Tag Archive | Hồ Chí Minh

Nhà lưu niệm Bác Hồ ở xã Cần Kiệm

Bác Hồ là niềm tự hào của dân tộc. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Bác đã nhiều lần về thăm, về ở và làm việc tại nhiều địa điểm thuộc tỉnh Hà Tây cũ, trong đó có 19 ngày đêm Bác ở và làm việc tại xóm Lài Cài, xã Cần Kiệm, Thạch Thất, Hà Nội.

nha luu niem Bac Ho o xa Can kiem
           Nhà lưu niệm Bác Hồ tại xóm Lài Cài, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, Hà Nội

Xã Cần Kiệm (huyện Thạch Thất, Hà Nội) là một xã có truyền thống yêu nước và sớm có phong trào cách mạng. Tháng 3-1945, nơi đây đã hình thành tổ chức Việt Minh và hoạt động mạnh mẽ. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Cần Kiệm đã giành được chính quyền vào ngày 18-8 (trước Thủ đô Hà Nội 1 ngày). Là xã có nhiều phong trào hoạt động cách mạng, tinh thần cách mạng đã ăn sâu, bám rễ trong quần chúng từ lâu. Địa hình của xã được cấu thành bởi 36 quả đồi, âm u và có khả năng giữ được bí mật, đặc biệt xóm Lài Cài có đặc điểm là những quả đồi gắn liền nhau, rất lý tưởng cho những hoạt động cách mạng. Nhà lưu niệm Bác Hồ – nơi Bác ở khi đó, đường đi chỉ như đường bờ ruộng và đặc biệt là không có đường vào, nếu địch có phát hiện thì cũng khó bị tấn công.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và làm việc tại xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất từ ngày 13-1 đến ngày 2-2-1947 trong một lần rời Thủ đô Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc. Bác ở và làm việc trong ngôi nhà lá của cụ Nguyễn Đình Khuê (hay còn gọi là cụ Qụy Khuể) ở xóm Lài Cài, thôn Phú Đa, xã Cần Kiệm. Toàn bộ căn nhà được làm bằng tường tre, lợp mái cọ. Ngôi nhà khi đó đang được làm dở, nền đất cũng chưa được đập kỹ và chưa có người ở. Đây là ngôi nhà được cụ Khuê dựng để cho các con của mình và cũng không có đồ dùng gì đặc biệt.

 nha luu niem 2Khách tham quan nghe giới thiệu về Nhà lưu niệm Bác Hồ

Trong 19 ngày đêm Bác ở lại đây, Bác đã sửa, viết lại một số bản thảo tài liệu như “Phép dùng binh của ông Tôn Tử”, “Chiến thuật du kích”, bốn chữ đại từ bằng chữ Hán: “Cung chúc Tân Xuân”… do Bác viết tặng cụ chủ nhà nhân Tết Nguyên đán Đinh Hợi, Thư Bác gửi đồng chí Hoàng Hữu Nam về việc chuẩn bị họp Hội đồng Chính phủ vào ngày 26-1-2947. Ban ngày Bác làm vườn, ban đêm Bác ngồi viết bài, viết lại các cuốn sách cho dễ hiểu nên gia đình cụ Khuê và người dân nơi đây không hề biết đó là Bác Hồ vĩ đại. Dù địa điểm thay đổi nhưng thói quen làm việc đúng giờ của Bác vẫn không hề thay đổi. Ở đâu Bác cũng kê bàn làm việc sát giường và để dùng làm ghế ngồi luôn. Khi Bác ở Cần Kiệm là vào dịp Tết Đinh Hợi, nhưng bữa ăn của Bác vẫn chỉ có cơm độn sắn là chủ yếu. Tối 30 Tết, Bác đi họp Hội đồng Chính phủ ở Quốc Oai và chúc mừng năm mới các thành viên trong Chính phủ. Sau đó Bác rời Quốc Oai đến chùa Trầm (Chương Mỹ) để chúc Tết đồng bào cả nước qua Đài Tiếng nói Việt Nam. Bài thơ chúc Tết của Bác trong đêm 30Tết:

“Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng
Tiến lên chiến sĩ, tiến lên đồng bào
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập, nhất định thành công”.

