân ta ra sức hưởng ứng bằng nhiều hành động cụ thể. Mỗi độ Tết đến, xuân về, nhìn những bóng cây xanh mát khắp các ngả đường từ Nam tới Bắc, lại càng nhớ lời Người dạy năm xưa:

“Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”

Thu Hiền (Tổng hợp)

backan.gov.vn

Kỷ niệm bảo vệ Bác Hồ thăm chợ Tết

Hôm ấy là ngày 24/1/1963, tức 30 Tết, các đồng chí bảo vệ hóa trang cho Bác thành một công nhân già đi sắm Tết. Bác đeo kính trắng mắt tròn, gọng kính nhỏ như kính lão các cụ đồ thường dùng.

Khoảng một tuần trước Tết Quý Mão (1963), Bác Hồ nhắc Văn phòng Chủ tịch nước báo cho Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn, Tết này Bác muốn thăm chợ Đồng Xuân – khu thương mại sầm uất, nhộn nhịp nhất ở Hà Nội.

Người được phân công trực tiếp đi theo bảo vệ Bác là ông Phan Văn Xoàn, sau này là Thiếu tướng Tư lệnh – Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Ông hồi tưởng lại vào dịp giáp Tết năm ấy, người mua kẻ bán khắp nơi đổ về Hà Nội rất đông nên công tác bảo vệ có phần khó khăn. Nếu để Bác đi công khai thì nhân dân ai cũng biết, và sẽ ùa tới chào đón Người. Như vậy việc bảo vệ lại càng phức tạp, khó khăn hơn.

Sau khi nghiên cứu cụ thể, lãnh đạo Cục Cảnh vệ đã báo cáo lãnh đạo Bộ Công an phương án bảo vệ, trong đó có biện pháp Bác hóa trang thành một công nhân già đi sắm Tết.

Hôm ấy là ngày 24/1/1963, tức 30 Tết. Sáng hôm đó, Bác rất vui, các đồng chí bảo vệ hóa trang cho Bác. Bác đeo kính trắng mắt tròn, gọng kính nhỏ như kính lão các cụ đồ thường dùng. Bác mặc quần áo cũ vải gụ đã bạc và khoác chiếc áo mưa vải bạt có vài chỗ đã sờn, cổ quàng chiếc khăn len màu tối, quấn nhiều vòng để vừa ấm cổ, vừa che bớt chòm râu, đầu đội mũ cát trắng, chân mang tất màu cỏ úa, đi đôi dép cao su đen.

Theo phương án, ba người cùng đi chợ Tết với mối quan hệ gia đình. Bác là bố, đồng chí Xoàn là con, đồng chí Phan Đĩnh, vệ sỹ trực tiếp là cháu của Bác. Khoảng 9h sáng, ôtô đưa Bác theo đường Phan Đình Phùng đến phố Hàng Đậu dừng lại một lúc, Bác xuống xe rồi đi bộ theo phố Nguyễn Tiệp, rẽ qua phố Hàng Khoai, lẽo đẽo theo sau là “nguời cháu” xách chiếc làn mây đi chợ. Bác cháu hòa lẫn trong dòng người đông vui giữa phiên chợ sáng 30 Tết.

Thiếu tướng Phan Văn Xoàn nhớ lại, lúc ấy khi ba Bác cháu đi đến cửa sau chợ Đồng Xuân, trước khi vào chợ như hành trình đã định, bỗng nhiên Bác dừng lại, với dáng vẻ thư thái, Người đứng ngắm quanh cảnh nhộn nhịp, tấp nập người mua kẻ bán chen chúc nhau ở đầu chợ Bắc Qua, rồi Bác ngoặt vào chợ. Thấy vậy, cả tổ bảo vệ rất lo. Đồng chí Xoàn làm như vẻ thấy bố mình đi nhầm chỗ, bèn gọi: “Bố ơi, đường này cơ mà, đường đó chật lắm không đi được đâu bố ạ”.

Nghe vậy, Bác quay lại mỉm cười khẽ nói: “Bố con ta đi vào đây đã”. Chợ Bắc Qua lúc này đông nghẹt. Sau một lúc quan sát cảnh hàng hóa chợ Tết bày la liệt, đồng bào vui vẻ mua bán sắm sửa, Bác tỏ ý rất vui, sau đó mới qua chợ Đồng Xuân.

Vào trong chợ, Bác dừng lại hồi lâu trước một số quầy tạp hóa, đồ dùng gia đình, quần áo may sẵn… để biết giá cả và sức mua của dân.

Sau một hồi quan sát trong chợ, đồng chí Xoàn mời Bác sang thăm quầy bán hoa tươi cạnh đó. Cạnh các quầy hoa là mấy cụ đồ áo dài the, khăn xếp đen, đeo mục kỉnh, ngồi chấm phá những câu đối bằng mực tàu trên những khổ giấy đỏ dài. Bác rảo bước tới một quầy bán hoa huệ gần đấy, chọn một bó huệ rất đẹp, đưa lên ngắm nhìn tỏ vẻ rất vừa ý, rồi hỏi chị hàng hoa: “Chị ơi, bó huệ này bao nhiêu? “Dạ thưa cụ 5 hào”.

