Tag Archive | Hồ Chí Minh

Thư gửi toàn thể chiến sĩ và cán bộ Đại đoàn 312 (12-1951)

Bác đã nhận được báo cáo (1-11-1951) của các chú về chiến dịch Lý Thường Kiệt 39 .

Bác vui lòng vì kết quả khá, (địch bị bắt, bị giết và bị thương 970 tên). Nhất là vì các chú tiến bộ khá:

– Tinh thần chiến đấu cao.

– ý thức dân vận khá.

– Đối với chiến lợi phẩm, giữ vững kỷ luật.

– Kỹ thuật khá tiến bộ.

– Nhận rõ khuyết điểm của mình (chủ quan, kém bí mật, điều tra địch tình kém, đối với thương binh, tử sĩ chuẩn bị kém).

Bác mong các chú thật thà tự kiểm thảo lại, kiểm thảo theo đúng dân chủ từ trên xuống và từ dưới lên, để rút kinh nghiệm, để sửa chữa khuyết điểm và phát triển ưu điểm. Như thế thì sau này các chú sẽ tiêu diệt được sinh lực địch nhiều hơn nữa và lập được chiến công nhiều hơn, to hơn nữa.

Mong các chú gửi tên tuổi những cán bộ và chiến sĩ xuất sắc nhất cho Bác biết.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 12 nǎm 1951
BÁC

Báo Quân đội nhân dân, số 37, ngày 1-1-1952.
cpv.org.vn

Bài nói tại Trường công an trung cấp khoá 2 (1951)

Các chú các cô phải biết chính quyền của chúng ta là chuyên chính dân chủ nhân dân. Đây là nhân dân chuyên chính để đàn áp bọn thực dân xâm lược và bọn tay sai chống lại chính quyền ấy. Vì quyền lợi chung của đa số nhân dân mà chúng ta chuyên chính với thiểu số bóc lột. Chính quyền của bọn tư bản thì là chính quyền chuyên chính của một thiểu số chống lại đa số.

Chính quyền nhân dân có hai lực lượng để bảo vệ nó: đó là quân đội và công an. Làm công tác chính quyền, ở công an hay ở quân đội, đều là làm đày tớ cho nhân dân cả, vì chính quyền dân chủ có nghĩa là chính quyền do người dân làm chủ.

Làm công an không phải làm “quan cách mạng”. Làm công an là để giữ trật tự an ninh cho nhân dân, xem xét tìm tòi âm mưu phản động làm hại nhân dân. Từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân, thì dân không cần đến nữa.

Công an nhân dân hoàn toàn khác công an đế quốc. Công an đế quốc là nanh vuốt của đế quốc để hà hiếp áp bức đa số nhân dân. Chắc các cô các chú cũng nhớ chúng nó là bọn đầu trâu mặt ngựa. Công an nhân dân phải là kiểu mẫu, phải là người chuyên trách thi hành chính sách, phương châm của Đảng và Chính phủ cho tốt. Công an nhân dân phải thực sự phục vụ nhân dân, nhưng hiện nay các cô các chú đã làm tròn nhiệm vụ ấy chưa ? Chưa. Tuy đã có nhiều người tận tâm, cố gắng, nhưng lẻ tẻ vài nơi nhân dân còn chê trách đấy! Các cô, các chú phải cố gắng làm tròn nhiệm vụ của người công an nhân dân của một nước dân chủ nhân dân.

Tuy công an là của nhân dân, nhưng đồng thời cũng phải biết phê bình người phạm sai lầm. Trong nội bộ, công an cũng phải phê bình nhau. Đối với người không sửa được thì phải tẩy trừ ra khỏi ngành kẻo để lại thì con sâu làm rầu nồi canh. Phải làm thế nào cho được lòng dân, phải thực sự giúp đỡ dân trong công việc chứ không phải là lối ngoại giao qua loa. Có như thế thì người dân mới tích cực trở lại giúp đỡ công an.