Chiến tranh đã lùi xa, ngôi Nhà lưu niệm Bác Hồ tại xã Cần Kiệm hiện nay vẫn được giữ nguyên trạng so với trước kia, gian giữa là nơi đặt tượng Bác, đỉnh trầm, bát hương để người dân trong vùng và khách tham quan có thể thắp hương tưởng niệm Người. Các gian còn lại được dùng để trưng bày các tài liệu, kỷ vật lúc Bác đã từng ở, những bức ảnh chụp… Ngày 13-5-1993, Bộ Văn hoá – Thông tin đã cấp bằng công nhận Nhà lưu niệm Bác Hồ tại xã Cần Kiệm là di tích lịch sử cách mạng. Hiện Nhà lưu niệm Bác Hồ vẫn được bảo tồn để phục vụ nhân dân đến viếng thăm mỗi khi Tết đến hoặc kỷ niệm Ngày sinh của Bác.

Theo Nguyễn Minh – Văn Hinh/Báo Đại Đoàn kết
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Lời cảm ơn đồng bào (23-9-1949)

Thưa đồng bào,

Tôi cảm ơn đồng bào đã bán gạo rẻ giúp tôi, để khao thưởng bộ đội trong dịp Quốc khánh Độc lập.

Nhiều nơi, số gạo mua được đã nhiều hơn số gạo định trước.

Đó là nhờ các cụ phụ lão, các vị thân sĩ và điền chủ đã hǎng hái xung phong. Mà đồng bào nghèo và đồng bào trong vùng tạm bị địch chiếm cũng tìm cách bán giúp. Điều đó làm tôi rất cảm động.

Cảm động hơn nữa, là nhiều nơi nhân viên các cơ quan và đoàn thể đã nhịn ǎn để bán giúp. Các cháu nhi đồng thì 5, 7 cháu gom góp lại để bán giúp.

Đồng bào nhiều nơi lại còn xung phong ký tên, hứa đến mùa lúa này sẽ bán nhiều hơn nữa, để giúp tôi khao thưởng bộ đội.

Thật là quý hoá!

Sự thực là đồng bào khao thưởng bộ đội, chứ không phải riêng tôi.

Một lần nữa nhân danh tôi và nhân danh bộ đội, tôi trân trọng cảm ơn đồng bào, và gửi đồng bào lời chào thân ái và quyết thắng.

HỒ CHÍ MINH

Báo Sự thật, số 119,
ngày 23-9-1949.
cpv.org.vn

Thư gửi các cháu nhi đồng nhân dịp tết trung thu (18-10-1949)

Các cháu yêu quý!

Nhân dịp Tết Trung thu, Bác gửi lời thân ái chúc các cháu vui vẻ. Lần này là Trung thu kháng chiến thứ ba của các cháu.

Vì chúng ta kháng chiến đã ba nǎm, thức gì cũng hơi thiếu thốn hơn trước, cho nên có lẽ Trung thu này các cháu cũng ít bánh quà hơn nǎm ngoái.

Nhưng Bác chắc các cháu vui hơn. Một là vì các cháu đều biết rằng càng khó khǎn là ta càng gần ngày thắng lợi. Hai là vì nǎm nay các cháu tiến bộ hơn nǎm ngoái, về mặt thi đua học hành cũng vậy, về mặt tham gia kháng chiến cũng vậy. Thí dụ: Có những cháu đã xung phong phá tàu bay của giặc như ở Trung Bộ. Có những cháu đã xung phong giật mìn giết giặc ở Trung du. Có cháu thi đua đóng đảm phụ kháng chiến như ở nhiều nơi, v.v..

Trung thu nǎm nay, Bác cũng chưa có quà gì biếu các cháu. Nhưng chắc rằng nǎm sau, các cháu sẽ có Tết Trung thu linh đình là Tết Trung thu kháng chiến hoàn toàn thắng lợi.

Bác gửi các cháu nhiều cái hôn.
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1374,
ngày 18-10-1949.
cpv.org.vn

Thư gửi các đồng chí Liên khu IV (9-1949)

Nhân dịp đồng chí Thanh (1) vào, tôi gửi lời thân ái hỏi thǎm các đồng chí.

Xem lại những công việc trong thời kỳ vừa qua, các đồng chí đã lượm được khá ưu điểm:

Như nội bộ đoàn kết hơn, Bình Trị Thiên được chấn chỉnh hơn, sự lãnh đạo của Đoàn thể tuy chưa được đều nhưng đã bao khoát hơn trước.

Nhưng vẫn còn nhiều khuyết điểm như:

– Còn nhiều xu hướng cá nhân, bản vị, địa phương.

– Sự lãnh đạo về chính quyền, nhất là về kinh tế, không được quán xuyến.

– Dân vận chưa được đầy đủ, Mặt trận chưa đoàn kết được tất cả thân sĩ, trí thức.