Lúc này đồng chí Đĩnh đứng sát sau lưng Bác. Thấy Bác ngồi lâu sợ bị lộ vì Bác trực tiếp trao đổi mua bán, e rằng những người tinh ý sẽ phát hiện ra Bác nên đồng chí Xoàn vội bước tới nói với Bác: “Bố để con mua cho” rồi mặc cả bó hoa với giá hai hào. Thiếu tướng Xoàn kể lại: “Sở dĩ lúc ấy tôi trả với giá thấp cốt để chị hàng hoa không bán, lấy cớ mời Bác đi về cho an toàn”.

Khi nghe chị hàng hoa trả lời không bán, Bác liền đứng dậy, một thoáng nhìn theo bó huệ rồi đi ngay. Ra chỗ vắng Bác quay lại nói: “Chú trả như vậy thì đi chợ cả ngày cũng chẳng mua được gì” và trên mặt phúc hậu của Người lộ nét trầm lặng không vui.

Xuân này qua xuân khác, mỗi lần chuẩn bị đón năm mới, khi kể với anh em bảo vệ và các nhà báo chuyện này, Thiếu tướng Xoàn vẫn bùi ngùi với cả nỗi niềm thương nhớ vời vợi. Câu chuyện Bác hồi đi chợ Tết hơn 40 năm trước vẫn luôn đọng sâu trong lòng ông.

(Ghi theo lời kể của Thiếu tướng Phan Văn Xoàn)
(Theo An Ninh Thủ Đô)

vnexpress.net

Đón xuân mới đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ CHí Minh (Ảnh trên Internet)

Mỗi độ Xuân về, trong khí thiêng của đất trời, sông núi, trong mỗi chúng ta lại nhớ tới những vần thơ Xuân chúc Tết của Bác Hồ. Kể từ năm 1941, trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước, Người từ Trung Quốc trở về Tổ quốc và cho đến trước lúc đi xa, Bác đã để lại cho chúng ta hàng chục bài thơ Xuân.

Tết Xuân năm 1942, bài thơ đầu tiên của Bác được đăng trên Báo Việt Nam độc lập số 114, ngày 01 tháng 01 năm 1942. Bác viết:

“Tháng ngày thấm thoắt chóng như thoi,
Năm cũ qua rồi, chúc năm mới.
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong,
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi;
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!
Chúc Việt Minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong năm này,
Cờ đỏ ngôi sao bay phấp phới!
Năm nay là năm rất vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới”.

Những lời thơ Xuân tuy ngắn gọn nhưng hàm chứa nhiều điều xúc tích, với những tiên đoán của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.

Năm 1948, trong lúc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang dốc lòng dốc sức cho cuộc kháng chiến chống Pháp, đón Xuân mới, Bác có thơ chúc Tết đồng bào:

“Năm Hợi đã đi qua,
Năm Tý vừa bước tới.
Gửi lời chúc đồng bào,
Kháng chiến được thắng lợi;
Toàn dân đại đoàn kết,
Cả nước dốc một lòng,
Thống nhất chắc chắn được,
Độc lập quyết thành công”.

Chủ tịch nước tự cuốc đất, trồng cây, tưới nước xung quanh nhà sàn

Năm 1951, trải qua 5 năm, chúng ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và là năm tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Báo Cứu quốc, số 1748, ngày 5 tháng 2 năm 1951, đăng thơ chúc Tết Tân Mão của Bác Hồ:

“ Xuân này kháng chiến đã năm xuân,
Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công.
Toàn dân hăng hái một lòng,
Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời”.

Bài thơ Xuân hừng hực khí thế tiến công của Bác đã động viên toàn dân hăng hái thi đua quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ để giành thắng lợi.

Năm 1960, mừng Đảng ta tròn 30 tuổi; mừng Nhà nước tròn 15 Xuân và chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, thơ chúc Tết năm 1960 của Bác Hồ như sau:

“Mừng Nhà nước ta 15 Xuân xanh!
Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ!
Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua,
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh,
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
Cả nước một lòng hăng hái tiến lên,
Thống nhất nước nhà Bắc Nam vui vẻ”.

Năm 1968, mùa xuân Mậu Thân, lời thơ Xuân của Bác đã trở thành mệnh lệnh Tổng tấn công và nổi dậy của khắp miền Nam thành đồng:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta”.

Và năm 1969, trước lúc đi xa, Bác đã dành muôn vàn tình thương yêu cho đồng bào, đồng chí, cho các cháu thiếu nhi và nhi đồng. Bác đã để lại bài thơ chúc Tết cuối cùng, với những lời hịch vang vọng núi sông ngàn năm:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào.
Tiến lên! Chiến sỹ, đồng bào,
Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!”

Đọc thơ của Bác và suy ngẫm về những điều Bác nói, ta thấy như Bác đã chỉ rõ con đường của cách mạng Việt Nam. Bốn năm sau, vào mùa xuân năm 1973, với thắng lợi của Hiệp định Pari, chúng ta đã buộc đế quốc Mỹ phải cuốn cờ ra khỏi Tổ quốc Việt Nam. Và hai năm sau, khi Mỹ đã cút, Nguỵ đã nhào, Bắc – Nam sum họp, đất nước thống nhất, “Xuân nào vui hơn”?

