Tag Archive | Hồ Chí Minh

Mật thám Mỹ (11-1-1956)

Hãng thông tấn Mỹ UP (26-12-1955) đǎng tin:

Bộ Quốc phòng Mỹ đang ra sức tổ chức và huấn luyện thêm những “đội đặc biệt” do tướng Bulốc phụ trách. “Đội đặc biệt” là gì?

Tướng Bulốc nói: Suốt 3 nǎm nay, những “đội đặc biệt” đã được huấn luyện về mọi cách chui vào sau lưng của đối phương để tổ chức hoặc giúp đỡ bọn biệt kích.

Các đội viên phải học tiếng nói và phong tục, tập quán của địa phương mà họ sẽ bị phái đến. Đồng thời học những phương pháp phá hoại, do thám và hoạt động bí mật khác.

Bulốc nói thêm: “Trước kia, Mỹ đã thi hành “chiến tranh tinh thần”, nhưng chỉ làm theo cách tạm bợ. Từ nay, với các “đội đặc biệt”, “chiến tranh tinh thần” sẽ được chuẩn bị kỹ càng, đầy đủ hơn”.

Trong cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai, phát xít Đức đã dùng “chiến tranh tinh thần” một cách rất xảo quyệt và táo bạo. Song những “đội đặc biệt” của chúng phái đến Liên Xô không mống nào sống sót. Vì chúng bị nhân dân Liên Xô giúp Hồng quân và Công an tiêu diệt hết.

Kinh nghiệm quốc tế chứng tỏ rằng: Chống bọn phá hoại cũng như chống mật thám Mỹ, cách tốt nhất là tổ chức và giáo dục nhân dân đến nơi đến chốn. Lòng nồng nàn yêu nước và tinh thần cảnh giác của nhân dân, cộng với sự cố gắng của bộ đội và công an – là cái lưới (thiên la địa võng), bất kỳ bọn phá hoại nào, bọn mật thám nào cũng không lọt được cái lưới ấy của nhân dân.

C.B.

—————————–

Báo Nhân dân, số 679, ngày 11-1-1956.
cpv.org.vn

Các cụ già nhiều tuổi nhất của nước ta (26-1-1956)

Cụ Hà Văn Quận 123 tuổi, quê ở Khu IV. Nhiều bạn
đọc đã nghe tiếng.

Cụ Hương 116 tuổi, xã Nghi Quang, Nghệ An.

Cụ Nguyễn Duy Nhàn 106 tuổi, xã Định Thành, Thanh
Hoá.

Cụ Nguyễn Văn Kính 105 tuổi, xã Hồng Minh, Hà Đông.

Bà cụ Huân 103 tuổi, xã Chân Lý, Hà Nam.

Bà cụ Gù 100 tuổi, xã Tô Hiệu, Phát Diệm.

Bà cụ người Mèo 100 tuổi, xã Bạch Ngọc, Hà Giang.

Bà cụ Đỗ Thị Chương 99 tuổi, ở Thủ đô Hà Nội.

Cụ Hoàng Văn Huyên 95 tuổi, xã Văn Phú, Ninh Bình.

Cụ Hoàng Văn Đông 86 tuổi,

Bà cụ Nguyễn Thị Ba 81 tuổi, quê ở Đức Thọ, Hà Tĩnh.

Ngoài bà cụ Chương ở thành phố, còn 10 cụ đều ở nông thôn, đều là bần nông hoặc cố nông. Như cụ Nhàn đã phải đi ở làm thuê từ thuở bé đến 96 tuổi! Vì vậy, ở những nơi cải cách ruộng đất, các cụ đấu tranh rất hăng.

Nhiều cụ đông con đông cháu. Như cụ Nhàn có 12 người con, bà cụ Mèo có 107 người con, cháu, chắt, chiu.

Các cụ đều mạnh và ham làm việc. Như cụ Kính đi 15 cây số không mỏi và gánh được 30 cân. Cụ Đông mỗi bữa ăn được 5-6 bát cơm và đi cày được.

Báo Nhân dân kính chúc các cụ sống lâu và luôn luôn mạnh khoẻ.

*

*     *

Tái bút: 1- Địa phương nào có các cụ ngoài 80 tuổi, xin viết thư cho báo. 2- Viết thư, xin viết rõ ràng: tên, họ, tuổi, gia đình và quê quán của các cụ. 3- Cảm ơn các bạn đã viết thư cho báo.

Cụ già nhiều tuổi nhất của Ấn Độ là cụ Radia Bam, 140 tuổi.

C.B.

———————————

Báo Nhân dân, số 694, ngày 26-1-1956.
cpv.org.vn

Quý trọng những người khoa học tiến bộ (30-1-1956)

Chúng ta quý trọng những người khoa học tiến bộ đời nay và biết ơn những người khoa học tiến bộ đời xưa, vì họ có công to với xã hội. Đồng thời chúng ta cũng nên biết nhiều người khoa học tiến bộ đã gan dạ chống lại thế lực phản động và đã bị hy sinh như:

Ông Rugiơ Baycơn, người Anh, (thế kỷ thứ 13), làm những thí nghiệm khoa học thiên nhiên. Ông bị tôn giáo hồi đó cho là “tà thuật” và bị bỏ tù.

