Tag Archive | Hồ Chí Minh

“Các bạn Việt Nam đã may mắn có được một lãnh tụ là Hồ Chí Minh”

Hơn 40 năm Bác đã đi xa, nhưng trong lòng chúng ta không lúc nào vắng Bác. Người đã để lại cho chúng ta một di sản văn hoá to lớn, đó là tư tưởng vĩ đại và tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời!

Nha bao HCMChủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội

Trong bài “Đạo đức và nhân cách đặc điểm số một của tư tưởng Hồ Chí Minh”,Giáo sư Trần Văn Giàu đã nhắc lại ý kiến của đồng chí Phạm Văn Đồng, “Trung với nước, hiếu với dân thuộc về đạo… Còn cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là thuộc về đức”. Đạo là gốc rễ, đức là thân cành, hoa quả. Như vậy có đức thì đạo mới được thực hiện, có đạo thì đức mới nảy sinh và phát huy tác dụng.

Trải qua lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam, là một nước nhỏ luôn phải đối đầu với những kẻ thù lớn hơn mình gấp bội, muốn tồn tại chúng ta không thể chỉ dựa vào số người, mà phải dựa vào những con người chiến đấu, những con người dũng cảm, hy sinh, trung với nước, hiếu với dân.

Từ cái gốc “Trung với nước, hiếu với dân” mà chúng ta sẽ cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, sẽ có lòng nhân ái, yêu thương con người, sống có tình có nghĩa và không chỉ yêu mến nhân dân mình mà còn có lòng yêu thương nhân loại, có tình quốc tế trong sáng.

Bác Hồ thường nói: Cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức cách mạng của con người. Có lúc Bác lại nói đó là bốn thang thuốc cách mạng, để chữa những căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu. Bác nói và Bác đã làm. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như cuộc đời của Bác vốn thế, chứ không phải chỉ là để làm gương mà thôi.

Nhà thơ Đa-giô (In-đô-nê-xia) khi nói về Bác Hồ của chúng ta, đã viết:

“Người không màng danh dự ghế suy tôn
Ngồi vào đấy, với Người không có nghĩa
Khi đức độ đã ngời như ngọc quý
Thì có nghĩa gì, chiếc ghế phủ nhung êm…”

Yêu nước, yêu dân, cống hiến cả đời mình cho hạnh phúc của nhân dân, cho độc lập của Tổ quốc, đó là cái gốc đạo đức Hồ Chí Minh.

Ngược lại với đạo đức cách mạng là chủ nghĩa cá nhân, và Bác nói: “Chủ nghĩa cá nhân, đó là mẹ đẻ ra tất cả mọi thói hư tật xấu, là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”. Nạn tham ô, lãng phí, quan liêu, sự tha hoá về phẩm chất, lối sống chính là từ chủ nghĩa cá nhân mà ra.

Với sự nhạy cảm chính trị của một nhà lãnh đạo, với trách nhiệm to lớn của một lãnh tụ sáng lập và rèn luyện Đảng ta, trong những ngày lễ lớn của đất nước, Bác thường phát biểu hoặc viết những bài báo, nhằm giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân. Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1950, cách đây hơn 60 năm, trên Báo Sự Thật số 140, Bác đã viết bài: “Phải tẩy sạch bệnh quan liêu”. Ngày thành lập Đảng mồng 3 tháng 2 năm 1969, Bác lại viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Micheal Houdey, đạo diễn điện ảnh người Anh đã ba lần sang làm phim ở Việt Nam cảm nhận: Điều lạ nhất đối với tôi là ở Việt Nam, dù đó là Hà Nội hay ở Kim Liên, Bến Cảng Sài Gòn… tôi đều thấy không mấy ai gọi ông Hồ là Chủ tịch, mà đều gọi Người là Bác một cách tự nhiên và yêu quý như một người thân thiết trong gia đình mình vậy. Một lần, tôi hỏi một cháu bé về bông hoa nhỏ cài trên ngực áo, cháu phấn khởi trả lời: “Cháu vừa được phần thưởng cháu ngoan Bác Hồ”. Điều đó làm tôi rất xúc động. Một điều nữa đã gây ấn tượng lớn cho tôi, là mặc dù 24 năm liền được trao chức quyền cao nhất, nhưng nếu không phải là duy nhất thì Hồ Chí Minh cũng là một trong số rất hiếm những nguyên thủ quốc gia trên thế giới, chưa từng bị lôi cuốn vào sức mạnh của quyền lực. Đây là một vấn đề có ý nghĩa xã hội và nhân văn lớn lắm. Vì thế, tôi không thể không làm một bộ phim về Người, để giới thiệu rộng rãi với nhân dân Anh.

Khi biết Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng tuyên bố: Nước lấy dân làm gốc. Quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân, và Người làm Chủ tịch là làm người đầy tớ trung thành của nhân dân, nhà đạo diễn Anh nói: “Trong lịch sử Đông – Tây, thời nào quyền lực cũng là chiếc gươm thiêng của những người cầm quyền. Chiếc gươm ấy được trao vào tay những người yêu nước, thương nòi sẽ mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Còn nếu nó được trao vào tay những bạo chúa thì đó là một thảm hoạ cho con người…”. Và nhà đạo diễn người Anh ấy nói: “Các bạn Việt Nam đã may mắn có được một lãnh tụ là Hồ Chí Minh!”.

