Tag Archive | Hồ Chí Minh

Lời kêu gọi gửi nhân dân thế giới (20-6-1947)

Hỡi nhân dân Pháp!

Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp đều chung một lý tưởng: Tự do, Bình đẳng, Bác ái.

Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp có một mục đích chung: cộng tác thân thiện và bình đẳng giữa hai dân tộc.

Vận mệnh của nhân dân Việt Nam và vận mệnh của nhân dân Pháp rất quan hệ với nhau. Thế mà bọn thực dân phản động đang hết sức chia rẽ hai dân tộc ta. Chúng quyết tâm hy sinh tiền bạc của nhân dân Pháp và tính mạng thanh niên Pháp để kéo dài cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này.

Chúng tôi rất mong các bạn cùng chúng tôi hành động để ngǎn trở bọn thực dân phản động phá hoại cái lý tưởng chung, lợi ích chung, và tình nghĩa của hai dân tộc ta.

Hỡi anh em dân tộc châu á!

Gần hai nǎm trường, thực dân Pháp đang giày xéo nhân dân Việt Nam, gần hai nǎm trường, nhân dân Việt Nam đang hy sinh tranh đấu.

Việt Nam là một bộ phận trong đại gia đình châu á. Tranh đấu cho tự do độc lập của Việt Nam tức là tranh đấu cho tự do, độc lập của đại gia đình châu á. Trước kia, anh em đã đồng tình với chúng tôi. Từ đây mong anh em càng ủng hộ nữa. Với sự đồng tình và ủng hộ của anh em, cuộc kháng chiến cứu quốc của Việt Nam nhất định thắng lợi.

Hỡi các nhân sĩ dân chủ trên thế giới!

Trong cuộc thế giới chiến tranh, các nước đã hy sinh bao nhiêu tiền của, xương máu, để giữ gìn quyền dân chủ và quyền tự quyết của các dân tộc, các nước đã trịnh trọng bảo đảm quyền dân chủ và tự quyết đó trong Hiến chương Đại Tây Dương và Cựu Kim Sơn.

Trong cuộc chiến tranh thế giới, thực dân phản động Pháp hợp tác với phát xít Nhật Bản. Ngày nay chúng gây nên một cuộc chiến tranh tàn khốc để phá hoại quyền dân chủ của Việt Nam. Chúng xem khinh Hiến chương quốc tế như tấm giẻ rách.

Vậy các bạn không thể ngồi nhìn. Mong các bạn lên tiếng ủng hộ hoà bình, ủng hộ chính nghĩa, ủng hộ dân chủ, ủng hộ Việt Nam.

Hai dân tộc Việt – Pháp cộng tác thân thiện trong khối Liên hiệp Pháp!
Các dân tộc châu á đoàn kết muôn nǎm!
Thế giới dân chủ thắng lợi muôn nǎm!
Việt Nam thống nhất và độc lập muôn nǎm !

Ngày 20 tháng 6 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, t.1, tr.94-95.
cpv.org.vn

 

 

 

Trả lời một nhà báo nước ngoài (22-6-1947)

Hỏi: Ngày nay thế giới rất chú ý đến vấn đề Việt Nam, chúng tôi xin Chủ tịch sẵn lòng cho chúng tôi biết ý kiến của Người về những vấn đề như sau:

1. Vì sao có người tin rằng Chính phủ Việt Nam là Chính phủ cộng sản?

2. Vì cuộc nói chuyện đình chiến giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Pháp vừa rồi không thành công, thì bao giờ chiến tranh sẽ kết liễu?

3. Sau khi chiến tranh kết liễu thì chương trình kiến thiết của Việt Nam sẽ thế nào? Địa vị người trí thức Việt Nam sẽ thế nào?