Ông Brunô, người ý (thế kỷ thứ 14), phát minh: Ngoài quả đất của chúng ta, còn nhiều ngôi sao khác, mà loài vật có thể sống được. Ông bị đốt sống sau 7 nǎm ngồi tù!

Ông Xécvét, người Tây Ban Nha (thế kỷ thứ 16), sắp tìm thấy mạch máu chảy cách thế nào, thì bị giáo chủ Canvanh đốt sống, bị quay như người ta quay lợn suốt hai giờ đồng hồ!

Cũng Canvanh đã cho ông Côpécních, người Ba Lan là một người điên nguy hiểm, vì ông Côpécních đã phát minh rằng quả đất đi quanh mặt trời.

Cũng trong thế kỷ thứ 16, một người Nga tìm ra cách làm hai cái cánh để bay thử. Người này bị chặt đầu, vì “người mà bay như chim là trái với lẽ trời”!

Bọn đế quốc phản động ngày nay không đốt chết những người khoa học tiến bộ như tổ tiên chúng đã làm, nhưng chúng áp bức họ bằng cách khác. Như ba người đại khoa học nổi tiếng khắp thế giới là ông Hemmaye (người Mỹ) và hai vợ chồng ông Quyri (người Pháp) vì chống chiến tranh mà bị chúng cách chức.

Chỉ có chế độ xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân là thật sự quý trọng những người khoa học tiến bộ.

C.B.

—————————–

Báo Nhân dân, số 698, ngày 30-1-1956.
cpv.org.vn

Phải giữ bí mật của Nhà nước (1-2-1956)

Người thường ai cũng có cái ví đựng tiền. Nhà nào cũng có cửa, có buồng, có hòm, có khoá, để phòng ngừa kẻ gian giảo, để giữ gìn của cải do mình khó nhọc làm ra.

Giữ nhà phải cẩn thận như vậy. Giữ nước càng phải cẩn thận hơn. Những vǎn kiện bí mật của Nhà nước quan hệ trực tiếp đến vận mệnh của toàn dân, đến sự mất còn của dân tộc. Cho nên giữ bí mật của Nhà nước là nhiệm vụ của toàn dân, đặc biệt là nhiệm vụ của cán bộ các cơ quan, các đoàn thể.

Muốn phá hoại ta về mọi mặt, kẻ địch dùng mọi thủ đoạn đê hèn để đánh cắp vǎn kiện bí mật của ta về chính trị, kinh tế, quốc phòng, v.v.. Khẩu hiệu của kẻ địch là:

“Lấy được bất kỳ tình báo gì và dù là chút ít, cũng là quý”.

Nói chung, cán bộ ta được những nǎm kháng chiến huấn luyện, đã biết giữ bí mật. Nhưng cũng còn nhiều cán bộ lơ là và xem nhẹ việc ấy. Nhiều cán bộ còn phạm khuyết điểm:

– Không cẩn thận trong việc viết, in, gửi, quản lý và kiểm tra vǎn kiện bí mật.

– Mang vǎn kiện bí mật về nhà xem. Xem vǎn kiện bí mật ở chỗ đông người. Ghi chép những việc bí mật vào sổ tay thường của mình.

– Hay ba hoa, đưa việc bí mật nói với vợ con, bầu bạn…

– ở quán cơm, rạp hát, công viên, tiệm hớt tóc… cũng đưa việc trong cơ quan ra nói.

– Khi viết thư riêng, hoặc viết bài cho báo chí, cũng nói đến việc bí mật…

Như thế là các cán bộ đó đã vô tình mà giúp cho địch.

Cũng có một số ít người, vì lập trường không vững, chí khí ươn hèn, bị tiền tài, ǎn uống, gái đẹp quyến rũ, mà sa vào cạm bẫy của địch, tiết lộ bí mật cho địch.

Cơ quan đặc vụ Mỹ – Diệm đã chỉ thị cho lũ tay sai của chúng: “Tìm làm quen với những cán bộ ham ǎn chơi, ham tiêu xài, ham gái đẹp. Cho họ vay tiền, uống rượu, chơi gái. Làm cho họ say mê, mắc nợ, rồi đưa họ vào tròng”.

Giữ bí mật của Nhà nước là một bộ phận trong cuộc đấu tranh với địch. Đó là một vấn đề chính trị quan trọng. Chính phủ ta đã có phép luật về việc ấy. Các cơ quan và các đoàn thể cần phải xem trọng giáo dục, nghiêm chỉnh chấp hành và thường xuyên kiểm tra việc ấy.

Cũng như mọi công việc khác, việc phòng gian bảo mật cần phải dựa vào lòng yêu nước và lực lượng của nhân dân. Chúng ta phải tuyên truyền giải thích cho nhân dân hiểu thấu, để nhân dân giúp sức vào công việc này.

C.B.

———————————

Báo Nhân dân, số 700, ngày 1-2-1956.
cpv.org.vn

Thư khen huyện Mỹ Đức có nhiều thành tích trong việc chống hạn (7-2-1956)

Tôi vui lòng thay mặt Chính phủ khen thưởng đồng bào và cán bộ huyện Mỹ Đức (Hà Đông) đã thu được thành tích khá trong công việc chống hạn.