Không phải chỉ có chúng ta, con cháu của Người học tập đạo đức Hồ Chí Minh, mà có những nhà lãnh đạo của các nước khác cũng công khai nói họ muốn học ông Hồ. Nghị sĩ Agienđê, sau này là Tổng thống Chi-lê, khi một nhà báo phỏng vấn: Những phẩm chất nào mà ngài muốn có, và nhà hoạt động chính trị nào mà ngài cho là một tấm gương để noi theo? Ông đã thẳng thắn trả lời: Đó là tính trọn vẹn, lòng nhân đạo và sự khiêm tốn, giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh!

Còn nhà sử học Pháp, Saclơ Phuốc-ni-ô đã viết: “Người mặc bộ quần áo nâu như tất cả mọi nông dân Việt Nam, đầu đội mũ vải và tay chống cây gậy nhỏ. Giọng nói của Người rất tự chủ, lúc nào cũng đi thẳng vào vấn đề, không chút nghi thức. Giờ phút được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh hôm ấy, là một trong những giờ phút đáng ghi nhớ trong đời tôi… Người không tìm cách dạy tôi một bài học về đạo đức hay chính trị, nhưng càng nghe tôi càng thấy Người vừa nói về một vấn đề lớn của đất nước, vừa dạy cho tôi một bài học về luân lý chính trị”.

Đã bao lần đọc những phát biểu, những cảm nhận, những bài viết của các bè bạn nước ngoài về Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta không những cảm động về tình cảm kính trọng, yêu quý của bạn bè đối với Việt Nam, với Bác Hồ, mà còn qua đó, ta nhận ra một cách sâu sắc sự vĩ đại của Người, mà nhiều khi đứng gần chân núi ta không nhìn thấy những đỉnh cao.

Ngay những đồng chí đã có hạnh phúc ở gần Bác nhiều năm cũng nói, còn nhiều điều chúng ta chưa thật hiểu hết về Người. Và như một nhà nghiên cứu đã nói, có hiểu được Bác thì ta mới thật sự hiểu được dân tộc mình.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong những năm qua làm tất cả chúng ta suy nghĩ sâu sắc hơn về những giá trị văn hoá Hồ Chí Minh, về tư tưởng và đạo đức của Người.

Học Bác là chúng ta làm theo một tấm gương suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị. Học tập đạo đức của Bác cũng chính là chúng ta thực hiện Nghị quyết Trung ương IV về xây dựng Đảng, làm cho Đảng thực sự là đạo đức và văn minh, xứng đáng với lòng tin yêu của nhân dân.

Song tư tưởng và đạo đức là những công việc cần phải rèn luyện thường xuyên và suốt đời, để góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội, nó phải trở thành ý thức tự giác của mọi người, làm cho mỗi người Việt Nam trở thành một bông hoa đẹp, cả dân tộc ta trở thành một rừng hoa đẹp, như lòng mong muốn của Bác kính yêu!

Theo Bùi Công Bính/Báo Nam Định online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Thư gửi đồng bào tỉnh Bắc Cạn sau khi được giải phóng (8-1949)

Thưa các cụ phụ lão,

Các vị thân sĩ,

Nam nữ đồng bào,

Cùng chiến sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích,

Cùng đồng bào toàn tỉnh Bắc Cạn và đồng bào thị xã Bắc Cạn,

Sau hai nǎm ra sức bám lấy Bắc Cạn, ngày nay giặc Pháp đã bị đuổi ra khỏi cǎn cứ quan trọng ấy.

Sau hai nǎm dưới gót giày dã man tàn nhẫn của quân Pháp, ngày nay Bắc Cạn đã được giải phóng.

Đó là nhờ sự chiến đấu anh dũng của quân đội, nhờ lòng kiên quyết kháng chiến của đồng bào, nhờ đồng bào trong thị xã đã hǎng hái hưởng ứng.

Đó là nhờ quân và dân ta nhất trí, trong đánh ra, ngoài đánh vào mà có thắng lợi ấy.

Tôi thay mặt Chính phủ gửi lời thân ái khen ngợi bộ đội và dân quân du kích cùng đồng bào Bắc Cạn. Tôi gửi lời thân ái an ủi đồng bào thị xã Bắc Cạn đã được trở lại trong cánh tay yêu mến của Tổ quốc.

Trong cuộc trường kỳ kháng chiến của ta, lần này là lần đầu tiên một thị xã quan trọng đã được giải phóng. Cuộc thắng lợi này sẽ làm đà cho những thắng lợi khác to lớn hơn, vẻ vang hơn.

Tuy vậy, tôi cần nhắc lại, quân và dân ta phải luôn luôn nhớ rằng: càng thất bại thì giặc Pháp càng liều mạng, càng dã man. Ta càng gần thắng lợi to, thì càng phải đề phòng gặp khó khǎn nhiều.

Vì vậy chúng ta tuyệt đối chớ chủ quan khinh địch, chớ sơ suất kiêu ngạo.

