Tag Archive | Hồ Chí Minh

Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước sau cuộc hội kiến với Pôn Muýt, đại diện Cao uỷ Pháp Bôlae (5-1947)

Cùng toàn thể đồng bào,

Cùng bộ đội, dân quân, tự vệ toàn quốc.

Toàn dân ta kháng chiến đến nay đã 5 tháng.

Đồng bào Nam Bộ kháng chiến đến nay là 20 tháng.

Người Pháp đổ máu đã nhiều. Dân ta hy sinh cũng không ít.

Vì nhân đạo, vì hoà bình, vì muốn giữ cảm tình với dân Pháp, Chính phủ ta đề nghị với Chính phủ Pháp, cǎn cứ nguyện vọng thống nhất và độc lập của dân ta, tìm cách dàn xếp cuộc chiến tranh.

Song bọn quân phiệt thực dân Pháp, quen thói hung tàn, bất nhân, vô lễ. Chúng khinh miệt quân đội ta và nhân dân ta. Chúng dám đề ra những điều kiện kiêu hãnh ngang ngược. Chúng đòi:

1- Ta phải nộp vũ khí cho chúng.

2- Ta phải để cho quân đội Pháp tự do đi khắp nước ta, v.v..

Thế là chúng đòi ta đầu hàng. Chúng đòi bóp cổ Tổ quốc ta. Chúng đòi ta để cho chúng tha hồ đốt làng, cướp của. Tàn sát nhân dân, hãm hiếp phụ nữ, phá hoại đền chùa và nhà thờ. Thế là chúng đòi toàn thể đồng bào ta và con cháu ta đời đời quỳ gối, cúi đầu làm nô lệ cho chúng.

Hỡi toàn thể đồng bào,

Hỡi toàn thể bộ đội, dân quân, tự vệ,

Chúng ta quyết không để cha mẹ, vợ con ta cho chúng giết hại, quyết không để chị em, vợ con ta cho chúng hãm hiếp, quyết không để nhà thờ, chùa miếu ta cho chúng đốt phá, quyết không để làng xóm, tài sản đồng bào ta cho chúng cướp bóc.

Chúng ta quyết không chịu làm “vong quốc nô”. Vì vậy tôi thay mặt Chính phủ kêu gọi toàn thể đồng bào phải ra sức kháng chiến, giúp đỡ bộ đội đánh giặc.

Tôi ra lệnh cho toàn thể bộ đội, dân quân, tự vệ, phải kiên quyết chiến đấu, xung phong sát địch.

Mỗi quốc dân phải là một chiến sĩ. Mỗi làng phải là một chiến hào. Chúng ta phải kiên quyết hy sinh chiến đấu để đánh tan bọn quân phiệt thực dân, để tranh lấy thống nhất và độc lập.

Hỡi toàn thể đồng bào,

Hỡi toàn thể các chiến sĩ,

Tổ quốc đang kêu gọi chúng ta. Thắng lợi đang chờ đợi chúng ta. Tiến lên! Tiến lên!

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!

Việt Nam thống nhất, độc lập muôn nǎm!

HỒ CHÍ MINH

Viết khoảng cuối tháng 5-1947.
Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

 

 

 

Thư gửi nhân dân Pháp sau cuộc hội kiến với Pôn Muýt, đại diện Cao uỷ Pháp Bôlae (25-5-1947)

Hỡi nhân dân Pháp!

Từ 20 tháng nay, thực dân Pháp đã xô đẩy dân tộc Việt Nam vào chiến tranh.

Hàng mấy ngàn thanh niên Pháp và Việt hoặc bị thương hoặc tử trận.

Những công cuộc kinh doanh của người Pháp tiêu tan. Nhiều thành phố và hàng trǎm làng mạc Việt Nam bị quân Pháp thiêu huỷ. Hàng vạn thường dân Việt Nam bị quân Pháp tàn sát. Đất nước chúng tôi tan hoang và đẫm máu.

Chúng tôi bao giờ cũng chuộng hoà bình, vì vậy cho nên ngày 25-4 vừa rồi chúng tôi đề nghị với Chính phủ Pháp hãy đình chỉ ngay cuộc lưu huyết và mở cuộc điều đình để giải quyết bằng những phương sách ôn hoà sự xung đột Việt – Pháp.

Nhưng bọn quân phiệt thực dân đã đưa ra những điều kiện chính sau này để buộc chúng tôi:

1. Họ đòi chúng tôi phải nộp hết vũ khí cho họ.

2. Họ đòi quyền tự do đi lại cho quân lính họ ở khắp nơi trên đất nước Việt Nam.

3. Họ đòi trả lại cho họ tất cả những người lính Pháp giác ngộ và chống thực dân đã không chịu tham gia vào cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này. Thế là bọn quân phiệt thực dân bị mù mắt trước một vài thắng lợi không có tương lai và chỉ có bề ngoài không có thực sự, đã cố ý đưa ra những điều kiện vô lý và nhục nhã để cho hai dân tộc ta không thể thân thiện với nhau được, để cho họ tiếp tục việc hãm hiếp, cướp bóc, đốt phá, giết người. Họ muốn tiếp tục chiến tranh.

Hỡi nhân dân Pháp!

Các bạn là những người đã chiến đấu oanh liệt để bảo vệ Tổ quốc, các bạn hãy đứng vào địa vị chúng tôi, các bạn có thể nào chịu đựng những điều kiện như thế không?

Các bạn có tin rằng như thế sẽ là thực hiện được sự cộng tác Việt – Pháp không? Các bạn có tin rằng như thế sẽ thực hiện được khối Liên hiệp Pháp không? Chiến tranh sẽ tiếp tục. Máu người Pháp và người Việt sẽ đổ thêm nữa, khối Liên hiệp Pháp sẽ bị tiêu tan, tất cả những điều đó, bọn quân phiệt thực dân phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Chúng tôi muốn hoà bình. Chúng tôi muốn nước chúng tôi độc lập và thống nhất trong Liên hiệp Pháp.

Bọn quân phiệt thực dân đã bắt buộc chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, chúng tôi lấy câu châm ngôn hiên ngang của các bạn làm châm ngôn của chúng tôi:

“Thà chết không làm nô lệ” .

Chúng tôi chiến đấu vì công lý. Chúng tôi sẽ tồn tại; chúng tôi sẽ chiến thắng.

Hỡi nhân dân Pháp!

Các bạn hãy giúp chúng tôi cứu lấy tính mạng của bao nhiêu thanh niên Pháp và Việt, cứu lấy tình thân thiện giữa hai dân tộc, và cứu lấy khối Liên hiệp Pháp.

Đả đảo chủ nghĩa quân phiệt thực dân!