Chúng ta cảm ơn đất trời đã cho tiết Xuân, Xuân nồng nàn tình cảm của mỗi con người. Đón Xuân mới, đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ, lòng ta lại nhớ tới công lao to lớn của Người, cảm ơn Người đã để lại cho ta những vần thơ Xuân bất hủ…

Đặng Nam Điền

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về đảng viên

Đảng viên là người thay mặt Đảng đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì vậy, lợi ích của người đảng viên phải ở trong chứ không thể ở ngoài lợi ích của Đảng, của giai cấp.

Đảng và giai cấp thắng lợi và thành công, tức là đảng viên thắng lợi và thành công. Nếu rời khỏi Đảng, rời khỏi giai cấp thì cá nhân dù tài giỏi mấy, cũng nhất định không làm nên việc gì.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 9, tr.288-289.

Những tiêu chuẩn của người đảng viên:

1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm. Kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài.

3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi ích riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng.

4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và kỷ luật của Đảng.

5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình.

Phải giữ đúng những tiêu chuẩn đó mới xứng đáng là người đảng viên.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 10, tr.33-34.

Đảng không chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên.

Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng để làm đày tớ cho dân… chứ không phải là “quan” nhân dân.

Sđd, tập 12, tr.222.

Lợi ích của Đảng, gồm có lợi ích của đảng viên. Vì vậy, sự phát triển và thành công của Đảng, một mặt là thành công của dân tộc, một mặt tức là thành công của đảng viên. Vì vậy, chỉ có khi Đảng thành công và thắng lợi, thì đảng viên mới có thể thành công và thắng lợi. Chính vì vậy mà đảng viên cần phải hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích chung của Đảng.

Sđd, tập 5, tr.253.

Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một người đảng viên, một người cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân.

Sđd, tập 5, tr.254.

Mỗi đảng viên phải nhận rõ nhiệm vụ của mình là phải tiến bộ trong công tác, tiến bộ về tư tưởng, làm gương mẫu trong mọi công việc, đồng thời lấy tinh thần của người đảng viên cộng sản giúp đỡ anh em ngoài Đảng cùng tiến bộ.

Sđd, tập 10, tr.167.

xaydungdang.org.vn

Xuân Quê hương

Đồng bào và khách quốc tế hướng về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày 22 tháng Chạp năm Tân Mão. Tiết trời lạnh, mưa xuân lất phất bay ngoài không gian, qua ánh đèn cao áp tại Quảng trường Ba Đình trông như những bông tuyết trắng, rất đẹp. Lạnh, nhưng tại nơi đây, bên Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, không khí thật ấm áp, mọi người thấy thật gần gũi, háo hức chuẩn bị chào đón một sự kiện quan trọng, cảm động và vô cùng ý nghĩa. Đó là Chương trình: “XUÂN QUÊ HƯƠNG – RỒNG THIÊNG HỘI TỤ” do Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thành phố Hà Nội và các cơ quan có liên quan tổ chức thực hiện để gặp gỡ với Kiều bào ta ở nước ngoài về quê hương ăn Tết.

Trong trái tim rộng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người luôn dành cho Kiều bào sự quan tâm hết sức đặc biệt, bởi chính Người cũng đã trải qua những tháng năm bôn ba khắp năm châu bốn bể để tìm con đường cứu nước. Những năm tháng xa quê hương, Người thấu hiểu những tình cảm, trăn trở, nỗi nhớ thương da diết của hết thảy Kiều bào ta đã và đang sinh sống, làm việc tại xứ người, nhất là tình cảm vào những ngày chuẩn bị đón Tết nguyên đán.

Ngay sau khi nước nhà vừa giành được độc lập (ngày 2/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi nhiều thư, điện cho Kiều bào báo tin nước nhà độc lập, cảm ơn Kiều bào đã đóng góp sức người, sức của để góp phần vào việc giành độc lập và kiến thiết nước nhà. Người không chỉ kêu gọi tinh thần yêu nước, đoàn kết hướng về Tổ quốc của Việt kiều để làm cho “lực lượng to” mà “lực lượng to thì quyết thắng lợi” mà còn hơn một lần khuyên họ cần phải đoàn kết với đồng bào các nước; kêu gọi Kiều bào hãy tiếp tục phát huy truyền thống con Hồng cháu Lạc yêu nước, thương nòi, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống và công tác, làm cho các nước trên thế giới thấy được đất nước, con người Việt Nam luôn anh dũng, kiên cường dù trong thời chiến cũng như thời bình. Trong thư chúc Tết Kiều bào ta ở nước ngoài năm 1946, Người đã đánh giá cao tấm lòng của Kiều bào tuy ở nơi đất khách quê người, nhưng tấm lòng vẫn nhớ về Tổ quốc, đồng thời Người khẳng định: “Tổ quốc và Chính phủ cũng luôn luôn nhớ thương các đồng bào như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng. Đó là nhân tâm thiên lý, đó là tình nghĩa một nhà”. Để giúp đỡ Kiều bào, Người thường xuyên nhắc nhở các cán bộ làm công tác ngoại giao ở nước ngoài, từ lời nói đến việc làm, bất kỳ việc to hay nhỏ đều phải “đem tình thân ái của Tổ quốc cho Kiều bào, để giúp đỡ họ, để tuyên truyền cho thanh niên và cho cả dân tộc Việt Nam”.