Trả lời: 1. Tuyên truyền của thực dân phản động Pháp nhất là Đô đốc Đácgiǎngliơ, đã lần lượt đặt cho chúng tôi là cộng sản, phát xít, đế quốc, thân Nhật, bài ngoại, v.v.. Điều đó không có gì đáng lạ, vì họ không ưa chúng tôi, song tôi chắc rằng nhân sĩ thế giới không ai tin họ; một là vì Chính phủ Việt Nam gồm đủ các đảng, các phái và các nhân sĩ không đảng phái, hai là chính sách của Việt Nam rất rõ rệt: cốt làm cho nước Việt Nam thống nhất và độc lập, làm cho dân được tự do và khỏi khổ, khỏi dốt.

2. Bao giờ Việt Nam được thật thà thống nhất và độc lập thì chiến tranh sẽ kết liễu.

3. Chương trình kiến thiết của Việt Nam bước đầu tiên là làm cho dân khỏi khổ, khỏi dốt. Muốn như thế thì chúng tôi phải ra sức tǎng gia sản xuất, muốn tǎng gia sản xuất rộng rãi và chóng có kết quả, thì chúng tôi cần có tư bản, trí thức và lao động. Dân Việt Nam rất siêng nǎng làm và chịu khó, cho nên chúng tôi đủ sức lao động.

Việt Nam có nhiều phụ nguyên, chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước cộng tác thật thà với chúng tôi.

Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chung một phần quan trọng. Một số thì trực tiếp tham gia vào công việc kháng chiến, hy sinh cực khổ, chen vai thích cánh với bộ đội nhân dân. Một số thì hǎng hái hoạt động giúp đỡ ở ngoài.

Nếu các bạn ngoại quốc muốn biết không khí của người trí thức Việt Nam thì vừa đây có một sự thật rất rõ rệt: Sài Gòn – Chợ Lớn là nơi quân Pháp đang chiếm đóng. Tỏ lòng ái quốc là một sự nguy hiểm cho người Việt Nam. Thế mà hơn 700 người trí thức và thương gia tư bản Việt Nam ở vùng đó vừa bạo dạn ký giấy đòi Chính phủ Pháp phải đàm phán với Chính phủ Việt Nam.

Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam sẽ là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất và độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc.

Trả lời ngày 22-6-1947.

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr. 83-84.
cpv.org.vn

 

 

 

Điện vǎn gửi Ban chấp hành Đảng dân chủ Việt Nam (30-6-1947)

Các đồng chí,

Tôi kính gửi lời chúc mừng ngày kỷ niệm thành lập Đảng Dân chủ nǎm thứ ba.

Trong thế giới dân chủ, trong Việt Nam dân chủ, Đảng Dân chủ có một nhiệm vụ rất quan trọng làm cho dân chủ thắng lợi hoàn toàn.

Vì vậy các đồng chí trong Đảng phải có tinh thần đoàn kết với các đảng phái ái quốc và dân chủ khác. Với những người ái quốc và dân chủ không có đảng phái, phải lấy công tác thực tế về việc cứu quốc và kiến quốc mà thi đua nhau.

Mỗi đồng chí phải là người kiểu mẫu trong sự hy sinh phấn đấu cho Tổ quốc, cho đồng bào.

Như thế Đảng Dân chủ chắc sẽ có một tương lai rất vẻ vang, rực rỡ.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 30 tháng 6 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr.96.
cpv.org.vn

Trả lời các nhà báo Việt Nam về việc gặp Pôn Muýt, đại diện Cao uỷ Pháp Bôlae (6-1947)

Hỏi : Xin hỏi ý kiến Cụ đối với những lời Cao uỷ Bôlae tuyên bố vừa đây?