Nước Pháp dân chủ muôn nǎm!

Nước Việt Nam độc lập và thống nhất, liên hiệp với nước Pháp trong khối Liên hiệp Pháp muôn nǎm!

Ngày 25 tháng 5 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, t.1, tr.77-78.
cpv.org.vn

 

 

 

Gửi anh em vǎn hoá và trí thức Nam Bộ (25-5-1947)

Cùng đồng bào vǎn hoá và trí thức Nam Bộ,

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn sự ủng hộ của các bạn. Chính phủ cùng toàn thể đồng bào Việt Nam kiên quyết chiến đấu, tranh quyền thống nhất và độc lập cho nước nhà để cho vǎn hoá cũng như chính trị và kinh tế, tín ngưỡng, đạo đức đều được phát triển tự do. Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà 1 , mà anh em vǎn hoá và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.

Nhân dân ta sẵn lòng thân thiện với nhân dân Pháp, nhưng quyết không chịu làm nô lệ cho thực dân phản động. Anh em vǎn hoá với trí thức là lớp tiên tri tiên giác 2 , càng phải quyết tâm không chịu làm nô lệ.

Tôi xin gửi anh em lời chào thân ái và quyết thắng.
Ngày 25 tháng 5 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, t.1, tr.76.
cpv.org.vn

Gửi nam nữ chiến sĩ dân quân, tự vệ và du kích toàn quốc (27-5-1947) (14)

Tôi thay mặt chính phủ và toàn thể đồng bào gửi lời khen ngợi các chiến sĩ.

Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã.

Các chiến sĩ dân quân, tự vệ và du kích ở Nam Bộ, ở Thủ đô, ở miền duyên hải và ở các nơi, đã chứng rõ sự thực đó một cách rất anh hùng. Từ đây về sau, lực lượng ta càng ngày càng vững, kinh nghiệm ta càng ngày càng nhiều thì ta càng tỏ cho địch quân biết, tỏ cho thế giới biết rằng dân quân, tự vệ và du kích Việt Nam là những người ái quốc sắt đá, là những chiến sĩ anh hùng.

Nhưng chúng ta không tự mãn tự túc, không kiêu ngạo, chúng ta phải luôn luôn thực hành mấy điều này:

1. Trong bộ đội phải đồng cam cộng khổ. Phải giữ kỷ luật, phải siêng tập tành, phải giữ bí mật, luôn luôn cẩn thận, lúc có địch cũng trấn tĩnh như không địch, lúc xa địch cũng nghiêm ngặt như gần địch;

2. Đối với dân – phải bảo vệ dân, phải giúp đỡ dân, phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu;

3. Đối với công việc – phải lập làng kháng chiến khắp nơi, phải luôn tích cực hành động;

4. Đối với địch – phải kiên quyết, dũng cảm. Phải có kế hoạch, mưu trí, phải hữu tiến vô thoái, phải thi đua nhau trong việc sát giặc, cướp súng, v.v.. Song đối với tù binh thì phải ưu đãi họ.

Hỡi chiến sĩ yêu quý, tôi nhắc các chiến sĩ kiên quyết làm đúng những điều đó, tôi chắc trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất độc lập chắc chắn sẽ thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 27 tháng 5 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr.81-82.
cpv.org.vn

——————————–

(14) Hội nghị dân quân, tự vệ du kích toàn quốc : Họp ngày 24-5-1947, tại Việt Bắc. Hội nghị đã kiểm điểm hoạt động của dân quân, tự vệ và du kích; bàn việc thống nhất tổ chức dân quân, tự vệ và du kích trong cả nước; công bố 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật dân vận của dân quân, tự vệ và du kích. Tr.132.

 

 

 

Kỷ niệm về những năm tháng phục vụ Bác Hồ

Ngày 11-10-1947 tôi được giao nhiệm vụ phục vụ Bác Hồ, hôm đó đúng vào ngày Bác di chuyển chỗ ở. Nghe tin báo địch sẽ nhảy dù xuống một số địa điểm, vì vậy nửa đêm chúng tôi đã phải lên đường.

ky niem nhung nam thang phuc vụ Bac HoChủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Việt Bắc

Ðoàn chúng tôi đi trước để chuẩn bị địa điểm. Ðến Tràng Xá, chúng tôi mượn nhà dân để đón Bác, sau đó mới làm lán để Bác ở.

Ở Tràng Xá, Tân Hồng, anh em vận động nhân dân ủng hộ đội võ trang tuyên truyền. Dân có gì ủng hộ nấy. Nhiều nhà có lợn, gà đã đem cúng cho người ốm khỏi bệnh, nên họ ủng hộ một con chó. Tôi về báo cáo Bác, Bác nói:

– Mình đang thiếu thốn, dân ủng hộ gì cũng quý cả, cần gì cứ phải gà với lợn. Nhưng các chú phải ghi lại để sau này có điều kiện hoàn trả lại cho dân, cho tương xứng với cái người ta đã ủng hộ mình.

Biết là nhân dân rất tình cảm, yêu quý những người cách mạng, đã ủng hộ một cách vô tư, nhưng nhớ lời Bác dặn, sau đó chúng tôi đã mua thuốc lào mang đến làm quà cho mỗi nhà một bánh.

Lán của Bác lúc đầu làm ở phía ngoài bìa rừng, sau có tin Pháp nhảy dù mới làm sâu vào bên trong. Thời gian này Bác phải di chuyển chỗ ở đến nhiều nơi.

Năm 1947 lên Bản Ca. Năm 1948 ở chân đèo De và ăn Tết ở đó. Ở Tràng Xá một thời gian Bác lại chuyển lên Khuôn Tát ở nhà anh Thảo. Ở Khuôn Tát cứ sáng dậy nấu ăn xong lại lên núi, được ba, bốn ngày thì không ở đó nữa mà lên Bản Ca (cuối năm 1947). Ðồng chí Lê Giản đưa Bác đi, Bác cũng đi bộ. Ở Bản Ca một thời gian, năm 1948 chuyển về chân đèo De, ở một cái lán bên cạnh “Trại nhi đồng”.

Năm 1949 sang Tân Trào ở nhà anh Quyết, dưới chân núi Hồng. Thời gian này Bác di chuyển chỗ ở liên tục. Bác lên ở Bản Ca hai lần. Lần thứ nhất, giặc Pháp nhảy dù, đồng chí Lê Giản đưa Bác lên Bản Ca. Lần thứ hai vào năm 1951 Bác lại lên Bản Ca ở xã Thành Công.