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước ta hiện nay, kế thừa và phát huy tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, gắn với tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta luôn coi Kiều bào là một bộ phận không thể tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị, ngày 27/10/2006 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 243/2006/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài. Ngày 18/7/2008 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 102/2008/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao (thay thế Quyết định số 243/2006/QĐ-TTg). Tháng Giêng này, kỷ niệm 43 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lá thư cuối cùng cho Kiều bào ở nước ngoài (27/1/1969 – 27/1/2012), việc tổ chức gặp mặt Kiều bào về quê hương ăn Tết tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh với Chương trình “Rồng thiêng hội tụ”, năm Nhâm Thìn 2012 thật ý nghĩa và xúc động biết bao. Tiếng trống khai xuân do Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã vang vọng khắp không gian tại Quảng trường Ba Đình lịch sử báo hiệu mùa Xuân đã về và Tết nguyên đán sắp tới trên đất nước Việt Nam thân yêu. Chủ tịch nước thay mặt Đảng và Nhà nước chúc sức khỏe, bình an, hạnh phúc và thành đạt đối với Kiều bào có mặt tại buổi gặp mặt hôm nay đại diện cho hơn 4 triệu Kiều bào hiện đang sinh sống và làm việc tại hơn 123 quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới, tất cả Kiều bào không có điều kiện về quê hương ăn Tết hiện đang ở nước ngoài.

Chủ tịch nước đánh giá cao sự đóng góp của Kiều bào ta ở nước ngoài đối với công cuộc xây dựng đất nước, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Năm 2011, số tiền Kiều bào gửi về Việt Nam được hơn 9 tỷ USD, một con số đẹp và đầy ý nghĩa trong bối cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn.

…Trên khán đài của Chương trình văn nghệ vang lên chất giọng trầm ấm, sâu lắng của ca sĩ Trọng Tấn với những ca từ xúc động, đi vào lòng người của bài hát “Chúng con canh giấc ngủ cho Người”…“ Vinh quang con đứng bên Người, canh cho Bác ngủ ngon giấc, trên môi như Bác vẫn cười, Bác vui vì khắp non sông, cháu con trở về sum vầy…”. Dường như, trong tâm thức của mỗi người tham dự đều sáng lên một niềm tin vững chắc và hạnh phúc: Bác kính yêu đang mỉm cười và thật vui khi Kiều bào ở khắp các nước trên thế giới về quê hương ăn Tết đang ở rất gần Bác, Bác vui vì thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với Kiều bào, Bác vui vì tất cả mọi người đang thực hiện lời căn dặn và tâm nguyện của Bác đối với Kiều bào trước lúc Người đi xa…

Mưa đã tạnh, không gian bừng sáng khi Chương trình văn nghệ Xuân Quê hương – Rồng thiêng hội tụ kết thúc. Xung quang Lăng Bác thật rực rỡ bởi những cây hoa đào đã thắm sắc đỏ của miền Bắc, những cây Mai vàng của miền Nam và rất nhiều, rất nhiều cây hoa cây cảnh đang đua nhau khoe sắc báo hiệu Xuân đã về. Quảng trường Ba Đình vang vọng tiếng hát rộn ràng, tưng bừng của các ca sĩ, nghệ sĩ, Kiều bào và tất cả đại biểu có mặt tại Chương trình chào đón một mùa Xuân mới, một năm mới nhiều thắng lợi, thành công: “Tết, Tết, Tết, Tết đến rồi, Tết Tết, Tết, Tết, Tết đến rồi; Tết, Tết, Tết, Tết, Tết đến rồi, Tết đến trong tim mọi người…..”.

Với cá nhân tôi, chúc cho Chương trình Xuân Quê hương, gặp gỡ Kiều bào ở nước ngoài hàng năm nhân dịp Xuân về Tết đến bên Lăng Bác ngày càng phát triển, sinh động và thật nhiều ý nghĩa. Chúc Kiều bào ta ở nước ngoài luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt và hàng năm về Quê hương ăn Tết ngày càng nhiều cũng như sự đóng góp ngày càng lớn về sức người, sức của (Năm 2012, Nhâm Thìn – Rồng bay, phấn đấu đạt 2 con số là 18 tỷ USD – 1+8 = 9 là con số đẹp) với mục tiêu tất cả vì một đất nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.

Nguyễn Hồng Vân

bqllang.gov.vn

Ký ức về Bác với người Việt xa xứ

Bác Nguyễn Lan Phương

Những ký ức về Bác Hồ vĩ đại luôn là niềm tự hào và động lực vô giá với các thế hệ con cháu người Việt, trong đó có kiều bào sống xa Tổ quốc.

Nhiều gia đình Việt Kiều cho đến giờ vẫn cố gắng gìn giữ những kỷ vật về quê nhà, về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc và truyền lại cho con cháu. Kỷ vật đôi lúc có thể đơn giản chỉ là một tờ báo. Nhưng hàng chục năm lưu lạc mà vẫn nâng niu gìn giữ được một tờ báo viết về Bác từ năm 1975 – ngay sau ngày đất nước thống nhất – để bây giờ trao lại cho con cháu, lại là một câu chuyện rất đáng được nói tới.