– Một số cán bộ chưa thực hiện Cần Kiệm Liêm Chính, thậm chí hủ hoá. Phần nhiều khuyết điểm do đó mà ra.

Chưa vận dụng được cả nhân lực, vật lực, tài lực để phụng sự kháng chiến, nhất là ở Thanh Hoá.

Tôi mong các đồng chí kiên quyết sửa chữa những khuyết điểm và phát triển những ưu điểm nói trên, thì mọi việc sẽ thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 9 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Cục lưu trữ Trung ương Đảng, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

——————–

(1)Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Lời ghi ở trang đầu quyển sổ vàng của trường Nguyễn ái Quốc Trung ương (9-1949)

Học để làm việc,
làm người,
làm cán bộ.

Học để phụng sự Đoàn thể,

“giai cấp và nhân dân,
Tổ quốc và nhân loại”.

Muốn đạt mục đích, thì phải
cần, kiệm, liêm, chính,
chí công, vô tư.

Tháng 9 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Bút tích ghi ở trang đầu Sổ vàng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi cụ Mai Công Uyển (9-1949)

Gửi cụ Mai Công Uyển, xã Hiệp Hoà, huyện Đại Từ1)

(Nhờ UBKCHC huyện Đại Từ chuyển)

Thưa cụ,

Cụ có lòng tốt biếu tôi 20 kilô gạo để khao thưởng bộ đội. Tôi rất cảm ơn cụ. Nhưng tôi xin cụ phải nhận số tiền là 100 đồng. Nếu cụ không chịu nhận tiền, thì tôi không dám nhận gạo của cụ. Vì lần này tôi nhờ đồng bào bán rẻ, chứ không phải quyên của đồng bào. Cụ sẵn lòng giúp thì xin để lần khác, cụ sẽ ủng hộ.

Chúc cụ mạnh khoẻ và sống lâu.
Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 9 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Bản gốc bức thư lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Việt Bắc quyết thắng (9-1949) (1)

Việt Bắc có:

Lịch sử vẻ vang: Cách mệnh Tháng Tám bắt đầu nổi từ Việt Bắc.

Chiến công rực rỡ: hai lần giặc Pháp đại tiến công, đều bị quân và dân Việt Bắc đánh tan. Bắc Cạn là thành phố đầu tiên được giải phóng ra khỏi tay giặc Pháp.

Địa thế vững chắc: núi sông Việt Bắc hiểm trở hơn mọi vùng khác trong nước ta.

Nhân dân hùng mạnh : bất kỳ già, trẻ, gái, trai, đồng bào Việt Bắc ai cũng kiên quyết kháng chiến, ai cũng sẵn sàng giúp đỡ bộ đội đánh giặc.

Thế là Việt Bắc sẵn điều kiện để đánh thắng.

Điều kiện tuy sẵn, nhưng phải chuẩn bị đầy đủ mới đánh thắng được.

Chuẩn bị thế nào ?

Giặc Pháp đánh ta bằng bốn mặt trận: quân sự, chính trị, vǎn hoá, kinh tế.

Quan trọng nhất là quân sự và kinh tế. Vậy hôm nay chúng ta nói hai việc ấy trước.

QUÂN Sự

Chúng ta có ba lực lượng quân sự: Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích.

Vệ quốc quân phải lo đánh những trận to để tiêu diệt chủ lực của địch. Phải giúp tổ chức và huấn luyện bộ đội địa phương và dân quân du kích.

Bộ đội địa phương phải phụ trách đánh những trận vừa vừa, và phải chuẩn bị chiến trường sẵn sàng khi Vệ quốc quân đánh trận to ở địa phương mình.

Dân quân du kích là một lực lượng rất rộng rãi, khắp cả nước, xã nào, thôn nào cũng có dân quân du kích. Nó là như một tấm lưới rộng mênh mông, bao trùm cả nước. Hễ giặc Pháp và Việt gian bước chân đến đâu, là mắc phải lưới ở đó ngay.

Nhiệm vụ của dân quân du kích là:

Canh gác nghiêm ngặt,

Giữ gìn bí mật,

Bảo vệ làng xã,

Phòng gian trừ gian,

Thấy giặc đến làng, là du kích phải đánh phá, quấy rối chúng.

Phối hợp với bộ đội địa phương và Vệ quốc quân để đánh những trận to.

Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích cần phải:

Thi đua nhau tập luyện,

Thi đua nhau đánh giặc,

Thi đua nhau diệt nhiều địch, cướp nhiều súng, lập nhiều công.