Chính phủ sẽ tiếp tục khen thưởng những địa phương và đơn vị có thành tích xuất sắc.

Trong thời kỳ chiến tranh, Mỹ Đức là vành đai trắng, bị địch tàn phá nhiều, nhân dân rất nghèo khổ. Ngày nay tình hình hạn hán ở đó cũng nặng hơn. Nhưng cán bộ và đồng bào đã cố gắng, bộ đội và thanh niên đã thi đua góp sức đào giếng, khơi ngòi, tát nước (có nơi phải tát 7,8 bậc). Cho nên cả huyện đã đủ nước tưới cho hơn 9.000 mẫu chiêm và màu.

Đó là một thành tích tốt.

Tôi và Chính phủ rất mong đồng bào Mỹ Đức tiếp tục cố gắng tát nước, làm cỏ, bón phân để vụ chiêm này thu hoạch được tốt.

Đồng thời tôi và Chính phủ rất mong cán bộ và đồng bào các nơi khác học theo gương mẫu Mỹ Đức, ra sức khơi mương, đào giếng để đủ nước cấy chiêm.

Trong cuộc thử thách lâu dài và gian khổ là 8,9 nǎm kháng chiến, nhân dân ta đã thắng lợi. Hạn hán cũng là một cuộc thử thách, nhân dân ta quyết chống hạn thành công.

Ngày 7 tháng 2 nǎm 1956
Hồ CHí MINH

Báo Nhân dân, số 707, ngày 8-2-1956.Tôi vui lòng thay mặt Chính phủ khen thưởng đồng bào và cán bộ huyện Mỹ Đức (Hà Đông) đã thu được thành tích khá trong công việc chống hạn.

Chính phủ sẽ tiếp tục khen thưởng những địa phương và đơn vị có thành tích xuất sắc.

Trong thời kỳ chiến tranh, Mỹ Đức là vành đai trắng, bị địch tàn phá nhiều, nhân dân rất nghèo khổ. Ngày nay tình hình hạn hán ở đó cũng nặng hơn. Nhưng cán bộ và đồng bào đã cố gắng, bộ đội và thanh niên đã thi đua góp sức đào giếng, khơi ngòi, tát nước (có nơi phải tát 7,8 bậc). Cho nên cả huyện đã đủ nước tưới cho hơn 9.000 mẫu chiêm và màu.

Đó là một thành tích tốt.

Tôi và Chính phủ rất mong đồng bào Mỹ Đức tiếp tục cố gắng tát nước, làm cỏ, bón phân để vụ chiêm này thu hoạch được tốt.

Đồng thời tôi và Chính phủ rất mong cán bộ và đồng bào các nơi khác học theo gương mẫu Mỹ Đức, ra sức khơi mương, đào giếng để đủ nước cấy chiêm.

Trong cuộc thử thách lâu dài và gian khổ là 8,9 nǎm kháng chiến, nhân dân ta đã thắng lợi. Hạn hán cũng là một cuộc thử thách, nhân dân ta quyết chống hạn thành công.

Ngày 7 tháng 2 nǎm 1956
HỒ CHÍ MINH

———————————–

Báo Nhân dân, số 707, ngày 8-2-1956.
cpv.org.vn

Quản lý hộ khẩu (10-2-1956)

Việc đăng ký hộ khẩu ở Thủ đô đã làm xong và đã có kết quả tốt.

Kết quả quan trọng nhất, là nhân dân đã hiểu rõ: Thủ đô là Thủ đô của nhân dân, nhân dân là người chủ của Thủ đô.

Là người chủ, thì nhân dân phải làm trọn nhiệm vụ của người chủ, phải quản lý tốt Thủ đô, tức là:

– Đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, nâng cao cảnh giác hơn nữa, chú ý ngăn ngừa bọn phá hoại, giữ gìn trật tự, an ninh, chống nạn tham ô, lãng phí, làm cho Thủ đô phồn thịnh, thực hiện mỹ tục thuần phong, cần, kiệm, liêm, chính.

– Mọi người, mọi ngành, tuỳ theo công việc của mình, ra sức thi đua hoàn thành kế hoạch khôi phục kinh tế và phát triển văn hoá. Nhân dân Thủ đô phải làm gương mẫu, làm “đầu tàu” cho các địa phương khác.

Nhân dân Thủ đô sẵn có truyền thống phấn đấu anh dũng, lại có Đảng và Chính phủ trực tiếp chăm nom. Mỗi người chúng ta (bất kỳ tầng lớp nào, bất kỳ gái, trai, già, trẻ) đều cần phải cố gắng, làm sao cho xứng đáng là người đi trước, dẫn đầu cho đồng bào cả nước, là người chủ của Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Riêng về văn hoá, hiện nay Thủ đô còn có 4 vạn 4.000 người (từ 7 tuổi trở lên) mù chữ. Vậy các đoàn thể, trước hết là đoàn thể thanh niên cần có kế hoạch thiết thực để tổ chức, động viên và phân công cho thanh niên thi đua dạy; động viên và khuyến khích những người chưa biết chữ thi đua học. Sao cho nội trong năm nay, toàn dân Thủ đô (từ 7,8 tuổi trở lên) đều biết đọc, biết viết. Đó là một công việc rất thiết thực và vẻ vang của cơ quan văn hoá và của thanh niên Thủ đô.