Bác lấy một thí dụ: Công an có bao nhiêu người ? Dù có vài ba nghìn hay nǎm bảy vạn đi nữa thì lực lượng ấy vẫn còn ít lắm bên cạnh lực lượng nhân dân. Nǎm vạn người thì chỉ có 5 vạn cặp mắt, 5 vạn đôi bàn tay. Phải làm sao có hàng chục triệu đôi bàn tay, hàng chục triệu cặp mắt và đôi tai mới được. Muốn như vậy, phải dựa vào dân, không được xa rời dân. Nếu không thế thì sẽ thất bại. Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn. Dân ta rất tốt. Gặp trường hợp nguy hiểm, nếu công an khéo léo thì được dân giúp ngay. Khéo đây không phải là cái lối khéo bề ngoài, mà khéo có nghĩa là phải thực sự trung thành, tôn kính, thương yêu dân.

… Nội bộ công an từ cấp cao cho đến nhân viên phải đoàn kết nhất trí. Đoàn kết không phải là “chén chú chén anh”, là anh A giấu lỗi cho anh B.

Trong nội bộ phải thực hành dân chủ, phải luôn luôn tự kiểm thảo để đi đến đoàn kết. Phê bình và tự phê bình phải từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Phê bình trên công tác cách mạng, phê bình để tiến bộ, không phải để xoi mói.

Công an với dân phải đoàn kết nghĩa là phải khuyến khích cho dân phê bình công an. Trong 10 lần phê bình cũng có lần đúng, có lần không đúng. Đúng thì nhận, không đúng thì giải thích.

Công an với quân đội và các ngành khác cũng phải thực sự đoàn kết.

Những việc trên đây, các chú các cô cố gắng làm cho được.

Nói vào nǎm 1951.
Tài liệu lưu tại
Bộ Nội vụ.
cpv.org.vn

“Tôi không dám tin Bác biết tên một nông dân như mình”

“Nghe Bác gọi tên, tôi không dám tin Bác biết tên mình. Tôi lúng túng đứng lên, tà áo dài vướng vào mép bàn gỡ mãi không ra. Bác cười dí dỏm: “Cháu là nông dân, cháu mặc áo dài đi cày, nó cuốn vào cày thì cháu làm sao?”.Đó là một trong những kỷ niệm về lần gặp Bác Hồ đầu tiên của bà Nguyễn Thị Kim Dung. Tại ngôi nhà riêng ở thôn Trung Thành, xã Nam Phong, thành phố Nam Định, chúng tôi được nghe những kỷ niệm sâu sắc về quãng đời hoạt động cách mạng của bà. Đặc biệt là niềm tự hào và hạnh phúc hai lần được gặp Bác Hồ.

Toi khong dam tin1Bà Dung bên bức ảnh chụp cùng Bác.

Sinh năm 1938 ở xã Hải Tây (Hải Hậu – Nam Định), năm 1962, với nhiều thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất cũng như các phong trào Đoàn và Hội Phụ nữ của địa phương, bà được kết nạp vào Đảng.

Trong điều kiện đất nước có chiến tranh, chồng công tác xa nhà, các con còn nhỏ, song bà luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Từ các phong trào: “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Mỗi người làm việc bằng hai”… bà đã trở thành tấm gương sáng trong sản xuất và chiến đấu với nhiều thành tích như: “Đảng viên bốn xuất sắc”, “Phụ nữ 5 tốt, 3 đảm đang”…

Năm 1964, bà được Mặt trận Tổ quốc tỉnh Nam Định giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội khóa III và bà đã trúng cử. Đây cũng chính là lần đầu tiên bà Dung được gặp Bác Hồ.

Người đàn bà với mái tóc đã điểm bạc, bồi hồi xúc động lật dở những kỷ vật được xem như là báu vật của dòng họ nhớ lại: “Lần đầu tiên gặp Bác, chúng tôi không hề được báo trước. Buổi tối của phiên họp Quốc hội đầu tiên, chúng tôi đang nghỉ ngơi ở khách sạn Kim Liên thì đồng chí Phan Điền – Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Nam Định tới nói với tôi, chị Trà và chị Thạc “Sáng mai các đồng chí phải ăn mặc chỉnh tề để đi nhận nhiệm vụ đặc biệt”.

Nghe xong “Chỉ thị” chúng tôi nhìn nhau không biết ngày mai sẽ làm nhiệm vụ đặc biệt gì. Sáng hôm sau mới 8 giờ sáng, xe đã đến đón đưa chúng tôi đi qua Ba Đình, rồi đi vòng tới Phủ Chủ tịch và dừng lại ở cổng sau nhà sàn của Bác.