Năm 1951 tôi đánh bóng bị đau tức ngực sau đó bị ốm, Bác cho tôi đi nghỉ cùng anh Tô (đồng chí Phạm Văn Ðồng), anh Ðẩu và anh Trần Quý Kiên. Tôi đi nghỉ trở về thì Bác đã chuyển lên đèo Cón, ở ngã ba, một đường đi Bắc Cạn, một đường đi Thành Công, một đường rẽ vào chỗ Bác ở.

Tôi và đồng chí Phúc được chọn vào phục vụ Bác cùng một đợt. Lần đầu tiên vào gặp Bác chúng tôi rất lúng túng. Chúng tôi chào Bác bằng Cụ, Bác cười và bảo đừng gọi thế, gọi Bác thôi.

Bác hỏi tên hai chúng tôi, khi biết chúng tôi tên là Nga và Phúc, Bác nói:

– Bác đặt tên mới cho hai chú là Kiên, Quyết. Các chú phải làm việc như thế nào cho xứng đáng với cái tên của mình.

Tôi còn nhớ mấy anh em phục vụ Bác lúc đó: Đồng chí Trung, đồng chí Dũng và tôi. Tôi được Bác đổi tên là Kiên, đồng chí Phúc đổi tên là Quyết, đồng chí Lộc nấu ăn đổi tên là Ðồng và bác sĩ Chánh đổi tên là Tâm. Cùng với những người bảo vệ được Bác đặt tên Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Ðịnh, Thắng, Lợi, những cái tên được Bác đặt mang nhiều ý nghĩa, thể hiện quyết tâm, đồng lòng kháng chiến. Dù được giao nhiệm vụ gì chúng tôi cũng cố gắng làm thật tốt.

Trong thời gian phục vụ Bác chúng tôi được Bác rất quan tâm. Nhưng Bác quan tâm một cách công bằng chứ không thiên vị ai.

Năm 1950, sau chiến thắng Biên giới, Bác được nhân dân tặng một số quần áo may sẵn, Bác không dùng mà làm quà thưởng cho anh em chúng tôi. Nhưng trong số quần áo đó có nhiều loại khác nhau. Bác tặng chúng tôi, rồi đề nghị bắt số hay nhường nhau, chứ Bác không tự tay thưởng từng người một. Bác bảo làm thế cho công bằng.

Khi anh Lộc, người nấu cơm cho Bác bị ốm, rồi qua đời, Bác buồn lắm. Anh Bảy (đồng chí Phan Mỹ) nói tìm người thay anh Lộc nấu ăn cho Bác. Thấy thế Bác nói:

– Cũng không cần thiết lắm, Bác ăn uống cũng dễ. Trong nhà này cử một chú ra nấu ăn đỡ phải tìm người. Mà các chú cũng phải học mà nấu ăn, sau này về nhà khi có khách còn biết nấu các món ăn. Các chú đóng một quyển sổ nhỏ, gửi mấy cô phụ vận ở Văn phòng Trung ương nhờ các cô ấy ghi cách nấu nướng về mà thực tập.

Do đó năm ấy không lấy người ngoài vào nữa mà chuyển đồng chí Trung sang nấu ăn cho Bác.

Ðồng chí Trung chuyển sang nấu ăn cho Bác nhưng cứ băn khoăn, đi bộ đội mà chẳng được đánh  trận nào, súng đeo rách cả vai áo. Ðồng chí Trung xin chuyển sang chỗ anh Ninh. Biết việc này, một buổi tối Bác cháu cùng ngồi sinh hoạt bên bếp lửa, Bác đem câu chuyện chiếc đồng hồ ra kể với ý nhắc chúng tôi hãy yên tâm với công việc được giao. Bác cũng cho gọi đồng chí Trung lên và nói:

– Công tác cách mạng do Ðảng phân công, mỗi người một việc, các chú làm nhiệm vụ bảo vệ, hãy làm tốt việc được phân công đã.

Tuy thế, đến cuối năm 1952 đồng chí Cẩn được cử về thay đồng chí Trung nấu ăn cho Bác. Ðồng chí Trung được chuyển sang quân đội.

Những năm kháng chiến, Bác ở trên Chiến khu Việt Bắc, mà ở Chiến khu cũng không được an toàn lắm, cứ phải di chuyển chỗ ở luôn. Thấy thế một số đồng chí  thì thầm với nhau:

– Về Thái Nguyên ở có tốt hơn không, làm gì cứ phải ở bí mật, di chuyển mãi thế này cho vất vả.

Bác nghe các đồng chí nói vậy thì giải thích:

– Có bí mật mới có công khai, cũng như có kháng chiến mới có thắng lợi.

Theo cuốn “Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ”, do Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản. NXB Thông tấn, Hà Nội – 2003).

Theo Báo Nhân Dân điện tử
Huyền Trang (st)

Trả lời ông Vaxiđép Rao, thông tín viên hãng Roitơ (5-1947) (1)

Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết sau 5 tháng tranh đấu giành độc lập, về phía Việt Nam đã lợi và đã thiệt những gì về phương diện chính trị cũng như về phương diện quân sự? Xin Chủ tịch cho biết ý kiến về lời tố cáo của những người Pháp nói rằng Việt Nam đã gây ra cuộc xung đột hiện nay?

Trả lời: Về phương diện chính trị, có lợi là nước tôi bây giờ đoàn kết chặt chẽ hơn bao giờ hết.

– Về phương diện quân sự: lợi là chiến tranh du kích đã phát triển khắp trong nước, hại là có hàng ngàn làng bị đốt cháy, hàng vạn thường dân bị tàn sát do bàn tay quân đội Pháp.

– Những lời tố cáo của Pháp hoàn toàn là vu khoát 2 . Nước Việt Nam tha thiết mong hoà bình để kiến thiết. Chứng cớ là nước Việt Nam đã giải tán Uỷ ban kháng chiến tối cao, cải tổ Chính phủ kháng chiến thành Chính phủ kiến quốc, và bắt đầu thực hiện chương trình kinh tế 3 nǎm, v.v.. Nước Việt Nam không có lợi gì gây chiến tranh để làm cho nhân dân thiệt hại và chịu bao nhiêu tang tóc. Ông hãy nhớ lại bài ngụ ngôn của Lã Phụng Tiên 3 “Con chó sói và con cừu”.

Hỏi: Người ta nói các nhà lãnh tụ Việt Nam có ý muốn cầu hoà với người Pháp, sự thực trong việc đó ra sao? Chủ tịch có biết thái độ của người Pháp đối với những sự cố gắng của Ngài để chấm dứt chiến tranh ra sao không?

Trả lời: Chúng tôi đã nhiều lần kêu gọi hoà bình, nhưng nước Pháp không trả lời. Lần cuối cùng, ngày 25-4-1947, bọn tài phiệt thuộc địa Pháp đặt ra cho chúng tôi nhiều điều kiện nhục nhã và không thể nhận được, như nộp khí giới cho Pháp và để cho quân đội Pháp toàn quyền đi lại trên khắp nước chúng tôi. Như thế chúng tôi bắt buộc phải tiếp tục chiến đấu.