KINH Tế

Mặt trận kinh tế gồm có công nghệ, buôn bán, nông nghiệp. Ngành nào cũng quan trọng. Nhưng lúc này, quan trọng nhất là nông nghiệp, vì “có thực mới vực được đạo”.

Có đủ cơm ǎn áo mặc cho bộ đội và nhân dân, thì kháng chiến mới mau thắng lợi, thống nhất và độc lập mau thành công.

Trên mặt trận nông nghiệp, mỗi đồng bào nhà nông phải là một chiến sĩ xung phong.

Chiến sĩ trước mặt trận thì xung phong giết giặc bằng súng đạn.

Chiến sĩ nhà nông thì xung phong giết giặc bằng cày cuốc, nghĩa là phải xung phong tǎng gia sản xuất, để giúp cho bộ đội đủ ǎn đủ mặc để đánh giặc.

Chiến sĩ trước mặt trận không sợ hy sinh xương máu, thì không lẽ chiến sĩ nông dân lại sợ hy sinh nước mắt mồ hôi.

Chiến sĩ cầm cày cuốc ở đồng ruộng cần phải ra sức ủng hộ chiến sĩ cầm súng đạn ở tiền phương.

Mỗi đồng bào nhà nông cần phụ trách thiết thực giúp đỡ một chiến sĩ đủ ǎn.

Sự giúp đỡ không tốn kém mấy, vì bán gạo thì Chính phủ trả tiền hẳn hoi.

Vậy bổn phận chiến sĩ nhà nông là: Phải trực tiếp tham gia kháng chiến bằng cách:

– Xung phong tǎng gia sản xuất để tự cấp tự túc.

– Xung phong giúp đỡ bộ đội đủ ǎn đủ mặc để đánh giặc.

Thế là Việt Bắc quyết thắng, và Việt Bắc nhất định thắng (1) .

Viết khoảng tháng 9-1949.

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

———————–

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Thư gửi các Hội mẹ chiến sĩ Liên khu IV (9-1949)

Thưa các cụ, các bà,

Tôi thường nhận thư và quà các cụ, các bà gửi cho. Tôi rất cảm động và cảm ơn. Tiếc vì bận việc quá tôi không kịp trả lời riêng từng người, vậy tôi xin trả lời chung trong thư này.

Các chiến sĩ thì sẵn sàng hy sinh gia đình, hy sinh tính mệnh để giết giặc cứu nước, bảo vệ đồng bào. Các cụ, các bà thì thương yêu sǎn sóc chiến sĩ như con cháu ruột thịt. Thế là các cụ, các bà cũng trực tiếp tham gia kháng chiến.

Đồng thời các cụ, các bà còn hǎng hái Thi đua ái quốc để làm kiểu mẫu cho con cháu và đồng bào ở hậu phương. Nhiều cụ, bà tuy tuổi tác đã cao, vẫn cố gắng học chữ, học làm tính. Thật là đáng kính, đáng quý.

Chẳng những các chiến sĩ mà tôi và Chính phủ cũng biết ơn các cụ, các bà.

Tôi mong rằng khắp cả nước, các liên khu, các tỉnh, các làng, ở đâu cũng có Hội mẹ chiến sĩ. Còn các chiến sĩ thì phải hiếu với mẹ nuôi bằng cách thi đua giết nhiều giặc, cướp nhiều súng, lập nhiều công làm cho rạng danh và đền bồi công ơn của các bà mẹ chiến sĩ.

Kính chúc các mẹ mạnh khoẻ.
Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Viết tháng 9 nǎm 1949.
Sách Bác Hồ với Bình Trị Thiên,
Ban nghiên cứu lịch sử Đảng và Ty vǎn hoá thông tin Bình Trị Thiên, tr.20-21.
cpv.org.vn

Đi thuyền trên sông Đáy (1949)

Dòng sông lặng ngắt như tờ,
Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trǎng theo.
Bốn bề phong cảnh vắng teo,
Chỉ nghe cót két tiếng chèo thuyền nan.
Lòng riêng riêng những bàn hoàn,
Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng.
Thuyền về, trời đã rạng đông,
Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi.

Viết ngày 18-8-1949.
Sách Hồ Chí Minh, Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1975, tr.59.
cpv.org.vn

Thư gửi các võ quan và các chiến sĩ đội quân Bắc phi độc lập (13-10-1949)

Tôi xin thành thực cảm ơn những lời chúc mừng của các bạn nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và cũng xin chúc Đội quân Bắc Phi độc lập sẽ lập được nhiều chiến công oanh liệt.