Đáp: a) Cao uỷ Bôlae là một nhà chính trị sáng suốt, chắc ông nhận thấy rằng muốn gây nên sự cộng tác thân thiện Việt – Pháp, thì chỉ có một cách là thừa nhận Việt Nam thống nhất và độc lập thật thà trong khối Liên hiệp Pháp. Vì vậy, ông đã nói: Chế độ thực dân đã chết rồi.

b) Tôi cũng đồng ý kiến với Cao uỷ khi ông nói: Cần phải đình chiến rồi mới có thể bàn bạc một cách bình tĩnh. Chính vì thế, mà từ 25 tháng 4, Chính phủ ta đã đề nghị đình chiến. Giáo sư Pôn Muýt thay mặt Cao uỷ gặp tôi và Hoàng Bộ trưởng 1 đã đưa những điều kiện mà chúng tôi không thể nhận. Lúc đó ông Muýt nói, và sau đó, tin Pháp nói rằng Chính phủ Pháp sẽ trả lời chính thức. Nhưng đến nay, chúng ta vẫn chưa thấy trả lời. Thế là chúng ta đã nhẫn nại lắm.

c) Cao uỷ lại nói rằng: Ông muốn rằng trong cuộc xung đột này sẽ không có người thắng, kẻ bại. Câu đó tôi cũng đồng ý. Chính trong những lời kêu gọi Chính phủ và nhân dân Pháp tôi đã mấy lần nói như thế. Hai điều trên đó đại khái ý kiến hai bên giống nhau.

d) Cao uỷ Bôlae nói thêm muốn dàn xếp sự hoà bình lâu dài

với tất cả các đảng phái yêu nước. Thì Chính phủ Việt Nam chẳng những gồm có tất cả các đảng phái mà lại nhiều nhân sĩ không đảng phái yêu nước. Họ đã đồng cam cộng khổ với toàn thể đồng bào. Họ đã cùng toàn thể đồng bào hy sinh đấu tranh. Nếu Cao uỷ Bôlae thật tình muốn nói chuyện với những đảng phái chân chính trong nước thì không phải tìm đi đâu xa.

Hỏi: Thưa Cụ, tin Pháp có đồn rằng Cụ đi Hồng Công gặp ông Cố vấn Vĩnh Thụy, tin ấy có thật không ?

Đáp: Thông tin Pháp thường phóng nhiều tin không đúng. Ta không thể cấm họ. Tôi và nhiều anh em trong Chính phủ là bạn quen của Cố vấn Vĩnh Thuỵ. Cố vấn đi lâu ngày, chúng tôi rất nhớ. Đồng thời cũng mong Cố vấn về để cùng nhau bàn việc nước.

Nhưng đường xa mà lòng gần. Cố vấn Vĩnh Thuỵ luôn luôn nhớ rằng hành động của người phải hợp với chính sách của Chính phủ và nhân dân. Và Chính phủ cùng nhân dân ta luôn luôn nhớ và tin nơi lòng trung thành mà Cố vấn Vĩnh Thuỵ đã thề trước bàn thờ Tổ quốc và trước mặt toàn dân.

Trả lời tháng 6-1947.

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr. 87-88.
cpv.org.vn

Thương binh Trung tâm Điều dưỡng thương binh Duy Tiên, Hà Nam báo công dâng Bác

Trong không khí cả nước đang sôi nổi hướng tới kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2012) và tích cực thực hiện công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, Trung tâm Điều dưỡng Thương binh Duy Tiên, Hà Nam đã tổ chức cho Đoàn đại biểu gồm 139 người về thăm Thủ đô Hà Nội và tổ chức lễ báo công dâng Bác tại Quảng trường Ba Đình lịch sử. Đoàn gồm các thương bệnh binh nặng, vợ con thương bệnh binh và các cán bộ, nhân viên của Trung tâm.

Thuong binh Duy tienĐoàn Thương binh Trung tâm Điều dưỡng thương binh
Duy Tiên, Hà Nam báo công dâng Bác

 Đón và tiếp Đoàn tại Nhà khách số 8 Hùng Vương, đồng chí Đại tá Nguyễn Văn Thanh – Phó Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giới thiệu với Đoàn về nhiệm vụ của đơn vị và quá trình giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đại biểu. Đồng chí bày tỏ sự cảm phục trước những chiến công, sự đóng góp to lớn của thương binh, bệnh binh, những người đã hy sinh một phần xương máu  vì độc lập tự do của Tổ quốc. Đồng chí thân tình hỏi thăm sức khoẻ, động viên các thương binh, bệnh binh luôn vượt lên khó khăn, chiến thắng bệnh tật, sống vui, sống khoẻ và tiếp tục cống hiến, động viên lớp con cháu tiếp tục giữ vững truyền thống anh hùng của cha ông.