PV VOV thường trú tại Pháp đã có may mắn gặp gỡ và trò chuyện với gia đình bác Nguyễn Lan Phương – người đã giữ tờ báo Nhân dân có bài viết “Thời thanh niên của Bác Hồ” từ 36 năm qua.

Thật bất ngờ và xúc động khi trong một cuộc trò chuyện, anh Nguyễn Hải Nam – Chủ tịch Hội Doanh nhân Việt Nam tại Pháp – lật dở trong cặp làm việc lấy ra tờ báo Nhân dân ngày 02/ 06 /1975 mà mẹ anh mới trao lại. Tờ báo có bài “Thời thanh niên của Bác Hồ” do cố nhà báo Hồng Hà viết, ghi lại những ngày tháng Bác tới nước Pháp tìm đường cứu nước.

Trên tờ báo có nét bút gạch chân dưới cái tên Nguyễn Duyên (hay còn gọi là Tư Duyên) – chính là ông ngoại của anh Nam, một thợ ảnh người Việt tại Pháp từng nhiều lần được gặp Bác Hồ. Những ký ức được ông bà cha mẹ kể lại tràn về đầy ắp và thật tự nhiên giữa anh với chúng tôi – đều là những người con đất Việt thế hệ sinh ra sau chiến tranh, những ký ức dù không đầy đủ và chi tiết vì đã qua nhiều thế hệ.

Tìm tới nhà anh Nam, chúng tôi được nghe mẹ anh – bác Nguyễn Lan Phương kể lại chuyện bà gìn giữ tờ báo và nay trao lại cho con trai – một nhân vật có uy tín trong cộng đồng người Việt tại Pháp. Câu chuyện được bác kể lại rất mộc mạc vì ký ức đã từ hàng chục năm, lúc nhớ lúc quên. Và cũng vì đó là niềm tự hào riêng của gia đình nhiều năm qua mà bác chưa thổ lộ với ai.

“Lúc đó tôi đang ở Sài gòn, có được tờ báo và giữ làm kỷ niệm, tình cờ tự nhiên đọc hay xem báo Nhân dân, giữ luôn đến giờ, mới chuyển cho con trai. Vì cụ sinh ra các chị em thường cụ hay nhắc nói chuyện đến Bác Hồ, mọi người cũng để ý; nghe thấy rất phấn khởi và giữ đấy” – Bác Nguyễn Lan Phương chia sẻ.

Bác Nguyễn Lan Phương kể, thân sinh của bác là cụ Tư Duyên, khi đó là một thợ ảnh trong nhóm người Việt Nam tham gia phong trào yêu nước đã nhiều lần được gặp Bác Hồ khi Người tham gia hoạt động cách mạng tại Pháp những năm 1917 – 1923 sau khi trở về từ Mỹ, Anh. Nhà cụ Tư Duyên vừa là nơi làm ảnh, vừa là chỗ ăn ở của những người bạn Việt Nam tham gia phong trào ái quốc, trong đó có chí sỹ Phan Chu Trinh. Cụ cũng thường mời Bác Hồ cùng với ông Phan Văn Trường đến nhà chia sẻ kinh nghiệm làm ảnh và nghệ thuật chụp ảnh cũng như tâm sự nỗi nhớ quê hương.

Theo lời kể của cụ Tư Duyên được gia đình thuật lại, sau những lần gặp Bác Hồ, ông đã bị thu hút bởi lòng yêu nước, tinh thần dân tộc sâu đậm của của người thanh niên tuổi rất trẻ nhưng có tư tưởng và hoài bão lớn lao. Còn Bác Hồ thì quý sự cần cù, bản tính ít nói, tình cảm thân thiện của người bạn Tư Duyên với tâm sự : “Tôi chỉ biết rửa ảnh và chụp ảnh thôi, nhưng sẽ tích cực giúp đỡ những người hoạt động cách mạng như anh, ông Trinh và ông Trường”.

Bác Lan Phương nhớ lại: “Gia đình có tới 11 chị em, tôi là cả, lúc đó khoảng 17-18 tuổi; tất cả nghe bố nói chuyện, các em cũng nhớ hết. Bao nhiêu lần, cụ nhớ kỷ niệm cụ ngồi cụ nói. Lúc cụ sang Pháp là 17 tuổi. Cụ bảo cụ ở Paris, cụ sang học tiếng và nghề ảnh. Cụ có căn nhà nhỏ, ở cùng cụ Phan Chu Trinh, có gặp bác Phan Vân Trường và Bác Hồ. Cụ kể Bác Hồ rất thân thiện, rất quý. Cụ bảo là thích làm ảnh, bằng không thì theo chính trị nhưng không có khiếu”.

Thuộc thế hệ con cháu sinh sau chiến tranh, anh Nguyễn Hải Nam luôn trân trọng và tâm niệm phải gìn giữ những ký ức đã nuôi dưỡng và tạo động lực cho anh từ khi còn nhỏ: “Những kỷ niệm đó mẹ đã nói khi đó mình chỉ ghi nhận lúc trước không chú ý mấy nhưng ký ức lúc nào cũng tiềm ẩn trong thâm tâm, có sự kiện nào về Bác Hồ tôi lại nhớ đến. Trong xây dựng cộng đồng, tôi cũng thấy Bác Hồ luôn là động lực thúc đẩy cho người Việt ở xa quê hương.