Hỏi: Chủ tịch có muốn Chính phủ Pháp tuyên bố rõ rệt thái độ chính trị đối với Việt Nam, cũng như người Anh đã làm đối với ấn Độ và Diến Điện, để giúp cho việc trở lại điều đình không?

Trả lời : Nếu Chính phủ Pháp có một chính sách rõ rệt đối với Việt Nam thì có thể làm cho dễ dàng việc trở lại điều đình.

Hỏi : Xin Chủ tịch cho biết những điều kiện hoà bình tối thiểu để có thể giải quyết vấn đề Việt – Pháp bằng chính trị. Ngài có muốn được ngay quyền hoàn toàn kiểm soát quân đội, tài chính, ngoại giao, thuế quan và thương mại? Nếu nhận ở trong khối Liên hiệp Pháp, thì chính sách chính trị của nước Việt Nam sẽ theo chính sách của Pháp trong toàn cục hay là nước Việt Nam sẽ tự do tuỳ hoàn cảnh mà theo một chính sách riêng của mình?

Trả lời : Chúng tôi muốn thống nhất và độc lập trong khối Liên hiệp Pháp.

Hỏi : Xin Chủ tịch giải thích quan niệm của Chủ tịch về độc lập và thống nhất của nước Việt Nam?

Thống nhất là có một Chính phủ trung ương cho toàn quốc hay là Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, mỗi xứ có một chính phủ riêng, sẽ thoả thuận với nhau hợp thành một nước Cộng hoà liên bang? một xứ nào trong những xứ đó có thể tự do và có quyền lực đứng ngoài khối liên hiệp Việt Nam mà không cần trưng cầu dân ý được không?

Trả lời: Thống nhất nghĩa là một Chính phủ trung ương, một Nghị viện trung ương cho toàn quốc, Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ sẽ có cơ quan hành chính tự trị riêng, do nhân dân mỗi kỳ bầu lên theo chế độ dân chủ và dưới sự kiểm soát của Chính phủ trung ương.

Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào.

Hỏi: Để tạm giải quyết vấn đề ngay bây giờ, Chủ tịch có bằng lòng nhận phương sách sau này: là lập một Chính phủ chung cho Bắc và Trung Kỳ, còn vấn đề Nam Kỳ sẽ giải quyết bằng một cách trưng cầu dân ý?

Trả lời: Trước kia, chúng tôi đã bằng lòng nhận phương sách đó. Ngày nay, chúng tôi không thể nhận được nữa, đồng bào chúng tôi ở Nam Kỳ đã chịu sự hy sinh to lớn để được ở trong Tổ quốc Việt Nam. Chúng tôi không thể phản bội họ được.

Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết tại sao lại có cái cảm tưởng chung rằng sở dĩ người Pháp e ngại không muốn điều đình với ông Hồ Chí Minh, là vì điều đình với Ông tức là để cho nước Nga có một chỗ đặt chân ở Việt Nam?

Chủ tịch có nhận rằng vì những sự liên lạc của Ngài với cộng sản mà từ trước tới nay không giải quyết được vấn đề Việt – Pháp bằng chính trị không? Để làm mất cái cảm tưởng ấy, Ngài có sẵn lòng tuyên bố mở rộng Chính phủ Việt Nam để trong đó có người thay mặt cho tất cả mọi quyền lợi, mọi đảng phái?

Trả lời: Đấy chỉ là một cớ để nói. Nước Nga Xô viết không có trước nǎm 1917. Nhưng mà nền đô hộ Pháp ở Việt Nam đã có từ trên 80 nǎm nay. Hồ Chí Minh có thể theo chủ nghĩa Các Mác hay có thể theo đạo Khổng, nhưng Chính phủ Việt Nam vẫn gồm có đại biểu của mọi đảng phái và có cả những người không đảng phái.

Thái độ nước Việt Nam đối với những nước á châu là một thái độ anh em, đối với ngũ cường 1 là một thái độ bạn bè.

Hỏi : Đối với tin thành lập một “Mặt trận quốc gia liên hiệp” do Bảo Đại điều khiển, xin Chủ tịch cho biết ý kiến Ngài ra sao? Ngài có định mời các đại biểu mặt trận đó dự một cuộc hội nghị bàn tròn, ngay sau khi ngừng chiến không?

Trả lời : Ông Vĩnh Thuỵ – một trong những người bạn thân của tôi và là Cố vấn của Chính phủ Việt Nam. Ông đã tuyên thệ trung thành với Hiến pháp, với Chính phủ và với quốc dân. Chúng tôi chỉ biết có “Mặt trận Tổ quốc” và “Mặt trận dân tộc”. Chúng tôi không biết các mặt trận giả hiệu của những kẻ đảo ngũ không chiến đấu cho Tổ quốc trong hàng ngũ dân tộc.

Hỏi: Nếu không có hoà bình và không có một sự giải quyết nay mai bằng chính trị thì Ngài dự định tổ chức giai đoạn sắp tới của cuộc kháng chiến ra sao? Nước Việt Nam có đủ quân lực hay du kích Việt Nam có thể vì lòng ái quốc kích thích mà tiếp tục chiến đấu đến thắng lợi không? Ngài có dự tính thay đổi chiến lược, nghĩa là Ngài có dự tính thay cuộc võ trang tranh đấu bằng cuộc tẩy chay người Pháp ở Việt Nam về mặt kinh tế và xã hội để cho họ không thể ở ngụ trì lại đây nữa không? Xin Ngài cho biết ý kiến về chính sách không cộng tác mà không bạo động của đảng Quốc hội ấn dưới sự lãnh đạo của Thánh Gǎngđi.

Trả lời: Nếu không hoà bình được, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng. Toàn dân Việt Nam cương quyết tranh đấu cho thống nhất và độc lập.

Những điều kiện ở Việt Nam và ở ấn Độ không giống nhau nên những phương tiện tranh đấu cũng không thể giống nhau.

Hỏi: Trong lúc đó, Ngài sẽ làm gì để đưa vấn đề Việt Nam ra trước Liên hợp quốc? Người Pháp vẫn nói rằng vấn đề Việt Nam là một việc trong nhà của Pháp, chứ không phải là một vấn đề quốc tế, xin Ngài cho biết ý kiến.

Trả lời: Chúng tôi sẽ mang vấn đề Việt Nam ra trước Liên hợp quốc khi nào cần đến. Tuy chúng tôi rất có cảm tình với dân Pháp, nhưng nước Việt Nam không phải đày tớ của Pháp, vậy vấn đề Việt Nam không phải là một việc nhà của Pháp.