Trái lại, càng thắng lợi, chúng ta càng phải cẩn thận, càng phải đề phòng và chuẩn bị, càng phải cố gắng về mọi mặt, để giải quyết những sự khó khǎn mới và để tiến đến thắng lợi hoàn toàn, để tranh lấy thống nhất và độc lập hoàn toàn và thực sự.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 8 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Báo Vệ quốc quân, số 53,
ngày 15-9-1949.
cpv.org.vn

Thất bại và thành công (19-8-1949)

Hồ Chủ tịch luôn luôn dạy chúng ta:

“Cán bộ được dân tin, dân phục, dân yêu, thì việc gì cũng thành công”. Kinh nghiệm đã tỏ rằng đó là chân lý 100 phần 100.

Nhân công việc, được đi khắp hai tỉnh, tôi có mấy nhận xét sau đây:

Tình hình chung ở tỉnh A là:

– Xã nào cũng có tiến bộ ít nhiều, nhưng được việc này thì hỏng việc khác. Cán bộ xã nào hiểu được việc gì thì làm việc ấy.

– Xã nào cũng nhận được nhiều chỉ thị, giấy tờ. Chỉ thị và giấy tờ ấy do huyện sao nguyên vǎn của tỉnh mà gửi xuống xã, nhiều điều không hợp với trình độ cán bộ và hoàn cảnh địa phương.

– Cán bộ tỉnh rất ít khi đến các huyện. Cán bộ huyện rất ít khi đến các xã. Nǎm thời mười hoạ, cán bộ cấp trên “hạ cố” đến địa phương thì kềnh càng, quan cách, không thân mật với cán bộ cấp dưới và nhân dân.

– Mọi công việc đều làm theo cách bàn giấy, dùng mệnh lệnh, không chịu khó tuyên truyền, giải thích, cổ động, không hỏi ý kiến nhân dân.

Kết quả là nhiều việc lủng củng như đã nói trên.

Tình hình tỉnh B thì khác hẳn.

Tǎng gia sản xuất, giúp đỡ bộ đội, bình dân học vụ, dân quân du kích, tập đoàn đổi công, hợp tác xã, đời sống mới, v.v., mọi việc đều tiến bộ và tiến rất đều, xã nào cũng như xã nào.

Vì sao có kết quả tốt đẹp ấy? Không có gì lạ.

Các cán bộ hành chính, chuyên môn và đoàn thể từ tỉnh đến huyện luôn luôn đi đến các làng giúp đỡ, giải thích, đôn đốc, cổ động. Họ thông thuộc tình hình các xã. Nếu hỏi một người nào trong bất kỳ một xã nào: “Có biết ông X, cán bộ tỉnh, hay ông Y, cán bộ huyện không?”. Thì ai cũng giả nhời: “Biết lắm chứ! Đồng chí ấy mới đến làng nói chuyện với dân hôm nọ. Đồng chí ấy vui tính và thân mật lắm, ai cũng mến phục”.

Thế là vì cán bộ luôn luôn gần gũi dân, được dân tin, dân phục, dân yêu, cho nên tỉnh B, việc gì cũng thành công.

Mong rằng cán bộ các nơi thi đua gần dân với cán bộ tỉnh B.

LÊ NHÂN

Báo Sự thật, số 117,
ngày 19-8-1949.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và ngày Độc lập 2 tháng 9 (19-8-1949)

Cùng đồng bào toàn quốc,

Cùng toàn thể chiến sĩ,

Hôm nay là ngày kỷ niệm chung Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh Độc lập.

Tôi thay mặt Chính phủ có mấy lời thân ái tỏ cùng đồng bào và chiến sĩ:

Trong 80 nǎm xiềng xích nô lệ của thực dân, biết bao liệt sĩ, biết bao con cháu oanh liệt của Việt Nam đã hy sinh xương máu vì Tổ quốc. Kết quả đầu tiên là cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Kế theo đó là cuộc tuyên bố Việt Nam độc lập ngày 2 tháng 9.

Liền sau Ngày Độc lập thì thực dân tham tàn gây cuộc chiến tranh.

Ngày trước, với xương máu của chiến sĩ và sức đoàn kết của đồng bào mà chúng ta tranh được độc lập.

Thì ngày nay, cũng với xương máu của chiến sĩ và sức đoàn kết của đồng bào mà chúng ta kháng chiến để giữ vững nền độc lập.

Nước ta độc lập vừa 5 nǎm. Đã 5 nǎm, dân ta kháng chiến. Chúng ta quyết hy sinh cực khổ để cho nước nhà độc lập, thống nhất và con cháu ta được hưởng tự do, hạnh phúc muôn nghìn đời về sau.

Nǎm đầu kháng chiến, thì ta thiếu thốn mọi bề, giặc Pháp thì binh nhiều tướng đủ, lại được nước ngoài giúp sức.

Do chí khí quật cường của dân tộc ta, do sự anh dũng hy sinh của bộ đội và dân quân ta, do khối đoàn kết chặt chẽ của toàn dân ta, do lòng tận tuỵ cố gắng của cán bộ ta, mà ta đã vượt qua tất cả mọi bước khó khǎn và xoay chuyển tình thế.

Lực lượng giặc Pháp càng ngày càng yếu. Ta càng kháng chiến càng mạnh thêm.

Ta đã từ thế thủ mấy nǎm trước, mà chuyển sang thế chuẩn bị tổng phản công ngày nay.

Địch đã cùng đường. Về quân sự, chúng phải thừa nhận rằng không thể dùng vũ lực mà đánh nước ta. Về chính trị, âm mưu cuối cùng của chúng là chính phủ bù nhìn Vĩnh Thuỵ cũng chắc chắn thất bại.