Người Việt Nam, người Bắc Phi cũng như những người bạn ở các thuộc địa Pháp khác, chúng ta đoàn kết chặt chẽ và cùng có chung một lý tưởng: đập tan chế độ thực dân Pháp và giành lại độc lập.

Vì vậy nước Việt Nam được giải phóng sẽ giúp cho sự giải phóng nước các bạn được dễ dàng và cuộc chiến thắng của Việt Nam sẽ giúp cho các bạn chiến thắng sau này.

Tướng Rơve (Revers), một trong những trùm thực dân Pháp, đã phải thú nhận sự thật đó khi ông ta nói: “Mọi sự thất bại của Pháp ở á châu sẽ là dấu báo hiệu sự tan rã của khối Liên hiệp Pháp”.

Tôi tin chắc rằng với sự giúp đỡ của những người bạn Việt Nam, với lòng quả cảm sẵn có và với kỷ luật sắt của các bạn, các bạn sẽ xứng đáng với danh hiệu vẻ vang của Đội quân Bắc Phi độc lập.

Tôi thân ái chào các bạn và chờ đợi những tin tức thắng trận của Đội quân Bắc Phi độc lập.

HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1370, ngày 13-10-1949.
cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của A.Steele, phóng viên báo Mỹ New York Herald Tribune (13-10-1949)

1. Hỏi: ở Mỹ hiện có sự hiểu lầm lớn về những điểm cǎn bản trong vấn đề Việt Nam. Xin Cụ vui lòng cho biết một lần nữa những yếu tố cần thiết để giải quyết cuộc xung đột giữa Việt Minh và Pháp?

Trả lời : Có sự hiểu lầm ở Mỹ là vì :

Người ta lẫn lộn Việt Minh, một tổ chức yêu nước của dân tộc với Việt Nam là một quốc gia.

Sự tuyên truyền giả dối của Pháp, và quan niệm sai lầm cho mọi phong trào giải phóng dân tộc và mọi sự cải cách xã hội đều là cộng sản.

Tiếc rằng trong những câu nói của ông cũng có vài sai lầm như trên. Cách giải quyết rất giản dị: Pháp phải chính thức và thành thật thừa nhận Việt Nam độc lập và thống nhất thật sự.

2. Hỏi : Có cách dàn xếp nào không bắt Pháp phải rút quân không? Nếu có thì theo những điều kiện gì?

Trả lời: Quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam là điều kiện chính để dàn xếp.

3. Hỏi: Có thể có cách giải quyết nào trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp không?

Trả lời: Có, nếu Liên hiệp Pháp được tổ chức trên nền tảng dân chủ và bình đẳng.

4. Hỏi: Có thể có một cách giải quyết nào có Bảo Đại tham dự không ?

Trả lời : Chúng tôi không cần gì đến bọn bù nhìn.

5. Hỏi: Những phần tử nào ủng hộ Bảo Đại?

Trả lời: Bọn bù nhìn và bọn phản quốc.

6. Hỏi: Hiện nay ở Việt Nam, Việt Minh kiểm soát được bao nhiêu phần đất đai? Và bao nhiêu dân chúng?

Trả lời: Trừ một vài thành phố lớn bị bọn xâm lược Pháp chiếm đóng, hầu hết đất đai Việt Nam đều do Chính phủ Việt Nam kiểm soát.

7. Hỏi: Cụ có nói rằng Việt Minh là một mặt trận dân tộc rộng lớn bao gồm tất cả các đảng phái và đoàn thể yêu nước. Nói chung, mặt trận đó có thân cộng hay không ? Và trong mặt trận ấy, đảng cộng sản to lớn và quan trọng đến mức nào?

Trả lời : Trong Mặt trận Việt Minh, tất cả các tổ chức yêu nước đều quan trọng như nhau.

8. Hỏi: Các đài phát thanh ngoại quốc, kể cả đài phát thanh Liên Xô đều cho Cụ là một người cộng sản. Điều ấy có đúng không?

Trả lời: Tôi đã nhiều lần trả lời câu nói này cho báo chí thế giới.

9. Hỏi: Cụ cho biết ý kiến về cuộc vận động ở Phi Luật Tân để lập khối Liên hiệp Thái Bình Dương.

Trả lời : Hiện nay chúng tôi chiến đấu để giành độc lập thống nhất đã. Những vấn đề khác sẽ xét sau.

10. Hỏi: Về nguyên tắc, Cụ có tán thành ý kiến thành lập một khối liên hợp hay đồng minh giữa các nước châu á không ? Nếu có thì theo đường lối nào?