Một đồng chí cảnh vệ lại mời chúng tôi xuống xe và nói hôm nay Bác sẽ gặp mặt Đoàn Đại biểu Quốc hội trẻ tuổi. Lúc này chúng tôi mới biết sẽ được gặp Bác Hồ. Lúc đó tâm trạng của mọi người rất hồi hộp và phấn chấn. Khu đặt tiệc bày sẵn với những chiếc ghế và dãy bàn được bày biện rất đẹp, bên trên là những đĩa bánh kẹo.

Toi khong dam tin2Bức ảnh Bác chụp cùng Đoàn Đại biểu Quốc hội trẻ tuổi
(Ảnh tư liệu do nhân vật cung cấp).

Toi khong dam tin3Thẻ đại biểu Quốc hội khóa III – kỉ vật được bà Dung giữ lại làm kỉ niệm.

Tất cả mọi người sau khi ổn định chỗ ngồi ai cũng thấp thỏm mong được nhìn thấy Bác. Vừa lúc đó, Bác xuất hiện trong bộ quần áo nâu giản dị, vẫy tay chào mọi người. Chúng tôi quây quần nghe Bác hỏi chuyện từng đại biểu.

“Đến lúc Bác gọi đến tên tôi lần thứ nhất, nhưng lúc đó tôi không nghĩ là Bác gọi đến tên mình, làm sao Bác biết đến một người nông dân như mình nên tôi không dám đứng lên, Bác gọi tới lần thứ 2 tôi vẫn không dám đứng lên, phải đến lần thứ 3 khi các anh, chị ngồi cạnh tôi bảo chị Dung, Bác gọi gì chị kìa, tôi mới dám đứng lên nhưng không may cái áo dài của tôi lại bị vướng vào mép bàn, tôi gỡ mãi không được, phải nhờ tới mấy người xung quanh gỡ giúp mới được. Bác nhìn tôi cười rồi Người hỏi: “Cháu là Kim Dung? Tôi lễ phép trả lời: “Dạ, thưa Bác vâng ạ!”. Bác lại dí dỏm nói: “Cháu là nông dân, cháu mặc áo dài đi cày nó cuốn vào cày thì cháu cày làm sao?”.

Lúc đó tất cả mọi người đều cười làm cho tôi lúng túng xấu hổ không biết trả lời như thế nào thì Bác cười đôn hậu bảo: “Thôi, Bác đùa đấy, thế chi bộ Vạn Phong và Đảng bộ Nam Phong vẫn 4 tốt chứ?”. Lúc đó tôi vừa lúng túng vội trả lời: “Thưa Bác vâng ạ!”.

Nở nụ cười mãn nguyện, bà tiếp câu chuyện: Thực sự lúc đó tôi cũng không biết phải trả lời như thế nào vì được gặp Bác, được nói chuyện với Bác tôi vừa vui mừng, vừa hồi hộp. Sau một hồi nói chuyện, Bác cùng chúng tôi ra trước phủ Chủ tịch để chụp ảnh lưu niệm. Đó là lần đầu tôi được gặp Bác và cũng là lần đầu tiên tôi được Bác cầm tay và căn dặn: “Cháu phải cố gắng học tập để có đủ trình độ năng lực làm người Đảng viên tốt, người đại biểu Quốc hội tốt, nhưng Bác cũng phê bình cháu, cháu ít tuổi có nhiều con, mà nhiều con thì không tiến bộ được đâu cháu ạ. Phải sinh đẻ có kế hoạch thì mới có điều kiện học tập và công tác tiến bộ được.

Giây phút được Bác cầm tay ấy bà cảm nhận được sự ấm áp như tình cảm Cha – con và Người đã truyền cho tôi một sức mạnh làm tôi không còn run và sợ như lúc ban đầu nữa. Sau đó tôi cùng 3 người nữa được chụp ảnh riêng cùng Bác”.

“Lần thứ 2 là vào năm 1968. Khi ấy tôi được Đảng bộ tỉnh Nam Định cử đi dự Hội nghị tổng kết công tác xây dựng Đảng 4 tốt toàn miền Bắc. Sau giờ giải lao mọi người ai cũng háo hức mong được gặp Bác. Tôi đang đứng ở tiền sảnh thì đồng chí Lê Hoành – Chuyên viên Ban tổ chức chạy tới và bảo: “Bác đang hỏi cô, cô vào ngay để gặp Bác. Vừa trông thấy tôi Bác liền hỏi: “Chồng con cháu vẫn khỏe và công tác tốt chứ?. Tôi đáp lại: “Thưa Bác vẫn tốt ạ!”.