Hỏi: Ngài có lời gì gửi cho thế giới, cho các nước châu á và riêng cho ấn Độ không?

Ngài mong ước các nước láng giềng, nhất là các nước á châu giúp đỡ những gì?

Trả lời: Chúng tôi muốn gửi thế giới lời này: là ước mong tất cả các người dân chủ trên thế giới đoàn kết với nhau để bảo vệ cho nền dân chủ trong các nước nhỏ cũng như trong các nước lớn. Mong các người làm cho quyền tự quyết của các dân tộc là quyền do các Hiến chương Đại Tây Dương và Cựu Kim Sơn đảm bảo, được tôn trọng.

Còn với á châu và ấn Độ, chúng tôi nói:

Số phận của tất cả dân á châu buộc chặt với nhau. Các anh em á châu, hãy giúp anh em Việt Nam trong cuộc đấu tranh cho độc lập và thống nhất. Chúng tôi trông cậy vào sức ủng hộ tinh thần và vật chất mà các anh em có thể giúp được.

Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết ý kiến về thái độ Anh, Mỹ, Trung Hoa đối với Việt Nam?

Trả lời: Đối với Việt Nam, thái độ Trung Hoa là một thái độ anh em, thái độ Mỹ là một thái độ bè bạn, còn thái độ Anh có lẽ là thái độ trung lập.

Trả lời vào tháng 5-1947.

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr. 70-73.
cpv.org.vn

——————————–

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Cán bộ tốt và cán bộ xoàng (1-6-1947) (1)

Kháng chiến là một lò đúc cán bộ. Nơi nào mà các cán bộ cấp trên biết lựa chọn và dìu dắt, thì có nhiều cán bộ mới nảy nở và công việc rất phát triển. Trái lại, nơi nào cán bộ cấp trên không biết lựa chọn, dìu dắt, thì vẫn thiếu người mà công việc cứ luộm thuộm.

Kháng chiến lại là một viên đá thử vàng đối với cán bộ.

Đi đến nơi nào có cán bộ tốt, thì cảnh tượng tốt bày ngay ra trước mắt:

Đồng bào tản cư đi qua đó, đều được giúp đỡ.

Bộ đội đóng ở đó hoặc đi qua đó, được uý lạo.

Ngày nào cũng thấy dân quân và tự vệ tập tành.

Chiều tối xóm này một lớp bình dân học vụ, xóm kia một lớp bình dân học vụ.

Các đình chùa và nơi đông người qua lại, đều thấy dán đầy những khẩu hiệu kháng chiến.

Canh gác thì cẩn thận.

Nhà nào cũng thực hành tǎng gia sản xuất.

Các đoàn thể thường khai hội, đọc báo, giải thích tin tức kháng chiến.

Nói tóm lại: nơi nào có cán bộ tốt, thì cả vùng đó hoạt động như một bộ máy. Và cả vùng đó tỏ ra một bầu không khí hǎng hái, vui vẻ.

Nơi nào cán bộ xoàng, thì vùng đó, như đang ngủ say. Trên giấy thì cái gì cũng có. Nhưng sự thật, thì việc gì cũng uể oải, lúi xùi.

Một thí dụ giản đơn, rõ rệt về cán bộ tốt và cán bộ xoàng:

Xã A và xã B phải phụ trách phá hoại một đoạn đường. Trước ngày đi phá, xã A họp mít tinh, cán bộ giải thích vì sao phải phá. Toàn thể dân chúng hǎng hái tán thành. Các cụ già, các chị em phụ nữ, và các em nhi đồng cũng đòi đi phá. Sau đó, toàn xã cử 60 người trai tráng khoẻ mạnh đi xung phong. Chủ tịch, Phó chủ tịch, Thư ký cũng vác cuốc xẻng đi làm. Đến chỗ phá, cán bộ đề nghị chia làm 3 tốp, mỗi tốp 20 người đua nhau xem tốp nào phá khéo hơn, mau hơn. Sau vài giờ đồng hồ, các cụ phụ lão, chị em phụ nữ, và các em nhi đồng đưa cơm nước đến. Nhưng tốp nào cũng đòi phá xong mới ǎn cơm. Các cụ đi tốp này đến tốp khác nói chuyện, khuyến khích, chị em phụ nữ rót nước cho anh em uống. Các em nhi đồng ca hát.

Ai cũng vui vẻ hǎng hái, cố làm hơn tốp kia. Kết quả chỉ 7 tiếng đồng hồ, mà đoạn đường thành một cái hố. Lúc phá xong, cán bộ kiểm điểm lại công tác, đọc thư của Hồ Chủ tịch và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Toàn thể hoan hô. Ǎn uống xong, cán bộ đi trước, dân chúng đi sau vui vẻ ra về, vừa đi vừa hát.

Còn xã B thì thế nào?

Không mít tinh, không giải thích. Chủ tịch xã ra lệnh bắt phá. Cán bộ nằm ở nhà, không tham gia công việc. Hơn 100 dân đi phá hoại. ỳ ạch đến hai ngày mới phá xong, mà lại phá không sâu, không khéo bằng đoạn xã A.

KếT LUậN: Cán bộ mà lên mặt quan cách mạng thì mọi việc đều lủng củng. Cán bộ mà biết làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, thì việc gì cũng mỹ mãn.

Những đồng chí cán bộ, phải gắng tiến lên mãi. Những ông cán bộ xoàng, xin mau mau sửa đổi.

A.G.

Báo Sự thật, số 77, từ ngày 1 đến 15-6-1947.
cpv.org.vn

——————————–

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

 

 

 

Thư gửi Tướng R. Xalǎng (10-6-1947)

Chủ tịch Chính phủ gửi Tướng quân Xalǎng

Tướng quân thân mến,

Tôi vừa hay tin ngài lại đến đất nước tôi. Nǎm ngoái (đối với tôi vừa như mới hôm qua, lại vừa như đã cách đây hàng thế kỷ), chúng ta đã cùng nhau du ngoạn nhiều nơi, chúng ta đã cùng nhau nói chuyện nhiều. Chúng ta đã từng nhất trí với nhau về nhiều vấn đề: những con người và sự việc. Nói tóm lại, chúng ta đã là những người bạn tốt.

Nhưng hoàn cảnh ngoài ý muốn đã biến chúng ta thành hai kẻ đối địch. Điều đó thật đáng tiếc!