Xét kỹ tình hình địch, tình hình ta, tình hình trong nước và thế giới, tôi dám báo cáo chắc với đồng bào và chiến sĩ rằng: Cuộc trường kỳ kháng chiến của ta đã gần đến thắng lợi hoàn toàn, sự nghiệp thống nhất và độc lập của ta đã gần đến thành công mỹ mãn.

Chính vì thế mà tôi khẩn khoản nhắc lại những nhiệm vụ quan trọng của đồng bào và chiến sĩ cùng cán bộ như sau:

Phải nhớ rằng: Địch càng tuyệt vọng thì càng liều mạng, càng dã man. Ta càng gần thắng lợi, càng gặp nhiều khó khǎn, gian khổ. Vì vậy chúng ta tuyệt đối chớ chủ quan, chớ khinh địch. Chúng ta phải sẵn sàng chuẩn bị tinh thần và vật chất, để vượt qua mọi trở lực.

Trong chiến dịch trung du hiện nay và thu đông sắp tới, mưu địch rất là thâm độc. Đồng bào ta, các tướng sĩ ta cần phải ra sức phá tan mưu đó và đẩy tới cuộc cầm cự, chuẩn bị tổng phản công, sửa soạn chuyển sang giai đoạn thứ ba, tranh lấy thắng lợi cuối cùng.

Vệ quốc quân và dân quân du kích phải thi đua đánh thật mạnh để tiêu hao địch và tiêu diệt địch.

Đồng bào hậu phương phải thi đua thực hiện khẩu hiệu “Tất cả để chiến thắng”. Người có tiền giúp tiền, người có sức giúp sức, người có tài nǎng giúp tài nǎng, thi đua giúp bộ đội, giúp dân quân, giúp Chính phủ.

Cán bộ các ngành, các cơ quan phải thi đua thực hiện khẩu hiệu “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”.

Mỗi người phải cố gắng làm tròn nhiệm vụ, mọi người đều thi đua làm tròn nhiệm vụ.

Nhân dịp này, tôi xin thay mặt Chính phủ, quân đội và đồng bào gửi lời thân ái hỏi thǎm các thương binh, các gia đình tử sĩ, các đồng bào trong vùng tạm bị địch chiếm và kiều bào ở nước ngoài.

Và cảm ơn các nước bạn, các nhân sĩ dân chủ nước ngoài, các đoàn thể và nhân dân Pháp đang hǎng hái ủng hộ cuộc kháng chiến và quyền độc lập của Việt Nam ta.

Kháng chiến nhất định thắng lợi!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn nǎm!

HỒ CHÍ MINH

Báo Sự thật, số 117, ngày 19-8-1949.
cpv.org.vn

Thư gửi các cháu nhi đồng (19-10-1949)

Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh Độc lập, chắc các cháu đều mong nghe Bác nói chuyện. Vậy Bác kể tóm tắt cho các cháu nghe.

Hơn tám mươi nǎm qua, giặc Pháp cướp nước ta. Rồi chúng cùng bọn vua chúa đè nén bóc lột đồng bào ta, tù đày chém giết những người cách mạng ta, ngǎn trở hạn chế nhi đồng ta học hành.

Nhiều lần đồng bào ta nổi lên chống giặc Pháp. Nhưng đến tháng Tám nǎm 1945, vì đồng bào ta từ già đến trẻ đều đoàn kết thành một khối, cho nên Cách mạng đã thành công. Đuổi hết giặc thực dân, đánh đổ bọn vua chúa, lập nên nước Việt Nam độc lập, Dân chủ Cộng hoà. Nhân dân đều được tự do hạnh phúc. Nhi đồng được tự do học hành.

Nước ta vừa độc lập, thì giặc Pháp trở lại đánh ta, mong cướp nước ta một lần nữa.

Vì vậy ta phải đánh giặc Pháp để giữ lấy độc lập của ta. Nhờ Vệ quốc quân và dân quân du kích ta dũng cảm, nhờ đồng bào ta đoàn kết, mà không bao lâu nữa, ta sẽ đánh tan giặc Pháp và bù nhìn, tranh lại thống nhất và độc lập thật sự.

Trong những nǎm kháng chiến, các cháu cực khổ, nhưng các cháu cũng tiến bộ khá nhiều. Cháu nào cũng hǎng hái thi đua học hành, giúp đỡ các công việc, ủng hộ quân đội ta, cháu nào cũng biết yêu nước, ghét giặc Pháp và bù nhìn. Cháu nào cũng ngoan.

Các cháu biết rằng: nay các anh, các chị, các chú, các bác đang hy sinh chiến đấu, là cốt để cho các cháu khỏi phải làm nô lệ, được no ấm và tự do.

Ngày nay, người lớn kháng chiến để tranh lại độc lập thì mai sau các cháu phải giữ vững nền độc lập của ta. Vì vậy, các cháu phải cố gắng thi đua học tập và làm việc hơn nữa.

Chắc các cháu đều gắng làm được như lời Bác dặn nhỉ.
Bác hôn các cháu và cùng các cháu hô to:

Nhi đồng Việt Nam thi đua yêu nước và học tập!
Kháng chiến nhất định thắng lợi!
Việt Nam thống nhất và độc lập muôn nǎm!