Toi khong dam tin4Bà Dung với những phần thưởng cao quy được trao tặng.

Bà cho chúng tôi xem một số kỉ vật, bút tích và hình ảnh trong những lần gặp Bác còn lưu giữ đến nay. Cùng với đó là những phần thưởng cao qúy của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ, ngành Trung ương và tỉnh Nam Định trao tặng bà.

Chỉ vào bức tranh truyền lại từ bức ảnh bà chụp ảnh cùng Bác treo trang trọng trên tường phòng khách: “Đó là bức tranh mà ông nhà tôi đã dùng cả tháng lương để đi truyền lại. Ông nhà tôi bảo, đó là báu vật của cả dòng tộc nhà ta, nó sẽ là gương sáng cho con cháu noi theo, nếu không truyền lại sau này nó mối mọt mất mát đi thì không bao giờ còn lưu giữ lại được nữa”.

Những lời răn dạy và tấm gương đạo đức của Người đã tỏa sáng, giúp bà vượt qua bao khó khăn, gian khổ của chặng đường hoạt động cách mạng. Cho đến khi nghỉ hưu năm 1993, bà vẫn tham gia các hoạt động của địa phương như Bí thư chi bộ thôn Trung Thành, Ban Chấp hành Hội khuyến học của xã trong nhiều năm liền… Hiện nay, bà Dung đã 75 tuổi đời và 50 tuổi Đảng, tuổi đã cao, sức khỏe không tốt nên bà xin nghỉ, sống vui vầy cùng con cháu./.

Theo Trần Huệ – Đức Văn/ Báo Dân trí
Huyền Trang (st)
cpv.org.vn

Thơ Bác Hồ gửi ông bà Phan Anh

Luật sư Phan Anh là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Sau đó, ông đảm nhiệm các chức vụ: Bộ trưởng các Bộ Kinh tế, Thương nghiệp, Ngoại thương và Phó Chủ tịch Quốc hội. Ông là người được Bác Hồ yêu mến và trọng dụng.

anhtho Bac Ho gui ong ba Phan AnhÔng bà Phan Anh.

Như luật sư Phan Anh từng tâm sự: “Năm 1947, theo Bác Hồ, tôi cùng gia đình rời Hà Nội lên chiến khu. Hai chữ chiến khu đối với người trí thức lúc đó chứa biết bao bí ẩn, lo âu. Việc lên chiến khu là cả một sự thử thách lớn, không kém gì cuộc trường chinh”. Nhưng trong hoàn cảnh biết bao gian khổ, khó khăn, thiếu thốn nhiều bề, ông và gia đình được sống trong tình yêu thương của Bác, của đồng chí, đồng bào. Vợ chồng ông, hai nhà trí thức đã đem hết tâm sức và trí tuệ cống hiến cho cách mạng.

Những ngày ở chiến khu, luật sư Phan Anh là người được Bác Hồ đưa đọc đầu tiên những bài thơ cảm tác về Việt Bắc, về quyết tâm kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Đọc thơ Bác gửi, ông đã có những bài thơ họa lại và dịch một số bài thơ chữ Hán của Bác ra tiếng Việt. Ông và gia đình cũng được Bác tặng thơ – món quà mà gia đình ông trân trọng gìn giữ như bảo vật quý giá.

Thời gian ở chiến khu, hưởng ứng lời kêu gọi của Bác về thi đua tăng gia sản xuất, tự cung tự cấp, mỗi gia đình cán bộ đều cố gắng trồng trọt và chăn nuôi để cải thiện một phần cuộc sống. Nhân Ngày sinh nhật Bác 19 tháng 5, bà Hồng Chinh, phu nhân của luật sư Phan Anh gửi lên Bác một số sản vật do tự tay mình lao động làm ra để báo cáo về việc chấp hành lời kêu gọi của Bác và khả năng thực hiện tự túc của gia đình. Bác rất cảm động và viết mấy vần thơ cảm ơn:

Cảm ơn thím biếu mấy vòng tơ
Mong chú làm thêm mấy vần thơ
Canh mướp ngon lành nhờ các cháu
Có sao viết vậy, chớ cười nơ.