Tôi đã đi xa Việt Nam hơn 20 năm nhưng chưa bao giờ cảm thấy rời xa Việt Nam. Mỗi khi có các sự kiện diễn ra, mình lại nhớ nguồn gốc gia đình tự hào từng có mối liên hệ với Bác. Một tờ báo nho nhỏ, mình muốn giữ lại. Mình cũng muốn đi xa hơn, mẹ có nói là có vài cuốn sách, ảnh. Gia đình sẽ cố gắng tìm lại những kỷ vật, mình cố gắng tìm lại; ngoài sự kiện lịch sử; đó còn là nguồn gốc của chính mình”.

Anh Nam cũng cho biết, mới đây bất ngờ có một người bạn Pháp bày tỏ với anh nguyện vọng nghiên cứu về Bác Hồ và thời gian Người hoạt động ở Pháp. Anh sẽ cố gắng tìm lại và cung cấp cho người bạn đó những gì gia đình có được để phục vụ cho việc gìn giữ những ký ức về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc- Người vẫn luôn là nguồn động viên và đoàn kết những người con Việt Nam đang sống xa Tổ quốc./.

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Thùy Vân – Quang Hưng (Từ Paris)/ VOV
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đoàn Đại biểu Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ

Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Thìn 2012, sáng ngày 19/01/2012 (26 Tết), Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã đến Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ lòng biết ơn vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam, người sáng lập Đảng Cộng sản Vệt Nam, đặt hoa tưởng niệm, tri ân các Anh hùng liệt sỹ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ.

Dự lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh có các đồng chí: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm, cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ban, ngành, đoàn thể và các đồng chí cán bộ lão thành cách mạng. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.”

Đoàn đại biểu Quân ủy Trung ương
và Bộ Quốc phòng vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sau lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, những người đã hy sinh vì nền độc lập tự do của Tổ quốc. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “ Đời đời nhớ ơn các Anh hùng liệt sỹ”.

Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ,
Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam dặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ

Cũng trong buổi sáng cùng ngày, các Đoàn đại biểu Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; Đảng uỷ Công an Trung ương và Bộ Công an; Bộ Ngoại giao; Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Ban Chỉ đạo phối hợp hoạt động Cụm di tích lịch sử – văn hoá Ba Đình và nhiều cơ quan, đoàn thể Trung ương, địa phương, đông đảo các tầng lớp nhân dân và khách quốc tế đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ./.

Lan Hương

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về người làm báo

Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 10, tr.616.

Nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 9, tr.415.

Ngoài những đồng chí đã làm báo trong những năm cách mạng và kháng chiến, số đông cán bộ báo chí ta đều mới vào nghề, vì thế mà kinh nghiệm còn ít, trình độ chưa cao. Muốn tiến bộ, muốn viết hay, thì phải cố gắng học hỏi, ra công rèn luyện. Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi:

Viết cho ai xem?

Viết để làm gì?

Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc?

Khi viết xong, thì nhờ anh em xem và sửa giùm.

Chớ tự ái, tự cho bài của mình là “tuyệt” rồi. Tự ái tức là tự phụ, mà tự phụ là kẻ địch dữ tợn nó ngăn chặn con đường tiến bộ của chúng ta.

Sđd, tập 10, tr.615-616.

Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội… cho hòa bình thế giới. Chính vì thế cho nên tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, v.v.) phải có lập trường chính trị vững chắc.

Sđd, tập 9, tr.414.

Báo chí của ta đã có một địa vị quan trọng trong dư luận thế giới. Địch rất chú ý, bạn rất quan tâm đến báo chí ta. Cho nên làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết.

Sđd, tập 10, tr.615.

Trong công tác, người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, v.v…, đều phải ăn khớp với nhau.

Sđd, tập 9, tr.415.

Trong nghề làm báo, ta có những kinh nghiệm của ta, nhưng ta cũng cần phải học thêm kinh nghiệm của các nước anh em. Muốn thế, thì những người làm báo ít nhất cũng cần biết một thứ tiếng nước ngoài.

Sđd, tập 9, tr.415.

xaydungdang.org.vn

Lời kêu gọi thi đua ái quốc

TTO – LTS – “Mỗi người dân VN, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên các mặt trận: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa. Thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi khó khăn để đi đến thắng lợi cuối cùng. Chúng ta quyết thực hiện: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc“.

Lời Bác kêu gọi đã 60 năm mà đọc lại tưởng như mới hôm nay. Nhiệm vụ đặt ra đã 60 năm, hôm nay kiểm lại, người người vẫn thấy mình phải tiếp tục phấn đấu, tiếp tục thi đua, tiếp tục trở thành những chiến sĩ trên mặt trận của mình “để đi đến thắng lợi cuối cùng”.

Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên cứu quốc lần II nhiệt liệt chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm (2-11-1956) – Ảnh tư liệu

Mục đích thi đua ái quốc là:

Diệt giặc đói,
Diệt giặc dốt,
Diệt giặc ngoại xâm.

Cách làm là: dựa vào:

Lực lượng của dân,
Tinh thần của dân, để gây:
Hạnh phúc cho dân.