Ngày 19 tháng 8 nǎm 1949
CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 310-311.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi đồng bào bán gạo khao quân nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh 2-9-1949 (20-8-1949)

Thưa các cụ phụ lão,

Các vị thân sĩ,

Nam nữ đồng bào,

Nhân ngày kỷ niệm Độc lập Ngày 2-9, tôi có ý muốn khao thưởng bộ đội ta, là những người đang chiến đấu anh dũng để giữ gìn quyền độc lập mà nhân dân ta đã đấu tranh được.

Nhưng lấy gì mà khao thưởng ?

Thánh hiền có nói:

“Thực túc, binh cường”.

Vậy thì lấy lương thực mà khao thưởng là giản đơn nhất, thiết thực nhất.

Song tôi không có thóc gạo.

Vậy tôi lấy danh nghĩa cá nhân mà nhờ đồng bào giùm tôi việc đó. Tôi muốn nhờ đồng bào mỗi gia đình bán cho tôi 10 kilô gạo với những điều kiện sau đây:

– Định giá 1 kilô là 50 đồng.

– Những gia đình nghèo thì thôi.

– Những đồng bào có thể bán giúp nhiều thì càng hay.

– Đồng bào bán giúp thì phải nhận đủ tiền, vì tôi không muốn để đồng bào thiệt thòi nhiều quá.

Cách lấy gạo và trả tiền thế nào, Uỷ ban kháng chiến hành chính xã phụ trách.

Tôi chắc rằng đồng bào sẵn lòng giúp tôi việc đó. Tôi cảm ơn trước đồng bào, và tôi sẽ gửi thư riêng cảm ơn những đồng bào bán giúp nhiều nhất trong xã, trong huyện, và trong tỉnh.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 20 tháng 8 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962, tr.76-77.
cpv.org.vn

Gặp lại cô bé quàng khăn đỏ cho Bác Hồ

Cô nữ sinh người Dao 14 tuổi năm ấy được gặp Bác Hồ 2 lần trong ngày, được che ô, quàng khăn quàng đỏ lên cổ Bác…

Được gặp Bác 2 lần 

Bac Ho tro chuyen voi cac hoc sinhTấm ảnh ghi lại buổi Bác Hồ trò chuyện với các học sinh Trường Thiếu nhi rẻo cao
khu tự trị Việt Bắc, cô nữ sinh Triệu Thị Kim Tặng (đứng sau vai trái của Bác)
đang hát vang bài ca kết đoàn.

Ngày ấy, cô nữ sinh Triệu Thị Kim Tặng tròn 14 tuổi, cô là một trong ba nữ sinh được cử đi đón Bác Hồ khi Bác lên thăm nhân dân tỉnh Thái Nguyên (năm 1960).

“Sáng hôm đó (13/3/1960) tôi cùng 2 người bạn là Chi Thị Khẩn dân tộc Lô Lô, Đào Thị Lý dân tộc Mông được cử đi đón Bác Hồ ở ngoài sân vận động Thái Nguyên – nơi Bác về trò chuyện với bà con các dân tộc Việt Bắc. Tôi là người được giao nhiệm vụ cầm ô che cho Bác nên được đứng ngay bên cạnh Bác.”

“Tôi còn nhớ rất rõ Bác mặc bộ quần áo “kiểu Tôn Trung Sơn” màu ghi, đằng sau vai áo bên phải có một miếng vá nhưng trong mắt tôi Bác mặc bộ đồ đó rất đẹp, rất giản dị, gần gũi với những người dân ở đây, gần gũi với chúng tôi…”.

Sau khi nhận những bông hoa tươi thắm từ tay các học sinh Trường Thiếu nhi rẻo cao khu tự trị Việt Bắc, Bác Hồ vui vẻ và nhanh nhẹn bước lên khán đài trò chuyện với bà con, “nhìn Bác rất hồng hào” – cô bé che ô cho Bác nhớ lại.

Cô nữ sinh Triệu Thị Kim Tặng không chỉ vinh dự được gặp Bác 1 lần mà ngay chiều hôm đó, Bác vào thăm Trường Thiếu nhi vùng cao, khu tự trị Việt Bắc nơi cô học, cô lại vinh dự được giao nhiệm vụ quàng lên cổ Bác chiếc khăn quàng đỏ.

“Bác hỏi chúng tôi: Các cháu có nhớ nhà không? Có được ăn no không? Bác còn dặn: Các cháu là con em tiêu biểu của các dân tộc nên phải cố gắng chăm học, ngoan ngoãn, nghe lời thầy cô giáo, rèn luyện tốt để thành cháu ngoan Bác Hồ, để sau này làm cán bộ phục vụ cho dân tộc mình”.

Sau đó, “Bác Hồ cũng trò chuyện với các thầy cô giáo và nhân viên trong trường. Rồi Bác bắt nhịp cho chúng tôi hát bài Kết đoàn, rồi Bác rời hội trường trong khi chúng tôi vẫn đang hát…”

Bà Tặng kể, chính lần gặp Bác Hồ đó đã tiếp thêm nghị lực cho cô nữ sinh trẻ vượt qua khó khăn để tiếp tục xây ước mơ trở thành cán bộ phục vụ dân tộc, quê hương mình.

13 tuổi (năm 1959), cô bé Tặng dời bản Dao nghèo Nà Lẹng (ruộng cạn) nằm chon von nơi đỉnh đèo Gió (xã Sỹ Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Thái – nay là Bắc Kạn) về theo học tại Trường Thiếu nhi vùng cao, khu tự trị Việt Bắc (Thái Nguyên).