Thay mặt Đoàn đại biểu, đồng chí Nguyễn Sĩ Lương – Giám đốc Trung tâm trân trọng cảm ơn đơn vị đã nhiệt tình đón tiếp và khẳng định Trung tâm sẽ luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị là chăm sóc phụng dưỡng các thương bệnh binh.

Trung tâm điều dưỡng thương binh Duy Tiên, Hà Nam được thành lập tháng 6 năm 1957. Hiện nay, Trung tâm đang chăm sóc các thương bệnh binh đến từ 18 tỉnh, thành phố từ Quảng Trị trở ra. Trong đoàn đi thăm Lăng Bác lần này có 61 thương binh nặng (tỷ lệ thương tật 81% trở lên), có 3 đồng chí đã từng tham gia kháng chiến chống Pháp, còn lại là tham gia kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh Biên giới phía Bắc. Một nửa trong số họ phải ngồi trên xe lăn do bị  thương cột sống, do teo cơ… Đi cạnh các anh là những người vợ đã hết lòng thương yêu, tận tụy chăm sóc các anh và những người con hiếu thảo, chịu thương, chịu khó, luôn biết vâng lời cha mẹ.

Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, nhân viên của Trung tâm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao. Đội ngũ y, bác sĩ luôn vượt qua mọi khó khăn vất vả để chăm lo chu đáo từng bữa ăn, giấc ngủ cho các anh chị em thương bệnh binh, đảm bảo cuộc sống vật chất và tinh thần ngày càng đầy đủ hơn cho họ. Những cán bộ, nhân viên làm việc ở Trung tâm mỗi người một quê, với những công việc khác nhau, cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, vất vả nhưng họ đều rất tự hào được phục vụ, công tác trong môi trường đầy tính nhân văn.

Những thương bệnh binh ở Trung tâm luôn đoàn kết, yêu thương, cảm thông chia sẻ với nhau. Họ coi nhau như người thân và coi Trung tâm như một gia đình lớn của mình. Kẻ thù đã cướp đi phần thân thể, song thấm nhuần lời dạy của Bác “Thương binh tàn nhưng không phế”, các anh luôn là tấm gương sáng về nghị lực và đức hy sinh.

Trước anh linh của Bác, các anh nguyện hứa: “Tự hào có Bác, học tập và làm theo tấm gương của Bác, chúng con nguyện đoàn kết một lòng, yêu thương, đùm bọc, vượt lên khó khăn để xứng đáng với lời dạy của Bác”./.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu thanh, thiếu niên kiều bào tham dự Trại hè Việt Nam 2012 vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 14/7/2012, 170 thanh, thiếu niên kiều bào từ nhiều nước trên thế giới về tham dự Trại hè Việt Nam 2012 đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”. Đây là những em có thành tích trong học tập, lao động và có nhiều đóng góp cho phong trào xây dựng cộng đồng đoàn kết, hướng về quê hương, đất nước.

Trai heĐoàn đại biểu thanh, thiếu niên kiều bào tham dự

Trại hè Việt Nam 2012 vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Với chủ đề “Về miền Đất Đỏ”, Trại hè Việt Nam 2012 hướng tới tưởng nhớ 60 năm Ngày hy sinh của nữ anh hùng Võ Thị Sáu, kỷ niệm 150 năm Nhà tù Côn Đảo và 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ, Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài – Bộ Ngoại giao phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức Trại hè Việt Nam 2012 cho thế hệ trẻ kiều bào ở khắp nơi trên thế giới giúp thanh, thiếu niên kiều bào có điều kiện tiếp cận và hiểu biết sâu sắc hơn về cội nguồn văn hóa, sự đoàn kết của các dân tộc Việt Nam, qua đó nâng cao lòng tri ân công đức với tổ tiên, gắn bó với quê hương, đất nước của các em.