Tôi khá hiểu ngài để tin rằng, nếu ngài có mặt ở đây, và nếu ngài có đủ quyền lực cần thiết, thì đã có thể tránh được những chuyện đau thương kia. Tôi cũng khá hiểu ngài để tin rằng, trong thâm tâm, ngài không muốn có cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này, nó không giải quyết được gì mà chỉ huỷ hoại tình hữu nghị và làm cho sự hợp tác trên tinh thần xây dựng giữa hai nước chúng ta thêm chậm trễ.

Nhưng sự việc đã xảy ra như thế đó! Về phần tôi, bổn phận thiêng liêng của một người dân yêu nước buộc tôi phải chiến đấu vì Tổ quốc và đồng bào mình. Còn về phía ngài, trách nhiệm quân nhân cũng buộc ngài phải làm những điều mà trái tim ngài không muốn.

Thử hỏi, đánh lại một nước đã đón tiếp mình như anh em thì vinh quang ở chỗ nào? Một nhà chỉ huy đi đánh một dân tộc chỉ muốn sống trong hoà bình thì vinh quang ở đâu? Và đâu là vinh quang của nước Pháp khi đi đánh nước Việt Nam, một quốc gia chỉ có nguyện vọng được thống nhất và độc lập trong khối Liên hiệp Pháp?

Phải chǎng Liên hiệp Pháp có thể dựa trên bạo lực và sự hận thù dân tộc? Phải chǎng Liên hiệp Pháp có thể tạo thành từ những thành viên què quặt, điêu tàn, tang tóc và đẫm máu? Dứt khoát không thể được! Nếu muốn, Liên hiệp Pháp phải dựa trên tình hữu nghị và sự tin tưởng lẫn nhau.

Nhưng thôi, đó là vấn đề chính trị. Nếu sự việc có đi theo chiều hướng khác thì đó không phải lỗi nơi ngài.

Vì chúng tôi đã buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là những chiến binh hào hiệp, những đối thủ quân tử, trong khi chờ đợi chúng ta lại trở thành bạn hữu của nhau. Chúng ta đã từng là bạn. Giữa hai chúng ta hiện nay vẫn là bạn bè của nhau. Ngài muốn như vậy chứ?

Vì tình yêu thương con người, lòng nhân đạo và nhân danh tình bạn của chúng ta, tôi yêu cầu ngài nghiêm cấm binh lính Pháp sát hại dân lành, hãm hiếp phụ nữ, đốt phá làng mạc và phá huỷ nhà thờ, đền miếu như họ vẫn làm từ trước tới nay.

Tôi đảm bảo với ngài rằng binh lính và thường dân Pháp ở chỗ chúng tôi được đối xử rất tử tế. Tôi hy vọng người của chúng tôi trong tay các ngài cũng được đối xử như vậy.

Ông đại uý Cácchiê tốt bụng vẫn ở chỗ ngài đấy chứ?

Tôi gửi lời kính thǎm bà Xalǎng và gửi tới cháu trai lớn và

cháu bé của ngài nhiều cái hôn âu yếm.

Tướng quân thân mến, hãy tin tưởng ở những tình cảm tốt đẹp nhất của tôi.

Ngày 10 tháng 6 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

TB. Tôi nhờ ngài chuyển bức thư kèm theo cho ngài Chủ tịch Lêông Blum.

Bản tiếng Pháp in trong sách của Salan: Fin d’un empire, Edition Presse de la Cité, Paris, 1971, tr.76-77.
Bản dịch tiếng Việt in trong Tạp chí lịch sử Đảng, số 6, 1990, tr.45-46.
cpv.org.vn

 

 

 

Thư gửi Chủ tịch Lêông Blum (10-6-1947)

Gửi ngài Chủ tịch Lêông Blum,

Thưa Chủ tịch và người anh em thân mến,

Hơn ba tháng nay, chiến tranh đã làm máu đổ trên khắp đất nước tôi. Cuộc chiến tranh này có những nét thật đặc biệt mà tôi muốn chỉ rõ để ngài xem xét.

1. Thông thường, để phát động một cuộc chiến tranh, thì giữa các dân tộc phải có những tư tưởng, mục đích và quyền lợi đối chọi nhau. Nhưng giữa dân tộc Pháp và dân tộc Việt Nam không có những mâu thuẫn như vậy.

– Nhân dân Việt Nam chỉ mong muốn thực hiện những lý tưởng của nhân dân Pháp là Tự do, Bình đẳng, Bác ái.

– Nhân dân Việt Nam mong muốn hợp tác trong tình anh em với nhân dân Pháp, và nhân dân Pháp cũng mong muốn hợp tác với nhân dân Việt Nam.

Nhân dân Việt Nam muốn thống nhất và độc lập trong Liên hiệp Pháp. Đó là điều mà nhân dân Pháp cũng hoàn toàn tán thành.

Vậy thì nguyên nhân của cuộc chiến tranh này là do đâu?

2. Tôi rất đau lòng nhận thấy rằng:

– Cuộc chiến tranh này được phát động ngay sau khi có cuộc bỏ phiếu thông qua Hiến pháp mới của nước Pháp. Bản Hiến pháp này đã trịnh trọng tuyên bố rằng nước Pháp lên án chủ nghĩa đế quốc và lên án việc sử dụng bạo lực chống lại dân tộc khác.

– Cuộc chiến tranh đã xảy ra và tiếp diễn bởi một Chính phủ

Xã hội và Đảng Xã hội Pháp đã nhất trí bỏ phiếu thông qua ngân sách cho nó.

3. Để tǎng cường sức mạnh của mình, nước Pháp muốn lập ra “Liên hiệp Pháp”, “một liên hiệp trong đó các dân tộc hiểu biết và quý trọng lẫn nhau”, như lời Thủ tướng Ramađiê đã nói.

Nhưng cuộc chiến tranh này, với những vụ tàn sát, cướp bóc, hãm hiếp, huỷ diệt và đủ các hành động dã man khác chỉ có tác dụng phá huỷ cơ sở của sự hiểu biết và tình tương thân, tương ái mà thôi. Các bạn của chúng ta, ngài bộ trưởng Ơgien Tômát và bác sĩ Bubiêng, có lẽ đã nói lại với ngài những điều mà họ đã chứng kiến ở Đông Dương. Vậy tôi có thể khỏi phải đau lòng mà nêu lại tất cả những nỗi thống khổ và tàn khốc đã xảy ra trên đất nước tôi từ hai mươi tháng nay.

4. Nhân dân Pháp muốn quyền lợi kinh tế của mình ở Việt Nam được tôn trọng và phát triển. Đó là điều mà nhân dân Việt Nam hoàn toàn đồng ý. Vậy mà kết quả của cuộc chiến tranh từ hai mươi tháng nay ở Nam Bộ và từ nǎm tháng nay trên toàn cõi Việt Nam lại như thế này đây:

– Hàng chục nghìn thanh niên Pháp và Việt Nam bị giết hại hoặc thương vong.