Ba Trieu Kim Minh Tang Bà Triệu Thị Kim Tặng với tấm hình chụp ảnh Bác Hồ (Ảnh Minh Thúy)

Ôm con đi “xóa mù” ở vùng cao

Bà Tặng theo học ngành sư phạm bởi bà nghĩ ngành này giúp bà mang kiến thức đến cho con em đồng bào dân tộc vùng cao – như nơi bà sinh ra và sống thời thơ ấu. Ngay sau khi ra tốt nghiệp Trường Trung cấp sư phạm Việt Bắc (nay là Đại học Sư phạm Thái Nguyên, năm 1965), bà Tặng về giảng dạy ở trường học của xã Lam Vĩ (huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên).

Bà nhớ đó là những ngày tháng đầy khó khăn, vất vả bởi bà đang mang thai người con đầu lòng, chồng bà (ông Đặng Văn Lâm, nguyên là Hiệu Trưởng Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên, cũng là bạn học cùng Trường Thiếu nhi vùng cao với bà) lại đang theo học tận Trung Quốc nên bà phải nỗ lực thực hiện tốt nhất công việc của người giáo viên “cắm bản”.

Không chỉ dạy cái chữ cho bà con, bà Tặng cũng tuyên truyền vận động bà con loại bỏ các hủ tục trong cưới xin, ma chay, mê tín dị đoan…

“Cắm bản” ở các xã vùng sâu, vùng xa gần 20 năm, đến  năm 1984, bà Tặng chuyển về công tác tại Phòng Bổ túc văn hoá, Sở Giáo dục – Đào tạo Thái Nguyên, phụ trách mảng xoá mù chữ bậc tiểu học.

Với công việc này, bà đi khắp các bản làng xa xôi của tỉnh, có những lúc đi bộ cả 2 ngày trời, rồi cuộc sống đầy khó khăn, cái bụng chưa no nên nhiều người không muốn học cái chữ – khiến người giáo viên xóa mù chữ như bà Tặng có lúc cảm thấy mệt mỏi. Nhưng chính những lúc mệt mỏi đó, bà Tặng nhớ lời dặn dò của Bác Hồ, bà lại bước tiếp.

Có những thời gian chồng đi xa, một nách 2 con nhỏ, bà Tặng vẫn “cắp con” đi “xóa mù” cùng, những vùng cao ở Đồng Hỷ, Chợ Đồn, Na Rì, Bạch Thông… đều in dấu chân mẹ con cô giáo Tặng. Có những lúc cô giáo Tặng phải ở lại với bà con, ngày đi làm cùng họ, tối về vận động họ học chữ, cách làm này của cô giáo Tặng sau này đã được nhân rộng tại địa phương.

Năm 2001, cô giáo Tặng nghỉ hưu, nhưng “hưu” mà chẳng “nghỉ”, bà Tặng được bầu làm Chi hội trưởng Chi hội phụ nữ Tổ dân phố 13, phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Thái Nguyên. Năm 2002, bà vào Ban Chi ủy phụ trách công tác Mặt trận của phố Gia Bảy. Năm 2003, bà làm Bí thư Chi bộ… Đến năm 2006, bà được bầu làm tổ Trưởng Tổ dân phố 13.

Bà quyết tâm góp phần làm thay đổi bộ mặt khu phố, từ chỗ đi lại trong tổ dân phố trên những lối mòn đất đỏ bà vận động bà con làm đường bê tông, rồi làm đường dẫn nước sạch, làm luôn đường điện áp. Quá trình làm nhiều người ủng hộ, nhiều người… chửi nhưng bà vẫn kiên trì. Và vì đó, bà Tặng cũng được bà con dân phố “phong tặng” danh hiệu “người chịu đựng nhất khu phố”.

Nhờ làm được hạ tầng tốt, giờ đây khu phố của bà Tặng đã thay đổi bộ mặt, xóa hẳn được nhà lá, 100% là nhà xây cao tầng. “Tôi luôn tậm niệm lời Bác dạy suốt chặng đường tôi đi, suốt những việc tôi làm và tôi thấy thành công” – bà Tặng nói với giọng rất nhẹ nhàng, nụ cười tươi cả trong ánh mắt.

Nguồn: vtc.vn
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Thư gửi nữ du kích Bùi Thị Cúc, xã Ba Trại, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (8-1949)

(Nhờ UBKCHC Sơn Tây chuyển)

Tôi thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi dân quân du kích xã Ba Trại đã anh dũng diệt giặc trong trận 16-2-1949.

Tôi đặc biệt khen ngợi cháu Cúc đã tiêu diệt được 8 tên giặc để lập chiến công vẻ vang trong trận ấy.

Tôi mong rằng toàn thể nam nữ du kích trong tỉnh sẽ hǎng hái thi đua diệt giặc lập công.

Tôi sẽ có giải thưởng đặc biệt, gọi là giải thưởng “Chuẩn bị tổng phản công” cho chiến sĩ nào và đội du kích nào lập công to nhất từ nay đến cuối nǎm.