Sau lễ viếng Bác, các đại biểu kiều bào sẽ tham dự nhiều hoạt động ý nghĩa khác như: Thăm và giao lưu với bà con dân tộc thiểu số tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam; dâng hương tại Tượng đài Ngã Ba Đồng Lộc; dâng hoa tại Tượng đài Hồ Chí Minh và tham quan Khu Di tích Kim Liên ở Nghệ An; dự lễ tưởng niệm anh linh các liệt sỹ tại Côn Đảo.

Với bản thân mỗi bạn trẻ, việc tham dự trại hè không chỉ giúp họ có cơ hội được về thăm quê hương, xứ sở, mà còn là dịp để hiểu thêm về cội nguồn của mình, góp phần bồi đắp tinh thần đoàn kết dân tộc. Bạn Nguyễn Trà My, Việt kiều tại Cộng hòa Séc tâm sự: “Em sinh ra ở nước ngoài và ít có dịp về thăm Việt Nam. Sống cùng cộng đồng người Việt nên em mới chỉ hình dung ra đất nước mình qua lời kể của mọi người. Lần này được về Việt Nam, được tìm hiểu nhiều về lịch sử, em thật sự thấy cảm động và tự hào về con người và đất nước mình”. Đại diện nhóm sinh viên Việt kiều tại Trung Quốc cũng chia sẻ: “Trại hè là cơ hội để thế hệ trẻ xa quê hương không bao giờ lãng quên đất nước mình, càng hiểu nhiều về dân tộc mình, càng tự tin khi đứng trước bạn bè quốc tế. Qua những dịp thế này chúng em không chỉ được gặp gỡ các bạn bè trong nước mà còn có cơ hội để luyện tập tiếng Việt tốt hơn dù không sinh sống ở trong nước”.

Trại hè Việt Nam là hoạt động thường niên kể từ năm 2004 và trở thành điểm hẹn của thế hệ trẻ Việt kiều. Với những hoạt động phong phú, Trại hè thực sự là cơ hội để các bạn trẻ gặp gỡ và giao lưu với thanh niên trong nước, qua đó cùng nhau tìm hiểu về lịch sử đất nước để tự hào về nguồn gốc của mình và quảng bá hình ảnh Việt Nam tới bạn bè quốc tế./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

 

 

 

Bác dạy một người làm tướng

Bộ đội Khu 3 trong kháng chiến chống Pháp thường kể chuyện, phàn nàn nhưng vẫn thích thú về một Trung đoàn trưởng hay quát mắng, có khi “ục” cả lính. Tuy vậy, anh em vẫn quý mến cán bộ này vì lòng dũng cảm, ngay thẳng, “xong việc là thôi” chẳng để bụng lâu.

Đó là “chú Nghĩa, đảng viên, mọi điều tôi đã dặn kỹ, xin tiên sinh an tâm”. Đây là lời đồng chí Vũ Anh giới thiệu người giao thông kiêm bảo vệ đồng chí Vương, tức Bác Hồ – tại Côn Minh năm 1940.

Chú Nghĩa đã được đi theo Bác trong nhiều lần công tác, nhất là đã hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Bác từ Côn Minh về nước an toàn cuối năm 1940.

Chú Nghĩa tâm sự với đồng chí Vũ Anh:

“Em biết được phục vụ Bác là một vinh dự lớn. Nhưng anh biết em rồi, em chỉ thích trực diện đánh nhau với địch, còn bảo vệ Bác, anh giao cho người khác…”

Đồng chí Vũ Anh thưa lại với Bác. Ban đầu Bác chưa đồng ý. Sau, nhờ có đồng chí Hoàng Hữu Nam nói thêm vào, Bác mới cho gọi chú Nghĩa:

– Chú đòi được ra chiến đấu, Bác cũng không ngăn. Nhưng Bác chỉ phân vân hai điều: Một là, tính chú nóng quá. Bây giờ chú là lính. Cách mạng phát triển, quân đội phát triển mai sau chú cố gắng, sẽ là “Quan”, là “Tướng”. Tướng mà tính nóng là hỏng việc; hai là, tính chú liều quá. Có Bác bên cạnh mà chú còn dám bắt gà, bắt ngựa của dân sau này ra “hùng cứ một phương chú sẽ còn làm nhiều điều sai trái, ai ngăn được chú? Hoặc như việc chú tự ý tiêm ký ninh vào “ven” cho Bác cũng là việc liều. Bác chưa thấy ai tiêm ký ninh vào “ven” như chú cả.

Nhưng thôi, Bác còn sống là may rồi. Lần này ra chiến đấu chú nhớ phải phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm.

Chừng như chưa chắc chắn, trước khi để chú Nghĩa ra về, Bác hỏi gặng:

– Chú có hứa với Bác là sẽ khắc phục khuyết điểm để mau chóng tiến bộ không?

– Thưa Bác, cháu xin hứa.

Bác bắt tay chú Nghĩa.

Ít lâu sau, Pháp bị Nhật đảo chính. Có hai vợ chồng Chánh Mật thám Bắc Kạn và năm tên Pháp chạy sang Trung Quốc. Không may gặp đơn vị của chú Nghĩa, chú Nghĩa giải quyết xong bọn mật thám, cho phép anh em lính khố đỏ ai muốn về, được về. Chú Nghĩa thu được 6 súng ngắn, 6 đồng hồ, mấy vạn đồng Đông Dương.

Chú Nghĩa kéo quân về báo cáo với đồng chí Vũ Anh, ngỡ mình sẽ được khen, nhưng nghe xong, mặt đồng chí Vũ Anh tái mét đi.

– Lẽ nào, chú không biết một tí gì về chính sách đoàn kết của Mặt trận Việt Minh trong giai đoạn hiện nay ra sao? Việc này tôi báo cáo với Bác ra sao?

Vô cùng ân hận, lại nhớ đến lời Bác dặn, lời hứa của mình, chú Nghĩa bàn cách với đồng chí Vũ Anh, lấy cớ phong trào đang phát triển nên đã cử chú Nghĩa lên đường ngay, tránh một cuộc “gặp mặt” chắc chắn chẳng nhẹ nhàng gì với Bác, điều mà Bác đã lường trước, điều mà chú Nghĩa vừa mới hứa xong!

Việc “tày đình” như vậy làm sao giấu được Bác. Nhưng rồi Bác cũng thông cảm cho “chú Nghĩa” đã biết ân hận, đã thấy được khuyết điểm của mình.

Như đã nói ở trên trong kháng chiến chống Pháp, “chú Nghĩa” đã là Trung đoàn trưởng mà vẫn còn đôi chút nóng tính, quát mắng chiến sỹ.

Hơn 20 năm sau, khi giao chức vụ Tư lệnh Phòng không cho “chú Nghĩa”, Bác dạy:

– Chức chú càng cao thì chú càng phải thương yêu chiến sỹ nhiều hơn.

“Chú Nghĩa” của chúng ta chính là Thượng tướng Phùng Thế Tài hôm nay.

(Trích trong “120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)
Theo baclieu.gov.vn
Phương Thúy (st).

Thư gửi đồng bào trung du và hạ du chống lụt (6-1947)

Hỡi đồng bào yêu quý,

Mùa lụt đã đến gần. Nếu lụt thì đói. Lụt cũng là một thứ giặc ghê gớm. Người ta thường nói “thuỷ, hoả, đạo, tặc”.

Chúng ta phải ra sức ngǎn giặc lụt cũng như chống giặc ngoại xâm. Chính phủ đã cố gắng sǎn sóc đê điều. Như thế cũng chưa đủ. Toàn thể đồng bào phải hǎng hái giúp Chính phủ trong công việc hộ đê cũng như đang giúp Chính phủ trong công việc kháng chiến.