– Hàng tỷ phrǎng đã tiêu phí.

– Nhiều xí nghiệp của Pháp bị sụp đổ.

– “Công việc kinh doanh” của người Pháp trở thành con số không.

– Hàng chục thành phố, hàng nghìn làng mạc, nhiều đoạn đường sắt, đường bộ bị phá huỷ.

– Nếu chiến tranh còn kéo dài một hoặc hai nǎm nữa, nền kinh tế Pháp ở Đông Dương cũng như nền kinh tế Việt Nam sẽ suy sụp hoàn toàn (nhưng đối với người Việt Nam ít ra cũng vẫn còn giữ lại được mảnh đất và con người). Và ngài biết đấy, chiến tranh du kích có thể kéo dài hết nǎm này sang nǎm khác.

5. Vậy làm thế nào để chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này, làm thế nào để lập lại hoà bình?

Tôi cho rằng, chỉ có một chính sách phù hợp là chính sách mà chính ngài đã đề ra trên báo Dân chúng (ngày 12-12-1946), một chính sách hữu nghị và tin tưởng lẫn nhau, dựa trên sự thống nhất và độc lập của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp.

– Vì lợi ích và tương lai chung của hai dân tộc chúng ta, tôi hy vọng các ngài sẽ cố gắng làm cho chính sách khôn ngoan và hào hiệp đó được thực hiện.

Qua ngài, tôi gửi tới bà Blum những lời chào trân trọng và gửi tới những người bạn tốt của chúng ta là gia đình Brắccơ, Lúcxi và Rôdenphen những tình cảm tốt đẹp nhất. Sau hết, tôi ôm hôn ngài trong tình anh em.

Ngày 10 tháng 6 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Bản tiếng Pháp in trong sách của Salan: Fin d’un empire, Edition Presse de la Cité, Paris, 1971, tr.450-451.
Bản dịch tiếng Việt in trong Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6, 1990, tr.45-46.
cpv.org.vn

 

 

 

Thư gửi các nhân viên cơ quan Chính phủ (16-6-1947)

Cùng các nhân viên ở các cơ quan Chính phủ,

Những anh chị em ở tiền phương, đem xương máu giữ gìn Tổ quốc, là chiến sĩ.

Những anh chị em ở hậu phương, đem tài nǎng giúp việc Chính phủ, cũng là chiến sĩ.

Những chiến sĩ ở tiền phương, ǎn gió nằm sương, xung phong hãm trận, chết sống bao giờ không biết, là hy sinh.

Những chiến sĩ ở hậu phương, lên dốc xuống đèo, ǎn túng mặc thiếu, ốm khoẻ bao giờ không biết, cũng là hy sinh.

Tuy cách hy sinh khác nhau, nhưng tiền phương và hậu phương đều vì Tổ quốc, vì đồng bào mà hy sinh.

Tôi vẫn biết các bạn đều hǎng hái, đều kiên quyết. Nhưng tôi cũng biết rằng: ngày trước, các bạn có một cách sinh hoạt và một cách làm việc khác hẳn với bây giờ. Ngày trước, làm việc có thời giờ nhất định. Ngoài giờ làm, thì có bạn bè và có thú vui giải trí. Sinh hoạt thì yên tĩnh và tương đối phong lưu.

Ngày nay, người ít mà việc nhiều, lúc làm việc xong, thì ngoài tiếng chim kêu vượn hót, ngoài cảnh núi rừng rậm suối sâu, chẳng có thú vui gì khác. Sinh hoạt thì thường thường nay đây mai đó, thường thường thiếu thốn. Dù Chính phủ giúp đỡ, nhưng cũng chỉ đỡ được một chừng nào thôi. Nói tóm lại là: bây giờ ai cũng khó nhọc và cực khổ.

Chúng ta người tuy đông, cơ quan tuy nhiều, song từ trên xuống dưới đều đoàn kết chặt chẽ, đồng cam cộng khổ, như trong một nhà. Vậy tôi xin lấy địa vị là như một người anh, và đem kinh nghiệm của cá nhân khuyên gắng các bạn:

1. Người mà chịu được khổ, thì việc to lớn, khó khǎn mấy cũng làm được.

2. Ta đã biết cần phải chịu khổ, thì ta chịu một cách vui vẻ, dần dần ta sẽ không lấy làm khổ.

3. Chúng ta đem tinh thần mà chiến thắng vật chất, chúng ta vì nước, vì dân mà chịu khổ, một cái khổ rất có giá trị, thì vật chất càng khổ tinh thần càng sướng.

4. Chiến sĩ ở tiền phương, đã khổ mà lại luôn luôn ở dưới mưa bom sóng đạn.

So với họ thì ta ở hậu phương chưa khổ mấy.

5. Khổ tận thì cam lai 1 . Khổ nay chỉ là khổ tạm thời, kháng chiến thành công thì sẽ hết khổ.

Trường kỳ kháng chiến là một viên đá thử vàng đối với mỗi một quốc dân, đồng thời là một trường học để rèn luyện cho cán bộ. Vì vậy, chúng ta:

Phải tuyệt đối giữ kỷ luật.

Phải tuyệt đối giữ bí mật.

Đối với đồng sự, phải đoàn kết chặt chẽ, khuyên nhau, giúp nhau.

Đối với dân chúng, phải thân cận, phải giúp đỡ họ mọi việc, phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu.

Chớ bao giờ ngồi không. Lúc rảnh việc, thì nên nghiên cứu các vấn đề, hoặc theo sức mình mà tǎng gia sản xuất. Như thế đã bổ ích cho thân thể lại vui cho tinh thần.

Chớ tắm nước lã nhiều quá. Chớ uống nước lã, chớ ǎn no quá, chớ ngủ trưa nhiều.

Đó là những lời thô thiển, nhưng mà thiết thực. Mong rằng do sự lãnh đạo của các Bộ trưởng và Thứ trưởng, các bạn sẽ làm đúng, để giữ vững và nâng cao tinh thần và lực lượng mọi người, để giúp sức cho cuộc kháng chiến cứu quốc mau đi đến thắng lợi.