Vì vậy bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau:

Làm cho mau,
Làm cho tốt,
Làm cho nhiều.

Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa. Thực hiện khẩu hiệu:

Toàn dân kháng chiến,
Toàn diện kháng chiến.

Trong cuộc Thi đua ái quốc, chúng ta:

Vừa kháng chiến,
Vừa kiến quốc.

Kết quả đầu tiên của Thi đua ái quốc sẽ là:

Toàn dân đủ ăn đủ mặc,
Toàn dân biết đọc, biết viết,

Toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới,
để diệt ngoại xâm,

Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn.

Thế là chúng ta thực hiện:

Dân tộc độc lập,
Dân quyền tự do,
Dân sinh hạnh phúc,

Ba chủ nghĩa mà nhà đại cách mạng Tôn Văn đã nêu ra.

Để đi đến kết quả tốt đẹp đó, tôi xin

Các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia mọi công việc,
Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn,
Đồng bào phú hào thi đua mở mang doanh nghiệp,
Đồng bào công nông thi đua sản xuất,
Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh,
Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc, phụng sự nhân dân,
Bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng.

Nói tóm lại, ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc. Phong trào sôi nổi.

Thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi.

Hỡi toàn thể đồng bào,
Hỡi toàn thể chiến sĩ,
Tiến lên!

HỒ CHÍ MINH
Viết ngày 11-6-1948.

Báo Cứu quốc, chi nhánh số 6, số 968, ngày 24-6-1948.
Hồ Chí Minh toàn tập

tuoitre.vn

Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng (*)

Dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng.

…………………………………….

Tôi thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ thân ái chào mừng Đại hội và khen ngợi các đồng chí đã có những cố gắng và những thành tích trong mấy năm qua.

Nhân dịp này, tôi cũng gửi lời thân ái hỏi thăm những anh em văn nghệ yêu nước ở miền Nam đang cùng đồng bào dũng cảm hy sinh, đấu tranh chống Mỹ – Diệm.

Trong thư của Trung ương Đảng gửi Đại hội và những lời phát biểu của các đại biểu đã nói khá đủ những điều cần phải nói. Hôm nay, tôi chỉ kể vài kinh nghiệm cũ và nêu vài ý kiến chung.

Dưới chế độ thực dân Pháp, dù chúng khủng bố tàn nhẫn và nuôi nấng thứ văn chương nịnh tây, nhưng ở nước ta vẫn có văn chương cách mạng.

Văn chương cách mạng như những thơ ca của các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu và những người yêu nước khác, thì bị gọi là “cấm vật”. Nếu không giữ được bí mật, thì người viết cũng như người xem đều bị bắt bớ tù đày. Tuy vậy, vì quần chúng sẵn lòng ghét Tây và yêu nước, cho nên những thơ ca ấy đã được truyền tụng trong dân gian và đã có tác dụng cổ động tinh thần cách mạng.

Nghề múa hát thì chỉ là một thứ tiêu khiển cho bọn “ngồi mát ăn bát vàng”. Chúng còn khinh rẻ và gọi những nghệ sĩ múa hát là “xướng ca vô loài”.

Hồi đó chỉ có chiếu bóng câm, bọn thực dân Pháp dùng chiếu bóng để bôi nhọ dân tộc ta. Ví dụ: Trong hội chợ ở Mácxây ngoài những tranh vẽ lũ công khanh Việt Nam đang lúc nhúc lạy quỳ trước vua bù nhìn cùng chó ngao, toàn quyền, khâm sứ; ngoài những công nhân trần trụi kéo xe thuê, còn có chiếu bóng: trong phim có những bà già ăn trầu răng đen, những nông dân gầy gò rách rưới, những người đóng khố đang trèo dừa… Chúng gọi đó là “hình ảnh An Nam”.

Rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng.

Từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, nhân dân ta được giải phóng, thì những người văn nghệ cũng có điều kiện thuận lợi để phát triển tài năng của mình, góp phần vào công cuộc kháng chiến và xây dựng Tổ quốc.

17 năm qua, nước ta có những cuộc biến đổi long trời chuyển đất: Cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống Mỹ – Diệm ở miền Nam, khắp nơi sôi nổi thi đua yêu nước. Ở Việt Nam chúng ta có những sự tích vô cùng oanh liệt, những chiến sĩ cực kỳ anh hùng. Ở các nước anh em trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa cũng vậy.

Quần chúng đang chờ đợi những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại vẻ vang của chúng ta, những tác phẩm ca tụng chân thật những người mới, việc mới chẳng những để làm gương mẫu cho chúng ta ngày nay, mà còn để giáo dục con cháu ta đời sau.

Trong thời kỳ quá độ, bên những thành tích tốt đẹp là chính, vẫn còn sót lại những cái xấu xa của xã hội cũ như: tham ô, lãng phí, lười biếng, quan liêu, đánh con, đập vợ, v.v.. Đối với những thói xấu đó, văn nghệ cũng cần phải phê bình rất nghiêm khắc, nhằm làm cho xã hội ta ngày càng lành mạnh tốt đẹp hơn.

Nói tóm lại: phải có khen cũng phải có chê. Nhưng khen hay là chê đều phải đúng mức. Khen quá lời thì người được khen cũng hổ ngươi. Mà chê quá đáng thì người bị chê cũng khó tiếp thụ.