Tháng 12-1949, bà Phan Anh sinh thêm một con trai. Vui mừng trước tình hình đất nước đang có nhiều tiến triển, ông bà đặt tên con là Phan Tân Hội. Được tin, Bác gửi thơ chúc mừng:

Chú thím thêm một con
Các cháu thêm một em
Bác Hồ thêm một cháu
Nước nhà thêm một công dân
Tương lai thêm một chiến sỹ.

Sau này, Phan Tân Hội đã tự nguyện xung phong vào quân đội, đúng như lời thơ Bác mừng năm xưa.

Năm 1950, bà Phan Anh ốm nặng được ra nước ngoài điều trị. Biết bà bị bệnh hiểm nghèo, muốn chuẩn bị tư tưởng cho ông nếu tình hình xấu xảy ra, Bác đã gửi mấy vần thơ phỏng theo mấy câu trong Chinh phụ ngâm:

Điện thường tới, người chưa thấy tới
Bức rèm thưa từng dõi bóng dương
Bóng dương mấy lúc xuyên ngang
Lời nào mười hẹn chín thường đơn sai.

Đọc thơ Bác, Luật sư Phan Anh cảm động về tấm lòng, sự quan tâm của Bác về bệnh tình đáng ngại của bà, cũng đồng thời là những lời động viên ông. Nhưng thật may mắn, sau một thời gian điều trị, bà Phan Anh đã trở về. Biết tin, Bác đã viết thư cho ông, sửa lại câu thơ cuối cho thích hợp với hoàn cảnh mới:

….Tình càng ấm áp, nghĩa càng sâu xa.

Nhận được thơ Bác, ông Phan Anh đã gửi thư cảm tạ, bức thư đề ngày 4-6-1950:

Một bức thư trao một tấm lòng
Tấm lòng ưu ái thấm non sông
Tin nhà giảm bệnh mừng khôn xiết
Nợ nước ơn sâu biết mấy trùng
Gánh nặng đường xa thêm mạnh sức
Gan bền, chí vững quyết ra công
Bên tình, bên nghĩa đôi đường vẹn
Ghi tạc muôn năm một chữ đồng.

Ông bà Phan Anh đã trân trọng gìn giữ các bài thơ thể hiện tấm lòng thương yêu cán bộ, yêu thương con người, yêu thương gia đình ông của Bác. Luật sư Phan Anh đã đột ngột qua đời ngày 28/6/1990, dù chiều 27/6/1990, ông còn đăng đàn phát biểu và lẩy Kiều tại Kỳ họp thứ 7 (Quốc hội khóa VIII) khiến cả hội trường vỗ tay nhiệt liệt.

Được biết, bà Hồng Chinh đang gấp rút hoàn thành bộ hồi ký nhiều tập, viết về luật sư Phan Anh và những sự kiện lịch sử mà ông đã kể cho bà nghe, cũng như những sự kiện bà biết, trong đó có nhiều câu chuyện về Bác Hồ kính yêu.

Theo HaNoimoi.com.vn
Huyền Trang (st)
cpv.org.vn

Thư gửi các hoạ sĩ nhân dịp triển lãm hội hoạ 1951

Gửi anh chị em hoạ sĩ,

Biết tin có cuộc trưng bày, tiếc vì bận quá, không đi xem được. Tôi gửi lời thân ái hỏi thǎm anh chị em. Nhân tiện, tôi nói vài ý kiến của tôi đối với nghệ thuật, để anh chị em tham khảo.

Vǎn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận.

Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy.

Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh.

Để làm trọn nhiệm vụ, chiến sĩ nghệ thuật cần có lập trường vững, tư tưởng đúng. Nói tóm tắt là phải đặt lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết.

Về sáng tác, thì cần hiểu thấu, liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân. Như thế, mới bày tỏ được cái tinh thần anh dũng và kiên quyết của quân và dân ta, đồng thời để giúp phát triển và nâng cao tinh thần ấy. Kháng chiến tiến bộ mạnh. Quân và dân ta tiến bộ mạnh. Nghệ thuật cũng cần tiến bộ mạnh, muốn tiến bộ mạnh, tiến bộ mãi, thì anh chị em nghệ thuật cần phải dùng phương pháp tự phê bình và phê bình.

Chắc có người nghĩ: Cụ Hồ đưa nghệ thuật vào chính trị.

Đúng lắm. Vǎn hoá, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị.