Cháu Cúc cố gắng lên, để giật giải thưởng ấy.
Bác thưởng cháu 1 chiếc khǎn tay.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 8 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào tỉnh Nghệ An (8-1949)

Cảm ơn đồng bào đã tặng tôi món quà quý báu trong dịp sinh nhật của tôi – là thành tích thi đua 4 tháng đầu nǎm 1949.

Sau đây, tôi có mấy lời thân ái nhắn khuyên đồng bào:

– Thi đua phải thiết thực, bền bỉ, rộng khắp.

– Dân quân phải tổ chức chặt chẽ, tập luyện hẳn hoi, vũ trang đầy đủ.

– Sáu huyện đã thanh toán nạn mù chữ. Thế là tốt lắm. Chính phủ sẽ gửi giấy khen. Phải giúp các huyện kia thanh toán cho xong nội trong nǎm nay.

– Tôi rất vui lòng rằng xã nào cũng có phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân. Phụ nữ phải tham gia chính quyền nhiều hơn và thiết thực hơn nữa. 64 xã, tức là một phần ba trong tỉnh đã làm được đoàn kết chặt chẽ, chính quyền củng cố, dân quân vững vàng thì 2 phần 3 kia phải thi đua làm được như thế.

– Phải phát triển và củng cố phong trào hợp tác xã và tập đoàn đổi công. Những người phụ trách phải tháo vát và trong sạch. Đời sống mới trong thôn quê phải phát triển hơn.

– Tỉnh ta đã có đà khá vững để tiến bộ mọi mặt. Mong đồng bào tiếp tục thi đua và giúp nhau thi đua làm cho Nghệ An thành một tỉnh kiểu mẫu trong mọi công việc kháng chiến và kiến quốc.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 8 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Sách Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh,
Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh, 1977, tr.38-39.
cpv.org.vn

Thư gửi cụ Nguyễn Ban, xã An Tường huyện Thǎng Bình, Quảng Nam (8-1949)

Cụ gửi thư cho tôi biết rằng cụ đã học xong chữ quốc ngữ. Đọc bức thư cụ, tôi rất lấy làm vui sướng, cụ đã 77 tuổi mà còn gắng học trong 3 tháng đã được thành công như vậy là cụ chẳng những làm kiểu mẫu siêng nǎng cho con cháu mà lại còn tỏ cái ý chí hùng mạnh của dân tộc Việt Nam. Noi gương cụ, con cháu cụ, đồng bào Việt Nam từ 7 tuổi đến 70 tuổi ai mà nỡ lòng làm biếng, ai mà chẳng cố gắng học hành. Đời xưa bên Trung Quốc có ông Tô Lão Tuyền 72 tuổi mới bắt đầu học, tiếng thơm còn để đến ngày nay.

Bây giờ ở nước Việt Nam ta cụ 77 tuổi mới đi học, chắc tiếng thơm sẽ truyền khắp cả nước. Cụ thật xứng đáng bốn chữ “lão đương ích tráng” 1 . Cụ là một tượng trưng phúc đức của nước nhà. Đó là một thành công to lớn và ý nghĩa sâu xa.

Các anh chị em bình dân học vụ có thể tự hào rằng mình đã có công với dân tộc.

Tôi cảm ơn cụ, tôi cũng cảm ơn anh chị em.
Kính chúc cụ luôn luôn mạnh khoẻ.

Tháng 8 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 314.
cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Praxa Thipatay (Thái Lan) (2-9-1949)

1. Hỏi: Quân đội Việt Nam sẽ đổi chiến lược, chuyển sang thế công, Ngài có thể cho chúng tôi biết một cách thành thực là quân đội của Ngài đã được nước thứ ba nào viện trợ về khí giới không?

Trả lời : Khí giới chúng tôi tự chế tạo, 3/4 chúng tôi lấy được của quân đội Pháp.

2. Hỏi: Ngoài việc kháng chiến bằng quân sự để giành độc lập, Ngài có ý định liên lạc với Liên hợp quốc để đạt được độc lập bằng cách ôn hoà không? Vì lẽ gì?

Trả lời : Hiến chương của Liên hợp quốc là các nước phải tôn trọng quyền độc lập của nước khác. Trách nhiệm của Liên hợp quốc là thực hiện Hiến chương ấy. Chúng tôi mong Liên hợp quốc làm tròn nhiệm vụ, buộc quân đội thực dân Pháp rút khỏi Việt Nam, thì hoà bình sẽ trở lại ngay.

3. Hỏi: Hiện nay có tin nói rằng Ngài và Mao Trạch Đông, lãnh tụ Trung Cộng đã liên lạc mật thiết với nhau, và có tin phao đồn khắp nơi rằng Ngài chủ trương cộng sản theo kiểu Mạc Tư Khoa. Vậy sự thực như thế nào?

Trả lời : Đó là tuyên truyền xảo trá của thực dân Pháp, không có gì lạ. Chỉ lạ rằng, nhiều người ngoại quốc thông minh cũng tin lời xảo trá ấy.

4. Hỏi: Sau khi hoàn toàn thắng lợi, trong chính sách chính trị, kinh tế, Chính phủ có chủ trương sẽ chia tư hữu tài sản không?

Trả lời: Hiến pháp của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nói rõ rằng tôn trọng tư hữu tài sản.

5. Hỏi: Đối với nước Thái về các mặt quân sự, chính trị và kinh tế, Ngài có ý định như thế nào sau khi nước Ngài đã được hoàn toàn độc lập?