C.B.

———————————–

Báo Nhân dân, số 709, ngày 10-2-1956.
cpv.org.vn

Công – nông – trí thức làm nên thắng lợi cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Không ngừng củng cố, nâng cao chất lượng khối liên minh công – nông – trí thức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới. Quá trình CNH-HĐH đất nước, bên cạnh tính tất yếu của sự liên minh về chính trị, thì sự liên minh về kinh tế ngày càng có ý nghĩa quan trọng.

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, trước yêu cầu mới của tình hình và được Quốc tế Cộng sản chấp nhận, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Trên cơ sở đánh giá tình hình giai cấp và xã hội Việt Nam trong hoàn cảnh chiến tranh thế giới, với quan điểm lý luận gắn với thực tiễn cách mạng, Người nêu cao vấn đề giải phóng dân tộc, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Người kêu gọi: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng. Liên minh công – nông – trí thức là sự cố kết của công nhân, nông dân, trí thức trong một chỉnh thể”(1).

Tiếp thu tư tưởng chỉ đạo của Người, Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ghi rõ: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(2).

Đồng thời, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã chủ trương sáng lập ra Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh), nhằm đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, chống đế quốc, giành độc lập dân tộc, không phân biệt dân tộc, giai cấp, đảng phái, tôn giáo…

Nhằm phát huy sức mạnh của ba dân tộc Việt – Miên – Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, theo sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương ở Lào và ở Campuchia thành lập mặt trận thống nhất riêng của hai dân tộc (Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh); sau khi cách mạng thắng lợi, mỗi quốc gia sẽ thành lập một chính phủ riêng và độc lập. Đối với nước ta, Hội nghị chủ trương thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ với ngôi sao vàng năm cánh ở giữa làm quốc kỳ.

Để đoàn kết toàn dân một cách rộng rãi, thực hiện chủ trương cứu nước do Hội nghị Trung ương lần thứ VIII nêu ra, trong bản Chương trình hành động, Việt Minh đã đề ra những chính sách cụ thể nhằm đoàn kết các tầng lớp nhân dân, tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 6/6/1941, những chính sách cụ thể, hợp lòng dân của Việt Minh đã quy tụ toàn dân dưới ngọn cờ của Đảng do Hồ Chí Minh lãnh đạo, đưa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến thắng lợi. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của ý chí độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam và là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của tư tưởng Hồ Chí Minh ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Nhưng nhân dân Việt Nam giành được độc lập chưa bao lâu thì thù trong giặc ngoài câu kết với nhau, đất nước lâm vào cảnh “Ngàn cân treo sợi tóc”. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai.

Xây dựng khối liên minh công – nông – trí là lực lượng cơ bản tiến hành cách mạng Việt Nam. Đường lối kháng chiến đúng đắn của Hồ Chí Minh và của Đảng đã dẫn dắt nhân dân ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Hòa bình được lập lại, nhưng đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã sớm xác định rõ kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là đế quốc Mỹ, vạch ra đường lối cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Nam tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân; miền Bắc đã được hoàn toàn giải phóng, từng bước tiến dần xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa, nửa phong kiến, được một Đảng Cộng sản lãnh đạo đã cùng một lúc tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược và quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong điều kiện ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng phát triển và thấm sâu vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, liên minh công – nông – trí thức là một tất yếu lịch sử khách quan, được chế định bởi các cơ sở xã hội hiện thực và được hiện thực hóa qua đường lối tập hợp lực lượng của Đảng Cộng sản. Điều này cũng xác định rõ ràng liên minh công – nông – trí thức là nhu cầu tồn tại và phát triển của cả công nhân, nông dân và trí thức.

Trong khối liên minh, Hồ Chí Minh đã xác định giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo. Thông qua chính đảng của mình để đề ra đường lối cách mạng, những chủ trương lớn nhằm thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng để thực hiện đường lối đó cần phải có lực lượng.

Bằng hành động và chính sách thực tiễn, giai cấp công nhân thu hút mọi tầng lớp lao động, trước hết là nông dân và trí thức về phía mình, cùng với họ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là điều kiện để giai cấp công nhân củng cố vai trò chính trị tiên phong của mình.

Về phía nông dân, do địa vị kinh tế – xã hội và bản chất giai cấp của mình, nông dân tự nguyện tìm đến với giai cấp công nhân. Nếu không liên kết với công nhân, trí thức thì họ sẽ bị các giai cấp bóc lột lợi dụng, lôi kéo trở lại cuộc sống nô lệ, bị áp bức, bóc lột. (Ngày nay, sự tiến bộ của nông dân đã ngày càng gắn bó hơn với công nhân và trí thức. Để đẩy nhanh sản xuất nông sản hàng hóa, làm cho nông nghiệp phát triển bền vững, nông dân rất cần tới sự hỗ trợ của công nghiệp và những tri thức khoa học kỹ thuật. Đây là nhu cầu thiết thực để nông dân tìm đến và gắn bó với các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở dịch vụ kỹ thuật. Công nghiệp và khoa học góp phần đắc lực vào quá trình giải phóng người nông dân, giúp họ tiếp xúc với nền văn minh nhân loại hiện đại, đồng thời có dịp để phát huy các giá trị văn hóa được tích tụ trong quá trình lao động, xây dựng ở nông thôn).