Chúc các bạn mạnh khoẻ và gắng sức.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Viết ngày 16-6-1947.
Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

cpv.org.vn

Những hình ảnh xúc động về Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu cử

Chỉ 4 tháng sau ngày đất nước giành được độc lập, thành lập nước Việt Nam Dân chủCộng hòa – năm 1946, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính quyền cách mạng đã quyết định tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước. Người đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của một công dân Việt Nam, tận tay tham gia bỏ phiếu bầu cử tại các kỳ Tổng tuyển cử trong cả nước.

bau cu a5
Bài viết “Tìm người tài đức” của Bác năm 1946 đăng trên Báo Cứu quốc số 411 ngày 20/11/1946.

bau cu a6

Giấy chứng minh Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chứng nhận cụ Hồ Chí Minh là đại biểu tỉnh Hà Nội tại Đại hội đại biểu toàn quốc năm 1946.

 bau cu

Nhân dân lao động Thủ đô Hà Nội cổ động cho ngày Tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 6/1/1946

 bau cu a8

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa sau cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước năm 1946, Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch nước.

 bau cu a9
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Quốc hội đầu tiên của Hà Nội ra mắt cử tri tháng 2/1946

 bau cu a1
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận lá phiếu bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân khóa II ngày 8/5/1960

bau cu a2

Tận tay Bác bỏ lá phiếu bầu cử tại Hà Nội năm 1960

 bau cu a3

Bác Hồ tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội và khu phố Ba Đình ngày 25/4/1965

 bau cu a4

Thẻ cử tri của Chủ tịch Hồ Chí Minh cấp ngày 15/4/1965

 bau cu a7

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi chuyện một cử tri cao tuổi
sau khi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội khóa II

 bau cu a11

Bác thăm khu vực bầu cử A.10, Khu Ba Đình, Hà Nội tháng 4 năm 1964

bau cu a12

Bác Hồ tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội ngày 27/4/1969 
– Năm cuối cùng Bác bầu cử trước khi qua đời

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Lời kêu gọi nhân kỷ niệm 6 tháng kháng chiến (19-6-1947) (15)

Cùng quốc dân đồng bào,

Cùng toàn thể chiến sĩ Vệ quốc quân, dân quân, tự vệ,

Thực dân phản động Pháp động viên hải lục không quân hàng chục vạn người. Chúng chi tiêu vào quân phí mỗi ngày hàng chục triệu bạc. Chúng mong dùng lực lượng ào ạt, chiến lược chớp nhoáng, trong vài ba tháng, cướp lấy nước ta. Chúng lại thuê một lũ bù nhìn, mong phá hoại kháng chiến, chia rẽ đồng bào ta. Song âm mưu quân sự và chính trị của chúng đều hoàn toàn thất bại. Kháng chiến ở Nam Bộ đến ngày nay đã gần 2 nǎm. Kháng chiến ở toàn quốc đến hôm nay vừa đúng 6 tháng. Mà sức kháng chiến của ta càng mạnh. Sự thắng lợi của ta càng rõ ràng. Đó là vì sao?

A- Vì kháng chiến của ta là chính nghĩa.

Ta chỉ giữ gìn non sông, đất nước của ta. Chỉ chiến đấu cho quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc.

Còn thực dân phản động Pháp thì mong ǎn cướp nước ta, mong bắt dân ta làm nô lệ. Vậy ta là chính nghĩa, địch là tà. Chính nhất định thắng tà.

B- Vì đồng bào ta đại đoàn kết.

Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ,

Chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước,

Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.

Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại.

C- Vì tướng sĩ ta dũng cảm.

Tuy khí giới ta còn kém, kinh nghiệm ta còn ít, nhưng lòng kiên quyết, chí hy sinh của tướng sĩ ta đã lập những chiến công oanh liệt, vẻ vang có thể nói là kinh trời động đất.

D- Vì chiến lược ta đúng.

Địch muốn dùng cách đánh mau, thắng mau. Nếu chiến tranh kéo dài, hao binh tổn tướng, chúng sẽ thất bại.

Vậy ta dùng chiến lược trường kỳ kháng chiến, để phát triển lực lượng, tǎng thêm kinh nghiệm. Ta dùng chiến thuật du kích, để làm cho địch hao mòn, cho đến ngày ta sẽ tổng phản công, để quét sạch lũ chúng.

Thế địch như lửa. Thế ta như nước. Nước nhất định thắng lửa.

Hơn nữa trong cuộc trường kỳ kháng chiến, mỗi công dân là một chiến sĩ. Mỗi làng là một chiến hào. Hai mươi triệu đồng bào Việt Nam quyết đánh tan mấy vạn thực dân phản động.

E- Vì ta nhiều bầu bạn.

Chiến tranh xâm lược của thực dân phản động là phi nghĩa. Ai cũng chán ghét. Kháng chiến cứu quốc của ta là chính nghĩa, cho nên được nhiều người bênh vực.

Số đông nhân dân Pháp muốn hoà bình thân thiện với ta.

Nhân dân thuộc địa đồng tình với ta.

Các dân tộc châu á ủng hộ ta. Dư luận trong thế giới tán thành ta.

Về mặt tinh thần địch đã hoàn toàn thất bại, ta đã hoàn toàn thắng lợi.

Hỡi quốc dân đồng bào!

Hỡi toàn thể các chiến sĩ!

Cuộc trường kỳ kháng chiến còn kinh qua nhiều bước gian nan.

Chúng ta phải hy sinh, chịu khổ và phải gắng sức. Nhưng chúng ta quyết hy sinh chịu khổ và gắng sức 5 nǎm, 10 nǎm để phá tan cái xiềng xích nô lệ hơn 80 nǎm vừa qua, để tranh lấy quyền thống nhất và độc lập cho muôn đời sắp đến. Tôi thay mặt Chính phủ:

Ra lệnh cho toàn thể tướng sĩ, trước đánh đã hǎng, từ nay phải đánh hǎng hơn, phải thi đua nhau xung phong sát địch.

Kêu gọi toàn thể đồng bào ra sức tǎng gia sản xuất, ra sức cất lúa, giữ đê, ra sức ủng hộ bộ đội.

Khuyên các cán bộ chính trị, hành chính và chuyên môn phải cố gắng khắc phục mọi nỗi khó khǎn, ra sức sửa chữa các khuyết điểm, gắng làm những người cán bộ kiểu mẫu.

Chúng ta đã đồng tâm nhất trí. Chúng ta nhất định sẽ thắng lợi.

Chúng ta phải mạnh mẽ tiến lên!
Đánh tan thực dân phản động Pháp!
Hai dân tộc Việt – Pháp thân thiện!
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!
Việt Nam thống nhất độc lập muôn nǎm!

Ngày 19 tháng 6 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr.91-93.
cpv.org.vn

————————————

(15) Ngày toàn quốc kháng chiến: Trước những hoạt động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, đêm 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Người vạch trần dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, đồng thời nêu bật quyết tâm của nhân dân ta: ” Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người khẳng định: “Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”.

Ngay đêm 19-12-1946, cả dân tộc ta nhất tề đứng dậy tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Từ đó, ngày 19-12 đi vào lịch sử – Ngày Toàn quốc kháng chiến. Tr.150.