Tôi tha thiết kêu gọi đồng bào bất kỳ già trẻ, trai gái, mọi người đều phải coi việc canh đê, phòng lụt là việc thiết thân của mình.

“Lụt thì lút cả làng,

Muốn cho khỏi lụt thiếp chàng cùng lo”.

Chúng ta phải thực hành câu ca dao đó. Ai cũng phải tham gia công việc sửa đê, canh đê.

Hễ chỗ nào sạt thì phải dồn tất cả lực lượng đến đó mà sửa chữa ngay. Làng này phải giúp làng khác. Vùng này phải giúp vùng khác.

Mỗi nhà lại cần đan thuyền và bắc sàn ngay. Chớ để nước đến chân mới nhảy.

Các bộ đội, dân quân, tự vệ phải cố gắng giúp đồng bào những công việc đó. Các Uỷ ban kháng chiến, Uỷ ban hành chính, các đoàn thể phải phụ trách tuyên truyền, cổ động, khuyên bảo, nhắc nhủ đồng bào làm những công việc đó.

Các anh em nhân viên Công chánh phải hǎng hái chịu khó, thiết thực hợp tác với các cơ quan, các đoàn thể để bày vẽ và kiểm soát những công việc đó. Nơi nào làm những việc đó xong trước hết, chu đáo hơn hết, thì các cơ quan địa phương phải lập tức báo cáo lên, Chính phủ sẽ có khen thưởng.

Chúng ta phải kiên quyết tranh cho được thắng lợi trong việc chống giặc lụt. Thắng lợi sẽ giúp cho ta thắng lợi trong cuộc đánh giặc ngoại xâm. Mong toàn thể đồng bào gắng sức.

Tháng 6 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH
Sách Lời Hồ Chủ tịch,

Nha Thông tin Việt Nam,
1948, t.1, tr. 85-86.
cpv.org.vn

 

 

 

Người tuyên truyền và cách tuyên truyền (26-6-1947) (1)

Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại.

Muốn thành công, phải biết cách tuyên truyền.

Thí dụ tuyên truyền trường kỳ kháng chiến.

Trước hết, mình phải hiểu rõ vì sao phải kháng chiến. Không kháng chiến có hại thế nào. Kháng chiến có lợi thế nào. Vì sao kháng chiến phải trường kỳ. Trong cuộc trường kỳ kháng chiến phải qua những gian nan cực khổ thế nào. Vì sao ta phải gắng chịu những sự gian nan cực khổ ấy. Trong lúc kháng chiến, mỗi một lớp nhân dân phải làm những công việc gì. Vì sao kháng chiến nhất định thắng lợi.

Hai là phải biết cách nói. Nói thì phải giản đơn, rõ ràng, thiết thực. Phải có đầu, có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được.

Chớ dùng những danh từ lạ, ít người hiểu. Chớ nói ra ngoài đề, chớ lắp đi lắp lại. Chớ nói quá một tiếng đồng hồ, vì nói dài thì người ta chán tai, không thích nghe nữa.

Muốn tránh những khuyết điểm đó, trước khi nói, phải viết một dàn bài rõ ràng, rồi cứ xem đó mà nói.

Ba là phải có lễ độ. Thường những anh em thanh niên, đến nói trong một cuộc mít tinh, mở miệng là: “Các đồng chí!”. Ba tiếng đó

không phải là vô phép, nhưng vì không hợp hoàn cảnh, nên chướng tai. Một hôm, tôi đến dự một cuộc mít tinh, đã thấy một kinh nghiệm như vậy. Một cụ già nói khẽ với tôi:

“Cụ Hồ là Chủ tịch cả nước, lại có tuổi, thế mà Cụ luôn luôn nói: Thưa các cụ, các ngài, v.v.. Đằng này, các cậu thanh niên bằng lứa cháu chúng mình, mà có ý muốn làm thầy chúng mình…”.

Đó là một điều nên chú ý.