Về phía tầng lớp trí thức, là một tầng lớp xã hội đặc biệt có đặc trưng nổi bật là lao động trí óc sáng tạo. Trong công cuộc đấu tranh giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nhân, nông dân rất cần trí thức. Công nhân và nông dân tạo nên những cơ sở vật chất, điều kiện sinh hoạt và làm việc cần thiết, đặt ra các nhu cầu làm động lực cho sự tìm tòi sáng tạo, hoạt động nghiên cứu của trí thức. Ngược lại, các lĩnh vực hoạt động của công nhân, nông dân sẽ là môi trường để trí thức đem khoa học kỹ thuật vào phục vụ cuộc sống. (Ngày nay Khối liên minh công – nông – trí thức ở nước ta đã và đang tiếp tục làm thay đổi các quan hệ xã hội theo xu hướng đoàn kết, hòa hợp và trở thành một động lực của tiến bộ xã hội).

Hồ Chí Minh quan niệm liên minh công – nông – trí thức là sự cố kết của công nhân, nông dân, trí thức trong một chỉnh thể. Mỗi yếu tố có một vị trí, vai trò đặc thù không thể thay thế và đổi chỗ cho nhau. Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo, phải làm thế nào xứng đáng là lãnh đạo để người ta tin cậy. Sức mạnh và chất lượng của khối liên minh phụ thuộc vào chất lượng của từng thành tố. Và chất lượng của khối liên minh sẽ nhân lên sức mạnh cho cả công nhân, nông dân, trí thức. Vì thế, củng cố và tăng cường khối liên minh công – nông – trí thức gắn liền chặt chẽ với quá trình xây dựng và phát triển giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.

Đối với quan hệ giữa giai cấp lãnh đạo và lực lượng cách mạng đông đảo nhất trong dân cư, Hồ Chí Minh xác định: “Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo thì nông dân mới được giải phóng. Cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công nhân mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi. Cho nên công nhân phải chăm chú đến vấn đề nông dân, phải củng cố công nông liên minh”(3). Người cũng chỉ rõ: “Nông dân, công nhân, lao động trí óc đều phải dựa vào nhau. Nông dân không có sự giúp đỡ của công nhân thì không được. Công nhân không có nông dân cũng không được. Lao động trí óc không có công nhân, nông dân cũng không được”(4).

Liên minh công – nông – trí thức là hạt nhân, cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc, khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp, thu hút mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ vào một mặt trận chung thống nhất vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Không ngừng củng cố, nâng cao chất lượng liên minh công – nông – trí thức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới.

Cả về mặt lý luận và thực tiễn đều khẳng định: Liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức luôn luôn là vấn đề có tính chiến lược của cách mạng, kể cả trong cách mạng dân tộc, dân chủ cũng như cách mạng XHCN. Đó là lực lượng nòng cốt của khối đại đoàn kết toàn dân trong mặt trận dân tộc thống nhất, nguồn sức mạnh và động lực to lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nếu như trong cách mạng dân tộc, dân chủ, nội dung liên minh công – nông – trí thức chủ yếu về chính trị nhằm tập hợp lực lượng đấu tranh giành chính quyền, giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước, thì trong cách mạng xã hội chủ nghĩa với công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm, bên cạnh tính tất yếu của sự liên minh về chính trị, thì sự liên minh về kinh tế ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển đất nước.

Tăng cường củng cố và xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức vững chắc làm hạt nhân cho khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đó là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, của giai cấp, tầng lớp xã hội. Trong đó, giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn có vai trò và vị trí rất quan trọng. Giai cấp công nhân có nhiệm vụ giúp đỡ, hỗ trợ giai cấp nông dân thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Phát huy vai trò làm chủ của giai cấp công nhân trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, làm chủ trong các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Đồng thời, phát huy vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân trong khối liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và trí thức, cũng như khối đại đoàn kết dân tộc nhằm phát huy sức mạnh cả nước thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật nhà nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước . /.

Theo Phạm Thắng / Tạp chí Tuyên giáo
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

________________

1- Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb. CTQG, H. 2006.
2- Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. CTQG, H. 2004.
3 – Nguyễn Khoa Điềm: 20 năm đổi mới thực hiện tiến bộ công bằng xã hội và phát triển văn hóa, Nxb. CTQG. H.2005
4 – Hồng Hà: Sức mạnh Nhân dân, Nxb. CTQG, H. 2000

Xuất xứ tên gọi Bộ đội Cụ Hồ

xuatxutengoibodoicuho

Suối nguồn Việt Bắc” – tranh sơn dầu của họa sỹ Phan Thăng (Ảnh: A.V) (Internet)

Mùa Thu năm Ất Dậu (1945), Cách mạng Tháng Tám thành công, các chiến sỹ giải phóng quân từ chiến khu Việt Bắc về Thủ đô Hà Nội. Do yêu cầu bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, để chuẩn bị đối phó với âm mưu của bọn phản động, của thực dân Pháp đang chống phá cách mạng, hòng tái xâm lược nước ta lần nữa, ta gấp rút xây dựng các đơn vị chủ lực và thành lập dân quân tự vệ. Các quân nhân cách mạng hồi đó còn nghèo, chưa có quân trang, quân phục thống nhất.