Trả lời : Bao giờ Việt Nam cũng cần thân thiện với nước Thái, và nước Thái thân thiện với Việt Nam, vì chúng ta là bà con láng giềng.

6. Hỏi: Ngài cho biết rõ đồng bào Ngài hiện cư trú ở Thái ủng hộ chính sách Ngài hay chính sách của Bảo Đại?

Trả lời : Kiều bào chúng tôi ở quý quốc chỉ ủng hộ quyền thống nhất và độc lập thật sự của Tổ quốc.

7. Hỏi: Giữa hai cường quốc Mỹ và Liên Xô, Ngài sẽ hợp tác với nước nào là nước Ngài coi là đại diện cho chủ trương giữ vững hoà bình thế giới? Về vấn đề này, tôi không mong một câu trả lời nói rằng Việt Nam sẽ trung lập, vì đó là một việc khó lòng làm được?

Trả lời : Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam. Một nước rất có thể trung lập giữa hai cường quốc, thí dụ nước Thuỵ Sĩ.

8. Hỏi: Yêu cầu Ngài cho biết ý kiến Ngài đối với việc vận động ký kết khối Thái Bình Dương hiện nay do Phi Luật Tân đóng vai chủ động.

Trả lời : Việt Nam phải kháng chiến tranh lại thống nhất và độc lập thật sự đã, sau mới có thể bàn đến việc khác. Đức Khổng Tử có dạy rằng: Quốc trị, thiên hạ mới bình.

Nhân dịp này, tôi nhờ quý báo chuyển lời cảm ơn của chúng tôi đối với Chính phủ và nhân dân quý quốc đã giúp đỡ kiều bào của chúng tôi.

Tôi gửi lời chào ông và quý báo.
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1375,
ngày 19-10-1949.
cpv.org.vn

Thư gửi Hội nghị Trung du (19-9-1949)

Ngày 19 tháng 9 nǎm 1949

Gửi Hội nghị Trung du

Các đồng chí,

Nhân dịp Hội nghị Trung du, tôi gửi lời thân ái hỏi thǎm các đồng chí.

Vì sao có cuộc Hội nghị Trung du?

Vì Trung du là rất quan trọng. Quan trọng về quân sự cũng như về kinh tế. Và chiến tranh ở trung du sẽ rất gay go, rất ác liệt.

Các chú là những cán bộ phụ trách lãnh đạo đồng bào đánh giặc ở đó, thắng giặc ở đó.

Đại đa số cán bộ, nhất là cán bộ Bắc Ninh, tinh thần vững chắc, tận tuỵ làm việc, hiểu các công tác, đi sát với dân. Cán bộ các đơn vị chủ lực cũng đã chỉ huy bộ đội chiến đấu anh dũng. Cho nên quân, dân, chính nhất trí, và bộ đội chủ lực cùng bộ đội địa phương và dân quân đã nhiều lần giết giặc lập công.

Nhưng nhiều nơi vẫn còn nhiều khuyết điểm.

– Chưa nhận rõ mặt trận Trung du là rất quan trọng. Thậm chí có một vài nơi, khi giặc đến thì hoang mang, bỏ chạy; thấy du kích đánh hǎng, mới dám trở về.

– Chưa hiểu rõ chiến tranh nhân dân là chiến tranh toàn diện, còn tưởng lầm rằng có du kích tức là chiến tranh nhân dân.

– Tin tức, tuyên truyền không thống nhất, không kịp thời.

– Chưa biết trao đổi kinh nghiệm bộ phận này với bộ phận khác, tỉnh này với tỉnh khác.

– Khuyết điểm nặng nhất là quân dân chính chưa hợp tác thực tế, thiết thực và hoàn toàn.

Địch mạnh chừng nào, ta cũng không sợ. Chỉ sợ cán bộ ta không đủ nghị lực để tẩy cho hết những khuyết điểm đó.

Các chú phải hứa sẽ kiên quyết tẩy trừ và giúp đồng chí mình tẩy trừ những khuyết điểm của ta, thế là ta đã thắng địch một phần lớn rồi.

Điều thứ hai là phải tổ chức du kích cho thật hẳn hoi, vũ trang cho đầy đủ. Giặc mò đến đâu ắt bị ta đánh đấy. Phải làm sao cho các tỉnh trung du thành một phòng tuyến kiên cố của ta, một nghĩa địa mênh mông của giặc. Thế là ta nhất định thắng lợi.

Đồng bào ta, gái cũng như trai, trẻ cũng như già, cho đến các cháu nhi đồng cỏn con ai cũng nồng nàn yêu nước, ai cũng hǎng hái kháng chiến, ai cũng cố gắng giết giặc. Nếu cán bộ khéo cơ động, tổ chức, lãnh đạo thì ngoài Vệ quốc quân anh dũng của chúng ta, chúng ta lại có những cái lưới sắt du kích rộng lớn và mạnh mẽ quét hết lũ giặc, không sót một tên nào.

Tôi chắc các chú sẽ cố gắng làm được như thế, sẽ thi đua hãy làm được như thế.

Từ đây đến tháng 12 nǎm nay, bộ đội nào, địa phương nào lập được nhiều công to nhất, sẽ được một giải thưởng đặc biệt.

Nhờ các đại biểu chuyển lời thân ái tôi hỏi thǎm đồng bào và các chiến sĩ các tỉnh.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn