Tag Archive | Hồ Chí Minh

Xây dựng lực lượng, thế trận toàn dân

Không chỉ là một nhà chính trị kiệt xuất, một danh nhân văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một nhà chiến lược quân sự thiên tài. Nét nổi bật trong nghệ thuật quân sự theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nghệ thuật xây dựng lực lượng và thế trận toàn dân.

Người chỉ rõ việc tạo lực cách mạng như lúc mới bắt đầu “nhóm lửa”. Đây là công việc rất khó, nhưng biết cách làm, biết cách dựa vào dân thì chắc chắn làm được. Do đó, người cách mạng phải có “tín tâm” và “quyết tâm”, biết đi vào quần chúng để thức tỉnh họ; tổ chức, đoàn kết, huấn luyện họ; làm cho dân ta ai cũng biết “đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong điều kiện cụ thể của nước ta, lực lượng để tiến hành khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng không chỉ đơn thuần dựa vào lực lượng vũ trang, quân đội, mà trước hết và quan trọng nhất là lực lượng chính trị của quần chúng được giác ngộ, được tổ chức chặt chẽ và rộng khắp; phải bắt đầu bằng việc xây dựng lực lượng chính trị quần chúng, rồi trên cơ sở đó xây dựng và phát triển lực lượng mọi mặt của cách mạng.

Lực lượng chính trị quần chúng không chỉ là nền tảng vững chắc và nguồn tiếp sức vô hạn cho việc phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, mà còn là một lực lượng trực tiếp tiến công địch, tiến hành công tác binh vận, địch vận, làm tan rã hàng ngũ địch. Theo Người, lực lượng của cách mạng, của kháng chiến không ngừng được phát huy, phát triển trong quá trình thực hiện đường lối “khởi nghĩa toàn dân” và “chiến tranh nhân dân”. Đường lối đó lôi cuốn được hết thảy mọi người Việt Nam yêu nước tham gia, “người có tiền góp tiền”, “người có sức góp sức”, mỗi người dân là một chiến sĩ, đánh địch trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, tiến công địch ở khắp mọi lúc, mọi nơi, cả ở tiền tuyến và hậu phương. Nhờ đó, đã huy động và tạo thành sức mạnh to lớn của toàn dân đánh giặc.

Trong chỉ đạo thực tiễn, để tạo lực lượng cho cách mạng, từ năm 1941 khi về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, thúc đẩy việc xây dựng các tổ chức cách mạng của quần chúng, hình thành các đạo quân chính trị ngày càng hùng hậu. Trên cơ sở đó, Người chỉ thị tổ chức các đội du kích, thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đồng thời chăm lo xây dựng các vùng căn cứ địa và chính quyền cách mạng ở các địa phương. Nhờ thế mà khi thời cơ đến, với lực lượng cách mạng được chuẩn bị sẵn sàng và chu đáo, nhân dân ta trên mọi miền đất nước đã vùng lên giành toàn bộ chính quyền bằng cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Kế đó, trong kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, ra sức phát triển kinh tế để bồi dưỡng sức dân, tăng thực lực kháng chiến. Người và Đảng ta chăm lo chỉ đạo công tác xây dựng và bảo vệ vững chắc hậu phương kháng chiến vững mạnh về mọi mặt, xem đó là một nhân tố thường xuyên, quyết định thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến.

Vận dụng tư tưởng, nghệ thuật quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn chủ động xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân 1975 là những mốc son chói lọi của cách mạng Việt Nam và cũng là những mẫu mực về nghệ thuật quân sự Việt Nam dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

  • Việt Quân

baobinhdinh.com.vn

Tôi đã làm theo lời Bác dạy

Kết quả Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong lực lượng dân quân tự vệ đã xuất hiện nhiều cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến, một trong những gương mặt đó là anh Lê Trung Thứ, Xã đội phó xã Mỹ An (Phù Mỹ).

Sinh ra ở một vùng đất “chưa nóng đã khô, chưa mưa đã úng”, Lê Trung Thứ là con thứ 10 trong một gia đình nghèo. Tuổi thơ chìm trong gian lao, vất vả đã hình thành trong anh tính tiết kiệm tự bao giờ. Tốt nghiệp THPT anh xung phong lên đường làm nghĩa vụ quân sự và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Anh Lê Trung Thứ

Sau khi rời quân ngũ, anh được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm gửi đi đào tạo ở Trường Quân sự tỉnh và được bổ nhiệm chức vụ Xã đội phó. Trên cương vị mới, anh luôn trăn trở suy nghĩ phải làm cách nào để cùng với Chi bộ quân sự tập trung xây dựng lực lượng dân quân tại chỗ vững mạnh, làm nòng cốt cho cấp ủy, chính quyền, địa phương. Được phân công phụ trách công tác huấn luyện dân quân, hàng năm phải chuẩn bị vật chất huấn luyện lên đến vài ba triệu đồng, trong khi ngân sách đầu tư của địa phương có hạn, anh đã tận dụng những tấm tôn méo mó cải tạo thành bia phục vụ cho huấn luyện bắn súng, nhờ vậy, hàng năm đã tiết kiệm được hơn 1 triệu đồng.

Cơ sở vật chất đã thiếu thốn, quân trang lại càng khó khăn hơn, tiêu chuẩn 5 năm/bộ/người, nếu bảo quản không tốt thì không có quần áo cho anh em huấn luyện. Anh khắc phục bằng cách, sau mỗi đợt huấn luyện thì thu về một mối, trực tiếp chỉ đạo cho anh em giặt sạch quần áo, giày, mũ rồi là phẳng từng bộ một, bộ nào rách thì khâu lại, bảo quản thật kỹ cho những đợt huấn luyện sau. Sự miệt mài, cẩn thận của anh luôn được chỉ huy các cấp khen ngợi. Kết quả huấn luyện của lực lượng dân quân xã luôn dẫn đầu cụm 6 xã phía bắc của huyện.

Không chỉ tận tụy với công việc, anh Thứ còn sáng tạo trong cách làm giàu. Với số tiền ít ỏi được hỗ trợ học nghề sau khi xuất ngũ, anh đã vay mượn thêm và đầu tư vào nuôi bò lai, hàng năm cho thu nhập hơn 50 triệu đồng. Tấm gương của anh đã góp phần giáo dục cho lực lượng dân quân về thực hành tiết kiệm và sự vượt khó vươn lên làm giàu từ hai bàn tay trắng.

Là đảng viên trẻ nhất được Đảng ủy xã biểu dương tại Hội nghị sơ kết Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” năm 2009, anh Thứ tâm sự: “Tôi chỉ là một trong hàng triệu người dân Việt Nam đã làm theo lời Bác dạy”.

  • Phan Văn Hổ

baobinhdinh.com.vn

Đảng cầm quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, năm 1951, khi nói về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, Bác viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Và trong Di chúc- tác phẩm cuối cùng của đời mình, khi nói về Đảng, một lần nữa Bác viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Theo tư tưởng của Bác Hồ và của Đảng ta từ trước đến nay, khái niệm Đảng “nắm chính quyền” hay “cầm quyền” là đồng nghĩa với Đảng lãnh đạo chính quyền.

Năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ viết: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

Năm 1960, trong bài nói tại lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Người nhấn mạnh: “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”.

Năm 1968, làm việc với một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng về việc xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt”, Bác nói: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, nói chung và về Đảng cầm quyền nói riêng luôn được Đảng ta trung thành, vận dụng sáng tạo và phát triển. Nói Đảng cầm quyền hoàn toàn không có nghĩa là Đảng tự biến mình thành chính quyền, một mình mình nắm giữ chính quyền và làm chức năng của chính quyền. “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là cơ chế vận hành của chế độ ta. Theo cơ chế ấy, Đảng, Nhà nước và nhân dân đều là những chủ thể của quyền lực, nhưng quyền lực của mỗi chủ thể ấy lại không giống nhau. Quyền lực của Đảng là quyền lãnh đạo, bao gồm cả quyền lãnh đạo chính quyền, nhưng bản thân Đảng lại không phải là chính quyền nhà nước, không làm thay cho Nhà nước. Quyền lực nhà nước bao gồm các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng quyền lực ấy không phải do Nhà nước tự có mà là do nhân dân giao phó cho những cơ quan quyền lực do mình cử ra. Quyền lực của nhân dân là quyền của người làm chủ đất nước, như Bác Hồ từng nêu lên trong bài báo “Dân vận” viết năm 1949: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Cương lĩnh năm 1991 của Đảng và những điều bổ sung, phát triển các quan điểm về Đảng và Đảng cầm quyền qua các kỳ Đại hội của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; thống nhất lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Đại hội X của Đảng, khi đề cập nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối”. Đại hội cũng chủ trương, về mặt lý luận, phải tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề về xây dựng Đảng và về đảng cầm quyền. Điều quan trọng hơn nữa là để xứng đáng là đảng cầm quyền, Đảng phải làm những gì và làm như thế nào?

Cương lĩnh năm 1991 của Đảng, trong khi nêu lên những bài học lớn, đã khẳng định: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

  • N.Dân

baobinhdinh.com.vn

Quyền hành là ở nơi Dân

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, năm 1951, khi nói về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, Bác viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Và trong Di chúc- tác phẩm cuối cùng của đời mình, khi nói về Đảng, một lần nữa Bác viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ viết: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

Năm 1960, trong bài nói tại lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Người nhấn mạnh: “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”.

Quan điểm xuyên suốt trong các tác phẩm của Bác là Đảng và cán bộ, đảng viên “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Muốn vậy, Đảng và cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Năm 1953, trong thư gửi Lớp chỉnh Đảng Liên khu 5, Bác viết: “Mục đích chỉnh Đảng là để dùi mài cán bộ và đảng viên thành những chiến sĩ xứng đáng là người đầy tớ của nhân dân”.  Bởi theo Bác: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, nói chung và về Đảng cầm quyền nói riêng luôn được Đảng ta trung thành, vận dụng sáng tạo và phát triển. Quyền lực của Đảng, xét cho cùng, là tư tưởng Bác Hồ từng nêu lên trong bài báo “Dân vận” viết cách đây 61 năm: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Đại hội X của Đảng, khi đề cập nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối”. Cương lĩnh năm 1991 của Đảng, trong khi nêu lên những bài học lớn, đã khẳng định: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và về Đảng cầm quyền sẽ tiếp tục được làm sáng tỏ hơn nữa trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng sắp tới.

  • Trần Thanh

baobinhdinh.com.vn

Tiết kiệm theo gương Bác

Với các cán bộ, công chức Kho bạc Nhà nước (KBNN) tỉnh – đơn vị có nhiệm vụ quản lý Quỹ ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh – tiêu chí trọng tâm và xuyên suốt được lựa chọn để hưởng ứng Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chính là thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Với nội dung học tập này, KBNN tỉnh đã có những biện pháp hữu hiệu và có sự phối hợp nhịp nhàng giữa cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể để triển khai nhằm tạo sự đồng thuận cao trong ý thức và việc tổ chức thực hiện của tập thể đơn vị. Cụ thể, để thực hành tiết kiệm, KBNN tỉnh đã ban hành Quy chế quản lý tài chính, tài sản nội ngành. Theo đó, hệ thống KBNN tỉnh chú trọng các hình thức giao khoán đến từng đơn vị, từng phòng, bộ phận và có hình thức động viên, khuyến khích các đơn vị tiết kiệm kinh phí hoạt động. Bình quân hàng năm, các cơ quan, đơn vị trong hệ thống KBNN tỉnh tiết kiệm trên 500 triệu đồng (tương đương 2% tổng kinh phí hoạt động).

Số tiền tiết kiệm này là từ việc sử dụng điện, nước, điện thoại, xăng xe… hiệu quả. Ví dụ, để sử dụng xăng xe tiết kiệm, KBNN tỉnh đã xây dựng quy chế sử dụng xe công. Theo đó, việc đi công tác của các phòng phải có chương trình cụ thể và được lãnh đạo thông qua; phải có sự phối hợp giữa các phòng để có tối thiểu 4 người cùng đi mới được sử dụng xe công. Đối với việc tiết kiệm trong thông tin, báo cáo, ngoài việc giao khoán định mức sử dụng điện thoại, KBNN tỉnh yêu cầu cán bộ trong ngành sử dụng thành thạo mạng nội bộ (intranet) và mạng internet, coi đây là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực của cán bộ… Những khoản tiết kiệm này được bổ sung vào quỹ thi đua khen thưởng, hỗ trợ các đoàn thể, bổ sung thu nhập… nên được sự đồng thuận cao của các tập thể và cá nhân trong đơn vị.

Với KBNN tỉnh, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng là tiêu chí để các đơn vị trong hệ thống ngành xây dựng các đoàn thể chính trị vững mạnh và xây dựng người cán bộ công chức “Trung thành, sáng tạo, tận tụy, gương mẫu”, phấn đấu hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao.

  • Minh Khương

baobinhdinh.com.vn

Tàn nhưng không phế

Sau hơn ba chục năm bôn ba khắp năm châu tìm đường cứu nước, cho đến ngày Tổng khởi nghĩa thành công, Bác Hồ từ chiến khu lần đầu tiên mới về tới Hà Nội. Đón Tết độc lập đầu tiên ấy, đêm giao thừa thì Bác “vi hành” đi thăm, chúc Tết các gia đình “khá”, gia đình “trung bình” và gia đình nghèo… Nhưng rồi kháng chiến trường kỳ với chiến thắng Điện Biên Phủ, kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hòa bình lập lại trên miền Bắc, Bác Hồ từ chiến khu trở về sống và làm việc ở Hà Nội. Đón “Tết hoà bình” đầu tiên ấy, đêm giao thừa Bác Hồ chỉ đi thăm một nơi, đó là đến thăm anh chị em ở Trường Thương binh hỏng mắt ở Hà Nội.

 Thuongbinhtan nhung khong phe

Bác Hồ đến thăm, động viên anh em thương binh ở Trường Thương
binh hỏng mắt Hà Nội

Trường Thương binh hỏng mắt là ngôi trường được thành lập sau ngày đất nước có hoà bình, vào đúng ngày kỷ niệm lần thứ 65 Ngày sinh của Bác 19/5/1955. Trường được thành lập để đón nhận những anh chị em từ các chiến trường, trận địa… cảnh ngộ khác nhau về đây cùng sống, học tập. Đón giao thừa năm ấy, Nhà trường đã chuẩn bị để tổ chức một buổi họp mặt với tất cả các anh chị em học viên để đón Tết – mừng xuân, liên hoan văn nghệ và cùng chờ đón nghe thơ chúc Tết của Bác Hồ qua làn sóng phát thanh lúc giao thừa. Đêm ấy, giữa lúc mọi người đang vui với các tiết mục văn nghệ “cây nhà lá vườn” thì bỗng có tiếng một người nào đó vang lên: “Bác, Bác Hồ đến thăm anh em ơi!”. Thế là cả hội trường đang ồn ào sôi động bỗng trở nên im lặng, rồi dường như tất cả cùng vỗ tay như sấm dậy reo mừng. Mọi người, nhất là các đồng chí nữ xô ghế, tìm lối đi lên phía trước. Những tiếng hô: “Bác Hồ muôn năm!” như sóng trào lên không dứt…

Giữa không khí náo nhiệt, ồn ào ấy, anh thương binh hỏng mắt Hoàng Văn Vượng, một nghệ sĩ đàn vi-ô-lông trong Ban Văn nghệ của trường, bỗng nghe tiếng nói của Bác Hồ ấm áp bên cạnh:

– Thôi, thôi, các chú, các cô đừng hoan hô nữa! Các cô, các chú ngồi xuống cả đi…

Khi mọi người trong hội trường đã ngồi xuống, yên lặng, thì Bác bắt đầu hỏi thăm sức khỏe và việc chuẩn bị đón Tết của anh chị em thương binh: Tết này có bánh chưng không? Có kẹo, có mứt không? Việc học tập qua chữ nổi có khó lắm không?… Rồi bỗng Bác hỏi nhỏ một đồng chí:

– Các chú đã nhận được con cá trắm các cháu nhi đồng miền Nam tặng Bác chưa?

Một đồng chí trong Ban Giám hiệu nhà trường thưa với Bác là con cá trắm rất to ấy đã được làm thịt nấu ăn bữa chiều nay rất ngon và xin cảm ơn Bác.

Một nữ thương binh học viên đứng dậy xin phép Bác được phát biểu:

– Thưa Bác, hồi này Bác có khỏe không ạ?

Nghe vậy, Bác hiền từ hỏi lại:

– Thế các cô, các chú có muốn Bác khỏe không?

Mọi người đồng thanh: “Thưa Bác, có ạ !”. Bác lại nói tiếp:

– Thế thì các cô, các chú phải giữ gìn sức khỏe. Các cô, các chú tàn nhưng không phế…

Anh chị em thương binh đêm ấy nghe Bác nói những lời động viên, lời dạy đầy ân tình ấy của Bác, tất cả đều lặng đi, ai cũng ứa nước mắt sung sướng, xúc động…

Một thương binh đứng dậy, giọng ngắt quãng vì xúc động:

– Thưa Bác, chúng cháu được nghe Bác nói nhưng không nhìn… thấy Bác được. Bác cho phép cháu… nắm tay của Bác ạ…

Từ lúc nghe người học viên thương binh nói như vậy thì đôi mắt của Bác như nhoà đi… Rồi giọng Bác nhẹ nhàng, âu yếm:

– Thế các cô, các chú định giữ Bác ở lại đây đến hết giao thừa hay sao? Phải để cho Bác đi chúc Tết các nơi khác nữa chứ…

Sau khi chúc Tết anh chị em thương binh lần nữa, Bác bước nhanh đi ra. Lên xe, Bác nói ngay với đồng chí bảo vệ: “Về nhà thôi…”. Anh em biết Bác đang rất xúc động, nhìn thấy mắt Bác vẫn nhoè lệ nghẹn ngào… Đêm giao thừa năm ấy, Bác không đi thăm đâu nữa. Cũng từ lời Bác dặn đêm giao thừa ấy, không chỉ anh chị em thương binh hỏng mắt như được Bác đem lại ánh cuộc đời, mà từ ngày ấy anh chị em thương binh luôn thực hiện lời dạy của Bác: “Tàn nhưng không phế…”, sống học tập, lao động có ích tiếp tục góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Mỹ Hạnh
Theo tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

“Dân là gốc”

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải thực hiện dân chủ với dân để phát huy tinh thần làm chủ của dân là cốt lõi của vấn đề “dân là gốc”. Người thường nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ”.

Biểu hiện trước hết của dân là gốc là phải tin ở dân, gần gũi dân, biết dựa vào dân. Muốn hoàn thành nhiệm vụ, muốn biến đường lối chủ trương của Đảng thành phong trào quần chúng, thành sức mạnh cách mạng thì Đảng phải có đường lối đúng đắn; cán bộ đảng viên “phải liên lạc mật thiết với dân chúng, xa rời dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”. Cán bộ, đảng viên còn phải học hỏi dân, “nếu không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân”, mà “muốn hiểu biết, học hỏi dân thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm”. Người cũng yêu cầu: người làm chủ trước hết phải làm tròn bổn phận công dân, tức là phải tuân theo kỷ luật lao động; giữ gìn trật tự chung; nộp thuế đúng kỳ, bảo vệ tài sản công cộng; bảo vệ Tổ quốc. “Phải chăm lo việc nước như việc nhà”, “phải biết tự mình lo toan gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”; “làm chủ sao cho ra làm chủ, không phải làm chủ là muốn ăn bao nhiêu thì ăn, làm bao nhiêu thì làm”.

Từ thực tiễn cuộc sống, Hồ Chí Minh lưu ý: “Bất kỳ nơi nào có quần chúng thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa và hạng kém… Người lãnh đạo phải dụng hạng hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo, do hạng hăng hái đó mà nâng cao hạng vừa vừa và kéo hạng kém lên”. Phải học hỏi dân chúng, nhưng “không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”; phải “tìm ra mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau, xem cái nào đúng, cái nào sai” để vận dụng.

Do đó, thiết thực nhất của việc bồi dưỡng “cái gốc” là phải thường xuyên chăm lo đời sống cho dân, chăm lo lợi ích chính đáng của dân. Người thường nhắc tới những câu của người xưa “có thực mới vực được đạo”, “dân dĩ thực vi thiên”. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Đối với nhân dân không thể lý luận suông”. Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm lo đời sống của dân. Nếu “dân đói”, “dân rét”, “dân dốt”, “ dân ốm” là “Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm dân là gốc là quan điểm khoa học, toàn diện. Đó là sự kế thừa những tinh hoa dân tộc, là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

  • Hòa Thanh

baobinhdinh.com.vn

“Trung với Đảng, hiếu với dân…”!

Ngày 22.12.1964, nhân dịp kỷ niệm quân đội ta tròn 20 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và khen ngợi “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Người khẳng định: Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, được sự giúp đỡ hết lòng của nhân dân, quân đội ta hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ trao cho, chiến đấu anh dũng, công tác và lao động tích cực, tiết kiệm, cần cù, khiêm tốn giản dị, đoàn kết nội bộ, đồng cam cộng khổ với nhân dân…

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ có lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, mà dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội ta còn làm tròn chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất, Người nói: “Quân đội ta là quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng. Mới ra đời với gậy tầm vông, súng kíp đã cùng toàn dân đánh Pháp, đánh Nhật, đưa cách mạng tháng Tám đến thành công”. Bác còn chỉ rõ là quân đội cách mạng phải biết vượt qua khó khăn thử thách, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. “Bộ đội ta là bộ đội nhân dân, bộ đội cách mạng có truyền thống anh dũng, khắc khổ, kiên nhẫn, cần cù, chất phác, việc khó khăn nguy hiểm mấy cũng không sợ, nhất định làm cho kỳ được. Đó là truyền thống, đạo đức, tác phong tốt, phải luôn được giữ vững và phát triển”… – Người nhắc nhở.

Thực tiễn đã chứng minh trải qua hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lời khen của Bác đã trở thành lời thề danh dự của quân đội ta đối với Tổ quốc. Điều đó được thể hiện trong bất luận hoàn cảnh nào, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng luôn luôn một lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng của Đảng, luôn giương cao ngọn cờ bách chiến, bách thắng, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của Đảng, của giai cấp, của dân tộc. Quân đội ta đã cùng với toàn dân hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vươn lên chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, bảo vệ thành quả cách mạng, viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc, xây đắp nên truyền thống vẻ vang của quân đội anh hùng sinh ra từ một dân tộc anh hùng.

Thấm nhuần lời dạy của Bác đối với quân đội, hơn ai hết, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội ta thấy được vinh dự và tự hào, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Từ đó, luôn trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực, phương pháp, tác phong công tác theo tư tưởng và đạo đức của Người, góp phần xây dựng quân đội thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành tin cậy bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, như lời Người dạy.

  • Hoàng Quân

baobinhdinh.com.vn

Đoàn kết là sức mạnh

Nhân ngày Quốc tế lao động 1.5.1946, Bác Hồ viết lời kêu gọi nhân dân: “Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới”. Đoàn kết cũng là nội dung được Người đặc biệt quan tâm trong suốt sự nghiệp hoạt động cách mạng.

Vấn đề cốt lõi của tinh thần đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng một khối đoàn kết mạnh mẽ nhưng có tổ chức, cương lĩnh, nguyên tắc; có phương châm hành động đúng đắn, cụ thể và phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Vấn đề đó đã được đặt ra ngay từ khi có Đảng, với những tổ chức đoàn kết các thành phần lao động như: Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Phụ nữ, Thanh niên… Và ngày 18.11.1930, theo Chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, “Hội Phản đế đồng minh Đông Dương” đã được thành lập, giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc chống lại thực dân Pháp xâm lược và bọn phong kiến tay sai bán nước.

Có thể nói rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, coi sự đoàn kết là sức mạnh vô địch chiến thắng mọi kẻ thù cho dù chúng nham hiểm đến đâu. Giải nghĩa vấn đề “Vì sao phải lấy dân làm gốc”. Người nói thật đơn giản: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Hoặc hình ảnh của sức mạnh đoàn kết được Người thể hiện rất cụ thể, sinh động: Trong một bài thơ kêu gọi đoàn kết, Người ví công việc khó khăn như “hòn đá to, hòn đá nặng”, nếu chỉ một người thì “vác chẳng đặng” nhưng có nhiều người “sẽ vác đặng”. Trong tất cả các bài viết, bài nói của Bác hầu như không có bài nào, trang nào Người không nhắc tới từ “đoàn kết”. Và chính bản thân Người, qua cách sống, làm việc, ứng xử… là tấm gương sáng ngời của tinh thần đoàn kết, khoan dung, nhân hậu, vị tha. Tư tưởng đại đoàn kết của Bác đã được Đảng ta quán triệt sâu sắc trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đưa nhân dân ta, dân tộc ta đi đến thắng lợi…

Học tập những lời dạy về đại đoàn kết của Bác, chúng ta cùng nhau phấn đấu thực hiện lời Di huấn thiêng liêng của Người trước lúc đi xa: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

  • Tùng Quân

baobinhdinh.com.vn

Có lỗi thì phải sửa

Sinh thời, Bác Hồ luôn giáo dục, nhắc nhở mọi cán bộ, đảng viên phải luôn ghi nhớ thật sâu sắc nhiệm vụ của mình. Đó là “vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng”. Người chỉ rõ: “Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng là để làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải làm “quan” nhân dân”. Và để làm tốt nhiệm vụ của mình thì mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu đi đầu trong mọi công việc, “nói” phải đi đôi với “làm”. Đặc biệt cần tránh các sai lầm, khuyết điểm.

Tuy nhiên, Người cũng nói rõ “Người đời ai cũng có khuyết điểm có làm việc thì có sai lầm”, do đó không loại trừ cán bộ, đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm. “Đảng ta không phải từ trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư, tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa… Những thói xấu đó họ mang từ xã hội vào Đảng. Cũng như những người hàng ngày lội bùn, mà trên mình họ có hơi bùn, có vết bùn. Như thế thì có gì là kỳ quái?”. Theo Bác, điều quan trọng là ở chỗ “chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa”. Bởi vì, “trừ những người cố ý phá hoại, ngoài ra không ai cố ý sai lầm, sai lầm là vì không hiểu, không biết. Vì vậy, đối với cán bộ sai lầm ta quyết không nên nhận rằng họ muốn như thế. Sự sửa đổi khuyết điểm một phần cố nhiên là trách nhiệm của cán bộ đó”. Theo Bác, để sửa chữa khuyết điểm thì người có khuyết điểm phải thành tâm, thành ý, thật sự cầu thị để tiến bộ. Việc xử lý Bác cũng lưu ý rất cặn kẽ “lỗi lầm có việc to, việc nhỏ”, do đó việc xử phạt phải “có tình, có lý” vì “nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại”. Song phải lấy giáo dục, thuyết phục, cảm hóa làm căn bản, gốc rễ. Đặc biệt, phải phân biệt nguyên cớ của sai lầm, khuyết điểm, “phải xét kỹ lưỡng việc nặng hay nhẹ, phải dùng xử phạt cho đúng”. Bác nhắc nhở, trong việc xử lý “không vì công mà quên lỗi, không vì lỗi mà quên công”. Bác cũng đặc biệt lưu ý “người lãnh đạo phải biết tìm cách đúng để giúp đỡ cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm”.

  • Bằng An

baobinhdinh.com.vn

Bồi dưỡng thanh niên vừa “hồng”, vừa “chuyên”

Trong “Thư gửi các bạn thanh niên” ngày 17.8.1947, Bác Hồ viết: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị tương lai đó”.

Đến thăm và nói chuyện tại Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam (20.12.1961),Bác nói: “Bác rất yêu quý thanh niên:

– Vì thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách, dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai – tức là các cháu nhi đồng.

– Vì thanh niên là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

– Vì thanh niên là lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ, đang hăng hái giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ Tổ quốc”.

Thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, muốn xứng đáng vai trò làm chủ thì phải học tập. Vì vậy, Bác rất quan tâm đến việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ của thanh niên. Bác chỉ rõ: “Nhiệm vụ chính của thanh niên, học sinh là học. Học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh tức là để làm trọn nhiệm vụ người làm chủ nước nhà”. Và, “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà, phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên”. Bác luôn chăm lo bồi dưỡng đội ngũ thanh niên trí thức. Bác căn dặn: “Đối với thanh niên trí thức cần phải đặt câu hỏi: “Học để làm gì? Học để phụng sự ai?”.

Trước lúc đi xa, Bác đã căn dặn: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ, Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

  • Thuận Việt

baobinhdinh.com.vn

Chớ phô trương, hình thức

Sinh thời, Bác Hồ là một tấm gương về lối sống giản dị, tiết kiệm. Đặc biệt, Người luôn yêu cầu phải chống căn bệnh phô trương, hình thức. Câu chuyện sau đây cho thấy điều đó.

Năm 1961, Bác Hồ về thăm quê lần thứ hai. Bác yêu cầu các đồng chí ở Tỉnh ủy Nghệ An đón tiếp Bác thật tiết kiệm, tránh phô trương, hình thức. Nhưng địa phương vẫn chuẩn bị sẵn một chiếc ôtô con mui trần, có vải trắng kết xung quanh và lót phía trong xe để đón Bác. Khi xuống máy bay, Bác nhìn chiếc xe rồi cười và nói: “Bác về cốt là thăm quê hương, đồng bào, chứ có là quan khách đâu mà các chú làm hình thức, tốn kém”. Nói rồi Bác bước về phía chiếc xe đi đầu của bảo vệ và ngồi bên cạnh người lái xe. Dọc đường, mọi người đều hướng về chiếc xe sang trọng, nhưng không thấy Bác đâu. Không ai biết rằng Bác đã ngồi ở chiếc xe cảnh vệ đi đầu, còn anh em cảnh vệ thì đi chiếc xe được dành để đón Bác.

Về đến nhà khách Tỉnh ủy, thấy có nhiều bông hoa rực rỡ hai bên đường, Bác dùng tay nhổ nhẹ một cành lay ơn và biết được rằng cành hoa không hề có rễ. Bác gọi đồng chí Bí thư Tỉnh ủy tới nghiêm giọng: “Đây là một việc làm thiếu chân thực và lãng phí. Tưởng các chú trồng hoa thì hay, có lợi cho môi trường. Nào ngờ, vì Bác vào thăm nên các chú phải mua bông này về trồng. “Trồng” hình thức nó sẽ chết. Đây là một căn bệnh phô trương, hình thức. Đón Bác như thế này Bác không vừa lòng!”. Các đồng chí trong Tỉnh ủy Nghệ An nhận ra khuyết điểm đã xin lỗi Bác và hứa sẽ sửa chữa khuyết điểm.

Những lời phê bình nhẹ nhàng của Bác trong việc này có một ý nghĩa giáo dục vô cùng to lớn. Đó là phải luôn luôn trân trọng giá trị thực, tránh phô trương, hình thức. Đó cũng chính là bài học quý cho mỗi chúng ta khi học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người.

  • Minh Tuệ

baobinhdinh.com.vn