Chỉ phân biệt ở phù hiệu đính trên mũ ca lô: Lính chủ lực thì phù hiệu nền đỏ sao vàng hình tròn, tự vệ dân quân thì phù hiệu nền đỏ sao vàng hình vuông. Hình ảnh anh Giải phóng quân lần đầu tiên xuất hiện trên văn đàn mới chỉ vẻn vẹn mấy dòng thân thương: “Trên đường phố, các anh đi hàng một theo lối đi rừng, mắt không hề nhìn hai bên phố các cửa hàng cửa hiệu đèn điện sáng trưng” (“Một lần tới Thủ đô” – Bút ký của Trần Đăng). Các chiến sỹ của ta thiếu thốn đủ bề, nhưng kỷ luật rất nghiêm, bảo vệ hiệu quả trật tự an ninh phố phường và đặc biệt rất ôn tồn, lễ phép, quý trọng nhân dân.

Đầu năm 1946, theo Hiệp định sơ bộ (ngày 6 tháng 3), ta đồng ý cho quân đội Đồng minh vào Việt Nam giải giáp quân Nhật, từ vĩ tuyến 16 trở vào do quân Anh, từ vĩ tuyến 16 trở ra do quân của Trung Hoa dân quốc Tưởng Giới Thạch. Theo chân bọn Tàu Tưởng là các đảng phái phản động như Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân Đảng của nhóm Nguyễn Tường Tam), Việt Cách (Việt Nam cách mạng đồng minh của nhóm Nguyễn Hải Thần). Chúng cũng mộ lính chiếm đóng nhiều nơi, ở Hà Nội bọn chúng chốt đông nhất ở Ô Quan Chưởng, ở phố Ôn Như Hầu, ăn vận quần áo y hệt lính Tàu. Quân lính Tàu Tưởng nhếch nhác, ô hợp đã đành, quân lính Việt Quốc, Việt Cách càng tệ hại hơn. Chúng ngang nhiên hạch sách, hà hiếp dân lành. Đã đến lúc không thể đánh đồng anh lính cách mạng với bọn “lính kẻ cướp” ấy, do yêu cầu tất yếu của quần chúng mà hai tiếng “Bộ đội” thiêng liêng, thân mật ra đời, để gọi tên quân đội đằng mình (phải chăng vì quân ta hồi đó chỉ có bộ binh nên mới gọi là “Bộ đội”?).

Cho đến nay, chưa thấy ai công bố văn bản đầu tiên xuất hiện hai tiếng “Bộ đội”, nhưng chắc chắn rằng, từ ghép “Bộ đội” không thể xuất hiện trước ngày 22 tháng 12 năm 1944. Những năm đầu cách mạng, chỉ có các em thiếu nhi mới gọi Bác Hồ là Bác:

Ai yêu Bác Hồ Chí Minh
Bằng thiếu nhi Việt Nam.

(Ca khúc của Phong Nhã)

Trung Thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng…

(Thơ Hồ Chủ tịch -1948)

Hồi đó, ở Trung ương Chính phủ, mọi người vẫn kính cẩn gọi Người là “Cụ Chủ tịch”, nhân dân vẫn thân mật gọi Người là Già Hồ: “Ứng lời Già Hồ, dự ngày kháng chiến, bắt đầu mang biển đi dán khắp nơi, rợp đất rợp trời, có hai biểu ngữ: Quyết chống giặc dữ bọn chó xâm lăng và giết hết mọi thằng Việt gian bán nước…” (Báo Thiếu niên – 1946).

Còn phần lớn đều gọi Người là Ông Cụ là Cụ Hồ (Bài thơ “Muối Cụ Hồ” của Bàn Tài Đoàn – 1948), “Cơm chữ Cụ Hồ, phải đánh Tây mà giữ” (Thơ của Trung Anh – 1948), “Cụ Hồ với dân, như chân với tay, như chày với cối, như cội với cành…” (Hò giã gạo Bình Trị Thiên), hay “Tháp Mười đẹp nhất bông sen; Nước Nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ” (Bảo Định Giang)… Còn hai tiếng “Bác Hồ” thân thương, trìu mến mới xuất hiện về sau. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp ở núi rừng Việt Bắc “Thủ đô gió ngàn”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cán bộ Trung ương cùng chung “ăn ngô nếp nướng… chén thịt rừng quay” như anh em trong một gia đình nên ai ai cũng gọi Người là Bác và Người gọi anh em cộng sự là “các cô các chú”…

Lại nhớ đầu năm 1946, cả nước ta, nhất là ở Hà Nội, nhân dân cơ khổ vì bọn Tàu Tưởng, rất bất bình với bọn Việt Quốc, Việt Cách. Ở chợ Đồng Xuân, chợ Bắc Qua, nơi buôn bán sầm uất đô hội nhất Hà Thành, bọn chúng ăn quỵt, mua cướp trắng trợn, bà con tiểu thương tẩy chay bất hợp tác, thậm chí còn gõ xoong, gõ nồi la ó như đuổi tà. Bà con nói thẳng vào mặt chúng: “Nhìn các anh Bộ đội Cụ Hồ kia kìa! Người nhà của chúng tao đấy! Còn chúng mày, bám gót quan thầy về đây, chỉ là quân phá hoại, đồ Việt gian bán nước!”.

Từ đó, rất tự nhiên, Bộ đội Cụ Hồ trở thành tên gọi thiêng liêng. Trên thế giới, có lẽ hiếm có một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, cả nước đều là “đồng bào” (chung một bọc) và gọi lực lượng vũ trang của mình là Bộ đội Cụ Hồ!

Theo Báo Nghệ An
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Nói chuyện tại Đại hội chiến sĩ thi đua toàn ngành giáo dục (21-2-1956)

Các cô, các chú đã học tập kế hoạch Nhà nước nǎm 1956, đã thấy rõ địa vị quan trọng và cấp thiết của ngành giáo dục. Bác chỉ góp thêm vài ý kiến.

Trong việc kiến thiết nước nhà về mọi mặt, ta thiếu rất nhiều cán bộ như kỹ sư, chuyên gia, thợ lành nghề, thầy dạy học, v.v.. Vì vậy ta phải phát triển mạnh đại học và chuyên nghiệp. Muốn phát triển đại học và chuyên nghiệp, phải chú trọng cấp 2, cấp 1 và cấp vỡ lòng. Không những thế, chậm nhất là 3 nǎm, phải thanh toán nạn mù chữ cho toàn dân. Thời gian đó là khá dài, vì chữ ta dễ học, một người mù chữ chỉ cần học độ 3 tháng là biết đọc biết viết. Các cô, các chú phải có kế hoạch động viên tất cả mọi người tham gia bình dân học vụ.

Bác sẽ có giải thưởng cho xã nào thanh toán nạn mù chữ trước nhất của huyện, cho huyện nào thanh toán trước nhất của tỉnh, cho tỉnh nào thanh toán trước nhất trong toàn quốc.

Các cô, các chú đã thấy trách nhiệm to lớn của mình, đồng thời cũng thấy khả nǎng của mình cần được nâng cao thêm lên mãi mới làm tròn nhiệm vụ được. Vì thế, các cô, các chú là những thầy giáo, những cán bộ giáo dục đều phải luôn luôn cố gắng học thêm, học

chính trị, học chuyên môn. Nếu không tiến bộ mãi, thì sẽ không theo kịp đà tiến chung, sẽ trở thành lạc hậu.

Bác chúc các cô, các chú mạnh khoẻ, về địa phương ra sức công tác, thực hiện đầy đủ và vượt mức kế hoạch Nhà nước nǎm 1956.

——————————

Nói ngày 21-2-1956.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1956, t.III, tr. 248-249.
cpv.org.vn

Điện mừng Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô (25) (2-1956)

Kính gửi Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô,

Các đồng chí thân mến,

Thay mặt giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, chúng tôi kính gửi Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô lời chào mừng nhiệt liệt và thân ái.

Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô là một sự kiện lịch sử rất quan trọng. Thành công của Đại hội chẳng những quan hệ trực tiếp đến sự thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô mà còn gắn chặt với tiền đồ của phong trào đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô đánh dấu một bước tiến quan trọng của nhân dân Liên Xô trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản và bảo vệ hoà bình thế giới. Những thành công của Liên Xô trong kiến thiết hoà bình và phát triển tình hữu nghị giữa các dân tộc chứng tỏ sức mạnh phi thường của chủ nghĩa Mác – Lênin. Nó khuyến khích nhân dân lao động toàn thế giới, làm cho họ càng thêm tin tưởng vào sự nghiệp giải phóng của mình khỏi mọi chế độ áp bức bóc lột. Nó truyền thêm nghị lực cho nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc đang đấu tranh để tự giải phóng khỏi ách đế quốc bên ngoài. Nó khuyến khích nhân dân yêu chuộng hoà bình toàn thế giới đoàn kết chặt chẽ hơn nữa chung quanh Liên Xô để làm thất bại mọi âm mưu của bọn đế quốc hiếu chiến và mở rộng những khu vực hoà bình trên thế giới.

Đảng Lao động Việt Nam và nhân dân Việt Nam phấn khởi hướng về Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, vì Đại hội là một nguồn sức mạnh mới cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh để xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Nhân dân Việt Nam coi mọi thành tích của nhân dân Liên Xô cũng như thành tích của bản thân mình. Với sự giúp đỡ vô tư, khảng khái của Liên Xô, Trung Quốc và của các nước dân chủ nhân dân anh em, chúng tôi nguyện đoàn kết nhân dân Việt Nam một cách rộng rãi và chặt chẽ để khôi phục và phát triển kinh tế và văn hoá, đồng thời ra sức đấu tranh phá tan mọi mưu mô của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, triệt để thi hành Hiệp định Giơnevơ, thực hiện thống nhất nước nhà, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông – Nam á và thế giới.