Trả lời: Bất kỳ sự liên hợp hay đồng minh nào nhằm mục đích làm cho các nước giúp đỡ lẫn nhau và cộng tác thân thiện với nhau để bảo vệ độc lập, hoà bình và dân chủ đều là tốt cả.

11. Hỏi: Việt Nam có được cộng sản Trung Hoa giúp đỡ về vật chất không ? Nếu không, Việt Nam có hoan nghênh một sự giúp đỡ như thế không?

Trả lời : Không có sự giúp đỡ nào của Trung Hoa cả. Nếu Trung Hoa sẵn lòng giúp việc đó sẽ xét sau.

12. Hỏi: Cụ có cho rằng bất cứ một chính phủ nào lên cầm quyền ở Trung Hoa, sự giao thiệp thân thiện với Trung Hoa là cần thiết cho nền độc lập và sự ổn định của nước Việt Nam không?

Trả lời : Sự giao thiệp thân thiện không những chỉ với Trung Hoa mà với tất cả các nước khác đều cần thiết cho nền độc lập và sự ổn định của nước Việt Nam.

13. Hỏi: Thỉnh thoảng có dư luận cho rằng một nước Việt Nam độc lập dưới quyền Chính phủ Việt Minh sẽ dần dần mở đường cho cộng sản xâm nhập các nước lân cận ở Đông Nam châu á. Sự lo ngại đó có cǎn cứ không?

Trả lời: Sự lo ngại đó hoàn toàn không có cǎn cứ. Vả lại không có Chính phủ Việt Minh, mà chỉ có Chính phủ quốc gia Việt Nam.

14. Hỏi: Sự thắng lợi của cộng sản Trung Hoa sẽ có kết quả gì đối với Việt Nam và các nước khác ở Đông Nam châu á?

Trả lời : Sẽ có kết quả về mặt tinh thần.

15. Hỏi: Cụ cho biết ý kiến về điểm thứ 4 trong chương trình giúp đỡ các nước kinh tế lạc hậu của Tổng thống Tơruman (34) ?

Trả lời : Nếu Mỹ giúp thẳng cho nhân dân các nước ấy và nếu sự giúp đỡ đó có lợi cho cả nhân dân Mỹ và nhân dân các nước ấy thì đó là một việc tốt.

16. Hỏi: Theo ý Cụ, việc Mỹ giúp đỡ về kinh tế cho các nước Đông Nam châu á sẽ có lợi hay có hại cho hoà bình và sự ổn định trong những nước ấy?

Trả lời : Nếu sự giúp đỡ ấy dựa trên những nguyên tắc vừa nêu trên kia, thì nó sẽ có lợi cho hoà bình và sự ổn định của các nước đó.

17. Hỏi: Kể theo thứ tự quan trọng những cải cách xã hội chính do Việt Minh chủ trương là những gì? Hiện đã đạt được những thắng lợi gì? Cụ có tán thành việc chia lại ruộng đất, việc tự túc về kỹ nghệ và việc quốc hữu hoá các mỏ và kỹ nghệ không?

Trả lời: Những sự cải cách xã hội mà nhân dân Việt Nam đang thực hiện là đủ ǎn đủ mặc và đủ điều kiện để học tập. Những thắng lợi đã đạt được là: thủ tiêu xong một phần nạn mù chữ, nạn hút thuốc phiện, cờ bạc và các hủ tục khác, thắng nạn đói.

Chúng tôi tán thành và thực hiện việc giảm tô. Sự tự túc về mặt kỹ nghệ không thể được. Chúng tôi chỉ quốc hữu hoá những kỹ nghệ cần thiết cho việc quốc phòng.

18. Hỏi: Những nguồn lợi chính nào cung cấp tài chính cho Chính phủ Việt Minh?

Trả lời: Sự đóng góp và giúp đỡ của nhân dân Việt Nam.

19. Hỏi: Cụ có thể ước lượng cho biết số vũ khí và quân trang mà quân đội Việt Minh đã bắt được của Pháp là bao nhiêu không ? Trong số vũ khí đó có bao nhiêu vũ khí Mỹ?

Trả lời: Ba phần tư số vũ khí quân đội Việt Nam đang dùng là những vũ khí bắt được của Pháp. Một số lớn vũ khí tối tân là vũ khí Mỹ.

20. Hỏi: Cụ có thể ước lượng cho biết số lính Pháp và lính ngoại quốc bị quân đội Việt Minh bắt được không?

Trả lời: Trừ một số lính thuộc địa Pháp tình nguyện giúp chúng tôi, chúng tôi trả tất cả tù binh sau khi giải thích cho họ hiểu rằng cuộc chiến tranh thuộc địa là một việc điên rồ.