Tiền đồ dân tộc ta rất vẻ vang, tiền đồ nghệ thuật ta rất rộng rãi. Chúc anh chị em mạnh khoẻ, tiến bộ, thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1986, ngày 5-1-1952.
cpv.org.vn

Lời chúc nǎm mới (1-1952)

Nhân dịp Nguyên đán dương lịch 1952, tôi gửi lời thân ái chúc:

Toàn thể đồng bào và kiều bào,
Toàn thể chiến sĩ,
Các anh chị em cán bộ,
Các cụ phụ lão, các vị thân sĩ,
Các cháu thanh niên, nhi đồng,

Nǎm mới ra sức thi đua ái quốc để thu nhiều thắng lợi hơn nǎm cũ.

HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 39, ngày 3-1-1952.
cpv.org.vn

Vô duyên (15-1-1952)

Vì thất bại ở Triều Tiên đế quốc Mỹ và bè lũ Mỹ cắn cấu nhau tợn.

Vừa rồi báo Anh viết: Quân đội Anh tham gia đánh phá ở Triều Tiên. Nay đàm phán đình chiến với Triều Tiên, sao không có đại biểu Anh tham dự, mà lại chỉ để mấy ông tướng Mỹ muốn nói sao thì nói?

Vừa rồi, một đại biểu Quốc hội Mỹ nói: “Đưa dấu hiệu Liên hợp quốc dán vào quân đội Mỹ, thật là một trò hề vô duyên. Tuy tiếng là 18 nước đánh nhau với Triều Tiên, nhưng 60 phần trǎm là quân đội Mỹ kia mà”.

Ông nghị Mỹ ơi! Mỹ bỏ bao nhiêu vũ trang và tiền bạc giúp Tưởng Giới Thạch, kết quả Tưởng bị đánh tan, Mỹ bị đuổi ra khỏi Trung Quốc. Thế không phải vô duyên ư?

Mỹ giúp bù nhìn Lý Thừa Vãn, cũng thất bại. Thế chẳng phải vô duyên ư?

Mỹ giúp thực dân Pháp và bù nhìn Việt, rồi cũng thất bại. Thế chẳng phải vô duyên ư?

Mỹ khoe khoang có bom nguyên tử, nay không ai sợ nữa. Thế chẳng phải vô duyên ư ?

Cả đời đế quốc Mỹ là:

Mất tiền mua cái vô duyên,
Để thiên hạ mắng: Rồ điên, điên rồ.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1993, ngày 15-1-1952.
cpv.org.vn

Uỵch! (17-1-1952)

Nǎm mới, phản động Pháp mở hàng một cách “xúi quẩy”: Chính phủ Pháp đã đổ nhào hôm 7-1-1952. Vì lẽ gì ?

– Vì kinh tế khủng hoảng, tài chính kiệt quệ, sinh hoạt đắt đỏ, xã hội không yên.

– Vì Pháp đã dân cùng của hết, ốm yếu gầy mòn, mà hai vai lại mắc hai gánh nặng: một là theo lệnh Mỹ cố mở rộng binh bị, hai là chiến tranh xâm lược ở Việt Nam.

Chỉ một việc chiến tranh ở Việt Nam, mỗi ngày giặc Pháp đã tốn hơn 1.000 triệu phrǎng. Đó là chưa kể những xe cộ, tàu bè, kho tàng, súng đạn bị ta phá hoặc bị ta lấy được. Thế là tiền Pháp hết.

Chỉ từ 15-11 đến 31-12 nǎm 1951, ở các mặt trận Bắc Bộ, giặc Pháp bị ta tiêu diệt gần 8.000 quân. Đó là chưa kể những mặt trận ở Trung Bộ và Nam Bộ. Thế là người Pháp chết.

Giặc Pháp người chết của hết, đã làm cho Chính phủ Pháp đổ, lại làm cho tướng giặc Pháp là Tátxinhi ốm gần chết, phải vào nhà thương. Nghe nói có 6 thầy thuốc sǎn sóc hắn. Rất có thể 6 người khiêng quan tài sẽ thay thế cho 6 thầy thuốc để đưa hắn ra khỏi nhà thương và cho vào địa ngục.

C.B.