Các đồng chí thân mến,

Nhân dân Việt Nam đang chăm chú theo dõi công việc của Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, chân thành biết ơn Liên Xô và tin tưởng sắt đá ở tiền đồ vẻ vang của dân tộc Việt Nam cũng như của nhân loại.

Chúng tôi xin nhiệt liệt kính chúc Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô thành công rực rỡ, toàn Đảng Lao động Việt Nam và toàn thể nhân dân Việt Nam tin rằng theo những chỉ thị sáng suốt của Đại hội và dưới sự lãnh đạo tài tình của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, nhân dân Liên Xô anh dũng sẽ hoàn thành thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ sáu, làm cho Liên Xô ngày càng hùng cường, hoà bình thế giới ngày thêm củng cố.

Đảng Cộng sản Liên Xô vĩ đại muôn năm!

Học thuyết Mác – Lênin vô địch muôn năm!

Liên Xô, thành trì hoà bình thế giới, muôn năm!

Tình hữu nghị đời đời bền vững giữa nhân dân Liên Xô và nhân dân Việt Nam muôn năm!

Tháng 2 năm 1956
HỒ CHÍ MINH

—————————-

Báo Nhân dân, số 719, ngày 21-2-1956.

(25) Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô: Họp từ ngày 14 đến ngày 25-2-1956 tại Mátxcơva. Dự Đại hội có 1.349 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 10 triệu đảng viên. 55 đoàn đại biểu của các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới đã đến dự.

Đại hội đã tổng kết kinh nghiệm của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Đại hội đã quyết định những vấn đề về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước xôviết, thông qua kế hoạch 5 nǎm lần thứ 6 phát triển kinh tế nhằm phát triển mọi ngành kinh tế quốc dân, phát triển vượt bậc sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở đó nâng cao hơn nữa phúc lợi vật chất và trình độ vǎn hoá cho nhân dân Liên Xô… Đại hội đã thông qua Điều lệ sửa đổi, bầu Ban Chấp hành Trung ương mới và các cơ quan của Đảng. Tr.128.

cpv.org.vn

Điện mừng Quốc vương Cao Miên (3-3-1956)

Kính gửi Quốc vương Cao Miên Suramarit,

Nhân dịp lễ đǎng quang của Quốc vương, tôi xin thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và cá nhân tôi, kính gửi lời chúc mừng nhiệt liệt.

Ngày 3 tháng 3 nǎm 1956
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

—————————–

Báo Nhân dân, số 741, ngày 14-3-1956.
cpv.org.vn

Chúc mừng ngày Phụ nữ Quốc tế “8-3” (8-3-1956)

Ngày Phụ nữ quốc tế năm nay có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt: Trên thế giới thì lực lượng hoà bình phát triển ngày càng mạnh. Trong nước thì phong trào thi đua xây dựng ngày càng lên cao.

Dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, phụ nữ ta đã được bình quyền về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá. Cho nên trong cuộc kháng chiến vĩ đại vừa qua, cũng như trong công việc xây dựng từ ngày hoà bình trở lại, phụ nữ ta đã góp phần xứng đáng.

Phụ nữ ta có nhiều thành tích to, nhưng phụ vận ta còn có thiếu sót: ít chú ý vận động gia đình các cán bộ và các nhà thủ công nghiệp, gia đình các nhà công thương và các chị em nội trợ. Kinh nghiệm của phụ vận Trung Quốc chứng tỏ rằng: khéo vận động, tổ chức và hướng dẫn, thì những chị em phụ nữ ấy có tác dụng lớn đối với xã hội. Cách làm của phụ vận Trung Quốc giản đơn, thiết thực và kết quả to, gọi là “5 tốt”:

– Gia đình và xóm giềng đoàn kết và giúp đỡ nhau tốt,

– Sinh hoạt và công việc trong nhà sắp đặt tốt,

– Giáo dục con em tốt,

– Khuyến khích chồng con, anh em sản xuất, công tác và học tập tốt,

– Tự mình học tập tốt.

Phụ vận ta nên cố gắng thực hiện kinh nghiệm ấy.

Để kỷ niệm ngày 8-3 một cách thiết thực và xứng đáng, chúng ta cần động viên:

Chị em phụ nữ nông thôn THI ĐUA góp sức hoàn thành tốt cải cách ruộng đất và lập những tổ đổi công tốt.

Chị em công nhân và công chứcTHI ĐUA làm trọn nhiệm vụ của mình.

Chị em trí thức THI ĐUA góp phần vào việc phát triển văn hoá.

Nữ thanh niên tuỳ theo cương vị của mình, THI ĐUA học và hành, xung phong trong mọi công việc.

Mọi chị em, mọi giới phụ nữ đều thi đua góp sức hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 1956, đều hăng hái tham gia công cuộc củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam, để xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Đồng thời, phụ nữ ta cần đoàn kết với chị em các nước bạn và phụ nữ dân chủ các nước khác để giữ gìn hoà bình thế giới và xây dựng hạnh phúc cho cả loài người. Đó là trách nhiệm rất vẻ vang của phụ nữ Việt Nam ta!

C.B.

——————————

Báo Nhân dân, số 735, ngày 8-3-1956.
cpv.org.vn