21. Hỏi: Liên hợp quốc (35) có thể giúp ích gì một cách có hiệu quả để chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam không?

Trả lời: Có, Liên hợp quốc có thể buộc Pháp phải tôn trọng những hiến chương của mình và bắt Pháp phải rút quân đội khỏi Việt Nam.

Tôi muốn hỏi nhân dân Mỹ một câu này, và mong ông cho tôi biết những câu trả lời của nhân dân Mỹ:

Nếu Pháp hoặc một ai khác xâm phạm nước Mỹ, giết người đốt phá thành phố và làng mạc Mỹ, với mục đích là để bắt Mỹ làm nô lệ, thì nhân dân Mỹ sẽ đối phó như thế nào?

Báo Cứu quốc, số 1370, ngày 13-10-1949.
cpv.org.vn

———————————-

(34) Điểm 4 trong chương trình của Tổng thống Tơruman : Quy định việc “giúp đỡ” về phương diện tài chính và kỹ thuật cho các nước chậm phát triển. Chương trình trên của Tơruman được Quốc hội Mỹ thông qua nǎm 1949 và được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc của chủ nghĩa Tơruman, nhằm ủng hộ các lực lượng phản động, củng cố chế độ tư bản chủ nghĩa phục hồi chủ nghĩa tư bản ở những nơi đã bị thất bại, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ.

Chủ nghĩa tư bản lũng đoạn Mỹ đã lợi dụng điểm 4 trong Chương trình của Tơruman để xuất khẩu tư bản, thu lợi nhuận, bóc lột đến mức cao nhất nhân dân các nước chậm phát triển. Tr.697.

(35) Liên hợp quốc: Là một tổ chức quốc tế được thành lập tại Hội nghị họp ở Xan Phranxixcô (Mỹ), từ ngày 24-4 đến ngày 26-6-1945. Đại diện của 51 nước đã ký tham gia Hiến chương Liên hợp quốc. Hiến chương bắt đầu có hiệu lực từ ngày 24-10-1945. Vì vậy ngày 24-10 hàng nǎm được gọi là Ngày Liên hợp quốc.

Hiến chương Liên hợp quốc nêu rõ: Mục đích thành lập tổ chức quốc tế này là để ngǎn ngừa và loại trừ những mối đe doạ đối với hoà bình, phát triển quan hệ thân thiện giữa các dân tộc và thực hiện sự hợp tác giữa các nước để giải quyết những vấn đề quốc tế; tôn trọng các quyền tự do cǎn bản của con người, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, tín ngưỡng và tiếng nói. Tất cả các nước hội viên đều bình đẳng, không một nước nào có quyền can thiệp vào các công việc nội bộ của nước khác.

Những cơ quan chủ yếu của Liên hợp quốc là Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Uỷ ban kinh tế và xã hội, Toà án quốc tế và Ban thư ký. Trụ sở Liên hợp quốc đặt tại Niu Oóc (Mỹ).

Nǎm 1977, Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc. Tính đến cuối nǎm 1994, tổ chức này có 185 nước thành viên. Tr.703.

Họa sĩ trình bày báo Nguyễn Ái Quốc

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng thiên tài, danh nhân văn hoá thế giới, anh hùng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Bài này chỉ đề cập một lĩnh vực nhỏ trong sự nghiệp vĩ đại của Người.

Thế hệ làm báo cách mạng Việt Nam, gần một thế kỷ được thừa hưởng những bài học, nghệ thuật sáng tạo tác phẩm báo chí xuất sắc, tiêu biểu, độc đáo của Nhà báo số một Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ ở cách hòa nhập hiện thực đời sống, chắt lọc sự kiện, thể hiện nội dung thông tin sinh động, hấp dẫn, có sức thuyết phục mà còn tiếp nhận từ Người phương pháp trình bày mặt báo sao cho lôi cuốn bạn đọc.

Các tờ báo như: Người cùng khổ, Tạp chí Quốc tế Nông dân, Thanh niên, Việt Nam hồn, Thân ái, Lính cách mệnh, Việt Nam độc lập, Cứu quốc… do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và tổ chức quy trình xuất bản in đậm dấu ấn phong cách trình bày độc đáo, sát hợp yêu cầu người đọc và hoàn cảnh cụ thể.