Báo Nhân dân, số 41, ngày 17-1-1952
cpv.org.vn

“Phong hạc giai binh” (21-1-1952)

Câu nói Trung Quốc đó có nghĩa là: Khi ta thắng to, địch hoảng sợ, nghe “gió thổi chim kêu, cũng tưởng là binh ta đến đánh”.

Thật như vậy. Trung tuần tháng 12 vừa rồi, ta tiêu diệt địch ở Phát Diệm. Tây chết, bị thương, bị bắt rất nhiều. Cha Từ trốn vào hầm. “Tỉnh trưởng” bù nhìn trốn sau đít một bà cụ già… Hôm sau, ta kéo đi, địch trở lại. Chúng đặt một trung đội nguỵ binh gác ở một đường phố.

Một nguỵ binh hôm trước bị ta bắt rồi được ta tha về, song vì hoảng quá nên anh ta phát điên. Khi đi qua vọng gác, anh ta hét inh ỏi: “Xung phong ! … Xung phong! …”. Đội nguỵ binh, tưởng quân ta đến, đều ôm đầu chạy!.

Lính Pháp cũng có những chuyện giống như vậy. Trong trận Ba Vì (trung tuần tháng 12), một tiểu đoàn Âu Phi, đến đánh ta. Khi gặp một tiểu đội ta đi tuần, chúng tưởng là đại quân ta mai phục, đều đâm đầu chạy …

Kết luận: Ta có tinh thần quyết chiến thì ta nhất định thắng, địch nhất định thua.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1997, ngày 21-1-1952.
cpv.org.vn

Điện chia buồn về việc Thứ trưởng Bộ Giao thông công chính Đặng Phúc Thông từ trần (1-1952)

Thân ái gửi các cụ thân sinh chú Đặng Phúc Thông,
thím Đặng Phúc Thông và các cháu,

Tôi rất buồn được tin chú Đặng Phúc Thông, Thứ trưởng Bộ Giao thông công chính vừa mất cuối tháng trước.

Tôi rất thương tiếc, vì chú Thông là một cán bộ cao cấp xuất sắc của Chính phủ, một chiến sĩ trung thành của dân tộc và một người bạn tốt của tôi.

Vậy tôi có lời thành khẩn chia buồn với các cụ, với thím và các cháu.

Tháng 1 nǎm 1952
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1998, ngày 22-1-1952.
cpv.org.vn

Sự nghiệp vĩ đại của Lênin (24-1-1952)

Ngày 21 tháng 1, nhân dân lao động toàn thế giới và các dân tộc đang đấu tranh cho tự do của mình, đều thành kính tưởng nhớ Lênin. Lênin và Xtalin chẳng những đã lãnh đạo giai cấp vô sản biến nước Nga phong kiến và lạc hậu thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh nhất thế giới, mà còn đưa loài người lao động tiến lên con đường hạnh phúc vẻ vang.

Lênin sinh ngày 22 tháng 4 nǎm 1870.

Nǎm 24 tuổi, Lênin vào Đảng Xã hội – dân chủ Nga. Từ đó, Lênin thành một người tổ chức và lãnh đạo cách mạng.

Nǎm 1903, Đảng Xã hội – dân chủ chia làm hai phái. Phái thiểu số (mensêvích) chủ trương thoả hiệp với tư bản. Phái đa số (bônsêvích) là phái chân chính cách mạng do Lênin lãnh đạo.

Nǎm 1905, Lênin tham gia lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản dân chủ Nga đầu tiên. Tháng 12 nǎm ấy, Xtalin gặp Lênin trong một cuộc hội nghị của Đảng. Từ ngày ấy, Xtalin trở nên người bạn và đồng chí trung thành nhất và kiên quyết nhất của Lênin.

Nǎm 1917, Lênin và Xtalin lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Tiếp theo là 5 nǎm kháng chiến chống đế quốc xâm lược và bù nhìn bán nước.

Nǎm 1919, Lênin cùng các lãnh tụ cách mạng các nước lập nên Quốc tế Cộng sản (Đệ tam quốc tế), để lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới.

Ngày 21 tháng 1 nǎm 1924, Lênin mất, thọ 54 tuổi.

Xtalin là người thừa kế, củng cố và phát triển sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Lênin.

Lênin là người đã thực hiện và phát triển chủ nghĩa Mác. Là người cha của cách mạng vô sản và cách mạng dân tộc giải phóng. Là người thầy đã đào tạo ra những chiến sĩ cách mạng khắp thế giới, chẳng những bằng lý luận cách mạng khoa học nhất, mà còn bằng đạo đức cách mạng cao cả nhất.

Lênin dạy chúng ta đoàn kết toàn dân và toàn giai cấp để chiến thắng kẻ thù chung là giai cấp bóc lột và đế quốc xâm lược.

Lênin dạy chúng ta đối mọi việc phải xem xét kỹ lưỡng mọi mặt, không nóng nảy, hấp tấp. Song khi đã định kế hoạch hẳn hoi rồi thì phải quả quyết thực hiện cho kỳ được.

Lênin dạy chúng ta giản đơn và khiêm tốn, trong sạch và chính trực.

Lênin dạy chúng ta không sợ gian nan cực khổ, và tin chắc vào lực lượng của quần chúng, vào tương lai của cách mạng. Sau Cách mạng Tháng Mười, 14 nước đế quốc từ ngoài đánh vào, phản động trong nước nổi loạn lung tung, gần 9 phần 10 đất nước thành vùng tạm bị chiếm. Lênin và Đảng bônsêvích nói kháng chiến nhất định thắng lợi. Quả nhiên kháng chiến đã thắng lợi hoàn toàn.

Lênin dạy chúng ta muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công thì quyết phải tǎng gia sản xuất và tiết kiệm. Lênin nói: Kinh tế và tài chính “phải do nhà nước thiết thực quản lý, giám đốc, thống kê và điều chỉnh; cần quy định cách phân phối sức lao động cho đúng đắn, quý trọng sức dân, tuyệt đối không được lãng phí sức dân, cái gì cũng phải tiết kiệm”. Đối với tệ tham ô hủ hoá, Lênin rất nghiêm khắc. Có một lần, toà án Mạc Tư Khoa xử nhẹ một vụ ǎn hối lộ, Lênin liền viết trong một bức thư: “không xử bắn bọn ǎn hối lộ mà xử nhẹ như thế, là một việc xấu hổ cho những người cộng sản, những người cách mạng…”.

Lênin dạy chúng ta phải giữ vững nguyên tắc cách mạng: “Chỉ có chính sách trung thành với nguyên tắc mới là chính sách đúng”.

Lênin dạy chúng ta yêu Tổ quốc và yêu nhân dân một cách thiết tha, không bờ bến, và ghét cay ghét đắng kẻ địch của Tổ quốc, của nhân dân, đồng thời gắn liền tinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế.

Lênin dạy chúng ta phải thật thà tự phê bình và phê bình để đoàn kết chặt chẽ và tiến bộ mãi.

Lênin dạy chúng ta tuyệt đối tin tưởng vào Đảng, vào tương lai tất thắng của cách mạng và Tổ quốc, vào lực lượng vô cùng to lớn của giai cấp, của nhân dân.

Mỗi một người yêu nước Việt Nam cố gắng thực hiện những lời dạy bảo của Lênin, tức là kỷ niệm Lênin một cách xứng đáng, vì đó là con đường đưa chúng ta đến kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công.

C.B.

Báo Nhân dân, số 42, ngày 24-1-1952.
cpv.org.vn

Chết vì ốm đòn (24-1-1952)

Tướng giặc Tátxinhi
Tháng trước về Pari,
Rồi thì nó khai ốm,
Không biết ốm bệnh chi?
Chắc là nó ốm đòn.
Nó chết mất thằng con,
Lại thua luôn mấy trận,
Ruột nó đã héo mòn.
Chiến dịch Quang Trung,
Tát thua lung tung,
Chiến dịch Đề Thám,
Tát thua mặt xám
Trận Lý Thường Kiệt,
Tát thua tê liệt,
Chiến dịch Hoà Bình,
Tát khoe khoang rinh:
“Phen này Pháp thắng,
Thật là hiển vinh!”
Kỳ thực Tát đã
Mất mười ba dinh1)
Nội cảm, ngoại thương,
Tát đã ốm đòn,
Vì ta luôn thắng,
Tát phải vào hòm.
Nên có thơ rằng:
Tátxinhi, Tátxinhi
Mi đã khôn hồn, mà chết đi!
Con mi đền tội, con mi chết,
Đền tội ngày nay, chết đến mi!

C.B.

Báo Nhân dân, số 42,
ngày 24-1-1952.
cpv.org.vn