Quần chúng mong muốn những tác phẩm có nội dung chân thật và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi. Khi chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì có bổ ích. Quần chúng còn mong các đồng chí văn nghệ chú ý giùm hai điều nữa: một là chớ mượn chữ Hán quá nhiều, thậm chí có khi “chữ Tạc vạc ra chữ Tộ”. Hai là khi viết phải cẩn thận hơn, tránh viết những câu kỳ khôi như “no cơm áo”, “cười thênh thênh”, v.v..

Để làm trọn nhiệm vụ cao quý của mình, văn nghệ sĩ cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, giữ gìn thái độ khiêm tốn; phải thật sự hòa mình với quần chúng, cố gắng học tập chính trị, trau dồi nghề nghiệp; phải hết lòng giúp đỡ thanh niên, làm cho văn nghệ nước nhà ngày càng thêm trẻ thêm xuân.

Tôi xin kết thúc câu chuyện bằng lời thân ái chúc các đồng chí đoàn kết chặt chẽ, phấn khởi và tiến bộ nhiều!

Chúc mọi người đồng lòng chung sức xây dựng văn nghệ của ta ngày càng phong phú về tư tưởng và nghệ thuật, góp phần xứng đáng với cả dân tộc đang anh dũng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Bài nói chuyện tại đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ III
Nói ngày 1-12-1962, báo Nhân dân, số 3173, ngày 2-12-1962.
Hồ Chí Minh toàn tập

………………………..

(*): tựa đề do TTO đặt

tuoitre.vn

Từ “XUÂN” trong thơ Bác Hồ

Chúng ta đều biết từ XUÂN có nghĩa gốc (nghĩa đen) là mùa xuân. Nhưng từ nghĩa gốc đó, từ XUÂN còn được dùng với nghĩa rộng và nghĩa bóng. Hãy đọc thơ văn Bác Hồ để thấy Bác đã sáng tạo, biến hóa tài tình trong cách dùng từ XUÂN.

Trong thơ chúc Tết, từ XUÂN được Bác dùng để chỉ thời gian một năm:

Xuân này kháng chiến đã năm xuân
Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công

          (Thơ chúc Tết Tân Mão – 1951)

Thơ cổ thường dùng thu, đông để chỉ một năm (Ba thu dọn lại một ngày dài ghê – Truyện Kiều). ở đây, Bác lại dùng XUÂN, 5 xuân tức là 5 năm. Thật là mới mẻ, sáng tạo và phù hợp với không khí một bài thơ xuân.

Bác còn dùng XUÂN để chỉ tuổi – tuổi của Nước và của Đảng:

Mừng Nhà nước ta mười lăm xuân xanh!
Đảng chúng ta ba mươi tuổi trẻ!

(Thơ mừng năm mới- Xuân năm 1960)

Từ XUÂN được kết hợp với xanh thành xuân xanh để chỉ tuổi trẻ. Câu trên “mười lăm xuân xanh”, câu dưới “ba mươi tuổi trẻ” làm cho ý thơ khoẻ khoắn, phơi phới niềm tin, cảm hứng thơ xuân in rõ dấu ấn thời đại.

Trong thơ nói về tuổi già, từ XUÂN được Bác dùng như một tính từ đối lập với già là trẻ:

Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán,
So với ông Bành vẫn thiếu niên

(Sáu mươi tuổi – năm 1950)

Người viết câu thơ ấy phải trẻ trung và yêu đời biết bao! “Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười- Quên tuổi già tươi mãi tuổi đôi mươi” (Tố Hữu). Ngay cả khi sắp từ giã cuộc sống thì sự trẻ trung và yêu đời ấy vẫn thấm trong Di chúc, trong một từ XUÂN kỳ diệu: “Khi người ta đã “ngoài 70 xuân…” ( “ngoài 70 tuổi” gợi ý già nhưng “ngoài 70 xuân” thì lại đầy sức trẻ).

Từ XUÂN còn được Bác dùng để nói lên niềm vui và sự chiến thắng. Trong bài thơ cuối cùng trước lúc Bác đi xa, niềm vui ấy vẫn bừng sáng lên một sắc xuân chiến thắng:

Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn
Một năm là cả bốn mùa xuân

(Không đề – Khương Hữu Dụng dịch)

Trong nguyên văn: Một năm cả bốn mùa đều là xuân, có nghĩa là cả bốn mùa đều tràn đầy niềm vui và chiến thắng.

Những từ XUÂN nói trên Bác dùng thật tài tình, biến hoá. Nhưng sáng tạo nhất, hàm chứa nhiều ý nghĩa phong phú nhất, phải nói đến từ XUÂN trong câu thơ về Tết trồng cây Bác viết vào mùa xuân 1965:

Mùa Xuân là Tết trồng cây,
Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân.

XUÂN ở đây là tính từ, bao hàm nhiều nghĩa: Xanh tươi, trẻ, đẹp, trù phú, đầy sức sống, đầy sức phát triển… để nói lên đất nước trong mùa xuân vĩnh viễn mở ra một tương lai bát ngát bởi lòng người viết cũng tràn đầy sức XUÂN.

Xuân Nguyên

tuoitre.vn