Người tuyên truyền cần phải chịu khó, chịu khổ, khéo ở, siêng làm. Chớ tưởng rằng: Đi phớt qua địa phương, diễn thuyết một hai giờ đồng hồ mà có kết quả. Đến một địa phương nào, cần phải đi thǎm các cụ phụ lão, các người phụ trách, rồi đi thǎm các nhà đồng bào để gây cảm tình, và để hiểu biết tình hình địa phương. Đó là một việc cần cho tuyên truyền.

Hai là dân ở đó sinh hoạt thế nào, ta cũng phải sinh hoạt như họ. Nếu dân dậy sớm mà mình ngủ trưa, dân đang làm việc mà mình nằm ngủ lì, thì sẽ bị dân ghét, và ảnh hưởng xấu đến việc tuyên truyền.

Thấy dân làm việc gì, bất kỳ to nhỏ, ta cũng ra tay làm giúp. Đó là cách gây cảm tình tốt nhất, nó sẽ giúp cho việc tuyên truyền kết quả gấp bội.

Thái độ phải mềm mỏng: đối với các cụ già phải cung kính, với anh em, phải khiêm tốn, với phụ nữ, phải nghiêm trang, với nhi đồng, phải thân yêu, với cả mọi người, phải thành khẩn.

Mong anh em đi tuyên truyền làm đúng như thế, thì chắc sẽ thành công to.

A.G.

Báo Sự thật, số 79, từ ngày 26-6 đến ngày 9-7-1947.
cpv.org.vn

————————————-

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

 

 

 

Thư gửi ông Đinh Công Niết (1-7-1947)

Ngày 1 tháng 7 nǎm 1947

Gửi ông Đinh Công Niết,
Chủ tịch châu Lương Sơn,

Tôi thay mặt Chính phủ, gửi lời khen ông đã tận tâm làm việc kháng chiến, và đã kêu gọi đồng bào Lương Sơn hǎng hái tham gia kháng chiến.

Mong ông cố gắng hơn nữa, Chính phủ sẽ ghi nhớ công trạng của ông.

Chào quyết thắng
Chủ tịch Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Bản gốc lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Đinh Công Phủ (1-7-1947)

Ngày 1 tháng 7 nǎm 1947

Gửi ông Đinh Công Phủ,1)

Tôi được tin rằng: Đồng bào họ Đinh đã nêu lên cái khẩu hiệu ái quốc và oanh liệt, là:

“Họ Đinh thề không đội trời chung với giặc Pháp”.

Tôi lại được tin rằng: Lúc giặc Pháp xâm vào tỉnh Hoà Bình, ông đã tận tâm giúp việc kháng chiến chống giặc.

Vậy tôi thay mặt Chính phủ gửi lời khen ông và đồng bào họ Đinh, và tặng ông một bức ảnh làm kỷ niệm thân ái.

Chào quyết thắng
Chủ tịch Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Bản gốc lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Lê Ngọc Tiến, Ban chấp hành Đảng xã hội Việt Nam (5-7-1947)

Cảm ơn thơ đồng chí gửi cho tôi ngày 22 tháng 6. Theo ý tôi, thì Đảng Xã hội cũng như các đảng ái quốc khác:

Về nội bộ – thì phải ra sức phát triển, làm cho Đảng có lực lượng.

Về đảng viên – mỗi người phải ra sức học tập vừa lý luận và thực hành. Mỗi người phải tích cực công tác, phải cố gắng làm gương cho dân chúng. Làm nhiều hơn nói.

Về chính trị – Hiện nay, tất cả các đảng chỉ có một đường chính trị chung: kiên quyết trường kỳ kháng chiến, để tranh lấy thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Và đối với các đoàn thể khác cùng dân chúng, chỉ có một chính sách là đại đoàn kết.

Mong các đồng chí Xã hội làm đúng như thế, thì Đảng nhất định phát triển mau chóng và vững vàng.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 5 tháng 7 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984, t.4, tr.398.
cpv.org.vn