Tờ Người cùng khổ xuất bản tại Pa-ri in chữ Pháp dành cho bạn đọc có trình độ nhất định, đặc biệt là các nhà hoạt động chính trị, hoạt động xã hội, tầng lớp trí thức tiến bộ Pháp những năm 1922, 1923 nên bố cục mặt báo từ trang một đến trang bốn theo phong cách phương Tây. Những thông tin chính luận, cập nhật, có ảnh hưởng rộng đều được sắp xếp ở vị trí quan trọng, nhiều cột báo với tít in đậm hơn.

Để tạo ấn tượng mạnh, buộc người đọc quan tâm ngay khi cầm tờ báo, ngoài tên bài được in chữ to, chạy suốt trang còn có tít phụ, giúp người đọc nắm bắt nhanh “cái thần”, “cái hồn” của bài báo. Ngay trong một bài, cần thu hút bạn đọc, nhà báo Nguyễn Ái Quốc cho sắp một kiểu chữ in nghiêng. Báo Người cùng khổ in kỹ thuật ty-pô, sắp chữ chì, in khuôn đúc trên máy lăn ngang, chưa phải hiện đại nên bố trí nhiều kiểu chữ rất phức tạp, nhưng với năng lực làm báo thành thạo, nhà báo Nguyễn Ái Quốc còn bố trí in cả tranh châm biến, tranh đả kích. Từ năm 1922 đến năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã cho in trên tờ Người cùng khổ gần 30 bức tranh đả kích, châm biếm, điển hình là các bức “Mau lên! Đi”, “Tố cáo những kẻ gây ra vụ đàn áp ở Tu-lan-ca-mon”, “Xe xích sắt một ngày kia sẽ thay những con lạc đà, nhưng chúng vẫn còn khá nhiều. Bằng chứng ư?”, “Văn minh bề trên”, “Chủ nghĩa tư bản”. Trang một Báo Người cùng khổ được bố trí đậm đặc các bài, tin quan trọng, nhiều bài chỉ trình bày tít rồi cho tiếp sang trang sau.

Cách trình bày khái quát các chủ đề tập trung của số báo nổi bật lên trang một của nhà báo Nguyễn Ái Quốc từ năm 1922 đã có ảnh hưởng quyết định tới việc chỉ đạo tổ chức xuất bản các tờ báo: Tranh đấu (1930), Cờ vô sản (1930.), Tiền phong (1937), Dân chúng (1937), Tiếng nói của chúng ta (1938), Cờ giải phóng (1942) Cứu quốc (1942), Sự thật (1945), Nhân Dân (l951). Đặc biệt là hệ thống báo Đảng sau này đều căn cứ tôn chỉ, mục đích, đối tượng bạn đọc mà có hình thức trình bày hợp lý.

Khi xuất bản Báo Thanh niên, in chữ Việt Nam tại Quảng Châu (Trung Quốc), nhà báo Nguyễn Ái Quốc không rập khuôn cách trình bày như báo Người cùng khổ. Người xác định đối tượng Báo Thanh niên là các tầng lớp yêu nước, học sinh, sinh viên, trí thức, người lao động không biết chữ nên việc sắp xếp tin, bài ngắn gọn, từng cột báo có phi-lê dọc phi-lê ngang cho người đọc dễ dàng tiếp nhận.

Điều kiện hoạt động bí mật, tài chính nghèo nàn nên Báo “Thanh niên” không thể in ty-pô (in máy). Nhà báo Nguyễn Ái Quốc đã khắc phục khó khăn bằng cách dùng bút sắt viết từng cột báo, kể cả măng-sét (tên Báo Thanh niên) trên giấy sáp để tạo khuôn rồi quay rô-nê-ô, mỗi khuôn in độ 200 bản. Để tạo cảm xúc vui cho bạn đọc, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp vẽ tranh biếm họa, đả kích, tranh cổ động lên mặt khuôn, điển hình là bức “Lênin với vấn đề giải phóng dân tộc” in số 68 ngày 7-11- 1926 kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga. Từ ngày 21-6-1925 đến đầu tháng 5-1927, nhà báo Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng ngòi bút sắt trình bày ma-két 88 số Báo Thanh niên để có gần 170.000 bản báo gửi về Việt Nam, sang Thái Lan, góp phần thức tỉnh, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí giành độc lập dân tộc và là tài liệu hướng dẫn, huấn luyện cán bộ, chỉ rõ đường lối đấu tranh, phương pháp tổ chức đoàn thể quần chúng cách mạng trước lúc Đảng ta ra đời ngày 3-2-1930./.

Theo Văn Khải/ Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn